Trong Nikaya có rất nhiều chỗ nói về bốn cách tu mà Đức Phật đề cập và đánh giá.
Một. Khổ tu mà chậm chứng, là cách tu hạ liệt.
Hai. Khổ tu mà nhanh chứng, cũng là cách tu hạ liệt.
Ba. Lạc tu mà chậm chứng, cũng là cách tu hạ liệt.
Bốn. Lạc tu mà nhanh chứng, là cách tu Đức Phật tán thán, là cách tu Ngài đã truyền dạy.
Tu ở đây là cách thực hành, là pháp hành. Còn chứng là chứng Khổ diệt, mà thuật ngữ Phật học gọi là Niết bàn.
Khổ tu chậm chứng hay khổ tu nhanh chứng đều là cách tu phải chịu đựng khổ trong hiện tại, để tương lai chứng được khổ diệt. Biểu hiện của nó là tìm khổ trốn sướng. Đó là cách tu hạ liệt mà Đức Phật đã từ bỏ.
Lạc tu mà chậm chứng là tu trong hoàn cảnh tốt đẹp, có nhiều lạc thọ trên thân, nhưng vẫn với mục đích chứng khổ diệt trong tương lai. Đó cũng là cách tu hạ liệt, biểu hiện là tìm sướng trốn khổ.
Lạc tu mà nhanh chứng mới là pháp hành Đức Phật đã khám phá và truyền dạy. Đó là thực hành Bát Chánh Đạo, gồm tám chi phần: Chánh niệm, Chánh tinh tấn, Chánh định, Chánh tư duy, Chánh tri kiến, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng.
Bát Chánh Đạo khởi lên theo quy luật duyên khởi. Nghĩa là Chánh niệm khởi lên thì toàn bộ bảy chi phần còn lại tự động khởi lên. Vì vậy pháp hành là Tứ Niệm Xứ, là thực hành bốn loại Chánh niệm về Thân, Thọ, Tâm, Pháp, tức bốn loại trí nhớ chánh.
Khi thực hành Tứ Niệm Xứ, lộ trình tâm sẽ có các chi phần của Bát Chánh Đạo. Các chi phần này không có nhân, không có duyên cho vô minh chấp ngã, cho tham sân si khởi lên. Nên hành giả thân chứng được không có tham sân si, không có khổ, tức khổ diệt, Niết bàn, ngay bây giờ và tại đây.
Trong tám chi phần ấy có Chánh định, với các mức độ là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền hay tứ thiền. Nên hành giả không chỉ thân chứng khổ diệt ngay bây giờ và tại đây, mà còn thân chứng được hỷ lạc của sơ thiền và nhị thiền, lạc của tam thiền, hiện tại lạc trú của tứ thiền. Như vậy, khi thực hành Tứ Niệm Xứ, hành giả kinh nghiệm, an trú và tuệ tri được đây chính là pháp hành lạc tu nhanh chứng.
Kinh điển rất nhiều lần khẳng định: không thể chứng ngộ Tứ Thánh Đế với khổ và ưu, mà chỉ có thể chứng ngộ Tứ Thánh Đế với lạc và hỷ. Trong kinh còn nhấn mạnh điều này bằng một ví dụ. Nếu chứng ngộ được Tứ Thánh Đế với khổ và ưu, thì chỉ cần sáng đánh cho ba trăm hèo, chiều đánh cho ba trăm hèo, tối đánh cho ba trăm hèo là đủ, đâu cần phải tu học gì nữa.
Khổ có hai loại: khổ thân và khổ tâm. Khổ thân là các cảm giác khó chịu, do thân căn tương tác với Xúc Trần, tức hoàn cảnh sống, mà phát sinh. Khổ tâm thì do tham sân si mà phát sinh. Nhưng khổ tâm chiếm từ chín mươi đến chín mươi lăm phần trăm nỗi khổ, còn khổ thân chỉ chiếm tối đa mười phần trăm.
Khi thực hành Tứ Niệm Xứ sẽ an trú không có tham sân si, không có khổ vì tham sân si. Đó là an trú khổ diệt, nhưng là khổ tâm diệt, còn khổ thân thì vẫn còn. Đây là thân chứng khổ diệt mà khổ còn dư sót, thuật ngữ Phật học gọi là khổ diệt hữu dư, hay Niết bàn hữu dư.
Một vị A La Hán khi còn sống, còn thân xác, thì thân chứng Niết bàn hữu dư, vì còn khổ thân do thân tiếp xúc với Xúc Trần. Khi vị ấy nhập diệt, lúc đó gọi là Niết bàn vô dư, là khổ diệt không còn dư sót.
Mà khi an trú Tứ Niệm Xứ, nếu Chánh định ở mức sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, thì có cảm giác hỷ, cảm giác lạc trên thân. Lúc đó các khổ thọ trên thân giảm thiểu, chỉ còn chưa đến một phần trăm. Còn ở tứ thiền, cảm giác trên thân rất nhẹ, rất vi tế, không còn khổ thân nữa, nên thân chứng khổ diệt ở tứ thiền gần giống như Niết bàn vô dư.
Lạc tu mà nhanh chứng là tu tập Bát Chánh Đạo để thân chứng khổ chấm dứt, cả khổ tâm lẫn khổ thân. Chứ không phải tu là phải chịu đựng khổ, phải hành xác để tăng cường khổ thân thì mới hết khổ tâm.