
Sign up to save your podcasts
Or


Các bạn thân mến, trong Ng-Âm Thơ số thứ chín ngày hôm nay, xin mời các bạn lắng nghe “Trăng vàng trăng ngọc” của nhà thơ Hàn Mạc Tử, trích trong Phần 1: Hương thơm của tập Đau thương, hay có tên gọi khác là Thơ điên, xuất bản năm 1937.
Hàn Mạc Tử có lẽ không còn là cái tên xa lạ với các bạn thính giả. Ông tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/9/1912 tại làng Lệ Mỹ, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình và mất ngày 11/11/1940 tại nhà thương Quy Hòa, thành phố Quy Nhơn vì bệnh phong khi vừa mới bước sang tuổi 28. Ông làm thơ từ năm 16 tuổi dưới bút danh Phong Trần rồi Lệ Thanh, sau đó đến năm 1936 mới đổi bút danh thành Hàn Mạc Tử, chứ không phải Hàn Mặc Tử như nhiều người vẫn nghĩ. Cũng chính vào năm 1936, Hàn Mạc Tử cùng Quách Tấn, Yến Lan và Chế Lan Viên lập thành nhóm Bàn thành tứ hữu ở Bình Định. Nhận thấy khuynh hướng trong nhóm thơ thể hiện rất rõ trong sáng tác của từng người, vào khoảng cuối năm 1936, Hàn Mạc Tử khởi xướng việc thành lập Trường thơ Loạn.
Tuyên ngôn của Trường thơ Loạn được thể hiện không chỉ trong trong đề tựa tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên mà còn trong "Vài lời nói đầu" của tập Đau thương, tức Thơ điên: "Ai nói vườn trăng là nói vườn mơ. Ai nói đến mộng là nói bến tình. Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo. Trên đầu Người là cao cả, vô biên và vô lượng: xung quanh Người là mơn trớn với yêu đương vây phủ bởi trăm dây quyến luyến làm bằng êm dịu, làm bằng thành bại....Gió phương mô đẩy đưa Người đến bờ xa lạ, đầy trinh tiết và đầy thinh sắc. Người dừng lại để hái những lá tinh hoa. Người nín lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang vang như tiếng châu báo vỡ lỡ. À ra Người cũng dại dột, hốt vàng rơi bọc trong vạt áo..."
Và trong cái thế giới say sưa huyền diệu ấy của người thơ họ Hàn, trăng là hình ảnh lặp đi lặp lại, là nguồn cảm hứng vô tận, là luồng ánh sáng thiêng liêng. Giữa không khí mùa thu tràn ngập này, xin mời các bạn thính giả lắng nghe một trong những sáng tác nổi bật nhất về trăng của Hàn Mạc Tử trong tập Thơ điên, “Trăng vàng trăng ngọc,” qua giọng diễn ngâm của họa sĩ/nghệ sĩ Ngọc Dân và tiếng đàn tranh của nghệ sĩ Hùng Cường.
Các bạn thân mến, trong Ng-Âm Thơ số tám ngày hôm nay, nhân dịp Trung thu, xin mời các bạn lắng nghe bài thơ "Rằm tháng tám" của nhà thơ Anh Thơ.
Anh Thơ tên thật là Vương Kiều Ân, sinh ngày 25/1/1921 tại Ninh Giang, Hải Dương, quê gốc ở Bắc Giang. Có tài liệu khác lại ghi bà sinh năm 1918 hoặc 1919. Cha bà đậu tú tài, thuộc thế hệ nhà nho cuối cùng của triều Nguyễn nên vẫn giữ nếp nhà theo lối Nho phong. Sợ con gái mê làm thơ mà lơ đễnh chuyện học hành, ông Vương nghiêm cấm con viết và quản lý gắt gao, có lần bắt được Anh Thơ viết còn đánh con gái và trách cứ vợ. Tuy vậy, Anh Thơ không từ bỏ được niềm đam mê ấy của mình. Bà tìm đến thơ như một cách giải thoát và tự khẳng định giá trị của người phụ nữ trong xã hội đương thời.
Năm 1941, bà xuất bản tập thơ đầu tay mang tên Bức tranh quê gồm 45 bài thơ đặc tả phong cảnh và đời sống sinh hoạt của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ theo trình tự thời gian xuân hạ thu đông rồi lại xuân. Với tập thơ này, Anh Thơ đã giành giải khuyến khích trong cuộc thi do Tự lực văn đoàn tổ chức và chính thức xác lập tên tuổi mình trong phong trào Thơ mới. Thơ bà được bình luận khá sôi nổi. Các nhà phê bình đương thời xếp thơ Anh Thơ trong tập Bức tranh quê vào nhóm "tả chân" với chủ đề làng quê xuyên suốt, cùng Nam Trân, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân.
Sau đây, xin mời các bạn lắng nghe "Rằm tháng tám" qua giọng diễn ngâm của họa sĩ/nghệ sĩ Ngọc Dân và tiếng đàn tranh của nghệ sĩ Hùng Cường. Hy vọng các bạn thính giả đã có một Trung thu vui vẻ và đầm ấm!
Các bạn thân mến, trong Ng-Âm Thơ số đầu tiên của tháng 9 ngày hôm nay, xin mời các bạn lắng nghe bài thơ “Mắt người Sơn Tây” của nhà thơ Quang Dũng.
Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1921, mất ngày 13 tháng 10 năm 1988, là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ, quê ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, nay thuộc thành phố Hà Nội. Trước Cách mạng tháng Tám, ông theo học ở Ban trung học trường Thăng Long, rồi đi dạy học tư ở Sơn Tây sau khi tốt nghiệp. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam và trở thành phóng viên tiền phương của báo Chiến đấu.
Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, Quang Dũng xuất bản được mười tác phẩm, gồm tập thơ, tập truyện ngắn, bút kí, hồi kí, trong đó nổi bật nhất là hai bài thơ "Tây Tiến" và "Mắt người Sơn Tây" đều được phổ nhạc lần lượt bởi Phạm Duy và Phạm Đình Chương. Nếu "Tây Tiến" là bản hùng ca bi tráng không kém phần lãng mạn với hình ảnh "đoàn quân không mọc tóc" đã đi vào tâm thức của nhiều thế hệ, thì "Mắt người Sơn Tây" là nốt trầm buồn của mối duyên vừa tương phùng đã biệt ly giữa cảnh chiến tranh tang thương chết chóc: "Mẹ tôi em có gặp đâu không / Những xác già nua ngập cánh đồng / Tôi nhớ một thằng em bé nhỏ / Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông."
Bài thơ này có rất nhiều dị bản do chính tác giả sửa trong nhiều bản in khác nhau. Tiêu đề ban đầu là "Đôi mắt người Sơn Tây," sau Quang Dũng sửa lại là "Mắt người Sơn Tây." Trong số Ng-Âm Thơ này, xin mời các bạn lắng nghe bản chép tay của tác giả in trong tập Mắt người Sơn Tây - thơ văn tinh tuyển do NXB Hội nhà văn xuất bản năm 2012, qua giọng diễn ngâm của họa sĩ/nghệ sĩ Ngọc Dân và tiếng đàn nguyệt của nghệ sĩ Hùng Cường.
Các bạn thân mến, trong số thứ sáu của Ng-Âm Thơ hôm nay, xin mời các bạn cùng lắng nghe chùm ba bài thơ của nữ thi sĩ Bà Huyện Thanh Quan.
Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm, thuộc huyện Vĩnh Thuận, nay là phường Quảng Bá, quận Tây Hồ, Hà Nội. Tư liệu về cuộc đời bà đến nay còn rất sơ sài, các nguồn thông tin đều ít nhiều có điểm mâu thuẫn. Theo Lược truyện các tác gia Việt Nam do Trần Văn Giáp chủ biên, bà thành hôn với Lưu Nguyên Uân, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, đỗ cử nhân năm 1821 sau đó được bổ nhiệm làm tri huyện Thanh Quan, tức huyện Thái Ninh, nay là một phần huyện Đông Hưng và Huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, cho nên bà Hinh được gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Nổi tiếng là người hay chữ, có tài thơ, nên bà được triệu vào cung, ban cho chức Cung trung giáo tập, dạy chữ nghĩa cùng những nghi lễ phép tắc cho các công chúa và cung phi. Tương truyền khi vào dạy trong cung, vua ban thơ chữ Hán bà đều họa được.
Tuy vậy, các tác phẩm để lại của Bà Huyện Thanh Quan đều là thơ Nôm Đường luật, cho thấy bà đã đạt đến độ điêu luyện của thể loại này. Cùng với Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan đã đưa thơ Nôm Đường luật lên đến đỉnh cao, thoát khỏi cái cổ kính nặng về điển cố khi nghiêng về chữ Hán và vượt lên cái quê kệch trúc trắc khi nghiêng về tiếng Nôm. Giáo sư Phạm Thế Ngũ nhận xét trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (quyển hai): “Thơ luật đời Nguyễn Sơ, ở tác phẩm của hai nữ sĩ là Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan, như vậy quả đã tiến đến cao độ mỹ diệu. Thơ Hồ Xuân Hương thiên về Nôm mà bóng bẩy, duyên dáng. Thơ Bà Huyện Thanh Quan thiên về Hán mà thanh thoát, nhẹ nhàng. Hồ Xuân Hương đại biểu cho cái tinh thần trào phúng bình dân vươn lên thể hiện một hình thức bác học. Bà Huyện Thanh Quan đại biểu cho cái tinh thần tao nhã nho sĩ kết tinh lại, cùng với tinh túy của Đường thi.”
Sau đây, xin mời các bạn lắng nghe "Qua đèo Ngang," "Thăng Long thành hoài cổ," và "Chiều hôm nhớ nhà" qua giọng diễn ngâm của nghệ sĩ/họa sĩ Ngọc Dân và tiếng đàn tranh của nghệ sĩ Hùng Cường.
Các bạn thân mến, trong Ng-Âm Thơ số thứ năm ngày hôm nay, xin mời các bạn cùng lắng nghe chùm ba bài thơ thu gồm “Thu vịnh,” “Thu ẩm” và “Thu điếu” của nhà thơ Nguyễn Khuyến.
Nguyễn Khuyến tên khai sinh là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi, sinh năm 1835 tại làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam trong gia đình có truyền thống làm quan. Sau khi đỗ thủ khoa ba kì thi và thành danh Tam Nguyên Yên Đổ, Nguyễn Khuyến ra làm quan, nổi tiếng làm việc cần mẫn, tính thanh liêm lại có tài thao lược nên nhiều lần từ quan nhưng đều không được chấp thuận. Thành Hà Nội bị hạ năm 1883, và sang năm 1884, nước ta công nhận quyền đô hộ của nước Pháp trên khắp lãnh thổ Bắc và Trung Kì. Đau lòng trước cảnh mất nước, không chịu làm quan dưới thời bảo hộ, năm 1885 khi mới 51 tuổi, ông lấy cớ đau mắt xin về hưu ở ẩn, rồi từ đó chủ yếu lấy điền viên làm đề tài ngâm vịnh và trọng tâm sáng tác.
Tâm tư nặng nề của người chí sĩ đau đáu chuyện nước non bao trùm lên toàn bộ ba bài thơ: trong "Thu vịnh," nhà thơ nghe tiếng ngỗng vẫn trầm ngâm nước nhà giờ còn hay mất; ở "Thu ẩm," nhà thơ uống rượu một mình nhưng mắt vẫn đỏ hoe; còn trong "Thu điếu," thi nhân kể chuyện câu cá mà như tả nỗi cô đơn trên con thuyền bé tẻo teo, tựa gối buông cần mà không màng cá đớp động.
Sau đây, xin mời các bạn lắng nghe chùm 3 bài thơ thu bài thơ “Thu vịnh,” “Thu ẩm” và “Thu điếu” của nhà thơ Nguyễn Khuyến, do họa sĩ/nghệ sĩ Ngọc Dân diễn ngâm, Nghệ sĩ Hùng Cường đệm đàn.
Các bạn thân mến, trong Ng-Âm Thơ số thứ tư ngày hôm nay, xin mời các bạn cùng lắng nghe bài thơ "Chân dung" của nhà thơ Du Tử Lê.
Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, và mất vào tháng 10 năm 2019 tại nhà riêng ở Garden Glove, California, Hoa Kì. Năm 1956, ông vào Sài Gòn theo học trường Trần Lục, trường Chu Văn An và sau cùng là Đại học Văn Khoa. Ông là tác giả của hơn 70 tập thơ và văn xuôi, hơn 300 bài thơ trong số đó đã được phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng và được nhiều thế hệ yêu thích, như "Khúc thụy du" của nhạc sĩ Anh Bằng, "Đêm nhớ trăng Sài Gòn" của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, "Trên ngọn tình sầu" của nhạc sĩ Từ Công Phụng… Du Tử Lê cũng là một trong số những thi sĩ Việt Nam có những thành tựu nhất định trên văn đàn quốc tế, là một trong số hiếm hoi các nhà văn châu Á có tác phẩm đăng trên Los Angeles Times (1983) và New York Times (1994).
Được nhiều người gọi là ông hoàng thơ tình, nhưng Du Tử Lê không chỉ có thơ tình. Đến với thơ Du Tử Lê là đến với những cảm xúc thế sự và nỗi hoài nhớ cố hương. Nhà thơ là người ngồi-trong-cõi-nhân-gian, để rồi quanh quẩn với nỗi riêng một mình. Thơ ông không chỉ có "tôi - em," mà còn có "tôi - quê hương," những vết thương, những cái chết. Có bao nhiêu cảm xúc, bao nhiêu trăn trở, ông trút hết cho thơ. Nhà văn Nguyễn Quang Thiều từng nhận xét, "khi nói về thi ca là lúc [Du Tử Lê] không bao giờ do dự, là lúc ông sẵn sàng dấn thân cho dù con đường ấy đầy chông gai và cả thù hận."
Sau đây xin mời các bạn lắng nghe bài thơ "Chân dung" của nhà thơ Du Tử Lê, do Hoạ sĩ/Nghệ sĩ Nguyễn Ngọc Dân diễn ngâm, Nghệ sĩ Nhân dân Đoàn Thanh Bình ngâm dẫn, Nghệ sĩ Lại Thanh Minh phối khí.
Các bạn thân mến, trong Ng-Âm Thơ số thứ ba ngày hôm nay, xin mời các bạn cùng lắng nghe bài thơ "Cỏ Bồng Thi” của nhà thơ Hoàng Cầm, được in trong Nhịp 5: Còn em (Cỏ Bồng Thi phải cheo leo mỏm đá) của tập Về Kinh Bắc. Về Kinh Bắc gồm 48 bài thơ được chia làm 8 nhịp, sáng tác vài tháng cuối năm 1959 đầu năm 1960 nhưng phải tới năm 1994 mới được in lần đầu tiên đầy đủ thành sách. Cả tập thơ, theo nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy, là một giấc mơ hồi cố với nhiều hình ảnh ngẫu nhiên, thoạt đầu trông có vẻ vô trật tự, hỗn độn nhưng nhìn toàn cảnh cấu trúc tập thơ khá rõ ràng, tuần tự.
Trong cả tám nhịp thơ ấy, sức nặng cảm xúc và tâm lý của tác giả dồn cả vào nửa đầu nhịp năm với nhóm năm bài thơ Em Chị theo thứ tự: "Cây tam cúc," "Lá Diêu Bông," "Quả vườn ổi," "Cỏ Bồng Thi," và "Nước sông Thương." Hai nhân vật Em, Chị ấy là hai người có thật, Em chính là tác giả năm lên tám và năm lên mười hai, còn chị là cô hàng xóm tên Vinh hơn nhà thơ đến 8 tuổi. Chính Hoàng Cầm kể lại trong Vĩ Thanh, rằng cậu bé lên tám khi thấy cô gái ngửng đầu lên thì "choáng người," vì người con gái đẹp đến mê hồn. "Rồi thứ bảy sau, về nhà, tôi trao bức thư tỏ tình đầu tiên viết bằng thơ lục bát, dài hơn một trang giấy kẻ học sinh trên có vẽ hoa vẽ bướm, một vài ngọn núi, một dòng sông với chữ viết đậm, mực tím, nắn nót: Em gửi Chị Vinh của Em."
Sau đây, xin mời các bạn lắng nghe bài thơ "Cỏ Bồng Thi" của nhà thơ Hoàng Cầm, do Họa sĩ/Nghệ sĩ Ngọc Dân diễn ngâm, Nghệ sĩ Lại Thanh Minh và Đinh Quang Trung phối khí.
Trong số thứ hai này của Ng-Âm Thơ, xin mời các bạn cùng lắng nghe bài thơ “Sầu chung” của nhà thơ Trần Huyền Trân viết tặng danh ca ca trù Quách Thị Hồ. Quách Thị Hồ sinh năm 1909 tại làng Ngọc Bộ, xã Long Hưng, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, nơi trước đây thuộc địa phận quê hương quan họ Bắc Ninh. Sinh ra trong gia đình có truyền thống đàn hát lâu đời với mẹ là ca nương có tiếng, bà sớm được tiếp xúc với đàn phách. Năm 1930, trong thời kỳ phát triển rực rỡ và thịnh vượng nhất của văn hóa hát ả đào hay hát cô đầu, bà ra Hà Nội hát tại phố Khâm Thiên, cái nôi văn nghệ nức tiếng Hà thành.
Thế nhưng cuộc đời của các ca nương cũng lắm nỗi bi ai, mà Trần Huyền Trân, người ngụ tại Cống Trắng, nay là ngõ Văn Chương ở phố Khâm Thiên, hiểu rõ hơn cả. Ở giai đoạn cực thịnh, nhà hát Đốc Sao chuyên chọn gái quê nghèo tầm tuổi 15-16 trông xinh xắn rồi thuê thầy dạy hát vài bài, nói dăm câu tiếng Pháp để làm vui lòng khách. Trần Huyền Trân kể, vì quanh khu gia đình ông ở cũng là nơi trọ của nhiều cô đầu, nên các cô có giọng hát hay mà không biết chữ thường nhờ ông viết thư tình cho các anh "chồng hờ" vòi vĩnh tiền đánh bạc, ông chỉ thương chứ không ghét. Có lẽ chính sự tiếp xúc gần gụi và niềm cảm thương này đã tạo cảm hứng cho Trần Huyền Trân viết “Sầu chung” năm 1942 tại Khâm Thiên để “gửi tặng người ngâm nhé / Cho vút giọng sầu tan bóng mây.”
Bản thu được họa sĩ, nghệ sĩ ngâm thơ Nguyễn Ngọc Dân diễn ngâm, NSND Xuân Hoạch đệm đàn đáy và Đinh Quang Trung đệm trống chầu. Xin mời các bạn cùng thưởng thức.
Trong số mở đầu của Ng-Âm Thơ hôm nay, xin mời các bạn lắng nghe bài thơ "Hồ trường" của Nguyễn Bá Trác. Nguyễn Bá Trác từng biên soạn nhiều sách nhưng nổi tiếng nhất với tập Hạn Mạn Du Ký, tức ký sự chuyện đi chơi phiếm, trước viết bằng chữ Hán rồi sau ông tự dịch cả 14 chương sang Việt văn và đăng trên Nam Phong tạp chí từ số 38 đến số 43 vào năm 1920.
"Hồ trường," hay "Nam Phương ca khúc," xuất hiện trong chương 10, số 41, tháng 11 năm 1920, không phải bài thơ tác giả tự sáng tác, mà là bản dịch thơ bài ca phương Nam do người đồng hương cùng chí hướng ông gặp khi lưu lạc tại Thượng Hải cao hứng hát tại tửu lầu trong một buổi chiều ngà ngà say. Không lâu sau khi đăng, bản dịch đã trở nên phổ biến, đặc biệt trong giới chí sĩ, bởi nó giãi bày nỗi lòng của người nam nhi "chí chưa thành, danh chẳng đạt" mà đành mượn rượu giải sầu.
Bài thơ được chép lại nhiều lần nên có nhiều dị bản, sau đây là bản dịch được sử dụng trong số phát sóng này, do Họa sĩ Nguyễn Ngọc Dân diễn ngâm, Nghệ sĩ Ưu tú Thanh Hà đệm đàn tranh, và Nghệ sĩ Lại Thanh Minh phối khí. Xin mời các bạn cùng thưởng thức.
Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
From the publisher's feed

222 Listeners