Miền ký ức 197X

Miền ký ức 197X

By Cong Han PhamArtsBooks
Download on the App Store

Miền ký ức 197X episodes

  • Mảnh vườn xưa

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    Tranh minh họa: Họa sĩ Trần Nguyên


    Nay về quê, vào nhà bà cô gọi u về, thấy u đang ngồi ăn trầu với mấy bà
    hàng xóm. U bảo, “Tao vào xin ít rau, còn chưa kịp hái.” Con giai bèn nói luôn,
    “Thế để em ra vườn hái xong thì u con mình về.” Thế là u bảo, “Ừ, mày ra vườn
    hái đi, tao ngồi ăn nốt miếng trầu với các bà.” Vườn nhà bà cô khá rộng, trồng
    đủ thứ rau, từ rau muống cạn, rau dền cho đến đậu bắp. Mình vừa cắm cúi hái rau
    muống, vừa hồi tưởng lại mảnh vườn nhỏ nhà mình khi xưa… Quê mình nằm cạnh con
    sông Cầu, đất đai được phù sa bồi đắp vô cùng tốt tươi, màu mỡ. Thế nên đất quê
    mình rất dễ trồng cấy, hầu như ném cái gì xuống cũng mọc lên ngay, đôi khi chẳng
    cần chăm bón. Cũng vì thế mà hầu như nhà nào vườn cũng trồng nhiều cây cối. Những
    nhà vườn rộng bao giờ cũng làm cả vườn rau, nhà nào đất chật thì chỉ trồng những
    cây leo như bầu, bí, mướp, thiên lý hay mùng tơi. Vườn nhà mình hồi đó tương đối
    rộng, trồng đủ thứ cây. Có năm trồng mía. Khổ, nhà nghèo nên trồng được cây gì
    là cứ phải chọn những củ/quả ngon nhất đem bán, loại “sâu sia” mới để ăn. Nhưng
    riêng với mía thì được ăn loại ngon, bởi cây nào cũng thẳng tắp, mập mạp và ngọt
    lịm. Mình vẫn nhớ nếu trồng mía thì sẽ thu hoạch vào cuối năm, u thường để dành
    nửa vườn mía để bán tết. Thích nhất là phiên chợ tết. Cả nhà đẵn mía từ hôm trước,
    cắt tỉa lá cẩn thận, gọn gàng, chặt gốc và rũ bùn đất đọng ở rễ cho sạch, rồi
    bó lại. Sáng sớm hôm sau, khi trời còn mờ sương buốt lạnh mọi người đã lục tục
    dậy khiêng mía lên xe ba gác, kéo lên chợ Chóa bán. Vì đã được tuyển lựa và làm
    sạch sẽ gọn gàng, nên mía nhà mình thường rất đắt khách. Phần vì mía rất ngọt
    và thơm, phần vì u bán giá cũng rẻ, nên vèo cái trăm cây mía đã bán sạch. Ngày
    tết quê mình, hầu như nhà nào cũng mua cặp mía về tựa hai bên bàn thờ gia tiên
    để trang trí, nhìn rất đẹp. Có năm, vườn trồng toàn rau dền tía, thi thoảng lạc
    vào mấy cây dền cơm trắng. Khi lớn, hoa dền cơm nở li ti, rền tía thì chưa kịp
    nở hoa đã bị cắt đem đi bán. Nhớ những buổi trưa thơm nắng mùa gặt, khi cả nhà
    còn đang rộn ràng với thóc lúa, mình kẹp cái rổ vào nách ra vườn hái rau dền để
    nấu canh cua. Không biết mọi người đã được ăn canh cua rau dền chưa, chứ với
    nhà mình, đó là món ăn thuộc hàng “trứ danh”. Canh cua mùng tơi hay rau đay,
    hay thậm chí là rau muống, thì quá bình thường, ai cũng nấu thế. Nhưng canh cua
    rau dền, hoặc canh cua rau tập tàng (là tổng hợp các loại rau tìm được ở trong
    vườn) thì phải gọi là “tuyệt tác”. Rau dền lá to, ngọn mập xanh tươi vừa hái.
    Cua thì vừa bắt ngoài đồng về rửa sạch, xé mai. Sau khi khều gạch cua để riêng
    vào cái bát con thì cho cua vào cối giã, xong cho nước vào lọc bã, đổ nước thịt
    cua vừa lọc được vào cái xoong 14. Muối đã được cho vào lúc giã cua nên cũng
    khá vừa vặn rồi. Cái vụ cho muối vào cua lúc giã là một kinh nghiệm dân gian thực
    sự tuyệt vời. Nếu không cho muối, khi giã cua, bạn sẽ thấy thịt cua bắn ra
    ngoài, lên mặt khá nhiều; nhưng chỉ cần cho ít muối hạt vào, kỳ lạ thay nó
    không bắn nữa, vì đã có muối làm nhiệm vụ kết dính, thịt cua quánh lại, rất thú
    vị. Khi nồi nước canh cua được đun sôi thì cho rau dền vào, đậy vung he hé, đun
    nhỏ lửa đến khi rau chín thì cho bát gạch cua vào, để vài phút rồi múc ra bát.
    Chao ôi, bát canh cua rau dền vừa xanh, vừa tía, vừa vàng ươm gạch cua ấy mới hấp
    dẫn làm sao! Lấy cái thìa xúc một xíu, chu miệng thổi phù một cái rồi húp trọn
    vào miệng, thật không biết diễn tả làm sao cho trọn cái vị ngọt thanh của cua đồng
    hòa lẫn với vị đặc trưng của rau dền, vừa dân dã mà cũng lại quyến rũ đến thế!

    9 min
  • Thím tôi

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    Sáng nay, bà con xóm làng cùng họ hàng con cháu đã đưa thím về miền cực lạc bằng tất cả những phong tục truyền thống đủ đầy nhất. Sáng mùa thu se lạnh, mây lốp xốp trên nền trời xanh, gió heo may hanh hao con đường đê, nơi dòng sông Cầu nước lũ đã rút hết, trở về mức bình thường như nó vốn dĩ đã thế, hiền hoà, lững lờ, lơ thơ chảy. Bên làng, cánh đồng còn sót lại của khu công nghiệp, lúa đang ngả màu vàng, tầm chục ngày nữa là gặt. Hương lúa quyện hương đen làng Choá từ 30 cụ “đội Cầu”, quyện vào nhau, trong cái heo may đầu mùa, như là những tinh tuý chắt chiu nhất của làng mình, nơi LÚA và HƯƠNG ĐEN là những thứ thân thuộc nhất của mỗi người làng, đặc trưng của mảnh đất ven sông Cầu này, để đưa thím về miền xa mây trắng.Thím Bất là vợ chú Thục - chú út của thầy mình. Nhà thầy có 4 anh em: Thán - Bàn - Thạch - Thục giống như bên U Soạn cũng có 4 người: Đạo - Cát - Cứ - Huề. Thầy mình thứ 2, bác Thán là cả, hoạt động cách mạnh hi sinh khi cải trang làm người câu cá, ngồi đầu làng canh Tây cho chi bộ họp dưới hầm trong vườn nhà ông bà nội mình. Bác mất, để lại chị Hợt cho thầy u mình nuôi (như mình đã từng viết 1 tút về chị Hợt).Nhà có 4 anh em, có cô em gái duy nhất (bà cô của mình) cũng lấy chồng cùng xóm, cách nhà mấy chục mét. Nên bà cô thân với chị dâu (là U Soạn) mà mình cũng từng viết nhiều lần. Chú Thục lấy thím Bất ở ngoài Ấp (là mảnh đất nằm trong khu ruộng, cách khá xa với làng, được các cụ dựng lên thành khu dân cư mới).Thím Bất hồi trẻ rất xinh. Da trắng, mắt huyền, môi đỏ, răng đen hạt na ăn trầu nên lúc nào cũng bóng lên. Đặc biệt, dù là nông dân chân lấm tay bùn nhưng trời cho thím một dáng người mảnh mai, mềm mại uyển chuyển, cái dáng của những tiểu thư khuê các. Thế nên lúc trẻ thím có nhiều người theo đuổi lắm, mà cuối cùng duyên nợ thế nào lại lấy chú mình - một người lính Điện Biên “dùi đục chấm mắm cáy” vừa mộc mạc giản dị quá mức, vừa vụng về, chỉ được cái chăm làm.Thế hệ từ 7x trở về trước ở làng mình, có lẽ đã quá quen với câu “anh em ông Soạn”, tức là nói về sự “thần nông, thần đồng” của thầy mình và chú Thục. Ở đâu có đất hoang, ruộng rậm là ở đó có dấu chân ông Soạn hoặc ông Thục. Bất kỳ mỏm chuôm, rãnh nước, đầu thừa đuôi thẹo nào cũng sẽ mọc lên khóm lúa, dảnh khoai, cây đỗ hay bụi trúc, bờ tre. Nhà nghèo lại đông con, nên hai anh em hay lam hay làm nổi tiếng ở cái làng này. Thậm chí chú Thục tận những năm gần đây khi mà con cái thành đạt giàu có từ mấy chục năm trước, nhà đã xài bếp từ, lò vi sóng rồi mà chiều chiều vẫn thấy chú đạp xe cài cái bao dứa phía sau ra đồng đốt rạ lấy tro mang về… để rồi con cháu lại mắng cho rồi mất công mang đi vứt. Nhưng chú vẫn thế, kể cả vừa ốm thập tử nhất sinh xong khoẻ cái lại lao ra đồng ngay, chú ra đồng như một thói quen ngấm vào da thịt, như cái người ta hít thở hàng ngày.Thím Bất lấy chú, cũng vất vả như bao người phụ nữ nông thôn khác, tất tưởi lo toan cho con rồi đến cháu. Nhà nào cũng có những thử thách của ông trời, nhà thím cũng vậy. Nhưng thím cũng vượt qua hết, sát cánh cùng con cái để nuôi nấng và gìn giữ nếp nhà....

    8 min
  • Cơm nhà

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân


    Cơm Nhà, nó không chỉ là một bữa ăn để duy trì sự sống, mà Cơm Nhà còn là sự ấm áp của Gia đình, là Văn hoá, là Kỷ niệm, là Nỗi nhớ mỗi khi đi xa.Nhớ hồi bé, bữa cơm luôn là dấu mốc quan trọng và luôn được mong đợi mỗi ngày. Ngồi ăn cơm để no, để được quây quần cùng Thầy, U, Anh, Chị,... để ăn, để nghe, để nói, để cười. Biết bao kỷ niệm thời thơ ấu với bữa cơm gia đình. Ấy là những bát cơm trắng nóng sốt nghi ngút khói mà chị gái xới vội ra bát khi vừa chập chín ăn vội để đi học, xúc một thìa mỡ lợn đông lạnh như kem trong liễn cho vào bát cơm, tưới thêm tý mắm cua vàng sệt lên trên, nhìn cục mỡ tan ra thành nước với lấp lánh ngàn sao ngấm vào bát cơm, xúc một thìa đầy đút vào miệng nóng bỏng vừa ăn vừa hít hà cho nguội mà thấy ngon vô cùng. Nhớ những bữa cơm cả nhà quây quần, nhà có chị dâu mới, ngồi đầu nồi xới cơm cho từng người hết một vòng thì người đầu tiên đã ăn xong, thế là lại đơm cơm vòng nữa khiến chị nhiều khi không kịp ăn, hoặc mọi người ăn xong thì chị lại rửa bát. Xong thì lén về nhà mẹ đẻ ăn cơm nguội nên U cảnh cáo đàn con lít nhít “chúng mày ăn chậm thôi và cũng nhìn trước sau để còn dành cơm cho chị mày ăn nữa chứ”. Rồi những tháng ngày giáp hạt, gạo hết phải đi vay. Nhà có nguyên một đoàn tàu há mồm nên Thày U phải vất vả chạy ăn từng bữa. Thế là chỉ nấu cơm sáng và trưa, mà cơm cũng độn toàn sắn khô và ngô bung, buổi tối thì cả nhà quây quần bên nồi khoai luộc, lúc là khoai lang, khi thì khoai tây, hết khoai thì rang ngô xong ngào đường rồi cả nhà ngồi bốc ăn,... đạm bạc nhưng sao mà ấm áp và hạnh phúc đến thế!Sau này thoát ly, nhớ hồi 18 tuổi ra Móng Cái buôn bán, những chiều hoàng hôn biên giới nhìn làn khói lam chiều len lỏi bên những mái lán của kẻ chợ tha phương, lại nhớ cái bếp nhà mình đến quay quắt. Nhớ cái “chuồng trấu” đầy rơm, nhớ cái kiềng 3 chân bằng gang được viền một vòng tròn bên trên để giữ chân và tạo mặt tiếp xúc với nồi, nhớ cây “que đời” dựng góc tường để mỗi lần nấu cơm dùng tãi rơm cho cháy nỏ, cái que đời ấy cháy lom lem một đầu thành than, nhiều khi ngồi nấu cơm rảnh tay lại vẽ nguệch ngoạc lên tường. Nhớ những buổi chiều mùa Đông giá lạnh, U lom khom trong bếp thổi lửa nấu cơm, khói bay quện vào mắt cay xè,...Năm tháng cứ dần trôi, mình thì lớn lên, đủ lông đủ cánh bay đi lập nghiệp, Thầy U thì già đi, bếp lửa cũng được cải tiến hiện đại hơn, bữa ăn đã đủ đầy hơn, không phải độn khoai sắn nữa, thịt cá đủ đầy, bếp rơm thay bằng bếp ga,... nhưng sự quây quần đã gần như không còn đầy đủ, trừ dịp Tết. Thế nên những đứa con đi xa luôn thèm khát bữa Cơm Nhà, còn Cha Mẹ già thì chỉ mong muốn được ăn bữa cơm đông đủ hết các con, nhưng điều đó thật khó. Cuộc sống là một vòng luân hồi, nước mắt chảy xuôi, thế nên những bữa cơm ấu thơ mãi mãi sẽ chỉ còn là ký ức!“Lục à, mày ăn cơm chửa? Em chửa ăn, thế U ăn chửa? Tao chửa, vừa mới nấu xong” - Là nỗi nhớ cồn cào ký ức, những đoạn hội thoại qua telephone ấy, giữa Mẹ và Con, mãi là những ký ức ngọt ngào và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi đứa con xa quê!

    7 min
  • Gió lạnh đầu mùa

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân
    Tranh minh họa: Họa sĩ Trần Nguyên

    Hà Nội hôm qua trở lạnh. Buổi sáng ngủ dậy, nhìn ra ban công thấy lao xao gió, những bông hoa giấy cúi rạp đầu đón những cơn gió luồn vào từ khe hõm của chung cư. Trời đầy mây xám lốp xốp, bước xuống đất với tay kéo tấm cửa kính, cái lạnh ngay lập tức ùa vào, cảm giác nổi gai ốc, gió lạnh đầu mùa hoang hoải, hanh hao.Vào FB ngó phần kỷ niệm, kéo xuống một chút thì gặp bức ảnh này, cũng vào dịp tháng 10 của mấy năm trước, khi ấy ở quê đã lạnh lắm rồi. U mặc áo len, ngồi chọn từng nén hương đẹp để bó lại, chiếc khăn len đội đầu được U kéo xuống che ngang miệng, để gió lạnh không thổi vào họng, và cũng để ấm tai.Nhìn bức ảnh ấy, lại nhớ ngày xưa.Hồi mình còn nhỏ xíu, mùa đông ở quê lạnh dã man. Có thể ngày đó làng quê còn trống thoáng, không có nhà cao tầng nên gió lạnh đi băng băng quét qua muôn nơi. Nhà ai cũng chỉ lợp mái rơm, vách đất trộn rơm, giường tre không đệm mút, quần áo cũng thiếu, đa phần áo vải, lại đói ăn nữa, nên mỗi khi gió mùa đông bắc về, là cảm nhận được cái rét cắt da cắt thịt, run rẩy trong những tấm áo manh quần mỏng tang, đơn sơ.Cái khăn vắt ngang miệng như thế này, là hình ảnh quá quen thuộc đối với các bà, các cô, các chị em ở quê. Họng là bộ phận cực kỳ nhạy cảm với cái lạnh nên các bà các cô thường lấy khăn che miệng khi đi làm đồng, thậm chí ngồi ở sân nhà. Ngày xưa, cả U lẫn chị Toàn đều quấn khăn ngang mặt như thế trong những ngày đông lạnh buốt. Nhớ những lần đi làm đồng về, mình đang rửa rau lợn dưới ao, U và chị Toàn cũng xuống ao để rửa chân tay, thường U sẽ rửa tay thật sạch, rồi nhón lấy một đầu khăn tháo ra, thế là gương mặt lại hiện hữu, với ánh mắt thân thương và nụ cười toả nắng quen thuộc.Những ngày đông, Thầy thường ngồi tỉ mẩn chuốt từng nắm rơm, rồi bện lại từng con nhỏ, rồi nối với nhau thành một tấm thảm, dùng để trải giường. Mùa đông hanh khô nên giường tre thường kêu kẽo kẹt, nhưng khi Thầy trải cái ổ rơm lên đó, thì tiếng kêu giảm đi gần hết, nằm xuống êm lưng và êm cả tai, tha hồ vặn người, thậm chí anh em đùa nhau trên giường mà nó không bị kêu như trước nữa.Mùa đông ở quê ngày ấy rất xơ xác. Mùa gặt đã xong, cả cánh đồng mênh mông còn toàn gốc rạ. Những đàn gà, đàn vịt được các gia đình cho vào lồng, để lên xe ba gác rồi chở ra đồng, thả chúng ra và cả đàn toả đi khắp nơi róc rỉa những hạt thóc còn kẹt lại trong gốc dạ, hoặc những con cua non líu xíu, thậm chí cả những con châu chấu, cào cào. Sợ nhất là những cánh đồng dưới dộc xâm xấp nước, rất hay có rắn. Có lần, cả đàn gà đang lục tục róc rỉa thì bỗng chạy tán loạn, kêu chiêm chiếp, có con vừa chạy vừa bay lên khỏi mặt đất,… hoá ra chúng bị một con rắn hổ mang đuổi. Những lúc như thế, các anh lớn đi chăn trâu sẽ cầm gậy đuổi theo rắn để đánh, có lần các anh đánh được con rắn hổ mang rất to, dài hơn một mét, cái mang nó bạnh ra khi nó hù doạ mọi người nhìn rất ghê. Ngày ấy quê mình gọi con rắn hổ mang là “Xà mang bạnh”, nhìn thấy con đấy là chạy thật xa vì nghe nói nó rất độc, cắn vào có thể gây chết người. Nhiều khi đánh được con rắn to, có đứa mang về cho thầy u mang lên chợ bán. Hồi đấy Thầy mình cũng hay bắt được rắn ngoài đồng, nhưng toàn rắn nước. Rồi cả liu điu, nùng nục nữa. Nhưng liu điu, nùng nục thì toàn cho vào nồi cám lợn bồi dưỡng các chú heo, còn mỗi khi bắt được rắn, Thầy lại ngồi tỉ mẩn thịt rắn rồi băm viên. Vườn nhà mình hồi đó nhiều loại rau lắm, ngoài rau canh ra thì còn rau gia vị như lá lốt, tía tô, xương sông,… vì thế, khi bắt được rắn, Thầy thường sai mình ra vườn hái lá xương sông, có lần vườn cũng hết thì ra nhà cậu Bám để xin, nhà cậu Bám có cái dãy cây xương sông luôn xanh tốt ngay cạnh bể nước...

    9 min
  • Bữa ăn yên lành cùng u

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    Tranh minh họa: Họa sĩ Trần Nguyên


    Bữa trưa yên lành cùng

    u

     

    Chúng ta còn bao nhiêu

    bữa ngồi ăn với mẹ nữa?

    Trước đây mình không

    bao giờ có câu hỏi này trong đầu. Nhưng khi từ ngày Thầy mình mất, những bữa ăn
    đã chẳng bao giờ còn đủ đầy được nữa, lúc đấy mới chợt nhận ra rằng, sự hiện
    hữu của Thầy U qua bữa ăn mới thực sự là quý giá, và bữa ăn cùng Thầy U nó không
    đơn thuần chỉ là ăn uống cho no bụng, mà nó thực sự là những giây phút giá trị,
    đó là sự kết nối tình yêu giữa cha mẹ và con cái, là những khoảnh khắc ấm áp
    của gia đình!

    Hôm qua về quê lấy

    tương giao nốt cho mấy bác mê tương quê, thực ra về cái là xếp tương lên xe
    luôn, giá như hồi trước là về Hà Nội ngay, nhưng bây giờ thì khác. Thấy con zai
    về là U rổn rảng cười nói “đấy, nó về nhà rồi mà mình còn ngồi chơi nhà Soạn”
    khi U về thì thấy con zai đang ngồi uống trà cùng mấy ông hàng xóm trong sân.

    Rồi U chẳng nói chẳng

    rằng, tất tả đi cắm cơm, mở tủ lạnh lấy thức ăn, rồi quầy quả bếp núc nấu
    nướng. Ngồi ở hiên nhà hàng xóm, nhìn dáng U xệnh xạng đi lại, cái nón đội đầu,
    đôi dép lê lẹp xẹp giữa cái nắng thu hanh hao mà thật sự thấy yên bình và nôn
    nao cảm xúc. Cái dáng dấp thân thương ấy, sẽ còn bao nhiêu ngày tháng hiện hữu
    trước mặt mình nữa?

    Chẳng ai có thể trả

    lời, nhưng có một điều chắc chắn rằng, quỹ thời gian ấy cũng chẳng còn nhiều.
    Một người sinh ra và lớn lên, bước trên con đường của mình và sẽ dần đến ga
    cuối! Ai cũng sẽ như vậy, không thể khác! Và mình cũng nhận ra điều đó khi mỗi
    lần về quê là một lần U thay đổi. Như cái cây cổ thụ, mọi thứ cứ già cỗi, khô
    cằn dần.

    Thế nên từ nhiều năm

    nay, mình bắt đầu quan tâm đến chuyện đó nhiều hơn. Thường xuyên về nhà với U
    hơn. Và đúng là, mọi thứ là do mình cả. Nếu như mình vẫn lựa chọn địa vị, mình
    sẽ nghe lời sếp đi học mấy lớp bồi dưỡng theo quy định để về sếp bổ nhiệm lên
    Tổng biên tập, tuy nhiên, nếu như thế, mình sẽ lại phải cuốn theo con đường mà
    bất cứ ai ở vị trí đó đều phải làm như vậy. Nhưng mình đã chọn từ chối, mình
    dừng lại, để có thể dành nhiều thời gian hơn cho U. Biết đủ trong cuộc sống là
    điều dễ nhận biết, nhưng khó thực hiện. Nhưng mình đã làm được, và mình chưa
    bao giờ và sẽ chẳng khi nào hối hận về điều đó. Mình lựa chọn cách sống này,
    con đường đi này là vì lòng mình muốn vậy! Cuộc sống của mỗi người đều là do
    chúng ta lựa chọn, ai cũng sẽ có những mục tiêu cho riêng mình.

    Còn với mình, ở thời

    điểm hiện tại, vẫn kiếm được tiền, vẫn có thời gian về quê với U liên tục, vẫn
    hoạt động xã hội mạnh mẽ và liên tục, mình thấy hạnh phúc và thanh thản.

    Chỉ là ngồi ăn cùng U,

    một bát su su luộc, một đĩa giò lợn mua chợ Choá, đĩa nem chạo bác Bình tất tả
    mang vào, mà ngon vô cùng. Dù không nói chuyện nhiều vì U điếc nhưng chỉ cần mẹ
    con ngồi với nhau, nhìn nhau ăn và mỉm cười, thế là hạnh phúc nhất rồi. Ăn
    xong, U vẫn đòi rửa bát, bảo thôi U ra cắm hộ em cái bơm nước lên trần, để em
    rửa cho. Thế là U lại le te ra cắm cái ổ điện, máy bơm chạy xè xè. Xong hai mẹ
    con ngồi nói chuyện, những câu chuyện không đầu không cuối, không chủ ngữ và
    cũng thường là “trống không”, những chuyện mà lần nào về U cũng nói, nào “bà
    Thọ ngày xưa thân với tao lắm”, nào “khổ thân bà Hệ ngồi xe lăn muốn đi đâu
    cũng vất vả, giờ bà ấy mất rồi nhiều lúc tao cũng thấy nhớ”… Những
    chuyện quê hương, hàng xóm, bao năm nay vẫn thế, mà khi nói chuyện U vẫn hào
    hứng, thằng con vẫn cứ lắng nghe rồi khúc khích cười…

    Xong rồi U con mỗi

    người một giường, mỗi người cái điện thoại, nằm im một lát là lại cùng nhau
    ngáy đều…Giản dị và bình yên thế thôi!

    8 min
  • Nhớ về Hà Nội giữa lòng Hà Nội

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    Những ngày kỷ niệm 70
    năm giải phóng Thủ đô, nghe diva Hồng Nhung hát Nhớ về Hà Nội (Hoàng Hiệp) trên
    tivi làm mình nhớ đến bản thu âm năm 1989 được Đài Tiếng Nói Việt Nam phát rất
    nhiều lần, nghe mà rưng rưng lệ. Yêu Hà Nội và nhớ Hà Nội quá, dù mình đang sống
    giữa lòng Hà Nội.

    Nhớ quá Hà Nội của 30

    năm trước, trầm mặc, nhẹ nhõm, đơn sơ, thưa vắng và chỉ toàn xe đạp, xe máy.
    Nhớ cái lần đầu đuợc đi Hà Nội là năm mình 14 tuổi, là Liên đội trưởng của
    Trường cấp 2, học giỏi hát hay công tác Đoàn Đội đều nổi bật nên là gương mặt
    đầu tiên trong số danh sách các học sinh được đi thăm Hà Nội.

    Nhớ quá cái ngày thu

    năm ấy, ngồi trên chiếc xe “bát” màu vàng, vai đeo khăn quàng đỏ nổi bật trên
    nền chiếc áo trắng tinh mà U mua cho mặc Tết của năm trước. Cả lũ trẻ con thau
    tháu ngồi trên xe náo nhiệt trò chuyện. Chiếc xe lăn bánh từ từ trên con đê đầu
    làng để ra Thủ Đô.

    Cảm giác đầu tiên về

    Hà Nội là cây cầu Long Biên hùng vỹ, tráng lệ và cổ kính. Cả lũ reo lên, sông
    Hồng vừa qua mùa lũ, nước đỏ ngầu nhưng bình yên, lững lờ chảy. Ôi đẹp quá, đẹp
    hơn, to hơn và nước cũng đục hơn con sông Cầu làng mình. Rồi xe ô tô vào phố,
    oà oà, hai bên đường những hàng cây cao vút, xum xuê lá. Phố phường nhộn nhịp
    toàn người đi xe đạp. Ai cũng đẹp, ai cũng xinh. Người Thủ đô có khác, họ nhăn
    mặt cũng thấy đẹp, họ quát nhau mà cũng thấy giọng ngọt thỉu. Ngày đấy, cả lũ
    trẻ nhà quê chúng mình bắt chước giọng Hà Nội, rồi lại trêu nhau vì chả đứa nào
    giống cả.

    Chiếc xe đưa bọn mình

    vào Cung thiếu nhi. Cái ấn tượng ban đầu là cái tường của Cung hình tổ ong
    (không biết có đúng không hoặc mình nhìn cái mảng tường khác nhỉ, lâu quá không
    ra Cung nên không để ý). Ấn tượng nữa là, cả lũ chạy đến cái vòi nước, vặn ra
    rửa tay, rửa mặt. Ôi nước máy mà cũng mát thế, mát gần bằng nước giếng khơi quê
    mình. Có đứa vục tay đưa lên miệng uống, rồi bảo, ôi nước ngọt quá, mát quá,
    uống như uống nước đường chứ không “ngang phè” như nước giếng làng mình. Rồi cả
    lũ vào trong Rạp, màn mở, một cặp đôi nam nữ thiếu niên dẫn chương trình bước
    ra. Ôi sao mà đẹp trai xinh gái thế, cái khăn quàng nó thắt cũng đẹp nữa. Và
    lần đầu tiên trong đời, nó được nghe được một giọng nói chuẩn Hà Nội đọc tên
    trường, tên xã mà thấy gai người xúc động: “Chúng mình vô cùng vinh dự được
    chào đón các bạn đội viên xuất sắc đến từ Liên đội trường phổ thông cơ sở Dũng
    Liệt tỉnh Bắc Ninh”. Mình nhớ mãi câu đó, thấy tự hào về ngôi trường và quê
    hương của mình.

    Sau khi xem văn nghệ,

    xe ô tô đưa cả đoàn ra Tràng Tiền ăn kem. Trời ơi, ở quê toàn ăn kem đá 1 hào 2
    cái, mút tý là chảy nước hết, nên lần đầu được ăn cái kem đậu xanh Tràng Tiền
    mà có cảm giác sao cuộc đời lại có cái kem nó ngon đến không thể tả được như
    thế, vừa thơm, vừa ngọt, vừa béo béo mà mút nó cứ dẻo dẻo chứ không oãng nước
    như kem đá mà ông già đội mũ lá rách cầm cái quả bóng có cái kèn đồng bóp kêu
    “mút, mút” suốt ngày đạp xe qua cổng trường như ở quê. Xong rồi cả lũ được ra
    Bờ Hồ, tập trung ở Bưu Điện rồi sang đường, ôi sao cái hồ Gươm nó to thế, cây
    cối toàn cổ thụ, cái Tháp Rùa uy nghi và vạm vỡ, lừng lững giữa hồ như một biểu
    tượng của Thủ đô trong con mắt của cậu bé nhà quê 14 tuổi.

    Và đó là những ký ức

    “lần đầu” cực kỳ sâu đậm về Hà Nội của mình. Sau này, khi bài hát Nhớ về Hà Nội
    được vang lên qua tiếng hát của Hồng Nhung thì mình lại nhớ về lần đầu tiên
    được đi Hà Nội ấy, tự nhiên nghe mà cứ như mình sinh ra ở Hà Nội, cũng thấy xao
    xuyến bồi hồi. Nhất là cái câu “Ôi nhớ chiều 30 Tết, chen giữa đào hoa tươi
    thắm, đường phố đông vui chờ đón tất niên, là phút thiêng liêng lắng nghe thơ
    Người” mà tự nhiên mình cũng xúc động nghẹ ngào như một người Hà Nội vậy.


    11 min
  • Thương u, nhớ thày và nếp nhà xa xưa ấy

    Tác giả: Nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    Hôm nay của tròn 11 năm trước, U trở thành người đàn bà goá bụa, khi Thầy nhẹ gót về miền cực lạc, vào một buổi sáng mùa thu trời trong và heo may như buổi sáng ngày hôm nay.Sinh thời, khi mừng thọ 80 tuổi xong, thầy có chép ra phía sau tờ lịch bài thơ “80 tuổi sợ vợ chết”, trong đó có câu: ”Nếu mà có phải đi xa/Để tôi đi trước còn bà đi sau”. Rồi đem xuống nhà ông giáo làng nhờ giữ hộ, dặn, khi nào tôi đi, ông cho người lên gọi thằng Lục xuống lấy hộ tôi nhé! Và đó là một câu chuyện xúc động đẫm nước mắt mà mình từng kể cách đây vài năm rồi.Ngày ấy, thầy là một nông tri điền khoẻ mạnh không bệnh tật gì. Chỉ có mỗi bệnh đau đầu có lúc nó “phát” nặng đến mức phải vào viện tâm thần điều trị. Thầy kể, lúc nhỏ phải đi ở, bị chủ nhà đánh vào đầu rất mạnh và nhiều lần, đến khi thanh niên, hoạt động du kích bị địch bắt đi tù toàn bị lính tây đánh báng súng vào đầu nên thầy bị di chứng, rất hay đau đầu. Mãi tới năm 90, khi anh trai mình thoát ly có tiền nên đã thuốc thang chữa khỏi bệnh đó. Thế nên, cả đời thầy chả bao giờ phải đi viện chữa bệnh cả, trừ cái bệnh đau đầu vừa kể. Do vậy, khi thầy đột quỵ và ra đi sau một tuần nằm viện, cả nhà rất sốc. Ngày ấy bệnh viện cho về nhưng u bảo còn nước còn tát, cứ để ở đấy, đến khi chính u ra quyết định “thôi chẳng còn hi vọng gì nữa thì đưa thầy mày về”, lúc ấy con cái mới đưa thầy về.Và thầy ra đi sau một ngày từ viện về, trên chiếc giường quen thuộc của thầy, giữa vòng tay của đủ đầy con cháu, trong buổi sáng mùa thu trời trong veo và nắng vàng như rót mật, thanh thản, nhẹ nhàng!11 năm u đã sống vững vàng, khoẻ mạnh và vui vẻ. U vốn lạc quan và là người cứng rắn, không bi luỵ. Nhớ ngày thầy vừa mất, u mạnh mẽ lắm, giống như một nữ tướng, vẫn đứng lên lo lắng, chỉ đạo con cháu. Những ngày sau đó, vì con cháu lên ngủ đông vui nên u cũng bớt buồn. Nhưng khoảng vài tháng sau, khi cuộc sống trở lại bình thường, con cháu cũng không còn sang ngủ nhiều nữa, u bắt đầu chống chếnh mất thăng bằng. Đôi chim cu sống bên nhau trọn cả cuộc đời, từ thanh xuân phơi phới đến lúc tuổi già như ngọn đèn trước gió, cùng nhau trải qua biết bao thăng trầm cuộc đời nên khi mất đi một người, người còn lại sẽ cực kỳ trống trải và cô đơn. “Con chăm cha không bằng Bà chăm Ông” là điều các cụ đã đúc kết không sai bao giờ!Nhưng rồi cuộc sống vẫn tiếp diễn. Cuộc đời như dòng sông không ngừng chảy. U vẫn sống một cuộc đời thanh thản, chấp nhận quy luật của cuộc sống, tiếp tục vững vàng làm chỗ dựa cho gần trăm đứa con, cháu, chắt, chút. Nụ cười u sớm nở trở lại, khép lại nỗi buồn để đón nhận những ngày mới nắng lên.Và rồi cứ mỗi năm một lần vào đúng ngày hôm nay, u lại thắp 3 nén hương và lẩm nhẩm gọi “ông ơi”, như một sự kết nối âm dương, đồng vọng từ tâm tưởng. Mùi hương quyện mùi hoa quả thơm nhẹ buổi sáng mùa thu, thấy lòng thanh thản. Nhớ thầy, thương u, thương cả cái nếp nhà xa xưa ấy!

    9 min
  • Chuyện ngày bão

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    Từ qua đến nay, cả Hà Nội vội vã, khẩn trương chống bão, các siêu thị đông đặc, nhà mình còn không mua được hành, nến vì xuống siêu thị muộn. Không khí thật khẩn trương để chuẩn bị đối phó với cơn siêu bão lâu lắm rồi Hà Nội mới bị một cơn bão lớn như thế.Sáng nay, tầm hơn 10h gió bắt đầu to. Mình lấy dây dợ để ra hai cái ban công, dọn gọn gàng rác rưởi để thông thoáng cho dòng nước chảy xuống cống. Dùng dây buộc bịn cẩn thận cây cối, buộc cả cái chậu vào hành lang sắt, bao nhiêu dây buộc nơ các lẵng hoa, dây sắt nhỏ mình lưu cữu giờ đây phát huy tác dụng. Nói chung tính nết nhà quê hay tỉ mẩn lưu cữu đồ nói chung nhiều khi cũng có tác dụng rất lớn. Cái này là học theo cách thầy u ngày xưa, cái gì mà dùng được là cất đi, kiểu gì cũng có lúc cần.Nói đến thầy u lại nhớ những khi thầy còn sống. Ngày nhỏ, cứ mỗi khi chuẩn bị có bão, thầy luôn là người đứng ra chằng chống nhà cửa. Đôi khi thày gọi anh Sáu ra làm cùng. Vẫn nhớ dáng thầy nhỏ thó, cởi trần quần đùi đội nón, tay cầm cái cuộn dây chạc, tay cầm con dao để cắt dây. Thầy ra đống rơm, dùng mấy cái như cọc sắt (ngày xưa ở quê nhà mình có khoảng chục cái cọc sắt, to bằng cái chuôi liềm, dài tầm 50 cm, một đầu nhọn cắm xuống đất, một đầu toè để lấy búa đóng xuống. Thầy cắm 4 cái cọc ở 4 góc tạo thành hình vuông, đóng xuống đất tầm 40cm, còn chỉ còn hở một khoảng đủ để giằng buộc cái dây chạc vào đó, rồi thày vứt qua ngọn đống rơm để chằng chéo rồi thiết chặt dây lún cả ngọn đống rơm xuống tránh bị bão hất tung cả đống rơm lên.Hồi xưa nhà bếp và nhà ngang còn lợp rơm, thì mỗi lần bão tới, cả nhà sẽ giằng chống dãy nhà lợp rơm ấy. Cũng làm như cách thày chằng chống đống rơm, thày đóng hai dãy cọc hai bên mái nhà, mỗi dãy 4 cái, rồi giằng dây chạc hình zic zac chéo lên nhau và thiết thật chặt. Sau đó, thày dùng những cây tre khô hoặc cây gỗ nhỏ dài luồn ngang mái nhà, dưới những chiếc dây chạc để giữ mái, rồi dùng lạt buộc nhiều đoạn cây tre, gỗ đó vào những đoạn dây chạc để cho nó chắc chắn. Riêng mấy cây bưởi là thày không chằng chống được vì cũng chẳng biết chằng kiểu gì, thế nên cứ mỗi lần bão về, tiếc nhất là rụng hết quả bưởi còn xanh dù đã rất to, nhiều khi tiếc bổ ra mà cái tép ăn vào đắng ngắt đành phải bỏ, có năm bưởi rụng đầy sân, u tiếc đến mức khóc sụt sùi, vì 3 cây buởi ấy để Tết bán cũng được một khoản tiền đủ để mua cho hai anh em mình mỗi đứa bộ quần áo mới.Ngày ấy, sợ nhất là bão đêm. Bão ngày thì không sợ vì trời sáng, nhưng bão ban đêm thì rất lo lắng vì trời bên ngoài tối đen như mực. Trong nhà, những ngày ấy thày sẽ thắp chiếc đèn bão từ chập tối. Bao giờ bão thì cũng kèm theo mưa, và những mái nhà lợp ngói nếu bão không giật thì đỡ, chứ bão giật, xóc thì nó sẽ táp nước mưa ngược mái ngói chảy vào bên trong gây hắt, dột. Thế là cả tối, thầy tay cầm cái đèn bão, tay cầm cái chậu thau để đi hứng những chỗ dột, có năm dột đúng giường ngủ, thày phải sải chiếu xuống góc nhà chỗ không bị dột, sau đó kéo giường ra để đặt chậu thau vào. Có năm bão to mà chưa kịp “đảo mái” thì dột tứ tung, thày u, thậm chí mình cũng tham gia vào việc lấy hết xoong nồi thau chậu ra để hứng khắp nơi trong nhà.Sợ nhất là tiếng bão rít qua cánh cửa. Ngày ấy nhà mái ngói, cửa ra vào và cửa sổ cũng chỉ làm bằng gỗ xoan sơ sài. Cửa sổ mở ra, khép lại được móc vào cái khuy đóng ở chấn song cửa sổ, thế nên mỗi lần bão, gió nó giật ra giật vào khành khạch, tiếng gió rít ù ù nghe thật đáng sợ. Những lần bão như thế, ngoài việc chằng chống đống rơm, mái nhà, thì thày cũng chằng cả cửa sổ, buộc bịn cẩn thận cho gió đỡ giật tung cánh cửa, nên cả tuổi thơ của mình, chưa lần nào nhà mình bị bão gây thiệt hại, cứ nằm im trong nhà hoặc chơi bi, chơi tam cúc với mấy anh em. Lúc lúc lại chạy ra nhìn qua khe cửa chính, xem ngoài sân có bị làm sao không, rồi lại vào chơi tiếp.

    8 min

About Miền ký ức 197X

From the publisher's feed

Đây là kênh Youtube với những hoài niệm, ký ức về tuổi thơ của chúng tôi - những người thuộc thế hệ 7X lớn lên trong giai đoạn đầy khó khăn nhưng rất giàu tình người. Hãy nghe và đồng cảm cùng chúng…