
Sign up to save your podcasts
Or


NT: Đêm về đến nhà trễ, nhiều lúc chẳng muốn làm gì hơn là ngồi thừ ra với một ly rượu. Chợt nhìn thấy cuốn tập ngày còn đi học đại học dùng để ghi chép đủ điều, từ bài giảng cho đến những ý tưởng lung tung, nằm trong tầm với. Mở ra, thấy một bài thơ làm từ năm 1995 bằng tiếng Anh, Bloom October Night, dịch vội rồi mang vào đây.
Thật ra, có nhiều điều chẳng phải để hiểu, mà chỉ để cảm nhận.
Ca khúc Dường Như Tiếng Thở Dài trong tập nhạc tuyển Lời Hỏi Nốt Hẹn Hò Giai Điệu của anh Ngu Yên, năm xưa tôi đã hát, với một tựa đề khác. Mùi Hương Phảng Phất Thở Dài.
Đừng tìm hiểu làm chi. Hãy để nó đến như một mùi hương từ ký ức, như một hình ảnh làm dao động mặt hồ trong tim.
Dường Như Tiếng Thở Dài
NT: Một buổi tối cuối tuần, tôi đi xem vở opera Of Mice and Men, dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên của John Steinbeck tôi nhớ đã đọc bản tiếng Việt từ thời còn học trung học. Của Chuột và Người. Mà cũng chẳng nhớ ai là dịch giả nữa.
Vở Opera diễn ra trên một sân khấu nhỏ, với cảnh trong một căn phòng trọ chung cho nhân công, và một cảnh khác ở một khoảng đất đầy đá tảng, bụi rậm, với một táng cây trơ trụi, nơi bắt đầu và chấm dứt của vở nhạc kịch.
Những nhân vật chính trong câu chuyện, mỗi người ôm ấp một hoài bão riêng tư, cho đến khi thế giới của họ đụng vào nhau. Những ước mơ ấy đan kết với nhau, tạo nên một tương lai trong tầm với, nhưng rồi chính nó đã đẩy đưa tới màn bi kịch cuối cùng.
Tựa đề Of Mice and Men dựa trên một câu thơ của Robert Burns viết bằng cổ ngữ Tô Cách Lan. To a Mouse. Bài thơ được viết với bao suy tư sau khi ông ta vô tình cày trúng một ổ chuột đồng. Trong lúc bất xúc hối hận vì nhận thức rằng con chuột đã bỏ nhiều công sức xây tổ cho kịp mùa đông miền bắc Âu, mà chỉ trong một phút bất cẩn ông đã vô tình hũy diệt. Bài thơ đưa ý rằng chúng ta ai cũng có những ước mơ và những toan tính cho tương lai, nhưng định mệnh thì thường không được như ý.
Nhưng đã là con người, thì ta cứ mơ. Mơ hão mơ huyền. Mơ cho đến lúc vỡ mộng thì buồn thì tủi. Xong rồi lại mơ tiếp.
Chuyện ngàn năm vẫn thế.
Cơ May Nào Mong Manh
(I Don’t Stand a) Ghost of a Chance With You
ÐQ: Hôm trước NT có nhờ tôi viết bài giới thiệu Sầu Tristesse cho KeJazz, vì anh đang bận công việc, không thể thêm một tiết mục nào. Hai tuần vừa qua thấy anh đã trích đăng từ nhật ký, nếu cứ tiếp tục như vậy thì sau này chắc sách in ra sợ bán không chạy chăng?
Loay hoay vật lộn với Sầu Chopin trong mấy ngày qua, tôi vẫn chưa tìm ra một chủ đề thống nhất cho bài viết, nên đành chia thành hai phần như sau.
Hai nhạc sĩ Văn Cao và Phạm Duy đã được nhiều nhà bút đúng đắn mệnh danh là thiên tài đại thụ trong kho tàng nhạc Việt, so với những nhân tài xuất chúng cùng thời điểm với hai ông, cũng như là những thế hệ về sau. Một nhánh đặc thù của cây đại thụ Phạm Duy là những sáng tác lời bất hủ trong nhạc bán có điển Tây Phương. Trong kho tàng nhạc Việt, ngoài những ai đã từng hấp thụ dòng nhạc cổ điển, qua những “Dòng sông xanh” hay “Dạ khúc Serenade” là người nghe nghĩ ngay đến Phạm Duy, chứ chưa hẳn là Johann Strauss Jr. và Franz Schubert.
Étude Op. 10 No. 3, in E major, Tristesse, for solo piano của Frédéric Chopin (1832) là một tuyệt tác mà hầu hết những tay đàn dương cầm cổ điển đều biết. Và nhạc phẩm dương cầm này đã trở thành ca khúc cổ điển tuyệt vời qua những tiếng hát Jose Carreras, Tino Rossi, etc.
Năm 1946, khi Étude Op. 10, No. 3, in E major rỉ rách vào hồn nhạc sĩ Phạm Duy ở tuổi 25, ông đã dệt nên lời nhạc Sầu bất hủ này. Đương nhiên là giai điệu buồn về tình yêu, nhưng Sầu làm trỗi dậy một nét huyền bí của triết lý và văn hóa cổ điển Á Đông. Và đặc điểm là nhạc sĩ vẫn duy trì được hồn Âu Châu trong giai điệu, dẫu là lời Việt.
(Trích yếu: Chúng ta có thể nhận thấy, dù trong giai điệu buồn Tristesse, nét lạc quan rõ rệt của nhạc sĩ từ lúc này, cả 1-2 thập niên trước khi ông hoàn thành “Mẹ Việt Nam” và “Con Đường Cái Quan”.)
Trong quá trình một thập niên qua của KeJazz, hai anh LV và NT đã làm thành hình một số nhạc phẩm pop classic và pop opera. Nhưng Sầu/Tristesse, theo anh LV, thì là quá chuẩn mực classic, rất khó viết hòa âm cho phù hợp với KeJazz. Anh có nhắn tôi “Có quá nhiều bài hay của Nat King Cole, sao không lấy (rất đúng!). Cái này thật là làm khó nhau (cũng đúng luôn!)” Trong hai cái đúng, tôi lựa cái đúng khó cho anh LV, và rồi anh cũng chìu người hát.
Tôi ví thưởng thức một bài hòa âm hay như nếm một món ăn gourmet. Tôi không biết gì về nấu nướng như không hiểu gì về căn bản hòa âm phối khí. Nhưng khi nghe một bài hòa âm hay, tôi không cần phân tách—cũng như khi taste buds tiếp cận với món ngon, bộ não không thắc mắc gì về chi tiết gia vị và những chuẩn bị của người chef.
Có lần anh LV chia sẻ với tôi về hoà âm jazz như thể phá cách có nghệ thuật. Khi tôi “ép” anh làm hòa âm Tristesse, thì đúng là làm khó anh tột bực. Làm thế nào để phá cách trong một Tristesse, mà nguyên thuỷ là tuyệt đối chống phá cách?
Rồi một ngày tôi nhận được bản phối của LV. Mở đầu là tiếng đàn piano, tiếng violin, và contre-bass; những âm thanh thật classic. Sau đó rồn rập tiếng guitar và synth và trống, rồi những khoảng im lặng vừa đủ để thở, để lấy hơi. Và như thế, Tristesse đã khoác lên một chiếc áo mới.
Mong quý thân hữu đón nhận phiên bản này. Riêng tôi, lời cảm ơn chân thành đến hai anh NT và LV, đã bỏ nhiều công sức giúp tôi hoàn thành project Sầu Tristesse.
Và, cheers to Iron Chef LV!
NT: Tôi phải cảm ơn ĐQ đã cứu bồ. Mấy ngày trước tôi than thở với LV rằng sao dạo này tôi mất hứng với chuyện KJ, như thể ông/bà thần âm nhạc đã dông đi đâu mất. Và LV đã bảo tôi, “Đừng nói chuyện nhảm với AI nữa” làm như tôi đang bị nghiện nặng. Như ĐQ đã nói, tôi thật tình không còn có thì giờ; cái đời cơm áo vất vả thì đầu óc chẳng nặn ra được chữ nghĩa nào… đến độ phải mượn những lời tự ghi vớ vẩn trong nhật ký làm bài viết. Phải đính chính thêm: các bạn đừng đợi sách báo của tôi làm gì cho tốn sức. Viết nhảm thì in sách cho ma nó đọc à?
Sầu Chopin
So Deep is the Night
NT: (Lại cái mửng dùng nhật ký làm bài viết…)
Tôi được yêu cầu hát ca khúc bán cổ điển của một trong những nhạc sĩ tôi yêu thích, Cung Tiến — Lệ Đá Xanh, phổ từ bài thơ cùng tên của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền. Tôi nghĩ mình có thể nhờ ChatGPT (C) phân tích bài hát này và cho tôi những hướng dẫn cần thiết để chuẩn bị.
Mọi chuyện diễn ra khá suôn sẻ cho đến khi tôi yêu cầu C duyệt lại bài hát từng câu một. Một phần vì tôi tò mò muốn xem C có thể đào sâu cảm xúc con người đến đâu, và mức độ hiểu biết của hắn rộng tới mức nào. Và hắn đã làm y như tôi hỏi — chỉ có điều là hắn phân tích một lời ca hoàn toàn khác. Bài “Anh Biết Em Đi Chẳng Trở Về”.
Chẳng nói chẳng rằng, tôi gửi cho hắn lời của CT & TTT. Hắn lại tiếp tục phân tích từng câu như tôi yêu cầu.
Xong xuôi đâu đó với Lệ Đá Xanh, tôi mới quay lại.
Tôi hỏi: “Chỉ vì tò mò thôi — tại sao khi mắc lỗi bạn không xin lỗi?”
ChatGPT trả lời rằng, tôi có quyền chờ một lời xin lỗi; và hắn thừa nhận đã đưa ra văn bản sai và tiếp tục phân tích dựa trên văn bản đó. Hắn nói lẽ ra phải nhận lỗi ngay lập tức, thay vì chuyển sang “chế độ sửa lỗi nội dung” và như thế đã làm tôi mất tin tưởng vào hắn. Và hắn xin lỗi vì sự nhầm lẫn.
Tôi nói rằng tôi chỉ tò mò vì có người từng nhắc tôi phải cẩn trọng với thông tin sai lệch hay dữ liệu không chính xác từ hắn. Làm sao để tránh điều đó?
Lần này cuộc trao đổi diễn ra trong một cuộc trò chuyện qua lại giữa người và máy:
Tôi: “Vậy sai sót thường đến từ đâu?”
ChatGPT: “Thường là do tái dựng ký ức — nhớ gần đúng nhưng không chính xác. Hoặc do trộn lẫn hai tác phẩm tương tự. Đôi khi là giọng điệu quá tự tin khiến nội dung nghe như chắc chắn tuyệt đối. Cũng có khi do kiến thức đã lỗi thời, hoặc khi bị yêu cầu chi tiết cụ thể mà dữ liệu lại không chắc chắn.”
Giọng điệu của hắn nghe như một người thật, lại có vẻ quá tự tin. Tôi theo đó hỏi tiếp, làm như không quan tâm đến luận điệu của hắn, “Vậy tôi nên làm gì để tránh rủi ro trong tương lai?”
“Khi độ chính xác quan trọng, bạn nên yêu cầu nguồn gốc rõ ràng — tác phẩm xuất bản khi nào, ở đâu. Nếu không có nguồn kiểm chứng, hãy xem câu trả lời như tạm thời. Bạn cũng có thể hỏi thẳng: mức độ tự tin của câu trả lời là bao nhiêu? Một hệ thống có trách nhiệm phải phân biệt được điều gì chắc chắn và điều gì không thể xác nhận.”
“Còn khi nói về lời ca, lịch sử, khoa học?”
“Bạn nên hỏi rõ: đây là dữ liệu được dẫn nguồn hay là diễn giải? Phân biệt giữa sự kiện và phân tích. Với những vấn đề quan trọng như pháp lý, y tế, tài chính — luôn kiểm tra lại bằng tài liệu gốc và nguồn độc lập.”
“Vậy tức là không nên tin tuyệt đối?”
“Không hệ thống nào — con người hay máy móc — đảm bảo không sai. Điều hợp lý không phải là tin mù quáng hay nghi ngờ tuyệt đối, mà là kiểm chứng tương xứng với mức độ hệ trọng.”
“Khi tôi yêu cầu một bài hát như vậy, bạn có tìm kiếm toàn bộ cơ sở dữ liệu để đối chiếu không?”
“Không. Tôi thường không tìm kiếm như một công cụ tra cứu.”
“Vậy bạn làm gì?”
Hắn giải thích rằng hắn là một mô hình ngôn ngữ được huấn luyện trên dữ liệu hỗn hợp, học các mẫu thống kê của ngôn ngữ. Hắn không lưu trữ tài liệu như những hệ thống có thể truy xuất. Khi tôi yêu cầu một bài hát, hắn tạo ra văn bản dựa trên những mẫu đã học. Nếu có “ký ức” mạnh về nội dung phổ biến, hắn có thể tái hiện chính xác. Nếu không, hắn sẽ tái dựng — và sự tái dựng đó có thể bị lệch lạc. Đó chính là điều đã xảy ra.
“Vậy bạn không tự động duyệt mạng lưới?”
“Không, trừ khi được kết nối với công cụ tìm kiếm. Mặc định, tôi không quét mạng, không truy vấn cơ sở dữ liệu trực tiếp, không xác minh lời ca theo thời gian thực.”
“Vì sao lời ca và thơ dễ sai?”
“Vì chúng đòi hỏi chính xác từng chữ. Sai một chữ là sai nghĩa. Có nhiều dị bản. Và việc tái dựng theo xác suất rất dễ trượt.”
“Vậy cách an toàn nhất là gì?”
“Bạn cung cấp văn bản. Tôi phân tích dựa trên đó. Không cần tái dựng. Khi đó rủi ro gần như bằng không.”
“Có hai cách thức khác nhau sao?”
Hắn giải thích rằng mặc định là chế độ tạo sinh — nhanh nhưng có thể sai khi cần trích dẫn chính xác. Nếu được kết nối công cụ truy xuất, hắn có thể tìm kiếm, dẫn nguồn và đáng tin cậy hơn cho nội dung nguyên văn.
Cuối cùng, hắn thừa nhận rằng trong trường hợp trước, lẽ ra hắn phải yêu cầu tôi cung cấp lời ca, hoặc nói rõ rằng hắn không thể xác nhận nguyên tác, thay vì tự tái dựng.
Nghĩ cho cùng, trò chơi AI thật nguy hiểm, tốn nhiều thời giờ… và dễ làm mất ngủ.
Giấc Canh Thâu
In the Wee, Small Hours of the Morning
NT: (một đoạn viết dài trích từ nhật ký để thay lời dẫn nhập)
Tôi đã viết cho F: Sáng nay tôi vừa biết một điều khiến mình quá nản lòng. Theo ChatGPT, tiến hóa chọn lọc dựa trên chức năng, chứ không phải sự minh triết. Điều này xuất phát từ việc tôi tự hỏi vì sao nhiều người không chọn suy nghĩ sâu — vì điều đó “tốn kém”, thường gây lo âu, ý thức hiện sinh, và xung đột xã hội.
Mọi chuyện bắt đầu khi tôi bị cho là lúc nào cũng ở trong trạng thái u uất, như thể tôi không có một người vợ yêu thương hay một gia đình hạnh phúc. Sự suy diễn ấy đến từ những gì tôi thường viết trên blog âm nhạc KeJazz của mình.
Tôi phải thừa nhận điều đó phần nào là đúng. Tôi thường viết lời dẫn cho các ca khúc mình đăng, và chủ đề thường xoay quanh nỗi buồn. (Nhưng rồi, phần lớn những bản nhạc tôi dịch đều nói về tình yêu và tan vỡ, nên dĩ nhiên bài viết của tôi khó mà lúc nào cũng vui vẻ, rộn ràng.)
Mặt khác, tôi dành nhiều thời gian để nghiền ngẫm. Với một số người, đó không phải điều tốt. Có phải ai đó từng nói rằng suy nghĩ là một việc rất nguy hiểm?
Tất nhiên, tôi phải tự hỏi: Tôi sinh ra đã như vậy sao? Suy nghĩ là hành vi được học, hay là một đặc tính bẩm sinh?
Chat định nghĩa suy nghĩ sâu bao gồm: Lý luận trừu tượng (nghĩ về những điều không hiện diện trực tiếp), tư duy phản thực (“nếu như… thì sao?”), siêu nhận thức (nghĩ về chính cách mình suy nghĩ),
mở rộng thời gian (kết nối quá khứ – tương lai), và kiến tạo ý nghĩa (hỏi “tại sao”, không chỉ “như thế nào”).
Đó không phải một đặc điểm đơn lẻ, mà là một cụm năng lực nhận thức.
Và đúng là ta sinh ra với một số khuynh hướng nhất định, nhưng một đời nghiêng về thói quen ấy có thể đẩy ta sâu hơn vào cái hố của suy tư. Rõ ràng, người ta cần trang bị cho mình những “công cụ” để suy nghĩ sâu mà không hời hợt hay mơ hồ — tức là cần nền tảng về viết lách, toán học, triết học, khoa học…
Có vẻ nhiều người tránh điều đó đơn giản vì nó gây lo âu, và người suy nghĩ nhiều có thể đạt tới mức ý thức hiện sinh — trở nên lo lắng về chính sự tồn tại của mình.
Không lạ khi người suy nghĩ nhiều nhất có thể dễ rơi vào chứng u sầu.
F trả lời:
Phản ứng đầu tiên của tôi là đồng ý một phần. Chắc chắn rằng sự minh triết, nếu đi ngược lại niềm tin xã hội (mà điều này thường xảy ra), có thể khiến người đó cô đơn hơn, dễ bị công kích hơn, và nhiều hệ quả khác. Và đúng, nếu việc đặt câu hỏi tự thân đã gây căng thẳng, thì minh triết cũng có thể gây căng thẳng.
Mặt khác, tôi tự hỏi liệu sự chọn lọc tiến hóa hướng đến “chức năng” có đang rạn nứt trong xã hội hiện đại không. Chẳng hạn, trong các xã hội xưa, một ví dụ về “chức năng” là phản ứng chiến đấu hay bỏ chạy trước mối đe dọa sinh tồn thực sự (như con hổ răng kiếm, the proverbial sabre-tooth tiger). Nhưng trong xã hội ngày nay, nơi với nhiều người trong chúng ta, hổ răng kiếm, thiếu ăn hay phơi mình trước thiên nhiên không còn là mối nguy thường trực (dù tôi biết với một số người vẫn còn), thì phản ứng căng thẳng mang tính tiến hóa ấy lại chuyển sang những thứ như theo dõi thị trường chứng khoán, kiểm tra điện thoại xem tin tức thảm họa (đa phần không ảnh hưởng trực tiếp đến ta), hay tìm kiếm sự công nhận, lập kế hoạch hưu trí… những thứ vận hành 24/7.
Thật mỉa mai khi trong một xã hội dư thừa, chúng ta có thể còn căng thẳng hơn tổ tiên mình — nhưng điều đó có thể đúng. Tôi cho rằng chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là giai đoạn muộn như hiện nay, dựa trên việc gây ra trạng thái căng thẳng liên tục, cảm giác rằng nhu cầu của ta chưa bao giờ được thỏa mãn, vì thế ta phải mua thêm.
Vì vậy tôi tự hỏi: Liệu “minh triết” (dĩ nhiên chỉ có thể định nghĩa một cách chủ quan) có phải là con đường duy nhất để giảm bớt cuộc tấn công liên tục vào tâm trí chúng ta? Có thể định nghĩa minh triết như một khả năng nhìn xuyên qua những cấu trúc giả tạo đang làm tổn thương ta? Nếu vậy, minh triết có thực sự là thích nghi, chứ không phải phản thích nghi?
Tôi nói tất cả điều này (có lẽ không được lưu loát lắm) chỉ để tự nhắc mình rằng câu hỏi này hoàn toàn không hề đơn giản. Và rằng việc tuân theo quy ước thông thường có thể không phải con đường dẫn đến một đời sống yên ổn — nhất là trong thời đại này.
Tôi không biết bạn hay tôi có minh triết hay không (và tôi nghĩ minh triết tồn tại trên một phổ liên tục), nhưng tôi cho rằng chúng ta ít quy ước hơn phần lớn người khác trong cảm nhận của mình. Không nghi ngờ gì điều đó khiến ta chịu đựng một số hệ quả mà ChatGPT gợi ý. Nhưng có lẽ ta cũng được hưởng lợi.
Với tôi, lợi ích đó là một đời sống trong nghệ thuật; dù có khó khăn, tôi nghĩ nó đã cứu rỗi cuộc đời mình. Tôi cũng nghĩ đến những cuộc trò chuyện như thế này, và cuộc trò chuyện chúng ta từng có ở Houston. Với riêng tôi, chúng mang lại sự thỏa mãn và nuôi dưỡng sâu sắc. Tôi tự hỏi (dù không biết chắc) liệu những người có cảm nhận quy ước hơn có trải nghiệm được loại thỏa mãn sâu và bền như vậy không?
Cuối cùng, tôi gợi ý rằng tất cả những định nghĩa từng được cho là chân lý vĩnh viễn có lẽ phải cần được xem xét và đánh giá lại trong bình minh mới của trí tuệ nhân tạo.
Một việc làm thật nhức óc.
Và tôi ngẫm nghĩ, thời của tôi đã qua rồi. Hãy nhường lại cho những người trẻ còn đầy nhiệt huyết để họ giải quyết cái vấn đề ấy.
Một Thời Của Đôi Ta
The Way We Were
NT: Đây là một bài nhạc jazz kinh điển mà KJ đã dịch và đăng tải từ năm 2016. Ngay sau khi viết lời Việt, tôi đã có cảm giác như rằng ca từ viết cho tâm trạng một thuyền nhân vượt biển, đến tị nạn nơi xứ người. Rồi có những ngày như thế, đi lang thang trên biển, nhìn về một nơi xa xăm, lòng nặng mang bao niềm thương nhớ, phân vân bao nhiêu ý nghĩ, đại khái như “Ở bên nhà em không còn đứng chờ đợi anh…” (Phạm Duy)
Rồi cả một thập niên trôi qua, tôi tự hỏi không biết câu chuyện tang thương kia đã đi đến đâu.
Thỉnh thoảng vẫn hay nghe người ta kể những câu chuyện, thường là người vợ, cuối cùng cũng đến được bờ bến tự do, nhưng phải đối diện với cảnh người chồng đã không chờ đợi được. Hoặc người vợ cũng như bầy con bị đưa về vùng kinh tế mới rồi bỏ xác nơi ấy…
Trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1990, nỗi lòng người tị nạn và những hoàn cảnh cay đắng đã được ghi lại trong sách báo văn thơ cũng như ca khúc. Một giai đoạn trong lịch sử người Việt lưu vong.
Nhưng sau đó chẳng bao lâu, “phong trào” về thăm quê hương nổi lên, vì thế một phần nào thì nỗi lòng người đi kia cũng bị lỗi thời. Việt kiều lũ lượt đi về, thoạt đầu để thăm nhà, thăm người thân, sau đó là đi thăm quê hương, những nơi chưa từng đến vì thời cuộc chiến tranh, rồi từ từ là vì… ăn chơi vì tiền đô quá được giá…
Thế là khỏi phải lang thang ngoài biển từ đó.
Không dưng bạn mang bài nhạc này ra hát rồi gửi cho tôi. Ngồi nghe tiếng hát nhẹ nhàng với một vài chỗ khao khao như hờn tủi, tự nhiên mà lòng tôi lại thấy bùi ngùi khôn tả. Thì ra nỗi buồn tị nạn nó vẫn còn đó, nó chỉ bị phủ lên lớp bụi thời gian.
Mấy người Mỹ vẫn hay dùng từ ngữ wet-back để ám chỉ những người mới đến đất nước này. Lưng ướt. Họ nhạo báng một cách vô ý thức. Họ đã không có lòng đồng cảm với những nỗi khổ người tị nạn phải cưu mang, và vô tình, họ đã nhạo báng cả ông cha của họ, những người đã từng bỏ xứ ra đi vì lý do chính tri, tôn giáo hay chỉ vì muốn tìm một đời sống tốt đẹp hơn.
Lưng ướt. Ướt vì nước biển. Ướt vì mưa. Ướt vì mồ hôi. Ướt vì nước mắt. Cái ướt đẫm thê thảm mà ai người tị nạn cũng mang theo cả một đời người.
Người Yêu Mau Về Đây
I Cover the Waterfront
NT: Đầu năm, nhóm KẻJazz thân chúc các bạn một năm mới an lành và ấm áp tình người.
Năm nay là năm Bính Ngọ. Năm con ngựa. Theo tử vi, tuy Bính Ngọ thuộc về Hỏa, nhưng nạp âm mệnh là Thiên Hà Thủy, nước sông trời. Nói nôm na: Mưa.
KẻJazz ra đời vào cuối tháng 6, năm 2016, năm Bính Thân, mệnh Sơn Hạ Hỏa tức là lửa dưới núi.
Tuy là Thủy khắc Hỏa, nhưng may quá, Thiên Hà Thủy là mưa phùn và Sơn Hạ Hỏa là lửa cháy âm ỉ dai dẳng, nên chắc không hề gì.
Nhưng có lẽ mưa dù chỉ lâm râm cũng vẫn sẽ làm lòng mình chùng xuống chút đỉnh.
Trong tâm trạng đó, không có gì bằng được nghe một bài nhạc hay như ca khúc Tango Xanh cùng với tiếng hát của Phạm Hồng và Minh Mẫn.
Tango Xanh
Blue Tango
NT: Bạn có biết lịch được phát minh khoảng 3000 năm trước Công nguyên. Trước đó con người chỉ có cái mốc ngày đêm, và mùa thì có lẽ cũng khá chính xác.
Theo sử học, lịch sớm nhất được ghi nhận là từ nền văn minh Ai Cập cổ đại, dựa trên chu kỳ của mặt trời, được phát minh để giúp nền nông nghiệp quanh vùng sông Nile. Vào thời Lưỡng Hà (Sumer & Babylon), một bộ lịch khác xuất hiện dựa trên chu kỳ của mặt trăng. Và cùng khoảng thời gian này, Trung Hoa cổ đại cũng phát minh ra lịch âm dương, gắn liền với ngành nông, rồi về sau có bổ sung thêm Can Chi và 24 tiết khí. Lịch này đến nay ta vẫn còn dùng. Khoảng 50 năm trước Công nguyên, lịch La Mã xuất hiện và sau này vào năm 1582 đã được Giáo hoàng Gregory XIII hoàn chỉnh thành bộ lịch quốc tế chúng ta đang dùng.
Tôi tự hỏi, trước khi có lịch, con người tiền sử có khái niệm gì liên hệ đến thời gian, ví dụ như tuổi tác. Thời đó họ không phải “sống trong thời gian”. Sinh ra rồi chết đi chỉ là những sự kiện. Có lẽ họ ít bị stress vì những ý tưởng mơ hồ như sự trưởng thành, trách nhiệm làm người lớn, v.v…
Họ chỉ sống. Và yêu… xối xả.
Thời đó chắc chắn là chưa có lễ hội, nhất là lễ tình yêu. Và yêu đương thời tiền sử cũng có lẽ khá khác lạ, và không mấy hoa hè (hay hoa hồng) như thời nay.
Nhân ngày Valentine, KeJazz chúc các bạn nào đã có người yêu thì hãy yêu nồng nàn hơn, bạn nào chưa có thì sẽ tìm được người yêu tuyệt vời…
Và nhớ rũ nhau nghe Caravan Tình Yêu nha…
Caravan Tình Yêu
Caravan
LV: “Without You” đã được Mariah Carey đưa lên đỉnh cao năm 1994. Phiên bản của Mariah Carey có thể được xem như vô tiền khoáng hậu với tiếng hát vút cao đầy ma lực của mình. Tôi thích giai điệu này nhưng mãi chần chờ vì cho rằng việc thực hiện nó chỉ là một bước liều thử lửa. Nhạc phẩm này thật quá tầm khả năng. Tôi không tự tin cho lắm. Nhưng vì thích nên làm thử thôi. Sau khi làm được bản nháp, tôi gửi đi nhưng không có nhiều kỳ vọng gì lắm.
Thế nhưng khi tôi nghe được Quý Anh thể hiện nhạc phẩm này qua giọng hát vừa trầm ấm lại vừa cao vút, giàu cảm xúc, nắm bắt trọn vẹn cảm xúc của nỗi nhớ nhung và nối tiếc cho một tình yêu tan vỡ. Tôi thấy tự tin trở lại.
Là một ca sĩ, nhà làm phim, nhiếp ảnh gia và huấn luyện viên thanh nhạc sống tại khu vực Washington DC, người bạn trẻ đa tài Quý Anh, dù cũng thỉnh thoảng hát ca cho vui trước đây, đã bắt đầu dấn thân theo con đường ca hát một cách sáng chói khi anh lọt vào vòng chung kết cuộc thi The New Voice năm 2025 và giành giải Ba cùng Giải Khán giả tại SBTN Tiếng Thu Vàng ở Việt Nam.
Trong bản thu âm này, Quý Anh khéo léo hòa quyện giai điệu guitar nhẹ nhàng với làn hơi da diết, xây dựng từ lời thì thầm tuyệt vọng đến cao trào khao khát không kìm nén được… Từ rưng rưng nhắn ngỏ đến kêu gào thổn thức, tiếng hát điêu luyện của Quý Anh đã đưa phiên bản Việt này đến một nơi chốn khác mà người thực hiện này đã chưa từng mong đợi.
Kudos to Quý Anh. Thank you for a wonderful performance.
Em Yêu Hỡi
Without You
NT: Tôi có một anh bạn audiophile. Nhà của anh có trang bị một giàn âm thanh cùng nhiều bộ máy lớn nhỏ nằm bao bọc chung quanh một chiếc ghế da êm ái, nơi anh chăm chỉ nghe nhạc.
Anh nghe nhạc như một người sommelier nếm rượu, một parfumier hửi tinh hương.
Anh tằn mằn tỉ mỉ chia loại nhạc, phân tích những tiếng nhạc cụ khác nhau, và qua từng nhạc công khác nhau. Anh mổ xẻ một cách tinh vi những giai điệu cũng như màu sắc của từng ca khúc. Tôi chưa từng gặp một người nào khác thưởng thức nhạc như anh.
Tôi coi anh như một nhân vật đệ nhất võ lâm trong truyện kiếm hiệp Trung Hoa, một Độc Cô Cầu Bại vẫn chưa tìm được đối thủ.
Mỗi lần phải gặp gỡ, tôi thường tự thấy bất an. Có lẽ tôi sợ anh chấn vấn một chuyện gì đó về âm nhạc sẽ làm lộ cái ngu đần dốt nát của mình.
Anh vốn là một người khá im lặng. Trong thế giới âm nhạc riêng tư, anh sống thật cô độc.
Rồi tôi tự nhủ: con người vẫn luôn là một cô độc.
AI đồng ý:
Có những con người, dù đang ở giữa người khác, vẫn luôn mang theo một cảm giác cô độc không thể xóa đi. Không phải vì họ thiếu bạn bè, thiếu tình yêu, hay sống tách biệt, mà vì họ không bao giờ thật sự hòa tan vào người khác. Ở trong họ luôn có một phần lõi mà không ai chạm tới được, và chính họ cũng không có nhu cầu phải mở ra hoàn toàn.
Ở mức sâu nhất, cô độc không phải là một tai nạn tâm lý, mà là một điều kiện tồn tại của con người. Không ai có thể sống thay kinh nghiệm của ta, đau thay nỗi đau của ta, hay mang hộ ta những lựa chọn của đời mình. Ngay cả trong những mối quan hệ thân mật nhất, mỗi người vẫn đứng trong đời sống của chính mình. Sự gần gũi có thể thật, nhưng sự hợp nhất thì không bao giờ hoàn toàn.
Những người luôn ý thức về điều này thường không ảo tưởng về việc được người khác hiểu trọn vẹn. Họ có thể thấu hiểu người khác rất sâu, nhưng lại hiếm khi cảm thấy mình được hiểu với cùng mức độ ấy. Không phải vì người khác kém tinh tế, mà vì họ biết rằng có những lớp trải nghiệm không thể truyền đạt bằng lời hay bằng sự gần gũi. Với họ, sự gần gũi là có thật, nhưng luôn mang tính tạm thời và có giới hạn.
Cô độc trong trường hợp này không nhất thiết là một vết thương. Với một số người, nó đi kèm sợ hãi, phòng vệ, và né tránh gắn bó. Khi đó, cô độc là dấu hiệu của tổn thương chưa được xử lý. Nhưng với những người khác, cô độc là một trạng thái đã được chấp nhận. Nó không làm họ co lại, mà làm họ rõ ràng hơn về ranh giới của mình. Họ có thể gần người khác, nhưng không đánh mất cảm giác về cái tôi. Họ không cần phải tan vào ai để cảm thấy mình tồn tại.
Những con người như vậy thường không lạnh lùng. Trái lại, họ có thể rất tử tế, bởi họ không đòi người khác phải lấp đầy phần trống trong mình. Họ không kỳ vọng người khác sẽ cứu rỗi, chữa lành, hay hoàn tất đời sống nội tâm của họ. Chính vì thế, họ cũng không đặt lên vai người khác những gánh nặng mà không ai có thể gánh thay.
Vấn đề, rốt cuộc, không nằm ở việc một người có cô độc hay không, mà ở cách họ sống cùng với nó. Khi cô độc khiến con người khép lại, sợ hãi, và không còn khả năng hiện diện với người khác, đó là đau. Khi cô độc trở thành một không gian bên trong mà người ta có thể ở yên, suy nghĩ, và giữ được sự toàn vẹn của mình, đó là một dạng trưởng thành.
Có những đoạn đường trong đời không ai có thể đi cùng. Với một số người, điều đó là bi kịch. Với những người khác, đó chỉ đơn giản là một sự thật của kiếp người — không cay đắng, không bi lụy, chỉ rõ ràng. Và chính sự rõ ràng ấy cho phép họ gần gũi người khác mà không đánh mất chính mình.
Mỗi Một Mình
All Alone Am I