
Sign up to save your podcasts
Or


BÀI VIẾT TRÊN ĐẶC SAN TUỒI TRẺ 2/9/2024
Với xu hướng toàn cầu hóa, ngày càng nhiều công dân của các nước Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) chọn Việt Nam làm nơi sinh sống, phát triển sự nghiệp với đa dạng ngành nghề, trong đó có F&B - dịch vụ thực phẩm.
Chọn lập nghiệp ở TP.HCM, mỗi người một lý do để đến và ở lại, nhưng tất cả đều đang cùng góp thêm màu sắc Đông Nam Á cho thị trường F&B đang phát triển cực kỳ sôi động ở Việt Nam.
Bài viết trên tờ tuổi trẻ cuối tuần số tháng 9.2024 của Sáng Ánh: Thân phận phụ nữ Ấn Độ - Những gánh nặng kinh hoàng. Và bài viết của tác giả Bindu D Menon (Ấn Độ) phân tích những hệ quả của tư duy gia trưởng đối với gánh nặng này của phụ nữ.
Để bằng Đại học có giá - Bài viết của Bùi Khánh Nguyên - chuyên gia giáo dục - trên tờ VNExpress
Tháng 9 này, hơn nửa triệu tân sinh viên sẽ nhập học đại học trong nước, bất chấp thực tế dễ nhận thấy: tấm bằng đại học ngày nay, kể cả loại xuất sắc hoặc từ trường top, cũng không đảm bảo bất cứ điều gì cho một người trẻ về việc làm và tương lai.
Khi các đại học trên toàn thế giới chuyển hướng từ đào tạo tinh hoa sang đào tạo đại chúng, bằng đại học trở nên phổ thông, mà nhiều người thường đùa là "phổ cập đại học". Một số quốc gia có tỉ lệ người trong độ tuổi lao động (25 tới 64) được đào tạo ít nhất một bằng cấp sau phổ thông đạt tới 50% hoặc cao hơn bao gồm Australia, Canada, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc... Trong khi đó, số lượng công việc mới được sinh ra sẽ bị giới hạn nếu nền kinh tế quốc gia suy thoái. Rất nhiều nước, trong khi đẩy mạnh "xuất khẩu giáo dục" bằng cách thu hút sinh viên quốc tế, lại đồng thời siết chặt chính sách lao động với người nước ngoài để bảo vệ công ăn việc làm trong nước. Các doanh nghiệp cũng thường phản hồi rằng đào tạo ở đại học xa rời thực tiễn cuộc sống và nhu cầu doanh nghiệp, họ không nhận được những lao động sẵn sàng hoặc sớm sẵn sàng cho công việc, mà phải đào tạo lại. Tất cả những điều đó khiến tấm bằng đại học không còn là "bảo bối" việc làm cho thanh niên như vài thập kỷ về trước. Điều này đúng với cả Mỹ, Australia, châu Âu, không riêng Việt Nam.
Bản chất của bằng đại học là một chương trình đầu tư có chủ đích, không phải một lựa chọn ngẫu nhiên. Nếu như giáo dục phổ thông có tính bắt buộc để nâng cao dân trí, giáo dục đại học là một lựa chọn chủ động. Trong khi giáo dục phổ thông thường được các chính phủ bảo trợ như một quyền cơ bản của công dân, thì giáo dục đại học càng lúc càng được thương mại hóa. Rất nhiều nước châu Âu đã bỏ dần chính sách miễn phí đại học. Với các nhóm nước xuất khẩu giáo dục, tấm bằng đại học đắt đỏ hơn nhiều, như ở Anh, Mỹ, Australia, Canada... Sinh viên Mỹ không chỉ quan tâm đến học phí, mà thường phải tính toán rất kỹ món nợ phải trả cho chính phủ hoặc cho cha mẹ sau khi học xong, ngay cả khi họ chọn học tại bang nhà (home state) để được hưởng học phí dành cho các gia đình đóng thuế tại bang (in-state tuition).
Trong thời kỳ bao cấp và khi các đại học Việt Nam còn đào tạo theo hướng tinh hoa, một số nhỏ sinh viên được đảm bảo việc làm vì cầu nhiều hơn cung, do vậy việc duy nhất của sinh viên là học thật tốt và chờ phân công. Trong cơ chế thị trường, khi nhà tuyển dụng không chỉ có chính phủ, mà còn rất nhiều tổ chức, doanh nghiệp khác nhau, thì các sinh viên phải cạnh tranh để được bước chân vào những tổ chức tốt nhất (bản chất là lực lượng lao động tìm cơ hội tiếp cận tư liệu sản xuất), trong khi các đại học phải cạnh tranh để chứng minh với cả sinh viên và nhà tuyển dụng rằng mình đào tạo ra đúng những người mà tổ chức cần. Khi nền kinh tế không sản sinh đủ việc làm, sẽ có một tỉ lệ sinh viên gia nhập lực lượng thất nghiệp. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo còn gia tăng mối đe dọa về việc "máy làm thay người" với hiệu suất cao hơn trong những năm tới.
Đứng trước bối cảnh kinh tế và việc làm toàn cầu không chắc chắn, người trẻ cần học như thế nào để bằng đại học vẫn có thể là "tấm hộ chiếu" mở cánh cửa nghề nghiệp tương lai?
Thứ nhất, chọn đại học gắn với mục tiêu. Trước hết phải trả lời câu hỏi: Học để làm gì? Chưa xác định được mục tiêu, vào đại học sẽ làm mất mát nguồn lực của cá nhân, gia đình và xã hội. Rất nhiều bạn trẻ ngày nay chấp nhận dành ra 1-2 năm gap year (năm tạm nghỉ) để thực sự suy ngẫm về việc mình là ai, mình muốn gì trước khi vào đại học. Quãng thời gian gap year đó không hề uổng phí, vì nó có ích hơn nhiều việc bạn lao vào học đại học đúng tuổi 18 mà không hề có mục tiêu.
Thứ hai, cần tính đầy đủ chi phí cơ hội. Quan niệm truyền thống "học càng nhiều càng tốt", "học không bổ dọc cũng bổ ngang" là không đúng trong kinh tế học, bởi lý thuyết chi phí cơ hội (cost of opportunity) cho chúng ta biết rằng, khi chọn học một thứ, ta có thể bỏ lỡ cơ hội học những thứ khác, do vậy cần có tính toán tối ưu. Tất nhiên, tối ưu ở đây chỉ có thể xác định được nếu đã có mục tiêu. Lấy mục tiêu để so sánh các lựa chọn sẽ giúp người học biết đâu là lựa chọn không liên quan, đâu là lựa chọn nhanh nhất để tới đích.
Thứ ba là không có đại học tốt nhất cho mọi người, mà chỉ có đại học phù hợp nhất. Một đại học Mỹ thường tuyển sinh dựa vào nhiều tiêu chí cùng lúc, như điểm trung bình môn ở phổ thông (GPA), điểm các bài thi chuẩn hóa (SAT, ACT, AP) kết hợp các yếu tố khác như bài luận, hồ sơ hoạt động ngoại khóa, phỏng vấn trực tiếp... nhằm đảm bảo sự tương thích cao nhất giữa người học với trường đại học.
Thứ tư là học tập chủ động. Thế giới không ngừng biến động, và thế giới việc làm cũng vậy. Có những nghề nghiệp mới ra đời, nhưng cũng có những nghề mất đi. Ngay trong cùng một công việc cũng có sự thay đổi. Do vậy, chỉ có thể thông qua học tập chủ động và liên tục, cập nhật chính mình và làm cho mình thích ứng với bối cảnh hiện tại và tương lai mới giúp người học trở thành người lao động có giá trị. Nếu như trước đây, cứ chọn học đúng một chuyên ngành sẽ giúp người học có một nghề trong tay, thì ngày nay tỷ lệ đó thấp dần. Nhiều người phải chấp nhận chuyển đổi, rẽ ngang, học lại (reskilling), học nâng cao (upskilling) bên ngoài tấm bằng đại học truyền thống.
Hệ thống đại học Mỹ cũng có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các trường với triết lý khác nhau bao gồm đại học nghiên cứu (mạnh về nghiên cứu), đại học vùng (mạnh về đào tạo nghề và thực hành), đại học khai phóng (mạnh về kỹ năng, tư duy và kết nối liên ngành) và mỗi nhóm đều tự hào có thể tạo ra những sinh viên có ưu điểm riêng để sẵn sàng cho thị trường lao động. Do vậy, cũng không có cách học nào được coi là "tiêu chuẩn", mà mỗi người phải tự thiết kế một chiến lược học tập cho mình, chọn lấy những gì phù hợp.
Thứ năm, đừng tự giới hạn trong lựa chọn học đại học. Trong rất nhiều trường hợp, các khóa học cao đẳng, trung cấp, chứng chỉ... lại phù hợp hơn khi xét đến các yếu tố như yêu cầu cụ thể của nghề nghiệp, chi phí bỏ ra cùng thời gian hoàn vốn, bối cảnh việc làm tại địa phương, khoảng cách di chuyển... Ví dụ, nhiều học sinh không có khả năng nhập học đại học vì hoàn cảnh gia đình nhưng lại bỏ qua các lựa chọn gần nhà, với cơ hội việc làm tại chỗ. Trong khi một số nghề nghiệp chuyên môn bắt buộc phải có bằng đại học, một số nghề khác có tính linh hoạt hơn nhiều.
Cuối cùng, là xây dựng thương hiệu cá nhân. Trong khi các quốc gia, các trường đại học cũng phải cạnh tranh ở cấp độ toàn cầu để chứng tỏ giá trị của nền giáo dục mà mình cung cấp, thì sinh viên ngày nay cũng cần có chiến lược xây dựng thương hiệu cá nhân trước nhà tuyển dụng. Vì giá trị của bằng đại học, ở cấp độ cá nhân trong kết nối với xã hội, là giá trị mà nhà tuyển dụng đánh giá ứng viên.
Kỳ vọng với một tấm bằng đại học là người mang nó đã có khả năng tư duy độc lập, có năng lực tự học, nghiên cứu và thực hành một chuyên môn, nghề nghiệp suốt đời, sẵn sàng bước chân vào tổ chức để tạo ra giá trị. Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra bằng đại học bị mất giá khi giáo dục đại học bị thương mại hóa: tuyển sinh tràn lan, dễ dãi, lạm phát điểm, chương trình học phớt lờ nhu cầu thực tiễn, chất lượng đào tạo không đáp ứng được tiêu chuẩn hành nghề của các hiệp hội, nghiệp đoàn chuyên môn... Những điều đó hầu như nằm ngoài tầm kiểm soát của chính người học. Người học chỉ có thể thông qua việc lựa chọn khôn ngoan, đặt ra mục tiêu cụ thể, nỗ lực để việc học của mình hướng tới giải quyết vấn đề của cuộc sống và xã hội.
Bản chất cao nhất của việc học là để giải quyết các vấn đề, cả lý luận lẫn thực tiễn. Bạn càng giải quyết được vấn đề to lớn, phức tạp và hữu ích, tấm bằng của chính bạn càng có giá.
Không phải tự nhiên mà nhiều quốc gia chịu nạn “chảy máu chất xám”, và cũng không tình cờ mà lại có nền kinh tế vượt lên thành nam châm hút nhân tài so với nơi khác. Hơn nhau ở chỗ cách trải thảm đỏ ở thời nhân tài như lá mùa thu. Bài viết của tác giả Tịnh Anh trên tờ Tuổi trẻ cuối tuần 8.9.2024
“Nỗ lực ít nhất mà chăm sóc sức khoẻ tốt nhất” là khái niệm “lãn hệ kiện khang”(chăm sóc sức khoẻ kiểu người lười) một xu hướng đang lên ngôi trong giới trẻ Trung Quốc. Cùng lắng nghe bài viết của tác giả Cảnh Chánh trên tờ Tuổi trẻ cuối tuần tháng 9/2024.
Để mô tả thế hệ cử nhân đại học thất nghiệp hoặc có mức lương không đủ sống, mạng xã hội Trung Quốc dùng khái niệm "thế hệ đuôi chuột". Tấm bằng đại học, mang kỳ vọng và suất đầu tư quá lớn của mỗi gia đình, là cái đầu voi.
Cuộc sắm sửa đầu voi của các gia đình Việt Nam cũng rầm rộ không kém nền khoa cử Á Đông nào. Nó có thể kéo dài từ 6 - 8 năm, từ lúc một học sinh bắt đầu bước chân vào cổng trường cấp III đến khi tốt nghiệp đại học.
Suất đầu tư đang có xu hướng tăng. Báo cáo của World Bank khẳng định tỉ lệ chi tiêu cho giáo dục đại học của một hộ gia đình Việt Nam, trung bình từ năm 2010 đến 2018, đã tăng gần gấp rưỡi, từ 8% lên 11,5%.
Công cuộc đi tìm một căn nhà trọ có lẽ phản ánh rõ nét nhất tình hình của suất đầu tư và suất sinh lợi nơi tấm bằng đại học.
Nhìn từ căn phòng trọ
Tháng 8, trước mùa khai giảng, phụ huynh và con cái bắt đầu lên các thành phố lớn để chuẩn bị hạ tầng đón đầu voi.
Trong những ngõ nhỏ quanh các đại học lớn, trước những "chung cư mini", người ta thấy họ đứng cạnh người môi giới bất động sản, với dáng điệu dễ nhận diện. Họ tần ngần nhìn lên cửa sổ căn phòng trọ vừa xem, mải mê suy tính; người môi giới bên cạnh nói liên tục, luôn có dáng vẻ đang phân trần.
Tuổi Trẻ Cuối Tuần đã thực hiện cuộc khảo sát mini với 85 khu trọ tại Hà Nội và TP.HCM, thông qua tin rao cho thuê nhà trên các hội nhóm, với phòng cho thuê giá từ 1 - 5,5 triệu đồng, tập trung tại các quận ngoại vi, nơi có nhiều trường đại học và khu trọ sinh viên, như Gò Vấp, Tân Bình (TP.HCM) hay Cầu Giấy, Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm (Hà Nội).
Giá thuê trung bình mỗi mét vuông theo tháng, ở 43 khu được khảo sát của Hà Nội, là 241.000 đồng/mét vuông. Tại TP.HCM, con số này là 360.000 đồng. Diện tích càng nhỏ thì chi phí để có một mét vuông sống càng cao.
Bất chấp các chính sách lý tưởng, thị trường nhà trọ tại 2 đô thị lớn nhất nước vẫn đang cung ứng nhiều căn buồng chỉ kê vừa một chiếc nệm, không có nhà vệ sinh riêng và thường xuyên không có cửa sổ.
Tại Hà Nội, những căn buồng có diện tích dưới 10 mét vuông sẽ có giá trung bình 400.000 đồng/mét vuông; tại TP HCM, nếu chọn kiểu "chỗ ngả lưng" này, giá là 500.000 đồng.
Nói đơn giản, người thuê trả hơn 1 triệu đồng thì chỉ được một căn "buồng" kê vừa đúng tấm nệm đơn và một lối đi. Ngược lại, với 4,5 triệu, căn phòng sẽ có diện tích 28 mét vuông, tức giá theo mét vuông bằng 1/3.
Giá cũng rẻ hơn với phòng không có nhà vệ sinh riêng hoặc cửa sổ trời. Tất nhiên, phòng với giá thuê trên 5 triệu đồng, ngoài diện tích, sẽ còn kèm nhiều tiện ích, bao gồm cả tủ lạnh, máy giặt và bình nước nóng.
Chất lượng sống không dừng lại ở diện tích và tiện ích nơi trọ. Trong 85 khu được khảo sát, chỉ 5 khu khẳng định "đảm bảo tiêu chuẩn phòng cháy chữa cháy" và duy nhất một khu ở Nam Từ Liêm cẩn thận thông báo "có lối thoát hiểm".
Mức thu nhập trung bình của hộ gia đình nông thôn Việt Nam không đồng thuận với giá phòng trọ hơn 5 triệu mỗi tháng ở đô thị lớn. Trung bình, mỗi người dân khu vực nông thôn có thu nhập chỉ 3,86 triệu đồng/tháng.
Nếu lấy mức giá một "chỗ ngủ" trên dưới 3 mét vuông, là 1,5 triệu đồng, cộng với mức sống tối thiểu (1,68 triệu đồng/tháng), cộng thêm mức học phí đại học tối thiểu (10 triệu đồng/năm), con số đã lên tới gần 4 triệu đồng/tháng, tức một người đi làm ở nông thôn không nuôi nổi một người học đại học. Và đó là giả định tối thiểu, vốn đừng mơ đáp ứng nổi thực tiễn.
Nỗ lực tạo "đuôi voi"
Khảo sát mức thu nhập của các nhóm lao động Việt Nam theo học vấn chỉ ra: nhóm có bằng đại học đang tụt lại về tương quan so với các lao động có trình độ thấp hơn.
Nếu lấy người chưa tốt nghiệp tiểu học làm mức cơ sở thì thu nhập của nhóm có bằng đại học tại Việt Nam đã giảm 30% trong 10 năm qua.
Điều này không có nghĩa là thu nhập trung bình của người học đại học giảm, mà là nó không tăng nhanh bằng mức tăng của phần còn lại, những người chỉ tốt nghiệp tiểu học hoặc phổ thông, vốn đa phần tham gia thị trường lao động giản đơn. Suất sinh lời sụt giảm, trong khi suất đầu tư tăng lên, nêu ra nhiều câu hỏi với tấm bằng đại học.
Ngành giáo dục nhận thức được vấn đề. Văn kiện Đại hội Đảng XIII khẳng định: "Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội".
Thống kê về tỉ lệ thất nghiệp, các khảo sát thể hiện sự không hài lòng của nhà tuyển dụng, và cả kiểm điểm của chính ngành giáo dục, cho thấy quá nhiều cải cách cần được thực thi.
Chiến lược mới nhất của cả Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP.HCM đều khẳng định tôn chỉ "lấy người học làm trung tâm" và thậm chí đi xa hơn, với tầm nhìn "cá nhân hóa" quá trình học thông qua phân tích dữ liệu.
Tuy nhiên, khó khăn đến ngay từ khâu thu thập dữ liệu. "Các trường thành viên của hai Đại học quốc gia (Hà Nội và TP.HCM) và Đại học vùng (Đại học Đà Nẵng) sử dụng nhiều phần mềm thương mại/hoặc tự xây dựng phần mềm riêng biệt để quản lý lượng lớn dữ liệu và thông tin.
Nhiều hệ thống này đã lỗi thời và đặc tính dữ liệu không được chuẩn hóa đầy đủ. Việc thiếu hệ thống thông tin quản lý tích hợp, toàn diện sẽ ngăn cản việc tổng hợp dữ liệu cần thiết để có thể dễ dàng tiến hành phân tích nhằm cung cấp thông tin làm cơ sở ra ra quyết định cho các đại học", Dự án Hợp tác đổi mới giáo dục đại học (PHER), do Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ và 3 đại học lớn tại Việt Nam thực hiện, khẳng định trong một đánh giá năm 2021.
Việc thiếu liên thông dữ liệu ngay từ các trường, khoa và trung tâm thành viên trong một đại học được các trường nhìn nhận từ nhiều năm qua. Trong bài viết năm 2022 trên Vietnamnet, PGS.TS Vũ Hải Quân, giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, thừa nhận hệ thống dữ liệu của trường còn "rời rạc".
Một nguyên nhân dễ nhận thấy là ngân sách đầu tư thấp và nhỏ giọt, dẫn tới việc các đơn vị phải mua "phần mềm riêng biệt" thay vì đầu tư toàn hệ thống.
Nguồn: World Bank
Cả hai Đại học Quốc gia đều đang phải xây dựng lại kiến trúc quản lý thông tin. Nhờ hỗ trợ của Dự án PHER, Đại học Đà Nẵng cũng đang tham gia quá trình này.
Họ tin rằng thành công trong xây dựng một kiến trúc quản lý thông tin, liên thông dữ liệu sẽ trở thành hình mẫu cho các trường trong cả nước.
Nhưng liên thông dữ liệu và hiểu người học chỉ là một bước nhỏ. Theo Dự án PHER, nỗ lực đổi mới tập trung vào 4 trụ cột.
Đầu tiên là "quản trị", trong đó hoạt động chính bao gồm xây dựng hệ thống thông tin quản lý, bộ chỉ số đo lường hiệu quả chính (KPI), và hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ cho các trường. Thứ ...
Bài viết của Phan Bảo trên tờ Tuổi trẻ cuối tuần số tháng 9.2024. Bài báo phân tích về các thành công của các podcast lịch sử và phần nào cũng phản ánh lên bức tranh của các xu hướng truyền thông giáo dục mới.
Bài viết trên tờ Tuổi trẻ Cuối tuần số tháng 9.2024
Thuật ngữ "COVID kéo dài" để chỉ các di chứng dai dẳng của người nhiễm vi rút SARS-CoV-2 được đưa ra vào tháng 5-2020. Chữ "kéo dài" đã vận cả vào các nghiên cứu giải mã tình trạng mạn tính này.
"Cuối cùng thì quyền riêng tư quan trọng hơn nỗi sợ về những điều tồi tệ xảy ra, như khủng bố chẳng hạn". Với quan điểm đó, nhà sáng lập Pavel Durov đã để Telegram là miền tây hoang dã của mạng xã hội. Bài viết trên TTCT
Telegram cơ bản là một ứng dụng nhắn tin như iMessage hoặc WhatsApp, nhưng người dùng cũng có thể tạo nhóm lên tới 200.000 thành viên và kênh broadcast để phát nội dung. Theo The New York Times, các tính năng này đặc biệt phổ biến với người dùng ở Ukraine, Brazil, Indonesia, Ấn Độ và Nga.
Người dùng Telegram liên tục tăng vì ứng dụng này đi ngược với các nền tản nhắn tin khác: trong khi WhatsApp tăng cường kiểm duyệt nội dung, giảm kích thước nhóm nhằm chống lại thông tin sai lệch thì Telegram vẫn cứ phây phây.
Người dùng có ba cách khai thác các tính năng của Telegram: trò chuyện cá nhân 1-1, mã hóa đầu cuối; tạo nhóm để lôi kéo, chiêu dụ cá nhân cùng chí hướng cho các mục đích cực đoan; mở kênh và đăng tải nội dung cực đoan công khai mà không sợ bị kiểm duyệt.
Không gian nội dung trên Telegram là một vùng xám, giữa công khai và riêng tư: nội dung của nó không xuất hiện trên Google và chỉ ai đã "vào nhóm" mới có thể tiếp cận, cấm cửa người ngoài.
Những khả năng này, kết hợp với sự kiểm duyệt tối thiểu của ứng dụng, đã khiến Telegram trở thành nơi trú ẩn cho các cá nhân và nhóm bị cấm trên các nền tảng khác như X (Twitter) và Facebook.
Chẳng hạn, Patriotic Alternative, một nhóm được cho là truyền bá chủ nghĩa Tân Quốc xã, có gần 7.000 thành viên và nhóm ngưỡng mộ Hitler Mark Collett có tới 20.000 người tham gia trên Telegram, trong khi cả hai đều bị X cấm.
Ông Nguyễn Thanh Mỹ tốt nghiệp khoa Hóa, Đại học Bách khoa TP HCM năm 1978. Di cư sang Canada năm 1979, sau 25 năm làm việc tại Canada và Mỹ, ông trở về quê Trà Vinh và sáng lập công ty công nghệ cao đầu tiên của tỉnh Trà Vinh. Đến nay, ông đã tham gia đồng sáng lập 8 doanh nghiệp.
Ông lấy bằng Tiến sĩ về Khoa học năng lượng và vật liệu năm 1990 tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu về năng lượng, vật liệu và viễn thông Canada. Ông nhận bằng Thạc sĩ về Chất xúc tác dị thể vào năm 1988 và Cử nhân Hóa học phân tích năm 1986 tại Đại học Concordia, Canada.
Ông Nguyễn Thanh Mỹ từng là nhà nghiên cứu khoa học ở Trung tâm nghiên cứu IBM Almaden tại San Jose, California, Mỹ và là nhà cộng tác nghiên cứu tại INRS-Energy and Materials, Canada; nhiều năm làm quản lý kỹ thuật tại Kodak Polychrome Graphics ở Carlstad, New Jersey, Mỹ.
Ông là nhà phát minh và đồng phát minh của hàng trăm bằng sáng chế được công nhận ở Mỹ, Canada và một số nước.
From the publisher's feed