
Sign up to save your podcasts
Or


Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Bạch Liêu quê làng Yên Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu (nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An), mất năm 1315. Ông thông minh, nhớ lâu, đọc sách ngàn dòng một mạch. Ông đỗ trạng nguyên năm 1266, đời vua Trần Thánh Tông, nhưng không ra làm quan. Ông ở lại làm môn khách giúp Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải được triều đình giao trấn giữ vùng Nghệ An.
Suốt gần 100 năm qua, trong các công trình nghiên cứu, các bài báo đề cập đến Vương quốc Sedang, các tác giả phương Tây thường chỉ mô tả mà không đưa ra quan điểm, chính kiến đối với tính pháp lý của vấn đề.
Một số nhà nghiên cứu phương Tây đã nhiều lần nhắc đến cái gọi là "Vương quốc Sedang" từng tồn tại một thời gian rất ngắn (1888-1890) trong vùng cao nguyên Kon Tum. Thậm chí, tỏ ra độc lập và khách quan, họ còn xếp nó vào hàng "các vương quốc cổ" ở Việt Nam. Thực tế thì chưa ai, chưa ở đâu và chưa khi nào cái gọi là "vương quốc" này được xác định một cách rõ ràng cả về vị trí địa lý lẫn ranh giới lãnh thổ.
Trong sách “Đại Việt sử ký toàn thư” có đoạn chép rằng: Lê Văn Linh là khai quốc công thần và là nguyên lão đại thần của 3 triều (Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông). Ông bản tính thâm trầm, đã giàu mưu lược lại rất am hiểu chính sự, ý kiến bàn bạc ở triều đình thường rất sáng suốt... Cũng theo sách trên, Lê Văn Linh sinh năm 1377, tại làng Hải Lịch, huyện Lôi Dương (nay là xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa), mất vào tháng chạp năm 1448, hưởng thọ 71 tuổi.
Theo sách “Đại Nam thực lục”, năm 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đổ bộ và tấn công tại cửa biển Đà Nẵng. Bị sự kháng cự quyết liệt tại Đà Nẵng, giặc Pháp chuyển hướng sang Nam kỳ. Năm 1859, Pháp tấn công thành Gia Định (TP. Hồ Chí Minh ngày nay). Đến năm 1862, đại đồn Chí Hòa thất thủ. Với tâm thế của kẻ yếu và cũng để tránh cuộc chiến lan rộng, Phan Thanh Giản với vai trò là Chánh sứ và Lâm Duy Hiệp là Phó sứ được triều đình cử đi điều đình với Pháp, sau đó đại diện cho triều đình Tự Đức ký kết Hòa ước Nhâm Tuất ngày 5-6-1862 tại Sài Gòn.
Mạc Đĩnh Chi, tự là Tiết Phu, người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, trấn Hải Dương. Tục truyền làng ông có một gò đất lớn, vốn là khu lăng tẩm đã lâu đời, cây cối mọc um tùm, rậm rạp thành rừng, hươu, khỉ rất nhiều. Một bữa mẹ ông vào đó kiếm củi, bị một con khỉ độc hiếp rồi có mang. Bố ông tức giận, cải trang làm đàn bà đi kiếm củi và giết chết con khỉ ấy. Được vài hôm, ở chỗ xác con khỉ bỗng thấy mối đùn lên thành một ngôi mộ. Sau đấy ít lâu thì bố ông mất, lúc hấp hối dặn người nhà chôn mình vào chỗ mộ con khỉ.
Khoảng giữa thế kỷ XVIII, có trạng Quỳnh là một nhân vật nổi tiếng trong việc dùng thơ văn để đả kích bọn phong kiến thống trị đương thời , đả phá dị đoan và công kích mọi tệ đoan xã hội. Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh, quê ở làng Bột Thượng, huyện Hoằng Hóa, trấn Thanh Hoá. Quỳnh là người học giỏi và thông minh, láu lỉnh; còn trẻ tuổi đã đậu hương cống, nên thường gọi là cống Quỳnh.
Theo sách “Đại Việt thông sử”, Lê Niệm là con của Lê Lâm và là cháu của Trung túc Vương Lê Lai. Quê ông ở xã Duy Tinh, huyện Thuận Hựu (nay thuộc Thanh Hóa). Ông làm quan trải 4 triều vua: Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Nghi Dân và Lê Thánh Tông. Cha Lê Niệm là Lê Lâm theo vua Thái Tổ bình định quân Minh, lập được công. Năm Thuận Thiên thứ nhất, Lê Lâm được trao chức Thứ thủ quân Thiết đột.
Biệt hiệu Hồng Hà nữ sĩ, người xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, sinh dưới triều Lê (1705), cùng thời với cống Quỳnh và Đặng Trần Côn. Tư chất thông minh, học một biết mười, bà nổi tiếng văn chương ngay khi còn nhỏ.
Theo sách “Đại Nam thực lục”, Nguyễn Hoằng Dụ là tướng nhà Lê sơ, người làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa (Thanh Hóa). Cha là Nghĩa quốc công Nguyễn Văn Lang - trọng thần triều vua Lê Uy Mục, Lê Tương Dực; người đã chỉ huy quân triều đình đánh bại cuộc khởi nghĩa của Trần Tuân. Nguyễn Hoằng Dụ khi 8 tuổi đã biết làm văn, 15 tuổi thông thuộc võ nghệ.
From the publisher's feed