
Sign up to save your podcasts
Or


NT: Mỗi năm, cứ vào tháng tư, mấy trang mạng bắt đầu đăng đầy những hình ảnh chiến tranh, những ngày cuối cùng của miền nam Việt Nam, những di tản, những chia lìa. Và theo chúng, ký ức lại dồn dập về.
Ký ức cũng thật lạ kỳ. Nhiều lúc chỉ thấy một cảm giác nao nao, một thương nhớ vấn vương, như nhớ về những buổi chiều mưa thời thơ ấu, ngồi bó gối trong nhà, chỉ biết nhìn bong bóng trên những giòng nước chảy mau ngoài hiên. Không có gì vui, nhưng cũng không hẳn buồn.
Đôi khi, ký ức lại như những thước phim cũ, tuy hơi phai màu nhưng vẫn đầy đủ những chi tiết lặt nhặt, và cảm xúc thì hầu như lắng đọng hơn, không còn sôi sục.
Và như vậy, ta lại được nhìn ngắm lại đời mình. Những vui buồn, những đau đớn hoan lạc, những giây phút kinh hoàng khủng khiếp, bây giờ hầu như vắng bóng. Ta ngồi ôn lại mà lòng thật thản nhiên như một kẻ lạ.
Tối hôm đó, trên balcon nhà một người bạn, tôi với em ngồi đối diện nhau. Tay em nằm im trong tay tôi mà tôi có thể nghe được tiếng tim em đập, cảm được hơi em thở ấm áp, nhận được những rung động hồi hộp qua những ngón tay run nhè nhẹ.
Chiều hôm đó, trên đường đi học về, em đã trao tôi lá thư viết vội trên trang giấy xé từ tập vở: Mình yêu nhau nhé anh.
Trong bóng đêm, tôi nhìn vào đôi mắt em. Chỉ đôi mắt. Tất cả chung quanh đều nhạt mờ trong màn sương. Tôi cảm thấy gân máu trên màng tang đập nhịp mạnh, mắt môi nóng bỏng.
Tôi chỉ nhớ như vậy.
Năm, sáu mươi năm là một đống thời gian to lớn, trộn lộn bao thứ lằng nhằng của một đời người.
Bây giờ em ở đâu nhỉ?
Trí Nhớ Mưa
NT: Khi bộ phim The Godfather ra đời vào thập niên 70, bài nhạc đầu tiên được đề cử cho giải Oscar là ca khúc Come Live Your Love With Me hay Godfather’s Waltz. Nhưng hội đồng Academy nhanh chóng khám phá ra là Nino Rota đã dùng chính ca khúc này, tuy nhanh hơn, trong một cuốn phim Ý rất ít người biết đến, Fortunella. Chính vì vậy, bài nhạc đã bị bác đi.
Đến năm sau, 1974, ca khúc Speak Softly Love lại được đề cử cho cuốn phim thứ nhì của bộ Godfather. Ca khúc này đã lãnh giải Oscar cho hạng mục original score hay nhất.
Cả hai ca khúc đều là nhạc hòa tấu không lời. Ca từ được Lary Kusik đặt sau này.
Cũng vì số phần ấy, bài Godfather’s Walts tuy thật hay, nhưng không bao giờ nổi tiếng như Speak Softly Love.
Đối với tôi, ca khúc này nghe thú vị hơn là Speak Softly Love, có lẽ vì nghe bài này hoài nên đâm ra có cảm tưởng thật là nhàm chán chăng?
Đưa Nhau Về Đến Mai Sau
Come Live Your Life With Me
NT: Lại một bài nhạc kịch nổi tiếng một thời.
Một thời nào của mình cũng đã có nhiều dao động như vậy. Tháng ngày trôi trên những con đường băng qua nhiều thành phố xa lạ, trên nhiều hành lang những hotel rẻ tiền, những phòng trọ chung chạ, và nhiều buổi sáng thức dậy lòng ngơ ngác chẳng hiểu mình đang ở đâu đây.
Những ngày đó, tự nhủ lòng, hãy sống trong hiện tại, hôm qua đã mất rồi, ngày mai chưa đến. Đừng suy nghĩ. Đừng mông lung vọng tưởng. Hãy ôm lấy… bây giờ. Cái gì phải xảy ra sẽ xảy ra. Và rồi tất cả đều sẽ qua đi.
Ngày đó, tôi nghe câu hát và thấy thật thấm thía, So what happens now? trong ca khúc Another Suitcase in Another Hall, vở nhạc kịch Evita.
Ngay trong thời điểm đó, lẽ dĩ nhiên ta chỉ có thể đặt những câu hỏi như vậy. Câu hỏi không ai trả lời. Đâu ai biết mà trả lời.
Trong câu chuyện của bài nhạc này, người con gái có câu hỏi đó sau này là Eva Péron, bà phu nhân của tổng thống Péron của Á Căn Đình.
Bài nhạc kết thúc với một câu trả lời rất nhỏ nhẹ. Don’t ask anymore. Đừng hỏi nữa, hỏi mà làm gì…
Va-li và Hành Lang Lạ
Another Suitcase in Another Hall
NT: Tôi còn nhớ buổi tối hôm ấy, tôi đến nhà bạn nhậu lai rai rồi rủ nhau vào phòng thâu của bạn. Bài nhạc bạn đã phối cho hôm đó là một ca khúc trong tuyển tập Mười Bốn Tình Ca Bất Tử của Phạm Duy. Nguyên là một ca khúc cổ điển của J. Brahms, Walz Op. 39 No. 15. Louis Poterat phổ lời Pháp dưới tựa đề La valse des regrets, và Phạm Duy đã dựa theo bản Pháp ngữ để phỏng dịch thành bài Mối Tình Xa Xưa.
Bạn bảo bạn không thích nhịp 3/4 nên bản phối 4/4 của bạn mang nhiều âm hưởng ballad, nghe thật mới, thật… khoái.
Sau khi đã thâu xong bản ballad, trong lúc tình còn đang phơi phới, tôi bảo bạn tôi muốn thử thể điệu R&B nghe ra sao, nhất là xử dụng melisma để làm… dáng.
Bạn ngần ngừ vì chưa hiểu ý. Tôi bảo, cứ vặn máy lên đi, hát thử để lấy ý rồi lần khác trở lại thâu thật với phần phối mới.
Bạn mở nhạc; tôi hát một lèo hết bài demo. Xong chia tay và hẹn ngày trở lại thâu bản chính.
Vài ngày sau, tôi nhận được cả hai bản final mix, ballad và R&B. Bạn bảo, tuy ngẫu hứng, nhưng chắc không bao giờ mình làm lại được bản R&B có hồn như vầy.
Một phần nào đó, bạn nói đúng. Melisma là kỹ thuật kéo dài một âm tiết qua nhiều nốt nhạc, xuất xứ từ cách ngân nga thánh ca Gregorian (nhưng cũng có thấy trong nhạc Ả-rập và Ấn-Độ). Những ngân nga này tạo thêm màu sắc cũng như giúp người ca sĩ nhấn mạnh một câu một chữ nào đó, gây một cảm xúc hoặc ấn tượng, nhất là nét mềm mại uyển chuyển làm nổi bật thêm cá tính của bài nhạc. Nhưng những cảm xúc ấy thường xuất phát nhất thời, thường không định trước. Cho nên khó cho người ca sĩ lập lại. Tương tự như cách hát scat trong nhạc jazz.
Tự hôm đó, tôi nghiệm ra một chuyện. Nhiều khi vì trong đầu nghĩ mình chỉ làm chơi, nên tư cách trở nên tự nhiên phóng khoáng, đầu óc thảnh thơi không nghĩ đến kỹ thuật này nọ, vậy mà lại được việc hơn là khi lo lắng tập luyện rồi lại bị gò bó với cách thức, bị phân tâm vì cứ nghĩ làm sao để hát chỗ này cho đúng, lấy hơi chỗ kia để hát cho trọn câu nhạc, v.v… để rồi thành ra hỏng bét.
Mối Tình Xa Xưa
La Valse des Regrets
NT: Tôi thường hay đọc những đoạn tùy bút của Ngô Nhật Trường viết trên FB. Những tản văn rời rạc, ghi lại một gì đó, vụn vặt, nhưng rất chân thật, luôn luôn, như một mảnh vỡ từ một độc bình, cho ta thấy một nét vẽ thật tuyệt, cho ta phải tưởng tượng ra cả bức hoạ còn lại trên men sứ.
Nhật Trường đã nhờ tôi dịch dùm La valse des lilas. Tôi nhắn là tôi có bản dịch từ Anh ngữ Once Upon a Summertime. Nhật Trường vẫn nài nỉ tôi dịch lại từ tiếng Pháp. Cũng nhờ vậy mà tôi mới đọc lời kỹ hơn. Có những điều chỉ có đọc bằng ngôn ngữ lãng mạn mới thấy thấm thía. Cũng có thể vì tiếng Việt và tiếng Pháp có một liên hệ khá mật thiết?
Tôi nhờ lại Nhật Trường viết dùm lời ngỏ. Anh nhận lời, và đã viết cho KJ, mặc dù anh đang bận đi công tác. Cám ơn Nhật Trường và những hứng cảm của anh.
NNT: La valse des lilas được Michel Legrand sáng tác vào năm 1957, tức lúc 25 tuổi. Thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nhạc jazz ở Pháp, chịu ảnh hưởng từ phong trào jazz Mỹ. Đây được xem là một trong những nhạc phẩm tiêu biểu đánh dấu sự nghiệp sáng tác của ông. Sự kết hợp giữa âm nhạc cổ điển, jazz, lời hát và hình ảnh tử đinh hương… tạo nên một không khí đậm chất thơ và hoài niệm. Có thể những ca khúc nhạc phim sau này như Tous les moulins de mon coeur (The Windmills of Your Mind) hay Je ne pourrai jamais vivre sans toi (I will wait for you), L’été 42 (The Summer Knows), Chanson des jumelles… lừng danh hơn nhiều, nhưng với tôi, nỗi buồn thanh tú của một tuổi trẻ đang lưng chừng lửng lơ trong La valse des lilas vẫn là đẹp nhất.
Tôi đã nhờ anh Thảo đặt lời Việt cho bài hát này và anh Vũ hoà âm lại. Yêu cầu gửi đi cũng đã lâu. Chúng tôi cần thời gian. Một ngày cách đây ba tuần, tôi nhận được bản nháp để thâu. Trong lúc tôi đang sửa soạn bài vở cho buổi thuyết trình vào sáng hôm sau, ở phía đông của đảo Java. Tôi đã viết lại những ý nghĩ nhảy ra trong đầu khi nghe đi nghe lại suốt bài hát này những ngày ở đó.
“Mưa đã đổ trên Surabaya dai dẳng. Những cơn mưa không dữ dội nhưng âm ỉ, vừa đủ làm đẹp cánh đồng trống phía xa qua khung cửa sổ khách sạn. Đám cỏ lau nghiêng ngả. Buổi chiều, mưa ngớt, tôi đi bộ ra cửa hàng tiện lợi mua ba gói mì ăn liền. Trở ra thì mưa trở lại. Tôi ngồi bên hiên Indo Maret ngắm mưa và ăn mì sống. Không gian vùng ngoại ô yên tĩnh, chỉ có tiếng cầu nguyện từ đền thờ phía xa lan ra trong không khí. Buổi tối buông màn. Tôi đi về trong cơn mưa lất phất. Vài tia sét loé lên chập choạng. Không khí này làm tôi nhớ tới những ngày cũ vô cùng. Những ngày tắm mưa đã đời tới nỗi lạnh run rồi chui rút vào cái mền bông đọc tập truyện mới. Ngoại sẽ làm một nồi mắm kho quẹt nóng hổi mà ăn sạch hết cơm rồi vẫn thấy đói.
Thời gian gần đây tôi nghĩ nhiều về chính mình và những người thiết. Và tôi thấy ra rằng ắt hẳn có một vấn đề lớn ở tôi. Nó được che đậy khéo léo bởi những tưởng tượng hạn hẹp như là tình yêu. Mỗi một ngày tôi đều có trong mình sự cô đơn lạ thường. Nó vừa đẹp đẽ, vừa nuôi dưỡng nhưng, đồng thời, cũng vừa bóp chết mọi thứ. Tôi ám ảnh về sự ruồng bỏ. Và quên lãng.
Ngày cuối cùng tuổi 35 của tôi đã qua. Lúc này tôi thấy nhớ mẹ tôi. Cả những ngày tháng trong ngần ấy năm đã trôi qua. Tôi thấy một đứa nhỏ vừa được sinh ra. Tôi thấy nó lớn lên, già đi và sẽ mất dấu một ngày nào đó. Thời gian là một thực tại hay thời gian là một mộng huyễn, một bào ảnh, một sương mù, một ánh chớp…? Một khoảnh khắc cũng có thể là cả thiên thu. Như là khi ta sinh ra, ta sinh ra một kiếp nữa, ta sinh ra đời đời.
Trời đã mưa suốt hơn ba giờ đồng hồ ngồi xe từ Surabaya. Tôi lúc tỉnh lúc mê trong tiếng nhạc ở bên tai. Ánh sáng yếu ớt hơn qua tròng kính mát mà tôi đã cố ý đeo để anh bạn đồng nghiệp không nhận ra là tôi đã ngủ hay chưa. Tôi cần sự yên tĩnh, với ly cafe latte.
Ngồi hát nhẩm La Valse des Lilas, có vẻ như tôi đã sẵn sàng để thâu âm bài hát đó khi trở lại Sài Gòn. Và cảm giác nôn nao này quả là khó chịu lạ kỳ. Những bài hát bật lên, thời gian ngưng đọng, chỉ còn những đoạn phim chạy lướt qua rất chậm. Ta sẽ rơi nước mắt, đôi khi. Nhớ tới dòng tin của Tạ Huyên hôm qua “chúng ta cứ làm thôi, nhe Trường, dù chẳng ai chú ý”, tôi ghi vội vào cuốn sổ tay những gì đã nẩy nở trong đầu. Tôi lại thiếp đi trong cơn ngủ gà gật. Thấy như cơ thể mình có thể chảy ra thành một vũng nước mưa ở bên trong chiếc xe.
Thành phố Blitar hiện ra mờ ảo trong màn mưa vô tận trên vùng Đông Java. Tôi chuẩn bị bước vào cuộc hội thảo thứ hai trong ngày. Giống như là ca sỹ đương thời tấp nập các chương trình. Họ không hiểu tất cả những gì tôi nói nhưng vẫn chăm chú lắng nghe. Giữa chừng tôi phải dừng lại mười lăm phút. Đã tới giờ họ phải đi cầu nguyện. Mưa mỗi chút một lớn hơn.
Một ngày nữa đã sắp trôi qua. Chứng đau cột sống của tôi trở nặng do đứng và ngồi quá lâu. Tôi nằm nghe tiếng mưa từ chiếc điện thoại của đồng nghiệp. Anh bạn vẫn luôn dùng âm thanh đó để che đi các tiếng động khác trong đêm có thể làm anh thức giấc. Thật lạ khi mưa đã tạnh ở Blitar nhưng tiếng mưa vẫn còn đó. Cảm giác như nó chẳng bao giờ dứt. Tôi có thể thấy những chỗ đau rõ hơn khi nằm yên như vậy. Chó chết, tôi chưa thấy buồn ngủ. Sáng mai, chúng tôi sẽ xuất phát từ rất sớm để gặp thêm vài ba khách hàng và trở lại Surabaya để đón chuyến bay quay về Jakarta.
Tôi xem lại những thước phim ngắn đã quay trong chiếc phone. Tua chậm một chút. Ôi những con đường quạnh hiu tôi đã đi qua.
Buổi tối cuối cùng ở đảo Java. Trời mưa suốt từ buổi chiều chưa chịu dứt. Tôi đội dù đi bộ tìm thức ăn. Miệng thì lẩm nhẩm “La valse des Lilas”. Anh Vũ làm bản này thật hay. Tôi nghĩ tới một mùa xuân xa, nơi những cụm hoa tử đinh hương nở rộ. Tháng năm ở phía tây. Mùa xuân không chỉ đẹp khi nó biểu hiện, mà còn đẹp hơn siết bao bởi những mong chờ và hy vọng về nó trong mùa đông căm căm. Và cơn mưa thì chứa đựng tương lai của nắng trời. Thật là lãng mạn, cái không khí ẩm ướt bao trùm một người xa lạ ở đây.
Cô chủ nhà trọ nhắn tôi là vừa đem hoa và trái cây tới để tôi bày ra dâng lên ngài Quan Âm. Cô vẫn thường đem tới, thỉnh thoảng, cá tươi cho con mèo của tôi. Tôi chỉ biết cúi đầu nhận lấy những điều đẹp đẽ này trong đời. Đôi khi xấu hổ khi nhìn lại những cái trái quấy bên trong con người mình. Tôi phải tập làm một cái cây.
Tôi sẽ có một tuần lễ thong thả để chăm sóc những khu vườn và ghi âm những bài hát mới trước khi lên đường cho những chuyến đi sắp tới. Những tháng ngày rày đây mai đó như những con sóng liên hồi và tôi thì như một chiếc thuyền con lênh đênh. Thời gian vụt đi trước mắt mà không thể nào bắt lấy kịp nữa. Có phải chúng mình luôn ở trong một mùa đông đằng đẵng không? Và những chùm tử đinh hương bao giờ sẽ nở rộ? Tôi biết một hạn kỳ nhưng thời gian lại không thật mà có thể nắm bắt trong bàn tay chỉ vừa bằng một hơi thở.
Tôi phải đồng loã với chính mình để lên kế hoạch giết chết một mùa đông.
Mưa vẫn đổ trên những cành tử đinh hương im lìm ngủ.
nhưng những chùm tử đinh hương
những chùm tử đinh hương
sẽ không hề dứt
không bao giờ dứt
nở rộ trong tim những người
yêu nhau
dẫu cứ quay vòng
quay mãi, thời gian
tới tận cùng
mùa xuân tận cùng
những đôi tình nhân
luôn mãi giữ trong tâm hồn
tất thảy trời xuân đó”
Luân Khúc Tử Đinh Hương
La valse des lilas
NT: Từ khi nghe ca sĩ Julie Quang hát Hình Như Có Tiếng Tình Yêu của anh Ngu Yên, tôi vẫn bị ám ảnh bởi cách hành âm (phrasing) của chị, nhất là khi đọc được nguyên tác của anh NY viết với điệu swing chậm. Đây là một điều tôi rất thích trong nhạc jazz, được nghe cách thức một ca sĩ lão thành thẩm định giai điệu và ca từ, rồi đột phá trong lúc hát tạo nên những phức tạp, mới lạ, bất ngờ, và rất riêng tư.
Lần trước bạn hòa âm ca khúc này theo đúng nguyên bản swing, tôi gắng ép mình trong khuôn khổ của bài nhạc, hát theo đúng cách phân nhịp và giai điệu. Nay nghe lại, tôi thấy có một vài chỗ tôi nghĩ mình có thể để cảm xúc đưa đẩy đi xa hơn, và đến gần với tâm tình của chính mình hơn.
Nhân dịp đi hát, tôi lại nhờ bạn phối lại bài này cho buổi diễn. Tuy chẳng nói ra, nhưng tôi nghĩ đến một phiên bản jazz thật mượt. Chắc chắn không thể nào mượt hơn chị Julie rồi, nhưng vẫn rất láng lẫy nhẹ nhàng.
Khi nhận được bản phối, bạn có thêm lời nhắn: đã đổi cách phrasing cho đúng kiểu nhạc.
Kiểu nhạc đây là nhạc… blues. Không những cách hành âm, mà màu sắc của giọng hát cũng phải đổi.
Ngày buồn quá, hôn nhau nhìn thấy linh hồn bỗng nhiên không còn nét buồn ủy mị.
Nhưng tôi rất thích nhạc blues. Tôi mê cái buồn thống thiết, nhất là khi nghe tiếng guitar điện như những nhát dao đâm vào nỗi đau, đau thấu xương. Tôi mê cái xót xa như khi vết cắt bị muối xát vào. Đau nghiến răng. Đau muốn chết ngất.
Tôi nói với bạn, không biết mấy ông nhạc sĩ bên đó có chịu chơi như vậy không đây…
Hình Như Có Tiếng Tình Yêu
NT: Jacques Brel mất vào năm 1978 lúc 49 tuổi. Mười năm trước đó, ông đã ngưng đi lưu diễn, và cũng chẳng cho ra một ca khúc nào mới. Mãi cho đến năm 1977, ông bất chợt cho phát hành album cuối, trong đó có ca khúc Voir un ami pleurer này.
Voir là một ca khúc không có câu chuyện. Lời ca như một stream of consciousness, một dòng ý thức. Những hình ảnh chứa đầy cảm xúc của những bất mãn trong đời sống, nối tiếp nhau liền lạc không ngưng. Từ chiến tranh cho đến tiền bạc cho đến tình người, ông vạch ra những mối thương tâm, những giá trị không có thật, những lầm than của kiếp sống.
Nhưng rồi khi ông chợt nhìn thấy một người bạn khóc…
Ông không nói tiếp. Ông không có câu trả lời. Câu hát chợt dứt ngang, tuy nốt nhạc đã trở về chủ âm như đã kết thúc.
Tôi nghe bản nhạc này ông hát vào thời kỳ trước khi mất, có lẽ vào lúc đã biết mình bị ung thư phổi. Ông hát thật từ tốn, Giọng hát không cường điệu, không màu mè. Tiếng piano rơi đều đặn như tiếng mưa, không hối hả, không nhiêu khê.
Ông hát chỉ vừa đủ để cho người nghe lặng theo trong suy tư.
Chợt Nhìn Thấy Bạn Mình Khóc
Voir un amie pleurer
NT: Gần đây, khoa học mới chứng minh được là trái tim của chúng ta cũng rất dễ bị ảnh hưởng bởi xúc cảm. Những đau buồn cay đắng đều ảnh hưởng đến bộ phận này trong cơ thể, thường là nhất thời. Nhưng khi có một biến cố gì quá đau đớn, con tim có thể bị ảnh hưởng trầm trọng và vĩnh viễn.
Có thể rướm máu. Có thể bể nát. Có thể thay hình đổi dạng.
Khoa học đã cho thấy một tình trạng con tim bị tổn thương vì xúc cảm, gọi là takosubo cardiomyopathy, đã thay đổi hình dạng thành giống như một chiếc bình cổ của Nhật, với cổ tim thắt chặt, làm máu bị nghẽn không lưu thông bình thường.
Cơ Hình, tôi gọi như vậy. Hình dạng của con tim.
Sting viết ca khúc này về một tay cờ bạc, nhưng không phải là người ham mê đỏ đen. Hắn vào bàn chơi để tìm câu trả lời về đời sống. Hắn là một khoa học gia đang thử nghiệm bằng trò thắng thua.
Trái tim là cảm xúc sâu kín; kẻ chơi bài không bao giờ để lộ diện.
Có lẽ trong cuộc tìm kiếm của anh ta, có khá nhiều thất vọng.
Tôi đoán như vậy dựa trên cách hành âm dùng nhiều gam thứ và bảy để tạo nên một không khí u hoài. Thỉnh thoảng, và rất ít, ta thoáng nghe một gam trưởng như một ánh lửa lóe lên, như một chút hy vọng. Nhưng sau đó lại quay về với cảm giác bất an. Lời ca mang nhiểu ẩn dụ của một chính trường.
Dominic Miller, người cùng viết giai điệu với Sting, đã phát biểu rằng ca từ của Sting rất là hoang mang và bí ẩn, nhưng giai điệu lên xuống arpeggio rất là lả lướt, tạo nên bên ngoài và bên trong của câu chuyện trên sòng bài.
Thế nên, khi tôi và bạn chẳng hiểu mình đang hát cái gì thì đừng nên lấy làm ngạc nhiên. Vì ông ấy đã viết như thế.
LV: Nói về chuyện hát mà không hiểu gì hết thì tôi tự nhận mình là “cao thủ”. Với tôi thì chỉ cần tựa bài gợi ý và nhạc hay là đủ cho tôi “en dòi” rồi. Tỷ dụ như nghe bài Ave Maria hát bằng tiếng La Tinh thì đâu cần hiểu gì đâu mà vẫn thấy cảm xúc mãnh liệt. Vì khuynh hướng này nên, mặc dù thưởng thức nét nhạc đặc thù của Sting, tôi không thường nghe nhạc của ông này. Phần lớn những bài Sting viết hoặc chọn để trình bày là những bài “lắm lời”. Nghe mệt óc! Lời nhạc của Leonard Cohen cũng có nhiều ẩn dụ, 2 nghĩa nhưng tôi cảm thấy được nét thơ, nét tình trong đó cho dù ý của bài thật là buồn khổ. Nhạc của Sting dường như nhiều lời hơn và những ẩn dụ trong đó có chiều hướng dấy lên tâm tình hoài nghi, bất an. Nghe xong thấy tinh thần xuống thấp.
Dĩ nhiên đây chỉ là nhận định của tôi với kiến thức hạn hẹp của mình.
Và dĩ nhiên không phải là tôi không thích thực hiện nhạc của Sting. Chỉ là ngại làm vì ngoài chuyện “lắm lời” ông cũng viết cắc cớ sao cho bài khó hát trại đi. Nếu không hát cho đúng nốt đúng chỗ thì không ra bài của Sting. Bạn và tôi chắc là biết rõ điều này hơn ai hết vì phải mất gần 2 tháng mới giải quyết được bài Cơ Hình này. Và dù thực hiện xong rồi nhưng tôi quả thật vẫn không biết mình hát cái gì…
Cơ Hình
Shape of My Heart
NT: Mỗi năm, cứ khoảng giữa tháng hai là tôi lại thấy chợ búa bày hàng tùm lum, nào là kẹo sô-cô-la bọc trong giấy bạc màu đỏ màu hồng, nào là những chai rượu săm-banh đủ hạng đủ kiểu, nào là những bó hoa hồng đủ sắc đủ mùi. Chỉ có một điều là tôi ngạc nhiên nhứt là giá hàng tự nhiên vọt lên hơn giá cả bình thường.
Thì mới nhớ ra là cái ngày lễ Valentine. Lễ Tình Nhân.
Thiệt không hiểu từ lúc nào cái ngày lễ này đã chi phối đời sống thường nhựt của mình như vậy. Không nhớ mua một bó hoa thì cũng không thua gì quên quà sinh nhật vợ. Quên một lần là mang họa suốt đời…
Mà thiệt tình, theo truyền thống và văn hóa Việt thì đâu có mắc mớ gì.
Lễ Tình Nhân này, bắt nguồn từ thời La Mã. Thời đó, lễ hội Lupercalia được tổ chức linh đình từ ngày 13 đến 15 tháng Hai, tôn thờ thần Faunus, một vị thần của fertility. Trong buổi lễ này, họ sẽ tế thần bằng một con dê để cầu sinh sản và một con chó để thanh tẩy. Sau đó miếng da dê sẽ được ban cho phụ nữ để giúp họ có được nhiều con cái, và cũng cho những cánh đồng để tăng phần sản xuất.
Vào thế kỷ thứ Năm, Đức Giáo Hoàng Gelasius I ban lệnh thay thế lễ Lupercalia bằng lễ tưởng niệm Thánh Valentine. Tương truyền rằng Thánh Valentine là một linh mục; ông đã chống lại lệnh cấm kết hôn cho những người đàn ông trẻ dưới thời Hoàng Đế Claudius II. Nhưng ông đã bí mật thực hiện những đám cưới cho các binh sĩ. Khi bị phát hiện, ông đã bị bắt giam rồi hành quyết vào ngày 14 tháng Hai năm 269 AD. Cũng theo truyền thuyết, ông đã gửi một lá thơ từ giã và ký ở cuối thơ: From your Valentine. Đó là nguồn gốc của viết thơ tình Valentine.
Theo thời gian, truyền thống thay đổi từ một ngày để ca ngợi tình yêu, rồi từ tặng hoa, cho kẹo bánh, viết thiệp, đến tặng nhau những vật giá trị hơn như nữ trang… tất cả đều được tổ chức thật quy mô.
Valentine đã bị những nhà tài phiệt bắt cóc.
Sau gần 8 năm hoạt động, KẻJazz vẫn còn nghèo kiết xác, nên chỉ biết gửi đến các bằng hữu một ca khúc về tình yêu, Johnny Guitar, như một món quà tặng cho ngày hôm nay.
(Ca khúc này năm xưa hình như nhạc sĩ Huỳnh Anh hay Văn Phụng đã viết lời dưới tựa đề Đàn Trong Đêm Vắng và đã được rất nhiều ca sĩ thu thanh. Tôi không tìm ra được bản chính nên bạn nào biết thì cho chúng tôi hay nha. Xin cảm ơn trước.)
LV: Tôi cũng ớn nhất là ngày Valentine trong tất cả những ngày “lễ” được chế ra trong năm. Đi chợ thì đông nghẹt, giữ chỗ cho nhà hàng thì hết chỗ. Ai cũng hối hả phải làm cái gì đó cho “ý nghĩa”, nếu không thì sợ bị “mất điểm”, bị cho là “thiếu ân cần, thiếu ưu ái” với người quan trọng kia của mình. Thấy “cải lương” quá chịu không được!
Ngay cả KJ cũng bị ảnh hưởng một thời gian khá lâu. Trước đây cứ mỗi độ Valentine thì phải moi bài My Funny Valentine ra xào đi xào lại. Riết rồi tôi cũng hết ý luôn. Năm nay tôi quyết định chẳng mặc gì đến nhạc cho Valentine. Bài Người Tình Guitar này chỉ là ngẫu nhiên trùng hợp. Đang thiếu bài cho lên thì thấy bạn đã dịch xong bài nhạc ngắn ngủi, quen thuộc này nên tôi dàn dựng xong ngay để gửi cho bạn. Tới ngày hôm sau thì bạn đã thâu xong một cách êm xuôi. Tự nhiên có một bài hát thật tình tứ về người tình cho trình làng đúng dịp Valentine. Âu cũng là cái duyên.
Người Tình Guitar
Johnny Guitar
AI: You Don’t Have to Say You Love Me là một ca khúc nổi tiếng, được biết đến qua giọng hát đầy cảm xúc và sâu lắng của Dusty Springfield. Bản gốc của ca khúc này có tựa đề Io che non vivo (senza te), một ca khúc tiếng Ý do Pino Donaggio và Vito Pallavicini viết lời. Dusty Springfield đã trình bày lại ca khúc này bằng tiếng Anh vào năm 1966, và nó nhanh chóng trở thành một hit lớn, đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng UK Singles Chart và vị trí số 4 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ.
Giọng hát của Dusty Springfield được coi là một trong những giọng hát nữ xuất sắc nhất của thế kỷ 20. Với phong cách trình diễn tinh tế, giàu cảm xúc và khả năng truyền tải những câu chuyện tình yêu qua từng nốt nhạc, Dusty đã chinh phục trái tim của nhiều thế hệ người nghe. You Don’t Have to Say You Love Me là một trong những ca khúc tiêu biểu nhất, thể hiện được sự mạnh mẽ và tình cảm trong giọnghát của cô.
Bản dịch tiếng Việt Không Cần Nói Yêu Em do nhạc sĩ Phạm Duy thực hiện đã mang lại một sắc thái mới cho bài hát này. Với tài năng và sự hiểu biết sâu sắc về âm nhạc, Phạm Duy đã khéo léo chuyển tải tinh thần và cảm xúc của bản gốc sang lời Việt, giúp người nghe Việt Nam có thể cảm nhận được trọn vẹn nội dung và ý nghĩa của ca khúc.
Bản dịch này không chỉ giữ nguyên giai điệu ngọt ngào và sâu lắng, mà còn thêm vào đó những nét chấm phá đặc trưng của ngôn ngữ Việt. Lời bài hát tiếng Việt vẫn giữ được sự chân thành và đậm chất tình cảm của bản gốc, đồng thời mang đến cho người nghe một trải nghiệm âm nhạc mới mẻ và độc đáo. Nhờ vậy, ca khúc đã nhanh chóng trở nên phổ biến và được yêu thích tại Việt Nam.
Bản dịch của Phạm Duy là một minh chứng cho sự tài hoa của ông trong việc biến hóa các ca khúc nổi tiếng quốc tế thành những phiên bản tiếng Việt đầy cảm xúc, góp phần làm phong phú thêm nền âm nhạc Việt Nam.
LV: Thấy bạn phải gọi nhờ lão Ây Ai viết dùm vài lời làm tôi thấy áy náy chút. Nên tôi dùng vài phút rảnh để viết thêm vài lời tầm phào.
Lẽ ra phải nhờ một giọng nữ để hát bài này. Thoạt đầu tôi nghĩ là mình đã có 2, 3 bài để sẵn sàng cho lên nên tôi cứ nhẩn nha việc soạn bài KCNAY này. Nhưng đầu tuần xem lại mới vỡ lẽ ra là những bài gửi ra sớm trước vẫn chưa được thâu xong. Bài gửi về SG thì đành chịu “ngâm tôm” vì phòng thâu đóng cửa ăn Tết! Còn mấy bài khác ở đây thì khó quá làm ca sĩ bị trục trặc kỹ thuật. Thế nên tôi vớ đại bài KCNAY này để thực hiện cho ra trình làng vậy.
Giọng nam hát bài nữ nên phải đổi chữ trong bài từ “anh” ra “em”, và ngược lại. Khi hát đến câu “anh xin làm người tình, lẻ loi, xa xôi, có thế thôi” tôi hơi có chột dạ. Câu này ẻo lả, quỵ lụy quá làm sao mà hát được? Tôi tự nghĩ. Tôi đã định sửa lại lời nhưng thứ nhất là không biết sửa sao cho đẹp, thứ hai là không có giờ, thứ ba là làm biếng suy nghĩ cho nên thôi cứ hát như vậy cho kịp có bài cho lên. Hát câu ẻo lả nhưng mình không ẻo lả thì được rồi. Who cares!
Không Cần Nói Yêu Em
You Don’t Have to Say You Love Me