
Sign up to save your podcasts
Or


Bài của Yaquelin Sasari Julca, một tín hữu của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô đang sống tại Callao, Peru đăng trong tạp chí Liahona tháng 9, năm 2026
Cách đây không lâu, tôi đã suy nghĩ về cách tôi có thể trở thành một môn đồ tốt hơn. Tôi muốn thực hiện những thay đổi để giúp tôi cảm thấy hòa hợp hơn với Thánh Linh.
Dĩ nhiên, sự hướng dẫn mà tôi đang tìm kiếm đã đến từ một Vị Sứ Đồ, đó là khi Anh Cả Ronald A. Rasband thuộc Nhóm Túc Số Mười Hai Vị Sứ Đồ đến thăm Lima, Peru, và tổ chức một buổi họp đặc biệt devotional dành cho những người thành niên trẻ tuổi ở đây.
Ông nói với chúng tôi rằng gần đây ông đã nói chuyện với vị tiên tri (Chủ Tịch Russell M. Nelson [1924–2025] vào thời điểm đó), là người muốn ông nói với những người thành niên trẻ tuổi rằng ông ấy rất biết ơn vì chúng tôi đã chọn sống ngay chính.
Anh Cả Rasband bắt đầu liệt kê những điều cụ thể mà chúng tôi đang làm với tư cách là môn đồ của Chúa Giê Su Ky Tô. Trong khi lắng nghe, tôi cảm thấy mình đang làm tốt trong vai trò môn đồ của mình! Nhưng rồi ông nói: “Và cám ơn các em đã cẩn trọng với những bộ phim và chương trình truyền hình mà các em xem.”
Tôi cảm thấy bất an ngay lập tức. Tối đó, tôi đã thành tâm suy ngẫm và tự hỏi: “Liệu mình có thật sự cẩn trọng về những điều mình xem—với bất cứ nội dung nào mà mình tiếp nhận không?”
Nếu thành thật mà nói, thì câu trả lời của tôi là không.
Cân Nhắc Mọi Điều Anh Chị Em Xem
Chúng ta thuộc vào thế hệ có quyền truy cập không giới hạn vào các phương tiện truyền thông, và bất kỳ loại (hoặc số lượng) nội dung nào cũng đều có sẵn mà không bị hạn chế.
Cá nhân tôi cố gắng tránh xem các chương trình hoặc phim ảnh có nội dung khiêu dâm, nhưng tôi nhận ra rằng nhận xét của Anh Cả Rasband không chỉ giới hạn ở truyền hình; nó áp dụng cho mọi thứ tôi đọc, xem và nghe.
Tôi nghĩ về mạng xã hội và tất cả các video ngắn, ảnh chế, và hình ảnh mà tôi thích và chia sẻ trên các nền tảng đó—nhiều trong số đó chứa ngôn từ bậy bạ, thông điệp không phù hợp hoặc miếng hài thô thiển mà bình thường tôi sẽ cố gắng tránh ở bất cứ nơi nào khác.
Chị Becky Craven, cựu Đệ Nhị Cố Vấn trong Chủ Tịch Đoàn Trung Ương Hội Thiếu Nữ, có lần đã chia sẻ ý nghĩa của việc ở trong tình trạng “lờ lững,” hoặc vùng xám, là khi các hành động của chúng ta có thể là một sự lẫn trộn giữa điều tốt và điều không tốt cho lắm. Chị hỏi: “Chúng ta có cẩn thận hay tùy tiện trong những gì chúng ta đọc và những gì chúng ta xem trên TV và trên các thiết bị di động của mình không? Chúng ta có cẩn thận trong lời lẽ của mình không? Hay là chúng ta tùy tiện chấp nhận điều thô thiển và thô tục?”
Tôi chắc chắn là mình đang tùy tiện.
Thay Đổi Thuật Toán
Vì vậy, tôi quyết định “thanh lọc” trên mạng xã hội và thiết lập lại thuật toán (tức là các đề xuất được cá nhân hóa) của mình. Tôi đã bỏ theo dõi một số tài khoản nhất định và thay đổi bộ lọc cùng các cài đặt của tôi. Điều này giúp tôi lưu tâm hơn đến những lựa chọn của bản thân.
Tôi cũng nhận ra rằng ngay cả những tiếp xúc nhỏ, tưởng chừng vô hại với những nội dung không phù hợp cũng có thể ảnh hưởng đến sự kết nối của tôi với Chúa Giê Su Ky Tô theo thời gian.
Mỗi khi sử dụng công nghệ, hãy nhận thức rõ về ý định của mình. Anh chị em có thể quyết định những điều mình thấy, những gì mình nghe, những người mình theo dõi và những gì mình chia sẻ.
Anh Cả Ulisses Soares thuộc Nhóm Túc Số Mười Hai Vị Sứ Đồ mới đây đã nói về việc phát triển tính ôn hòa, điều này bao gồm lựa chọn hành động với sự khôn ngoan thuộc linh. Ông nói: “Việc trau dồi tính ôn hòa là một cách quan trọng để bảo vệ tâm hồn chúng ta khỏi sự xói mòn thuộc linh khó thấy nhưng liên tục do những ảnh hưởng của thế gian gây ra mà có thể làm suy yếu nền móng của chúng ta nơi Chúa Giê Su Ky Tô.”
Tôi tin rằng rất nhiều sự xói mòn thuộc linh bắt nguồn từ các nội dung mà chúng ta tiếp xúc.
Bằng cách chọn những nội dung mang tính nâng đỡ, hướng dẫn và giải trí một cách lành mạnh, chúng ta có thể mời gọi và nhận thấy sự hiện diện của Thánh Linh một cách thường xuyên hơn trong cuộc sống của mình.
The post Podcast số 621 – Liahona tháng 9, 2026 – Liệu Thuật Toán của Anh Chị Em Có Đang Ảnh Hưởng Đến Phần Thuộc Linh của Bản Thân Không? – Yaquelin Sasari Julca appeared first on Thánh Hữu Việt Nam.
Bài của Anh Cả Ronald A. Rasband Thuộc Nhóm Túc Số Mười Hai Vị Sứ Đồ của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô đăng trong tạp chí Liahona tháng 9, năm 2026
Kerry Christensen, người đã góa vợ ba năm về trước, thắc mắc: “Tôi có thể làm gì khi đi truyền giáo?” “Các anh có cần những người truyền giáo ở đó không?”
Đây là những câu hỏi mà Anh Christensen đã đặt ra sau khi nghe thông báo vào tháng Mười Một năm 2024 rằng những người nam cao niên độc thân trên 40 tuổi giờ đây có thể phục vụ truyền giáo toàn thời gian. Ông đã phục vụ ở Guam khi còn là một người truyền giáo trẻ tuổi vào năm 1974, và ông mong mỏi được trở lại đó. Vì vậy, ông ấy đã chủ động liên lạc, rồi biết được rằng phái bộ truyền giáo rất mong chờ sự giúp đỡ của ông ấy, nên ông đã nói chuyện với vị giám trợ, và nộp các giấy tờ của mình. Chẳng bao lâu sau, đơn kêu gọi phục vụ ở Guam đã đến. Anh Christensen đã nghỉ công việc chỉ định của mình với tư cách là một người truyền giáo phục vụ tại Khuôn Viên Đền Thờ, rồi được huấn luyện làm một người truyền giáo văn phòng, và chẳng bao lâu sau đã phục vụ trong Đền Thờ Yigo Guam.
Ông yêu thích làm việc với những người truyền giáo cao niên khác; ông gọi kinh nghiệm của mình là “một giấc mơ trở thành sự thật.” Ông thậm chí còn kết nối lại với những người ông đã giảng dạy khi còn là một người truyền giáo trẻ tuổi 50 năm trước, và kinh ngạc trước sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng các tín hữu của Giáo Hội kể từ đó.
Chẳng bao lâu sau trong công việc truyền giáo của mình, Anh Cả Christensen nhận được tin tức từ em trai về quyết định sẽ đi phục vụ truyền giáo cùng với vợ. Họ cũng được kêu gọi phục vụ trong cùng một phái bộ truyền giáo và cùng một chức vụ dù họ không hề đưa ra bất cứ mong muốn nào về nơi phục vụ.
Khi sự phục vụ của Anh Cả Christensen bị gián đoạn bởi những biến chứng phát sinh từ việc chẩn đoán khối u, ông biết rằng chức vụ kêu gọi của em trai mình không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Ông nói: “Tôi cảm thấy rằng Chúa đã thấy điều này sẽ xảy đến, vì vậy Ngài gửi em tôi đến để thay thế cho tôi.” “Tôi chỉ cần tin cậy nơi Chúa rằng Ngài có một sứ mệnh khác dành cho tôi và vào một khung thời gian khác.”
Thưa các anh chị em, Chúa có sứ mệnh nào dành cho các anh chị em? Ngài biết rõ khả năng phục vụ của các anh chị em, và Giáo Hội của Ngài đưa ra nhiều lựa chọn về thời gian, sự chỉ định, và địa điểm khác nhau dành cho những người truyền giáo cao niên. Nếu các anh chị em, giống như Anh Cả Christensen, tự hỏi liệu mình có được cần đến không, thì câu trả lời chắc chắn là có! Chúa cần đến sự hiểu biết, độ từng trải và sự chín chắn của các anh chị em để xây đắp vương quốc của Ngài.
Lời khuyên của Anh Cả Christensen dành cho những người đang cân nhắc công việc truyền giáo cao niên, cho dù với tư cách là một cặp vợ chồng hay là một người độc thân, thì rất đơn giản: “Hãy làm đi.”
Trong thời gian tôi phục vụ trong Sở Truyền Giáo, chúng tôi đã tìm cách mở rộng các cơ hội truyền giáo. Chúng tôi nhận thấy rằng một nhóm tín hữu Giáo Hội đã bị bỏ sót, đó là những người đàn ông lớn tuổi độc thân. Chúng tôi không thể tìm thấy hồ sơ lịch sử hoặc chính sách rõ ràng nào ngăn cấm sự phục vụ của họ, vì vậy theo sự hướng dẫn của Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn, chúng tôi đã thực hiện sự thay đổi. Giờ đây, các cơ hội truyền giáo được mở rộng cho toàn thể các tín hữu của Giáo Hội. Tất cả mọi người đều có thể trở nên những “tay đánh lưới người” (Ma Thi Ơ 4:19).
Anh Cả Christensen chỉ là một trong số càng ngày càng nhiều những người nam trung tín được ban phước bởi các cơ hội truyền giáo mở rộng cho những người nam độc thân trên 40 tuổi. Chúng tôi hy vọng con số những người nam cao niên độc thân đi phục vụ sẽ sớm lên đến hàng trăm, với sự phục vụ ở hàng chục quốc gia.
Các cơ hội phục vụ gồm có những chỉ định trong đền thờ, các văn phòng giáo vùng và phái bộ truyền giáo, các trung tâm lịch sử gia đình, và các lĩnh vực khác mà những người nam độc thân có thể đáp ứng yêu cầu chuyên môn, chẳng hạn như công việc pháp lý và y tế. Anh Cả W. Mark Bassett, Giám Đốc Điều Hành của Sở Truyền Giáo, nói với tôi: “Những người nam độc thân giàu kinh nghiệm này trở thành những người thầy, những người hướng dẫn theo một cách rất tự nhiên cho các anh cả và các chị truyền giáo trẻ tuổi, cho thấy sự trưởng thành trong vai trò môn đồ là như thế nào.”
Các cơ hội tương tự cũng đã được mở rộng cho những người nữ độc thân trên 40 tuổi, bao gồm cơ hội phục vụ tại các trung tâm dành cho khách tham quan, các địa điểm lịch sử và các trung tâm hỗ trợ việc làm.
Giống như hầu hết các chị truyền giáo độc thân, những người nam truyền giáo độc thân sống xa nhà, không có người bạn đồng hành, và phục vụ 40 giờ một tuần trong vòng 6 đến 23 tháng.
Anh Cả bassett nói tiếp: “Những người truyền giáo cao niên mang đến sự ổn định, khôn ngoan, chín chắn về cảm xúc, kinh nghiệm chuyên môn, hàng chục năm kinh nghiệm sống, và nhiều chứng ngôn sâu sắc giúp củng cố và làm vững vàng tiến trình học hỏi và cải đạo cho bạn bè của Giáo Hội, các tín hữu, những người truyền giáo và các vị lãnh đạo, cho dù họ phục vụ ở nơi đâu.”
Quan trọng nhất, ông nói thêm, “mọi người cảm nhận được tình yêu thương của Đấng Cứu Rỗi qua họ. Kinh nghiệm sống, sự khiêm nhường và chứng ngôn của họ tạo ra những mối liên kết giúp mở rộng nhiều tấm lòng và nhiều cánh cửa.”
Chúa phán cùng chúng ta rằng: “Nếu [chúng ta] mong muốn phục vụ Thượng Đế thì [chúng ta] được kêu gọi để làm công việc của Ngài.” Khi kết hợp ước muốn đó với “đức tin, hy vọng, lòng bác ái và tình thương, với con mắt duy nhất hướng về vinh quang của Thượng Đế,” thì chúng ta, dưới mắt của Ngài, đã có đủ tư cách để tham gia (xin xem Giáo Lý và Giao Ước 4:3, 5).
Thưa các anh chị em, tất cả chúng ta đều có thể hội đủ điều kiện cho công việc này. Thực ra, chúng ta đã giao ước để làm như vậy.
Chủ Tịch Dallin H. Oaks nói: “Việc rao truyền tin lành về phúc âm của Chúa Giê Su Ky Tô là một nguyên tắc cơ bản của đức tin Ky Tô giáo.” Ông nói thêm: “Những người truyền giáo hữu hiệu nhất, dù là tín hữu hay là người phục vụ toàn thời gian, đều luôn luôn hành động vì tình yêu thương.”
Trong một bài nói chuyện tại đại hội trung ương gần đây, tôi đã chia sẻ câu chuyện về Brigham Young và Heber C. Kimball ra đi phục vụ truyền giáo ở Quần Đảo Anh. Cả hai người đều đã 38 tuổi. Cả hai đều đang bị bệnh. Cả hai đều để lại phía sau vợ con đang đau ốm.
Heber nói: “Tôi cảm thấy như sâu trong tâm hồn mình một niềm xúc động mãnh liệt khi phải rời xa gia đình trong tình cảnh như vậy,” rồi ông nói tiếp: “Tôi cảm thấy như mình không thể chịu đựng nổi điều đó.” Nhưng với một tinh thần “hoan hô Y Sơ Ra Ên,” họ đã tiến bước với đức tin.
Khi thấy một đứa con trai hay con gái lên đường đi truyền giáo, nhiều người mẹ biết rất rõ cảm giác xúc động mãnh liệt đó trong tim. Và nhiều người truyền giáo cao niên, khi để lại sau lưng con cháu của mình, đã tự hỏi liệu họ có thể chịu đựng được việc phải chia xa máu mủ quý giá của mình không. Đứng trước những báu vật như vậy trên thế gian, thật khó để nghĩ đến những “của cải trên trời” (Ma Thi Ơ 6:20; 3 Nê Phi 13:20). Tuy nhiên, vì yêu thương người lân cận mình, nên chúng ta rời xa những người thân yêu của mình trong một thời gian để chia sẻ “tình thương yêu của Thượng Đế, [mà] … hấp dẫn hơn hết thảy mọi vật khác” (1 Nê Phi 11:22).
Chúng ta chia sẻ tình yêu thương đó khi chúng ta giúp chữa lành vết thương thuộc linh của những người khác bằng các lẽ thật phúc âm, xức cho họ dầu chứng ngôn của mình về Sự Phục Hồi, và mời họ đến nhà quán của Đấng Cứu Rỗi—Giáo Hội của Ngài. Và khi anh chị em chia sẻ tình yêu thương đó, tôi hứa rằng Đấng Cứu Rỗi “sẽ nắm tay ngươi và giữ lấy ngươi, … sẽ phó ngươi làm giao ước của dân này, làm sự sáng cho các dân ngoại” (Ê Sai 42:6).
Hella Lunnen được giới thiệu vào Giáo Hội ở Đức trong Thế Chiến Thứ Hai.
Chị Lunnen nhớ lại: “Tôi phàn nàn với người bạn cùng lớp của mình rằng đi nhà thờ ở Đức rất lạnh lẽo.” “Phản ứng của người bạn ấy là lời mời tôi đến tham dự nhà thờ của bạn ấy, một nơi rất ấm áp.” Sự ấm áp đó bao gồm cả sự chào đón nồng nhiệt mà bà nhận được từ các thanh thiếu niên của tiểu giáo khu.
Khi bà và mẹ của bà học phúc âm với một cặp vợ chồng truyền giáo cao niên, Chị Lunnen đã vô cùng cảm động bởi kế hoạch cứu rỗi. Bà biết được rằng bà sẽ gặp lại cha của mình là người đã thiệt mạng trong chiến tranh. Vào năm 1952, khi Hella 17 tuổi, bà chịu phép báp têm ở Biển Baltic.
“Chẳng bao lâu sau, hành trình truyền giáo của tôi bắt đầu,” bà nói. “Năm 1954, tôi được kêu gọi phục vụ với tư cách là người truyền giáo toàn thời gian ở Phái Bộ Truyền Giáo Đông Đức. Phái bộ truyền giáo rất vui mừng để sử dụng kỹ năng ngôn ngữ tiếng Đức, tiếng mẹ đẻ của tôi. Tôi đã phiên dịch cho Chủ Tịch Belle S. Spafford khi bà đi cùng Chủ Tịch David O. McKay [1873–1970] đến dự một đại hội ở khu vực Hamburg.”
Vào năm 2012, sau khi bà và Jack, chồng của bà, đã nuôi dạy ba đứa con khôn lớn, cuộc hành trình truyền giáo của Chị Lunnen tiếp tục khi hai vợ chồng được kêu gọi phục vụ ở Đền Thờ Washington D.C. Ở đó, họ đã dành ra hai năm để giúp những người đi đền thờ mang các phước lành phúc âm đến cho những người thân yêu ở bên kia bức màn che. Lòng nhiệt tình của cặp vợ chồng này đối với công việc truyền giáo tiếp tục sau khi họ được giải nhiệm, và chẳng bao lâu sau họ được kêu gọi phục vụ trong Đền Thờ Laie Hawaii.
Chị Lunnen nói: “Chúng tôi đến đó vào năm 2017, nhưng thật không may, công việc của chúng tôi sớm kết thúc vào năm 2018 vì Jack được chẩn đoán mắc bệnh ung thư.” “Anh ấy qua đời vào tháng Sáu năm 2019.”
Bà đã mất chồng nhưng không mất đi tình yêu dành cho công việc phục vụ truyền giáo. Năm 2022, sau ba tháng phục vụ để hỗ trợ cho lễ tái cung hiến Đền Thờ Washington D.C. , bà đã xin cơ hội trở lại Hawaii để hoàn tất công việc truyền giáo mà vợ chồng bà đã bắt đầu. Bà đã phục vụ trong hai năm với tư cách là chuyên viên về văn hóa nghệ thuật tại Trung Tâm Văn Hóa Polynesia, và hoàn thành công việc phục vụ của mình ở tuổi 94 ngay trước Giáng Sinh năm 2025.
Chị Lunnen nói: “Tôi đã tìm thấy nhiều niềm vui” trong công việc phục vụ truyền giáo (xin xem Giáo Lý và Giao Ước 18:15–16). “Tôi biết ơn Cha Thiên Thượng đã ban cho tôi ân tứ về sức khỏe mà đã giúp tôi phục vụ trong rất nhiều năm.”
Thưa các anh chị em, chúng tôi rất cần những người truyền giáo. Đối với những người có ý định đi truyền giáo cao niên, việc tìm hiểu cách chuẩn bị và khám phá nhiều cơ hội phục vụ có sẵn thì rất dễ dàng, như là truy cập trực tuyến vào seniormissionary.ChurchofJesusChrist.org. Ở đó, anh chị em có thể tìm kiếm các cơ hội phục vụ dành cho các cặp vợ chồng, các chị truyền giáo lớn tuổi và các anh cả cao niên. Anh chị em sẽ ngạc nhiên khi biết có bao nhiêu cơ hội trong số đó được xếp vào nhóm có “nhu cầu cao” và “nhu cầu cấp thiết”.
Thay mặt cho Đức Thầy của Công Việc Truyền Giáo, tôi xin hoan hô Chị Lunnen! Hoan hô Anh Cả Christensen! Hoan hô tất cả mọi người—già hay trẻ, độc thân hay đã kết hôn—là những người đang lưu tâm đến lời kêu gọi của vị tiên tri để chuẩn bị thế gian cho Ngày Tái Lâm của Chúa Giê Su Ky Tô! Chúa yêu thương anh chị em vì sự phục vụ của anh chị em—cho dù ở trong nhà hay ở nước ngoài. Và chúng tôi, các vị lãnh đạo Giáo Hội của Ngài, yêu mến và ban phước cho các anh chị em vì sự hy sinh của các anh chị em.
Công việc phục vụ truyền giáo là thiết yếu cho sự phát triển của Giáo Hội. Chúa đã kêu gọi mỗi người chúng ta sống theo và chia sẻ phúc âm của Ngài. Dù ở độ tuổi nào, hoặc dù đang độc thân, chúng ta vẫn có thể phục vụ con cái của Thượng Đế, mang những người khác đến cùng Đấng Ky Tô, và giúp quy tụ Y Sơ Ra Ên.
Khi anh chị em “đi ra vui vẻ,” tôi hứa rằng anh chị em sẽ “được đưa đi trong sự bình an” (Ê Sai 55:12). Cầu xin cho chúng ta trung tín chấp nhận thử thách lớn nhất này, chính nghĩa vĩ đại nhất này, và cũng là công việc vĩ đại nhất này trên thế gian!
The post Podcast số 620 – Liahona tháng 9, 2026 – Niềm Vui của Việc Chia Sẻ Phúc Âm – Ronald A. Rasband appeared first on Thánh Hữu Việt Nam.
Bài của Anh MIchael R. Morris làm việc tại các tạp chí của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô
Trong lúc kiểm tra lại căn nhà của mình trước khi chuyển đi, tôi đi qua các phòng ngủ trống của bọn trẻ một lần cuối. Trong một căn phòng, tôi tìm thấy một dây ruy băng cũ của đội Ấu Sinh Hướng Đạo và một chiếc găng tay duy nhất—quá nhỏ để vừa với bàn tay của bất cứ đứa con đã trưởng thành nào của chúng tôi.
Ít nhất thì vợ chồng tôi sẽ không phải thêm những món đồ đó vào mấy cái thùng đã chất cao trong garage để xe của chúng tôi nữa. Khi xem qua các thùng đó, chúng tôi đã nhanh chóng nhận ra có bao nhiêu là tranh vẽ, mẩu giấy viết tay, và những bài viết của các con mà chúng tôi đã lưu giữ.
Chúng tôi xem lại những kỷ vật đó và mỉm cười, tự hỏi những năm tháng đó sao trôi qua nhanh thế.
Một đứa con gái nhỏ đã viết trong sổ ghi chép của nó một vài năm trước khi người anh cả của nó qua đời: “Tôi tin nơi Đấng Ky Tô.” “Tôi biết Giáo Hội của Ngài là chân chính và nếu có bất kỳ người nào trong gia đình hoặc thú cưng của tôi qua đời, thì tôi có thể được ở với họ một lần nữa.”
Trong lời nhắn gửi cho mẹ, một trong mấy đứa con trai của chúng tôi đã viết: “Mẹ ơi, con bỏ đi vì con không chịu nổi việc bị rầy la.” (Nó đã bỏ chạy ra sân sau.) Trong một lời nhắn sau đó gửi cho tôi, thằng bé viết, “Cha ơi, cha có bị mất 5 đô la không? Dạ, nó đây ạ. Con đã lấy nó. Xin đừng phạt con.”
Đứa con trai đó bây giờ là một sĩ quan cảnh sát.
Một đứa con trai khác, từ lâu đã bước ra khỏi con đường giao ước, đã viết điều này khi nó 10 tuổi: “Sự hối cải làm cho chúng ta cảm thấy trọn vẹn, đủ đầy, giống như một vòng tròn. Con biết chúng ta luôn có thể cầu xin Cha Thiên Thượng tha thứ. Và con biết nếu chúng ta làm như vậy, chúng ta sẽ được tha thứ.”
Đó là sự thật lúc bấy giờ. Đó cũng là sự thật bây giờ.
Về những người thân đã đi lạc lối, đôi khi tôi tự hỏi: “Tôi đã có thể làm gì hơn nữa cho vườn cây này của tôi?” (Gia Cốp 5:41).
Chị Tamara W. Runia, Đệ Nhất Cố Vấn trong Chủ Tịch Đoàn Trung Ương Hội Thiếu Nữ, đã nói: “Công việc của Đấng Cứu Rỗi là mang những người thân yêu của chúng ta trở lại. Đó là công việc và kỳ định của Ngài. Công việc của chúng ta là mang đến niềm hy vọng và một tấm lòng mà họ có thể về nhà để có được.”
Vì vậy, vợ chồng tôi vẫn tiếp tục yêu thương những người đã lang thang lạc lối. Chúng tôi cầu nguyện cho họ và ghi tên của họ vào danh sách cầu nguyện của đền thờ. Và đối với những ai, giống như đứa con trai hoang phí, vẫn còn cách xa con đường giao ước (Lu Ca 15:20), thì chúng tôi vẫn giữ vững niềm hy vọng nơi Đấng Ky Tô.
The post Podcast số 619 – Liahona tháng 9, 2026 – Niềm Hy Vọng và Một Tấm Lòng – Michael R. Morris appeared first on Thánh Hữu Việt Nam.
Bài của Marianni J. Iguaran de Granadillo, một tín hữu của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô đang sống tại Zulia, Venezuela, đăng trong tạp chí Liahona tháng 7, năm 2026
Khi tôi được kêu gọi với tư cách là chủ tịch Hội Phụ Nữ giáo hạt, chỉ định đầu tiên của tôi từ chủ tịch giáo hạt là đề cử các phụ nữ phục vụ với tư cách là các cố vấn của tôi. Tôi được đưa cho một danh sách dài các chị em phụ nữ để xem xét, nhưng tôi không biết đa số họ. Tôi cố gắng đến gần Chúa hơn, tìm kiếm sự soi dẫn và cầu xin sự hướng dẫn của Ngài trong lời cầu nguyện.
Một đêm nọ, tôi có một giấc mơ mà trong đó vợ chồng tôi đang đến thăm nhà của một chị phụ nữ mà tôi không quen biết. Trong khi ở tại nhà của chị ấy, chúng tôi đã biết được về nhiều thử thách trong gia đình của chị. Khi chúng tôi ra về, tôi nói với chồng tôi: “Em biết chị ấy sẽ là một trong số hai người cố vấn của em.”
Khi các chủ tịch Hội Phụ Nữ từ năm chi nhánh của giáo hạt chúng tôi chia sẻ với tôi tên của các chị em phụ nữ không có chức vụ kêu gọi, thì tên của chị phụ nữ mà tôi đã mơ thấy ở trong các danh sách của họ. Tôi biết đây là chị phụ nữ mà Chúa muốn tôi chọn làm một trong số hai cố vấn của tôi.
Tuy nhiên, trước khi quyết định, tôi muốn có thể gặp càng nhiều chị phụ nữ càng tốt. Trong đại hội trung ương tiếp theo, tôi đã thành tâm lắng nghe các bài nói chuyện và hy vọng sẽ nhận được sự soi dẫn. Tôi đã nhận được câu trả lời của mình khi Anh Cả Steven D. Shumway thuộc Nhóm Túc Số Thầy Bảy Mươi dạy: “Tuy dễ dàng hơn để mời các tín hữu trung tín chấp nhận sự kêu gọi thứ hai, nhưng cách thức tốt nhất vẫn là mời gọi những người có vẻ không phù hợp và cho họ cơ hội học hỏi và phát triển.”
Các chị phụ nữ mà tôi đã đề cử không cần sự chấp thuận của tôi, cũng như họ không cần kinh nghiệm để phục vụ trong chức vụ kêu gọi này. Chúa đã biết họ và tiềm năng của họ.
Chủ tịch giáo hạt đưa ra lời kêu gọi cho mỗi chị phụ nữ để phục vụ. Sau khi họ chấp nhận chức vụ kêu gọi mới của họ, tôi đã nói chuyện với chị phụ nữ hiền lành mà tôi đã thấy trong giấc mơ. Chị ấy nói với tôi rằng tuy chị kém tích cực nhưng lại có ước muốn lớn lao để học hỏi. Chị ấy biết rằng nhiệm vụ mới này sẽ cho phép chị đến gần Cha Thiên Thượng hơn và vui hưởng tình yêu thương của Ngài một cách trọn vẹn hơn. Điều này khiến lòng tôi tràn ngập niềm vui khôn xiết.
Kinh nghiệm này đã tái khẳng định sự tin chắc của tôi rằng Chúa Giê Su Ky Tô hướng dẫn Giáo Hội của Ngài, rằng Ngài kêu gọi các vị lãnh đạo của Ngài và rằng chúng ta không cần sự hiểu biết hoàn hảo để làm những điều Ngài mời gọi chúng ta làm.
The post Podcast số 618 – Liahona tháng 7, 2026 – Chúa Đã Biết Họ – Marianni J. Iguaran de Granadillo appeared first on Thánh Hữu Việt Nam.
Bài của Jane Massing, một tín hữu của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô đang sống tại Efate, Vanuatu đăng trong tạp chí Liahona tháng 9, năm 2026
Ngày 17 tháng Mười Hai năm 2024 bắt đầu như mọi ngày khác ở Port Vila, Vanuatu. Thành phố tràn ngập không khí chuẩn bị cho Giáng Sinh, và tôi đang làm việc tại một cửa hàng quần áo nổi tiếng, giúp đỡ khách hàng và gói quà. Không có bất kỳ dấu hiệu báo trước nào, mặt đất dưới chân chúng tôi rung chuyển dữ dội. Tôi không hề sợ hãi, nhưng tôi nghe rất rõ một giọng nhỏ nhẹ nói với mình: “Jane, con sẽ ổn thôi.”
Ban đầu chỉ là một rung chấn nhỏ, nhưng sau đó đã nhanh chóng thành một trận động đất dữ dội. Mặt đất chuyển động lên xuống như một chiếc thuyền trên biển. Theo bản năng, mọi người chạy tìm nơi an toàn, nhưng trước khi tôi kịp đến lối ra, một chiếc màn hình TV rơi xuống và đập trúng vai tôi. Tôi ngã xuống sàn nhà khi bóng tối bao trùm lấy tôi.
Trong một khoảnh khắc, cơn hoảng loạn suýt lấn át tôi, nhưng một cảm giác bình yên và an tâm tràn ngập trong lòng tôi. Mặc dù đã bị mắc kẹt, nhưng tôi biết mình không đơn độc. Một phút sau, tiếng nói êm dịu nhỏ nhẹ (xin xem 1 Các Vua 19:12) vang lên: “Hãy quay người lại!” Khi xoay người lại, tôi thấy mình không bị thương. Tôi có thể ngồi dậy một chút nhưng không thể đứng lên vì bị kẹt dưới một bức tường nặng phía trên.
Đâu đó gần đó, tôi nghe thấy tiếng nói của một người phụ nữ và con trai của bà ấy, cũng bị kẹt dưới đống đổ nát. Chúng tôi nói chuyện với nhau, trấn an nhau rằng sự giúp đỡ sẽ đến. Họ có một chiếc điện thoại, nhưng rất khó liên lạc với bất kỳ ai vì mạng lưới đã bị gián đoạn. Nhiều giờ trôi qua, chúng tôi vẫn chờ đợi, không thể di chuyển, lắng nghe tiếng còi cứu hộ xa xa cùng tiếng thì thầm của những người đang làm việc bên trên đống đổ nát. Tôi cầu nguyện, tin cậy rằng Cha Thiên Thượng biết tôi đang ở đâu và Ngài sẽ gửi người đến giúp đỡ.
Khi màn đêm buông xuống, một phước lành bất ngờ đã đến—luồng không khí trong lành. Mặc dù bị chôn vùi bên dưới tòa nhà sụp đổ, nhưng chúng tôi vẫn có thể thở sâu, và tôi cảm thấy một sự bình yên tĩnh lặng bao phủ lấy mình. Hoàn cảnh của chúng tôi rất nghiêm trọng, nhưng trong thâm tâm tôi biết rằng Thượng Đế quan tâm đến chúng tôi.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi nghe thấy những tiếng nói ở phía trên chúng tôi. Đội cứu hộ đã đến. Người thanh niên bị mắc kẹt gần đó kêu lên, và ngay sau đó những người cứu hộ đã phản ứng. Họ đã làm việc cẩn thận để dọn sạch một lối vào, trước tiên đưa mẹ của anh ấy đến nơi an toàn rồi đến lượt anh. Trước khi rời đi, những người cứu hộ hứa sẽ trở lại giúp tôi. Tôi dõi theo khi chút ánh sáng cuối cùng từ lối thoát của họ mờ dần, và lần đầu tiên kể từ trận động đất, tôi chỉ có một mình.
Nhìn Thấy Ánh Sáng
Vài phút trôi qua thành vài giờ, và một lần nữa tôi cầu nguyện. Tôi suy ngẫm về những phước lành trong cuộc sống của mình: tình yêu thương của gia đình tôi, sức mạnh tôi đã có được từ công việc phục vụ truyền giáo, và các giao ước tôi đã lập với Cha Thiên Thượng. Trong không gian yên tĩnh, thiêng liêng đó, tôi cảm thấy Ngài ở bên tôi, nâng đỡ tôi (xin xem Giáo Lý và Giao Ước 84:88).
Cuối cùng, một người cứu hộ gọi tên tôi. “Chị Jane, chị có thể nhìn thấy ánh sáng của tôi không?” Tôi quay đầu lại và thấy một tia sáng nhỏ xuyên qua bóng tối. “Có!” Tôi đáp lại, nước mắt trào ra.
Giờ đây nhìn thấy đống đổ nát, tôi không khỏi kinh ngạc tự hỏi sao mình vẫn còn sống. Những bức tường đổ xuống, xi măng vỡ vụn, và những mảnh vỡ bao quanh tôi. Cha Thiên Thượng đã che chở và bảo vệ tôi. Tôi cảm thấy tràn ngập lòng biết ơn đối với Ngài.
Đội cứu hộ làm việc rất cẩn thận. Họ trấn an tôi rằng họ sẽ tiến hành một cách thận trọng để tránh không làm tòa nhà sụp đổ thêm nữa. Tôi biết công việc của họ rất nguy hiểm, và tôi thầm cầu nguyện cho sự an toàn của họ cũng như của chính mình. Từng mảnh một, họ dọn đống đổ nát cho đến khi đến được chỗ tôi. Khi những cánh tay mạnh mẽ kéo tôi về phía ánh sáng, tôi choáng ngợp trước cảnh nhiều người đang cổ vũ, khóc lóc và cầu nguyện.
Rồi tôi nghe thấy tiếng nói mà tôi mong mỏi nhất. “Jane, Mẹ ở đây.” Vòng tay mẹ ôm chặt lấy tôi, và tôi biết mình đã về nhà.
Sau 27 giờ bị mắc kẹt bên dưới một tòa nhà bị sập, tôi đã thoát ra mà không bị thương. Lòng tôi tràn ngập lòng biết ơn—không những về sự an toàn thể chất của tôi mà còn về sự hiện diện không thể phủ nhận được của Thượng Đế trong cuộc sống của tôi.
Anh Cả Ronald A. Rasband thuộc Nhóm Túc Số Mười Hai Vị Sứ Đồ đã nói: “Khi chúng ta chuyên tâm củng cố đồn lũy của mình, chúng ta trở nên giống như Chúa Giê Su Ky Tô, với tư cách là những môn đồ chân chính của Ngài, bằng tất cả linh hồn mình dưới sự bảo vệ của Ngài.” Qua lời cầu nguyện và đức tin, tôi đã được củng cố, an ủi, và bảo vệ.
Tôi biết ơn phúc âm của Chúa Giê Su Ky Tô, về quyền năng của lời cầu nguyện, và về sự hiểu biết rằng dù thử thách của chúng ta có thể dường như đen tối đến đâu đi nữa thì “ánh sáng của Đấng Ky Tô” ( xin xem Giáo Lý và Giao Ước 88:6–13) sẽ luôn luôn tìm thấy chúng ta.
The post Podcast số 617 – Liahona tháng 9, 2026 – Bao Quanh Bởi Đống Đổ Nát và Ánh Sáng – Jane Massing appeared first on Thánh Hữu Việt Nam.
Bài của Daren Felix, một tín hữu của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô đang sống tại tiểu bang Utah, Hoa Kỳ đăng trong tạp chí Liahona tháng 6, năm 2026
Không lâu trước khi tôi tròn 19 tuổi, tôi được kêu gọi phục vụ với tư cách là một người truyền giáo ở Tây Ban Nha. Tôi vừa phấn khởi vừa lo lắng.
Tôi có một chứng ngôn về Đấng Cứu Rỗi và Giáo Hội phục hồi của Ngài, nhưng khi gần đến thời gian để vào trung tâm huấn luyện truyền giáo, thì tôi bắt đầu nhận thức rõ hơn về sự kêu gọi này của mình. Tôi là một học sinh trung bình, và ý nghĩ về việc giảng dạy phúc âm bằng một ngoại ngữ khiến tôi lo lắng và bồn chồn.
Một ngày nọ, mẹ tôi vào phòng tôi, ngồi xuống giường bên cạnh tôi, và mở cuốn thánh thư của tôi. Mẹ nhắc lại cách mà các anh của Nê Phi đã phàn nàn về việc bị truyền lệnh phải quay trở lại Giê Ru Sa Lem để lấy các bảng khắc bằng đồng. Nhưng Nê Phi đáp: “Và chuyện rằng, tôi, Nê Phi, bèn thưa với cha tôi rằng: Con sẽ đi và làm những gì Chúa đã truyền lệnh, vì con biết Chúa không ban ra một lệnh truyền nào cho con cái loài người mà Ngài lại không chuẩn bị sẵn một đường lối để họ có thể thực hiện được những điều Ngài phán truyền” (1 Nê Phi 3:7).
Mẹ tôi nói rằng Chúa sẽ không kêu gọi tôi đến Tây Ban Nha nếu không tạo điều kiện cho tôi thành công. Sau đó, mẹ bảo tôi viết vào cột của trang bên cạnh 1 Nê Phi 3:7 một câu trích dẫn mà Chủ Tịch Heber J. Grant (1856–1945) thường đọc: “Điều mà chúng ta kiên trì làm sẽ trở nên dễ dàng hơn cho chúng ta để làm—không phải bản chất của sự việc ấy thay đổi, mà là sức mạnh của chúng ta để làm đã được gia tăng.”
Mẹ hứa rằng khi tôi kiên trì học tiếng Tây Ban Nha và giảng dạy phúc âm, thì cuối cùng việc làm như vậy sẽ trở nên dễ dàng hơn. Điều này đã giúp đỡ tôi trong những thời điểm khó khăn phía trước để tiếp tục làm công việc, vì biết rằng cuối cùng tôi sẽ hoàn thành những gì được đòi hỏi nơi mình.
Bài học này đã giúp tôi học tiếng Tây Ban Nha và có một kinh nghiệm tuyệt vời khi giảng dạy và yêu thương người dân Tây Ban Nha. Bài học này cũng mang đến cho tôi sự can đảm để đi học đại học. Tôi kết hôn, trở thành một người cha và một người ông, và đã thấy nguyên tắc này được thể hiện trong suốt cuộc sống gia đình và sự nghiệp của tôi.
Phương pháp giảng dạy hòa nhã của người mẹ thân yêu của tôi qua lời nói và tấm gương đã cho tôi một nền tảng vững chắc trong phúc âm của Chúa Giê Su Ky Tô. Mẹ tôi dạy rằng Thượng Đế yêu thương chúng ta và đã ban cho chúng ta một kế hoạch hạnh phúc. Tôi không nghi ngờ rằng mẹ tôi đã biết như vậy (xin xem An Ma 56:48 ).
The post Podcast số 616 – Liahona tháng 6, 2026 – Mẹ Tôi Đã Biết Như Vậy – Daren Felix appeared first on Thánh Hữu Việt Nam.
Bài của chị Celeste Temple, một tín hữu của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô tại Waikato, New Zealand
Tôi đã cố gắng để làm mọi điều đúng đắn. Tôi uống thuốc. Tôi tập thể dục. Tôi chăm sóc bản thân mình. Nhưng tôi không thể cảm nhận được gì cả—không thể thoát khỏi hố sâu trầm cảm mà tôi đang mắc kẹt trong đó.
Tôi tham dự nhà thờ và làm tròn sự kêu gọi của mình. Tôi ngồi và lắng nghe chứng ngôn của những người khác. Nhiều tháng đã trôi qua kể từ lần cuối tôi cảm nhận được Thánh Linh, và tôi tự hỏi có điều gì sai ở đây.
Tôi vật lộn để biết cách giúp đỡ con cái của mình. Công việc của tôi là giảng dạy chúng và vun đắp cho sự cải đạo của chúng. Nhưng nếu chính tôi còn không cảm nhận được Đức Thánh Linh, thì làm thế nào tôi có thể nói với chúng rằng nếu chúng cầu nguyện thì chúng sẽ cảm nhận được Thánh Linh?
Một ngày nọ, nỗi tuyệt vọng khiến tôi đi vào căn phòng cất quần áo. Giữa những đôi giày xung quanh mình, tôi quỳ xuống sàn để cầu nguyện.
Tôi hỏi: “Thưa Cha Thiên Thượng, Ngài đang ở đâu? Con không cảm nhận được Ngài.”
Lần đầu tiên sau một thời gian dài, tôi cảm thấy một điều gì đó. Câu trả lời tôi nhận được là, “Con chỉ đang ở giữa màn sương mù mà thôi.” Tôi cảm thấy Thượng Đế đang nói với tôi, “Ta đã ở đây suốt thời gian qua. Chỉ là con không thể trông thấy ta.”
Đúng rồi! Vào ngày sương mù dày đặc nhất, chúng ta không thể nhìn thấy quá vài thước phía trước, nhưng điều đó không có nghĩa là ở đó không có gì. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm.
Vẫn còn một thời gian dài trước khi tôi cảm thấy là chính mình một lần nữa và cảm nhận được sự kết nối thường xuyên với Thánh Linh. Sương mù không đột ngột tan đi, nhưng thật hữu ích để biết rằng Cha Thiên Thượng vẫn ở đó.
Đối với tôi, để thoát ra khỏi màn sương mù, điều quan trọng là phải quay trở lại với những gì tôi đã biết. Tôi bám chặt vào những lời của Chủ Tịch Dieter F. Uchtdorf, Quyền Chủ Tịch Nhóm Túc Số Mười Hai Vị Sứ Đồ: “Hãy nghi ngờ những điều mình ngờ vực trước khi nghi ngờ đức tin của mình.”
Tôi học được rằng mặc dù mọi thứ chưa rõ ràng hơn, nhưng tôi cần phải tiếp tục làm những điều đúng. Tôi vẫn cần phải đến nhà thờ mỗi Chủ Nhật. Tôi vẫn cần phải ở trong đền thờ mỗi tuần. Và tôi vẫn tin.
Việc dâng hết tâm hồn lên Thượng Đế trong phòng cất quần áo của tôi (xin xem An Ma 34:26) đã giúp tôi thấy rõ hơn hoàn cảnh của mình. Tôi đã chìm trong màn sương mù, nhưng tôi biết rằng Cha Thiên Thượng đang chờ tôi ở phía bên kia.
The post Podcast số 615 – Liahona tháng 9, 2026 – Thưa Cha Thiên Thượng, Ngài Đang Ở Đâu? – Celeste Temple appeared first on Thánh Hữu Việt Nam.
Bài của Chị Chantal Pitman, một tín hữu của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô tại Queenslang, Úc đăng trong tạp chí Liahona tháng 9, năm 2026
Vào năm 2009, trong khi đi bộ với Kendall, chồng tôi, chân trái của tôi bắt đầu co giật. Tôi nghĩ đó là hậu quả từ nhiều năm chơi bóng rổ hoặc do chấn thương lưng. Tôi đã phẫu thuật, nhưng không có gì cải thiện cả.
Sau ba năm dài, gặp với 10 bác sĩ và làm nhiều xét nghiệm, tôi được chẩn đoán mắc bệnh xơ cứng teo cơ một bên (ALS), còn được gọi là bệnh thoái hóa thần kinh vận động.
Khi tôi biết tuổi thọ trung bình của những người mắc căn bệnh như tôi chỉ là 2,5 năm, tôi đã rất sợ hãi. Nhưng hơn một thập kỷ sau, tôi vẫn đang sống chung với căn bệnh này.
Tôi đã chuyển từ việc sử dụng gậy đi bộ sang khung tập đi, xe điện hỗ trợ di chuyển và xe lăn điện. Tay tôi yếu, và tôi cần được chăm sóc suốt 24 giờ. Tuy nhiên, tôi vẫn chia sẻ kinh nghiệm nấu nướng của mình cho gia đình và những người chăm sóc tôi.
Cuộc đời mang đến một thử thách khác vào năm 2014 trong khi Kendall và tôi đang phục vụ truyền giáo ở Bordeaux, Pháp. Anh được chẩn đoán mắc bệnh ung thư gan. Suốt tám năm, anh ấy chịu đựng quá trình hóa trị trong khi chăm sóc cho tôi. Cuối cùng, Cha Thiên Thượng đã gọi anh về nhà. Kendall là một người có đức tin sâu sắc và luôn phục vụ. Anh ấy đã phục vụ năm lần với tư cách là giám trợ, và chúng tôi đã phục vụ tám năm cùng nhau với tư cách là một cặp vợ chồng hướng dẫn FSY ở Queensland.
Mất đi Kendall là nỗi đau buồn lớn nhất của tôi, nhưng tôi biết anh ấy đang chờ đợi tôi. Mặc dù có những thử thách về thể chất và mất mát đau thương, nhưng đức tin của tôi chưa bao giờ lung lay. Tôi biết rằng Cha Thiên Thượng và Vị Nam Tử của Ngài Chúa Giê Su Ky Tô yêu thương tôi. Tôi không hoàn toàn hiểu lý do tại sao tôi vẫn còn ở đây, nhưng tôi biết rằng Thượng Đế có một mục đích cho tôi—là tập trung vào điều tôi có thể kiểm soát, trân quý những người thân yêu của mình, và tìm thấy niềm vui trong những giây phút thường ngày.
Qua tất cả những điều đó, tôi đã cảm nhận được bàn tay của Chúa hướng dẫn cuộc đời tôi. Tôi tìm thấy sự bình an trong đền thờ. Tôi tái lập các giao ước của mình mỗi Chủ Nhật khi dự phần Tiệc Thánh. Tôi củng cố chứng ngôn của mình qua thánh thư. Tôi tìm thấy lòng can đảm mỗi ngày trong những lời của các sứ đồ và các vị tiên tri tại thế.
Tôi biết chắc chắn rằng gia đình là vĩnh cửu. Khi tiếp tục noi theo Đấng Cứu Rỗi, tôi có thể được đoàn tụ với Kendall, và chúng tôi có thể ở bên nhau vĩnh viễn. Lời hứa về cuộc sống vĩnh cửu là phước lành lớn hơn hết thảy (xin xem Giáo Lý và Giao Ước 14:7).
Đấng Cứu Rỗi là sức mạnh của tôi. Ngài luôn luôn ở bên tôi, và Ngài không muốn tôi ngừng tin cậy nơi Ngài.
The post Podcast số 614 – Liahona tháng 9, 2026 – Phước Lành Lớn Hơn Hết Thảy – Chantal Pitman appeared first on Thánh Hữu Việt Nam.
Bài của Anh Cả Dale G. Renlund Thuộc Nhóm Túc Số Mười Hai Vị Sứ Đồ của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô đăng trong tạp chí Liahona tháng 8, năm 2026
Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô đang chuẩn bị một tuyển tập âm nhạc mới có tên là Thánh Ca để Sử Dụng ở Nhà và ở Nhà Thờ mà sẽ thay thế cho sách thánh ca và sách các bài hát thiếu nhi hiện có. Khi dự án này hoàn tất, nó sẽ phản ánh cách chúng ta, là Các Thánh Hữu Ngày Sau, hiểu và thờ phượng Cha Thiên Thượng và Chúa Giê Su Ky Tô. Tương tự như vậy, sách Thi Thiên trong Kinh Cựu Ước đóng vai trò là sách thánh ca cổ xưa dành cho dân giao ước của Thượng Đế, biểu lộ cảm nghĩ của họ về Đức Giê Hô Va và mối quan hệ của họ với Ngài.
Về cơ bản, sách Thi Thiên tập trung vào Chúa Giê Su Ky Tô—và được trích dẫn thường xuyên hơn trong Kinh Tân Ước—hơn bất kỳ sách Cựu Ước nào khác. Các thuộc tính của Chúa Giê Su Ky Tô, đặc biệt là lòng thương xót và ân điển của Ngài, được nhấn mạnh nhiều lần.
Sách Thi Thiên và Thánh Ca để Sử Dụng ở Nhà và ở Nhà Thờ chứng thực sự sẵn lòng của Đấng Cứu Rỗi để tha thứ tội lỗi và lỗi lầm của chúng ta và giúp đỡ chúng ta trong lúc hoạn nạn. Cả hai sách đều khuyến khích chúng ta tin cậy nơi Ngài vì tình yêu thương và lòng trắc ẩn của Ngài.
Sự Tha Thứ
Hãy xem xét những câu này từ sách Thi Thiên:
“Đức Giê Hô Va có lòng thương xót, hay làm ơn, chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ. …
“Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi, cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi …
“Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu” (Thi Thiên 103:8, 10, 12).
Theo thuật ngữ hiện đại, nhờ vào lòng thương xót của Ngài, chúng ta không phải chịu đau khổ như chúng ta đáng phải chịu. Khi chúng ta hối cải chân thành, Đấng Cứu Rỗi mang chúng ta ra khỏi tội lỗi của chúng ta, và chúng ta không phải hứng chịu hình phạt mà lẽ ra chúng ta phải gánh chịu. Đấng Cứu Rỗi đã trả cái giá để chúng ta không phải gánh chịu.
Nhờ vào Sự Chuộc Tội vô hạn của Ngài, Đấng Cứu Rỗi đã ban lòng thương xót phi thường của Ngài trên toàn thế giới, cho “người hạ lưu hay là thượng lưu, người giàu có cũng như người nghèo nàn” (Thi Thiên 49:2). Sự hy sinh chuộc tội của Ngài là một chuỗi các sự kiện Ngài đã trải qua từ Vườn Ghết Sê Ma Nê đến Đồi Sọ và Sự Phục Sinh. Ngài “đã chịu những nỗi đau khổ ấy cho mọi người, để họ khỏi đau khổ nếu họ chịu hối cải” (Giáo Lý và Giao Ước 19:16; sự nhấn mạnh được thêm vào). Chủ Tịch Dallin H. Oaks đã dạy: “Giáo lý được mặc khải trong Giáo Hội phục hồi của Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô dạy rằng tất cả con cái của Thượng Đế …cuối cùng sẽ thừa hưởng một trong ba vương quốc vinh quang, thậm chí vương quốc vinh quang nhỏ nhất cũng ‘vượt quá mọi sự hiểu biết’ [Giáo Lý và Giao Ước 76:89].”
Sách Thi Thiên ca ngợi và tán dương Chúa Giê Su Ky Tô vì sự sẵn lòng tha thứ của Ngài. Qua Ngài, tất cả con cái của Cha Thiên Thượng có thể được cứu (xin xem Giáo Lý và Giao Ước 76:43). Nếu là tất cả thì Ngài có thể cứu tất cả mọi người, bất cứ ai, thậm chí một người, ngay cả các anh chị em và tôi. Một trong những bài thánh ca được gồm vào trong Thánh Ca để Sử Dụng ở Nhà và ở Nhà Thờ cũng diễn tả giáo lý tuyệt vời này:
Kìa những vết thương trên tay Chúa Giê Su,
Dấu vết bên hông Ngài,
Rồi hãy suy ngẫm xem Ngài muốn cứu ai
Khi trên thập tự giá, Ngài đã chết.
Chúng ta không thể thấy tình yêu thương của Thượng Đế,
Mà cứu chúng ta khỏi Sự Sa Ngã,
Nhưng hãy biết rằng Đấng Ky Tô, từ gỗ và đinh
Xây những chỗ ở cho tất cả chúng ta.
Trợ Giúp
Nếu lòng thương xót là không nhận lấy những gì chúng ta đáng phải nhận (những hình phạt phải gánh chịu), thì ân điển là nhận được những gì chúng ta không xứng đáng (những phần thưởng không kiếm được). Nhờ ân điển của Ngài, Ngài sẽ giúp đỡ chúng ta. Khi chúng ta trải qua những thử thách, sách Thi Thiên khuyến khích chúng ta nhớ lại những gì Thượng Đế đã làm cho chúng ta trước đây, viết rằng:
“Tôi sẽ nhắc lại công việc của Đức Giê Hô Va, nhớ đến các phép lạ của Ngài khi xưa.
“Cũng sẽ ngẫm nghĩ về mọi công tác Chúa, Suy gẫm những việc làm của Ngài. …
“Chúa là Đức Chúa Trời hay làm phép lạ, đã tỏ cho biết quyền năng Chúa giữa các dân.
“Chúa dùng cánh tay mình mà chuộc dân sự Chúa” (Thi Thiên 77:11–12, 14–15).
Sách Thi Thiên xác nhận rằng Chúa ban nơi trú ẩn và sức mạnh cho những người đau khổ trong những lúc hoạn nạn.
Một bài thánh ca trong Sách Thánh Ca để Sử Dụng ở Nhà và ở Nhà Thờ cũng cho thấy sự sẵn lòng của Đấng Cứu Rỗi để giúp đỡ chúng ta:
Mặc dù lũ lụt có thể dâng lên và kẻ thù âm mưu,
Chớ sợ hãi!
Trong cơn bão mịt mù hay khi lửa cháy vây quanh
Chớ sợ hãi!
Hãy hướng về Chúa của bạn, vì Ngài đang ở đó
Với quyền năng tuyệt vời và sự chăm sóc dịu dàng.
Hãy tiến bước trong đức tin; Hãy tìm sự giúp đỡ trong lời cầu nguyện.
Chớ sợ hãi!
Thật vậy, Chúa là Đấng duy nhất có thể làm cho chén đắng được ngọt ngào, Đấng sẽ không ngừng làm cho chúng ta được trọn lành, và là Đấng sẽ thánh hóa chúng ta qua những nỗi đau đớn sầu khổ nhất. Ngài sẽ không bỏ rơi chúng ta. Chúng ta có thể trông cậy vào Ngài.
Tin Cậy nơi Chúa
Sách Thi Thiên trấn an chúng ta rằng đối với một người tin cậy nơi Chúa, thì “người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước; Sanh bông trái theo thì tiết; Lá nó cũng chẳng tàn héo; Mọi sự người làm đều sẽ thạnh vượng” (Thi Thiên 1:3). Nói cách khác, khi chúng ta tin cậy nơi Chúa, chúng ta không cần phải sợ hãi, ngay cả khi chúng ta “đi trong trũng bóng chết” (Thi Thiên 23:4). “Phước hạnh và sự thương xót” của Chúa sẽ theo chúng ta suốt cuộc đời (Thi Thiên 23:6).
Vì Chúa là sự sáng và sự cứu rỗi của chúng ta, nên chúng ta có thể tự tin khi đương đầu với kẻ thù và không cần phải sợ ai cả. Xét cho cùng, Ngài là sức mạnh của chúng ta. (Xin xem Thi Thiên 27:1–2.) Nhờ ân điển của Ngài, chúng ta có thể “yên lặng và biết rằng [Ngài] là Đức Chúa Trời” (Thi Thiên 46:10).
Chúng ta có thể tin cậy Chúa vì chúng ta biết phần kết thúc cho câu chuyện của mình. Tôi có những người bạn đọc những chương cuối của một cuốn tiểu thuyết để họ biết điều gì sẽ xảy ra ngay cả trước khi họ đọc phần đầu của cuốn sách. Họ lý luận rằng, bất kể sự kịch tính đầy hồi hộp của câu chuyện, họ không cần phải cảm thấy lo lắng, và vì thế họ tận hưởng trải nghiệm đọc nhiều hơn.
Tôi có những người bạn khác nhiệt tình ủng hộ đội thể thao yêu thích của họ. Họ thu lại các trận đấu khi chúng đang được chơi nhưng không xem trận đấu đó trong thời gian thực tế diễn ra. Thay vào đó, sau khi trận đấu kết thúc, họ kiểm tra tỷ số. Nếu đội của họ thua, họ sẽ xóa đoạn phim. Nếu đội của họ thắng, họ sẽ xem nó. Việc xem đội của họ chơi luôn luôn thú vị. Ngay cả khi đội của họ bị tụt lại phía sau, họ biết đội của họ cuối cùng sẽ thắng. Họ có thể xem mà không bị căng thẳng.
Kết quả câu chuyện của chúng ta có thể rất vinh quang—cuộc sống vĩnh cửu trong sự hiện diện của Cha Thiên Thượng. Bởi vì chúng ta biết sự kết thúc, chúng ta không cần phải quá lo lắng hay căng thẳng, mặc dù cuộc hành trình đôi khi rất hồi hộp.
Sách Thi Thiên dạy chúng ta rằng chúng ta có thể lạc quan và hy vọng, bất kể những thử thách. Một bài hát thiếu nhi được gồm vào trong sách Thánh Ca để Sử Dụng ở Nhà và ở Nhà Thờ dạy chúng ta rằng chúng ta sẽ được ban phước khi chúng ta tin cậy nơi Chúa:
Tôi sẽ tin cậy nơi Chúa Giê Su. Tôi sẽ nghe lời kêu gọi của Ngài.
Ngài sẽ không bao giờ rời bỏ tôi, ngay cả khi tôi vấp ngã.
Chúa Giê Su ban cho tôi sức mạnh, nâng đỡ và an ủi tôi,
Giúp tôi sống và phát triển vĩnh viễn.
Vâng, lòng thương xót không phải là nhận lấy những gì chúng ta đáng nhận được. Ân điển là nhận được những gì chúng ta không xứng đáng. Nhờ vào lòng thương xót và ân điển của Chúa, chúng ta có thể được tha thứ và giúp đỡ. Không những chúng ta được cứu mà còn được tôn cao; Chúng ta có thể “được vẹn lành nhờ [Ngài] là Đấng trung gian của giao ước mới, Đấng đã làm nên sự chuộc tội hoàn hảo này bằng sự đổ máu của chính Ngài” (Giáo Lý và Giao Ước 76:69).
Sách Thi Thiên là nguồn an ủi và niềm vui cho dân Y Sơ Ra Ên thời xưa và có thể dành cho chúng ta—bởi vì “Đức Giê Hô Va hay làm ơn, có lòng thương xót, Chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ.
“Đức Giê Hô Va làm lành cho muôn người, sự từ bi Ngài giáng trên các vật Ngài làm nên” (Thi Thiên 145:8–9).
The post Podcast số 613 – Liahona tháng 8, 2026 – Sách Thi Thiên: Lòng Thương Xót, Sự Tha Thứ và Sự Giúp Đỡ của Đấng Cứu Rỗi Được Biểu Lộ – Dale G. Renlund appeared first on Thánh Hữu Việt Nam.
Bài của Anh Cả Massimo De Feo, Thuộc Nhóm Túc Số Thầy Bảy Mươi của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô đăng trong tạp chí Liahona tháng 7, năm 2026
Mặc dù cha mẹ tôi chưa bao giờ gia nhập Giáo Hội, nhưng tôi đã chịu phép báp têm khi còn nhỏ. Khi tôi lớn lên trong phúc âm, tôi trở nên cực kỳ thú vị đối với những câu chuyện trong thánh thư. Tôi cảm thấy đồng cảm với câu chuyện về người tôi tớ trẻ tuổi của tiên tri Ê Li Sê:
“Tôi tớ của người Đức Chúa Trời chổi dậy sáng sớm đi ra, thấy một đạo binh cùng ngựa và xe đang vây thành. Người nói với Ê Li Sê rằng: Hỡi ôi! chúa, chúng ta sẽ làm sao?
“Ê Li Sê đáp rằng: Chớ sợ, những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó.
“Đoạn, Ê Li Sê cầu nguyện mà rằng: Đức Giê Hô Va ôi, xin mở mắt kẻ tôi tớ tôi, để nó thấy được. Đức Giê Hô Va mở mắt người ra, thì người thấy núi đầy những ngựa và xe bằng lửa ở chung quanh Ê Li Sê” (2 Các Vua 6:15–17).
Tôi đã gặp phải những thử thách khi là tín hữu duy nhất của Giáo Hội ở trường. Mặc dù cảm thấy mình đơn độc, cảm thấy yếu thế trước đám đông và đôi khi sợ hãi, nhưng câu chuyện này đã giúp tôi cảm thấy được bao quanh bởi các thiên sứ. Cảm giác đó chưa bao giờ rời bỏ tôi. Những lời của tiên tri Ê Li Sê—“Chớ sợ, những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó”—nhắc tôi nhớ rằng tôi không bao giờ thực sự cô đơn một mình.
Chủ Tịch Henry B. Eyring, Đệ Nhất Cố Vấn trong Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn, đã dạy: “Giống như người tôi tớ đó của Ê Li Sê, có nhiều người ở cùng với các anh em hơn những người các anh em có thể nhìn thấy chống lại mình. Một số người ở với các anh em thì không thấy được qua con mắt trần của các anh em. Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta và sẽ thỉnh thoảng làm điều đó bằng cách kêu gọi những người khác hỗ trợ chúng ta.”
Tôi đã dần dần nhận ra rằng sức mạnh thuộc linh mà tôi cảm nhận được khi còn là một thiếu niên không chỉ đến từ sự hỗ trợ của các thiên sứ trên trần thế lẫn trên thiên thượng mà còn đến từ các nền tảng giáo lý vững chắc. Sau đây là một số bài học mà tôi đã học được từ việc cầu xin Chúa “mở mắt tôi ra” khi tôi cảm thấy sợ hãi hoặc cô đơn, giống như người tôi tớ của Ê Li Sê đã hỏi: “Chúng ta sẽ làm sao?”
Đức Tin thay vì Nỗi Sợ Hãi
Thế giới này thật khó khăn và những thử thách của chúng ta là có thật, nhất là đối với những người thuộc thế hệ đang vươn lên. Nhiều khi chúng ta có thể hoảng sợ và sợ hãi khi cảm thấy đơn độc trong những thử thách của mình. Tuy nhiên, khi người tôi tớ của Ê Li Sê thấy quân đội Sy Ri bao vây họ và hoảng sợ, thì Ê Li Sê đã bình tĩnh trấn an: “Chớ sợ.”
Đây không phải chỉ là mong muốn rằng mọi điều sẽ trở nên tốt đẹp hơn hoặc bỏ qua một tình huống đầy kịch tính và khó khăn. Đây là tầm nhìn thuộc linh thực sự dựa trên đức tin chân thật nơi Chúa là Đấng có thể và sẽ giải cứu họ. Tầm nhìn thuộc linh này vượt xa những gì Ê Li Sê đã nhìn thấy bằng đôi mắt trần của ông.
Chúng ta học được từ câu chuyện này rằng nỗi sợ hãi là lẽ tự nhiên, nhưng đức tin là có chủ ý. Nỗi sợ hãi thường đến từ những gì chúng ta nhìn thấy. Đức tin đến khi chúng ta chọn để “hy vọng những gì không trông thấy được mà có thật” (An Ma 32:21; sự nhấn mạnh được thêm vào). Đức tin đó đến từ điều mà Thánh Linh bảo đảm với chúng ta là có thật, tuân giữ các giao ước của chúng ta, và tin tưởng rằng những lời hứa của Thượng Đế sẽ được làm tròn. Bằng đức tin, Ê Li Sê đã nhìn thấy ngoài mối đe dọa về vật chất đối với thực tế rằng quyền năng của Thượng Đế đã hiện diện và các thiên sứ sẵn sàng phục sự, can thiệp, và giải cứu họ.
Trong lời cầu nguyện cung hiến Đền Thờ Kirtland, Tiên Tri Joseph Smith đã cầu nguyện: “Và chúng con cầu xin Ngài, hỡi Đức Chúa Cha Thánh Thiện, rằng những tôi tớ của Ngài khi ra khỏi ngôi nhà này được mang quyền năng của Ngài, và danh Ngài có thể ở cùng họ, và vinh quang của Ngài bao bọc họ và các thiên sứ của Ngài chăm sóc họ ” (Giáo Lý và Giao Ước 109:22; sự nhấn mạnh được thêm vào).
Giống như đoàn thiên binh vây quanh Ê Li Sê và người tôi tớ trẻ tuổi của ông, các thiên sứ cũng có thể được Chúa gửi đến để phục sự chúng ta khi chúng ta tuân giữ các giao ước của mình. Đức tin chủ động quả thật đến từ quan điểm vĩnh cửu và mời gọi sự can thiệp của thiên thượng. Chủ Tịch Dallin H. Oaks đã tuyên bố rằng nỗi sợ hãi của chúng ta “có thể được khắc phục bởi đức tin của chúng ta nơi Thượng Đế và kế hoạch của Ngài, và sự chuộc tội của Con Trai Độc Sinh của Ngài, Chúa Giê Su Ky Tô.”
Các Vị Tiên Tri trong Cuộc Đời Chúng Ta
Ê Li Sê không chỉ trấn an hay khuyến khích người tôi tớ của mình; ông cầu nguyện rằng mắt của người tôi tớ ấy sẽ được mở ra. Đây là vai trò của các vị tiên tri ngày nay.
Trong những lúc hoang mang và sợ hãi, các vị tiên tri giúp chúng ta nhìn thấy rõ ràng. Họ xoa dịu tâm hồn chúng ta trong những thời điểm khó khăn. Họ dạy chúng ta những lẽ thật vĩnh cửu mà giúp chúng ta đối phó với những thử thách mà dường như không thể vượt qua được. Họ cho phép chúng ta thấy rằng sự giúp đỡ của thiên thượng luôn sẵn có nếu chúng ta tuân theo lời khuyên bảo của họ và tuân giữ các giao ước của mình.
Chủ Tịch Russell M. Nelson (1924–2025) đã dạy: “Khi nền móng thuộc linh của anh chị em được xây dựng vững chắc dựa trên Chúa Giê Su Ky Tô, thì anh chị em không cần phải sợ hãi.”
Cũng giống như Ê Li Sê đã giúp mở mắt của người tôi tớ của ông, các vị tiên tri mời gọi chúng ta xây dựng trên Đấng Ky Tô, nền móng chắc chắn duy nhất của chúng ta, để tìm thấy sự bình an và xua tan nỗi sợ hãi nhờ vào đức tin nơi Ngài.
Sự Hiện Diện của Thượng Đế
Người tôi tớ đã không nhìn thấy các thiên binh cho đến khi Ê Li Sê cầu nguyện, nhưng họ đã ở đó từ lâu. Sự thật là Thượng Đế có thể ở cùng chúng ta luôn luôn, cho dù chúng ta có cảm thấy điều đó hay không. Khi chúng ta cảm thấy cô đơn hoặc chán nản và ngay cả khi chúng ta cảm thấy xa cách Ngài, thì sự hiện diện của Thượng Đế vẫn là liên tục. Sự giúp đỡ của Ngài không tùy thuộc vào nhận thức của chúng ta về Ngài mà tùy thuộc vào sự trung tín của chúng ta đối với mối quan hệ giao ước của chúng ta với Ngài.
Thượng Đế bị ràng buộc khi chúng ta tuân giữ các giao ước của mình với Ngài (xin xem Giáo Lý và Giao Ước 82:10). Ngài sẽ không bỏ rơi chúng ta. Chúng ta có thể không nhìn thấy những cỗ xe lửa xung quanh mình, nhưng khi chúng ta tin cậy Thượng Đế và tuân giữ các giao ước của mình thì Ngài sẽ gửi các thiên sứ đến từ cả hai bên bức màn che để “vây quanh [chúng ta], để nâng đỡ [chúng ta]” trong những thời điểm khó khăn nhất của chúng ta ( Giáo Lý và Giao Ước 84:88 ). Chúng ta không bao giờ thực sự đơn độc một mình. Bất kể điều gì chúng ta thấy hoặc không thấy, thì những lời hứa của Thượng Đế vẫn còn đó.
Các Thiên Sứ trong Cuộc Sống của Tôi
Sau khi hoàn thành công việc truyền giáo, tôi đi tìm việc làm. Tôi cho rằng Chúa sẽ tận tình giúp đỡ tôi ngay lập tức. Tôi sớm nhận ra rằng các phước lành không phải lúc nào cũng tự động, giống như việc đặt tiền vào máy bán hàng tự động và nhận được chính xác những gì chúng ta muốn, khi nào và bằng cách nào chúng ta muốn.
Thời gian trôi qua và đức tin của tôi đã được thử thách. Tôi đã không nhìn thấy các phước lành mà tôi đã mong đợi. Nhưng một ngày nọ, bất ngờ thay, tôi được gọi đi phỏng vấn cho một việc làm mà tôi mơ ước.
Tôi là người cuối cùng được phỏng vấn. Khi tôi bước vào phòng, viên chức cao cấp chào đón tôi và nói rằng ông ta sẽ được phụ giúp bởi một viên chức cấp dưới đang ở đó với nhiệm vụ tạm thời vào ngày hôm đó.
Viên chức cấp dưới đó xét lại hồ sơ xin việc của tôi và nói: “Tôi thấy rằng anh đã từng là một người truyền giáo toàn thời gian. Tôi cũng vậy. Tôi cũng đã phục vụ truyền giáo.”
Tôi rất ngạc nhiên khi biết rằng người ấy là một tín hữu của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô và từng phục vụ truyền giáo!
Người ấy nói với viên chức cao cấp: “Tôi không biết người thanh niên này, nhưng anh ta đã là một người truyền giáo toàn thời gian cho giáo hội của tôi. Tôi biết điều cần phải làm để trở thành một người truyền giáo trung tín. Tôi có thể nói với ông rằng ông có thể tin cậy anh ấy.”
Tôi vô cùng kinh ngạc! Người ấy trở thành một nhân chứng cho tôi mà không hề biết tôi.
Tôi thường tự hỏi xác suất là bao nhiêu để một người từng phục vụ truyền giáo ở Rome, Ý, lại có mặt ở trong văn phòng ấy với một nhiệm vụ tạm thời vào ngày hôm đó. Tôi tin rằng người ấy là một thiên sứ được gửi đến để giúp đỡ tôi.
Và tôi đã được nhận vào làm việc!
Tôi cảm thấy vô cùng sợ hãi sau khi đi truyền giáo về. Giống như tôi tớ của Ê Li Sê, tôi đã hỏi: Tôi sẽ làm sao? Nhưng càng rõ ràng hơn, tôi cảm thấy niềm vui tràn ngập như những lời của Ê Li Sê—“Chớ sợ, những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó”—đột nhiên trở thành một thực tế không thể phủ nhận đối với tôi. Ngày hôm đó, tôi biết rằng Chúa gửi các thiên sứ đến để giúp đỡ chúng ta. Với Ngài, chúng ta không bao giờ đơn độc một mình.
The post Podcast số 612 – Liahona tháng 7, 2026 – Những Người Ở Với Chúng Ta Đông Hơn Những Người Chống Lại Chúng Ta – Massimo De Feo appeared first on Thánh Hữu Việt Nam.
From the publisher's feed