
Sign up to save your podcasts
Or


Mở điện thoại lên, gõ tên doanh nghiệp của anh em, rồi gõ thêm một cụm kiểu dịch vụ cộng tên quận. Hai màn hình hiện ra có khớp với điều anh em tưởng không? Tập này nói về SEO local, thứ hay bị trộn với SEO Maps khiến tiền đi lạc chỗ. Bản đầy đủ nằm ở trang SEO local là gì và cách tự kiểm, ở đây là phần cốt lõi để anh em nắm nhanh.
SEO local là việc làm cho doanh nghiệp có địa điểm thật hiện ra khi khách tìm quanh khu vực. Doanh nghiệp có thể xuất hiện ở ba chỗ. Chỗ thứ nhất là Local Pack, khối ba kết quả đứng trên đầu kèm bản đồ, tên, đánh giá sao và nút gọi điện. Chỗ thứ hai là Google Maps, lúc khách mở bản đồ và tìm thẳng trong đó. Chỗ thứ ba là kết quả tìm kiếm tự nhiên, nơi website của anh em đứng chung với các trang khác. Hồ sơ một mình không đủ.
Ba cái tên hay bị trộn thành một. Google Business Profile là hồ sơ doanh nghiệp của anh em trên Google, nơi nằm tên, giờ mở cửa, ảnh và đánh giá. SEO Maps là việc chỉnh hồ sơ đó cho tốt, gồm ảnh, review, giờ mở cửa và danh mục ngành, để đứng được trong Local Pack. SEO local bao trùm cả hai, cộng thêm entity, tức mức độ Google nhận ra doanh nghiệp là ai. Cộng thêm backlink có kiểm soát, nội dung và NAP, tức tên, địa chỉ, cách liên lạc viết khớp nhau ở mọi nơi. Ranh giới quan trọng nhất là SEO Maps không tác động tới kết quả tìm kiếm tự nhiên. Hồ sơ đẹp đến mấy cũng không kéo website lên được.
Dấu hiệu rõ nhất của việc mua nửa phần là trả tiền làm Google Map mà gõ tên mình vẫn không thấy web đâu. Mua mỗi hồ sơ mà tưởng được cả SEO local giống treo biển thật to mà quên mở cửa tiệm. Nếu anh em chỉ cần vào khối ba kết quả thì SEO Maps là đúng thứ cần mua. Không có gì sai ở đó. Sai là mua nó mà tưởng được cả gói. Một câu hỏi đáng đặt từ đầu. Trước khi ký với ai, hãy hỏi một câu. Việc này có chạm tới website không, hay chỉ dừng ở hồ sơ bản đồ?
Google chấm kết quả local bằng ba yếu tố là mức độ liên quan, khoảng cách và độ nổi bật. Không yếu tố nào đứng riêng được. Mức độ liên quan là chuyện Google hiểu anh em làm nghề gì, và đây là phần anh em tự kiểm soát được. Chọn danh mục chính sát nhất với việc kiếm tiền, đừng chọn cho rộng. Hồ sơ ghi một kiểu, website nói một kiểu thì Google khó đoán anh em làm nghề gì. Khoảng cách tính từ vị trí người tìm tới địa chỉ doanh nghiệp. Địa chỉ khó đổi. Nên công sức hãy dồn vào hai yếu tố còn lại.
Độ nổi bật là phần chậm nhất nhưng bền nhất. Nó đến từ review thật của khách, từ backlink của những nguồn liên quan tới khu vực hoặc ngành, và từ việc tên doanh nghiệp được nhắc nhất quán ở nhiều nơi. Hồ sơ có cả đống review năm sao mua về là tiền bỏ ra không đúng chỗ. Review thật thì chậm mà chắc. Anh em nên mở báo cáo về các yếu tố tìm kiếm địa phương của Whitespark ra đọc. Đừng săn cái số một.
SEO local và SEO tổng thể không đứng ở hai đầu bàn cân. Chúng chia việc cho nhau. SEO local lo một địa điểm vật lý, hiện ở Local Pack và kết quả tìm kiếm tự nhiên, đo bằng vị trí trong Local Pack và lượt tương tác trên hồ sơ. SEO tổng thể lo toàn bộ website, có thể cả nước hoặc quốc tế, đo bằng impression, click và CTR từng trang trong Search Console. SEO Google Map không tính phí theo từng lượt click, còn SEO web thường tốn công viết nội dung và xây backlink dài hạn. Có địa điểm thật và khách tìm quanh khu vực thì đi local trước. Chưa có địa điểm thật thì xem SEO tổng thể trước.
SEO local hợp với doanh nghiệp mà khách phải đến tận nơi, hoặc thợ phải đến nhà khách trong một vùng nhất định. Nha khoa, spa, quán ăn, cửa hàng bán lẻ, sửa điều hòa hay thông cống đều thuộc nhóm này. Với nhóm đó, đứng đầu danh sách toàn quốc là vô nghĩa. Sai đích rồi. Người ở tỉnh khác đâu có sang nhổ răng. Lọt vào bản đồ khu vực mới ra khách, trong bán kính vài cây số quanh cửa tiệm. Chưa nên làm khi không có địa chỉ cố định, khi ngân sách quá thấp để nuôi hồ sơ nhiều tháng, hoặc khi đã có nhiều chi nhánh. Với trường hợp không có địa chỉ, Google Ads thường hợp hơn.
Thứ tự quyết định anh em tốn tiền một lần hay hai lần. Hồ sơ doanh nghiệp và thông tin nhất quán quan trọng hơn bài blog dài. Hãy xác minh hồ sơ trước, làm cho tên, địa chỉ, cách liên lạc khớp nhau, rồi mới viết thêm nội dung. Blog đẹp cũng không cứu được hồ sơ chưa xác minh. Nếu cần người đứng cùng, Tài Nguyên SEO làm local qua Google Business Profile cho các dịch vụ địa phương như nha khoa và spa. Cầm điện thoại lên và thử.
Bài gốc: https://tainguyenseo.com/seo-local-la-gi/
CÔNG TY TNHH TÀI NGUYÊN SEO
Giọng đọc: Piper, mô hình vi_VN vais1000 (CC BY 4.0).
Một trang sản phẩm nhưng mở được bằng http, bằng https, có www, không www, thêm đuôi tham số theo dõi hay sắp xếp. Người làm web thấy một trang. Googlebot thấy nhiều địa chỉ và phải tự đoán cái nào đáng giữ. Câu nghe nhiều nhất sau đó là gắn canonical rồi mà sao Google vẫn chọn trang khác.
Canonical là lời đề nghị, không phải lệnh. Hiểu sai chỗ này thì mọi bước sau đều lệch. Về bản chất, đó là thẻ rel canonical nằm trong phần head, báo cho Google biết địa chỉ nào là bản chính khi cùng một nội dung truy cập được qua nhiều đường. Google đọc thẻ cùng với link nội bộ, sitemap và chuyển hướng, rồi tự chốt. Khi các tín hiệu cãi nhau, Google chọn theo ý Google, kể cả lúc anh em đã khai báo đàng hoàng.
Lấy một đôi giày có trang riêng. Bốn địa chỉ cùng trả về đúng một nội dung, gồm bản http, bản https, bản có www và bản có đuôi tham số. Anh em chọn một địa chỉ làm bản chính, ví dụ bản https có www, rồi khai báo nó trong phần head của mọi bản trùng. Hình dung như tấm biển bản chính ở số nhà này dán trước bốn cổng của cùng một khu nhà. Bản trùng không cần xóa. Khách vẫn mở được, chỉ khác là Google biết bản nào đứng đầu. Chi tiết từng bước có trong bài hướng dẫn canonical chi tiết.
Trang chính cũng nên gắn canonical trỏ về chính nó. Nghe thừa, nhưng đó là lớp bảo hiểm. Ai đó nối thêm đuôi tham số vào link thì bản có đuôi vẫn khai báo đúng bản chính. Thẻ trỏ sai còn tệ hơn không có thẻ. Nếu mọi trang trỏ về trang chủ, Google hiểu cả site là một trang nhân bản. Đó là lỗi nặng. Canonical không phải công tắc bật là xong.
Có ba chỗ để nói với Google đâu là bản chính. Thẻ link trong HTML nên làm mặc định, còn header chỉ dùng khi tài nguyên không phải HTML. Trộn hai cách rất dễ ra hai địa chỉ mâu thuẫn. Thẻ link có bốn quy tắc hay bị bỏ qua. Dùng địa chỉ tuyệt đối có đủ https và tên miền. Mỗi trang đúng một thẻ. Đặt trong head, không đặt trong body.
PDF hay tệp Word thì không có phần head để gắn thẻ. Lúc đó khai báo canonical qua HTTP response header. Google hỗ trợ cách này theo RFC 5988, và cũng hỗ trợ chú thích liên kết rel canonical theo RFC 6596. Việc cần làm là sửa cấu hình máy chủ hoặc CDN, nên nhờ dev nếu chưa quen.
Sitemap giống một lá phiếu. Chỉ đưa địa chỉ canonical vào đó. Link nội bộ cũng trỏ về địa chỉ canonical, để ba tín hiệu nói cùng một chuyện. Với site chạy JavaScript, đặt canonical ngay trong HTML gốc máy chủ trả về. Đừng để script sinh thẻ hoặc đổi địa chỉ sau khi trang tải, vì Google có thể đọc bản HTML thô trước. Hai lần đọc ra hai địa chỉ thì Google chẳng biết tin lần nào.
Trên nền tảng, để plugin tự sinh canonical và chỉ sửa tay khi có lý do ghi được. WordPress với Yoast SEO hay Rank Math đều tự sinh canonical tự tham chiếu. Mở một bài, bấm Ctrl U, tìm chữ canonical, phải thấy đúng một thẻ. Shopify in canonical bằng biến canonical url của Liquid trong theme.
Canonical, 301 hay noindex thì chọn cái nào? Ba công cụ cùng giải bài toán trang trùng, nhưng mỗi cái làm một việc khác hẳn. Một câu hỏi để chọn. Người dùng còn cần trang trùng này không? Dùng 301 khi bản trùng hết lý do tồn tại. Canonical hợp khi người dùng vẫn cần bản đó, noindex hợp khi trang không nên xuất hiện trong tìm kiếm. Canonical không phải redirect.
Đổi tên miền hoặc chuyển từ http sang https thì chọn 301, vì địa chỉ cũ hết lý do tồn tại. Trang lọc khách còn dùng hằng ngày thì chọn canonical, vì không thể redirect mà cũng chẳng cần Google đánh giá từng biến thể. Trang so sánh không có lượt hiển thị trên kết quả tìm kiếm thì noindex.
Google khuyến cáo dùng canonical làm giải pháp ưu tiên thay vì noindex để chỉ định trang chính, theo tài liệu Consolidate duplicate URLs của Google Search Central. Tài liệu ấy còn cảnh báo dùng noindex để ngăn chọn một trang canonical trong cùng site là không nên, vì noindex chặn hoàn toàn trang khỏi Tìm kiếm. Gắn noindex lên bản trùng chỉ vì sợ trùng là mất trắng. Tín hiệu của bản đó không được gom về đâu cả. Nghe quen không anh em? Công cụ loại bỏ URL cũng không phải đường tắt, vì nó ẩn mọi phiên bản của URL khỏi Tìm kiếm. Còn chặn bản trùng bằng robots.txt thì Googlebot không đọc được thẻ canonical nằm trong trang đó.
Sửa xong, mở vài địa chỉ kiểu sản phẩm, danh mục, trang lọc rồi xem nguồn trang. Phần tự kiểm đầy đủ và bảng chọn canonical, 301 và noindex nằm trong bài gốc của Tài Nguyên SEO.
Bài gốc: https://tainguyenseo.com/canonical/
CÔNG TY TNHH TÀI NGUYÊN SEO
Giọng đọc: Piper, mô hình vi_VN vais1000 (CC BY 4.0).
Hợp đồng ghi một câu cam kết mà không nói rõ cho từ khóa nào, trong bao lâu, thì hai bên vừa ký một tờ giấy trắng có con dấu. Người làm nghề đọc câu đó thấy rợn. Người thuê thì thường thấy yên tâm, vì có chữ cam kết. Tập này đi qua từng điều khoản theo thứ tự trong hợp đồng, để bạn soạn mới hoặc đối chiếu bản đang cầm trên tay.
Hợp đồng SEO là thỏa thuận ghi rõ bên làm SEO giao gì, đo bằng gì, thu tiền khi nào và chia tay ra sao. Bản dùng được cần tối thiểu phạm vi và đầu ra, KPI cùng tiêu chí nghiệm thu, quyền sở hữu dữ liệu, điều khoản chấm dứt và hoàn phí. Tránh những câu hứa cố định mà không kèm điều kiện. Nghe thì giản dị. Nhưng nhiều bản hợp đồng thiếu đúng những mục này.
Khung chín mục thường gặp gồm các câu hỏi sau. Ai đứng tên bên A, bên B, và người ký có đủ thẩm quyền đại diện không. Bên làm SEO làm những việc gì và giao ra thứ gì. Mốc thời gian là bao giờ, bên thuê phải cung cấp gì đúng hạn. Đo bằng chỉ số nào và ai xác nhận là đạt. Trả mấy lần, mỗi lần gắn với việc gì. Báo cáo bao lâu một lần, và bạn xem số gốc bằng cách nào. Thứ gì thuộc về ai, trong và sau hợp đồng. Dừng giữa chừng thì tính tiền ra sao.
Mục thứ chín là rủi ro ngoài tầm kiểm soát, và nó hay bị bỏ trống nhất. Nếu website bị Google phạt do vi phạm thuật toán hoặc hành động thủ công, phần vi phạm phải được gỡ bỏ trước. Thời gian triển khai vì vậy kéo dài và chi phí tăng. Hợp đồng không ghi sẵn thì đến lúc đó hai bên mới cãi nhau xem ai chịu phần chênh.
Loại hợp đồng quyết định bạn trả tiền cho thứ gì. Hợp đồng SEO tổng thể ký cho cả website, gom nội dung, kỹ thuật và đo lường chạy cùng nhau. Rủi ro hay gặp là đầu ra từng giai đoạn không được ghi, nên tới tháng thứ ba bạn không biết đã làm được gì. Khung đầy đủ nằm ở chín điều khoản cần đọc trong hợp đồng SEO.
Hợp đồng theo tháng rất phổ biến. Theo nghiên cứu thị trường của Mordor Intelligence, hợp đồng retainer hoặc thuê bao chiếm 61,95% chi tiêu dịch vụ SEO. Phổ biến không có nghĩa là an toàn. Retainer là trả tiền theo thời gian làm việc, và đó cũng là điểm yếu của nó. Trọn gói thì trả theo phạm vi và đầu ra đã chốt. Chỉ ký kiểu theo tháng khi đầu ra từng tháng nằm trong hợp đồng.
Phạm vi là danh sách việc bên làm SEO sẽ làm và sẽ không làm. Đầu ra là thứ giao được và kiểm được. Hãy viết đầu ra bằng số lượng và định dạng, đừng bằng tính từ. Số bài viết giao mỗi tháng, số trang dịch vụ được chỉnh, số hạng mục trong bản audit kỹ thuật và tần suất báo cáo đều đếm được. Cũng ghi phần bên thuê phải làm, như cấp quyền truy cập, duyệt nội dung và thời hạn phản hồi.
KPI là chỉ số hai bên dùng để quyết định việc có đạt hay không. Hãy tách làm hai loại. KPI tiến độ cho biết việc có được giao đủ không, như đầu ra đủ số lượng và trang được index. KPI kết quả cho biết thị trường phản ứng ra sao, như lượt click và lead. Gộp hai loại vào một dòng là cách giấu việc làm thiếu sau một cú sốc thuật toán. Tách ra thì bạn biết lỗi nằm ở việc chưa làm hay ở kết quả chưa tới.
Nếu hợp đồng có cam kết kết quả, nó phải gắn với bộ từ khóa đã chốt, mốc thời gian và cách bù nếu không đạt. Cam kết theo tỷ lệ trên cả bộ từ khóa an toàn hơn cam kết từng từ khóa, vì một từ khóa có thể rớt chỉ vì đối thủ vừa ra bài mới. Nghe bên bán hứa bao đạt thì nên hỏi lại ba câu. Bộ từ khóa nào. Mốc nào. Không đạt thì bù gì.
Nghiệm thu cần ghi ba điều, đó là ai nghiệm thu, trong bao lâu, và nếu bên thuê không phản hồi thì xử lý ra sao. Thiếu điều thứ ba, một bên im lặng cũng đủ làm kẹt cả dự án. Về thanh toán, một cách chia thường thấy là ba mốc, 50% khi ký, 30% khi xong phần onpage và 20% khi nghiệm thu KPI. Đây không phải chuẩn ngành. Điều đáng học là nguyên tắc, mỗi đồng chuyển đi gắn với một việc kiểm được.
Tài khoản dữ liệu của website phải đứng tên bên thuê, bên làm SEO chỉ được cấp quyền truy cập. Nghe hiển nhiên, nhưng nhiều hợp đồng im lặng đúng chỗ này, đến lúc chia tay mới thấy cái giá. Dữ liệu đã mất thì không có nút nào khôi phục. Bên cung cấp dịch vụ cũng nên cho bạn xem quy trình từ lúc trao đổi đến lúc bàn giao ngay trước khi ký, để bạn đối chiếu với hợp đồng.
Lưu ý, đây là khung để đối chiếu, không phải văn bản pháp lý hoàn chỉnh và không thay thế tư vấn pháp lý. Căn cứ pháp luật cần luật sư xác nhận trước khi ký. Bản viết đầy đủ nằm ở hợp đồng SEO nên có những điều khoản nào, do Tài Nguyên SEO biên soạn.
Bài gốc: https://tainguyenseo.com/hop-dong-seo/
CÔNG TY TNHH TÀI NGUYÊN SEO
Giọng đọc: Piper, mô hình vi_VN vais1000 (CC BY 4.0).
Nhiều người mua domain mới xong thì khựng lại. Họ nghĩ Google ưu ái domain đăng ký từ nhiều năm trước, nên ngồi chờ domain đủ tuổi rồi mới làm. Chờ như vậy thường là bỏ phí thời gian. Tuổi domain không phải yếu tố bạn chỉnh được. Tập này đi qua lý do, cách tự kiểm, và những chỗ dễ vấp khi mua domain cũ.
Câu trả lời thẳng là không cần lo. Tuổi domain là khoảng thời gian tính từ ngày đăng ký đầu tiên, và ngày đó nằm trong WHOIS. Nó đã chốt, không ai sửa được. Thứ tạo ra vị trí trên Google mà bạn tác động được gồm ba việc. Trang có trả lời đúng nhu cầu người tìm không. Ai dẫn link tới trang đó. Người ta có gõ tên thương hiệu để tìm không. Ngày đăng ký không nằm trong ba việc này. Domain cũ chỉ tình cờ có nhiều thời gian hơn để làm cả ba. Bạn có thể xem thêm trong bài đầy đủ về tuổi domain và SEO.
Vì sao site lâu năm hay đứng cao? Đây là tương quan, không phải nguyên nhân. Nghiên cứu của Ahrefs cho thấy 72,9% trang nằm trong mười kết quả đầu của Google đã hơn ba năm tuổi, tăng so với 59% năm 2017. Trang đứng vị trí số một trung bình năm năm tuổi. Nhưng con số này đo tuổi của trang, không đo tuổi domain. Nó cũng không tách được link với nội dung. Một trang năm năm tuổi có năm năm để gom backlink, để được cập nhật, và để người ta gõ tên thương hiệu. Tuổi đi kèm những thứ đó như cái bóng đi theo người. Chặt cái bóng thì người vẫn đứng đó. Kéo dài cái bóng cũng chẳng làm người cao thêm.
Hình dung một quán phở mở hai chục năm vẫn đông khách. Không phải vì cái biển treo lâu. Mà vì suốt chừng ấy năm người ta ăn, thấy ngon, rồi dẫn nhau tới. Treo biển hai chục năm mà nấu dở thì quán vẫn vắng. Domain cũng vậy. Tuổi là cái biển, còn link và nội dung là bát phở. Vì thế câu kiểu “domain mới tinh, thôi để năm sau” nghe hợp lý nhưng thực tế là một năm bỏ phí. Trong lúc đó, đối thủ cùng tuổi có thể đã có bài nằm ở trang một.
Tự kiểm chỉ mất khoảng mười lăm phút. Lấy từ khóa bạn đang nhắm, gõ lên Google, rồi làm với năm kết quả đầu. Tra ngày đăng ký của domain bằng WHOIS để biết tuổi thật. Mở Wayback Machine, tìm bản lưu đầu tiên của đúng URL đang đứng cao để biết trang có từ khi nào. Dùng Ahrefs hoặc công cụ backlink tương tự để xem link trỏ về URL đó xuất hiện từ lúc nào. Ghi bốn cột vào bảng tính, gồm domain, ngày đăng ký, bản lưu đầu và link đầu. Nếu một site hai năm tuổi đứng trên site mười năm tuổi, tuổi không quyết định.
Chữ tuổi đang bị dùng cho bốn thứ khác nhau. Tuổi domain là thời gian từ ngày đăng ký đầu tiên, tra bằng WHOIS và không đổi được. Tuổi nội dung là thời điểm trang xuất bản và lần cập nhật gần nhất, bạn cập nhật được bất cứ lúc nào. Tuổi backlink là thời điểm Google thấy link và việc link còn sống đến giờ, bạn tạo link mới và giữ link cũ được. Lịch sử domain gồm chủ cũ, niche cũ và hình phạt cũ. Phần này không xóa được, chỉ biết để xử lý. Muốn cải thiện thì làm trên tuổi nội dung và tuổi backlink. Tuổi domain thì bạn bó tay.
Đừng nhầm tuổi domain với thời hạn đăng ký. Tuổi là quãng đã trôi qua. Thời hạn là phần hợp đồng còn lại với nhà đăng ký. Google có dùng thời hạn làm tín hiệu hay không thì chưa có tài liệu chính thức để dẫn, nên không nên khẳng định theo chiều nào. Phần chắc chắn là rủi ro. Domain hết hạn là mất quyền kiểm soát, kéo theo mất cả số link đã tích bao lâu nay. Vì vậy hãy bật gia hạn tự động hoặc đăng ký nhiều năm, kiểm hạn bằng WHOIS, và đặt thêm lịch nhắc ở nhà đăng ký. Email nhắc gia hạn hay rơi vào thư rác. Thẻ thanh toán hết hạn cũng làm domain bay. Nghe buồn cười, nhưng xảy ra thật.
Domain cũ cũng không bảo hiểm cho vị trí. Một site nhiều năm tuổi, có sẵn hồ sơ link, vẫn có thể đứng yên nếu nội dung chưa đúng nhu cầu hoặc link toàn loại khó dùng. DR chỉ là con số của Ahrefs, không phải thước đo của Google. Tuổi và DR mà thiếu link sạch cùng nội dung đúng nhu cầu thì chỉ là con số đẹp trên màn hình.
Expired domain là domain hết hạn rồi được người khác đăng ký lại. Có người làm vậy để dựng thương hiệu thật, có người làm để hưởng phần link còn sót. Google gọi kiểu thứ hai là expired domain abuse và xếp vào nhóm spam trong chính sách của Google Search Central. Hậu quả thường là tụt vị trí hoặc biến mất khỏi kết quả, có thể kèm cả manual action. Hãy đối chiếu nguyên văn mục này trên trang chính sách spam của Google trước khi quyết định. Mua domain cũ chỉ chấp nhận được khi site mới làm đúng chủ đề của domain đó. Dựng mạng site chéo link thì nên tránh. Trước khi mua, hãy xem cách kiểm tra domain cũ trước khi mua.
Đừng ngồi chờ domain đủ tuổi. Dồn sức vào nội dung đúng nhu cầu và link sạch, những thứ bạn chỉnh được. Mời bạn đọc bản đầy đủ do Tài Nguyên SEO biên soạn trên website.
Bài gốc: https://tainguyenseo.com/tuoi-domain-co-anh-huong-seo/
CÔNG TY TNHH TÀI NGUYÊN SEO
Giọng đọc: Piper, mô hình vi_VN vais1000 (CC BY 4.0).
Thêm bản tiếng Anh cho website xong, mở Google từ một máy đặt ở Anh mà vẫn thấy bản tiếng Việt nằm trên. Hoặc ngược lại, bản tiếng Anh biến mất khỏi kết quả. Hai chuyện này hay chung một gốc. URL, hreflang và từ khóa chưa được khai riêng cho từng ngôn ngữ. Tập này đi qua từng việc theo thứ tự nên làm. Nghe thì dài. Thực ra chỉ có ba nền móng cần chốt.
Trước hết là phân biệt hai khái niệm. Đa ngôn ngữ là cùng một thị trường dùng nhiều ngôn ngữ, ví dụ khách Việt đọc cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh. Đa khu vực là nhắm nhiều quốc gia, có thể dùng chung một ngôn ngữ. Lấy một site tiếng Việt có thêm bản en và en-GB. Bản en phục vụ người đọc tiếng Anh nói chung. Bản en-GB phục vụ người ở Anh, khác ở tiền tệ, đơn vị đo và cách dùng từ. Nút Google Translate gắn vào trang thì không tính. Nó dịch ngay trong trình duyệt và không sinh URL riêng. Google chẳng có gì để lập chỉ mục.
Cấu trúc URL là quyết định khó đổi nhất, nên chốt trước khi dịch chữ nào. Có ba kiểu phổ biến: thư mục con, tên miền phụ và tên miền riêng theo quốc gia. Với đa số site Việt mở thêm vài ngôn ngữ, thư mục con gọn nhất để quản. Mọi link và uy tín dồn về một chỗ. Tên miền riêng chỉ đáng đi khi từng nước có pháp nhân và vận hành tách hẳn, hoặc có lý do pháp lý. Gánh năm domain thì chỉ riêng chuyện gia hạn và chứng chỉ đã ngốn hết buổi sáng. Dù chọn kiểu nào, luật vẫn một. Mỗi ngôn ngữ một URL riêng. Không đổi ngôn ngữ bằng cookie hay tham số. Language switcher phải là link thật.
Hreflang cho Google biết bản ngôn ngữ nào dành cho thị trường nào. Mã ngôn ngữ viết hai chữ thường như vi hay en. Muốn nhắm vùng thì thêm mã vùng viết hoa như GB. Với site có ba bản, trang chọn ngôn ngữ nhận thêm x-default làm bản dự phòng. Ba nguyên tắc đi kèm. Mỗi bản liệt kê cả chính nó. Các trang trỏ lẫn nhau hai chiều. URL phải đầy đủ, có https, không dùng đường dẫn tương đối. Mã vùng của Anh là GB, không phải UK. Viết en-UK là sai chuẩn. Có ba chỗ để khai: thẻ link trong head, sitemap XML, hoặc HTTP header cho file không có phần head như PDF. Muốn xem cả bộ làm ra sao, mời đọc hướng dẫn SEO đa ngôn ngữ đầy đủ trên website.
Hreflang sai thì không có thông báo lỗi nào nhảy ra. Trang vẫn chạy bình thường. Chỉ có Google hiện nhầm bản. Ba lỗi hay gặp khó thấy khi đọc từng thẻ riêng lẻ. Mã sai chuẩn, như en-UK thay vì en-GB, hay vn thay vì vi. Hai mã cùng trỏ một URL, khiến Google không biết bản đó dành cho ai. Thiếu thẻ tự trỏ, lỗi hay gặp nhất khi viết tay. Nên kiểm thẻ tự trỏ trước. Tài Nguyên SEO có công cụ tạo thẻ hreflang miễn phí, dán cả bộ vào là thấy cảnh báo ba lỗi trên. Công cụ đó chỉ chạy trên chuỗi bạn dán vào. Nó không mở URL để kiểm trang còn sống hay có trỏ ngược lại không. Việc đó làm bằng tay hoặc bằng crawler.
Hreflang chỉ gợi ý bản nào hợp với ai. Canonical mới quyết định bản nào được giữ trong chỉ mục. Mỗi bản ngôn ngữ tự canonical về chính nó. Trang en trỏ về en, trang vi trỏ về vi. Không ngoại lệ. Canonical của bản tiếng Anh trỏ về bản tiếng Việt là cách nhanh nhất để bản Anh biến khỏi kết quả. Bạn vừa bảo Google rằng trang này chỉ là bản sao. Hreflang nói gì sau đó cũng muộn. Tự kiểm bằng URL Inspection trong Search Console. Dán URL bản en vào và xem canonical do Google chọn. Lệch thì dừng mọi việc khác, sửa chỗ này trước. Sitemap XML gọn hơn khi số ngôn ngữ nhiều. Trang chưa dịch xong thì đừng cho vào sitemap. Mỗi ngôn ngữ thêm vào làm số URL nhân lên, và crawl budget bị chia nhỏ theo.
Dịch từ khóa gốc rồi dùng luôn là lối tắt dễ trượt nhất. Người ở thị trường khác hay không gõ đúng chữ của bản dịch. Quy trình gồm năm bước. Một, lấy từ khóa nguồn và ghi rõ intent, người ta tìm để học, để so sánh hay để mua. Hai, tìm cách người dùng thị trường đích thật sự gõ. Ba, so khối lượng và độ cạnh tranh ngay trong thị trường đó. Từ khóa dễ ở Việt Nam có thể là chiến trường ở nơi khác. Bốn, chốt từ khóa cuối rồi viết title, meta và slug theo nó. Năm, lập bảng bản địa hóa, mỗi dòng một trang gồm từ khóa nguồn, từ khóa đích, title, slug và trang đích. Intent mới là thứ mang sang thị trường mới. Chữ thì chưa chắc. Bản dịch dài hơn bản gốc dễ bị cụt chữ ở title, nên cần chỉnh độ rộng. Chi tiết từng bước nằm trong bài cấu hình hreflang, URL và từ khóa theo thị trường.
Làm đúng thứ tự thì gọn. Chốt URL trước, khai hreflang đủ hai chiều, giữ canonical về chính mỗi bản, rồi mới viết từ khóa cho từng thị trường. Hreflang chỉ quyết định Google hiện bản nào. Bản đó có được đọc kỹ và trích dẫn hay không còn phụ thuộc vào việc nội dung có câu trả lời trực tiếp. Làm vậy đỡ tốn công sửa về sau.
Bài gốc: https://tainguyenseo.com/seo-da-ngon-ngu/
CÔNG TY TNHH TÀI NGUYÊN SEO
Giọng đọc: Piper, mô hình vi_VN vais1000 (CC BY 4.0).
Ba báo giá nằm trên bàn, mỗi bên một kiểu đóng gói, mỗi bên một cách đặt tên hạng mục. Câu hỏi thật là làm sao so chúng với nhau mà không phải đoán. Tập này đi qua cách chọn dịch vụ SEO theo đúng thứ tự: chốt phạm vi trước, chấm từng nhà cung cấp bằng một thang chung, rồi kiểm kết quả sau khi ký. Khoan hãy nhìn giá. Giá luôn hút mắt hơn phạm vi, và đảo thứ tự là dễ chọn sai.
Việc đầu tiên là chốt mục tiêu và ngân sách. Bạn muốn kéo cả website, một nhóm từ khóa hay một khu vực địa lý? Số tiền duy trì đều đặn mỗi tháng là bao nhiêu? Hai câu hỏi này quyết định mọi thứ phía sau. Bạn có thể đọc trọn sáu bước trong bài cách chọn dịch vụ SEO đúng thứ tự trên website. Phạm vi đi trước.
Tiếp theo là chọn loại dịch vụ. SEO tổng thể phủ cả website, gồm kỹ thuật, nội dung, offpage, entity và đo lường. SEO từ khóa hẹp hơn nhiều. Nó chỉ tập trung vào một danh sách từ khóa cụ thể, chỉnh trang và xây liên kết cho đúng những trang chứa từ khóa đó. Khác nhau giống khám sức khỏe tổng quát với chữa đúng một chiếc răng sâu. Răng vẫn được chữa. Chỉ là bạn trả thêm tiền cho phần mình không cần.
SEO Local bao trùm cả kết quả tìm kiếm tự nhiên, gồm entity, backlink, nội dung và thông tin NAP nhất quán. SEO Maps chỉ chỉnh hồ sơ Google Business Profile để xuất hiện trong Local Pack. Audit là một phần của SEO tổng thể, nên mua riêng khi bạn chỉ cần biết site đang hỏng chỗ nào. Bốn loại này hay bị gộp chung một dòng trong báo giá. Tách ra thì mới biết mình đang mua gì.
Bước ba là chọn ai cầm việc. Cần một hạng mục hẹp, như viết lại nội dung hay sửa lỗi kỹ thuật, thì freelancer là hợp. Cần người nhìn tổng thể, cho ý kiến và rà việc để đội nhà tự làm, thì chọn consultant. Cần nhiều hạng mục chạy cùng lúc và có người phối hợp, thì mới đến agency. Còn site nhỏ, mới lập thì tự kiểm tra bằng công cụ trước là bước đúng. Google Search Console miễn phí và cho biết trang nào được index. Screaming Frog quét toàn site, lòi ra link gãy và trang thiếu title. Thuê ngoài khi đã biết mình cần thuê phần nào. Chưa nên thuê nếu site chưa có sản phẩm hay dịch vụ rõ ràng. Chưa tới lúc.
Đến khung chấm điểm. Mỗi nhà cung cấp nhận một trong ba mức cho từng tiêu chí: Đạt, Chưa rõ hoặc Loại ngay. Không điểm số, không trọng số. Con số giả chính xác khiến người mua tin vào một thứ tự không có thật. Đạt nghĩa là có tài liệu hoặc câu trả lời cụ thể để bạn kiểm. Chưa rõ nghĩa là nghe ổn nhưng chưa đối chiếu được. Chưa rõ thì ghi chưa rõ. Sáu tiêu chí gồm phạm vi, giá, báo cáo, quy trình, giới hạn và nghiệm thu. Phạm vi đạt khi từng hạng mục ghi riêng kèm sản phẩm bàn giao. Báo cáo đạt khi kiểm lại được bằng Search Console, Ahrefs hoặc Semrush. Chỉ có ảnh chụp mà không cấp quyền xem thì mới chấm chưa rõ. Nghiệm thu đạt khi thanh toán chia theo mốc có sản phẩm kiểm được.
Có ba tiêu chí loại ngay, không có vùng xám. Thứ nhất, hứa kết quả cụ thể trên một mốc thời gian cụ thể. Không ai điều khiển được thuật toán và đối thủ của bạn. Thứ hai, không cho xem báo cáo mẫu. Đơn vị làm thật luôn có ít nhất một bản báo cáo che tên khách. Thứ ba, không nói được việc gì sẽ làm trong tháng đầu. Câu trả lời kiểu bên em có quy trình riêng là không trả lời. Gạch tên ngay. Một tiêu chí loại ngay nặng hơn năm tiêu chí đạt cộng lại. Báo giá đẹp cũng như bìa sách đẹp, chưa nói gì về nội dung bên trong.
Buổi tư vấn đầu là lúc rẻ nhất để chấm, vì bạn chưa mất đồng nào. Mỗi tiêu chí một câu hỏi. Ghi lại nguyên văn câu trả lời. Chấm sau cuộc họp cho tỉnh táo. Ví dụ hỏi về phạm vi: trong gói này, chính xác tháng đầu mình làm những việc gì, bàn giao cái gì? Nghe được danh sách việc kèm sản phẩm thì ghi Đạt. Nghe tùy site, tụi em sẽ khảo sát rồi tính thì ghi Chưa rõ, rồi hẹn họ gửi bản liệt kê bằng văn bản. Hỏi cho ra.
Sau khi ký, việc chưa xong. Hãy kiểm chứng case study và đo kết quả bằng Search Console hoặc công cụ độc lập mà bạn tự cấp quyền xem. Đơn vị đáng thuê nói thẳng việc họ không làm. Hỏi gì cũng trả lời có là dấu hiệu xấu. Tài Nguyên SEO cũng cung cấp dịch vụ SEO, nên bạn hãy dùng đúng một thang chấm cho chúng tôi và cho mọi nơi khác. Đi hết các bước dù cuối cùng không chọn chúng tôi, vì chọn sai tốn nhiều hơn mấy ngày so sánh. Bảng tiêu chí đầy đủ nằm trong bài khung chấm điểm nhà cung cấp SEO ngay trên website.
Bài gốc: https://tainguyenseo.com/cach-chon-dich-vu-seo/
CÔNG TY TNHH TÀI NGUYÊN SEO
Giọng đọc: Piper, mô hình vi_VN vais1000 (CC BY 4.0).
Gõ lệnh site cùng tên miền lên Google rồi thấy đúng một dòng, hoặc chẳng thấy dòng nào. Lúc đó nhiều người lao vào mua thêm link và viết thêm bài. Khoan đã. Làm vậy dễ tốn công sai chỗ. Điều nên làm trước là xác định xem website đang ở tình huống nào, vì mỗi tình huống có một hướng sửa khác hẳn. Bài tổng hợp ngắn dưới đây đi qua trình tự chẩn đoán cho người đang thắc mắc vì sao website chưa xuất hiện trên Google.
Có ba tình huống thường gặp. Thứ nhất là chưa được index, tức Google chưa lưu trang vào kho của họ. Thứ hai là đã index nhưng hiển thị rất ít hoặc nằm quá xa. Thứ ba là từng xuất hiện khá ổn rồi tụt dần.
Việc nên đặt lên đầu là kiểm tra Google đã index trang hay chưa. Chưa index thì mọi việc khác đều vô nghĩa. Bước này đứng đầu. Muốn biết Google thực sự ghi nhận gì, hãy dán địa chỉ đầy đủ vào công cụ URL Inspection trong Search Console. Đọc dòng đầu tiên xem trang có trên Google hay không. Sau đó bấm kiểm tra trực tiếp để biết Google đọc trang ngay lúc này có dính noindex hay bị chặn không.
Một điểm hay bị bỏ sót là canonical. Hãy so canonical mình khai báo với canonical Google chọn. Hai cái phải trùng nhau. Chỉ khi đã sửa tận gốc mới nên bấm yêu cầu lập chỉ mục. Gửi đi gửi lại khi trang còn noindex chẳng thay đổi được gì. Giống bấm nút thang máy nhiều lần, tầng vẫn vậy.
Báo cáo Lập chỉ mục trang cho cái nhìn toàn site, nên đọc sau khi đã kiểm từng trang quan trọng. Có hai trạng thái dễ lẫn. Đã phát hiện nhưng chưa lập chỉ mục nghĩa là Google biết địa chỉ đó mà chưa buồn thu thập. Cách xử lý là cho trang thêm đường vào, chủ yếu bằng internal link từ những trang đã có chỗ đứng. Đã thu thập nhưng chưa lập chỉ mục thì khác. Google đã đọc và thấy chưa đáng lưu. Thêm link không cứu được. Cần xem lại nội dung mỏng hoặc trùng với trang khác.
Sitemap cũng hay bị quên. File này chỉ nên giữ những địa chỉ trả mã thành công và cho phép index. Nhét vào đó đủ loại địa chỉ lỗi, địa chỉ đang chuyển hướng, địa chỉ gắn noindex thì chẳng khác đưa shipper một tờ địa chỉ có nửa số nhà đã dỡ.
Sáu nguyên nhân chặn index hay gặp nhất xoay quanh các chỗ sau. Thẻ noindex trong meta robots hoặc trong header trả về. Tệp robots chặn cả thư mục chứa trang cần xuất hiện. Canonical trỏ sang địa chỉ khác, thường do plugin hoặc template. Cài đặt WordPress không khuyến khích công cụ tìm kiếm lập chỉ mục còn bật. Trang mồ côi, không có internal link nào trỏ tới. Mã trạng thái khác thành công, như lỗi không tìm thấy, chuỗi chuyển hướng hoặc lỗi máy chủ.
Bước tiếp theo là loại trừ lỗi kỹ thuật chặn Google đọc trang. Kỹ thuật sạch là điều kiện cần chứ không phải lý do để xuất hiện cao hơn. Vì vậy đừng dừng ở bước này quá lâu. Những lỗi nên sửa trước gồm trang cần hiển thị trả lỗi máy chủ, chuyển hướng nhiều bước và nội dung chính chỉ hiện sau khi JavaScript chạy. Sau đó mới tới giao diện điện thoại hỏng, tải chậm và thẻ title trùng nhau. Lỗi khiến Google không đọc được đứng trước lỗi chỉ làm trải nghiệm kém đi. Mở báo cáo ra thấy cả trăm dòng thì dễ nản. Thường chỉ vài template gây ra phần lớn.
Về công cụ, Search Console cho dữ liệu trải nghiệm trang và Core Web Vitals từ người dùng thật. PageSpeed Insights chấm từng địa chỉ, nhưng phần điểm lab chỉ là mô phỏng trên thiết bị giả lập. Vì thế đừng lấy điểm đó làm chỉ tiêu chính. Điểm đẹp trên máy giả lập chưa chắc là trải nghiệm của người thật.
Sang bước ba, trang đã index và có lượt hiển thị trong Search Console mà vẫn nằm xa. Google đã đọc được trang. Vấn đề thường là trang đang trả lời một câu hỏi mà người gõ từ khóa này không hỏi. Hãy gõ từ khóa mục tiêu, nhìn kết quả đầu tiên xem Google đang thưởng loại trang nào, rồi so với trang của bạn. Mở báo cáo Hiệu suất, lọc theo đúng địa chỉ trang. Truy vấn thực tế mà lệch xa từ khóa nhắm tới là dấu hiệu lệch intent rõ nhất.
Khi đối thủ mạnh hơn, đừng đoán. Hãy soi từng trang trong nhóm đầu về loại trang, độ sâu nội dung, thương hiệu và vị trí câu trả lời chính. Họ hơn ở thương hiệu thì đừng đối đầu trực diện bằng từ khóa ngắn. Chọn cụm dài hơn, ít người chiếm. Rồi leo dần. Bản đầy đủ có bảng đối chiếu ba tình huống nằm trong bài chẩn đoán năm bước bằng Search Console của Tài Nguyên SEO. Đọc xong, bạn sẽ biết nên sửa gì trước.
Bài gốc: https://tainguyenseo.com/website-khong-len-top/
CÔNG TY TNHH TÀI NGUYÊN SEO
Giọng đọc: Piper, mô hình vi_VN vais1000 (CC BY 4.0).
Biểu đồ Search Console gãy một khúc là lúc đầu óc dễ nghĩ tới đối thủ nhất. Cảm giác đó dễ hiểu. Nhưng đổ lỗi nhầm là cách nhanh nhất để disavow hay xóa đúng những backlink đang đỡ vị trí cho site. Negative SEO là việc cố ý làm hại site khác bằng link rác, hack site, cào nội dung, bơm lượt truy cập ảo hoặc review giả. Tụt vị trí chưa chắc do chúng.
Ba câu tự chẩn đoán nên hỏi theo đúng thứ tự. Đảo thứ tự là sai ngay từ đây. Câu một, ngày tụt trong Search Console có trùng một đợt cập nhật thuật toán hay thay đổi nội bộ không. Câu hai, có thông báo hành động thủ công hay vấn đề bảo mật nào không. Có thì đó là việc số một, khỏi đoán. Câu ba, ngày tên miền trỏ về tăng bất thường trên Ahrefs hay Semrush có trùng ngày tụt không. Ahrefs có độ trễ từ vài ngày tới vài tuần, nên ngày link hiện ra chưa phải ngày bị tấn công. Xem thêm cách tự chẩn đoán trước khi nghi đối thủ chơi xấu trên website.
Dấu hiệu chỉ trỏ về tấn công khi cả ba câu cùng chỉ một hướng. Tên miền trỏ về nhảy vọt trong vài ngày, anchor lạ hoắc, trùng đúng ngày tụt, mà site không đổi gì. Thiếu một mảnh thì quay về kiểm lỗi nội bộ. Đổ cho đối thủ thì dễ chịu thật. Nhưng nó giống đổ cho hàng xóm trong khi chính mình quên khóa cửa. Cứ sửa lỗi nội bộ.
Báo cáo hành động thủ công nên mở trước mọi công cụ trả phí, vì đó là nơi duy nhất Google nói thẳng. Đọc đúng nội dung thông báo, xem nó nói về link, nội dung hay spam do người dùng đăng. Thông báo kiểu mã độc hay nội dung bị chèn nghĩa là site đã bị xâm nhập. Hack xử lý trước.
Thấy một site spam rõ ràng đang đẩy link bậy, gửi nó qua biểu mẫu báo cáo spam của Google. Đừng chờ phản hồi theo mốc nào, vì Google không hứa.
Đừng disavow chỉ vì thấy link rác. Google thường đã tự bỏ qua loại link đó, nên nộp nhầm còn rủi ro hơn không làm. Lọc tên miền mới rồi soi mấy dấu hiệu. Anchor text lạ như casino, thuốc, hoặc ngôn ngữ chẳng liên quan ngành. Domain nhìn như tạo hàng loạt, cùng khuôn, cùng kiểu tên. Số domain mới tăng vọt đúng khoảng ngày vị trí gãy. Link không ai đặt. Chi tiết nằm ở phần khi nào nộp disavow và khi nào bỏ qua của bài đầy đủ.
Quy tắc mặc định là theo dõi và bỏ qua. Chỉ nộp khi có hành động thủ công về link, hoặc link xấu do chính bạn hay đơn vị cũ từng đặt. Link mua bán để truyền sức mạnh mà không gắn rel sponsored hay nofollow là vi phạm chính sách của Google. Thao tác nộp khá đơn giản. Gom domain hoặc URL xấu vào một file txt, mỗi dòng một mục. Tải file lên qua mục Disavow links trong Search Console. Ghi lại ngày nộp và lý do. Disavow nhầm một link tốt là tự cắt phần đỡ của mình. Chưa chắc thì đừng nộp.
Hack và chèn mã độc đụng thẳng vào chính site. Dấu hiệu gồm trang tiêu đề tiếng nước ngoài hoặc nội dung cờ bạc, thuốc mà bạn chưa từng đăng. Search Console có thể hiện cảnh báo trong mục Vấn đề bảo mật. Quét bằng Wordfence hay Sucuri SiteCheck cũng ra file lạ. Xử lý theo đúng thứ tự. Khôi phục từ bản sao lưu sạch gần nhất. Đổi thông tin đăng nhập quản trị, hosting, FTP và cơ sở dữ liệu. Cập nhật plugin và theme, gỡ cái không dùng. Khi đã sạch thì gửi yêu cầu xem xét lại.
Nội dung bị cào thì kiểm đơn giản hơn. Copy nguyên một đoạn văn của bạn, đặt trong ngoặc kép rồi dán lên Google, hoặc quét bằng Copyscape. Kiểm xem bài gốc đã được index trước bản sao chưa. Rồi gửi yêu cầu gỡ theo DMCA cho Google hoặc nhà cung cấp hosting của site đi cào. Đừng tin ai hứa bản sao chắc chắn bị xếp thấp hơn bài gốc. Không ai nắm được cái đó.
Lượt truy cập ảo có vài dấu vân tay khá lộ. Lượt vào tăng vọt trong một hai ngày nhưng thời gian tương tác gần bằng 0. Nguồn giới thiệu lạ hoắc. Quốc gia bạn chưa bao giờ bán hàng tới. Chưa có tài liệu nào của Google nói người khác bơm lượt ảo thì bạn bị phạt. Cái chắc chắn là số liệu bị nhiễu và bạn đọc sai báo cáo. Trong GA4, vào Quản trị, chọn luồng dữ liệu, mở cấu hình thẻ rồi thêm danh sách nguồn giới thiệu không mong muốn.
Chặn tại server hoặc Cloudflare chứ đừng chỉ lọc ở GA4. Lọc chỉ che số liệu, bot vẫn ăn tài nguyên. Với Cloudflare, tạo quy tắc tuỳ chỉnh trong WAF theo quốc gia, IP hoặc user-agent.
Bản đầy đủ có đoạn mã mẫu cho .htaccess. Bài do Tài Nguyên SEO biên soạn, lấy chính sách spam của Google làm thước. Link lạ chỉ đáng lo khi chạm vào chính sách.
Bài gốc: https://tainguyenseo.com/doi-thu-choi-xau-seo/
CÔNG TY TNHH TÀI NGUYÊN SEO
Giọng đọc: Piper, mô hình vi_VN vais1000 (CC BY 4.0).
Lượt truy cập tụt qua một đêm là lúc nhiều người hoảng nhất. Câu bật ra đầu tiên thường là bị Google phạt rồi. Có người lao đi gỡ link. Có người xóa cả chục bài. Có người nộp đơn xin xem xét lại cho một án phạt chưa chắc tồn tại. Phần lớn thời gian và tiền mất oan ở đúng khâu gọi tên sai.
Chữ penalty là tiếng lóng của giới SEO. Google không dùng nó trong tài liệu chính thức. Thứ Google thật sự công bố là tài liệu Spam policies for Google Web Search, liệt kê những hành vi bị coi là spam. Bản cập nhật tháng 3/2024 của tài liệu này nhắm thẳng vào scaled content abuse, tức việc sản xuất hàng loạt nội dung ít giá trị nhằm thao túng kết quả tìm kiếm. Trong tài liệu đó, Google tách hai cơ chế. Một bên là hệ thống tự động. Bên kia là người xét thủ công, và chỉ bên này được gọi là manual action. Site tụt vì thuật toán đánh giá lại thì không ai phạt cả. Hệ thống chỉ xếp lại.
Có ba loại, ba cách nhận biết, ba cách xử lý. Đoán sai loại thì mọi việc làm sau đó đều lệch hướng. Gửi đơn xem xét lại cho site chỉ bị thuật toán, hay dọn link khi lỗi nằm ở robots.txt, đều là công đổ sông. Loại thứ nhất là manual action. Người của Google xét và áp dụng khi site vi phạm chính sách spam. Dấu hiệu duy nhất là thông báo trong mục Manual actions của Search Console. Cách xử lý là sửa đúng thứ thông báo nêu rồi gửi đơn xin xem xét lại. Không có thông báo thì không có manual action.
Loại thứ hai là thuật toán, gồm spam update và core update. Thuật toán đánh giá lại cả site và không gửi thư báo. Spam update nhắm vào vi phạm chính sách spam. Core update chấm lại chất lượng chung, kể cả khi site không vi phạm gì. Vì vậy đừng ngồi đợi thông báo. Với thuật toán, nó sẽ không bao giờ đến. Hướng sửa là cải thiện chất lượng rồi chờ hệ thống đánh giá lại, không có đơn nào để gửi. Nhiều ca như vậy gần với E-E-A-T, tức bộ tiêu chí về kinh nghiệm và độ tin cậy của nội dung, hơn là với chuyện backlink.
Loại thứ ba là sụt giảm thường. Đối thủ làm tốt hơn nên vượt mặt. Mùa vụ của ngành làm lượt tìm kiếm giảm. Lỗi kỹ thuật như noindex gắn nhầm hay robots.txt chặn nhầm cũng gây ra triệu chứng y hệt. Lỗi đo thì tinh vi hơn, tức mã theo dõi mất nên số liệu giảm dù khách vẫn vào. Nhóm này rẻ để kiểm nhất. Vì thế nên loại trước, rồi mới nói chữ bị phạt.
Những dấu hiệu nên khiến bạn mở Search Console gồm vài thứ. Lượt truy cập tự nhiên tụt đột ngột, thường trong vài ngày chứ không từ từ. Nhiều từ khóa quan trọng cùng mất vị trí một lúc. Số trang đã vào chỉ mục giảm mạnh. Gõ tên thương hiệu mà không thấy site đâu. Hoặc có thông báo trong Search Console. Nhưng dấu hiệu chỉ cho biết có chuyện, chưa cho biết chuyện gì. Mất chỉ mục có thể chỉ là một thẻ noindex gắn nhầm sau lần sửa giao diện. Chưa đối chiếu ngày giảm và loại lỗi kỹ thuật thì chưa nên xóa bài hay gỡ link.
Bốn bước chẩn đoán đi từ chỗ rẻ nhất đến tốn công nhất. Bước một là mở Manual actions và Security issues. Dòng No issues detected nghĩa là không có phạt thủ công. Site bị hack hiện ở Security issues chứ không hiện ở Manual actions. Bước hai là khoanh ngày bắt đầu giảm trong báo cáo Performance. Hãy bật so sánh cùng kỳ để loại yếu tố mùa vụ, rồi tách mobile với desktop, tách theo trang và theo truy vấn. Ghi lại ngày biểu đồ bắt đầu gãy, không phải ngày bạn phát hiện ra.
Bước ba là đặt ngày đó cạnh lịch update của Google. Cách nhanh và miễn phí là mở Google Search Status Dashboard. Ahrefs cho phủ các đợt update lên biểu đồ, còn Semrush đo biến động của cả thị trường. Ngày khớp spam update thì rà link bất thường và nội dung sản xuất hàng loạt. Ngày khớp core update thì rà chất lượng nội dung tổng thể. Ngày không khớp đợt nào thì đừng vội gán tội cho Google. Bước bốn là loại lỗi kỹ thuật và lỗi đo. Hãy xem robots.txt, thẻ noindex, báo cáo Pages, canonical và redirect. Screaming Frog quét cả site một lượt là ra. Làm vậy đỡ tốn công. Lỗi đo hay gặp ở chỗ số liệu hai nguồn lệch nhau. Số lượt vào trong công cụ phân tích giảm mà click trong Search Console không giảm thì lỗi nằm ở khâu đo.
Nếu thấy thông báo trong Manual actions, hãy xử lý như một manual action và đọc kỹ từng chữ trong thông báo trước khi sửa. Sửa nhầm chỗ là đơn bị từ chối. Không thấy thông báo thì đừng gửi đơn. Đừng gửi đơn vội. Phần các loại manual action và cách xử lý từng nhóm nằm trong hướng dẫn tự chẩn đoán Google penalty bằng Search Console do Tài Nguyên SEO biên soạn. Kiểm lỗi kỹ thuật luôn là bước rẻ nhất. Sau đó mới tính chuyện bị đánh giá lại.
Bài gốc: https://tainguyenseo.com/google-penalty/
CÔNG TY TNHH TÀI NGUYÊN SEO
Giọng đọc: Piper, mô hình vi_VN vais1000 (CC BY 4.0).
Hosting không tự đẩy thứ hạng lên, nhưng nó ảnh hưởng SEO gián tiếp qua TTFB, lỗi 5xx, bảo mật và vị trí máy chủ. Tập này chỉ ba nơi nên đo trước khi kết luận.
Đo trước, trả tiền sau. Bạn đọc thêm cách tự đo ảnh hưởng của hosting tới SEO trên website của Tài Nguyên SEO.
Bài gốc: https://tainguyenseo.com/hosting-anh-huong-seo/
CÔNG TY TNHH TÀI NGUYÊN SEO
Giọng đọc: Piper, mô hình vi_VN vais1000 (CC BY 4.0).
From the publisher's feed
TNSPODTOP1