ĐỌC BÁO cùng Tada

ĐỌC BÁO cùng Tada

Download on the App Store

ĐỌC BÁO cùng Tada episodes

  • [ĐIỆN ẢNH] Cày đi cày lại phim cũ - Yêu thật nhiều, xem thật nhiều

    Xem đi xem lại một bộ phim hay loạt phim dài tập tưởng chừng như sẽ làm mất đi sự hấp dẫn mà chỉ lần đầu mới cảm nhận được, nhưng khoa học thần kinh lại chứng minh điều ngược lại. Người xem chẳng những không thấy chán mà còn thích thú và khoẻ ra. Cùng tìm hiểu trong bài viết của tác giả Phan Bảo trên tờ Tuổi trẻ cuối tuần số tháng 10.2024

    9 min
  • [VĂN HOÁ] Tầm nguyên cổ tích

    Lâu nay người ta vẫn tin rằng truyện cổ tích Grimm được anh em nhà Grimm thu thập từ lời kể của những người nông dân trên khắp nước Đức, và rằng những câu chuyện này mang đậm tinh thần dân tộc Đức. Tuy đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng không phải thế, những giả thiết mới vẫn dấy lên và lan truyền. Trong nhiều bản dịch sang tiếng Anh hay các lời dẫn nhập người ta rất ít đề cập đến cách thức anh em nhà Grimm đã dùng để tập hợp những truyện cổ tích. Vậy anh em nhà Grimm là ai? Những câu chuyện đó có xuất xứ từ đâu? Tại sao chúng lại nổi tiếng tới tận ngày nay. Lắng nghe bài viết của tác giả Nhật Vương trên Tuổi trẻ cuối tuần số năm 2021

    16 min
  • [VĂN HOÁ] Văn chương lục sắc ngày càng toả sáng

    "Văn chương lục sắc" - tạm gọi theo màu cờ biểu tượng của cộng đồng LGBTQ - đã có những biến chuyển ngoạn mục. Nhưng không ai dám gọi đây là thời hoàng kim.


    "Hãy chôn nhanh các nhân vật gay" (Bury your gay) từng là cách nói mỉa mai để chỉ mô típ quen thuộc trong văn chương và phim ảnh, trong đó các nhân vật LGBT (đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới) sớm muộn gì cũng "hết vai". Nếu "may mắn" hơn, họ cùng lắm cũng giữ vai phụ, cho có. Tất cả đang thay đổi, ít nhất là như giới xuất bản văn học quan sát thấy.


    Năm 2022, Here's to Us - tiểu thuyết lãng mạn về hai chàng trai trẻ - chạy quảng cáo trên hệ thống tàu điện ngầm ở New York. Cách đó 8 năm, khi nhà văn Alyssa Cole ngỏ ý với biên tập viên sẽ viết một truyện lãng mạn về hai người phụ nữ (trong ngành gọi là F/F), cô nhận được một cái gật đầu, cùng một lời cảnh báo. "Tôi không nói là cô đừng viết, nhưng F/F bán không được đâu" - Cole kể với New York Times.


    Đó là quãng 2013 hay 2014, và biên tập viên nọ đã đúng. Nhưng tác phẩm ra mắt năm 2022 của Cole, How to Find a Princess, với bìa sách là hai phụ nữ da đen tựa vào nhau, đường hoàng lên kệ khắp nước Mỹ. "Tiểu thuyết lãng mạng LGBT đang bùng nổ" - Shannon DeVito, giám đốc mảng sách tại Nhà xuất bản Barnes & Noble, nói trong cùng bài viết trên New York Times.


    "Văn chương lục sắc" - tạm gọi theo màu cờ biểu tượng của cộng đồng LGBTQ (thuật ngữ chung dùng để chỉ bất kỳ ai không định dạng bản thân là người dị tính) - đã có những biến chuyển ngoạn mục: không còn tự xuất bản online, cá nhân mà được các nhà xuất bản hàng đầu săn đón; không chỉ nhắm đến độc giả "thuộc cộng đồng" mà tất cả mọi giới; không xếp kệ riêng, tách bạch với văn chương "thông thường", mà có vị trí lộng lẫy trong các nhà sách lớn.



    Thay đổi kinh ngạc


    Vốn chỉ "lượm bạc cắc" với vài tiểu thuyết trước đó, Lana Popovic Harper vô cùng hào hứng khi có tới bảy đơn vị phát hành tỏ ý muốn xuất bản dự án mới nhất của cô năm 2021, tiểu thuyết Payback's a Witch, một câu chuyện lãng mạn về hai nữ phù thủy. Berkley, thuộc nhà xuất bản Penguin Random House, là đơn vị chiến thắng. Khi quyển sách ra lò, nó nhanh chóng thành bestseller.


    "Thật không tin được là người ta thật sự muốn thấy phù thủy queer" - cô nói. Queer là thuật ngữ bao trùm chỉ những người đồng tính hoặc không phải người hợp giới (cisgender, bản dạng giới giống với giới tính được ấn định khi sinh ra).


    Dykette - một câu chuyện hài lãng mạn về một người đồng tính nữ vô cùng tự ti tên Sasha - là một trong những tiểu thuyết đáng chú ý nhất năm 2023, cho thấy "cơn sốt dành cho tiểu thuyết LGBTQ ngày một nóng hơn đang làm thay đổi thế giới sách", như bình luận của NBC News.


    Chính tác giả của nó - nhà văn queer 25 tuổi Jenny Fran Davis - cũng bất ngờ với sự đón nhận này. "Quyển sách ra đời vào lúc chúng ta đang chứng kiến thời phục hưng của văn học đồng tính. Đang có một lớp độc giả sẵn sàng chấp nhận chúng với vòng tay rộng mở. Đây là sự đón nhận mà cách đây 5 năm tôi không nghĩ sẽ có ngày có được" - Davis nói.


    Nhà văn từng in tiểu thuyết đầu tay, thuộc thể loại YA (tuổi trưởng thành) năm 2017 chia sẻ thêm với NBC News: "Chỉ riêng nhan đề sách đã có thể khiến giới xuất bản phát khiếp cách đây 5 hay 10 năm. Giờ thì rõ là đang có cảm giác "mọi người muốn thứ này", và tôi tin giới xuất bản luôn tìm thứ mà độc giả muốn" - cô nói. 


    Dyke là tiếng lóng chỉ người đồng tính nữ, và Dykette, như Davis giải thích trong các cuộc phỏng vấn, là "một nàng lesbian điệu đà, yêu nơ, ruy băng và bèo nhún".



    Dykette, phát hành tháng 5-2023, nhanh chóng hòa vào mức tăng trưởng mạnh mẽ của tiểu thuyết LGBTQ đã kéo dài vài năm trước đó. Từ tháng 11-2022 đến 10-2023, 4,4 triệu bản sách tiểu thuyết LGBTQ được bán ra, tăng 7% so với cùng kỳ 12 tháng trước (trong khi tiểu thuyết nói chung giảm 3%) và đến 200% so với giai đoạn 11-2018 đến 10-2019 (tiểu thuyết nói chung chỉ tăng 27%), theo dữ liệu Circana BookScan cung cấp riêng cho NBC News.


    "Tiểu thuyết queer thì thời nào cũng có, nhưng điều thực sự làm nên sự khác biệt trong 5 năm qua là nó đã chuyển từ một lĩnh vực ngách sang thị trường chủ lưu" - Kristen McLean, phân tích ngành sách của Circana, nói.


    Theo cô và các chuyên gia khác trong ngành, sự vươn mình của văn chương lục sắc là kết quả của nhiều yếu tố, bao gồm sự cởi mở của độc giả trẻ tuổi đối với các vấn đề về giới tính và bản dạng giới; một thế hệ nhà văn mới khai thác đề tài queer; và có lẽ quan trọng nhất là sự trỗi dậy của BookTok - nội dung về sách trên TikTok trong thời đại dịch.


    Theo người trong ngành, từng có một giả định phổ biến rằng nếu bạn đang đọc một cuốn sách về người đồng tính thì chính bạn cũng là người đồng tính. 


    Giờ thì tệp độc giả đã mở rộng hơn, phần nhiều nhờ đề tài đa dạng của tiểu thuyết queer: từ lãng mạn tới giả tưởng, từ kỳ ảo đến trinh thám.


    Câu chuyện xuất bản


    Các nhà xuất bản cũng nhanh chóng đổi gu, thích ứng với thời cuộc. Trong một bài viết cho The Conversation hồi tháng 2, bộ đôi tác giả từ Đại học Colorado Boulder - phó giáo sư báo chí Christine Larson và nghiên cứu sinh tiến sĩ báo chí Ashley Carter, cho rằng trước đây trong tiểu thuyết lãng mạn từ các nhà xuất bản lớn của Mỹ chỉ có các cặp đôi dị tính; giờ thì năm đơn vị lớn nhất (Hachette, HarperCollins, Macmillan, Penguin Random House và Simon & Schuster) thường xuyên phát hành chuyện tình đồng giới.


    Lý do: các đơn vị lớn bắt đầu khai thác muộn màng một thị trường mà họ từng chê nhỏ và ngó lơ từ lâu. Ngành sách trước đây vốn ăn chắc mặc bền, áp dụng mô hình kinh doanh "một cho tất cả" - bán một tựa sách có khả năng tiếp cận đông đảo độc giả, thay vì "ai cũng có phần" - đa dạng đầu sách để phục vụ nhiều nhóm người đọc nhỏ hơn. 


    Muốn chuyển đổi, "lấy lại những gì đã mất", các đại thụ trong ngành sách in giờ phải nhìn sang các đơn vị xuất bản độc lập, trực tuyến để học cách khai thác cơn sốt văn học queer.


    Năm 2023, Catapult Publishing thắng lớn khi phát hành hai quyển tiểu thuyết tì...

    12 min
  • [SỨC KHOẺ] Khi bệnh nặng nhẹ tuỳ giới tính

    Xuất phát từ thực tế nhiều nam giới thường có các triệu chứng nhiễm cúm như mệt mỏi, nghẹt mũi, ho sốt kéo dài và có phần nặng nề hơn so với nữ giới, tiếng Anh có thuật ngữ "man flu" mang hàm ý châm biếm rằng nam giới không đối phó tốt và mạnh mẽ với bệnh tật bằng phụ nữ. 

    Bài viết của Phạm Hằng trên Tuổi trẻ cuối tuần số tháng 10.2024

    12 min
  • [KÝ SỰ] Siêu bão Yagi - những ký ức không quên. Phần 4: Vực dậy

    Vực dậy sau bão

    Nhìn lại hai tuần sau bão, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh - Cao Tường Huy đánh giá, Yagi đã gây ra thảm họa chưa từng có tại địa phương.

    "Sau hôm bão, Quảng Ninh như trở về thời kỳ cách đây 50 năm. Trồng rừng, thủy sản, du lịch đều mất trắng", ông Huy trầm giọng nói.

    Trước bão, tỉnh đã bám sát các chỉ đạo, dự báo, nhưng sức tàn phá của Yagi "vượt quá sức chịu đựng" của cơ sở hạ tầng. Các công trình và khu neo đậu tàu thuyền được thiết kế chỉ có khả năng chống chịu bão cấp 12, trong khi Yagi đổ bộ với sức gió cấp 14.

    "Trước thiệt hại về nhân mạng, nhiều người hỏi tại sao không bắt buộc tất cả thuyền viên lên bờ để tránh bão. Chúng tôi muốn lắm, nhưng theo Luật Hàng hải Việt Nam, thuyền viên phải ở lại trên tàu để ứng cứu khi bão đến", ông Huy giải thích. "Tuy nhiên, cơn bão quá thảm khốc, neo tàu bị giật tung hết, tàu thuyền trôi dạt khắp nơi".

    Sau bão, 99% người dân Quảng Ninh mất điện, mất nước, và 100% mất liên lạc. Huyện Bình Liêu là nơi đầu tiên mất kết nối. Bí thư huyện phải mượn máy chuyên dụng của quân đội để báo cáo về tỉnh. Các bệnh viện gặp khó khăn do thiệt hại cơ sở vật chất và thiếu nước cứu chữa bệnh nhân.

    Theo Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp, Yagi là cơn bão có cường độ mạnh nhất trong 30 năm qua trên Biển Đông và 70 năm qua trên đất liền Việt Nam. Hoàn lưu bão gây ra lượng mưa lớn trên diện rộng, dẫn đến lũ lụt tương đương với trận lũ lịch sử năm 1971 ở đồng bằng sông Hồng. Địa hình dốc, không có chỗ phân thủy đã khiến toàn bộ nước mưa đổ dồn xuống sông suối, gây ra lũ quét và sạt lở đất không thể lường trước.

    Trước cơn bão lịch sử, lần đầu tiên Bộ Chính trị chỉ đạo các cấp, các ngành vào cuộc ngay trong bão, thay vì sau bão như những năm trước. Hơn 450.000 bộ đội, công an đã được huy động, giúp di dời 150.000 người dân trên đất liền và hơn 50.000 người dân ven biển - quy mô di dời chưa từng có.

    "Nhiều quyết định chưa có tiền lệ đã được đưa ra trong quá trình phòng chống bão Yagi. Chúng ta đã nỗ lực nhưng thiệt hại vẫn rất lớn. Nhưng tôi phải nói thêm rằng nếu không có sự chỉ đạo quyết liệt, không biết chuyện gì có thể xảy ra", Thứ trưởng Hiệp nói.

    11 min
  • [GIÁO DỤC] Đại học nào giá rẻ?

    Bài viết trên VNexpress của David Pickus

    Trên khắp thế giới, không riêng gì Việt Nam, có điều gì đó đang xảy ra với các trường đại học, khiến công chúng phải quan tâm.

    Đây không phải là vấn đề khác biệt quan điểm gây ra những tranh cãi, mà là chuyện chúng ta sẽ chuẩn bị như thế nào để các thế hệ tiếp theo có thể đóng góp tốt nhất cho sự phồn vinh của thế giới.

    Kinh tế ngày một phát triển sôi động và phức tạp, đòi hỏi phải chuẩn bị lực lượng lao động trình độ cao tương ứng. Dù như vậy không có nghĩa là cần khuyến khích tất cả các bạn trẻ vào đại học, đặc biệt là vào các trường đắt đỏ, đào tạo đại học vẫn rất cần thiết. Khi tỷ lệ sinh đang giảm mạnh trên toàn cầu, chúng ta cần trang bị tốt hơn cho một số lượng trẻ em ít hơn trong tương lai.

    Vì vậy, các trường đại học cần mở rộng, theo nghĩa trở nên dễ tiếp cận, với chi phí phải chăng cho số đông, đồng thời cung cấp nhiều chương trình hơn nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.

    Các trường đại học ở Việt Nam thì không chỉ cần mở rộng, mà còn cần phát triển về chiều sâu.

    Để tôi giải thích. Con người có thể học từ sách vở, nhưng kiến thức không giống như các chương của một cuốn sách, chương này tiếp nối chương kia. Kiến thức đi từ giai đoạn này đến giai đoạn khác, tính phức tạp tăng dần. Điều này dễ nhìn thấy nhất trong lĩnh vực công nghệ. Sự phát triển của công nghệ không chỉ là thêm các bộ phận, mà là sử dụng cỗ máy cũ làm nền tảng để xây dựng cỗ máy khác, mới và tốt hơn.

    Về mặt kinh tế, giáo dục đại học sẽ ngày càng đắt đỏ hơn. Nhất là khi sinh viên cần được tiếp cận công nghệ hiện đại. Như thế, chi phí đầu tư không chỉ lớn mà còn cần phải liên tục.

    Kết quả của "quá trình phát triển sâu và rộng" là tất cả những người liên quan đều phải đối mặt với tình thế đầy mâu thuẫn. Giáo dục đại học phải phổ cập, học phí không quá đắt. Nhưng nhà trường lại cần nâng cấp, trang bị hiện đại. Làm thế nào để đáp ứng những điều này cùng lúc?

    Tôi có ba nguyên tắc áp dụng cho các tình thế khó. Tất cả xoay quanh thực tế rằng, trong những tình huống này, dù chọn gì, bạn cũng không tránh được khó khăn.

    Thứ nhất, đừng né tránh, phải chấp nhận thực tế: không có lựa chọn dễ dàng. Thứ hai, một khi đã chọn, đừng cứ thế mà lao đi, phải liên tục đánh giá lại. Cuối cùng, tình thế khó không hẳn là điều tệ hại, đối mặt và vượt qua là cách nhanh nhất để ta tiến bộ.

    Với quan điểm này, bước đầu tiên là xem xét việc không nên làm. Theo tôi, các trường đại học ở Việt Nam không nên giải quyết tình huống theo cách đang diễn ra ở Mỹ. Vì tình hình ở Mỹ quá khác biệt. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn có thể học hỏi một số điều bằng việc xem xét kỹ tại sao phương pháp của Mỹ lại không phải là lựa chọn cho Việt Nam.

    Trong nhiều thập kỷ, các trường đại học ở Mỹ tăng doanh thu bằng cách mở rộng quy mô. Họ xây thêm các tòa nhà, nới rộng khuôn viên, nhận nhiều sinh viên hơn và tăng học phí. Những phương thức này giúp họ có kinh phí đầu tư vào công nghệ mới và mở rộng chương trình đào tạo.

    Ngoài ra, nhiều trường có điều kiện rất thuận lợi về nguồn tiền bởi hai lý do. Thứ nhất, vay tiền để trang trải học phí là chuyện bình thường ở Mỹ. Thứ hai là những đại học hàng đầu, như Harvard - với lịch sử thành lập từ năm 1636 - có tiềm lực đủ mạnh và uy tín đủ lớn để vay vốn dễ dàng. Họ có thể huy động tiền theo cách mà rất ít trường đại học trên thế giới làm được.

    Rõ ràng cách thức này không hiệu quả ở Việt Nam. Tôi cũng không chắc nó còn tiếp tục hiệu quả ở Mỹ hay không. Giới trẻ và các gia đình ở đây đang còng lưng vì nợ, do học phí đã rất cao và còn tiếp tục tăng. Nhiều trường đại học nhỏ cũng đang rơi vào khủng hoảng tài chính. Điều mà tôi biết rõ là các quốc gia bên ngoài không thể đơn giản sao chép mô hình của Mỹ và mong đợi thành công.

    Vậy các trường đại học ở Việt Nam nên làm gì?

    Mô hình của Mỹ có giá trị tham khảo nhất định. Nó cho ta biết rằng không nên lập tức theo đuổi các mục tiêu lớn và tìm cách đạt được nhiều thành quả cùng lúc. Vì vậy, cần đặt lại câu hỏi: Nếu phải tiến từng bước một, thì các trường đại học ở Việt Nam nên làm như thế nào?

    Bất kỳ giải pháp nào cho vấn đề này đều sẽ luôn tạo ra những vấn đề mới. Các trường đại học được chia thành nhiều khoa. Sẽ rất rủi ro nếu áp dụng chung một chương trình lớn, bao quát, nhằm nâng cao nhanh chóng chất lượng của toàn trường. Thay vào đó, nên chọn một số chương trình có khả năng thu hút đầu tư và sớm tạo ra doanh thu. Những dự án này sẽ đóng vai trò như các "start-up" nội bộ, giúp trường đại học phát triển dần.

    Giống như bất kỳ tổ chức nào khác, ngay cả khi bất ngờ nhận được một khoản đầu tư lớn (điều không dễ xảy ra), trường đại học cũng sẽ phải đáp ứng nhiều cam kết, đến độ chỉ có thể dành một phần rất nhỏ cho lĩnh vực mà trường muốn phát triển. "Một bước tiến, một bước lùi" là điều thường xảy ra. Để phá vỡ vòng lặp này, cách quen thuộc là áp dụng hệ thống học phí khác biệt. Giống như cùng vào một nhà hàng, khách sẽ chi trả khác nhau tùy vào món họ gọi, việc thu học phí cao hơn với các khoa đầu tư công nghệ lớn có thể hữu ích.

    Mặt trái của giải pháp này là sẽ khắc sâu thêm sự phân biệt trong cấu trúc học phí. Nếu các chương trình có giá trị trở nên quá đắt đỏ với sinh viên bình thường thì cuối cùng, nhiều bên sẽ chịu thiệt. Vậy tôi muốn nhắc lại, áp dụng hệ thống học phí khác biệt không phải là xấu nhưng cần khôn ngoan và linh hoạt. Để làm được như thế, cần nhiều nỗ lực nghiên cứu tác động của học phí đến sinh viên và tìm cách giúp đỡ các tài năng có hoàn cảnh khó khăn.

    Cuối cùng, nếu học phí và các nguồn thu mới vẫn chưa đủ để đầu tư vào công nghệ, trường học có thể cân nhắc hợp tác với doanh nghiệp. Nhưng một lần nữa, điều này cũng tạo ra tình thế khó. Trường học cần hướng đến phục vụ toàn thể công dân, không một nhóm nhỏ nào nên có quá nhiều quyền lợi trong việc điều hành trường. Trong khi doanh nghiệp, để đổi lấy khoản đầu tư của mình, sẽ luôn muốn có quyền kiểm soát đối với cách sử dụng nguồn vốn. Với xung đột này, không có công thức duy nhất đúng để chỉ ra chính xác bạn phải làm gì. Nhưng sẽ ít mạo hiểm hơn nếu việc hợp tác diễn ra trong ngắn hạn, với những kỳ vọng rõ ràng từ cả hai phía. Nhìn chung nên tập trung vào những lĩnh vực hoặc kỹ năng mà doanh nghiệp thực sự cần và nhà trường có khả năng cung cấp.

    Tôi chưa đề cập đến đầu tư của chính phủ. Bởi chi nhiều vốn công cho một lĩnh vực đồng nghĩa với việc phải cắt giảm ở lĩnh vực khác, hoặc tạo ra các thách thức về thuế hay thâm hụt ngân sách. Nhìn chung, các chính phủ chỉ tăng đầu tư cho những chương trình giáo dục đã hình thành và hoạt động hiệu quả. Tôi nghĩ, phương án này nên để cuối cùng.

    Những giải pháp tôi đưa ra ở đây đều sẽ mất rất nhiều thời gian. Nhưng cũng không có cách nhanh chóng nào để tăng doanh thu trường đại học, ít nhất là không có cách nhanh chóng nào khả thi và bền vững. Bước từng bước nhỏ, chậm và chắc, kết hợp với việc kiểm tra lại thường xuyên là cách an toàn nhất để tiến tới.

    Tôi khuyến khích mọi người tham gia tranh luận và đề xuất những ý tưởng tốt hơn. Vấn đề này quá khó để bất kỳ cá nhân riêng lẻ nào đưa ra một bộ giải pháp đúng đắn mọi khía cạnh. Nhưng việc của thế hệ trước là tạo ra nền tảng và cơ hội giáo dục tốt nhất có thể cho thế hệ sau. Dù cần thận trọng, bắt tay vào hành động ngay vẫn tốt hơn sự chần chừ.

    David Pickus

    9 min
  • [KÝ SỰ] Siêu bão Yagi - những ký ức không quên. Phần 3: Cứu đập


    Tối 8/9, một ngày sau khi bão Yagi quét qua miền Bắc, hồ thủy điện Thác Bà vẫn yên bình. Mực nước vẫn thấp hơn mức trung bình khoảng 0,5 m. Hai cửa xả mặt đã được mở trước để đón lũ, giúp lượng nước xả ra gấp đôi so với nước về hồ. Dòng sông Chảy thanh bình như suốt 53 năm kể từ khi công trình thủy điện này được xây dựng.
    Tuy nhiên, lúc 23h, tình hình chuyển biến căng thẳng. Dòng lũ tăng nhanh từ 500 lên 1.310 m³/s.
    "Hai tiếng tiếp theo, lũ tăng chóng mặt", ông Nguyễn Văn Quyền, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần thủy điện Thác Bà, kể lại. "Trong 38 năm làm việc tại đây, tôi chưa từng chứng kiến điều gì như vậy".
    Dự lệnh phá đập Thác Bà
    Chỉ số lũ trên màn hình theo dõi "tăng nhanh như đồng hồ đếm giây". Đến 1h sáng, lưu lượng lũ đã đạt 4.305 m³/s, vượt qua ngưỡng thiết kế tối đa là 3.000 m³/s và khả năng xả lũ của hồ là 3.200 m³/s.
    Tình hình nguy cấp, ông Quyền lập tức báo cáo Cục trưởng Quản lý Đê điều và Phòng chống thiên tai, xin phép mở cửa xả mặt thứ ba nhằm giảm mực nước trong hồ.
    Được chấp thuận mở cửa xả lúc 6h, ngay trong đêm, hai xe gắn loa phóng thanh chạy dọc bờ sông hạ du thông báo người dân di tản. Trời vừa hửng sáng, ba cửa xả của Thác Bà đồng loạt mở, nhưng cũng chỉ đạt công suất 2.600 m3/s - ít hơn lượng về hồ hơn 400 m3/s. Mực nước hồ vẫn tăng 3 cm mỗi giờ.
    Tình hình trở nên tồi tệ hơn trong ngày 9/9 khi mưa vẫn trút xuống thượng lưu sông Chảy.
    2h sáng 10/9, lưu lượng nước lũ đã tăng tới gần 5.000 m³/s, bước vào cảnh báo cấp một.
    9h, lũ sông Thao lên tới hơn 87 m, vượt kỷ lục tồn tại 53 năm. Lượng nước về hồ đạt cực đại 5.620 m3/s - gấp đôi mức thiết kế ban đầu. Hồ chuẩn bị lên mức báo động hai khi đạt 59,65 m.
    "Lượng nước về hồ lúc này đã vượt đỉnh lũ thiết kế khi xây dựng năm 1971 của công trình với tần suất 10.000 năm mới có một lần", ông Quyền kể. "Lúc này, thủy điện rơi vào tình cảnh nguy nan chưa từng có. Nếu nước tiếp tục đổ về với lưu lượng như thế, chỉ 12 tiếng sẽ lên mức 61 m, đập chính có thể vỡ, gây ra thảm họa cho hạ lưu".
    10h sáng cùng ngày, đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tức tốc từ Hà Nội lên Thác Bà. Sau khi cân nhắc nhiều phương án, lựa chọn cuối cùng là phá đập phụ số 4 tại huyện Yên Bình để cứu đập chính.
    Bộ NNPTNT họp bàn phương án phá một đập phụ với công ty và chính quyền địa phương. Ảnh: Công ty thuỷ điện Thác Bà
    Trong lúc Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp xin ý kiến Thủ tướng, huyện Yên Bình chủ động sơ tán hơn 3.000 hộ dân, hoàn thành trước 10h ngày 11/9.
    "Thủy điện Thác Bà ngàn cân treo sợi tóc", Thứ trưởng Hiệp kể. "Nếu đập chính vỡ, 3 tỷ m3 nước từ hồ Thác Bà sẽ tràn xuống sông Chảy, ra sông Lô, mực nước tại Yên Bái tăng thêm ít nhất 3 m. Như vậy thì tàn phá rất khủng khiếp".
    Thủ tướng ngay lập tức họp với các tỉnh liên quan, chỉ đạo di dời hơn 10.000 dân trong 4 tiếng. Các địa phương xung quanh được lệnh giảm bớt lượng nước xả trên các hồ. Đập số 4 sẽ phá nếu mức nước hồ tăng lên 61 m trong chiều 11/9.
    "Công tác chuẩn bị đã được UBND tỉnh phối hợp với Quân khu 2 và Sư đoàn 316 thực hiện theo kế hoạch. Đập số 4 được bảo vệ nghiêm ngặt", ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó tổng giám đốc Công ty Thủy điện Thác Bà thuật lại.
    Cuộc họp giữa UBND huyện Yên Bình (Yên Bái), Công ty Thuỷ điện Thác Bà và các xã, thị trấn về quyết định di dân hạ du trước phương án phá đập, đêm 10/9. Nguồn: Công ty Thuỷ điện Thác Bà
    May mắn, 5h sáng 11/9, lưu lượng nước về hồ đã giảm xuống còn 3.570 m³/s.
    "Nhìn nước về hồ giảm, tôi và hàng trăm con người ba đêm thức trắng ở thủy điện Thác Bà thở phào. Có lẽ ông trời thương nên dự lệnh phá đập phụ đã không trở thành động lệnh", Giám đốc Công ty Thủy điện xúc động nói.
    Dù tình hình tại Thác Bà và các đập thủy điện còn lại được kiểm soát, lượng mưa như trút từ hoàn lưu bão Yagi cùng nước lũ đổ về từ thượng nguồn vẫn khiến hạ du chìm trong đợt ngập lụt chưa từng thấy trong hơn 5 thập kỷ.
    Hạ du ngập lịch sử 53 năm
    Một tuần sau bão, toàn miền Bắc căng mình chống chọi với thiên tai bủa vây. Trong khi thượng nguồn các sông hứng chịu lũ quét, sạt lở và nỗi lo vỡ đập, ngập lụt lan rộng khắp các tỉnh hạ nguồn.

    Là trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, Thủ đô Hà Nội nằm ở hạ nguồn của lưu vực sông Hồng - Thái Bình. Những ngày sau bão, lượng mưa lớn khiến mực nước thượng nguồn tất cả sông đều lên ngưỡng báo động ba, mức cao nhất trong thang báo động lũ. Thuỷ điện Thác Bà và Tuyên Quang - 2 trong 4 hồ chứa lớn nhất sông Hồng - phải mở toàn bộ cửa xả.
    17h ngày 11/9, mực nước sông Hồng tại Hà Nội chỉ còn dưới báo động ba 28 cm. Những bãi hoa màu trù phú ven sông bị ngâm trong dòng nước đục phù sa. Nước tràn vào nhiều khu dân cư gần chân cầu Long Biên, ngập đến nửa mét.
    Anh Tiến, chủ một vườn đào Nhật Tân, nhìn xuống vườn nhà từ trên cầu, chỉ còn thấy màu nước nâu bùn phủ khắp. "Vườn đào cả gia đình dày công chăm sóc suốt 8 năm coi như bỏ", anh nói.
    Mãi đến chiều 13/9, lũ mới bắt đầu rút. Những cây đào dần lộ trên mặt nước, trơ trụi, chỉ còn thân cây, lá đã nhuộm bùn, khô dần dưới nắng. Không đi ủng, cũng chẳng buồn xắn quần, anh Tiến lội chân trần vào vườn đào nhầy nhụa bùn non.
    Một tuần sau bão Yagi, làng đào Nhật Tân ven sông Hồng, dưới chân cầu Nhật Tân (phường Nhật Tân, quận Tây Hồ) trở nên xơ xác. Những gốc đào chuẩn bị cho Tết Nguyên đán bị nước lũ nhấn chìm sâu 3-4 m. Ảnh: Ngọc Thành
    Một tuần sau cơn lũ lịch sử, anh Tiến vẫn cố cứu những gốc đào còn hy vọng sống. Ở mép vườn, hàng tấn lục bình từ sông tấp vào, phủ kín thân đào, có đoạn cao quá đầu người. Cả nhà hì hục kéo từng mẻ lục bình ra mép nước, đẩy ra sông. Cả tiếng đồng hồ, không ai nói với nhau lời nào.
    "Ở làng này, nhà nhiều thì hàng nghìn gốc, nhà ít cũng vài trăm, thiệt hại đâu riêng nhà mình", anh Tiến rít một hơi thuốc lào, nói lúc nghỉ ngơi. Việc dọn dẹp, chặt cành, đốt gốc, làm lại đất sẽ mất cả tháng, tốn hàng trăm triệu đồng. Mỗi cành đào huyền thân to bằng cổ tay có thể bán được 2-3 triệu đồng nếu hoa nở đúng dịp Tết, nhưng giờ tất cả đã tan tác.
    Anh Nguyễn Văn Tiến, 35 tuổi, thôn Bắc, cụm 4, phường Nhật Tân (quận Tây Hồ, Hà Nội) trước khu vườn gần một ha trồng 1.000 cây đào bị chết do lũ, tháng 9/2024. Ảnh: Nguyễn Đông
    Cơn lũ lịch sử đã biến cả cánh đồng dưới chân cầu Nhật Tân thành bãi hoang. Trong ký ức của người Hà Nội, trận lũ năm nay gợi lại trận lụt lịch sử năm 1971. Nhưng khác trước, giờ đây diện tích trồng đào ở Nhật Tân đã lên đến 78 ha, phần nửa tan hoang sau lũ.
    Cạnh làng đào Nhật Tân, 70% diện tích trồng quất của người dân làng Tứ Liên (quận Tây Hồ) cũng bị...

    11 min
  • [VĂN HOÁ] Làm lành với Hà Nội


    Năm 1948, cuộc kháng chiến chống Pháp đã trải qua hai năm. Đông đảo người
    Hà Nội đã tản cư về các vùng nông thôn và lên chiến khu.



    Gặp một ông hàng phở tản cư ở Việt Bắc, Nguyễn Tuân nhớ: "Bấy giờ là mùa hè 48. Nắng lắm. Thèm cái bóng me và sấu lùm buổi sớm của dốc Hàng Kèn, những giờ đi đả phở tập thể" ("Người Hà Nội đi kháng chiến", báo Văn Nghệ số 15-16, tháng 10-1949).

    Tôi nhớ đến chuyện đó khi tham dự Liên hoan văn học châu Á ở Gwangju (Hàn Quốc). "Hồ sơ" văn chương của tôi là nhà văn viết về đề tài Hà Nội, bắt mạch với chủ điểm "Những tương lai cổ xưa: Câu chuyện của truyền thống và hiện đại" trong loạt chương trình do Trung tâm văn hóa châu Á tổ chức.


    Tôi được người chủ trì phiên tọa đàm, nhà phê bình văn học Ko Myeungjo, người đã từng tới Hà Nội, hỏi về sự tiếp nhận những sự đổi thay của Hà Nội của mình ra sao? Tôi có tiếc nuối không?

    Tôi bắt đầu trả lời bằng cách liên hệ với Gwangju. 


    Vốn được biết đến như là một địa điểm lịch sử của phong trào đấu tranh dân chủ chống chế độ độc tài quân sự trong thập niên 1980, giờ đây Gwangju chuyển mình thành một trung tâm triển lãm và giao lưu văn hóa lớn không chỉ của Hàn Quốc mà còn tham vọng vươn ra châu lục. 


    Gwangju nổi tiếng vì một "truyền thống mới" nhưng 44 năm kể từ cuộc nổi dậy 18-5-1980, thành phố đã nỗ lực đi tìm một câu chuyện mới để kể. Họ không muốn người ta biết đến Gwangju chỉ có vậy. 


    Một trong những cách đó, là họ mời các nghệ sĩ, nhà văn khắp nơi đến trình bày những câu chuyện của thế giới đa dạng.

    Câu hỏi của nhà phê bình văn học Ko Myeungjo khiến tôi nhận ra về mặt tư duy truyền thông văn hóa, các chủ đề của Hà Nội vẫn như bị mắc kẹt ở việc diễn giải các giá trị quá khứ.


    Những người thực hành văn hóa ở Hà Nội chưa có một hệ sinh thái chuyện kể mới hiện diện trên truyền thông. Trăm lần như một, Hà Nội cứ là phở, ngõ nhỏ phố cũ, nhà tập thể, quán nước vỉa hè... 


    Tôi từng yêu cầu một vài phóng viên đến phỏng vấn về "vẻ đẹp" của sinh hoạt buôn bán vỉa hè và hàng quà rong, cần thay đổi cách tiếp cận. 


    Có một quán tính hay sự lười biếng nào đó trong lối diễn giải giá trị của Hà Nội. Nói đâu xa, chính tôi từng thích nói và viết kiểu ấy, vì nó khớp với những trải nghiệm đã có về một Hà Nội nhiều phần chấp nhận hoàn cảnh: 


    "Cái thành phố lam lũ mà chải chuốt. Cứng cỏi mà đau xót. Hay nhớ và hay quên" (Viết lại một bài thơ Hà Nội - Lưu Quang Vũ).

    Vấn đề là các hình thức như vậy tựa như lớp bọt sóng phù du, không rõ đóng góp bao nhiêu vào các thiết chế cơ sở hạ tầng lẫn định chế vận hành đô thị. 


    Chính tôi cũng từng nghĩ các hình thức sinh hoạt như vậy phản ánh sự mềm hóa các quy trình hoạt động của đô thị và sự linh hoạt của một đời sống văn hóa năng động mà vẫn bảo lưu một kiểu sống đậm nét cộng đồng, làm thành một bản sắc riêng của Hà Nội.

    Khi đọc những cuốn sách của hai tác giả cùng tham gia liên hoan văn học từng được lọt vào chung khảo Man Booker International là Wu Ming-Yi (Đài Loan) và Eka Kurniawan (Indonesia), tôi có một thao tác là kết nối khung cảnh những tác phẩm của họ với thực địa đất nước họ mà tôi đã ghé thăm. Tôi không ngạc nhiên vì dữ liệu quá khứ đầy ắp trong các cuốn sách.


    Đó là những quá khứ không thật sự dễ chịu và ngăn nắp theo mô hình quy hoạch lý tính. 


    Vì sao tôi lại thấy thích ngay, như cuốn Nhà ảo thuật trên cầu bộ hành, tập truyện ngắn vừa mới dịch ra tiếng Việt, mà khi tôi xin chữ ký, Wu Ming-Yi đã bất ngờ vì đã có quá sớm? 


    Vì các câu chuyện gợi nhớ đến Hà Nội, trong cách tác giả xâu chuỗi và phục hồi lại các ký ức rời rạc về đô thị.

    Hay tại bởi sống ở Hà Nội cũng dễ chịu biếng lười theo kiểu của nó mà người viết như tôi chẳng hạn không có thôi thúc bên trong để vượt khỏi vùng an toàn của mình?


    Nhưng có một câu chuyện khác. Khi mạng xã hội trở nên phân mảnh nhiều hơn, các ý kiến về Hà Nội cũng đẩy tới các giới hạn: ca ngợi thì ca ngợi quá, tô vẽ đến phi thực, tô vẽ bằng cả lời mô tả đầy khuôn sáo lẫn các hình ảnh được chỉnh sửa quá đà; chê bai thì cũng hết nhẽ, có khi lấn sân sang lăng mạ người sống ở Hà Nội. 


    Tôi ngao ngán và bị tổn thương, dù biết rằng ngôn ngữ mạng xã hội không phản ánh hết tâm thế xã hội ở đời thực.


    Điều đó cũng có vẻ có lý. Nhưng tôi nhận thấy mình rất dễ nghĩ đến Hà Nội khi đi xa. Ngay chính tôi, cũng đã nhắc tới văn Nguyễn Tuân và thơ Lưu Quang Vũ, hai tác giả đã làm nên chân dung Hà Nội một thời. 


    Tôi hiểu lý do mình dễ nói về những màu sắc và đường nét nhiều hoài niệm của bức chân dung ấy, là bởi nó dễ chạm vào cảm xúc đã được bồi đắp bằng ký ức. 


    Trong cuộc tọa đàm, khi nhà thơ Mông Cổ Ulziitugs chia sẻ câu chuyện về việc viết những câu thơ sau sự ra đi của người mẹ, tôi cũng nói về việc mình muốn viết cuốn tiểu thuyết về người cha quá cố của mình như một cách làm lành với quá khứ. 


    Khi ông còn sống, tôi chỉ biết ông như một người cha chức năng với những phận sự thuần túy mà không biết đến thế giới tâm hồn của ông. Tôi cảm thấy rất khó để nói chuyện quá ba câu với ông, băn khoăn tự hỏi liệu ông có điều gì buồn nản ở tôi chăng? 


    Nếu có đôi lúc ông hé mở thì tôi cũng đã không đủ đồng cảm để đi sâu hơn. Nhưng ông là người đã chở tôi đi vòng quanh Hà Nội trên chiếc xe đạp cũ khi tôi còn bé.

    Và giờ là mùa thu 2024. Mưa và gió heo may như đã hẹn tạt vào phố. Năm nay thành phố không bắn pháo hoa kỷ niệm 70 năm ngày tiếp quản thủ đô, ngày những nhà văn như Nguyễn Tuân trở về, viết tiếp câu chuyện về phở.


    Cơn bão Yagi tháng trước đã quật đổ hơn 4 vạn cây xanh, trong đó 13.600 cây đường phố. Những câu chuyện của ngổn ngang phố xá cùng mất mát nhiều nơi vì lũ lụt đầy ắp lo âu về cơn bão giá sắp tới, ai còn bụng dạ lễ lạt hoài niệm. 


    Đó là một hiện tại. Người viết sẽ ghi lại những gì?

    Bài viết của Nguyễn Trương Quý trên tờ Tuổi trẻ cuối tuần 

    17 min

About ĐỌC BÁO cùng Tada

From the publisher's feed

Các bạn đang lắng nghe Đọc báo Daily Podcast, mình là Tada, người thích và vẫn giữ thói quen đọc báo mỗi ngày. Hi vọng bạn sẽ thích những bài báo mà mình tuyển chọn hàng ngày vào 9h tối trên Đọc báo…