
Sign up to save your podcasts
Or


Hồi 16, mô tả tình cảnh Thúc Sinh gặp lại Thúy Kiều với hoàn cảnh trớ trêu là tại nhà chàng (Dinh phủ nhà Hoạn Thư), lúc này Kiều trong thân phận là Hoa Nộ phục vụ nhà Hoàn Thư. Thúc Sinh bàng hoàng vì tưởng Kiều đã mất và xót xa bẽ bàng trước tình cảnh đối diện Kiều mà chẳng thể nhận nàng, bảo vệ nàng...
Truyện Kiều sử dụng khá nhiều từ cổ và điển tích. Bạn chịu khó xem chú thích để hiểu thêm về từng câu thơ và ý nghĩa của cả đoạn nha.
1. Cố quốc: Nguyên nghĩa là nước cũ, sau cũng dùng như chữ cố hương (quê cũ).
Nguyễn Du không chia Truyện Kiều theo chương hồi, các nhà nghiên cứu văn học căn cứ vào nội dung Truyện Kiều cũng như diễn biến của Kim Vân Kiều Truyện - vốn là một tiểu thuyết chương hồi, để chia Truyện Kiều làm 22 chương để bạn đọc tiện theo dõi.
Hồi 15, bắt đầu cho những chương mới thấm đẫm nỗi đau của Kiều mà chẳng thể kêu ai. Cuộc đời đoạn trường của Nàng như một giấc mộng thấm thoát thoi đưa, đầy biến cố. Cứ gặp rồi lại xa, cứ tỉnh rồi lại mê.
Tay bay vạ gió lại ập đến cuộc đời hồng nhan bạc mệnh của Kiều, khi nàng khuyên Thúc Sinh về quê thăm Hoạn Thư và thú nhận mọi chuyện. Thế nhưng Thúc sinh đã quên những lời dặn ấy của nàng lúc ra đi. Từ đó mà dán tiếp đẩy Kiều vào một bước sa khác đầy đau thương.
* Chú thích:
1. Ngứa ghẻ hờn ghen: Thành ngữ: “Ngứa ghẻ, hờn ghen”, ý nói hai điều khó chịu nhất.
---
"...Người lên ngựa, kẻ chia bào.
Rừng phong, thu đã nhuốmmàu quan san..."
Chú thích:
1. Cổ xuý: Cổ là những nhạc khí dùng để đánh như chiêng, trống. Xuý là những nhạc khí để thổi, như kèn sáo.
Sự xuất hiện của Thúc Sinh là điểm sáng, là tia hi họng đầu tiên trở thành thành sự thật của nàng Kiều trong chuỗi ngày tủi nhục tại thanh lâu, dù đây không phải là ánh sáng cuối đường hầm, nhưng cũng cho ta thấy xã hội ấy đâu đó vẫn còn tình người...
* Chú thích:
"Dưới trăng quyên đã gọi hè. Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông"
Vậy là đã hơn 1 năm kể từ ngày Kiều bán mình chuộc cha, bước vào đoạn trường lưu lạc...đến chốn thanh lâu, ở nơi ấy Kiều gặp Thúc Sinh: Khách du bỗng có một người. Kỳ Tầm họ Thúc, cũng nòi thư hương”. Kiều như được cứu rỗi và cuộc đời như sẽ bước sang một chang mới, dù cũng mông lung vô định...
* Chú thích:
1. Khách du: Khách đi chơi, đi du lãm.
2. Kỳ Tầm: Tên của họ Thúc, theo truyện Thanh tâm tài nhân thì Kỳ Tầm là tên tự của Thúc Sinh.
3. Huyện Tích, châu Thường: tức huyện Vô Tích, phủ Thường Châu, thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc).
4. Thiếp hồng: Do chữ “hồng tiên”, thứ thiếp hồng gửi thăm người đẹp. Hương khuê: phòng hương, phòng ở của phụ nữ, tục xưa phụ nữ hay dùng hương thơm, nên gọi là “hương khuê”.
5. Trưởng tô: Do chữ lưu tô trưởng, thứ màn có tua kết bằng lông chim năm sắc.
6. Lẽ hằng: Lẽ thường như thế.
7. Đào, mận: Nói bóng sắc đẹp của người con gái.
8. Đá vàng: Chỉ sự đồng tâm gắn bó với nhau.
9. Bàn vây: Bàn cờ vây. Trung Quốc có hai lối chơi cờ: vi kỳ tức cờ vây, tượng kỳ tức cờ tướng.
10. Truy hoan: Theo đuổi sự vui chơi.
11. Sóng khuynh thành: Chỉ cái liếc nhìn của người phụ nữ đẹp.
12. Bốc rời: Tiền rời cứ bốc từng nắm mà chi, không cần đếm là bao nhiêu, ý nói vung phí không tiếc tiền.
13. Hơi đồng: Tức mùi tiền bạc. Thời xưa, tiền tiêu đúc bằng đồng, nên nói “đồng” tức là tiền. Cả câu ý nói Tú Bà thấy Thúc Sinh vung tiền không tiếc nên nảy sinh lòng tham không đáy.
14. Lửa lựu: Hoa lựu khi nó nở trông đỏ chói như lửa chỉ cảnh mùa hè.
15. Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên: Ý nói Kiều có một thân thể đầy đặn xinh đẹp.
16. Luật Đường: Thể thơ Đường Luật.
17. Nối điêu: Nối đuôi con điêu “cẩu vĩ tục điêu” (nối điêu) để chỉ sự việc gì có tính chất học đòi. Chữ “nối điêu” ở đây là lời Kiều tự khiêm về việc hoạ lại thơ Thúc Sinh.
18. Nỗi quê: Nỗi lòng nhớ quê của Kiều.
19. Mây vàng: Nói ý nhớ nhà, do câu thơ cổ “Tần Trung đa bạch vân, Thục trung đa hoàng vân, cố tư gia giả vị chi cư hoàng vân” (Đất Tần nhiều mây trắng, đất Thục nhiều mây vàng, cho nên nhớ nhà gọi là nhớ mây vàng).
20. Cành kia, cỗi này: chỉ Kiều và Tú Bà. Thúc Sinh tưởng Kiều là con đẻ của Tú Bà.
21. Thu ba: Sóng mùa thu, chỉ con mắt (nói con mắt trong suốt như suối mùa thu).
22. Chúa xuân: Người chủ vường xuân, chủ hoa xuân, đây chỉ Thúc Sinh. Câu này ý nói Thúc Sinh ở nhà đã có vợ rồi.
23. Tương tri: Hiểu biết nhau thông cảm với nhau.
24. Nước non: Sông núi tức lời thề nguyền kết làm vợ chồng.
25. Thú | Tòng: Thú: là “thú thiếp”, lấy vợ lẽ, chỉ bên Thúc Sinh; tòng: là “tòng lương”, trở về lương, tức bỏ chỗ lầu xanh để trở về, đi lấy chồng, chỉ bên Kiều. Hai bên cùng gặp nhiều khó khăn.
26. Bình Khang: Đời Đường, ở kinh thành Trường An, gần cửa Bắc, có một xóm gọi là Bình Khang cho kỹ nữ ở, sau nhân dùng làm danh từ chỉ chung xóm kỹ nữ.
27. Thềm quế: Thềm điện quế. “Dâu đương tạp trở” chép: Trên mặt trăng có cây quế tiêu, cao năm trăm trượng, do đó, khi tả mặt trăng, người ta thường dùng chữ điện quế, cung quế.
-----
Cuộc sống chốn thanh lâu: "Khi tỉnh rượu lúc tàn canh. Giật mình, mình lại thương mình xót xa.” Của Thúy Kiều bắt đầu từ đây. Nàng buồn tủi, u sầu, nhưng cũng phải đành mặc cho số phận. Như một
1. Dậy dàng: Xôn xao ồn ào nổi lên.
Sau một tháng ròng di chuyển đường xa vất vả, ngựa xe gập ghềnh đến tỉnh Sơn Đông, Thúy Kiều mới biết mình bị lừa bán cho chốn thanh lâu. Uất hận, nàng ko chịu phùng tùng theo lệnh của Tú bà và Nàng đã bị đánh đập dã man. Từ ra đi, Kiều coi như mình đã không còn nữa. Bị Mã Giám Sinh Làm Nhục, giờ lại bị bán vào thanh lâu. Trong nỗi uất hận đó Kiều đã quyết mình quyên sinh:
"Nàng rằng: Trời thẳm đất dày.
Hồi 8, Kể về nỗi uất hận của Thúy Kiều sau khi bị Mã Giám Sinh làm nhục, nàng nghĩ mà "Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình". Thực ra Thúy Kiều đã chuẩn bị sẽ quyên sinh ngay sau khi đến nơi Mã Giám Sinh, nhưng nghĩ đi nghĩ lại vì sợ liên lụy đến gia đình, nàng đành nhẫn nhục chịu đựng...
1. Mạt cưa mướp đắng: Điển tích từ chuyện cổ tích: Một người lấy mạt cưa làm cám, đợi lúc nhá nhem tối, đem ra chợ bán, lại gặp một người đem mướp đắng giả làm dưa chuột ra bán. Hai người bán lẫn cho nhau, thế là bợm lại mắc bợm. Đây nói Mã Giám Sinh và Tú Bà cùng là phường bịp.
Nguyễn Du không chia Truyện Kiều theo chương hồi, các nhà nghiên cứu văn học căn cứ vào nội dung Truyện Kiều cũng như diễn biến của Kim Vân Kiều Truyện - vốn là một tiểu thuyết chương hồi, để chia Truyện Kiều làm 22 chương để bạn đọc tiện theo dõi.
Truyện Kiều sử dụng khá nhiều từ cổ và điển tích. Bạn chịu khó xem chú thích để hiểu thêm về từng câu thơ và ý nghĩa của cả đoạn nha.
1. Dầu: Cũng như nghĩa đành (dầu lòng, đành lòng).
2. Một lời thề nguyền. Ý Kiều nói số phận ra sao cũng đành, nhưng chỉ đau lòng là trót đeo đẳng lời thề với Kim Trọng.
3. Trời Liêu. Ý nói Liêu Dương, Kim Trọng đang ở Liêu Dương xa xôi.
4. Tái sinh. Một kiếp sống nữa, kiếp sau cũng như nói lai sinh.
5. Hương thề: Nén hương để thề nguyền mà Kim Trong và Thúy Kiều đã nguyện ước khi hẹn hò.
6. Nghì. Tức là chữ “nghĩa” được đọc chệch ra.
7. Trúc Mai. Tình nghĩa bền chặt thân thiết như vậy cây trúc, cây mai thường được trồng gần nhau.
8. Khối tình: Theo câu chuyện tình sử, xưa có một cô gái yêu một người lái buôn. Người lái buôn đi mãi chưa về, cô ta ốm tương tư mà chết. Khi hoả táng, quả tim kết thành một khối rắn, đốt không cháy, đập không vỡ. Sau người lái buôn trở về, thương khóc, nước mắt nhỏ vào khối ấy liền tan ra thành huyết.
9. Tuyền đài: Nơi ở dưới suối vàng, tức nơi ở của người chết.
10. Bàn hoàn: Ở đây có nghĩa là nghĩ quanh, nghĩ quẩn mãi không dứt.
11. Giấc xuân: Giấc ngủ ngon lành.
12. Nhẫn: Tiếng cổ, ngồi nhẫn là ngồi mãi suốt đêm.
Nguyễn Du không chia Truyện Kiều theo chương hồi, các nhà nghiên cứu văn học căn cứ vào nội dung Truyện Kiều cũng như diễn biến của Kim Vân Kiều Truyện - vốn là một tiểu thuyết chương hồi, để chia Truyện Kiều làm 22 chương để bạn đọc tiện theo dõi.
From the publisher's feed

0 Listeners

2 Listeners

0 Listeners

0 Listeners