Chuyện Của Thơ | Poemy Podcast

Chuyện Của Thơ | Poemy Podcast

By Poem NguyenSociety & Culture
Download on the App Store

Chuyện Của Thơ | Poemy Podcast episodes

  • 142_Truyện Kiều | Thúc Sinh gặp lại Thúy Kiều_Hồi XVI (Câu 1787-1914) | Nguyễn Du.

    Hồi 16, mô tả tình cảnh Thúc Sinh gặp lại Thúy Kiều với hoàn cảnh trớ trêu là tại nhà chàng (Dinh phủ nhà Hoạn Thư), lúc này Kiều trong thân phận là Hoa Nộ phục vụ nhà Hoàn Thư. Thúc Sinh bàng hoàng vì tưởng Kiều đã mất và xót xa bẽ bàng trước tình cảnh đối diện Kiều mà chẳng thể nhận nàng, bảo vệ nàng...

    Truyện Kiều sử dụng khá nhiều từ cổ và điển tích. Bạn chịu khó xem chú thích để hiểu thêm về từng câu thơ và ý nghĩa của cả đoạn nha.

    Chú Thích:

    1. Cố quốc: Nguyên nghĩa là nước cũ, sau cũng dùng như chữ cố hương (quê cũ).

    2. Uyên bay: Uyên do chữ uyên ương, giống chim ở với nhau từng đôi, nên người ta thường dùng để chỉ vợ chồng. Uyên bay: ý nói Thuý Kiều không còn nữa (con chim uyên đã bay mất).
    3. Trăng mới: Trăng đầu tháng. Câu nói đại ý nói Thúc Sinh trông thấy mặt trăng lưỡi liềm đầu tháng giống như lông mày người gái đẹp mà tưởng nhớ đến Kiều.
    4. Phấn thừa, hương cũ, bội phần xót xa: Câu này đại ý nói Thuý Kiều không còn nữa. Thúc Sinh trông thấy phấn hương của nàng còn sót lại mà thương tâm.
    5. Cố nhân: Người quen biết cũ. Ở đây chỉ Thuý Kiều
    6. Gia hương: Nhà và làng, tức quê nhà. Ở đây chỉ quê hương của Thúc Sinh ở huyện Vô Tích.
    7. Nhà hương: Do chữ hương khuê
    8. Động dong: Biến đổi sắc mặt, ý nói động lòng.
    9. Hiếu phục: Tang trở cha mẹ. Ở đây chỉ Thúc Sinh vừa hết tang mẹ.
    10. Trắc dĩ: Kinh thi có câu “Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mâu hề” (Lên núi Dĩ trông ngóng mẹ). Người sau bèn dùng hai chữ trắc dĩ để nói thương nhớ mẹ.
    11. Giải phiền: Làm cho khuây khoả sự phiền não.
    12. Tạc: Chén rượu do khách rót cho người chủ để đáp lại.
    13. Thù: Chén rượu do chủ nhà rót mời khách, ở đây nói vợ chồng Thúc Sinh uống rượu và mời mọc nhau.
    14. Trì hồ: Bưng bầu rượu, ý nói bắt Kiều đứng hầu một bên để rót rượu cho hai vợ chồng Thúc Sinh uống.
    15. Bồ hòn: Bồ hòn để ám chỉ người có việc buồn khổ mà không nói ra được. Ở đây ý nói chén rượu Kiều đưa mời chàng thấy đắng như bồ hòn, nhưng vì sợ Kiều bị liên luỵ phải uống hết ngay.
    16. Giọt rồng: Có nghĩa là thời giờ, thời khắc.
    17. Loan phòng: Phòng nằm của đôi vợ chồng.
    18. Rẽ thuý chia uyên: Thuý: chim chả; uyên: chim uyên ương. Ở đây chỉ việc Hoạn Thư dùng mưu chia rẽ đôi lứa Thúc Sinh và Thuý Kiều.
    19. Đài dinh: Đài các, dinh thự, chỉ chỗ ở của bọn quyền quý. Ở đây mượn để chỉ nhà ở của Thúc Sinh và Hoạn Thư.
    20. Thân cung: Cung khai, khai trình
    21. Cửa Không: Do chữ Không môn. Vì đạo Phật cho mọi vật trên thế gian đều là “không” nên người ta gọi đạo Phật là “Không môn”.
    22. Cửa Không: Do chữ Không môn. Vì đạo Phật cho mọi vật trên thế gian đều là “không” nên người ta gọi đạo Phật là “Không môn”.

    Nguyễn Du không chia Truyện Kiều theo chương hồi, các nhà nghiên cứu văn học căn cứ vào nội dung Truyện Kiều cũng như diễn biến của Kim Vân Kiều Truyện - vốn là một tiểu thuyết chương hồi, để chia Truyện Kiều làm 22 chương để bạn đọc tiện theo dõi.

    -----
    Poem Nguyen | Tiểu Thơ,
    Instagram: @poemypodcast
    7 min
  • 141_Truyện Kiều | Kiều gặp Hoạn Thư_Hồi XV (Câu 1607-1786) | Nguyễn Du.

    Hồi 15, bắt đầu cho những chương mới thấm đẫm nỗi đau của Kiều mà chẳng thể kêu ai. Cuộc đời đoạn trường của Nàng như một giấc mộng thấm thoát thoi đưa, đầy biến cố. Cứ gặp rồi lại xa, cứ tỉnh rồi lại mê.

    Tay bay vạ gió lại ập đến cuộc đời hồng nhan bạc mệnh của Kiều, khi nàng khuyên Thúc Sinh về quê thăm Hoạn Thư và thú nhận mọi chuyện. Thế nhưng Thúc sinh đã quên những lời dặn ấy của nàng lúc ra đi. Từ đó mà dán tiếp đẩy Kiều vào một bước sa khác đầy đau thương.

    * Chú thích:

    1. Ngứa ghẻ hờn ghen: Thành ngữ: “Ngứa ghẻ, hờn ghen”, ý nói hai điều khó chịu nhất.

    2. Hải đạo: Đường biển.
    3. Mầu: Mầu nhiệm: mẹ Hoạn thư khen cái mưu ấy rất điệu rất hay.
    4. Buồm: Lá buồm.
    5. Lèo: Dây treo buồm.
    6. Khuyển, Ưng: Khuyển: chó; Ưng: chim cắt. Chỉ hai loài vật dùng để đi săn, ở đây dùng để đặt tên cho bọn tôi tớ trung thành của họ Hoạn.
    7. Côn quang: Cũng như côn đồ, dùng để chỉ bọn vô lại.
    8. Thuận phong: Thuận gió.
    9. Một lá: Một lá buồm, Kiều lúc ấy đang ở Lâm Tri. Lâm Tri nguyên là kinh đô nước Tề xưa, nên gọi là bến Tề
    10. Ấm lạnh: Do chữ ôn sảnh (đông ôn hạ sảnh).
    11. Ngọt bùi: Do chữ cam chỉ, ý nói làm con phải quạt nồng ấm lạnh và phụng dưỡng những thức ngon lành cho cha mẹ.
    12. Cung Quản: Cung Quảng hàn trong mặt trăng, ả Hằng tức ả Hằng Nga trong cung. Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ, trộm thuốc trường sinh của chồng rồi chạy lên ở một mình trên cung trăng. Câu này đại ý nói thôi thì liều sống một mình như Hằng Nga trong cung Quảng Hàn vậy.
    13. Ba sao: Do chữ trong Kinh thi: “Tam tinh tại thiên” (Ba sao ở trời). Ở đây tác giả chỉ mượn câu ấy để nói đêm đó ngoài song gió thổi, giữa trời có trăng có sao v.v...
    14. Khốc quỷ, kinh thần: Khốc quỷ, kinh thần: quỷ thần khóc, thần phải sợ, ý nói rất ghê sợ.
    15. Lục trình: Đi đường bộ.
    16. Trung đường: Nhà chính giữa.
    17. Vĩnh quyết: Cũng như vĩnh biệt, từ biệt hẳn, không bao giờ gặp nhau nữa.
    18. Phi phù trí quỷ: Đốt bùa mà gọi được quỷ đến
    19. Thông huyền: Thông cảm được với cõi huyền bí, tức cõi quỷ thần.
    20. Tam đảo: Ba đảo tiên: Bồng lai, Phương Trượng, Doanh Châu. Người ta thường dùng để chỉ cõi thiêng liêng hoặc cõi tiên.
    21. Cửu tuyền: Chín suối, tức là âm phủ
    22. Đạo nhân: Cũng như đạo sĩ, chỉ ông thấy pháp.
    23. Tĩnh đàn: Đàn thờ thần thánh của bọn thầy pháp
    24. Xuất thần: Linh hồn thầy pháp thoát ra ngoài thể xác để đi vào cõi thần linh.
    25. Mệnh cung: Cung là bản mệnh, một trong 12 cung của số Tử Vi. Sách số có câu: “Cung mệnh mà có sao Bột chiếu vào thì người ấy mắc nạn”. Câu này đại ý nói xem số Thuý Kiều thì đang mắc nạn to.
    26. Chiền chiền: Tiếng cổ, có nghĩa là rành rành, hoặc liền liền.
    27. Đồng cốt: Ông đồng, bà cốt, những người làm nghề câu đồng, câu bóng.
    28. Cánh suyền: Cánh buồm đi nhanh.
    29. Hoàng lương: Kê vàng. Xưa Lư sinh đời Đường đi thi gặp ông già họ Lã cho mượn cái gối nằm ngủ. Chàng mơ thấy mình thi đỗ, làm quan vinh hoa phú quý hơn 20 năm. Lúc tỉnh giấc thì nồi kê của nhà hàng nấu chưa chín. Người sau bèn dùng hai chữ hoàng lương để chỉ giấc mơ.
    30. Hôn mai: Xưa có người gặp cô gái trong rừng, cùng uống rượu, sáng dậy thấy mình nằm dưới gốc cây mai. Đây chỉ có ý nói là giấc mơ màng.
    31. Thiên quang trủng tể: Thiên quang là loại quan đứng đầu sáu lại quan do nhà Chu đặt ra. Trủng tể tức là chức tể tướng.
    32. Thất bảo: Bảy sản vật quý như vàng, bực, lưu ly, xà cừ, mã não, san hô, trân châu. ở đây chỉ cái giường có khảm các vật quý.
    33. Đào lý: Cây đào, cây lý, thường dùng để chỉ phụ nữ
    34. Thanh y: Áo xanh. Đầy tớ gái các nhà giàu sang đời xưa đều mặc áo xanh, nên gọi là thanh y...

    ---

    Poem Nguyen | Tiểu Thơ,
    Instagram: @poemypodcast
    12 min
  • 140_Truyện Kiều | Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều_Hồi XIV (Câu 1467-1606) | Nguyễn Du.

    "...Người lên ngựa, kẻ chia bào.
    Rừng phong, thu đã nhuốmmàu quan san..."

    Chú thích:

    1. Cổ xuý: Cổ là những nhạc khí dùng để đánh như chiêng, trống. Xuý là những nhạc khí để thổi, như kèn sáo.

    2. Trướng đào: Màn hoa đào, đây tức là buồng cưới.
    3. Huệ lan: Hoa huệ, hoa lan, ngụ ý nói cảnh sum họp.
    4. Mảng: Tiếng cổ có ý nói mải mê về một việc gì mà quên đi, ở đây là nghĩa này.
    5. Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh: Ý nói hết mùa xuân và bắt đầu sang mùa
    6. Đổi thay nhạn yến. Chim én (mùa xuân) chim nhạn (mùa thu), đổi thay nhau, ý nói từ mùa nọ sang mùa kia. Ở đây ý nói thời gian trôi thấm thoắt gần được một năm.
    7. Tao khang: Bã rượu cám. Người vợ cùng ăn bã, ăn cám với mình, tức là người vợ cả lấy từ lúc còn hàn vi. Vua Quang Vũ nhà Hán muốn đem người chị gái mới goá là công chúa Hồ Dương gả cho Tống Hoằng, nhưng Hoằng đã có vợ. Vua hỏi ý Hoằng, Hoằng thưa: “Tao khang chi thê, bất hạ đường”, nghĩa là người vợ lấy trong lúc ăn tấm, ăn cám, không thể để xuống dưới nhà, ý nói không thể khinh rẻ, phụ bạc. Vua biết ý vậy, liền thôi.
    8. Phi thường: Khác với người thường, ý nói người sâu sắc, hiểm độc.
    9. Hồi trang: Về quê.
    10. Ninh gia: Về thăm nhà.
    11. Quan hà: Quan cửa ải, hà là sông. Chén quan hà: chén rượu tiễn biệt.
    12. Xuân đình: ơi xum họp, vui vẻ.
    13. Cao đình: Cổ thi: “Cao đình tương biệt xứ” (Chỗ biệt nhau ở Cao đình), có nghĩa là chia xa.
    14. Sông Tần: Sông ở đất Tần Xuyên, mạn tỉnh Cam Túc. Theo Tản Đà thì sông Tần là sông Tần Hoài, thuộc tỉnh Giang Tô, quê Thúc Sinh (Vô Tích).
    15. Dương Quan: Tên một cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm Tây, mạn tây bắc Trung Quốc.
    16. Yếm thắm trôn kim: Có thể hiểu là ý Kiều cho rằng việc hai người lấy nhau là việc không thể dấu kín được.
    17. Bưng mắt bắt chim: Bưng mắt lại thì không thể nào bắt được chim. Ý nói không thể nào che giấu nổi việc có vợ lẽ.
    18. Đèo bòng: Có nghĩa là vương vít tình duyên.
    19. Nói sòng: Tức nói thẳng, nói trắng ra, không quanh co giấu giếm.
    20. Bào: Áo. Thường thường trong khi ly biệt người ta hay nắm lấy áo nhau, tỏ tình quyến luyến. Chia bào là buông áo.
    21. Dặm hồng: Dặm đường đi giữa bụi hồng. Chinh là đi đường xa, an là yên ngựa. Người ta thường dùng hai chữ chinh an để chỉ việc đi đường xa.
    22. Chinh an: Đọc khác của “chinh yên” 征鞍, tức yên ngựa của người đi xa.
    23. Buồng trong: Chỉ vào người vợ. Y nói bây giờ hãy nói đến người vợ Thúc Sinh làm chủ gia đình ở quê nhà.
    24. Lại bộ: Bộ lại, tức là quan trọng nhất trong sáu bộ của triều đình phong kiến.
    25. Duyên Đằng: Cổ thi: “Thì lai phong tống Đằng vương các” (Thời vận đến, gió đưa lại gác Đằng Vương). Ý nói gặp cơ hội may mắn.
    26. Ràng buộc: Có nghĩa là thắt buộc, cho người khác vào khuôn, vào phép của mình.
    27. Vườn mới thêm hoa: Ý nói Thúc Sinh có thêm vợ lẽ.
    28. Nền: Nền nếp của người trên, tư thế của mình là người bề trên.
    29. Cho người thăm ván, bán thuyền, biết tay: Tục ngữ: “Chưa thăm ván đã bán thuyền”. Ý chỉ Thúc Sinh là người mới nới cũ.
    30. Lầu hồng: Do chữ hồng lâu, dùng để chỉ chỗ ở của hạng phụ nữ giàu sang.
    31. Tẩy trần: Rửa bụi. Tục xưa, khi có người đi xa về thì đặt tiệc “tẩy trần”, ý nói rửa sạch bụi bặm trong lúc đi đường.
    32. Thuần hức: Thuần là một thứ rau, hức là một thứ cá. Trương Hàn đời nhà Tấn, đang lúc làm quan ở xa, thấy cơn gió thu, sực nhớ đến canh rau thuần và chả cá hức ở quê nhà, bèn bỏ quan mà về. Vì thế, người ta thường dùng hai chữ thuần hức để chỉ thú vui chơi nơi quê nhà.
    33. Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô: Cổ thi: “Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu” (Chỉ một lá ngô đồng rụng, Ai cũng biết là thu sang). Ý nói Thúc Sinh ở quê nhà vừa bén mùi rau cá thì trời đã bắt đầu sang thu.
    34. Quan tái: Cũng như quan ải, chỉ nơi núi non bờ cõi.
    35. Mây bạc: Do chữ bạch vân mà ra. Định Nhân Kiệt đời Đường đi làm quan xa, thường chỉ đám mây trên núi Thái Hàng mà nói: “Nhà cha mẹ ta ở đấy”. ý nói Thúc Sinh có cha ở xa.
    36. Xe hương: Do chữ hương xa, chỉ xe của phụ nữ.
    37. Quy ninh: Là về hỏi thăm sức khoẻ của cha mẹ.

    16 min
  • 139_Truyện Kiều | Thúc Sinh đưa Thúy Kiều ra khỏi thanh lâu và cưới nàng_Hồi XIII (Câu 1367-1466) | Nguyễn Du.

    Sự xuất hiện của Thúc Sinh là điểm sáng, là tia hi họng đầu tiên trở thành thành sự thật của nàng Kiều trong chuỗi ngày tủi nhục tại thanh lâu, dù đây không phải là ánh sáng cuối đường hầm, nhưng cũng cho ta thấy xã hội ấy đâu đó vẫn còn tình người...

    * Chú thích:

    1. Non đoài: Núi ở phía tây.
    2. Trúc viện: Viện trúc, nơi nghỉ mát có trồng trúc xung quanh.
    3. Thừa lương: Hóng mát, nghỉ mát, Thúc Sinh mượn cớ là đưa Kiều đi hóng mát.
    4. Chiến hoà: Chiến là dịa chuyện kiện cáo, hoà là lựa cách điều đình. Theo Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, Thúc Sinh đưa Kiều về ở nhà Hoa Dương, một tay hào phú xứ ấy, rồi một mặt cậy Hoa Dương rêu rao về tội mua con gái nhà lương thiện về làm gái điếm, một mặt mượn Bộ Tần đến điều đình việc chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh.
    5. Thua cơ: Thua mưu, thua mẹo của Thúc Sinh.
    6. Hoàn lương: Gái thanh lâu bỏ nghề cũ trở về đời lương thiện.
    7. Trần ai: Bụi bậm chỉ cảnh lầu xanh.
    8. Trúc mai: Chỉ sự giao kết thân mật của vợ chồng.
    9. Hương: Hương, lửa: chỉ tình duyên vợ chồng.
    10. Ngọc, sen: hai câu tỏ ý “sum họp” mai trúc đã về một nhà.
    11. Sân ngô: Sân có trồng cây ngô đồng.
    12. Giậu thu: Giậu hoa mùa thu.
    13. Giò sương: Giò hoa chịu được sương, ý chỉ hoa cúc.
    14. Phong lôi: Gió, sấm, nói cơn giận nổi lên dữ dội như gió, như sấm.
    15. Nặng lòng e ấp: Thúc ông trong lòng lấy làm e sợ về việc để cho con gái lầu xanh như thế, vì không những làm xấu thanh danh nhà mình, mà đối với Hoạn Thư cũng sẽ có chuyện lôi thôi.
    16. Biện bạch: Là phán bảo minh mạch, rành rọt.
    17. Nghiêm huấn: Lời dạy của bố.
    18. Sấm sét: Do chữ lôi đình, chỉ sự ra uy, như quát mắng đánh đập.
    19. Búa rìu: Do chữ phủ việt, chỉ dự gia hình. Ý cả câu: dẫu đánh mắng hay giết chết cũng xin chịu.
    20. Tay đã nhúng chàm: Cái tay đã nhúng vào chàm, thì dù rút ra cũng bị nhuốm chàm xanh rồi.
    21. Ôm cầm ai nỡ đứt dây cho đành: Đã lấy nhau thành vợ chồng thì nỡ nào lại lìa bỏ, cũng như nỡ ôm đàn cầm mà gẩy thì nỡ nào lại đứt dây cho được.
    22. Bạc đen: Chưa thực rõ nghĩa. Có người giải bạc đen là sống chết cũng liều.
    23. Sốt gan: Nóng gan, như nói nóng tiết
    24. Cáo quỳ: Cáo là thưa trình, quỳ là quỳ gối, tức quỳ gối mà đề đơn thưa trình. Lệ xưa, ai vào quan thưa trình việc gì, phải quỳ gối trước công đường đầu đội lá đơn.
    25. Đất bằng nổi sóng: Do chữ “bình địa ba đào”.
    26. Phủ đường: Dinh quan phủ, ở đây chỉ quan phủ.
    27. Phiếu hồng: Tờ trát của quan.
    28. Thôi tra: Đòi lên xét hỏi.
    29. Sân hoa: Sân phủ đường (chữ hoa ở đây chỉ đặt cho đẹp lời).
    30. Mặt sắt: Do chữ thiết diện: mặt đen và cứng rắn như sắt, thường mượn để chỉ một vị quan cương trực, nghiêm nghị.
    31. Bên nguyên: Là Thúc ông (Thúc Sinh và Kiều là bị cáo).
    32. Gia hình: Bắt phải chịu tội, hình phạt, ở đây là phạt trượng tức dùng trường (gậy) mà đánh.
    33. Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần: Ý Kiều nói đã quyết tình hoàn lương rồi, không muốn lại lần nữa mắc vào cảnh lầu xanh, như con nhện lại vướng víu vào lưới tơ thêm một lần nữa.
    34. Đục trong: Ý nói dù dở hay hay.
    35. Yếu thơ: Yếu ớt, thơ dại.
    36. Lôi đình: Sấm sét, chỉ hình phạt.
    37. Ba cây: Chữ tam mộc là thứ hình cụ thể bằng gỗ thời xưa, tức già, nữu giới (cái gông cổ, cái kẹp tay và cái cùm chân). Ở đây, chữ bạ cây, chỉ các hình phạt dồn vào cái thân yếu ớt của Kiều.
    38. Mẫu đơn: Cành hoa đẹp, chỉ Kiều.
    39. Phủ đường: Dinh quan phủ, chỉ quan phủ.
    40. Cầu thân: Cầu làm thân, nói việc định lấy nhau.
    41. Giải vi: Cởi, gỡ vòng vây ra, ý nói gỡ cho ra lối thoát để giải quyết việc rắc rối này.
    42. Mộc già: Cái gông. Đầu đề bài thơ là vịnh cái gông.
    43. Giá đáng Thịnh Đường: Ý nói thơ Kiều làm hay tương đương với thơ Thịnh Đường, là giai đoạn phồn thịnh nhất thơ của triều đại nhà Đường, Trung Quốc.
    44. Châu Trần: Ở châu Từ, về huyện Phong, xưa kia có họ Châu và họ Trần, đời đời làm thông gia với nhau, về sau người ta dùng hai chữ Châu Trần để nói sự lấy nhau đẹp đôi xứng lứa.
    45. Rước dữ cưu hờn: Mua rước lây điều dữ và cưu mang lây sự hờn giận.
    -----
    Poem Nguyen | Tiểu Thơ,
    Instagram: @poemypodcast

    8 min
  • 138_Truyện Kiều | Thúy Kiều gặp Thúc Sinh _Hồi XII (Câu 1275-1366) | Nguyễn Du.

    "Dưới trăng quyên đã gọi hè. Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông"

    Vậy là đã hơn 1 năm kể từ ngày Kiều bán mình chuộc cha, bước vào đoạn trường lưu lạc...đến chốn thanh lâu, ở nơi ấy Kiều gặp Thúc Sinh: Khách du bỗng có một người. Kỳ Tầm họ Thúc, cũng nòi thư hương”. Kiều như được cứu rỗi và cuộc đời như sẽ bước sang một chang mới, dù cũng mông lung vô định...

    * Chú thích:

    1. Khách du: Khách đi chơi, đi du lãm.

    2. Kỳ Tầm: Tên của họ Thúc, theo truyện Thanh tâm tài nhân thì Kỳ Tầm là tên tự của Thúc Sinh.

    3. Huyện Tích, châu Thường: tức huyện Vô Tích, phủ Thường Châu, thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc).

    4. Thiếp hồng: Do chữ “hồng tiên”, thứ thiếp hồng gửi thăm người đẹp. Hương khuê: phòng hương, phòng ở của phụ nữ, tục xưa phụ nữ hay dùng hương thơm, nên gọi là “hương khuê”.

    5. Trưởng tô: Do chữ lưu tô trưởng, thứ màn có tua kết bằng lông chim năm sắc.

    6. Lẽ hằng: Lẽ thường như thế.

    7. Đào, mận: Nói bóng sắc đẹp của người con gái.

    8. Đá vàng: Chỉ sự đồng tâm gắn bó với nhau.

    9. Bàn vây: Bàn cờ vây. Trung Quốc có hai lối chơi cờ: vi kỳ tức cờ vây, tượng kỳ tức cờ tướng.

    10. Truy hoan: Theo đuổi sự vui chơi.

    11. Sóng khuynh thành: Chỉ cái liếc nhìn của người phụ nữ đẹp.

    12. Bốc rời: Tiền rời cứ bốc từng nắm mà chi, không cần đếm là bao nhiêu, ý nói vung phí không tiếc tiền.

    13. Hơi đồng: Tức mùi tiền bạc. Thời xưa, tiền tiêu đúc bằng đồng, nên nói “đồng” tức là tiền. Cả câu ý nói Tú Bà thấy Thúc Sinh vung tiền không tiếc nên nảy sinh lòng tham không đáy.

    14. Lửa lựu: Hoa lựu khi nó nở trông đỏ chói như lửa chỉ cảnh mùa hè.

    15. Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên: Ý nói Kiều có một thân thể đầy đặn xinh đẹp.

    16. Luật Đường: Thể thơ Đường Luật.

    17. Nối điêu: Nối đuôi con điêu “cẩu vĩ tục điêu” (nối điêu) để chỉ sự việc gì có tính chất học đòi. Chữ “nối điêu” ở đây là lời Kiều tự khiêm về việc hoạ lại thơ Thúc Sinh.

    18. Nỗi quê: Nỗi lòng nhớ quê của Kiều.

    19. Mây vàng: Nói ý nhớ nhà, do câu thơ cổ “Tần Trung đa bạch vân, Thục trung đa hoàng vân, cố tư gia giả vị chi cư hoàng vân” (Đất Tần nhiều mây trắng, đất Thục nhiều mây vàng, cho nên nhớ nhà gọi là nhớ mây vàng).

    20. Cành kia, cỗi này: chỉ Kiều và Tú Bà. Thúc Sinh tưởng Kiều là con đẻ của Tú Bà.

    21. Thu ba: Sóng mùa thu, chỉ con mắt (nói con mắt trong suốt như suối mùa thu).

    22. Chúa xuân: Người chủ vường xuân, chủ hoa xuân, đây chỉ Thúc Sinh. Câu này ý nói Thúc Sinh ở nhà đã có vợ rồi.

    23. Tương tri: Hiểu biết nhau thông cảm với nhau.

    24. Nước non: Sông núi tức lời thề nguyền kết làm vợ chồng.

    25. Thú | Tòng: Thú: là “thú thiếp”, lấy vợ lẽ, chỉ bên Thúc Sinh; tòng: là “tòng lương”, trở về lương, tức bỏ chỗ lầu xanh để trở về, đi lấy chồng, chỉ bên Kiều. Hai bên cùng gặp nhiều khó khăn.

    26. Bình Khang: Đời Đường, ở kinh thành Trường An, gần cửa Bắc, có một xóm gọi là Bình Khang cho kỹ nữ ở, sau nhân dùng làm danh từ chỉ chung xóm kỹ nữ.

    27. Thềm quế: Thềm điện quế. “Dâu đương tạp trở” chép: Trên mặt trăng có cây quế tiêu, cao năm trăm trượng, do đó, khi tả mặt trăng, người ta thường dùng chữ điện quế, cung quế.

    -----

    Poem Nguyen | Tiểu Thơ,
    Instagram: @poemypodcast
    7 min
  • 137_Truyện Kiều | Kiều bị Tú Bà và Sở Khanh lừa_Hồi XI (Câu 1123-1274) | Nguyễn Du.

    Cuộc sống chốn thanh lâu: "Khi tỉnh rượu lúc tàn canh. Giật mình, mình lại thương mình xót xa.”  Của Thúy Kiều bắt đầu từ đây. Nàng buồn tủi, u sầu, nhưng cũng phải đành mặc cho số phận. Như một

    thân xác tồn tại không hồn, chỉ những khi trầm mặc nhớ về Gia đình nơi xa, nhớ về Kim Trọng nàng mới thấy mình đang sống, nhưng Kiều đâu còn là Kiều của ngày xưa nữa. Nhớ Kim Trọng, nàng đâu dám nghĩ đến lời thề nước non, chỉ mong chàng đã ấm yên cùng Thúy Vân. Nhớ cha mẹ, thương hai em, nhưng Kiều phải đành phó mặc cho số phận...
    * Chú thích:

    1. Dậy dàng: Xôn xao ồn ào nổi lên.

    2. Gan vàng: Có nghĩa như “lòng vàng”. Kiều đoán có người đuổi theo phía sau nên hồi hộp sợ hãi...
    3. Dặm rừng: Đường rừng, lối đi trong rừng
    4. Lắm nau: Lắm nao, có nghĩa là đến như thế sao.
    5. Vuốt: Móng sắc của loài thú. ý nói không thoát lối nào được.
    6. Thú phục: Thú tội.
    7. Cung chiêu: Cung khai, nhận tội Tú bà muốn bắt buộc Kiều giữ lời hứa, nên bắt làm tờ cung chiêu nhận tội, và bắt người đứng bảo lĩnh về lời cam kết của nàng.
    8. Bày vai: Cùng hàng cùng lứa.
    9. Chịu đoan: Chịu nhận trách nhiệm về Kiều.
    10. Đà đao: Khi đánh giặc, giả thua chạy để người ta đuổi theo, rồi thình lình quăng dao lại chém, gọi là “đà đao”. “Đà đao” đây là một chước lừa.
    11. Một cốt một đồng: Nói Tú Bà với Sở Khanh thông đồng hiệp mưu với nhau để đánh lừa Kiều.
    12. Thị hùng: Cậy sức mạnh mà ra oai đánh đập người.
    13. Anh, yến: Chỉ chung những người con gái
    14. Mặt ấy, mặt này: Mặt ấy, mặt này: mấy tiếng này, Kiều xỉa xói vào mặt Sở Khanh mà nói, đối đáp lại tiếng “mặt mày” của Sở Khanh ở trên.
    15. Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung: Khép mở, riêng chung: chỉ giọng nói tỉ tê, nửa khép nửa mở, mối tình nỉ non, như riêng như chung, tức những mánh khoé quyến rũ.
    16. Vành ngoài bảy chữ: Bảy cách đối với khách ở bề ngoài để cho khách say mê.
    17. Vành trong tám nghề: Tám cách đối đãi trong khi ăn nằm với khách, đối với mỗi hạng người, dùng một lối riêng để làm vừa lòng họ.
    18. Khoé hạnh: Khoé mắt, mắt sắc như lá hạnh. Cả câu ý nói khi mắt liếc, khi mày đưa.
    19. Người soi: Người sành sỏi, lịch lãm, biết ngón chơi.
    20. Nét nguyệt: Nét lông mày hình vành trăng.
    21. Vẻ hồng: Vẻ mặt hồng.
    22. Trướng đào: Màn màu đỏ, phụ nữ thường dùng
    23. Lá gió cành chim: Lá đưa gió, cành đón chim, chỉ sự đưa đón khách chơi.
    24. Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh: Tống Ngọc người nước Sở, đời chiến quốc, đẹp trai, có những bài Cao đường phú, Thần nữ phú, nói về chuyện mây mưa của thần núi Vu Sơn... Tràng Khanh (chính là chữ Trưởng nhưng thường đọc là Trường hay Tràng): tự của Tư Mã Tương Như, người Hán, yêu sắc đẹp của Trác Văn Quân, gảy đàn cầm gợi tình, làm cho nàng đang đêm bỏ nhà chốn theo mình. Tống Ngọc và Tràng Khanh đều giỏi từ phú, là hai người tài tử, do đó, câu này ngụ ý khách đến chơi toàn những hạng phong lưu quý phái.
    25. Mưa Sở mây Tần: Chỉ sự ái ân trai gái.
    26. Gió tựa hoa kề: Ý nói những cảnh vui thú ở chốn thanh lâu.
    27. Tuyết ngậm: Bóng trăng tỏ soi khắp bốn bề. Hai câu 1241-1242 (Đòi phen gió tựa hoa kề. Nửa rèn tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu), tả bốn cảnh: gió, hoa, tuyết, trăng (phong, hoa, tuyết nguyệt). Kế tiếp là hai câu: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu? Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!. Đoạn này ý nói Thúy Kiều u sầu nên cảnh có đẹp mấy cũng buồn.
    28. "Đôi phen nét vẽ câu thơ. Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa" . Hai câu này tả bốn thú chơi: gẩy đàn, đánh cờ, ngâm thơ, vẽ tranh (cầm, kỳ, thi, hoa).
    29. Gió trúc mưa mai: Mưa gió chỉ sự ái ân (như nghĩa mưa gió dập vùi) trúc mai chỉ sự bạn. Đây tiếp ý trên: Kiều thờ ơ với tất cả những chuyện mưa gió, trúc mai.
    30. Giùi mài: Như nói mòn mỏi, thui thủi. Cũng có ý như là bị dập vùi.
    31. Bóng dâu: Bóng mặt trời xế trên ngọn dâu. Sách “Hoài nam nữ” nói: Mặt trời xế về phía phương Tây, gác bóng trên ngọn cây. Người sau mượn chữ bóng dâu để ví tuổi già.
    -----
    Poem Nguyen | Tiểu Thơ,
    Instagram: @poemypodcast
    11 min
  • 136_Truyện Kiều | Kiều ở Lầu Ngưng Bích _Hồi X (Câu 991-1122) | Nguyễn Du.
    “Trước lầu Ngưng Bích khóa Xuân” Khóa lại tuổi xuân của Kiều, khóa lại tất cả những ký ức tươi đẹp của Nàng, mà giờ đây chẳng thể chạm đến. Thời gian như ngừng trôi. Trời thu càng thêm não nề. Cuộc sống dường vô thường. Tâm trạng nàng hỗn độn tơ vò. Kiều nhớ Kim Trọng, nhớ Mẹ Cha. Nàng vẫn nuôi một khát vọng chốn khỏi nơi đây, chốn thanh lâu lạ lẫm, thị phi. Cũng vì thế mà mắc lừa Sở Khanh, nối tiếp những đoạn trường đâu đứt ruột.
    * Chú thích:
    1. Tiền Đường: Tên một con sông chảy qua gần Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).
    2. Hoa xuân đương lên nhuỵ, tức mới nở. Ý nói Kiều còn trẻ trung.
    3. Đá vàng: Chỉ lòng kiên trinh của phụ nữ
    4. Khoá buồng xuân: Khoá kín vẻ xuân trong buồng, như nói cấm cung.
    5. Đợi ngày đào non: Đợi ngày lấy chồng.
    6. Thần mộng: Lời báo mộng của quỷ thần (tức Đạm Tiên).
    7. Túc nhân: Nhân duyên có sẵn từ trước, như nói duyên số tiền định.
    8. Đãi đằng: Tiếng cổ, nghĩa là giãi bày. Ca dao: “Cá buồn cá lội tung tăng, Em buồn em biết dãi dằng cùng ai”. Ở đây đãi đằng có nghĩa là điều ra tiếng vào của những người khách chơi.
    8. Ngưng Bích. Tên cái lầu mà Tú Bà dành cho Kiều ở. Ngưng bích nghĩa là đọng (tụ) lại màu biếc.
    9. Chén đồng: Chén đồng tâm, tức chén rượu thề nguyền đồng tâm với nhau.
    10. Quạt nồng ấp lạnh: Quạt khi nồng, ấp khi lạnh, do chữ đông ôn hạ sảnh ở Kinh Lễ.
    11. Sân Lai: Sân Lão Lai. Theo sách Cao Sĩ truyện: “Lão Lai Tử, người nước Sở, đời Xuân Thu, tuổi đã ngoài bảy mươi, mà còn cha mẹ già, ông thường mặc áo ngũ sắc sặc sỡ, ra múa ở trước sân, rồi giả cách ngã, khóc, như trẻ con, để làm cho cha mẹ vui”. Đây nói bóng sân nhà cho mẹ, tức nhà mình.
    12. Gốc tử: Gốc cây tử (loài cây thị). Đây dùng chỉ cha mẹ, “gốc tử đã vừa người ôm” nói bóng cha mẹ đã già rồi.
    13. Duềnh: Vực sâu, vũng biển.
    14. Rèm châu: Rèm kết bằng ngọc châu
    15. Mạch: Dòng dõi.
    16. Bóng nga: Bóng người đẹp, chỉ Kiều
    17. Đeo đai: Vương vấn ra vẻ quyến luyến.
    18. Tông nguyệt trên mâyÝ nói có một phẩm giá khác đời, như Hằng Nga trong cung nguyệt hay tiên nữ trên cung mây.
    19. Lòng này ai tỏ cho ta, hỡi lòng: Chữ lòng ở đầu câu là Sở Khanh tự nói lòng mình còn chữ lòng ở cuối câu là Sở Khanh hỏi lòng Kiều, hai chữ chỉ riêng hai người.
    20. Song thu: Cửa sổ mùa thu (nói thời tiết khi ấy).
    21. Tiên mai: Do chữ mai tiên, tờ tiên có vẽ cành hoa mai.
    22. Tích việt: Chữ Hán được viết là 昔越. Chữ 昔 được chiết tự là 卄一日 (chấp nhất nhật). Chữ 越 chiết tự là 走戉 (tẩu việt), trong đó chữ 戉 tự dạng gần với 戌 (Tuất). Do vậy “tích việt” ám chỉ là giờ Tuất ngày hai mươi mốt thì chạy trốn. Đó là Sở Khanh bí mật hẹn ngày giờ đi trốn mà Kiều đã lấy ý tứ suy đoán ra.
    23. Tuất thì: Giờ Tuất, tức tám, chín giờ tối hiện nay.
    24. Ngậm trăng nửa vành: Ý nói buổi tối, vầng trăng chiếu vào hoa trà mi ngậm lấy nửa vành trăng.
    25. An cần: Ở đây có nghĩa là khẩn khoản.
    26. Bèo bọt: Như bèo hay bọt trôi nổi trên mặt nước, ngụ lý lưu lạc lẻ loi.
    27. Yến anh: Đây chỉ gái nhà chứa. Ý Kiều nói nàng như con chim lạc đàn, lại mang lấy cái nợ làm gái nhà chứa.
    28. Cốt nhục tử sinh: Chữ “Sinh tử nhục cốt”. Tả truyện: “Sở vị sinh tử cốt dã” (Thế gọi là làm sống lại người chết, làm mọc thịt nắn xương khô - làm cho người đã chết sống lại, xương đã khô mọc thịt ra). Do đó, người ta thường chỉ sự làm ơn rất sâu sắc, to lớn.
    29. Kết cỏ ngậm vành:Tả truyện: Nguỵ Thù nước Tấn, có tột người thiếp yêu, khi sắp chết còn dặn con là Nguỵ Khoả phải đem cả người thiếp chôn theo. Nguỵ Thù chết, Nguỵ Khoả cho người thiếp về không đem chôn theo. Sau Nguỵ Khoả làm tướng đi đánh giặc nước Tần, gặp tướng Tần là Đỗ Hồi, khoẻ mạnh có tiếng, đang lúc đánh nhau, tự nhiên Đỗ Hồi vấp phải đám cỏ mà ngã, bị Nguỵ Khoả bắt được. Đêm về, Nguỵ Khoả mộng thấy một ông già đến nói rằng: “Tôi là cha người thiếp, cảm ơn ông không chôn con gái tôi, nên tôi kết cỏ quấn chân Đỗ Hồi cho nó ngã vấp để báo ơn”.
    -----
    Poem Nguyen | Tiểu Thơ,
    Instagram: @poemypodcast
    9 min
  • 135_Truyện Kiều | Kiều bị Mã Giám Sinh lừa_Hồi IX (Câu 919-990) | Nguyễn Du.

    Sau một tháng ròng di chuyển đường xa vất vả, ngựa xe gập ghềnh đến tỉnh Sơn Đông, Thúy Kiều mới biết mình bị lừa bán cho chốn thanh lâu. Uất hận, nàng ko chịu phùng tùng theo lệnh của Tú bà và Nàng đã bị đánh đập dã man. Từ ra đi, Kiều coi như mình đã không còn nữa. Bị Mã Giám Sinh Làm Nhục, giờ lại bị bán vào thanh lâu. Trong nỗi uất hận đó Kiều đã quyết mình quyên sinh: 

    "Nàng rằng: Trời thẳm đất dày.

    Thân này đã bỏ những ngày ra đi! Thôi thì thôi có tiếc gì! Sẵn dao tay áo, tức thì giơ ra."
    * Chú thích: Truyện Kiều sử dụng khá nhiều từ cổ và điển tích. Bạn chịu khó xem chú thích để hiểu thêm về từng câu thơ và ý nghĩa của cả đoạn nha.
    1. Lâm Chuy: Tên huyện, thuộc tỉnh Sơn Đông.
    2. Xe châu: Xe có rèm hạt châu, thứ xe phụ nữ ngồi.
    3. Nguyên tiêu: Đêm tiết thượng nguyên, tức đêm ngày rằm tháng riêng đầu năm. Đây Tú bà khấn thần phù hộ cho cửa hàng lầu xanh của mụ, ngày lại đêm, lúc nào khách chơi cũng ra vào đông đúc, tấp nập như những ngày hội hàn thực nguyên tiêu.
    4. Tin nhạn: Tô Vũ người đời Hán đi sứ sang Hung nô không chịu khuất phục, bị chúa Hưng Nô đầy lên Bắc Hải chăn dê, nhà Hán hỏi thì bảo là chết rồi, sau sứ Hán phải nói thác là vua Hán săn được con chim nhạn ở vườn thượng lâm chân nó có buộc một bức thư lụa của Tồ Vũ gửi về, khi ấy Hưng Nô mới chịu trả lại Tô Vũ cho nhà Hán. Do đó, người ta thường nói “tin nhạn” để chỉ tin thư. ở đây, tác giả dùng như nghĩa “tin tức” đơn thuần.
    5. Hương hoả gia đường: Bốn chữ này nguyên chỉ nhà hay bàn thờ cúng gia tiên, đây tác giả dùng chỉ bàn thờ thần Bạch Mi.
    6. Cậu mày: Tức cha mày, chỉ Mã Giám sinh, Tú Bà bắt Kiều lạy nhận mụ là mẹ nuôi. Mã Giám sinh là cha nuôi.
    7. Tiểu tinh: Sao nhỏ, chỉ vợ lẽ.
    8. Tam bành: Theo sách Đạo giáo, trong người ta có ba thần thi: Thượng Thi, tên Bành Chất, ở bụng; Hạ Thi, tên Bành Kiệu, ở chân; thường làm hại người. Do đó, người ta cho rằng những sự hung ác giận dữ của người là do thần Tam Thi hay Tam Bành làm ra, và thường dùng chữ tam bành để chỉ cơn tức giận.
    9. Min: Tiếng cổ, nghĩ là Ta, tao.
    10. Bì tiên: Cái roi bằng da.
    11. Phong trần: Cõi đời gió bụi. Ý nói một nhát dao oan nghiệt cắt đứt quan hệ với cuộc đời phong trần tức là chết.
    Nguyễn Du không chia Truyện Kiều theo chương hồi, các nhà nghiên cứu văn học căn cứ vào nội dung Truyện Kiều cũng như diễn biến của Kim Vân Kiều Truyện - vốn là một tiểu thuyết chương hồi, để chia Truyện Kiều làm 22 chương để bạn đọc tiện theo dõi.
    -----
    Poem Nguyen | Tiểu Thơ,
    Instagram: @poemypodcast
    5 min
  • 134_Truyện Kiều | Kiều từ biệt Gia đình_Hồi VIII (Câu 803-918) | Nguyễn Du |.

    Hồi 8, Kể về nỗi uất hận của Thúy Kiều sau khi bị Mã Giám Sinh làm nhục, nàng nghĩ mà "Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình". Thực ra Thúy Kiều đã chuẩn bị sẽ quyên sinh ngay sau khi đến nơi Mã Giám Sinh, nhưng nghĩ đi nghĩ lại vì sợ liên lụy đến gia đình, nàng đành nhẫn nhục chịu đựng...

    Truyện Kiều sử dụng khá nhiều từ cổ và điển tích. Bạn chịu khó xem chú thích để hiểu thêm về từng câu thơ và ý nghĩa của cả đoạn nha.

    1. Mạt cưa mướp đắng: Điển tích từ chuyện cổ tích: Một người lấy mạt cưa làm cám, đợi lúc nhá nhem tối, đem ra chợ bán, lại gặp một người đem mướp đắng giả làm dưa chuột ra bán. Hai người bán lẫn cho nhau, thế là bợm lại mắc bợm. Đây nói Mã Giám Sinh và Tú Bà cùng là phường bịp.

    2. Đã lề: Ý nói đã thành nề nếp, đã quen nghề.
    3. Nghinh hôn: Đón dâu.
    4. Bẻ hoa: Phá trinh tiết của Kiều
    6. Biết hoa: Biết giá trị của hoa. Ý nói bọn làng chơi đã dễ mấy người phân biệt được gái tân với gái mất tân.
    7. Nước vỏ lựu, máu mào gà: Câu này ý nói đào tiên đã tới tay thì vin cành bẻ phắt đi cho thoả sự đời (chú thích 4).
    8. Lầu mai: Chòi canh về sáng.
    9. Còi sương: Tiếng tù và thổi lúc sớm tinh sương.
    10. Đoạn trường: Đứt ruột có nghĩa đau đớn quá (như dứt từng khúc ruột). Phân kỳ: chia đường, chia lìa mỗi người mỗi ngả như nói “chia tay”.
    11. Vó câu: Vó ngựa (câu: ngựa non đang sức lớn). Những chữ “khấp khểnh”, “ghập ghềnh” vừa tả con đường đi gồ ghề khó khăn, vừa ngụ ý thân thế Kiều đã long đong vất vả ngay từ lúc bước chân ra đi...
    12. Trường Đình: Đời Tần, Hán, người ta chia đường ra từng cung, cứ năm dặm là một cung ngắn, có một cái quán, gọi là “đoản đình” (quán ngắn) mười dặm là một cung dài, lại có một cái quán nữa gọi là “trường đình” (quán dài). Tục cổ, chủ thường tiễn khách ra khỏi mười dặm đường làm tiệc tiến hành ở trường đình rồi mới trở về.
    13. Thơ đào: Đây có nghĩa là con gái ít tuổi, ngây thơ.
    14. Tuần: Tuần rượu, mỗi chén rượu đôi bên cùng uống cạn là một tuần.
    15. Chén khuyên: Chén khuyên mời, đây là chén rượu tiến.
    16. Nghỉ: Nó, hắn, y, thổ âm Nghệ Tĩnh đây chỉ Mã Giám Sinh.
    17. Trước yên: Trước yên ngựa của Mã Giám Sinh.
    18. Nghìn tầm: Tầm là một đơn vị đo lường cổ của Trung Quốc, dài tám thước. Nghìn tầm: 8000 thước, nghĩa bóng là cao lắm.
    19. Tùng quân: Tùng là cây thông, một thứ cây cao lớn, thân thẳng và cứng cáp, mùa đông lá cây vẫn xanh tươi, trong văn cổ, thường dùng để tượng trưng cho người trượng phu. Quân là cây trúc, dóng thẳng đốt ngang, thân rỗng mà không cong queo, thường dùng để tượng trưng cho người quân tử.
    20. Cát đằng: Dây sắn, một loại day phải leo bám vào những cây to, người ta thường nói “cát đằng” “cát luỹ” hay “sắn bìm” để chỉ người vợ thiếp.
    21. Nhiệm trao: Ý nói số trời mầu nhiệm đã buộc sợi “xích thằng”.
    22. Gương nhật nguyệt: Gương mặt trời, mặt trăng. Chữ “gương” hàm ý soi tỏ tội lỗi. Dao quỷ thần: gươm dao của quỷ thần, hàm ý trừng phạt. Ý Mã nói: nếu sau này ăn ở không thuỷ chung, sẽ có trời soi tỏ tội lỗi và bị quỷ thần trừng phạt.
    23. Gió giục mây vần: Tả xe Kiều đi mau lẹ, vội vã.
    24. Lời non sông: Kiều thấy trăng mà nhớ đến cái “vầng trăng” đêm nào đã chứng kiến cuộc thề nguyện của hai người - Kim Trọng và Thúy Kiều.
    25. Thần hôn: Sớm hôm, chỉ sự sớm hôm chăm sóc thăm hỏi cha mẹ.

    Nguyễn Du không chia Truyện Kiều theo chương hồi, các nhà nghiên cứu văn học căn cứ vào nội dung Truyện Kiều cũng như diễn biến của Kim Vân Kiều Truyện - vốn là một tiểu thuyết chương hồi, để chia Truyện Kiều làm 22 chương để bạn đọc tiện theo dõi.

    -----
    Poem Nguyen | Tiểu Thơ,
    Instagram: @poemypodcast
    9 min
  • 133_Truyện Kiều | Trao Duyên_Hồi VII (Câu 695-802) | Nguyễn Du.

    Truyện Kiều sử dụng khá nhiều từ cổ và điển tích. Bạn chịu khó xem chú thích để hiểu thêm về từng câu thơ và ý nghĩa của cả đoạn nha.

    1. Dầu: Cũng như nghĩa đành (dầu lòng, đành lòng).

    2. Một lời thề nguyền. Ý Kiều nói số phận ra sao cũng đành, nhưng chỉ đau lòng là trót đeo đẳng lời thề với Kim Trọng.

    3. Trời Liêu. Ý nói Liêu Dương, Kim Trọng đang ở Liêu Dương xa xôi.

    4. Tái sinh. Một kiếp sống nữa, kiếp sau cũng như nói lai sinh.

    5. Hương thề: Nén hương để thề nguyền mà Kim Trong và Thúy Kiều đã nguyện ước khi hẹn hò.

    6. Nghì. Tức là chữ “nghĩa” được đọc chệch ra.

    7. Trúc Mai. Tình nghĩa bền chặt thân thiết như vậy cây trúc, cây mai thường được trồng gần nhau.

    8. Khối tình: Theo câu chuyện tình sử, xưa có một cô gái yêu một người lái buôn. Người lái buôn đi mãi chưa về, cô ta ốm tương tư mà chết. Khi hoả táng, quả tim kết thành một khối rắn, đốt không cháy, đập không vỡ. Sau người lái buôn trở về, thương khóc, nước mắt nhỏ vào khối ấy liền tan ra thành huyết.

    9. Tuyền đài: Nơi ở dưới suối vàng, tức nơi ở của người chết.

    10. Bàn hoàn: Ở đây có nghĩa là nghĩ quanh, nghĩ quẩn mãi không dứt.

    11. Giấc xuân: Giấc ngủ ngon lành.

    12. Nhẫn: Tiếng cổ, ngồi nhẫn là ngồi mãi suốt đêm.

    13. Giao loan: Tức thứ keo chế bằng máu chim loan. Tương truyền người xưa thường dùng để nối dây đàn và dây cung.
    14. Mối tơ thừa: Ví dây tơ tình với dây đàn, dây tơ tình bị đứt.
    15. Lời thề nguyền chỉ non thề bể của Kim Trọng và Thúy Kiều.
    16. Tờ mây: Tờ giấy vẽ mây, tức tờ giấy ghi lời thề nguyền của Kim, Kiều.
    17. Mảnh hương nguyền: Những mảnh gỗ thơm đã đốt dở trong cuộc thề nguyền của Kim, Kiều. Thời xưa, khi thề nguyền với nhau, người ta thường đốt hương.
    18. Bồ liễu :Một loại cây ưa mọc gần nước. Cây bồ liễu rụng lá sớm hơn hết các loài cây, vì cái thể chất yếu đuối đó nên trong văn cổ thường dùng để ví với người phụ nữ.
    19. Dạ đài: Đài đêm tối, nghĩa bóng là cõi chết.
    20. Trâm gãy bình tan: Thơ Bạch Cư Dị đời Đường: “Bình truỵ trâm chiết thị hà như, Tự thiếp kim triêu dữ quân biệt” (Cái cảnh bình rơi trâm gãy là thế nào? Nó giống như cảnh biệt ly của thiếp với chàng buổi sáng nay). Đây dùng chỉ cuộc tình duyên tan vỡ.
    21. Người tình, cũng như tình lang, chỉ Kim Trọng.
    22. Xuân huyên: Còn đọc là “thung huyên”, chỉ cha mẹ.
    23. Vựng: Cơn ngất, bất tỉnh nhân sự.
    24. Giọt hồng: Giọt nước mắt có máu, giọt lệ thảm.
    25. Tôi đòi: Kiều bán mình làm vợ lẽ nàng tự xem như kẻ ăn người ở.
    26. Mấy hồi: Mấy hồi trống tan canh.
    27. Quản huyền: Chính nghĩa là ống trúc và dây đàn, thường dùng chỉ đàn. Đây nói họ Mã đưa các đồ âm nhạc đến đón Kiều.
    28. Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm: Giọt lệ rơi xuống, có thể thấm qua cả đá, tơ ruột rút ra, có thể làm chết rũ cả con tằm.
    29. Trú phường: Chỗ phố trọ, nhà trọ.
    30. Xuân tỏa: Chữ xuân ở đây không phải là mùa xuân. Lúc Mã Giám Sinh đón Kiều là mùa thu: “Đêm thu một khắc một chầy”. Ở đây ví như Kiều là là mùa xuân bị giam trong phòng, nên là xuân tỏa.
    31. Thẹn lục e hồng: Lục và hồng là màu lá xanh, màu hoa đỏ thường dùng để chỉ sắc đẹp của phụ nữ.
    32. Đòi phen: Nhiều phen, nhiều lúc.
    33. Phẩm tiên: Của trên cõi tiên. Hèn hạ, tục tằn.
    34. Nắng mưa giữ gìn: Ý nói giữ gìn trinh tiết một cách thận trọng
    35. Nhị đào: Hoa đào còn phong nhị ví với người con gái còn trinh.
    36. Gió đông: Tiếp ý chữ nhị đào ở trên, ý nói: Không để cho người tình chung bẻ nhị đào, giống như ngăn đón gió đông không cho đến với nhị đào vậy và thà trao cho Kim Trọng, người tình chung.
    37. Gặp gỡ lần thứ hai, ý nói đến sau này lại gặp Kim Trọng.
    38. Yên: Cái án, một loại bàn cổ, chân cao, bề mặt hẹp và dài.

    Nguyễn Du không chia Truyện Kiều theo chương hồi, các nhà nghiên cứu văn học căn cứ vào nội dung Truyện Kiều cũng như diễn biến của Kim Vân Kiều Truyện - vốn là một tiểu thuyết chương hồi, để chia Truyện Kiều làm 22 chương để bạn đọc tiện theo dõi.

    -----
    Poem Nguyen | Tiểu Thơ,
    Instagram: @poemypodcast


    18 min

About Chuyện Của Thơ | Poemy Podcast

From the publisher's feed

Cảm ơn Bạn đã ghé Thơ Podcast.

More shows like Chuyện Của Thơ | Poemy Podcast

Kể truyện cổ tích và hát ru cho bé by Phan Huy Truong

Kể truyện cổ tích và hát ru cho bé

0 Listeners

Truyện Dài - Truyện Ngắn by Lộc Lá

Truyện Dài - Truyện Ngắn

2 Listeners

Đài Hà Nội | Lưu Hường Blog chiều | Podcast by Đài Hà Nội

Đài Hà Nội | Lưu Hường Blog chiều | Podcast

0 Listeners

Vietaudiobooks by Andrew Nguyen

Vietaudiobooks

0 Listeners