Đi tìm ý nghĩa của đời sống – Sư Ông Làng Mai
Trích Lá Thư Làng Mai số 40
Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng đi tìm cho mình một ý nghĩa của đời sống. Người chưa tìm ra được một ý nghĩa cho đời sống thì chưa có hạnh phúc, chưa có năng lượng. Nếu không khéo thì người đó có thể rơi vào tình trạng trống rỗng hiện sinh (existential vacuum). Tình trạng trống rỗng đó buộc con người phải đi tìm một cái gì đó để khỏa lấp. Thường thì người ta đi tìm nơi đối tượng của dục. Có người tìm quên nơi rượu, có người sử dụng ma túy, có người tìm trong âm nhạc, trong những cuộc vui thâu đêm, cũng có người tìm nơi sắc dục để khỏa lấp sự trống rỗng trong lòng.
Vào khoảng năm 1965, trong một cuộc thăm dò người ta thấy rằng ở châu Âu số lượng sinh viên có được một chủ đích sống trong cuộc đời lên tới 60 - 65%, trong khi số lượng sinh viên ở Mỹ chỉ có hơn 20%. Sự kiện “trống rỗng hiện sinh” là một triệu chứng của thời đại. Đó không phải là triệu chứng bất an của một cá nhân mà là triệu chứng tập thể của một xã hội. Người ta có cảm giác trống rỗng, cảm thấy đời sống không có ý nghĩa và rồi phải tìm tới những phương tiện để khỏa lấp. Nhưng vì không được soi sáng nên họ đi về hướng sắc dục, ma túy và bạo động.
Vì vậy chúng ta phải làm thế nào để giúp cho người trẻ có được một ngọn lửa trong lòng, tìm ra được một ý nghĩa của cuộc sống, biết mình sống để làm gì, sống vì cái gì, sống vì người nào, sống vì một chính nghĩa nào. Chúng ta không thể đưa ra một ý nghĩa của đời sống nào đó và mời họ: “Đây là một chính nghĩa, anh lấy đi để xài!”. Công việc mà chúng ta có thể làm là soi sáng cho người đó, giúp cho họ tìm ra được một ý nghĩa của cuộc đời.
Thỉnh thoảng có những người tới Làng Mai trong tình trạng như vậy. Họ nói: “Tôi không cảm thấy đời sống của mình có một ý nghĩa gì cả! Tôi thấy chết hay sống cũng giống nhau thôi!”. Sự chán nản bao trùm lên những người đó. Khi đối diện với những người như vậy thì chúng ta phải làm gì để giúp họ? Chúng ta không thể nói một bài pháp thoại hay cho ý kiến để người đó chấp nhận. Chúng ta phải tìm cách nhìn sâu để có thể hiểu được, nhận diện được những hạt giống tốt của người đó, và chỉ cho họ phương pháp tưới tẩm những hạt giống tốt đó nơi họ. Đức Như Lai có dạy rằng người nào cũng có hạt giống tốt của tâm bồ đề. Khi được tưới tẩm thì hạt giống tâm bồ đề của ta biểu hiện ra cách này, và của người kia thì biểu hiện ra cách khác.
Vấn đề không phải là trao truyền những ý kiến mà là làm thế nào để giúp người kia tìm ra được lẽ sống của chính người đó. Ta sẽ không làm được chuyện đó nếu ta không biết gì về quá khứ cũng như hiểu được cách sống của người đó trong giây phút hiện tại. Những bài pháp thoại của chúng ta chỉ có tác dụng tưới tẩm, khơi lối cho người kia tìm ra được mục đích, ý nghĩa của đời họ. Ta cho pháp thoại không chỉ bằng lời nói mà còn có thể bằng cách sống của mình. Ta sống một cuộc sống có lý tưởng, có thương yêu, có mục đích. Ta hành xử và tỏa chiếu niềm vui, năng lượng. Rồi khi tiếp xúc được với con người và với cách sống của ta thì người đó có cơ hội nhìn trở lại để khám phá ra trong bản thân họ có một cái gì tương tợ mà lâu nay đã bị bít lấp và đè nén.
Đôi khi người kia bị kẹt, bị những trở lực, và có những bức màn ngăn che không cho người đó thấy được khía cạnh tốt đẹp của chính mình. Ta
có thể giúp người đó lột bớt bức màn ngăn che, tháo gỡ những chỗ kẹt để cuối cùng người đó có thể tiếp xúc với những cái đẹp, cái lành, cái thật nơi họ. Họ tìm ra được hướng đi của đời mình.
Ý tư liệu pháp (Logothérapie)
Nhà phân tâm học Viktor Frankl là cha đẻ của phương pháp trị liệu “Logothérapie”. Nếu dùng danh từ Phật giáo chúng ta có thể dịch “Logothérapie” là: ý tư liệu pháp. Ý tư mượn từ chữ ý tư thực (có khi còn gọi là tư niệm thực), tức là ước muốn (volition, deep desire). Nếu có ước muốn là ta có năng lượng và ta có thể đi tới. Những người chán chường, không muốn sống là những người không tìm ra được ý nghĩa của đời sống.
Frankl đã từng sống rất lâu trong trại tập trung của Đức Quốc Xã (Nazi) và đã trải qua những khổ đau, tuyệt vọng cho đến nỗi ông đã từng nghĩ rằng mình không có khả năng sống sót trở về. Ông là một nhà tâm lý trị liệu có tài. Ông đã sáng tác một tác phẩm nói về phương pháp trị liệu gọi là “ý tư liệu pháp”. Nhưng khi ông bị chuyển tới trại tập trung Auschwitz thì người ta đã tịch thu tác phẩm và ông rơi vào tuyệt vọng.
Trong điều kiện sống tồi tệ ở trại tập trung, người ta rất dễ dàng trở thành nạn nhân của sự tuyệt vọng. Nhưng ông đã tìm cách để sống sót. Sau khi lột áo ông để lấy bản thảo, người ta đưa cho ông cái áo rách tả tơi của một tù nhân vừa bị cho vào lò hơi độc. Trong cái áo tả tơi đó, ông tìm thấy một tờ giấy xé ra từ một cuốn kinh Do Thái. Trong tờ giấy có bài kinh Kadish, một bài kinh được đọc lên trước khi chết để chứng tỏ mình có niềm tin rất vững ở Thượng Đế và mình coi thường cái chết.
Khi tìm thấy mảnh giấy đó thì ông bừng tỉnh. Ông thấy rằng cái chết và những khổ nhục lớn lao nhất của cuộc đời không làm cho người tử tù mất đi đức tin. Người này đã sống những giờ phút cuối cùng với đức tin đó. Vì vậy ông quyết tâm tìm mọi cách để sinh ra đứa con tinh thần của mình lần thứ hai.
Ông lượm những miếng giấy vụn, ghi lại những ý chính mình đã viết trong bản thảo, hy vọng được sống sót để một ngày nào đó có thể viết lại bản thảo. Chính nhờ bám vào ý tư, vào ước muốn đó mà ông chống cự được với những khổ nhục, nhất là với bệnh sốt thương hàn đang hoành hành trong
Theo Frankl, mình chỉ có thể tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống khi có ba yếu tố:
Yếu tố thứ nhất: Mình muốn thực hiện một cái gì đó trong cuộc đời. Chẳng hạn như ý muốn trao lại cho đời một đứa con tinh thần kết tinh từ những kinh nghiệm của mình, hoặc theo đuổi một chương trình, một sự
nghiệp. Ví dụ mình tìm ra là mình có tài năng của một họa sĩ; những bức tranh của mình có thể đem lại niềm vui cho nhiều người, giúp họ quên bớt những khổ đau dằn vặt. Mình thấy những sáng tác của mình có thể tô điểm, làm đẹp cho cuộc đời. Vì vậy mình muốn theo đuổi sự nghiệp của một họa sĩ, không hẳn vì tiền bán tranh hay vì danh tiếng mà chỉ vì ý nguyện muốn làm đẹp cho cuộc đời. Nếu là người có khiếu âm nhạc, mình sáng tác không hẳn là vì quyền bính, vì danh vọng, vì lợi dưỡng hay sắc dục mà vì mình có ý nguyện. Sự nghiệp của mình là sống và thể hiện được cái mình cho là đẹp, là quý, là cần thiết cho cuộc đời.
Trong trường hợp của Bụt, Bụt muốn tu tập để chuyển hóa những khổ đau và giúp những người đương thời chuyển hóa khổ đau. Đó là một tư niệm và tư niệm đó giúp Siddharta đi qua được những thời gian khổ hạnh cực kỳ. Khi chưa tìm ra được con đường, Bụt đã thử nhiều cách thực tập, trong đó có sự thực tập khổ hạnh, và làm cho thân thể héo mòn, tiều tụy đến nỗi suýt chết. Nhưng Bụt đi qua được tất cả những khổ hạnh đó và sống sót được vì có một ý tư rất mạnh. Ý tư đó là chuyển hóa phiền não và cứu độ con người. Sau khi thành đạo, ý tư đó vẫn còn hùng mạnh nên Bụt đã để ra 45 năm để đào tạo, giảng dạy và thực tập. Bụt không muốn nổi tiếng và trở thành đối tượng của sự kính ngưỡng. Bụt chỉ muốn chuyển hóa khổ đau và giúp người chuyển hóa khổ đau. Vì vậy ý nghĩa của cuộc sống có được là nhờ sự nghiệp, mà sự nghiệp đó không phải là sự thỏa mãn những tư dục cá nhân.
Có những người đang chạy theo năm dục: tài (tiền bạc), sắc (sắc dục), danh (danh vọng), thực (ăn) và thụy (ngủ). Trong họ cũng có một động lực, họ biết họ muốn gì và chạy theo cái gì. Có nhiều người đi tìm những đối tượng của dục chẳng qua chỉ để khỏa lấp cái trống vắng trong lòng. Có người đi tìm hạnh phúc nơi quyền lực. Họ nghĩ rằng khi có quyền lực thì có thể thỏa mãn được những dục khác. Có người thấy rằng có nhiều tiền thì sẽ có nhiều quyền lực. Mặc dù không phải là bộ trưởng, thủ tướng hay tổng thống nhưng họ nghĩ một khi có nhiều tiền thì ông bộ trưởng, ông thủ thướng hay ông tổng thống cũng phải đi theo mình. Vì vậy trong thế giới của chúng ta, những nhà lãnh đạo doanh nghiệp rất quan trọng, nhiều khi họ còn có nhiều quyền lực hơn những nhà lãnh đạo chính trị.
Chạy theo đối tượng của năm dục chưa hẳn là đã tìm ra được ý nghĩa của sự sống. Có những người có quá nhiều quyền hành, quá nhiều tiền bạc nhưng họ đau khổ cực kỳ vì họ thấy trống rỗng. Những nhà lãnh đạo doanh thương lớn như ông Bill Ford đã tới tu viện Thanh Sơn ngồi thiền với tôi và quý thầy quý sư cô. Ông thấy cuộc sống của một người giàu có và quyền lực không đem tới hạnh phúc. Ông cho biết trong giới giàu có và quyền lực, có người đau khổ rất nhiều. Họ rất cô đơn, sống cô đơn mà chết cũng cô đơn. Vì vậy dù đi tìm quyền bính, đi tìm danh vọng người ta vẫn đau khổ như thường. Và rốt cuộc có người đã phải tự tử. Bill Ford đang đi tìm một ý nghĩa của đời sống. Ông muốn chế tạo ra xe hơi không gây ô nhiễm môi trường. Ông nuôi chí nguyện: làm sao để xe hơi sau này có thể chạy bằng nhiên liệu khí hydro. Đó là ý tư mà ông đeo đuổi. Nhưng liệu ông có nuôi được ý tư đó lâu dài hay không?
Như vậy, danh vọng, dù lên tới mức cùng cực,
cũng chưa có thể làm cho con người có hạnh phúc
chân thật, huống hồ là lợi lộc, quyền bính và sắc
dục. Chúng ta thấy rõ ràng khi chưa tìm được ý
nghĩa của đời sống thì ta dễ bị xao động bởi sự đi
tìm đối tượng của dục. Ta nghĩ đi tìm đối tượng
của dục có thể khỏa lấp được cái trống rỗng trong
lòng. Chứng bệnh tập thể của thời đại chúng ta
là chứng bệnh trống rỗng hiện sinh (existential
vacuum). Là người xuất gia hay là một người biết thực tập chánh niệm, ta phải tu học như thế nào để vượt
thoát triệu chứng đó và giúp cho đời bằng muôn
ngàn phương tiện để mỗi người trong xã hội tìm
ra được ý nghĩa của đời sống.
Yếu tố thứ hai: Tình yêu, kinh nghiệm của trái
Tình yêu đó có thể là tình yêu Thượng đế hay
tình yêu nam nữ. Khi có tình yêu thì mình bắt đầu
đi trên con đường khám phá, khám phá bản chất
của người mình yêu và bản chất của chính mình.
Theo Frankl, tình yêu là cách duy nhất để nắm
được một cách sâu sắc bản chất của một người.
Không có tình yêu thì không thể hiểu được người
đó. Nhưng theo tôi thì làm sao mình nắm được
bản chất của một người khác khi mình không biết
được mình là ai? Mình chưa biết mình là ai thì
làm sao mình biết được người khác là ai? Tình
yêu chân thật là một con đường khám phá, khám
phá được bản thân tới chừng nào thì mình khám
phá được đối tượng thương yêu tới chừng đó. Nếu
không có sự khám phá bản thân thì không thể nào
khám phá được người khác.
Tại sao Bụt được tôn xưng là Thế Gian Giải, người hiểu thấu được thế gian?
Tại vì Ngài hiểu được chính mình. Hiểu
được thì mới thương được người và giúp người
Frankl nói một câu giống như giới thứ ba
của Năm giới: Sự gần gũi nam nữ chỉ có thể
được chấp nhận khi có tình yêu chân thật, nếu
không thì đó là hành động có tính cách tàn hại.
Trong giới thứ ba, chúng ta nói: “Con nguyện
không ăn nằm với bất cứ ai nếu không có tình yêu
đích thực và những cam kết chính thức lâu dài.”
Theo Frankl, sự gần gũi nam nữ trong trường hợp
có tình thương đích thực có thể là một cái gì thánh
thiện. Mình có thể chấp nhận câu nói của Frankl.
Vì vậy trong Năm giới dành cho người tại gia
chúng ta cũng có một câu tương tợ.
Đối với người xuất gia thì khác. Tại sao một sự
thật áp dụng được cho người này lại không áp
dụng được cho người khác? Người xuất gia cũng
biết rằng hành động giao hợp nam nữ nếu được
xảy ra trong sự cung kính, trong tinh thần trách
nhiệm, trong tình yêu chân thật và sự cam kết lâu
dài thì không phải là chuyện xấu. Nhưng tại sao
người xuất gia không làm chuyện đó? Câu trả lời
là tại vì người xuất gia có một tư niệm rất đặc
biệt, muốn dồn hết năng lượng của mình về một
hướng, sử dụng tất cả năng lượng để thực hiện chí
nguyện của mình. Đời sống độc thân là một trong
những nền tảng rất quan trọng cho chí nguyện đó.
Những nhà cách mạng bôn ba nơi hải ngoại để
tìm con đường sống cho quê hương cũng sống
giống như người xuất gia. Họ không vướng bận
thê nhi. Người xuất gia không cho đó là chuyện
xấu ác, nhưng không làm vì mình đang theo đuổi
một chí nguyện lớn. Vướng vào ái dục cũng là
một trở lực không cho phép mình đi tới được.
Trong trường hợp thứ hai (tình yêu), hình như
trong thâm tâm của tác giả có nói tới một kinh
nghiệm tâm linh (religious experience), có thể
nói là tình yêu Thượng đế. Tình yêu đó có thể
cho mình nhiều năng lượng để đi tới và làm được
chuyện này chuyện kia. Khi yêu một người thì
mình có thể hy sinh thân mạng để người đó được
Nhưng trong ánh sáng của sự thực tập, chúng
ta thấy rất rõ là khi thương một người và muốn
làm cho người đó hạnh phúc thì mình phải hiểu
người đó. Khả năng hiểu tùy thuộc nơi sự thực
tập của mình, vì nếu không hiểu được mình là ai
thì mình chưa thể hiểu được người kia là ai. Cũng
như thương, nếu không thương được mình thì làm
sao mình có thể thương được người khác. Thương
như vậy chẳng qua là một sự đam mê. Mình phải
phân biệt giữa đam mê và tình thương. Đam mê
thì đưa đến sự vướng mắc, rồi dìu nhau vào chỗ
khổ đau. Còn tình thương thì đưa tới hạnh phúc
và tự do cho cả hai phía.
Chúng ta phải phân biệt, phải nhìn cho rõ: sự
nghiệp này có thể chỉ là sự chạy theo đối tượng của năm dục và tình yêu này có thể chỉ là sự chạy
theo đam mê. Khi đọc Frankl với con mắt của Bụt
thì mình thấy như vậy. Tình yêu, theo đạo Bụt,
là một sự khám phá, không phải chỉ là sự khám
phá người kia mà thôi. Làm sao mình khám phá
được bản chất của người kia khi mình không biết
mình là ai? Mình không yêu được mình thì làm
sao mình yêu được người kia? Khi mình chưa tìm ra được ý
nghĩa của đời mình thì làm sao mình giúp được
người kia tìm được ý nghĩa đời sống của người
Khi thương thì mình có khả năng giúp được người
kia phát triển tiềm năng trong họ. Người đó ban
đầu thấy rã rời, không có năng lượng. Nhưng nhờ
tình thương, mình có thể soi đường chỉ lối, gỡ ra
những bế tắc của người đó và làm cho họ phát
hiện ra được những tiềm lực lớn lao trong người
họ. Và người đó trở thành một bậc anh hùng, một
chàng hiệp sĩ, một người có khả năng làm đẹp cho
cuộc đời. Đức Thế Tôn đã từng thương như vậy.
Ngài đã khám phá ra những tài ba tiếp nối được
Ngài như thầy Xá Lợi Phất, thầy Mục Kiền Liên,
thầy A Nan, v.v. Sở dĩ Đức Thế Tôn làm được
vì Ngài đã khám phá được chính Ngài. Ngài đã
khám phá ra ý tư của Ngài, lẽ sống của đời Ngài.
Ngài đã hiểu được Ngài. Điểm thứ hai là có tình yêu
thì tự nhiên có một lẽ sống. Lẽ sống không thể có
bằng sự đam mê mà phải bằng tình yêu chân thật.
Khổ đau đã có nhiều, ta không cần phải đi tìm
thêm khổ đau. Nhưng nếu biết quán sát, nhìn sâu
vào lòng của khổ đau thì ta tìm ra được ý nghĩa
của đời sống. Điều này rất rõ trong giáo lý “Tứ
diệu đế”. Bụt nói sự thật hiển nhiên là có khổ đau
(ill-being) và nếu quán chiếu sâu sắc khổ đau thì
mình tìm ra được ý nghĩa của đời sống, tức sự
thật thứ tư - Đạo đế, là con đường vượt thoát khổ đau. Khổ đau phải có giá trị mở
mắt cho mình, giúp mình tìm ra được lẽ sống của
đời mình. Nếu không thì khổ đau sẽ tràn ngập, và
làm cho mình chết đuối trong biển cả mênh mông
Tất cả mọi người trong trại tập trung gần như
tuyệt vọng, không thấy một chút hy vọng sống
sót nào. Và Frankl cũng không chắc có thể viết
lại được, sinh ra đứa con tinh thần lần thứ hai để
hiến tặng cho đời. Tất cả mọi người chung quanh
đều nghĩ nếu không có được ngày mai thì tất cả
các khổ nhục mà mình đang chịu đựng sẽ không
có ý nghĩa gì nữa. Nhưng Frankl không để mình
bị cuốn chìm trong tư tưởng đó. Và nhờ tờ giấy
có bài kinh Kadish vò nhàu trong túi áo mà Frankl
thấy rõ ràng: người Do Thái kia đi vào phòng hơi
độc với những bước chân rất vững, ngẩng đầu
lên và đọc bài kinh, không khiếp sợ, không co
rúm, không than khóc. Frankl chợt tỉnh: những
tuệ giác mà mình muốn trao cho người, mình có
thể sống với những tuệ giác đó trong giây phút hiện
tại. Có thể ngày mai hay ngày mốt mình sẽ chết,
nhưng nếu mình còn một hay hai ngày để sống thì
mình phải sống với cái tuệ giác mà mình muốn
trao truyền đó. Mình trao truyền bằng sự sống của
chính mình. Frankl nghĩ: nếu ta chết trong phòng
hơi độc với những tuệ giác ta muốn trao truyền thì
ta đã thành công rồi. Vì vậy khổ đau tuyệt vọng
cũng là một điều kiện để ta tìm ra được nghĩa
sống. Frankl nói một câu rất hào hùng: nếu mình
không thể chuyển đổi được tình trạng thì mình
phải chuyển đổi tự thân mình! Mình đừng nói
rằng hoàn cảnh này không thể chuyển đổi được
nên tôi chịu thua, tôi bỏ đi.
Có một ông bác sĩ đau khổ, tuyệt vọng vì người vợ mà ông yêu thương hết mực mới qua đời. Ông có ý định tự tử và tìm đến gặp Frankl. Trong ông bác sĩ có sự trống rỗng hiện sinh. Frankl hỏi ông bác sĩ:
- Nếu ông chết và bà sống thì ông có nghĩ là bà sẽ khổ đau sau khi ông chết không?
- Như vậy sẽ nguy hiểm lắm, tại vì bà ấy sẽ khổ đau vô cùng.
-Đó, ông thấy không? Chỉ cần ông suy nghĩ rằng bà chết thì không phải gánh nỗi khổ đau tuyệt vọng mà ông đang gánh. Có phải như vậy là đỡ cho bà lắm không? Vì vậy ông phải thực tập gánh khổ đau này cho bà. Đó là tình thương, đó là tình yêu. Bây giờ ông đang chịu gánh nặng đau thương để bà khỏi đau thương, như vậy thì điều này có ý nghĩa không?
Ông bác sĩ nhờ đó mà tìm thấy ý nghĩa và ông hết đau khổ giống như
một phép lạ vậy. Mình không thể làm phép lạ cho
bà sống dậy, nhưng mình có thể làm cho ông hết khổ hay là bớt khổ.
Khi một bà mẹ thương yêu và nuôi dưỡng đứa
con, mình thấy rất rõ trong bà mẹ có tình thương,
có một ý nghĩa của đời sống. Mục đích của bà là
nuôi con lớn lên. Bà mẹ có sứ mạng nuôi nấng con cái được lớn lên và hạnh phúc nhưng bà mẹ cũng có thể sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.
Hai công việc đó không chống đối nhau. Năng lượng
của thương yêu và khả năng lạc trú trong giây phút
hiện tại không chống đối nhau. Con sư tử mẹ hay
con mèo mẹ cũng chăm sóc, bảo hộ những những
đứa con nó sinh ra. Nhiều khi nó nhịn để cho con
ăn. Nó có tình yêu, nó có một ý nghĩa của đời
Là một người cha hay một người mẹ, ta phải thấy
đời sống của mình có một ý nghĩa nào đó. Ta đã
tiếp nhận như thế nào và sẽ hiến tặng như thế
nào? Nếu không thấy được mình đã tiếp nhận cái
gì thì làm sao thấy được mình sẽ hiến tặng cái gì?
Mình có tình thương hay không, điều này có thể thấy được rất rõ ràng, không thể che giấu được.