
Sign up to save your podcasts
Or


Ðông chu liệt quốc chí" bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên). Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Sử cũng gọi thời kỳ ấy là đời Ðông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng đời Xuân thu còn ở trong chế độ nô lệ).
Ðông chu liệt quốc chí" bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên). Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Sử cũng gọi thời kỳ ấy là đời Ðông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng đời Xuân thu còn ở trong chế độ nô lệ).
Ðông chu liệt quốc chí" bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên). Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Sử cũng gọi thời kỳ ấy là đời Ðông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng đời Xuân thu còn ở trong chế độ nô lệ).
Ðông chu liệt quốc chí" bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên). Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Sử cũng gọi thời kỳ ấy là đời Ðông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng đời Xuân thu còn ở trong chế độ nô lệ).
Ðông chu liệt quốc chí" bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên). Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Sử cũng gọi thời kỳ ấy là đời Ðông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng đời Xuân thu còn ở trong chế độ nô lệ).
Ðông chu liệt quốc chí" bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên). Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Sử cũng gọi thời kỳ ấy là đời Ðông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng đời Xuân thu còn ở trong chế độ nô lệ).
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Bách Lý Hề lại tiến cử Kiển Thúc với Tần Mục công, tự nhận mình không sánh được với Kiển Thúc. Tần Mục công bèn đi nghênh tiếp Kiển Thúc về Tần, phong làm Thượng đại phu.
Năm xưa, do nhà nghèo không có gì mở tiệc đãi chồng trước lúc lên đường, vợ Bách Lý Hề đã giết con gà duy nhất mà họ có, tháo cánh cửa nhà để làm củi nấu bữa cơm tiễn biệt. Câu chuyện về vị Tể tướng nước Tần nổi danh và được chuộc về bằng 5 tấm da dê đã lan truyền khắp nơi, vợ của Bách Lý Hề cũng nghe được. Vì thế bà đã tới nước Tần để tìm chồng, nhưng không rõ liệu đó có phải là chồng mình hay không. Cuối cùng bà tìm được công việc giặt giũ trong phủ của Bách Lý Hề. Vợ của ông đổi thành họ Đỗ, được nhiều người quý mến vì là người chăm chỉ và vui vẻ.
Một ngày nọ Bách Lý Hề mở tiệc đãi quan khách, Đỗ Thị đã nhờ đoàn nhạc cho được biểu diễn vì nói mình có tài ca hát. Họ đã đồng ý giúp bà. Khi lên sân khấu, bà đã chơi một bản nhạc réo rắt nỗi buồn đau của người vợ mòn mỏi chờ trông chồng nơi xa xôi.
Bách Lý Hề vô cùng bất ngờ khi nghe bài hát, không ai biết những điều này trừ vợ của mình. Ông đã cho mời người nghệ sĩ vừa hát đó lên và nhận ra đó chính là vợ mình.
Họ đã không gặp nhau suốt 30 năm, cả hai đều ôm chầm lấy nhau mà khóc vì mừng rỡ và xúc động. Gia đình họ cuối cùng đã đoàn tụ và sống hạnh phúc bên nhau.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Ly Cơ muốn hại Thân Sinh để giành ngôi Thái tử cho con mình, bèn gièm pha Thân Sinh với Hiến công, Hiến Công bèn sai Thân Sinh đi đánh quân Xích Địch, Thân Sinh đem quân phá đc Xích Địch. K lâu sau, Nước Ngu và Quắc là 2 nước láng giềng đem quân quấy nhiễu bờ cõi. Năm 658 TCN, Tấn Hiến công quyết định phát động đánh nước Quắc. Tuy nhiên nước Quắc có nước Ngu, vốn là con cháu Ngô Thái Bá và Ngô Trọng Ung – bác của Chu Văn Vương, có họ với nước Tấn – là láng giềng thường cứu trợ lẫn nhau. Theo kế của Tuân Tức, ông sai người lấy ngựa tốt và xe đẹp tặng vua nước Ngu để mượn đường đánh Quắc. Vua nước Ngu bằng lòng cho Tấn mượn đường đánh Quắc và cam kết sẽ không cứu viện cho nước Quắc nữa. Đại phu nước Ngu là Cung Chi Kỳ khuyên vua Ngu không nên đồng ý mà nên liên minh với Quắc vì hai nước ở địa thế che chở cho nhau; nếu cho mượn đường thì Tấn sẽ diệt cả Ngu sau khi diệt Quắc. Tuy nhiên vua Ngu không nghe. Kết quả quân Tấn kéo sang đánh, nước Quắc yếu không chống nổi, lại không có cứu viện của nước Ngu nên bị tiêu diệt. Quắc công Sửu bỏ chạy sang nương nhờ thiên tử nhà Chu (Chu Huệ Vương). Sau khi diệt Quắc, Tấn Hiến công mang quân quay lại đánh úp nước Ngu, diệt nốt nước Ngu, bắt sống Ngu công và Bách Lý Hề. Cung Chi Kỳ bỏ trốn từ trước nên thoát. Nước Ngu truyền từ Ngu Trọng được Chu Vũ vương phong tới đó chấm dứt. Việc mượn đường Ngu diệt Quắc của Tấn Hiến công được đời sau gọi là Giả đạo phạt Quắc (假道伐虢), một trong ba mươi sáu kế sách lược của quân sự Trung Quốc cổ đại.
Bách Lý Hề là người nước Ngu. Mặc dù tài năng, ông xuất thân từ một gia đình rất nghèo và không thể thi thố tiềm năng của mình cho đến thời gian ông ở độ tuổi 30. Sau nhiều lời động viên từ người vợ của mình, ông rời nhà để tìm kiếm cơ hội thuận lợi hơn và hy vọng thúc đẩy tham vọng sự nghiệp của mình. Trc khi đi Đỗ Thị níu áo chống, nói: Lúc phú quý xin chớ phụ nhau. Bách lý Hề sang nước Tề, muốn xin vào yết-kiến Tề tương-công nhưng không có ai tiến đẫn, đành phải đi ăn xin nơi đất Diệt trong thời gian khá lâu. Lúc đó, Bá lý-Hề đã bốn mươi tuổi trong thời gian này quen đc một người tên Kiên-thúc. Bách Lý Hề có lúc ở nước Tề muốn theo Công Tôn Vô Tri.[4] Lúc đó, chính quyền nước Tề tham nhũng và ông không có tiền để hối lộ các quan chức. Chẳng bao lâu, ông đã sử dụng hết tất cả tiền bạc của mình và buộc phải ăn xin trên đường phố. Ông quen người bạn mới là Kiển Thúc (蹇叔), Bách Lý Hề nghe theo lời can ngăn của Kiển Thúc và thoát nạn (do sau này Vô Tri lại bị người nước Tề giết). Sau đó ông sang nhà Chu, định theo giúp Vương Tử Đồi, cũng bị Kiển Thúc can ngăn, Bách Lý Hề cũng nghe theo. Quả nhiên sau này Tử Đồi làm loạn và bị giết, Bách Lý Hề do không theo Tử Đồi nên thoát nạn. Sau đó Bách Lý Hề về nước Ngu định làm đại phu. Kiển Thúc lại can gián nhưng lần này ông không đồng ý. Sau đó, năm 655 TCN, Tấn Hiến công đem quân diệt nước Ngu. Bách Lý Hề bị quân nước Tấn bắt đem về. Tấn Hiến công sai ông làm người hầu con gái mình là Mục Doanh. Năm 655 TCN, Tần Mục công sang nước Tấn, hỏi cưới Mục Doanh làm phu nhân. Bách Lý Hề cũng theo Mục Doanh về nước Tần. Giữa đường, Bách Lý Hề bỏ trốn sang đất Uyển, bị dân biên giới nước Sở bắt được và giam giữ. Tần Mục công nghe Bách Lý Hề là người hiền tài, bèn sai người sang chuộc về nước, nhưng sợ người nước Sở biết ông là người giỏi mà không cho chuộc, nên chỉ dùng năm tấm da dê để chuộc. Người nước Sở bằng lòng cho chuộc. Bách Lý Hề được về nước Tần. Năm đó ông đã hơn 70 tuổi. Tần Mục công đích thân ra đón Bách Lý Hề, lập tức phóng thích ông, và cùng bàn quốc sự suốt ba ngày. Sau đó, vua Tần phong ông làm Thượng khanh, cai quản quốc chính, gọi là Ngũ Cổ đại phu.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Sở thấy quân chư hầu hùng mạnh, đành phải cầu hòa, quay lại triều cống nhà Chu như trc. Chu Huệ Vương mừng lắm, ban thưởng cho nước Sở rất hậu. Chu Huệ vương yêu quý người con nhỏ là vương tử Đái, muốn phế thái tử Trịnh để lập Đái. Tề Hoàn công biết tin, bèn xin cho thái tử đến dự hội chư hầu để bảo đảm ngôi vị cho thái tử. Chu Huệ vương không ngăn cản được bèn đưa mật thư cho Trịnh, nói Trịnh liên kết với Sở để chống lại nước Tề. Trịnh Văn Công bỏ hội chư hầu theo Sở khiến Hoàn Công nổi giận, đem quân vấn tội. Sở đem quân đánh Húa để giải vây cho Trịnh, quân Tề phải rút về. Sang năm Tề lại kéo quân đánh Trịnh khiến Trịnh Văn Công phải chém đầu Than hầu mang sang nộp cho Tề, Tề vs Trịnh lại giảng hòa.
Năm 652 TCN, Chu Huệ Vương mất. Ông ở ngôi 25 năm. Tề Hoàn Công hôi chư hầu ở đất Thao đưa Thái tử Cơ Trịnh về triều lên nối ngôi, tức là Chu Tương Vương(18th).
Tề Hoàn công có 6 người con trai, thấy nhà Chu loạn chỉ vì ngôi trg, thứ ông bèn lập công tử Khương Chiêu làm Thế tử. Khi đã già yếu, ông cùng Quản Trọng ủy thác Khương Chiêu cho Tống Tương công giúp đỡ. Đầu năm 651 TCN, Tề Hoàn công hội chư hầu ở đất Quỳ Khâu. Chu Tương Vương mới lên ngôi, sai Tể Khổng mang thịt tế và cung tên, xe đại lộ ra ban cho ông và nói với ông không cần lạy. Hoàn công toan nghe theo nhưng Quản Trọng khuyên ông làm lễ nhận đồ thiên tử nhà Chu ban cho. Tề Hoàn công nghe theo. Mùa thu năm đó, Tề Hoàn công lại họp chư hầu. Ông tỏ ra kiêu căng, vì vậy nhà Chu và một số chư hầu phật ý. Năm đó Tấn Hiến công ở xa, chưa kịp đến dự hội chư hầu thì hội tan; khi trở về nước thì qua đời. Từ đó, nước Tấn sinh lắm điều rối loạn...
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Vệ Ý công-vua t18 của Vệ thích chơi chim hạc, hết sức chiều chuộng và hậu đãi, tốn nhiều tiền của. Điều đó khiến người nước Vệ bất bình. Năm 660 TCN, quân Bắc Địch mang quân đánh nước Vệ. Người trong nước không ủng hộ Vệ Ý công nên tình hình bất lợi. Ông ủy thác việc chống giữ cho Thạch Kỳ và Ninh Trang Tử, sai Cừ Khổng và Tử Bá ra trận. Quân Vệ đánh nhau với quân Địch ở Huỳnh Trạch, bị thua to. Quân Vệ tan vỡ. Do Vệ Ý công không bỏ cờ đại bái, quân nước Địch theo chỗ có cờ xông đến giết chết Ý công. Vệ Ý công làm vua được 9 năm. Do người nước Vệ không có thiện cảm với Vệ Huệ công giết các anh tranh ngôi, không muốn lập lại dòng dõi của Huệ công nên Tống Hoàn công lập con công tử Ngoan (em cùng mẹ Cấp Tử) là Cơ Thân lên nối ngôi, tức là Vệ Đái công-vua t19. Cùng lúc, bá chủ Tề Hoàn công cũng sai con trưởng là công tử Vô Khuy mang 3000 quân và 500 cỗ xe cứu giúp nước Vệ, chu cấp thực phẩm đồ dùng cho Vệ Đái công. Tuy nhiên Vệ Đái công làm vua không được lâu thì mất. Tề Hoàn công lập em ông là công tử Hủy lên nối ngôi, tức là Vệ Văn công-vua t20. Tề Hoàn công giúp nước Vệ đánh lui quân nước Địch và khôi phục lại quốc gia, huy động các chư hầu cùng xây dựng, sửa sang lại thành trì. Vệ Văn công lên ngôi trong hoàn cảnh khó khăn, ông ra sức đồng cam cộng khổ với dân chúng để xây dựng lại đất nước, thi hành pháp luật công bằng, không hưởng lạc xa hoa. Do sự chăm chỉ của Vệ Văn công, người dân nước Vệ rất cảm phục, nước Vệ dần dần được phục hồi. Năm 659 TCN Vệ Văn công dời đô tới Sở Khâu, tuy nhiên bấy giờ Vệ đã suy yếu.
Năm 659 TCN, do muốn làm bá chủ chư hầu Sở Thành vương mang quân đánh Trịnh để tiến vào trung nguyên. Tề Hoàn công muốn cứu Trịnh bèn đem quân đánh Sái rồi tiến vào Sở. Quân Sở đành rút lui. Năm 657 TCN, vợ Tề Hoàn công là Sái cơ bị Hoàn công ghét. Sái cơ bỏ về nước. Sái hầu đem Sái cơ mang con gái gả cho người khác. Tề Hoàn công bèn hội chư hầu mang quân đánh. Đầu năm 656 TCN, quân Tề đánh tan quân Sái nhưng mưu kế đánh Sở đã lộ. Sở Vương điều quân về trấn giữ. Hoàn Công hội 6 nước chư hầu chuẩn bị đánh Sở. Vừa đénn biên giới thì đã có quân đại phu nước Sở là Khuất Hoàn chờ sẵn...
From the publisher's feed