Nguyễn Ánh – Gia Long là người hiểu về vị trí quan trọng của biển bởi một phần đời của ông phải sống trên biển; con người ấy hẳn nhiên biết quý trọng biển cả. Bàn về cơ lược dùng binh, nhớ tới những năm tháng bôn ba, Gia Long dụ rằng: “Côn Lôn, Phú Quốc, Thị Nại, Cù Mông trẫm cùng với các tướng sĩ các ngươi đã trăm trận đánh vất vả mới có ngày nay. Lúc yên đừng quên lúc nguy. Đó thực là đạo giữ nước yên dân”. Chính vì thế, bảo vệ quốc gia từ phía biển luôn được Gia Long quan tâm, đề phòng bằng những hệ thống phòng thủ vùng biển cũng như việc tuần tra, khẳng định chủ quyền trên vùng biển, đảo. Năm 1803, nước Hồng Mao (Anh) “sai sứ đến dâng phương vật, dâng biểu xin thông thương. Lại xin cho người nước ấy ở lại Đà Nẵng, đi lại buôn bán”. Gia Long cho rằng: “tiên vương kinh dinh việc nước, không để người Hạ lẫn với người Di, đó thực là ý đề phòng từ lúc việc còn nhỏ. Người Hồng Mao gian giảo trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ hẳn khác, không cho ở lại, ban cho ưu hậu mà khiến về, khước từ những phương vật mà họ hiến”. Sau đó Hồng Mao thêm hai ba lần dâng thư xin thông thương, Gia Long đều không bằng lòng, tất cả chỉ là ý đề phòng từ xa. Tháng 9 năm 1806, làm xong sách Nhất thống dư địa chí: núi sông hiểm trở, đường xá xa gần, giới hạn, nguồn sông, cửa biển… đều phải chép hết, để phục vụ cho sự hiểu biết về vùng biển, phục vụ đắc lực trong công tác hải vận và tuần phòng. Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ thời Minh Mạng cho biết diện mạo khác hoàn chỉnh của cương vực, lãnh thổ Việt Nam. Các cửa sông, cửa biển, tấn sở được ghi chép ở miền Trung như sau: Chính Đại, Hãng tấn, Bạng tấn, Cờn hải, Hội hải, Nhượng hải, Tấn hải, Khẩu hải, Linh giang, Nhật Lệ, …