
Sign up to save your podcasts
Or


Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Lỗ Trang công có ba người em: Khánh Phủ, Thúc Nha và Quý Hữu. Quí Hữu vốn tánh cương trực, lại cùng một mẹ, nên Lỗ Trang Công rất yêu quý. Lúc trẻ, ông lấy con gái họ Đảng, sinh được con lớn là Cơ Ban, bèn hứa lập Đảng thị làm phu nhân. Nhưng mẹ ông là Văn Khương ép lấy con gái Tề Tương công là Ai Khương lập làm phu nhân, nhưng Ai Khương không có con. Em gái Ai Khương là Thúc Khương sinh được một con trai là Cơ Khai. Khi Lỗ Trang công ốm nặng, công tử Khánh Phủ muốn được truyền ngôi, bèn nói với người em thứ 3 là Thúc Nha tới gặp Trang công. Trang công hỏi nên lập ai làm vua thì Thúc Nha đề nghị cho Khánh Phủ vì Khánh Phủ đã trưởng thành. Lỗ Trang triệu người em thứ 4 là Quý Hữu vào hỏi ý. Quý Hữu khuyên ông cứ lập công tử Ban. Trang công bằng lòng. Quý Hữu sợ Khánh Phủ và Thúc Nha làm loạn bèn đưa rượu độc bức tử Thúc Nha. Tháng 8 năm 662 TCN, Lỗ Trang công mất. Ông làm vua được 32 năm, thọ 45 tuổi. Quý Hữu lập Cơ Ban lên nối ngôi-vua t17.
Khánh Phủ và Ai Khương bàn nhau lập Cơ Khải còn ít tuổi lên ngôi, dự định giết Cơ Ban. Cơ Ban vừa lên ngôi được 2 tháng thì Khánh Phủ sai một người tên Lạc (người có tư thù với Cơ Ban) giết chết tại nhà mẹ đẻ là Đảng Thị, lập công tử Khải làm vua Lỗ mới, tức là Lỗ Mẫn công-vua t18, tự mình làm phụ chính. Quý Hữu chạy sang nước Trần. Khánh Phủ muốn tự mình làm vua, lại bàn với Ai Khương muốn cướp ngôi của Mẫn công. Ai Khương đồng tình. Năm 660 TCN, Khánh Phủ sai thủ hạ là Bốc Kỳ mang quân tập kích giết chết Lỗ Mẫn công tại cửa cung. Quý Hữu nghe tin, vội trở về nước Lỗ, đón con thứ của Lỗ Trang công là công tử Thân chạy sang nhà Chu báo cáo và cầu cứu. Khánh Phủ bị người trong nước căm ghét, nên sợ hãi sang nước Cử. Quý Hữu rước công tử Thân về nước Lỗ lập làm vua mới, tức là Lỗ Hi công-vua t19. Nước Cử đuổi công tử Khánh Phủ không dung nạp. Khánh Phủ nhờ công tử Ngư nước Lỗ xin hộ cho về nước, nhưng Quý Hữu không thuận, buộc Khánh Phủ tự tử và hứa sẽ không tuyệt diệt con cháu. Khánh Phủ cùng đường phải thắt cổ tự vẫn. Lỗ Hi công dùng Quý Hữu làm tướng, phong cho ấp Phí, lập ra họ Quý, lại phong cho con Khánh Phủ là công tôn Ngao ở đất Thành (Mạnh tôn thị) và con Thúc Nha là công tôn Tư ở đất Hậu (Thúc tôn thị), chính thức lập ra Tam Hoàn nước Lỗ.
Không lâu sau Ai Khương bị chú là Tề Hoàn công bắt về nước Tề giết chết.
Năm 660 TCN, nước Địch mang quân đánh nước Vệ. Vệ Ý Công bị giết. Do người nước Vệ vẫn thương Cấp Tử và không có thiện cảm với Vệ Huệ công giết các anh tranh ngôi, không muốn lập lại dòng dõi của Huệ công, nhưng những người con khác của Vệ Tuyên công đều đã mất: Cấp Tử và công tử Thọ đều không có con, nên lập Cơ Thân là con công tử Ngoan, người cùng mẹ với Cấp Tử lên nối ngôi, tức là Vệ Đái công-vua t19. Tuy nhiên Vệ Đái công làm vua không được lâu thì mất. Tề Hoàn công lập em ông là công tử Hủy lên nối ngôi, tức là Vệ Văn công -vua t20.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Năm 663 TCN, nước Sơn Nhung ở phía bắc đánh nước Yên. Yên Trang công cầu cứu nước Tề. Tề Hoàn công mang quân đi cứu Yên, đánh bại quân Sơn Nhung. Vua Sơn Nhung chạy sang nước Cô Trúc cầu cứu. Quản Trọng cho rằng Sơn Nhung mà k đánh Cô Trúc cũng k giữ đc bèn khuyên Hoàn Công sang đánh diệt Cô Trúc. Thế là cả Sơn Nhung và Cô Trúc bị diệt. Hoàn Công đem 2 đất ấy tặng hết cho Yên.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Năm 667 TCN, Tề Hoàn công hội họp chư hầu xưng làm bá chủ. Chu Huệ vương bèn phong cho Tề Hoàn công ngôi bá.
Tấn Hiến công, tên thật là Cơ Quỹ, là vị vua t19 của nước Tấn cha ông là Tấn Vũ công – vua t18 nước Tấn vốn là dòng thứ thế lực tại Khúc Ốc. Năm 679 TCN, Vũ công mang quân đánh diệt Tấn hầu Dẫn là dòng tưởng giành ngôi, thống nhất nước Tấn chia cắt sau 68 năm. Được 2 năm, Vũ công mất. Trước khi lên ngôi, Tấn Hiến công đã có nhiều vợ và nhiều con trai. Trong số đó có ba người tài giỏi và có đức hạnh nhất là Cơ Trùng Nhĩ (sinh năm 697 TCN), thứ đến là công tử Cơ Di Ngô và Cơ Thân Sinh. Mẹ Thân Sinh là Tề Khương, con gái Tề Hoàn công, bá chủ chư hầu đương thời. Do thế lực ngoại thích lớn mạnh, bà được phong làm chính thất của Hiến công. Thân Sinh tuy là con trai thứ ba nhưng lại là Đích tử, cha vừa lên ngôi đã được sắc phong Thái tử. Năm 672 TCN, Tấn Hiến công đánh bộ tộc người Nhung, bắt được hai người con gái là Ly Cơ và người em gái là Thiếu Cơ. Mẹ Thân Sinh đã qua đời, Tấn Hiến công sủng ái cả hai chị em Ly Cơ.
Vì các công tử con Vũ công rất nhiều, đại phu Sĩ Vĩ khuyên Tấn Hiến công nên giết các anh em trai để trừ hậu họa. Năm 669 TCN, Tấn Hiến công ra lệnh giết các công tử anh em. Đồng thời, ông bắt đầu khởi công xây kinh đô mới ở đất Tụ, gọi là Giáng đô. Từ đó nước Tấn không đóng đô ở đất Dực nữa mà đóng đô ở đất Giáng. Năm 665 TCN, Ly Cơ sinh được con trai là Hề Tề. Năm 652 TCN, em gái Ly Cơ cũng sinh được con trai là Trác Tử. Hiến công muốn phế ngôi Thái tử của Thân Sinh, cho Hề Tề làm Thái tử. Vì các con Trùng Nhĩ, Di Ngô và Thân Sinh đã lớn mà Hề Tề còn nhỏ nên chưa tiện thay ngôi, Hiến công bèn tính kế đưa con lớn đi trấn thủ ở ngoài, sai Trùng Nhĩ đi trấn thủ thành Bồ gần biến giới phía bắc, sai Thân Sinh trấn thủ đất Khúc Ốc và sai Di Ngô trấn thủ đất Khuất.
Ở nước Sở, lên ngôi đc 3 năm thì Sở Đổ Ngao bị em là Hùng Uẩn giết chết để cướp ngôi, tức Sở Thành vương-vua t23. Do Sở Thành vương còn nhỏ, nên triều chính do em Văn vương là Lệnh doãn Tử Nguyên quyết định.
Năm Sở Thành vương thứ 6 (666 TCN), Tử Nguyên ham mê sắc đẹp của Tức Quy, bèn cho xây một ngôi nhà bên cạnh hồ, ngày đêm vũ nhạc múa hát. Tức Quy thấy thế, không bằng lòng, bảo: 「"Tiên quân ta (ý nói Sở Văn vương) ngày xưa chăm lo luyện tập binh sĩ, làm cho chư hầu đều thần phục. Bây giờ quân Sở ta đã mười năm nay, chưa tiến được Trung Nguyên, thế mà quan Lệnh doãn nay không nghĩ những điều xấu hổ ấy lại bày việc đờn ca, hát xướng bên cung gái góa này, thật lạ lùng làm sao!"」. Tử Nguyên nghe thấy thế thì xấu hổ, nói: 「"Một người đàn bà còn biết đại cuộc, thế mà ta lại quên mất!".
Năm thứ 8 (664 TCN), Tử Nguyên bèn đem quân đánh nước Trịnh, nhưng quân nước Tống đến cứu nên phải rút lui. Không bao lâu sau, Tử Nguyên bị đại thần Đấu Ban giết chết, cha ông là Đấu Cốc Ô Thố thay thế địa vị Lệnh doãn. Về sau không rõ Tức Quy mất năm nào.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Hoàn Công kéo binh về nước, mở tiệc khao quân. Quản Trọng tâu rằng tiếp theo phải dẹp Trinh, hạ Sở. Năm 680 TCN, Tề Hoàn công sai Tân Tu Vô đem quân giúp Trịnh Lệ Công đang lưu vong ở đất Lịch công về nước, trên đường về bắt được tướng trấn giữ thành Phó Hà. Phó Hà xin ông tha tội và hứa sẽ giúp Lệ công, Lệ công đồng ý, Phó Hà bèn về kinh giết Tử Anh cùng 2 người con rồi đưa Lệ công về phục ngôi. Sau đó Lệ công giết Phó Hà vì tội phản chúa, và ra lệnh chặt chân những người không phục mình. Năm 680 TCN, Trịnh Lệ công đi hội chư hầu với Tề Hoàn công ở đất Quyến.
Năm 678 TCN, Sở Văn vương thấy Trịnh Lệ công về nước mà không đến triều kiến mình bèn đem quân đánh Trịnh. Quân Sở tiến đến đất Lịch, Trịnh Lệ công phải giảng hoà với quân Sở.
Năm 676 TCN, Sở Văn vương đánh nước Ba, nước Thân. Tướng Sở là Diêm Ngao trấn thủ đất Na (là đất mà Sở Vũ vương đã dời dân đất Quyền đến) từ thời Sở Vũ vương không gắng sức chống quân nước Ba, bị Sở Văn vương giết đi. Người trong họ Diêm Ngao bèn nổi dậy chống Sở. Năm 675 TCN, Sở Văn vương đi đánh nước Ba, bị thua trận lớn. Khi Văn vương mang quân về nước, tướng trấn thủ là Dục Quyền không mở cửa cho ông vào, khuyên đi đánh nước Hoàng để lấy lại uy thế. Sở Văn vương nghe theo, mang quân đi, đánh thắng quân nước Hoàng ở Thác Lăng. Sở Văn vương mang quân về nước, đi nửa đường đến đất Thu thì ốm nặng và qua đời. Dục Quyền dự táng Văn vương nói: "Ta đã hai lần phạm đến chúa ta, dẫu vua không bắt tội, ta cũng không có quyền sống" rồi tự sát. Sở Văn vương làm vua được 15 năm. Con ông là Hùng Gian lên nối ngôi, tức là Sở Đổ Ngao-vua t22.
Năm 677 TCN, Chu Ly Vương mất. Ông ở ngôi 5 năm. Thái tử Cơ Lãng lên nối ngôi, tức là Chu Huệ vương-vua t17. Chu Huệ vương có người chú gọi là vương tử Đồi – con của Chu Trang Vương. Năm 675 TCN, Chu Huệ vương chiếm đoạt vườn tược của các đại thần làm chỗ thả thú. Đại thần Biên Bá bất mãn, cùng 4 đại thần khác ngầm mượn quân chư hầu của Yên Trang công và Vệ Huệ công về đánh Chu Huệ vương. Huệ vương bỏ chạy về đất Ôn rồi sang nương nhờ nước Trịnh. Biên Bá lập vương tử Đồi lên ngôi vua- vua t18. Từ khi chiếm được ngôi vua, Tử Đồi chỉ ăn chơi hưởng lạc, mở yến tiệc, không thiết việc triều chính. Năm 673 TCN, Trịnh Lệ công cùng Quắc công liên minh giúp Huệ vương, mang quân đánh Lạc ấp, giết chết Tử Đồi và dựng lại Huệ vương. Trịnh Lệ công muốn được Huệ vương ban chén ngọc nhưng Huệ vương không nghe theo, do đó nước Trịnh giận thiên tử nhà Chu.
Mùa thu năm 673 TCN, trên đường về nước Trịnh Lệ công qua đời. Ông ở ngôi lần đầu được 4 năm, lưu vong 17 năm, ở ngôi lần thứ đầu 7 năm, tổng cộng làm vua hai lần 11 năm. Con ông là Cơ Tiệp lên nối ngôi, tức Trịnh Văn công-vua t8.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Tề Hoàn Công đang xây dựng nghiệp bá chủ, muốn các chư hầu phải thần phục mình. Theo ý kiến của Quản Trọng, Hoàn Công biết nên dùng nhân nghĩa để khuất phục tất cả các nước. Khi Tề Hoàn Công hội chư hầu, chỉ có 4 nước Tống, Trần, Sái, Tề đến nhưng Tống hội đến giữa chừng thì bỏ về. Hoàn Công giận lắm nhưng theo lời Quản Trọng thì đánh nước Lỗ trc, đầu tiên đánh diệt nước Toại nhỏ bé bên cạnh nước Lỗ để doạ Lỗ, rồi viết thư sang Lỗ, hẹn Lỗ Trang Công ở ấp Kha để ăn thề. Lỗ Trang Công lo lắng, biết không thể chối, Tào Mạt xin theo hầu. Đến ấp Kha, Hoàn Công và Trang Công đã thề ở trên đàn. Tào Mạt cầm gươm đi theo hộ vệ. Hai vua vừa làm lễ xong, Tào Mạt cầm gươm bước sấn đến chỗ Tề Hoàn Công, nắm lấy tay áo đe doạ. Các quan hầu cận của Hoàn Công không ai dám động. Tào Mạt nói: Tề mạnh, Lỗ yếu, nước lớn xâm phạm nước nhỏ mà là chính đáng sao, xin hãy trả lại đất Vân Dương, bằng không tôi xin liều chết!
Quản Trọng vội đứng lại che chắn và khuyên Hoàn Công nhận lời. Tề Hoàn Công bèn hứa trả tất cả đất đai đã chiếm đoạt trước cho Lỗ. Nói xong, Tào Mạt ném gươm xuống đàn, ngoảnh mặt về hướng Bắc đến chỗ đứng của bầy tôi, sắc mặt không thay đổi, nói năng vẫn ôn hoà như thường. Hoàn Công bèn trả lại những đất Lỗ đã bị Tề xâm chiếm, các đất đai đã mất sau ba lần Tào Mạt đánh thua đều được trao lại cho nước Lỗ.
Ninh Thích, người chăn trâu ở Dao Sơn Ninh Thích, người nước Vệ. Lúc còn hàn vi, chưa gặp thời, mình mặc áo cộc, đầu đội nón rách, đi chân không, thường gõ vào sừng trâu mà hát ở núi Dao Sơn. Lúc bấy giờ Tề Hoàn Công đem binh đánh Tống. Tể tướng nước Tề là Quản Di Ngô (Quản Trọng) đi trước. Ngồi trên xe nghe tiếng hát, biết không phải là người thường mới sai quân sĩ đem tặng cơm rượu. Quản Trọng thử tài, Ninh Thích đối đáp thông suốt như nước chảy. Di Ngô khen tài, bèn viết cho một bức thi nói đợi mấy hôm khi Hoàn Công đi qua thì dâng thư này.
Ba hôm sau, quan của Hoàn Công đi qua, Ninh Thích trên lưng trâu cất tiếng hát:
Hoàn Công cho người bắt lại hỏi: "Nhà ngươi là đứa chăn trâu, sao dám gièm chê việc chính trị?".
Ninh Thích chê trách Chu Vương bù nhìn, Hoàn Công giết anh cướp ngôi, lấy uy thiên tử để trấn át chư hầu. Hoàn Công nổi giận sai đem chém. Ninh Thích bị trói dẫn đi, không sợ hãi, ngửa mặt lên trời nói: "Ngày xưa vua Kiệt giết Long Bàng, vua Trụ giết Tỷ Can, nay tôi cùng với hai ông ấy kể là ba người". Quan Đại phu là Thấp Bằng tâu với Tề Hoàn Công đây chẳng phải là kẻ chăn trâu tầm thường.. Hoàn Công nguôi cơn giậni. Ninh Thích bấy giờ đem bức thư giới thiệu của Quản Di Ngô dâng lên. Tối hôm ấy, khi đóng quân lại nghỉ, Hoàn Công sài thắp đèn lên tự đi tìm mũ áo phong quan cho Ninh Thích. Nhờ công Ninh TThíchddi thuyết khách mà nước Tống phải cầu hòa.
Tóm tắt tập
Sau khi thắng Tề, Lỗ Trang công mang quân đi đánh phá nước Tống. Tháng 6 năm đó, Tống Mẫn công cùng Tề Hoàn công đều có thù với nước Lỗ, bèn hội binh đánh Lỗ. Hai nước hội ở đất Lang. Lỗ Trang công nghe theo công tử Yển, chia một cánh quân bất ngờ từ Vũ Môn đi ra, ngựa trùm da hổ tiến lên đánh vào đạo quân Tống ở Thặng Khưu trước. Quân Tống tan vỡ, quân Tề bèn rút lui. Tướng Lỗ là Công Tôn Chuyên Sinh bắt được tướng Tống là Nam Cung Trường Vạn. Qua năm sau, Tề và Lỗ lại giao hảo như xưa. Đến năm 681 TCN Nam Cung Trường Vạn đc thả về.
Tống Mẫn công tên thật là Tử Tiệp (子捷), là vị vua t17 của nước Tống, là con của Tống Trang công–v16. Nam Cung Trường Vạn được thả về Mẫn Công hay trêu đùa về việc thua trận bị bắt làm tù binh, Trường Vạn lấy làm xấu hổ. Quan Đại phu Cừu Mục thấy vậy liền khuyên Tống Mẫn công: chuyện vua tôi cần phải đứng đắn, không nên nói đùa bỡn. Mẫn Công cho rằng mình với Trường Vạn thân thiết, không cần giữ lễ.
Năm 682 TCN, Chu Trang Vương mất. Ông ở ngôi 15 năm. Thái tử Cơ Hồ Tề lên nối ngôi, tức là Chu Ly Vương-vua t16 của nhà Chu. Sứ nhà Chu đem thiếp cáo phó đến, Trường Vạn xin đến Chu triều một chuyến để điếu tang và chúc mừng vua mới. Tống Mẫn công vừa cười vừa nói: "Khi nào nước Tống không còn ai nữa thì mới sai tù nhân đi sứ". Nam Cung Trường Vạn do say rượu mặt đỏ bừng, không kiểm soát đc nên đã giết Lỗ Mẫn Công, trên đường về giết luôn đại phu Cừu Mục và Thái tể Hoa Đốc. Nam Cung Trường Vạn vào triều, tôn công tử Du làm vua -t18. Các công tử nước Tống bất bình đều bỏ trốn sang nước ngoài. Nam Cung Trường Vạn sai con trai là Nam Cung Ngưu vây đất Hào để bắt Ngự Thuyết. Mùa đông năm đó, các công tử nước Tống hợp quân với Hào công đem quân về kinh, giết chết Tống Tử Du. Nam Cung Trường Vạn là người chí hiếu vội về đón mẹ già 80 tuổi, chạy một mạch đén nước Trần. Các công tử khác cùng đồng tình để công tử Ngự Thuyết tức vị - tức Tống Hoàn công-vua t19 của Tống. Nước Tống sai sứ đem rất nhiều lễ vật đến nước Trần. Trần Tuyên công tham lễ vật của nước Tống, đồng ý sẽ áp giải Trường Vạn về Tống. Tống Hoàn công ra lệnh lóc thịt Nam Cung Trường Vạn và Mãnh Hoạch đem làm mắm, rồi múc cho các quan mỗi người một ít. Mẹ già 80 tuổi cũng k thoát.
Tức Quy (chữ Hán: 息妫), là một mỹ nhân tuyệt thế xuất hiện vào thời kỳ Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc. Vì vẻ đẹp hiếm có và câu chuyện bi kịch về nhan sắc, về sau người ta thường liệt Tức Quy vào một trong Xuân Thu tứ đại mỹ nữ (春秋四大美女), bên cạnh Hạ Cơ, Văn Khương và Tây Thi. Khi trưởng thành, Tức Quy và người chị là Sái Quy (蔡妫) được gả đến hai nước Tức và Sái. Năm Sở Văn vương thứ 6 (684 TCN), Tức Quy sang nước Trần. Khi trở về, Tức Quy đi qua nước Sái. Sái Ai hầu tiếp đón nhưng tỏ thái độ thất lễ với bà khiến Tức hầu nổi giận. Tuy nhiên, do nước Tức nhỏ bé không thể làm gì nước Sái, nên Tức hầu phái người đến nói với Sở Văn vương hãy đánh nước Tức, nước Tức sẽ cầu cứu Sái, nhân đó quân Sở có thể đánh được nước Sái. Sở Văn vương nghe lời Tức hầu, mang quân đánh nước Tức. Tức hầu cầu cứu Sái Ai hầu. Quả nhiên, Sái Ai hầu mang quân cứu nước Tức, không chống nổi quân Sở, liền bị Sở Văn vương bắt sống và giam cầm ở Sở 9 năm. Năm 680 TCN, Sái Ai hầu căm giận, ông bèn tán tụng sắc đẹp của Tức Qui với Sở Văn vương. Sở Văn vương ham sắc Tức phu nhân, bèn mang quân đánh diệt nước Tức, lấy Tức Quy làm vợ.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Nước Lỗ buộc phải giết Khương Củ để quân Tề giải vây. Thiệu Hốt nghe lệnh bèn tự sát. Nước Lỗ giải Quản Trọng về nước Tề. Bào Thúc Nha ra đón Quản Trọng ở đất Đường Phụ và tiến cử với Tề Hoàn công. Nghe lời Bào Thúc Nha, Tề Hoàn công trao chính sự cho Quản Trọng, dùng làm đại phu. Quản Trọng với chiến lược không đánh mà thắng mà người Trung Hoa gọi là Diễn biến hòa bình, đó là tấn công bằng mưu trí, trừng phạt và dùng kinh tế để giáo huấn. Quản Trọng còn cải thiện sức mạnh nước Tề thông qua việc tiến hành rất nhiều cải cách. Về mặt chính trị, ông tập trung hóa quyền lực và phân chia nước thành nhiều làng, mỗi làng tập trung vào một lĩnh vực thương mại riêng. Thay vì dựa vào giai cấp quý tộc để thu thuế như truyền thống trước kia, ông áp dụng tiền thuế trực tiếp tới mỗi đơn vị làng xã. Ông cũng phát triển một biện pháp lựa chọn người tài mới và có hiệu quả hơn. Dưới thời Quản Trọng, nước Tề chuyển từ chế độ quan liêu quý tộc sang chế độ quan liêu chuyên nghiệp. Quản Trọng cũng đề xuất nhiều cải cách kinh tế quan trọng. Ông đưa ra một biểu thuế thống nhất. Ông cũng sử dụng nguồn lực nhà nước để khuyến khích sản xuất muối và sắt; các nhà sử học thường cho Quản Trọng là người đề xướng ra sự độc quyền nhà nước về hai mặt hàng này. Ông còn tiến cử Cao Hề, Bào Thúc Nha và Thấp Bằng sửa sang chính sự nước Tề.
Khi ông làm Tể tướng, nước Tề trở thành nước hùng mạnh nhất và Tề Hoàn công được tôn làm đứng đầu Ngũ bá.
Sang năm 684 TCN, Tề Hoàn công lại mang quân đánh Lỗ. Lỗ Trang công dùng Tào Quế làm tướng, ra đối trận quân Tề ở Trường Thược. Tào Quế tránh nhuệ khí của quân Tề, chờ phía địch phát tới hồi trống thứ 3, Tào Quế mới phát hiệu trống đầu thúc quân tiến lên. Quân Lỗ nghe hiệu lệnh lần đầu, sĩ khí đang hăng hái, tiến lên đánh bại quân Tề. Khi Lỗ Trang công định đuổi theo quân Tề, Tào Quế tự mình lên quan sát, thấy rõ ràng là hàng ngũ lộn xộn, không phải là mưu kế lừa dối đặt phục binh mới quyết định thúc quân truy kích, đại phá quân Tề.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Quản Trọng (725 TCN - 645 TCN), họ Cơ, tộc Quản, tên thực Di Ngô (夷吾), tự là Trọng, thụy hiệu là Kính (敬), đương thời hay gọi Quản Tử (管子), là một chính trị gia, nhà quân sự và nhà tư tưởng Trung Quốc thời Xuân Thu. Ông có công đưa Tề Hoàn Công lên bậc Ngũ Bá thời Xuân Thu. Quản Trọng người Dĩnh Thượng (nay là huyện Dĩnh Thượng, tỉnh An Huy), là hậu duệ của Chu Mục vương. Cha ông là Quản Nghiêm. Quản Trọng gia cảnh bần khố, được Bào Thúc Nha phát hiện tài năng, được mời vào triều làm đại phu, phò tá Công tử Củ (公子纠), còn Bào Thúc Nha phò tá Công tử Tiểu Bạch. Lúc đó nước Tề rất loạn, sau khi Tề Tương công bị Liên Xưng và Quản Chí Phụ giết chết, Tề Vô Tri lên ngôi, các Công tử đều lánh nạn sang các nước khác để chờ thời cơ cướp lấy ngôi vua. Quản Trọng hộ tống Công tử Củ tới nước Lỗ, còn Bào Thúc Nha hộ tống Công tử Tiểu Bạch tới nước Cử. Không lâu nước Tề rơi vào bạo loạn, Vô Tri bị giết, nước Tề rơi vào tình thế không vua.
Công tử Củ và Công tử Tiểu Bạch được tin liền lên đường về nước để cướp ngôi. Khi hai đoàn gặp nhau trên đường, Quản Trọng muốn để Công tử Củ làm vua nên đã bắn một phát tên vào Tiểu Bạch, Tiểu Bạch giả chết rồi vào kinh đô làm vua, tức Tề Hoàn công-vuat16 của Tề, vị Bá Chủ đầu tiên của thời Xuân Thu. Tề Hoàn công lên ngôi bèn dàn quân tấn công nước Lỗ. Hai bên giao chiến ở Kiền Thời. Quân Tề đánh bại quân Lỗ. Quân Lỗ thua chạy, bị quân Tề chặn đường về. Ban đầu Tề Hoàn công định giết cả ba người chống đối ở nước Lỗ, nhưng Bào Thúc Nha vốn là bạn thân của Quản Trọng, hai người từng hứa hẹn sống chết có nhau; do đó Bào Thúc Nha đề nghị Hoàn công nên tha cho Quản Trọng sống dùng làm người phò tá lên nghiệp bá. Tề Hoàn công nghe theo, bèn ra điều kiện nước Lỗ tự giết công tử Củ và giao nộp Thiệu Hốt cùng Quản Trọng để cho nước Tề xử tội.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Tề Tương công mang quân về phía đông đánh nước Kỷ (紀) để báo thù việc tổ tiên Tề Ai công bị vua nước Kỷ gièm pha mà bị vua nhà Chu giết chết. Năm 693 TCN, Tề đánh các thành Bình (郱), Tấn (鄑), Ngữ (郚) của Kỷ và trục xuất cư dân các thành này. Hai năm sau đó, một người em trai của Kỷ hầu đã đào thoát đến nước Tề. Biết không thể kháng cự lại cuộc xâm lược của Tề, năm 690 TCN, Kỷ hầu đã chạy trốn và giao lại đất nước cho người em trai đã chạy đến Tề, trên thực tế có nghĩa là trao đất nước cho Tề. Kỷ hầu dời đi vội vàng đến nỗi ông ta đã không an táng phu nhân của mình, bà nguyên là một công chúa của nước Lỗ. Tương công đã an táng bà theo đúng nghi lễ. Để hai nhà thêm thân, Văn Khương bắt Lỗ Trang công lấy con gái Tề Tương công, đó là Ai Khương. Vì Ai Khương còn nhỏ, Lỗ Trang công bị muộn con, nên ông lại lấy em Ai Khương là Thúc Khương. Năm 688 TCN, Tề Tương công lại tiến vào nước Vệ. Kiềm Mâu sai người cầu cứu nhà Chu. Chu Trang Vương sai Tử Đột đi cứu Vệ. Quân nhà Chu ít và yếu không địch nổi quân Tề. Tử Đột tử trận, Kiềm Mâu bỏ chạy sang nhà Chu. Tề Tương công giết công tử Tiết, công tử Chức và lập lại Vệ Huệ công.
Năm 687 TCN, Tề Tương công sai Liên Xưng (anh phu nhân Liên thị) và Quản Chí Phủ đi trấn thủ đất Quỳ Khâu, hẹn tới mùa dưa sang năm thì cho người khác ra thay thế. Năm 686 TCN, qua mùa dưa nhưng Tề Tương công vẫn không cho người ra thay hai tướng Quản, Liên. Có người tình nguyện xin ra trấn thủ thay nhưng ông vẫn không nghe. Hai tướng nghe tin nổi giận bàn nhau làm loạn, định lập Công Tôn Vô Tri lên ngôi. Liên Xưng vốn có em gái họ là Liên Thị là vợ Tề Tương công nhưng không được yêu. Liên Xưng sai người về nói với Liên thị làm người đưa tin và hứa sẽ cho làm vợ Vô Tri[3]. Tháng 12 năm 686 TCN, Tề Tương công đi săn ở Bái Khâu. Liên thị ngầm sai người báo cho Liên Xưng biết. Liên Xưng và Quản Chí Phủ cùng Công Tôn Vô Tri bèn mang quân tới đột kích. Buổi đêm, Tề Tương công bị lực lượng đảo chính tới vây. Người hầu là Đồ Nhân Phí bị ông đánh roi nhưng vẫn trung thành; khi ra ngoài gặp Liên Xưng, biết mưu phản của Liên Xưng bèn giả oán trách vua, xin vào làm nội ứng, nhưng thực ra để báo tin nguy cấp cho ông. Mạnh Dương xin vào nằm ở giường để thế mạng cho Tề Tương công, còn ông ra nấp ở sau cửa để tìm cơ hội trốn. Quân Liên, Quản đánh vào, Đồ Nhân Phí cùng các vệ binh ra chống cự nhưng không đánh nổi và bị giết. Quân Liên - Quản đâm vào người nằm trên giường mới biết là đâm nhầm người khác. Vì Tề Tương công bị lộ giày sau cánh cửa nên bị quân Liên - Quản phát hiện và ập tới giết chết. Không rõ năm đó Tề Tương công bao nhiêu tuổi. Ông ở ngôi tất cả 12 năm. Công Tôn Vô Tri đc đưa lên nối ngôi-vua t15 của Tề.
Ðông chu là thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) bắt đầu từ khi Chu Bình vương dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thủy Hoàng, chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến quốc.
Tóm tắt tập
Năm Lỗ Hoàn công thứ 18 (694 TCN), Văn Khương cùng chồng về thăm nước Tề. Trước đó, hai nước đã có xung đột, vì Lỗ Hoàn công lại ủng hộ nước Kỷ, quốc gia vốn có tư thù với nước Tề. Khi xưa, tổ tiên nước Kỷ gièm pha hại chết tổ 9 đời của Văn Khương là Tề Ai công. Hai nước giảng hòa, hai Vua anh vợ em rể là Tề Tương công và Lỗ Hoàn công lại gặp nhau ở đất Lạc. Văn Khương gặp lại anh Tề Tương công, nảy sinh tình cảm như xưa. Lỗ Hoàn công biết chuyện rất giận, trách mắng Văn Khương và ý rằng Thái tử Đồng không phải con mình mà là con Tề Tương Công. Tề tương công biết chuyện, xấu hổ, tính chuyện giết Lỗ Hoàn công, bèn mời Lỗ Hoàn công đến dự tiệc, chuốc cho Hoàn công uống say. Sau đó, Tương công sai Công tử Bành Sinh (公子彭生) đưa Lỗ Hoàn công ra xe và dặn giết Hoàn công. Bành Sinh bế vua Lỗ lên xe, nhân đó bóp gãy xương sườn giết chết Lỗ Hoàn công. Khi xe Lỗ Hoàn công về đến nước, mọi người thấy vua Lỗ đã chết, người nước Lỗ rất tức giận trước tội ác của Tương công, nên trách nước Tề. Tương công bèn quy tội cho Bành Sinh, ra lệnh giết Bành Sinh để xin lỗi nước Lỗ. Lỗ Hoàn công làm vua được 18 năm. Người nước Lỗ lập thế tử Đồng năm đó 13 tuổi lên nối ngôi, tức là Lỗ Trang công-vua t16 của Lỗ.
Còn nàng Văn Khương trên đường về Lỗ qua đến đất Chướng, nơi biên giới Tề-Lỗ, thấy phong cảnh tốt tươi, muôn hoa tươi đẹp bèn có ý ở lại nơi đây.Từ đó, Văn Khương vui với phong cảnh mà khuây khỏa mảnh hồng nhan.
Năm 693 TCN, đại thần Chu công Hắc Kiên muốn hại Chu Trang Vương để lập em ông là vương tử Khắc làm vua. Chu Trang Vương được Tân Bá báo cho mưu đồ của Hắc Kiên. Trang Vương ra tay trước, giết chết Chu công Hắc Kiên. Vương tử Khắc bỏ chạy sang nước Yên.
Tháng 7 năm 694 TCN, Trịnh Vỉ lên ngôi được 7 tháng, Tề Tương công hội chư hầu ở đất Thủ Chỉ, triệu Trịnh Vỉ đến hội. Trịnh Vỉ định cùng Cao Cừ Di và Tế Túc chuẩn bị đi sứ. Tế Túc sợ Trịnh Lệ công từ đất Lịch đem quân về đánh, khuyên không nên đi nhưng ông không nghe, vì sợ nước Tề mạnh, sẽ thống suất chư hầu đến đánh mình. Tế Túc biết trc có vạ, nhất quyết khônng đi.Đến đất Thủ Chỉ, Tề Tương công lén đặt phục binh, sai quân xông vào bắt Trịnh Vỉ và Cao Cừ Di để trị tội sát hại Trịnh Chiêu công, Vĩ bị giết còn Cao Cừ Di bị phanh thây. Trịnh Vỉ chỉ ở ngôi được 7 tháng. Tế Túc ở nước Trịnh nghe tin, lập em ông là công tử Anh đang ở nước Trần về nối ngôi tức Trịnh tử Anh-vua t7 của Trịnh.
From the publisher's feed