
Sign up to save your podcasts
Or


Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Vệ Tuyên công là con của Vệ Trang công – vua t12 nước Vệ, em của Vệ Hoàn công và Vệ Châu Du - các vua t13 và 14 nước Vệ. Năm 719 TCN, Châu Dụ giết Vệ Hoàn công giành ngôi. Theo thỉnh cầu của đại phu Thạch Thước, Trần Hoàn công giết Châu. Lúc đó Cơ Tấn đang ở quê mẹ là nước Hình. Người nước Vệ đón ông về lập lên làm vua, tức là Vệ Tuyên công. Vệ Tuyên công lúc chưa lên ngôi đã tư thông với vợ lẽ của cha là Di Khương sinh được một trai tên là Cấp Tử. Sau khi lên ngôi, ông lập Cấp Tử làm thế tử, giao cho công tử Chức giúp đỡ. Khi Cấp Tử lớn, Vệ Tuyên công cho người sang hỏi con gái Tề Ly Công là Tuyên Khương về làm vợ cho Cấp Tử. Nghe nói con gái của vua Tề có nhan sắc tuyệt trần, Vệ Tuyên công bèn chiếm luôn làm vợ mình đưa về Tân Đài. Sau này, Tuyên Khương sinh được hai con trai là Cơ Thọ và Cơ Sóc. Vệ Tuyên công yêu Tuyên Khương lắm nên có ý truất ngôi Thế tử để cho Công tử Thọ nối ngôi. Công tử Thọ tính tình hiền thảo, vẫn đem lòng yêu thương Cấp Tử như anh em cùng mẹ sinh ra, trước mặt Vệ Tuyên công vẫn thường ra mặt bảo vệ anh. Ngược lại, Công tử Sóc cậy thế mẹ, ngầm mưu cướp ngôi nên thường bày chuyện nói xấu Cấp Tử trước mặt Vệ Tuyên công. Vệ Tuyên công nghe lời súi bẩy của Công tử Sóc nên có ý định giết Thế tử. Bấy giờ, gặp Tề Hi công (cha của Tuyên Khương) sai người sang mượn binh nước Vệ, Vệ Tuyên công bàn mưu với Công tử Sóc, sai Cấp Tử cầm cờ tiết trắng sang sứ nước Tề, định dọc đường cho bọn hung đồ phục sẵn khi thuyền Thế tử đến thì đổ ra mà chém giết, lại hẹn hễ lấy được cờ tiết trắng đem về thì sẽ có trọng thưởng. Công tử Thọ không đồng tình với mẹ và em, đi báo cho Cấp Tử biết, nhưng Cấp Tử nói: "Làm con có biết theo mệnh cha mới gọi là hiếu, nếu trái mệnh cha tức là đứa nghịch tử". Công tử Thọ biết không ngắn đc bèn có ý đi chết thay anh. Trong khi Thọ chúc rượu Cấp tử chưa kịp mời mà hai hàng nước mắt đã rỏ vào trong chén rượu. Cấp Tử vội vàng đỡ lấy chén rượu mà uống. Cấp Tử nói: "Anh đây chỉ muốn uống giọt nước mắt ấy để tỏ cái tình của em!". Hai anh em vừa uống, vừa khóc. Nước mắt càng hòa với rượu bao nhiêu thì rượu càng nồng bấy nhiêu. Cấp Tử đã say, Thọ liền cắm cờ tinh lên thuyền mình, đi trước cho quân cướp giết để chết thay cho Cấp Tử. Cấp Tử tỉnh dậy không thấy Thọ, biết ý Thọ bèn vội vã đuổi theo nhưng k kịp, gặp bọn cướp và xưng là thế tử nước Vệ cho quân cướp giết để thực hiện đúng ý muốn của cha.
Người sau có thơ:
Hai chiếc đầu rơi mộ mối tình
Hồn oan ôm hận khóc xuân xanh
Lòng cha vi có không thương xót
Thà chết cho tròn nghĩa đệ huynh
Đau buồn vì mất thọ, Tuyên Công sinh bệnh, năm 700 TCN thì qua đời. Ông ở ngôi 19 năm. Thế tử Sóc lên ngối ngôi, tức là Vệ Huệ công vua t16 của nước Vệ.Khi Huệ công lên ngôi còn ít tuổi, công tử Ngoan (con thứ của Tuyên Công và Di Khương) đã lớn, say mê Tuyên Khương, tìm cách thông dâm. Tuyên Khương không bằng lòng nhưng vì bị công tử Ngoan bắt ép, cuối cùng hai người lấy nhau, lần lượt sinh ra 5 người con: 3 trai là Tề Tử, Cơ Thân(Vệ Đái Công), Cơ Hủy(Vệ Văn Công) và 2 người con gái sau này gả cho Tống Hoàn Công và Hứa Mục Công.
Ở Trịnh, quan đại phu là Cao Cừ Di, khi Trang công còn tại vị, phong Cao Cừ Di làm khanh, Cơ Hốt đã khuyên Trang công không nên nhưng Trịnh Trang công không nghe, nên Cừ Di thù Chiêu công. Tháng 10 năm 695 TCN, nhân lúc Trịnh Chiêu công ra ngoài, Cao Cừ Di bèn mang quân bản bộ đánh úp giết chết ông. Sau khi Chiêu công bị giết, người nước Trịnh muốn đón Trịnh Lệ công về phục ngôi nhưng Tế Túc và Cao Cừ Di không chịu, lập công tử Vĩ lên ngôi-vua t6 của Trịnh. Trịnh Chiêu công ở ngôi 2 lần, lần đầu được vài tháng, lần thứ 2 được 2 năm.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Vì Tống Trang công nhiều lần đòi Trịnh Lệ công hối lộ tiền để trả công giúp lên ngôi, hai nước trở thành thù hằn. Năm 700 TCN, Trịnh liên minh với nước Kỷ và nước Lỗ, còn Tống liên minh với các nước Tề, Yên, Vệ; hai bên giao tranh ở nước Kỷ. Kết quả liên quân Trịnh-Lỗ-Kỷ đánh bại liên quân Tống-Tề-Yên-Vệ. Sang năm 699 TCN, Tống Trang công lại kêu gọi các nước Tề, Sái, Vệ, Trần đi đánh Trịnh để báo thù. Liên quân tiến vào Đại Quỳ, chiếm ấp Ngư Thủ. Năm 698 TCN, Tống Trang công hợp quân với Tề Hi công đánh nước Kỉ để báo thù trước kia Kỷ hầu gièm pha tổ tiên ông là Tề Ai công với vua Chu làm Ai công bị giết, nhưng do nước Kỉ có quan hệ tốt với nước Lỗ nên Lỗ Hoàn công đem quân can thiệp, giúp Kỷ đánh bại Tề. Tề Hy Công từ khi thất trận , lòng uất-ức đến nổi sinh bệnh nặng. Năm 698 TCN, Tề Hy Công mất, ở ngôi tất cả 33 năm. Con ông là Khương Chư Nhi lên làm vua, tức là Tề Tương công-vuat14 của Tề.
Sau khi Trịnh Lệ công lên ngôi, bị Tế Túc chuyên quyền lấn át. Năm 697 TCN, Trịnh Lệ công giận Tế Túc, bàn với con rể của Tế Túc là Ung Củ định ám sát Tế Túc. Ông bàn mưu với con rể Tế Túc là Ung Củ lập mưu dụ Tế Túc đến đàn tế ở đất Giao để hạ thủ. Ung Củ nói lộ chuyện với vợ. Con gái Ung Củ bèn báo lại cho cha biết. Tế Túc bèn ra tay trước, giết chết Ung Củ, quăng thây xuống ao nhà Chu. Tháng 5 năm 697 TCN Tế Túc bèn làm binh biến, Lệ công phải chạy sang nước Sái. Tế Túc đón Trịnh Chiêu công trở lại ngôi vua.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Sở Võ vương, tên thật là Hùng Thông, là vua t20 của nước Sở. Ông là con trai thứ của Sở Tiêu Ngao, vua t18 của Sở, em Sở Phần Mạo (tức Sở Lệ vương), vua t19 của nước Sở. Năm 741 TCN, Lệ vương qua đời, Hùng Thông giết con Phần Mạo cướp ngôi, tức là Sở Võ vương. Bấy giờ binh lực nước Sở hùng mạnh, đất đai rộng lớn. Sở Võ vương lại phong cho Bá Bỉ làm Lệnh doãn, làm nước Sở nhanh chóng cường thịnh. Năm 706 TCN, Hùng Thông mang quân đánh nước Tùy, bắt nước Tùy phải phục tùng. Nước Tùy tuyên bố chỉ phục tùng thiên tử nhà Chu. Năm 704 TCN, đời Chu Hoàn Vương, Hùng Thông không còn hài lòng với tước tử mà muốn được tước Vương, đã mời các chư hầu là Ba, Dung, Bộc, Đặng, Giảo, La, Chẩn, Thân, Giang… đến dự hội chư hầu ở đất Lộc, nước Tuỳ và Hoàng không đến dự, Sở Võ vương bèn sai sứ trách cứ nước Hoàng, cử Khuất Hà đem quân đánh Tuỳ, Tuỳ hầu chống cự không nổi, chạy khỏi kinh đô, sau đó phải cầu hoà. Sở Võ vương thấy thế lực đã đủ mạnh, bất chấp thiên tử nhà Chu, tự tiếm hiệu xưng vương, Sở trở thành chư hầu đầu tiên dám xưng vương ngang hàng với thiên tử.
Năm 701 TCN, Trịnh Trang công qua đời. Thế tử Cơ Hốt lên làm vua, tức Trịnh Chiêu công-vua t4 của nước Trịnh. Em Cơ Đột là công tử Đột sang làm con tin ở nước Tống. Họ ngoại của Đột là họ Ung có thế lực ở nước Tống nên Tống Trang công ủng hộ Cơ Đột, muốn lập lên ngôi vua. Năm 700 TCN, Trịnh Chiêu công sai Tế Trọng đi sứ nước Tống. Tống Trang công bèn uy hiếp Tế Trọng lập Cơ Đột đoạt ngôi, nếu không sẽ giết chết. Để ràng buộc Sái Trọng, họ Ung bên ngoại Lệ công lại thông gia với Sái Trọng, cho Ung Củ lấy con gái Sái Trọng. Tế Trọng nghe theo, mật ước với nước Tống, rồi trở về nước ép Trịnh Chiêu công nhường ngôi. Trịnh Chiêu công không làm gì được phải chạy trốn sang nước Vệ. Tháng 6 năm đó, Tế Trọng đón Cơ Đột về nước lập làm vua, tức Trịnh Lệ công-vua t5 của nước Trịnh.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Tề Hy Công có 2 người con gái là Truyên Khương Và Văn Khương đều nổi tiếng có nhan sắc xinh đẹp đương thời. Theo sử sách, Văn Khương là nàng công chúa có tướng mạo xinh đẹp hơn người. Từ nhỏ, Văn Khương đã tỏ rõ tư chất thông minh, tài trí. Nàng được liệt vào một trong Xuân Thu tứ đại mỹ nữ (春秋四大美女) bên cạnh Hạ Cơ, Tức Quy và Tây Thi. Nàng rất được Tề Hi Công sủng ái. Văn Khương có người anh trai lớn hơn nàng 2 tuổi tên là Chư Nhi. Chư Nhi tướng mạo khôi ngô tuấn tú nhưng lại chẳng có tài văn chương hay võ nghệ. Hai anh em lớn lên bên nhau nên tình cảm rất thắm thiết. Khi Văn Khương đến tuổi gả chồng, Tề Hy Công muốn gả nàng cho thế tử Hốt nước Trịnh. Tề Hy công thường khoe tài Trịnh Thế tử trước mặt nàng và thường nhắc đến việc hôn nhân của nàng với Thế-tử Hốt. Văn Khương lấy làm đắc ý. Nhưng về sau, nghe tin Thế tử Hốt từ hôn, nàng buồn bã mà sinh bệnh, bỏ ăn, bỏ ngủ, ngày đêm mê hoảng. Năm Tề Hy công thứ 22 (709 TCN), chính Lỗ Hoàn công sai Công tử Huy sang nước Tề cầu hôn.
Thế tử Chư Nhi nghe được tin, sai cung-nhân đem hoa tặng Văn-khương, trong hoa có giấu một bài thơ:
Văn Khương xem thơ hiểu ý, đáp lại rằng :
Năm 707 TCN, Trịnh Trang công bỏ không đến triều kiến Chu Hoàn vương. Chu Hoàn Vương tức giận, hội quân cùng các nước chư hầu gồm Sái, Vệ và Trần bèn mang quân đánh nước Trịnh để trả thù. Hai bên chạm trán ở Nhu Cát. Chu Hoàn vương tự đi giữa, sai Quắc công Lâm Phủ đi bên phải cùng quân Sái, Vệ; còn Chu công Hắc Kiên đi bên trái cùng quân Trần. Trịnh Trang công cùng Sái Trọng và Cao Cừ Di mang quân ra địch. Trịnh Tử Nguyên hiến kế cho Trịnh Trang công nên tập trung đánh vào cánh quân Trần vì nước Trần đang có loạn. Trịnh Trang công làm theo, bày trận ngư lệ gồm xe đánh trước, đội ngũ đi sau. Quân Trịnh bắn đạn đá tấn công. Quân 3 nước Trần, Vệ Sái thua chạy, quân nhà Chu đại loạn. Tướng Trịnh là Chúc Đam bắn trúng vai Chu Hoàn vương. Hoàn vương bỏ chạy. Trịnh Trang công ngăn Chúc Đam đuổi theo vua Hoàn vương, ông chủ trương chỉ nên giữ cõi, không nên truy bức thiên tử
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Năm 711 TCN, ở nước Tống, Thái tể Hoa Đốc ra đường, thấy vợ Khổng Phủ Gia đẹp, nảy ý muốn chiếm đoạt. Tháng 2 năm 711 TCN Hoa Đốc mang quân tập kích nhà Khổng Phủ Gia, giết chết Phủ Gia. Tống Thương rất giận. Hoa Đốc sợ bị trị tội, bèn mang quân tấn công luôn vào cung, giết chết Tống Thương công. Tống Thương công làm vua được 9 năm. Trịnh Trang công bèn họp các nước Lỗ, Tề, Trần cùng bàn về loạn nước Tống. Hoa Đốc bèn mang của đút lót cho cả bốn nước và xin đón công tử Phùng về nước làm vua. Trịnh Trang công và các chư hầu bằng lòng, cho Tử Phùng về nước lên ngôi, tức là Tống Trang công-vị vua t12 của Tống.
Năm 706 TCN, quân Bắc Nhung đánh nước Tề. Tề Hy công cầu cứu nước Trịnh. Trịnh Trang công sai thế tử Cơ Hốt mang quân cứu Tề, đánh đuổi được quân Nhung. Tề Hy công định có ý muốn gả con gái là Văn Khương cho Cơ Hốt nhưng Thế tử Hốt từ chối.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Trịnh Trang Công nhận đc tin bị đánh úp, vội vã quay về, đất chiếm được đều cho Lỗ. Nhận thấy liên quân Tống-Vệ-Sái có bất hòa, Trịnh Trang công thừa cơ tiến vào diệt luôn nước Đái, rồi kéo quân đánh bại liên quân Tống-Vệ-Sái đang vây hãm đô thành của nước này. Năm 712 TCN, Trịnh Trang công hội với Lỗ Ẩn công ở đất Thời Lai bàn việc đánh nước Hứa. Tháng 7, ông cùng Tề Ly công tấn công nước Hứa, hạ được thành, lấy nước Hứa. Trong trận này, Công Tôn Át vì ghen công với Dĩnh Khảo Thúc nên đã bắn lén giết chết Khảo Thúc.
Trịnh Trang công cho sứ đi Tề và Lỗ để tạ ơn nhưng Lỗ Ân Công đã bị công tử Huy giết để lập vua khác. Lỗ Ẩn công làm vua được 11 năm. Trong những năm ở ngôi, Lỗ Ẩn công hội chư hầu 12 lần, khi về không làm lễ, vì bản ý không muốn nhận lấy lễ vua. Do cha Ân Công là Huệ công xưa kia muốn truyền ngôi cho em Huệ Công là Doãn, Huệ Công mất vì Doãn còn nhỏ nên Ân công đc kế vị nhưng vẫn tỏ ý ngày sau nhường lại cho công tử Quỹ. Cuối năm 712 TCN, Công tử Huy muốn được chức Thái tể của Lỗ quốc, nên tìm cách lấy lòng Ân công, hiến kế cho ông giết công tử Doãn để giữ chắc quân vị. Ẩn công không chịu, Huy lo sợ bị giết, bèn chạy sang theo Công tử Doãn, gièm pha với Doãn và đề nghị hãy giết Ân công. Công tử Doãn đồng tình. Tháng 11 năm 712 TCN, Lỗ Ẩn công đi tế lễ tại Chung Vu, trai giới ở Xà Phố ở quán nhà họ Vi. Huy sai thích khách giết chết ông và lập Cơ Doãn lên ngôi, tức là Lỗ Hoàn công-vua t15 của Lỗ
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Ở nước Vệ, sau khi Chu Hu trở về Đại phu Thạch Thác già cả, thỉnh cầu Trần Hoàn công ra tay giết Chu Hu cùng con mình là Thạch Hậu – người giúp sức cho Chu Hu. Nhân Chu Hu và Thạch Hậu sang nước Trần, Trần Hoàn công bèn bắt giữ cả hai, rồi báo cho nước Vệ biết. Nước Vệ cử Hữu tể Xú sang nước Trần giết Chu Hu ở đất Bộc và lập vua mới là Vệ Tuyên công vua t15 của nước Vệ. Câu chuyện này đã trở thành điển tích "Đại nghĩa diệt thân".
Năm 717 TCN, Trịnh Trang Công vào triều kiến nhưng Chu Hoàn Vương không tiếp đãi theo đúng lễ tiếp đãi chư hầu còn ban 10 xe thóc để nhắc đến chuyện năm xưa. Trang Công giận lắm, khi về Châu Công Hắc Kiên đến thăm ,lại cho 2 xe vàng lụa. Trang Công theo ý Tế túc lấy vàng phủ lên thóc, giả mệnh thiên tử đánh Tống. Trịnh hợp binh với Lỗ và Tề đánh Tống, chiếm đất Cáo và đất Phòng của Tống. Khổng phụ gia nước tống dùng kế lấy vàng bạc đút lót Vệ công, thừa cơ đánh úp nước Trịnh để giải vây. Tháng 7 năm đó, Tống và Vệ lấy cớ tiến vào nước Đái – phụ dung của nước Trịnh - nhân tiện đánh nước Sái.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Con Cung thúc Đoạn là Công Tôn Hoạt chạy sang Vệ cầu cứu Vệ Hoàn công. Vệ Hoàn công tin theo lời Công Tôn Hoạt mang quân đánh Trịnh, chiếm đất Lâm Diên. Trang công viết thư kể rõ cứ sự, Vệ Hoàn Công biết mình bị lừa bèn rút quân về. Công Tôn Hoạt nhờ đc Vũ Khương xin giúp nên Trang Công tha cho ở bên nước Vệ.
Trang Công ngày càng chuyên quyền, lấn át thiên , khi đó Bình vương muốn trọng dụng Quân chủ nước Quắc để chia quyền lực của Trang công khiến Trang công tức giận chất vấn, Bình vương kịch liệt phủ nhận. Để hòa giải, Bình vương dùng chính sách "Chu Trịnh giao chất". Năm 720 TCN, Chu Bình vương băng, tại ngôi được 51 năm. Thái tử Cơ Duệ Phụ thương cha, nghe tin dữ liền lâm bệnh và mất trên đường về. Con Thái tử là vương tôn Cơ Lâm lên ngôi, tức là Chu Hoàn vương vua t14 của nhà (719-697 TCN). Khi lên nối ngôi, ông vẫn thù nước Trịnh, ông nhất quyết phế bỏ Trịnh Trang công. Lúc về nước Trịnh, Trang công đem chuyện Hoàn vương đuổi khéo mình kể cho quần thần nghe, ai nấy cũng đều bất bình. Trịnh Trang công theo kế của Tế Túc sang cướp lúa của nhà Chu để dò xét thái độ Hoàn Vương. Chu Hoàn vương nhưng nghe lời của Chu công Hắc Kiên nên không nói đến chuyện đó nữa và chỉ sai người canh phòng cho thật cẩn thận, quan hệ giữa Chu và Trịnh từ đó mà ngày một xấu đi.
Ở nước Vệ, Chu Hu đã giết Vệ Hoàn Công để soán vị trở thành vua t14 của nước Vệ. Chu Hu vốn là con của Vệ Tuyên Công (vua t12) và em của Vệ Hoàn Công (vua t13). Để tạo uy thế, Chu Hu hợp binh với nước Tống, Trần, Sái, Lỗ cùng đánh Trịnh. Tống Thương công lấy cớ Trịnh Trang công chứa chấp công tử Phùng (Tống Thương công là con thứ của Tống Tuyên công – vua thứ 13 nước Tống, cha ông truyền ngôi cho chú là Mục công mà không nhường ngôi cho ông. Khi Mục công sắp mất, nhớ ơn cha ông, bèn truyền ngôi cho ông chứ không truyền cho con mình là công tử Phùng.) nên nhất trí với Chu Hu. Quân 5 nước vây đất Đông Môn nước Trịnh một thời gian rồi gặt lúa lấy mang về nước. Trang công tiên đoán vua Chu Hu rồi sẽ bị giết, quả nhiên như vậy.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Chu Bình Vương sợ quân Khuyển Nhung, bèn thiên đô từ Cảo Kinh sang Lạc Ấp phía đông. Tần Tương công mang quân hộ tống Chu Bình vương thiên đô đc phong làm chư hầu, ngang hàng như các nước Tấn, Vệ, Trịnh... (trước đó Tần chỉ có địa vị phụ dung của nhà Chu). Đồng thời, Bình Vương còn giao cho ông việc đánh Khuyển Nhung, hẹn nếu đánh bại được quân Khuyển Nhung thì ban cho nước Tần đất đai phía tây Kỳ Sơn. Tần Tương công mang quân giao tranh với quân Khuyển Nhung. Năm 766 TCN, Tần Tương công đuổi được quân Khuyển Nhung sát nhập Kỳ Sơn. Cùng năm, Tương công qua đời, ở ngôi được 12 năm. Con ông là Tần Văn công lên nối ngôi, trở thành vua t6 của Tần.
Nước Trịnh hình thành thời Tây Chu, năm 806 TCN khi vua Chu Tuyên vương phong cho người em là Cơ Hữu (tức con thứ của Chu Lệ vương) làm vua nước Trịnh, kinh đô đóng tại Hoa huyện (tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay). Cơ Hữu ban đầu gọi là Trịnh bá, sau được tôn là Trịnh Hoàn công. Cơ Hữu lúc đầu là phụ chính dưới triều Chu U vương. Năm 771 TCN, quân Khuyển Nhung đánh vào Cảo Kinh nhà Tây Chu, Cơ Hữu bị giết cùng Chu U vương. Con Trịnh Bá là Cơ Quật Đột lên nối ngôi trở thành vua t2 của nước Trịnh, tức là Trịnh Vũ công, thiên đô sang đất Tân Trịnh thuộc Hà Nam ngày nay. Trịnh Vũ công có công đưa Bình Vương nên ngôi nên đc thăng từ tước "bá" lên tước "công" và kế nhiệm cha làm Khanh sĩ nhà Chu. Vợ ông là Vũ Khương sinh đc hai trai, con lớn là Ngộ Sinh vì lúc nhỏ bị đẻ ngược nên Khương Thị không ưa, con thứ là Ðoạn thì hình dung tuấn tú mặt mũi khôi-ngô, lại có sức khỏe lạ thường, nên được Khương thị yêu mến lắm. Năm 744 TCN, Vũ công lâm bệnh, Vũ Khương xin ông phế Ngộ Sinh lập Cơ Đoạn nhưng Vũ công không nghe, vì Ngộ Sinh là Đích trưởng tử. Vũ công qua đời, Ngộ Sinh nối ngôi trở thành vua t3 của nước Trịnh, tức Trịnh Trang công.
Năm 743 TCN, Trịnh Trang Công vừa lên ngôi, ông theo lời thỉnh cầu của mẹ, phong cho em Cơ Đọan ở ấp Kinh. Đại phu Sái Trọng can ngăn nhưng Trịnh Trang công cho là ý của Vũ Khương nên phải tuân theo. Cơ Đoàn thụ phong ấp Kinh, gọi là Kinh Thành Thái thúc. Thái thúc Đoạn dần dà muốn phát triển thế lực, dụ ấp Tây Bỉ và ấp Bắc Bỉ về theo mình, sau đó lại dụ ấp Lẫm Duyên. Một số người cảnh báo ông rằng Thái thúc Đoàn sẽ tạo phản, Trang Công trấn an họ và tự đề phòng. Năm 722 TCN, Thái thúc Đoạn khởi binh đánh Trịnh Trang công. Vũ Khương làm nội ứng. Trịnh Trang công phòng bị trước, sai Tử Phong mang quân và 200 cỗ xe đánh Thái thúc Đoàn ở đất Kinh. Người đất Kinh thấy quân Trịnh đến bèn phản lại Đoàn. Đoàn bỏ chạy đến ấp Yển. Trịnh Trang công mang quân đánh ấp Yển. Tháng 5 năm đó, Thái thúc Đọan bỏ chạy sang ấp Cung. Trịnh Trang công tấn công ấp Cung, Đọan không chống nổi và tự vẫn. Sự kiện này trở thành điển tích "Trịnh bá diệt Đoạn tại Yển".
Trịnh Trang công hận mẹ làm nội ứng cho Đoàn, có ý giết mình đoạt ngôi, nên đày Vũ Khương đến ấp Dĩnh và thề rằng chỉ gặp lại khi xuống suối vàng. Đại phu Dĩnh Khảo Thúc can ngăn Trịnh Trang công, khuyên ông "Dù người mẹ có tội lỗi nhiều đến đâu thì phận làm con cũng không nên bất hiếu, Chúa công làm vậy thì thật là trái đạo quá!". Trịnh Trang công ân hận, muốn đón Vũ Khương về. Theo kế của Dĩnh Khảo Thúc, ông đào hầm đất, đến chỗ có suối chảy, coi đó là suối vàng, rồi sai người rước Vũ Khương tới làm lễ gặp mặt. Hai mẹ con gặp nhau dưới hầm và phục hồi tình mẫu tử như trước.
Ðông chu liệt quốc chí" bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên). Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Sử cũng gọi thời kỳ ấy là đời Ðông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng đời Xuân thu còn ở trong chế độ nô lệ). Phùng Mông Long căn cứ chủ yếu vào các sách "Tả truyện" và "Quốc ngữ" của Tả Khâu Minh và sách "Sử ký" của Tư Mã Thiên và có tham khảo các sách "Công dương truyện", "Chiến quốc sách" và hơn mười bộ sử khác nữa, để biên soạn Ðông Chu Liệt Quốc chí
From the publisher's feed