
Sign up to save your podcasts
Or


Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 16 Kinh Pháp Hoa (Như Lai Thọ Lượng)
Phẩm Như Lai Thọ Lượng là phần cốt lõi của Kinh Pháp Hoa, nơi Đức Phật tiết lộ thọ mạng của Ngài là vô lượng kiếp, không phải chỉ sinh ra và nhập diệt trong kiếp này. Việc Phật thị hiện sinh, thành đạo, thuyết pháp và nhập Niết bàn chỉ là phương tiện để giáo hóa chúng sinh, giúp họ tránh kiêu mạn và siêng năng tu hành. Phẩm này khẳng định tính vĩnh cửu của Phật tánh và pháp nhất thừa, khuyến khích niềm tin kiên cố vào Kinh Pháp Hoa, dẫn đến giác ngộ và giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.
Toàn văn phẩm thứ 16: Như Lai Thọ Lượng
Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Đại Bồ tát và đại chúng:
Các thiện nam tử! Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Lại bảo đại chúng:
Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Lại bảo đại chúng rằng:
Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Bấy giờ, đại chúng Bồ tát với Ngài Di Lặc làm thượng thủ chấp tay bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin lời Phật.
Như thế ba lần bạch rồi lại bạch rằng:
Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin lời Phật.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết các vị Bồ tát ba lần khôn thôi mà bảo rằng:
Các ông lắng nghe kỹ lời bí mật cùng thần thông của chư Phật. Các thiện nam tử! Chư Phật Như Lai chỉ vì một nhân duyên lớn mà hiện ra ở đời. Các ông cho rằng chư Phật Như Lai chỉ vì diệt độ chúng sanh mà hiện ra ở đời chăng? Chẳng phải vậy. Các thiện nam tử! Chư Phật Như Lai vì khiến chúng sanh khai Phật tri kiến khiến cho thanh tịnh mà hiện ra ở đời; vì chỉ bày Phật tri kiến mà hiện ra ở đời; vì ngộ Phật tri kiến mà hiện ra ở đời; vì nhập Phật tri kiến đạo mà hiện ra ở đời. Các thiện nam tử! Đó là chư Phật Như Lai chỉ vì một việc nhân duyên lớn mà hiện ra ở đời.
Các thiện nam tử! Ví như có thế giới Tam thiên Đại thiên nhiều như số cát sông Hằng, lấy đó làm hạt giống, có người nghiền nát làm vi trần, qua phương Đông trải qua nghìn thế giới mới rớt một hạt vi trần, cứ như thế qua phương Đông rớt hết số vi trần đó. Các ông nghĩ sao? Số thế giới đó có thể nghĩ bàn tính kể biết được chăng?
Di Lặc Bồ tát thảy đều bạch Phật:
Bạch Thế Tôn! Số thế giới đó vô lượng vô biên, chẳng phải toán số hay thí dụ có thể biết được. Những thế giới đó đều là do Bồ tát thừa A duy việt chí mà cũng chẳng có thể biết được ngằn mé. Vì sao? Vì các vị Bồ tát đó còn chưa được Vô sanh pháp nhẫn.
Phật bảo các vị Bồ tát:
Các thiện nam tử! Nay ta nói rõ cho các ông: Số thế giới đó nếu nghiền nát làm vi trần, chẳng phải pháp vi trần, số đó như vi trần. Mỗi một vi trần là một kiếp, từ ta thành Phật đến nay lại hơn số đó trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp. Từ đó đến nay ta thường ở cõi Ta Bà này thuyết pháp giáo hóa, cùng ở nơi khác trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi nước dẫn dắt lợi ích chúng sanh.
Các thiện nam tử! Trong khoảng đó ta nói Phật Nhiên Đăng v.v... và nói trong đó có Phật nhập Niết bàn, đều là phương tiện phân biệt. Các thiện nam tử! Nếu có chúng sanh đến chỗ ta, ta dùng Phật nhãn xem căn tánh lợi độn của đó mà độ thoát, chỗ chỗ tự nói danh tự khác nhau, tuổi lớn nhỏ, cũng lại hiện nói ta sẽ nhập Niết bàn, lại dùng các phương tiện nói pháp vi diệu độ thoát chúng sanh khổ.
Các thiện nam tử! Như Lai thấy chúng sanh ưa pháp nhỏ, đức mỏng cấu nặng, vì những người đó mà nói: Ta lúc trẻ xuất gia được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng thật từ ta thành Phật đến nay lâu xa như thế, chỉ dùng đó giáo hóa chúng sanh khiến vào Phật đạo, làm các phương tiện như thế.
Các thiện nam tử! Kinh điển của Như Lai nói ra đều là vì độ thoát chúng sanh, hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người, hoặc thị hiện việc, hoặc biểu thị lời nói, hoặc thí dụ việc đã có, hoặc thí dụ việc chưa có. Các lời nói ra đều là chơn thật không hư dối.
Vì sao? Vì Như Lai biết rõ tướng của chúng sanh, tánh dục gì, chứa gì trong lòng, dùng các nhân duyên, thí dụ, lời lẽ, sức phương tiện mà theo nghi nói pháp như mục đích điều phục của Như Lai không hề sai lầm.
Các thiện nam tử! Như Lai làm việc lợi ích cho thế gian đều đã viên mãn. Chỗ thọ mạng của ta nay đã hết, lúc nhập Niết bàn đã đến, thời phải nên dặn bảo các Tỳ kheo: Thường siêng tu hành, theo Phật pháp mà tu hành, được thấy tánh chân thật, mau đến đạo tràng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Từ ta thành Phật đạo
Trải qua số kiếp đông
Vô lượng trăm nghìn muôn
Ức a tăng kỳ số
Thường nói pháp giáo hóa
Vô số muôn ức chúng
Dẫn vào Phật đạo vậy
Từ đó vô số kiếp
Vì độ các chúng sanh
Phương tiện hiện Niết bàn
Mà thật chẳng diệt độ
Thường trụ đây nói pháp
Ta thường trụ cõi này
Dùng các sức thần thông
Khiến chúng sanh điên đảo
Dầu gần mà chẳng thấy
Chúng thấy ta diệt độ
Rộng cúng dường xá lợi
Tất đều sanh lòng nhớ
Mà sanh tâm khát ngưỡng
Chúng sanh đã thuần tin
Chất trực ý nhu nhuyễn
Một lòng muốn thấy Phật
Chẳng tiếc thân mạng mình
Thời ta và Tăng chúng
Đồng ra nơi Linh Thứu
Lúc đó ta vì chúng
Nói pháp thật bất diệt
Như hư không thường trụ
Chẳng sanh cũng chẳng diệt
Vì độ kẻ ít đức
Ta hiện sức thần thông
Trải qua a tăng kỳ
Kiếp số có chúng sanh
Nói Phật nhập Niết bàn
Mà chẳng nghe pháp này
Chẳng biết việc Phật làm
Nếu người tu thiện pháp
Ý nhu nhuyễn chất trực
Thời ta đều nói rằng
Thọ mạng Phật rất dài
Lâu xa mới gặp Phật
Vì độ chúng sanh vậy
Như vị lương y kia
Trí huệ thông đạt sáng
Khéo pha chế thuốc hay
Cứu trị các chứng bệnh
Người đó có nhiều con
Mười người hoặc trăm nghìn
Vì có việc nhân duyên
Qua nước khác xa xôi
Các con uống thuốc độc
Thuốc phát cuồng loạn ngã
Lúc đó cha trở về
Các con đều nghịch độc
Hoặc mất tâm bản tánh
Hoặc chưa mất tâm tánh
Xa thấy cha trở về
Đều rất vui mừng lớn
Quỳ lạy hỏi thăm rằng
Lành thay nay cha về
Chúng con ngu tự uống
Thuốc độc nay cầu xin
Cha cứu cho sống lại
Cha thấy các con khổ
Theo các sách phương thuốc
Tìm các vị thuốc hay
Sắc hương đều đầy đủ
Đem cho con mà bảo
Thuốc hay này sắc đẹp
Hương thơm vị ngon ngọt
Các con cầm mà uống
Mau trừ khổ chẳng còn
Những con chưa mất tâm
Thấy thuốc hay vui uống
Bệnh thảy đều trừ hết
Còn những kẻ mất tâm
Vui mừng cha trở về
Cũng cầu xin chữa trị
Mà chẳng chịu uống thuốc
Vì sao? Vì độc thấm
Sâu mất tâm bản tánh
Thuốc hay sắc hương tốt
Nói chẳng phải thuốc hay
Cha nghĩ những con này
Bị độc khổ sở nhiều
Thấy ta rất vui mừng
Cầu xin chữa mà lại
Chẳng chịu uống thuốc hay
Nay ta lập phương tiện
Khiến chúng uống thuốc này
Bèn nói rằng: Ta nay
Đã già nua suy yếu
Chết đây đã đến rồi
Thuốc hay tốt này đây
Nay để lại cho các con
Cầm lấy chớ lo không
Lành mạnh, nói rồi liền
Qua nước khác sai sứ
Về bảo các con rằng
Cha các ngươi đã mất
Các con nghe cha chết
Lòng rất buồn khổ lớn
Khóc lóc mà nghĩ rằng
Nếu cha chúng ta còn
Thương xót chỉ dạy ta
Nay ta mất cha rồi
Cô khổ nơi hoang vắng
Tự biết mồ côi khổ
Không nơi nương tựa nữa
Thường nghĩ nhớ cha già
Mới biết thuốc hay tốt
Sắc hương vị đều tốt
Liền cầm mà uống ngay
Bệnh thảy đều trừ hết
Cha nghe con lành bệnh
Liền trở về cho thấy
Các thiện nam tử nghĩ
Vị lương y như thế
Có tội hư vọng chăng?
Đại chúng đáp: Không vậy.
Phật nói: Ta cũng thế
Thành Phật đến nay vậy
Vô lượng vô biên trăm
Nghìn muôn ức na do
Tha a tăng kỳ kiếp
Vì lợi ích chúng sanh
Dùng sức phương tiện nói
Ta sẽ nhập Niết bàn
Cũng lại không ai nói
Phật nói lời hư vọng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Từ ta được thành Phật
Trải qua các kiếp số
Vô lượng trăm nghìn muôn
Ức a tăng kỳ đông
Thường nói pháp giáo hóa
Vô lượng ức chúng sanh
Khiến vào đạo Phật vậy
Từ đó vô số kiếp
Vì độ chúng sanh nên
Phương tiện hiện Niết bàn
Mà thật chẳng diệt độ
Thường trụ đây nói pháp.
Ta thường trụ cõi này
Dùng sức thần thông vậy
Khiến chúng điên đảo kia
Dầu gần mà chẳng thấy.
Chúng thấy ta diệt độ
Rộng cúng dường xá lợi
Tất đều sanh lòng nhớ
Mà sanh tâm khát ngưỡng.
Chúng sanh đã thuần tín
Chất trực ý nhu nhuyễn
Một lòng muốn thấy Phật
Chẳng tiếc thân mạng mình.
Thời ta cùng Tăng chúng
Đồng ra nơi Linh Thứu.
Lúc đó ta vì chúng
Nói pháp thật bất diệt
Như hư không thường trụ
Chẳng sanh cũng chẳng diệt.
Vì độ kẻ ít đức
Hiện sức thần thông vậy
Trải qua a tăng kỳ
Kiếp số có chúng sanh
Nói Phật nhập Niết bàn
Mà chẳng nghe pháp này
Chẳng biết việc Phật làm.
Nếu người tu thiện pháp
Ý nhu nhuyễn chất trực
Thời ta đều nói rằng
Thọ mạng Phật rất dài.
Lâu xa mới gặp Phật
Vì độ chúng sanh vậy
Như vị lương y kia
Trí huệ thông đạt sáng
Khéo pha chế thuốc hay
Cứu trị các chứng bệnh.
Người đó có nhiều con
Mười người hoặc trăm nghìn
Vì có việc nhân duyên
Qua nước khác xa xôi.
Các con uống thuốc độc
Thuốc phát cuồng loạn ngã
Lúc đó cha trở về
Các con đều nghịch độc
Hoặc mất tâm bản tánh
Hoặc chưa mất tâm tánh
Xa thấy cha trở về
Đều rất vui mừng lớn
Quỳ lạy hỏi thăm rằng
Lành thay nay cha về
Chúng con ngu tự uống
Thuốc độc nay cầu xin
Cha cứu cho sống lại.
Cha thấy các con khổ
Theo các sách phương thuốc
Tìm các vị thuốc hay
Sắc hương đều đầy đủ
Đem cho con mà bảo
Thuốc hay này sắc đẹp
Hương thơm vị ngon ngọt
Các con cầm mà uống
Mau trừ khổ chẳng còn.
Những con chưa mất tâm
Thấy thuốc hay vui uống
Bệnh thảy đều trừ hết
Còn những kẻ mất tâm
Vui mừng cha trở về
Cũng cầu xin chữa trị
Mà chẳng chịu uống thuốc.
Vì sao? Vì độc thấm
Sâu mất tâm bản tánh
Thuốc hay sắc hương tốt
Nói chẳng phải thuốc hay.
Cha nghĩ những con này
Bị độc khổ sở nhiều
Thấy ta rất vui mừng
Cầu xin chữa mà lại
Chẳng chịu uống thuốc hay
Nay ta lập phương tiện
Khiến chúng uống thuốc này
Bèn nói rằng: Ta nay
Đã già nua suy yếu
Chết đây đã đến rồi
Thuốc hay tốt này đây
Nay để lại cho các con
Cầm lấy chớ lo không
Lành mạnh, nói rồi liền
Qua nước khác sai sứ
Về bảo các con rằng
Cha các ngươi đã mất.
Các con nghe cha chết
Lòng rất buồn khổ lớn
Khóc lóc mà nghĩ rằng
Nếu cha chúng ta còn
Thương xót chỉ dạy ta
Nay ta mất cha rồi
Cô khổ nơi hoang vắng.
Tự biết mồ côi khổ
Không nơi nương tựa nữa
Thường nghĩ nhớ cha già
Mới biết thuốc hay tốt
Sắc hương vị đều tốt
Liền cầm mà uống ngay
Bệnh thảy đều trừ hết.
Cha nghe con lành bệnh
Liền trở về cho thấy.
Các thiện nam tử nghĩ
Vị lương y như thế
Có tội hư vọng chăng?
Đáp: Không.
Phật nói: Ta cũng thế
Thành Phật đến nay vậy
Vô lượng vô biên trăm
Nghìn muôn ức na do
Tha a tăng kỳ kiếp
Vì lợi ích chúng sanh
Dùng sức phương tiện nói
Ta sẽ nhập Niết bàn
Cũng lại không ai nói
Phật nói lời hư vọng.
Như lương y khéo phương tiện
Vì chữa con cuồng loạn
Thật còn mà nói chết
Chẳng ai nói hư vọng
Ta cũng cha chúng sanh
Cứu khổ nạn vô cùng
Vì phàm phu điên đảo
Thật còn mà nói diệt
Vì thường thấy ta đây
Mà sanh lòng kiêu mạn
Buông lung đắm ngũ dục
Đọa vào các ác đạo
Ta thường biết chúng sanh
Hành đạo hay chẳng hành
Theo đó đáng được độ
Vì nói các pháp vậy
Tùy thời nên nói gì
Chỉ nghĩ một việc này
Làm sao khiến chúng sanh
Mau vào đạo vô thượng
Mà mau thành Phật thân.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.
By Nguoi Mien TrungGiải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 16 Kinh Pháp Hoa (Như Lai Thọ Lượng)
Phẩm Như Lai Thọ Lượng là phần cốt lõi của Kinh Pháp Hoa, nơi Đức Phật tiết lộ thọ mạng của Ngài là vô lượng kiếp, không phải chỉ sinh ra và nhập diệt trong kiếp này. Việc Phật thị hiện sinh, thành đạo, thuyết pháp và nhập Niết bàn chỉ là phương tiện để giáo hóa chúng sinh, giúp họ tránh kiêu mạn và siêng năng tu hành. Phẩm này khẳng định tính vĩnh cửu của Phật tánh và pháp nhất thừa, khuyến khích niềm tin kiên cố vào Kinh Pháp Hoa, dẫn đến giác ngộ và giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.
Toàn văn phẩm thứ 16: Như Lai Thọ Lượng
Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Đại Bồ tát và đại chúng:
Các thiện nam tử! Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Lại bảo đại chúng:
Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Lại bảo đại chúng rằng:
Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.
Bấy giờ, đại chúng Bồ tát với Ngài Di Lặc làm thượng thủ chấp tay bạch Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin lời Phật.
Như thế ba lần bạch rồi lại bạch rằng:
Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin lời Phật.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết các vị Bồ tát ba lần khôn thôi mà bảo rằng:
Các ông lắng nghe kỹ lời bí mật cùng thần thông của chư Phật. Các thiện nam tử! Chư Phật Như Lai chỉ vì một nhân duyên lớn mà hiện ra ở đời. Các ông cho rằng chư Phật Như Lai chỉ vì diệt độ chúng sanh mà hiện ra ở đời chăng? Chẳng phải vậy. Các thiện nam tử! Chư Phật Như Lai vì khiến chúng sanh khai Phật tri kiến khiến cho thanh tịnh mà hiện ra ở đời; vì chỉ bày Phật tri kiến mà hiện ra ở đời; vì ngộ Phật tri kiến mà hiện ra ở đời; vì nhập Phật tri kiến đạo mà hiện ra ở đời. Các thiện nam tử! Đó là chư Phật Như Lai chỉ vì một việc nhân duyên lớn mà hiện ra ở đời.
Các thiện nam tử! Ví như có thế giới Tam thiên Đại thiên nhiều như số cát sông Hằng, lấy đó làm hạt giống, có người nghiền nát làm vi trần, qua phương Đông trải qua nghìn thế giới mới rớt một hạt vi trần, cứ như thế qua phương Đông rớt hết số vi trần đó. Các ông nghĩ sao? Số thế giới đó có thể nghĩ bàn tính kể biết được chăng?
Di Lặc Bồ tát thảy đều bạch Phật:
Bạch Thế Tôn! Số thế giới đó vô lượng vô biên, chẳng phải toán số hay thí dụ có thể biết được. Những thế giới đó đều là do Bồ tát thừa A duy việt chí mà cũng chẳng có thể biết được ngằn mé. Vì sao? Vì các vị Bồ tát đó còn chưa được Vô sanh pháp nhẫn.
Phật bảo các vị Bồ tát:
Các thiện nam tử! Nay ta nói rõ cho các ông: Số thế giới đó nếu nghiền nát làm vi trần, chẳng phải pháp vi trần, số đó như vi trần. Mỗi một vi trần là một kiếp, từ ta thành Phật đến nay lại hơn số đó trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp. Từ đó đến nay ta thường ở cõi Ta Bà này thuyết pháp giáo hóa, cùng ở nơi khác trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi nước dẫn dắt lợi ích chúng sanh.
Các thiện nam tử! Trong khoảng đó ta nói Phật Nhiên Đăng v.v... và nói trong đó có Phật nhập Niết bàn, đều là phương tiện phân biệt. Các thiện nam tử! Nếu có chúng sanh đến chỗ ta, ta dùng Phật nhãn xem căn tánh lợi độn của đó mà độ thoát, chỗ chỗ tự nói danh tự khác nhau, tuổi lớn nhỏ, cũng lại hiện nói ta sẽ nhập Niết bàn, lại dùng các phương tiện nói pháp vi diệu độ thoát chúng sanh khổ.
Các thiện nam tử! Như Lai thấy chúng sanh ưa pháp nhỏ, đức mỏng cấu nặng, vì những người đó mà nói: Ta lúc trẻ xuất gia được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng thật từ ta thành Phật đến nay lâu xa như thế, chỉ dùng đó giáo hóa chúng sanh khiến vào Phật đạo, làm các phương tiện như thế.
Các thiện nam tử! Kinh điển của Như Lai nói ra đều là vì độ thoát chúng sanh, hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người, hoặc thị hiện việc, hoặc biểu thị lời nói, hoặc thí dụ việc đã có, hoặc thí dụ việc chưa có. Các lời nói ra đều là chơn thật không hư dối.
Vì sao? Vì Như Lai biết rõ tướng của chúng sanh, tánh dục gì, chứa gì trong lòng, dùng các nhân duyên, thí dụ, lời lẽ, sức phương tiện mà theo nghi nói pháp như mục đích điều phục của Như Lai không hề sai lầm.
Các thiện nam tử! Như Lai làm việc lợi ích cho thế gian đều đã viên mãn. Chỗ thọ mạng của ta nay đã hết, lúc nhập Niết bàn đã đến, thời phải nên dặn bảo các Tỳ kheo: Thường siêng tu hành, theo Phật pháp mà tu hành, được thấy tánh chân thật, mau đến đạo tràng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Từ ta thành Phật đạo
Trải qua số kiếp đông
Vô lượng trăm nghìn muôn
Ức a tăng kỳ số
Thường nói pháp giáo hóa
Vô số muôn ức chúng
Dẫn vào Phật đạo vậy
Từ đó vô số kiếp
Vì độ các chúng sanh
Phương tiện hiện Niết bàn
Mà thật chẳng diệt độ
Thường trụ đây nói pháp
Ta thường trụ cõi này
Dùng các sức thần thông
Khiến chúng sanh điên đảo
Dầu gần mà chẳng thấy
Chúng thấy ta diệt độ
Rộng cúng dường xá lợi
Tất đều sanh lòng nhớ
Mà sanh tâm khát ngưỡng
Chúng sanh đã thuần tin
Chất trực ý nhu nhuyễn
Một lòng muốn thấy Phật
Chẳng tiếc thân mạng mình
Thời ta và Tăng chúng
Đồng ra nơi Linh Thứu
Lúc đó ta vì chúng
Nói pháp thật bất diệt
Như hư không thường trụ
Chẳng sanh cũng chẳng diệt
Vì độ kẻ ít đức
Ta hiện sức thần thông
Trải qua a tăng kỳ
Kiếp số có chúng sanh
Nói Phật nhập Niết bàn
Mà chẳng nghe pháp này
Chẳng biết việc Phật làm
Nếu người tu thiện pháp
Ý nhu nhuyễn chất trực
Thời ta đều nói rằng
Thọ mạng Phật rất dài
Lâu xa mới gặp Phật
Vì độ chúng sanh vậy
Như vị lương y kia
Trí huệ thông đạt sáng
Khéo pha chế thuốc hay
Cứu trị các chứng bệnh
Người đó có nhiều con
Mười người hoặc trăm nghìn
Vì có việc nhân duyên
Qua nước khác xa xôi
Các con uống thuốc độc
Thuốc phát cuồng loạn ngã
Lúc đó cha trở về
Các con đều nghịch độc
Hoặc mất tâm bản tánh
Hoặc chưa mất tâm tánh
Xa thấy cha trở về
Đều rất vui mừng lớn
Quỳ lạy hỏi thăm rằng
Lành thay nay cha về
Chúng con ngu tự uống
Thuốc độc nay cầu xin
Cha cứu cho sống lại
Cha thấy các con khổ
Theo các sách phương thuốc
Tìm các vị thuốc hay
Sắc hương đều đầy đủ
Đem cho con mà bảo
Thuốc hay này sắc đẹp
Hương thơm vị ngon ngọt
Các con cầm mà uống
Mau trừ khổ chẳng còn
Những con chưa mất tâm
Thấy thuốc hay vui uống
Bệnh thảy đều trừ hết
Còn những kẻ mất tâm
Vui mừng cha trở về
Cũng cầu xin chữa trị
Mà chẳng chịu uống thuốc
Vì sao? Vì độc thấm
Sâu mất tâm bản tánh
Thuốc hay sắc hương tốt
Nói chẳng phải thuốc hay
Cha nghĩ những con này
Bị độc khổ sở nhiều
Thấy ta rất vui mừng
Cầu xin chữa mà lại
Chẳng chịu uống thuốc hay
Nay ta lập phương tiện
Khiến chúng uống thuốc này
Bèn nói rằng: Ta nay
Đã già nua suy yếu
Chết đây đã đến rồi
Thuốc hay tốt này đây
Nay để lại cho các con
Cầm lấy chớ lo không
Lành mạnh, nói rồi liền
Qua nước khác sai sứ
Về bảo các con rằng
Cha các ngươi đã mất
Các con nghe cha chết
Lòng rất buồn khổ lớn
Khóc lóc mà nghĩ rằng
Nếu cha chúng ta còn
Thương xót chỉ dạy ta
Nay ta mất cha rồi
Cô khổ nơi hoang vắng
Tự biết mồ côi khổ
Không nơi nương tựa nữa
Thường nghĩ nhớ cha già
Mới biết thuốc hay tốt
Sắc hương vị đều tốt
Liền cầm mà uống ngay
Bệnh thảy đều trừ hết
Cha nghe con lành bệnh
Liền trở về cho thấy
Các thiện nam tử nghĩ
Vị lương y như thế
Có tội hư vọng chăng?
Đại chúng đáp: Không vậy.
Phật nói: Ta cũng thế
Thành Phật đến nay vậy
Vô lượng vô biên trăm
Nghìn muôn ức na do
Tha a tăng kỳ kiếp
Vì lợi ích chúng sanh
Dùng sức phương tiện nói
Ta sẽ nhập Niết bàn
Cũng lại không ai nói
Phật nói lời hư vọng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Từ ta được thành Phật
Trải qua các kiếp số
Vô lượng trăm nghìn muôn
Ức a tăng kỳ đông
Thường nói pháp giáo hóa
Vô lượng ức chúng sanh
Khiến vào đạo Phật vậy
Từ đó vô số kiếp
Vì độ chúng sanh nên
Phương tiện hiện Niết bàn
Mà thật chẳng diệt độ
Thường trụ đây nói pháp.
Ta thường trụ cõi này
Dùng sức thần thông vậy
Khiến chúng điên đảo kia
Dầu gần mà chẳng thấy.
Chúng thấy ta diệt độ
Rộng cúng dường xá lợi
Tất đều sanh lòng nhớ
Mà sanh tâm khát ngưỡng.
Chúng sanh đã thuần tín
Chất trực ý nhu nhuyễn
Một lòng muốn thấy Phật
Chẳng tiếc thân mạng mình.
Thời ta cùng Tăng chúng
Đồng ra nơi Linh Thứu.
Lúc đó ta vì chúng
Nói pháp thật bất diệt
Như hư không thường trụ
Chẳng sanh cũng chẳng diệt.
Vì độ kẻ ít đức
Hiện sức thần thông vậy
Trải qua a tăng kỳ
Kiếp số có chúng sanh
Nói Phật nhập Niết bàn
Mà chẳng nghe pháp này
Chẳng biết việc Phật làm.
Nếu người tu thiện pháp
Ý nhu nhuyễn chất trực
Thời ta đều nói rằng
Thọ mạng Phật rất dài.
Lâu xa mới gặp Phật
Vì độ chúng sanh vậy
Như vị lương y kia
Trí huệ thông đạt sáng
Khéo pha chế thuốc hay
Cứu trị các chứng bệnh.
Người đó có nhiều con
Mười người hoặc trăm nghìn
Vì có việc nhân duyên
Qua nước khác xa xôi.
Các con uống thuốc độc
Thuốc phát cuồng loạn ngã
Lúc đó cha trở về
Các con đều nghịch độc
Hoặc mất tâm bản tánh
Hoặc chưa mất tâm tánh
Xa thấy cha trở về
Đều rất vui mừng lớn
Quỳ lạy hỏi thăm rằng
Lành thay nay cha về
Chúng con ngu tự uống
Thuốc độc nay cầu xin
Cha cứu cho sống lại.
Cha thấy các con khổ
Theo các sách phương thuốc
Tìm các vị thuốc hay
Sắc hương đều đầy đủ
Đem cho con mà bảo
Thuốc hay này sắc đẹp
Hương thơm vị ngon ngọt
Các con cầm mà uống
Mau trừ khổ chẳng còn.
Những con chưa mất tâm
Thấy thuốc hay vui uống
Bệnh thảy đều trừ hết
Còn những kẻ mất tâm
Vui mừng cha trở về
Cũng cầu xin chữa trị
Mà chẳng chịu uống thuốc.
Vì sao? Vì độc thấm
Sâu mất tâm bản tánh
Thuốc hay sắc hương tốt
Nói chẳng phải thuốc hay.
Cha nghĩ những con này
Bị độc khổ sở nhiều
Thấy ta rất vui mừng
Cầu xin chữa mà lại
Chẳng chịu uống thuốc hay
Nay ta lập phương tiện
Khiến chúng uống thuốc này
Bèn nói rằng: Ta nay
Đã già nua suy yếu
Chết đây đã đến rồi
Thuốc hay tốt này đây
Nay để lại cho các con
Cầm lấy chớ lo không
Lành mạnh, nói rồi liền
Qua nước khác sai sứ
Về bảo các con rằng
Cha các ngươi đã mất.
Các con nghe cha chết
Lòng rất buồn khổ lớn
Khóc lóc mà nghĩ rằng
Nếu cha chúng ta còn
Thương xót chỉ dạy ta
Nay ta mất cha rồi
Cô khổ nơi hoang vắng.
Tự biết mồ côi khổ
Không nơi nương tựa nữa
Thường nghĩ nhớ cha già
Mới biết thuốc hay tốt
Sắc hương vị đều tốt
Liền cầm mà uống ngay
Bệnh thảy đều trừ hết.
Cha nghe con lành bệnh
Liền trở về cho thấy.
Các thiện nam tử nghĩ
Vị lương y như thế
Có tội hư vọng chăng?
Đáp: Không.
Phật nói: Ta cũng thế
Thành Phật đến nay vậy
Vô lượng vô biên trăm
Nghìn muôn ức na do
Tha a tăng kỳ kiếp
Vì lợi ích chúng sanh
Dùng sức phương tiện nói
Ta sẽ nhập Niết bàn
Cũng lại không ai nói
Phật nói lời hư vọng.
Như lương y khéo phương tiện
Vì chữa con cuồng loạn
Thật còn mà nói chết
Chẳng ai nói hư vọng
Ta cũng cha chúng sanh
Cứu khổ nạn vô cùng
Vì phàm phu điên đảo
Thật còn mà nói diệt
Vì thường thấy ta đây
Mà sanh lòng kiêu mạn
Buông lung đắm ngũ dục
Đọa vào các ác đạo
Ta thường biết chúng sanh
Hành đạo hay chẳng hành
Theo đó đáng được độ
Vì nói các pháp vậy
Tùy thời nên nói gì
Chỉ nghĩ một việc này
Làm sao khiến chúng sanh
Mau vào đạo vô thượng
Mà mau thành Phật thân.
Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa
Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.