
Sign up to save your podcasts
Or


Nguyễn Du sinh năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765) đời vua Lê Hiển Tông, quán làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, con thứ bảy Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, thường được gọi là Chiêu Bảy.
Ông Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778 mất năm 1859, đỗ Giải nguyên, làm quan trải ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông có tài thơ văn, đặc biệt sở trường về lối ca trù. Ông là một trong những thi nhân có nhiều giai thoại văn chương. Dưới đây là một trong những giai thoại rất mực phong lưu.
Vào cuối năm 1012, Lý Thái Tổ được tin người Đại Lý đem ngựa đến buôn bán ở bến Kim Hoa, châu Vị Long rất đông đúc dưới sự bảo trợ của tù trưởng Hà Trắc Tuấn mà không xin phép triều đình Đại Cồ Việt. Để thể hiện uy quyền của triều đình, vua sai quân đến đánh bắt các thương nhân và tùy tùng người Đại Lý, tịch thu đến 1 vạn con ngựa.
Giống như các bậc vua chúa khác, Triệu Việt Vương cũng có nhiều vợ nhưng để lại dấu ấn lớn nhất đối với ông chính là Đệ tứ cung phi Ngọc Nương, một người mà tình duyên của họ đến từ trong giấc mộng. Theo dã sử và thần tích xã Trâm Nhị (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) thì Ngọc Nương tên thật là Nguyễn Thị Ngọc, cha là Nguyễn Bộ, vốn dòng dõi hào trưởng ở trang Bảo Đài, huyện Lôi Dương, châu Ái (nay thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa), mẹ là Đặng Thị Châu, quê ở giáp Đường, trang Đặng Xá (nay thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên).
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Trần Dụ Tông là vị hoàng đế thứ 7 của triều đại nhà Trần. Ông có tên húy là Trần Hạo, là hoàng tử thứ 10 của vua Trần Minh Tông (1300-1357), thân mẫu là hoàng hậu Hiến Từ. Ông trị vì 28 năm, từ năm 1341-1369. Ông lên ngôi hoàng đế khi tuổi còn nhỏ và khi ấy Minh Hoàng nắm mọi quyền bính, do đó đất nước ổn định. Nhưng sau khi Minh Hoàng qua đời, Dụ Tông đích thân chấp chính và triều đại của ông đánh dấu sự mở đầu của quá trình suy yếu nền chính trị của họ Trần về sau.
Vua có tên thực là Tư Thành, lúc còn niên thiếu thường gọi là hoàng tử Hiệu. Ông rất thông minh và chăm học. Các môn kinh sử , luật, lịch, thi, họa, ông đều tinh thông. Đặc biệt ông rất chuộng văn học.
Theo sách “Đại Nam thực lục”, sau khi nhận được cáo trạng của vua Lê Trang Tông, vua Minh đã giao xuống đình nghị, định cất quân sang hỏi tội Mạc Đăng Dung. Hay tin này, Mạc Đăng Dung liền viết thư cho vua nhà Minh. Triều Minh cho Mạc Đăng Dung là dối trá nhưng đạo quân của tướng Minh là Cừu Loan, tuy kéo đến sát biên giới song vẫn do dự không tiến.
Theo các tài liệu còn lưu truyền đến ngày nay, trạng nguyên Nguyễn Hiền mồ côi cha từ nhỏ, mẹ đã cho ông theo học sư cụ trụ trì chùa Hà Dương ở làng Dương A. Tương truyền, khi Nguyễn Hiền mới vào học, lúc nhà sư mới viết được 10 trang giấy, Hiền đã đọc ngay được như người từng đi học. Sư cụ lấy làm lạ lắm. Một đêm, sư cụ nằm mộng thấy Phật quở rằng: Trạng nguyên mỗi lần vào chùa thường nghịch ngợm, sao nhà ngươi không răn đe, ngăn chặn?
Theo sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, Trần Cảnh là người làng Điền Trì, xã Hộ Xá, tổng Đột Lĩnh, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, đạo Hải Dương. Ông đỗ tiến sĩ năm 1718, làm quan suốt 40 năm. 22 năm đầu, ông giữ chức thấp, rồi làm Tế tửu Quốc Tử Giám và Đốc đồng, Hiệp trấn các xứ. 18 năm sau, ông mới được tin dùng, lần lượt làm Thượng thư bộ Công, bộ Hình, bộ Binh, bộ Lễ, hai lần làm tể tướng.
Theo sách “Hoàng thúc Lý Long Tường”, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản tháng 5-2010, hoàng tử Lý Long Tường sinh năm 1174 - Giáp Ngọ, là con thứ 7 của vua Lý Anh Tông và Hiền phi Lê Mỹ Nga. Ông được ban chức Thái sư Thượng trụ quốc, Khai phủ nghị đồng tam tư, Thượng thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc hải quân, tước Kiến Bình vương. Năm 1225, Trần Thủ Độ lật đổ nhà Lý bằng cách đưa cháu là Trần Cảnh vào hầu và sau lấy Lý Chiêu Hoàng, rồi để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh lập ra nhà Trần.
From the publisher's feed