
Sign up to save your podcasts
Or


Kể từ khi Công giáo vào nước Việt năm 1533 nơi đất Nam Định, đã có nhiều tên tuổi các giáo sĩ phương Tây còn được nhắc đến như Francisco de Pina, Alexandre de Rhodes… Trong đó có lẽ Alexandre de Rhodes là người được nhắc nhớ nhiều hơn cả.
Về tiểu sử và hành trình truyền giáo của vị giáo sĩ nước Pháp, xin theo phần dẫn của Nguyễn Khắc Xuyên khi dịch Phép giảng tám ngày mà lược thuật. Theo đó Alexandre de Rhodes (1593-1660) sinh tại vùng đất Avigon của Pháp. Cả cuộc đời ông gắn liền với sự nghiệp truyền giáo cùng bước chân lưu dấu ở nhiều vùng đất thuộc Á châu.
Dấu ấn khởi phát đầu tiên là năm 1612 khi Alexandre de Rhodes vào tập viện Dòng Tên ở Roma và được thụ phong linh mục sáu năm sau. Năm 1619 ông rời Lisbone và lần đầu tiên đến phương Đông, lên đường sang Nhật Bản để truyền giáo. Nhưng khi ấy đất này Công giáo bị cấm nên ông đến Ấn Độ và ở nơi đây thời gian 1619-1622 rồi di chuyển tới Malacca, Macau. Năm 1624, lần đầu tiên Alexandre de Rhodes đặt chân tới Đà Nẵng lúc ấy thuộc Đàng Trong. Đây cũng là nơi ông học tiếng Việt và tiến hành truyền giáo ở Thuận Hóa, Quảng Nam.
Vương miện Nhà nước Hoàng gia Anh, được đặt trên linh cữu Nữ hoàng Elizabeth II, được coi là một báu vật với 2.868 viên kim cương và nhiều đá quý.
Linh cữu Nữ hoàng Anh Elizabeth II ngày 14/9 được rước từ Điện Buckingham đến quàn tại Đại sảnh Westminster, London trong bốn ngày để người dân đến viếng.
Phủ bên trên linh cữu của Nữ hoàng là lá cờ quân vương, tiếp đó là Vương miện Nhà nước Hoàng gia Anh, đặt trên một chiếc gối nhung tím, bên cạnh một vòng hoa trắng.
Nữ hoàng đã đội chiếc vương miện này trong lễ đăng quang năm 1953 và các lễ khai mạc quốc hội thường niên. Cha bà là Vua George VI cũng từng đội nó khi lên ngôi năm 1937.
Hoàng gia Anh cũng có một vương miện khác tên là St Edward, được chế tác bằng vàng ròng năm 1661 để phục vụ lễ đăng quang của Vua Charles II. Nó chỉ được Vua Charles II đội trong lúc lên ngôi và được cho là quá nặng, bởi có trọng lượng lên tới 2 kg.
Boudica - Nữ hoàng của phiến quân
Vào năm 43 Công nguyên, khi Đế quốc La Mã chinh phục vùng đất mà hiện nay chính là nước Anh, họ đưa một thủ lĩnh của nhánh người Iceni thuộc bộ tộc Celtic - Prasutagus, trở thành người cai trị khu vực này. Thế nhưng, ngay khi Prasutagus qua đời vào năm 60, biến cố đã xảy ra. Người La Mã không chỉ chiếm đóng vùng đất của người Iceni mà còn áp đặt chính quyền cai trị của họ lên vùng đất này. Không những thế, chúng còn bạo hành Boudica - vợ của Prasutagus, và còn hãm hiếp các cô con gái của họ. Và đó cũng chính là một “nước đi” sai lầm.
Uất hận và phẫn nộ vì thù nước lẫn thù nhà, vị nữ hoàng bị lưu đày này đã dẫn đầu liên minh các bộ lạc nổi dậy, cướp phá hai khu định cư của người La Mã và gần như đánh đuổi chúng ra khỏi hòn đảo của người Iceni. Thế nhưng cuối cùng, tại một trận chiến xảy ra vào năm 61 Công nguyên, Boudica và quân của bà đã bị đánh bại. Theo sử gia người La Mã - Tacitus, Boudica đã uống thuốc độc tự vẫn để khỏi bị bắt giữ. Sử gia Cassius Dio thì nói rằng vị nữ hoàng này đã qua đời bởi các vết thương do trận chiến gây ra.
Nữ hoàng Elizabeth II sở hữu một trong những bộ sưu tập trang sức tư nhân lớn và đắt giá nhất thế giới với tâm điểm là khoảng 50 chiếc vương miện lộng lẫy. Sau khi bà qua đời, ai sẽ được kế thừa bộ sưu tập đắt giá đó, bạn hãy cùng “Từ điển lịch sử” khám phá trong video ngày hôm nhé!
Theo The New York Post: “Điều gì sẽ xảy ra với những chiếc vương miện của cố Nữ hoàng Anh và ai sẽ là người được thừa kế phụ thuộc vào việc chúng đến từ bộ sưu tập trang sức nào. ”
Một số vương miện, trâm cài áo, vòng đeo tay, quyền trượng, nhẫn của bà tạo thành một phần của Crown Jewels (tạm dịch: Báu vật) được trưng bày tại Tháp London và thu hút khoảng 2,5 triệu khách du lịch thưởng lãm mỗi năm. Bộ sưu tập vô giá này gồm chủ yếu là vật phẩm được sử dụng trong nghi lễ trang trọng, có thứ tồn tại từ 800 năm trước, và là tài sản của hoàng gia.
Tương tự, Royal Collection (tạm dịch: Bộ sưu tập Hoàng gia) chứa hầu hết tác phẩm nghệ thuật và đồ trang sức của gia đình hoàng gia. Đây là bộ sưu tập tư nhân lớn nhất trên thế giới với tổng cộng 1 triệu đồ vật, một số có từ thời Vua Henry VIII.
Cuộc hôn nhân của Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân được chính bà Nhu thẳng thắn thừa nhận rằng đó là vấn đề thực tế chứ không phải chuyện yêu đương lãng mạn. Cuộc hôn nhân đến khi ông Nhu đang tiến gần đến tuổi 30 còn bà Nhu 15 tuổi. Liệu có những tính toán gì đằng sau cuộc hôn nhân đó, hôm nay bạn hãy cùng “Từ điển lịch sử” khám phá qua video này. Nội dung dưới đây được tham khảo và trích từ sách Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực Bà Rồng, tác giả Monique Brinson Demery, dịch giả Mai Sơn, Phương Nam Book, - NXB Hội Nhà Văn.
Ngôi trường của bọn trẻ ở Hà Nội nằm kế bên dinh thự của quan toàn quyền Pháp. Tòa nhà màu nghệ tây vẫn còn đến hôm nay nhưng được dùng làm văn phòng và phòng tiếp tân của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Vào thời Lệ Xuân, ngôi trường được đặt tên theo Albert Sarraut, Toàn quyền Đông Dương từ 1911 đến 1913. Mặc dù Sarraut được ca ngợi bởi việc thúc đẩy cải cách giáo dục, động cơ của ông, từ căn để, là một thí dụ khó chịu khác về sự thắng thế của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Ông tin rằng người Việt không thể được khai hóa cho đến khi tư tưởng, phong tục tập quán, và những thể chế của họ được phản ánh theo nước Pháp. Đối với Albert Sarraut, người chiến sĩ tự xưng của công cuộc cải cách giáo dục bản địa, người Việt Nam “sẽ xứng đáng được giải phóng khỏi sự cai trị của Pháp chỉ khi họ không còn khao khát là người Việt, nhưng là người Pháp da vàng”.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, Phương Tây đã tự cho rằng thế giới và tất cả chúng ta sẽ phải mãi mãi tuân theo sự sai khiến của nó. Khi đó, vào năm 1991, Phương Tây theo đuổi ảo vọng rằng Nga sẽ không thể phục hồi sau những cú sốc kinh hoàng và sẽ tự tan rã. Ảo vọng đó của họ đã gần trở thành hiện thực: chúng ta sẽ không bao giờ quên những năm 1990, những năm khủng khiếp, đói, rét, và vô vọng. Nhưng nước Nga đã đứng vững, hồi sinh, mạnh lên và lại một lần nữa giành được vị thế xứng đáng trên thế giới.
Trong suốt thời gian đó, Phương Tây luôn tiếp tục tìm kiếm cơ hội mới để đánh chúng ta, làm suy yếu và tiêu diệt nước Nga. Điều họ hằng ao ước là chia rẽ đất nước chúng ta, đẩy các dân tộc chúng ta chống lại nhau và diệt vong họ, đẩy họ vào cảnh bần cùng và tuyệt chủng. Phương Tây luôn bị ám ảnh bởi thực tế là trên thế giới này có một quốc gia vĩ đại và rộng lớn bao la như vậy với lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên và một dân tộc không bao giờ chịu sống theo lệnh của người khác.
Ngày nay, thuật phong thủy được sử dụng và ứng dụng rất nhiều trong đời sống của con người, đặc biệt là trong việc lựa chọn hướng và không gian sao cho phù hợp với mệnh ngũ hành của từng người, với cả người còn sống và người đã khuất. Có một số người vẫn nhầm tưởng Phong thủy là tín ngưỡng tâm linh và có liên quan đến Phật giáo. Vậy thực chất Phong thủy là gì? Mối quan hệ của Phật giáo và Phong thủy như thế nào, hôm nay “Thế giới tâm linh” sẽ cùng bạn đi tìm lời giải đáp.
Sự phát triển của loài người đã trải qua nhiều thời kỳ đồ đá, đồ đồng….và bây giờ là thời dầu mỏ. Khác với vàng, dầu mỏ dùng để sản xuất, tiêu thụ, hoạt động mà thiếu nó loài người trở về thời kỳ trung cổ… Do vậy, dầu mỏ và thành phần của nó hầu như có mặt trong toàn bộ đời sống, hoạt động của loài người hiện đại…
Hiện nay thế giới tiêu thụ hơn 100 triệu thùng dầu trong một ngày, một số lượng khổng lồ được hút lên từ lòng đất…vì thế ai làm chủ được nguồn cung dầu mỏ là làm chủ được nền kinh tế toàn cầu…
Người Mỹ đã nhận ra điều này và sau khi kết thúc trò chơi “dollars cho vàng”, họ đã thực hiện một kế hooạch mới là “dollars cho dầu” hay Petrodollars.
Có thể nói “Petrodollars” đã thể hiện tầm nhìn xa của các nhà tinh hoa chính trị-kinh tế nước Mỹ. Chính hệ thống Petrodollars đã biến đồng dollars trở thành một đồng tiền chung của quốc tế mà không ai có thể cưỡng lại khiến cho nước Mỹ ngồi chắc trên ngai vàng bá chủ thế giới hiện đại.
Trong những năm gần đây, bên cạnh chỉ số IQ, chỉ số EQ đang được quan tâm hơn bao giờ hết và nó đã được chứng minh là một yếu tố quan trọng trên con đường thành công của con người. Thế nhưng có một hiện tượng là một số người có IQ cao nhưng chỉ số EQ lại thấp, gây ra những sự cản trở trong cuộc sống và khiến người khác bực bội. Tại sao lại như vậy? Bạn có thể tham khảo 3 vấn đề họ thường gặp phải dưới đây.
Sau khi nghiên cứu, các nhà tâm lý học đã phát hiện ra rằng những người có chỉ số IQ cao thường có tính cách rất kiêu ngạo và tự phụ. Nếu họ quyết tâm làm điều gì đó, họ có khả năng thành công cao hơn những người bình thường, vì lẽ đó, những người có chỉ số IQ cao thường kiêu ngạo khi tiếp xúc với mọi người hoặc mọi việc là điều bình thường.
Cũng giống như nhà vật lý nổi tiếng Newton, ông là một trường hợp điển hình của sự kiêu ngạo, ông thường đi trên đường và nhìn người khác như một kẻ ngốc.
Những người có chỉ số IQ cao có thể nói là thiểu số, điều này dẫn đến sự phân bố tương đối rải rác của họ. Mỗi người trong số họ đều sống trong vòng tròn nhỏ của riêng mình và rất khó để những người như họ tìm gặp được nhau. Chính vì những người có chỉ số IQ cao không thể tìm được những người bạn cùng chí hướng, nên họ chủ yếu hành động như những kẻ cô độc. Những người có chỉ số IQ cao luôn bị choáng ngợp bởi sự cô đơn, nhưng họ lại vô cùng chán ghét khi bị khuyến khích giao du với những người bình thường.
Trung Quốc cổ đại là một đất nước có cường quyền cao, thời xưa hậu cung là nơi ở của các phi tần, không thể tùy tiện ra vào, đặc biệt là đối với nam nhân không phải hoàng đế. Bởi vì có rất nhiều thê thiếp ở trong cung đã lâu không được sủng ái, chính vì thế nên vua phải đề phòng, cho dù thế nào đi nữa cũng không cho phép thê thiếp gian dâm với người khác. Nếu có người dám đột nhập vào hậu cung thì đó sẽ là tội ác tày đình.
Mặc dù vậy, trong cuộc sống hàng ngày, vẫn tồn tại một số công việc nặng nhọc mà sức cung nữ không thể hoàn thành tốt, đây là lý do tại sao cần tới thái giám.
Ngoài hoạn quan, còn có một loại người khác có thể tự do ra vào hậu cung mà không cần tịnh thân như thái giám, đó chính là thái y. Thái y ra vào hậu cung là nam nhân, trong hậu cung lại có rất nhiều phi tần trẻ đẹp, để mà nói thì rất khó có thể chống lại sự cám dỗ. Theo quan điểm của hoàng đế, việc này ắt hẳn tiềm ẩn nguy hiểm, nhưng tại sao thái y lại không cần phải tịnh thân, chúng ta cùng phân tích kỹ.
Chúng ta đều biết rằng thái y khác với thái giám, thái y là những vị bác sĩ có y thuật siêu việt. Nếu kể cả ngự y của triều đình không ở trong cung để chữa bệnh cho hoàng gia, thì cũng có thể khám bệnh cho dân chúng, dù sao họ cũng đều được tuyển chọn, y thuật có thể nói là rất tinh thông, dễ dàng kiếm thu nhập tốt. Nếu ngự y hoàng cung phải bị thiến trước khi vào cung khám bệnh, thì có lẽ không ai muốn làm nữa, chẳng ai muốn gặp phải khiếm khuyết về thể chất, thậm chí tinh thần cũng suy sụp. Chắc chắn, việc chữa bệnh, vốn đòi hỏi chuyên môn cao cùng sức tập trung lớn, sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều.
Bên cạnh đó, khó tránh khỏi việc những ngự y này sẽ trả thù, tính mạng của các thành viên hoàng tộc sẽ bị đe dọa rất lớn, điều này vừa không hiệu quả lại còn tiềm ẩn nguy hiểm.
From the publisher's feed

25 Listeners

20 Listeners

0 Listeners

6 Listeners

0 Listeners

0 Listeners