
Sign up to save your podcasts
Or


Các kiểu tuần tự và biện giải về tuần tự ba la mật
Thinh văn, Độc Giác và Chánh đẳng giác có các điều kiện ràng buộc để hoàn mãn hạnh nguyện.
Ngài Buddhaghosa trong Thanh Tịnh Đạo có giải về sáu cơ tánh (carita) chúng sanh: người có tánh trí và tánh sân giống nhau ở điểm "vô tình", nhưng sân thì "buộc tội chúng sanh", trí buộc tội các hành (saṅkhāra).
[1] - Dhp, câu 203.
[2] - M.i, Kinh Niệm xứ (satipaṭṭhānasutta).
[3] - Đại Đức Giác Giới - Tầm nguyên ngữ căn Pāli.
[4] - Dại trưởng lão Hộ Tông (soạn)- Thập Độ - Bồ Tát Mahā Javaka
[5] - J.A- Phẩm ba kệ, tiền thân Satapatta ( Bổn sanh số 279).
[6] - Dhp, câu số 85- 86. HT. Thích Minh Châu dịch.
[7] - A.iv, 245.
[8] - Sn. (Ratanasutta) Kinh Châu báu. HT. Thích Minh Châu dịch.
[9] - Đại Đức Giác Giới - Tầm nguyên ngữ căn.
[10] - Dhp - kệ ngôn số 75 – HT. Thích Minh Châu dịch.
[11] - A.i, 115.
Điểm chung của 10 pháp Balamật là:
- Trạng thái (lakkhaṇa): Mang lợi ích đến người khác.
- Phận sự (rasa): Có sự kiên định vững chắc.
- Thành tựu (paccupaṭṭhāna): Tâm hướng đến lợi ích cao nhất.
- Nhân cần thiết (padaṭṭhāna): Lòng bi mẩn (karuṇā) và trí thiện xảo trong phương tiện (upāya kosalla ñāṇa).
Đến Bờ Kia - Pāramitā hay Pāramī:
Tỳ khưu Chánh Minh
*- Parā + căn mī = pāramī .
Tiếp đầu ngữ parā là trái ngược, căn mī là "nghiền nát", "thả rơi".
- Nghiền nát những pháp ác xấu, gọi là Balamật. Hay:
- Pháp nào có khả năng chiến thắng những pháp ác xấu, pháp ấy là Balamật.
- Thực hành những pháp "thả rơi (buông bỏ)" những cấu uế ở trong tâm, gọi là thực hành pháp Balamật.
*- Parā + ngữ căn maja (trong sạch) = pāramī .
"Đưa đến bờ trong sạch, gọi là Balamật".
*- Parā + căn mana (buộc vào, thắt chặt) = pāramī.
-Buộc danh sắc dính vào con đường đến bờ kia, gọi là Balamật".
*- Pāra + căn mu = pāramī.
Pāra nghĩa là "bờ bên kia", căn mu là "xác quyết".
Vị Bồ tát xác định: "bờ bên này là đau khổ vì chịu nhiều sinh diệt, bờ bên kia là an tịnh, không còn đau khổ, sầu muộn".
*- Pāra + ngữ căn mi (nghiền nát) = pāramī.
Vị Bồ tát đến bờ kia, khi Ngài đã nghiền nát mọi kẻ thù làm ô nhiễm danh sắc, kéo danh sắc vào vòng khổ lụy luân hồi.
Lược sử triết học - Những hỏi đáp
Đến Bờ Kia - Pāramitā hay Pāramī:
Tỳ khưu Chánh Minh
Tiếp đầu ngữ para có nghĩa là: "cái khác", "vật khác".
*- Para + căn mava = pāramī.
Căn mava nghĩa là "thắt chặt, kết lại".
- Kết chặt những pháp (cao quý) vào với nhau, gọi là Balamật.
Như khi Ngài hành pháp bố thí, chủ yếu là vô tham (alobha), nhưng có nhiều pháp tùy thuộc vào pháp này như: đức tin, giới hạnh, tâm từ, tâm bi... Các pháp tùy thuộc (anudhamma) ấy được vị Bồ tát khéo léo "thu hút" vào, trở thành "khối thiện pháp bố thí".
*- Para + ngữ căn mu = parama.
Ngữ căn mu có hai nghĩa: "nhốt lại" và "xác quyết".
Vị Bồ tát "nhốt lại" các pháp đối nghịch với thiện pháp, nên Ngài là bậc cao quý.
*- Paraṃ + căn majja = Pāramī
Paraṃ nghĩa là "qua khỏi", "xa hơn nữa", "bờ kia". Căn majja là "làm cho sạch sẽ".
- Balamật là pháp quét sạch những ô nhiễm để đi đến bờ kia. Hay:
- Vị không còn những ô nhiễm sau khi quét sạch chúng bằng những pháp nào, pháp ấy gọi là Balamật.
Ngữ căn majja còn có nghĩa là "đi".
"Đi đến bờ kia hay pháp đưa đến bờ kia, gọi là Balamật".
*- Paraṃ + ngữ căn maja (trong sạch) = pāramī .
- Pháp nào khi thực hành càng làm cho tâm trong sạch hơn trước, pháp ấy gọi là Balamật.
Lý Trí
Ảnh chụp sách: https://drive.google.com/drive/u/1/folders/1guOP_rR6BtxxtyM8S5z4KZgcklqd0vaq
From the publisher's feed