
Sign up to save your podcasts
Or


Ít người biết rằng Lê Đại Hành, vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê lại là cha vợ của Lý Thái Tổ, vị vua sáng lập nhà Lý. Theo chính sử, sau khi đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược Đại Cồ Việt của nhà Tống, đến đầu năm Nhâm Ngọ (982), vua Lê Đại Hành đã lập Thái hậu Dương Vân Nga của triều Đinh làm một trong 5 Hoàng hậu của ông và phong hiệu cho bà là Đại Thắng Minh hoàng hậu.
Ít người biết rằng Lê Đại Hành, vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê lại là cha vợ của Lý Thái Tổ, vị vua sáng lập nhà Lý. Theo chính sử, sau khi đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược Đại Cồ Việt của nhà Tống, đến đầu năm Nhâm Ngọ (982), vua Lê Đại Hành đã lập Thái hậu Dương Vân Nga của triều Đinh làm một trong 5 Hoàng hậu của ông và phong hiệu cho bà là Đại Thắng Minh hoàng hậu.
Ông người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc; nay là phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Họ Phạm có tài làm thơ nôm và nổi tiếng về thơ tình yêu. Khi Tây Sơn dấy lên, cha là Thạch Trung hầu, vốn đã làm quan với nhà Lê, có dự vào công cuộc cần vương, nhưng bị thất bại. Phạm Thái sau trưởng thành, quyết nối chí, thường kết bạn với những bậc nghĩa sĩ để mưu đồ khôi phục nhà Lê.
Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, Nguyễn Hữu Hào quê tổ của ông ở hương Gia Miêu, huyện Tống Sơn, trấn Thanh Hoa, nhưng bản thân ông được sinh trưởng ở Phú Xuân. Ông là hậu duệ đời thứ 9 của danh thần Nguyễn Trãi và là cháu nội của Tham tướng Chưởng cơ Nguyễn Triều Văn, con trưởng Chiêu Võ hầu Nguyễn Hữu Dật và là anh Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Hữu Hào là người văn võ toàn tài, từ nhỏ đã theo cha chinh chiến và được Ngãi vương Nguyễn Phúc Trăn tin dùng với chức Thống binh.
Giai thoại bà Phủ Ba Lưu Thị Hiên (1860 – ?) Bà sinh khoảng năm 1860, người làng Phù Lưu phủ Mỹ Đức tỉnh Hà Đông. Vốn là một đào nương thanh sắc, có theo đòi bút nghiên, lại có tâm hồn khoáng đạt, nên bà hay ngâm vịnh, tài làm thơ rất mẫn tiệp.
Bà chính tên là Nguyễn Thị Ngọc Khuê, con thứ tư cụ Nguyễn Đình Chiểu, sinh năm Quý Hợi (1863). Vóc người mảnh mai, tư dung thanh nhã, lại nhờ sự chăm sóc dạy dỗ của thân phụ nên sớm trở nên một trang tài sắc lẫy lừng. Song gặp lúc thời thế đảo điên, lòng người tráo trở, bà kén chọn mãi không tìm được nơi xứng ý, nên đến năm thân phụ tạ thế, bà đã 25 tuổi mà vẫn giữ phòng không.
Phan Văn Trị sinh năm Canh Dần (1830), tại làng Hạnh Thông, tỉnh Gia Định. Hai mươi tuổi đỗ cử nhân (năm Kỷ Dậu,Tự Đức II, 1849) nên thường gọi là Cử Trị. Thang mây sẵn bước, có thể ruổi dong trên hoạn lộ dễ dàng, nhưng vì tính khí ngang tàng, ông không chịu bó buộc thân mình, mặc dầu gia đình thanh bạch. Ông lấy việc dạy học và bốc thuốc làm phương độ nhật. Khi quân Pháp gây hấn ở Gia Định (1862) ông tránh xuống Vĩnh Long, kết bạn với Nguyễn Đình Chiểu và Huỳnh Mẫn Đạt.
Theo các tài liệu lịch sử còn lưu đến ngày nay, sau Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, vùng đất cổ Đường Lâm (nay là làng Cam Lâm, Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội) sinh ra thêm một minh vương nữa cho dân tộc, đó là Ngô Quyền. Ông sinh năm 899, mất năm 944, là con của Tướng Ngô Mân, châu mục Đường Lâm. Ngô Quyền nổi tiếng trong lịch sử là người có sức khỏe phi thường, chí lớn, mưu cao, giỏi cả võ công lẫn chiến thuật. Theo sử sách, Ngô Quyền khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi như cọp, có trí dũng.
Huyền thoại về bàn chân Giao Chỉ, là một huyền thoại từng được lưu truyền rất rộng rãi với giả thuyết cho rằng người Việt cổ là giống người có hai ngón chân cái choãi, chạm vào nhau, người Việt chúng ta ngày nay không còn giữ được đặc điểm đó nên không phải là hậu duệ của người Việt cổ, thuyết này dẫn tới quan điểm cho rằng người Việt là người Hán sang đồng hóa người bản địa, mang văn minh tới cho người Việt. Giả thuyết này đã được lan truyền rất rộng rãi, mà ít có sự xác minh các thông tin liên quan một cách khoa học và chính xác.
Ông sinh năm 1900 tại tỉnh Quảng Bình, bút hiệu Hoài Nam, chuyên học chữ nho trong khi chữ quốc ngữ và chữ Pháp đã phổ biến. Năm Mậu Ngọ(1918) vào kinh đô Huế dự kỳ thi hương cuối cùng nhưng không đỗ, ông ở luôn đó làm nghề viết báo cho mấy tờ báo xuất bản ở Huế như Thần kinh tạp chí, Tràng An báo. Đến năm 1929 hai tờ báo đình bản, ông về quê bốc thuốc và dạy chữ Hán.
From the publisher's feed