
Sign up to save your podcasts
Or


NT: Tôi có người thân vừa ra đi cách đây nửa năm sau gần năm năm chống chỏi với Alzheimer. Căn bịnh thật lạ kỳ; bệnh nhân từ từ mất đi trí nhớ từ những thứ vặt vãnh như tên gọi (mà ta thường cho là vì đãng trí), dần dà cho đến khi quên đi đứng, quên nuốt thức ăn, và cuối cùng là quên thở.
Bệnh nhân là một người bị cầm tù trong nỗi quên.
Tôi nhớ có một cuốn phim về một nhà nhạc sĩ tài hoa đã bị hủy diệt vì căn bịnh oái oăm này.
Và tôi tưởng tượng: tôi là bệnh nhân, với tất cả những gì tôi muốn nói với người yêu của mình, nhưng căn bịnh đã cướp đi cái khả năng đó. Tôi chỉ còn có sự im lặng và những mù mịt, nỗi tức giận vì tù túng, nỗi đau khổ vì không được cảm thông, nỗi buồn rầu vì biết con dốc chỉ đi xuống, nỗi sợ hãi vì con đường sẽ hết lối.
Lại nghe Minh Nguyệt hát mà lòng thấy thê thảm quá: Lại đây bên em, nhớ nói cho ta nghe thêm bao nhiêu lời nồng quyến luyến. Sẽ thấy không lâu, anh ơi, đôi ta đành phải quên nhau. Rồi lòng đớn đau…
Lại Gần Hôn Em
Viens m’embrasser
NT: Trước đây, tôi chỉ biết đến ca khúc này như là một bản hòa tấu, và chưa hề biết đến tên của nó. Bài nhạc thật du dương, luôn luôn làm tôi hồi tưởng những ngày tháng thơ mộng sống trong một đại gia đình với mấy bà dì lúc nào cũng búi tóc và cài những búp ngọc lan nõn nà, mấy cậu dượng lúc nào cũng chải tóc brilliantine, diện complet trắng, mắt sáng môi tươi như công tử.
Mãi sau này, anh bạn nhạc từ vùng DC, anh Dực, đã gửi cho chúng tôi bản tiếng Việt do anh viết lời, tôi mới biết là ca khúc này có một cái tên của một căn bịnh, bịnh mộng du, sleep walk.
Trước khi Lê Vũ hát bài này (dựa trên bản của Rene Olstead), tôi đã bảo anh chàng, nhớ hát Giáng Chiều sao cho lơi lả, cho thật gợi tình đó nha cha.
Anh bạn tôi gạt phăng, không “nũng nịu” gì ráo trọi.
Vậy mà khi nghe xong, cô bạn nhạc Minh Nguyệt đã nổi hứng, phóng bút và gửi ngay cho KJ một bản dịch.
Chỉ có điều là chuyện xảy ra đã khá lâu, và tôi cũng chẳng biết bản dịch của MN đã lưu lạc đi đâu tìm hoài không ra.
Năm trước, trong một đêm nhạc Kẻ Jazz do Phạm Hồng và Mẫn tổ chức tại tư gia, ngồi nghe Phạm Hồng hát, tôi chợt nghĩ đến bài hát này.
Phạm Hồng có một giọng hát rất tự nhiên, không chải chuốt, nhưng rất ấm áp và nồng nàn. Có thể cô cũng sẽ không nũng nịu như tôi đã từng đề nghị với Lê Vũ, nhưng tôi nghĩ cô sẽ chuyển tải được bài nhạc một cách rất chân thật.
Thế là hôm nay được Mộng Du…
Mộng Du
Sleepwalk
NT: Mùa hè lúc nào cũng hơi bận rộn cho tôi. Mà hình như dạo này tôi cũng hơi lười biếng vì lúc nào đời sống cũng thấy bề bộn, công ăn việc làm thì sao mà chẳng hanh thông chút nào. Rồi đâm chán.
Cũng vì vậy mà lâu rồi tôi chẳng đụng tới chuyện dịch nhạc.
Hôm nọ thấy bạn chẳng mó tới mấy bài nhạc tôi đã dịch khá lâu, tôi nghĩ có lẽ bạn không thích vì toàn là những bài hắc ám hoặc chẳng quen thuộc, nên tôi mới mày mò dịch cho xong bài Hier encore của Charles Aznavour. Rồi lật đật gửi cho bạn, đề cử thêm tiếng hát ấm áp trữ tình của Triệu Vinh.
Vài ngày sau, nhận được điện thư: Đã gửi bài mới cho Triệu Vinh.
Không mở mấy cái attachment để xem cho kỹ, tôi tự động giàn dựng trang nhạc cho Vừa Ngày Hôm Qua, tựa đề Việt cho bản dịch Hier encore.
Mãi đến hôm qua, hôm kia, tôi mới té ngữa, biết mình đã lầm to. Bài bạn gửi cho Triệu Vinh là một bản nhạc dịch bởi Trường Kỳ trước 75, Rồi Tình Yêu Sẽ Đến, từ ca khúc Too Young của Sidney Lippman.
Vì vậy mà cái trang nhạc hôm nay bị lủng củng và hơi trễ.
Xin cáo lỗi…
Rồi Tình Yêu Sẽ Đến
Too Young
NT: (đang tịnh khẩu… mời nghe… không nói)
Không Ai Chờ Mưa Ướt Bài Thơ
NT: Các bạn ạ, gần hai chục năm về trước, anh Ngu Yên có một hội âm nhạc được gọi là VLC, viết tắt từ “Vui Là Chính”. Thật như vậy, làm văn nghệ mà không vui thì chắc chết quách cho nó xong.
Tôi có những người bạn trong đoàn ballet. Tuy đã được ở trong vũ đoàn và đã từng thủ những vai chính, họ vẫn đều đặn tập dợt mỗi ngày 8 tiếng đồng hồ, ôn lại từng bước nhảy mặc dù đã thuộc nằm lòng. Họ bảo tôi, trong từng động tác, họ luôn luôn phải “lừa” khán giả bằng cách làm sao khán giả chỉ thấy họ bay bổng nhẹ nhàng mà chẳng bao giờ thấy được cái đau nhói của mấy đầu ngón chân, nhức buốt của cơ thịt… Nhưng cùng một lúc, là niềm vui vì họ đã mang đến cho mọi người một cái gì đó thật đẹp, thật thoát, và nhất là khi được nghe những tràng vỗ tay khen ngợi thật nồng nhiệt.
Trong ca hát, tôi nghĩ cũng chẳng khác gì mấy. Một bài nhạc mới lạ như ca khúc Chẳng Đặng Đừng này (tôi biết chắc như vậy vì Falling in Love Again không phải là một bài jazz kinh điển) chắc đã làm khó dễ anh bạn Triệu Vinh không ít thì nhiều. Triệu Vinh là một ca sĩ “đạo mạo”. Giọng hát dày và sâu. Hơi thở chừng mực. Phát âm rõ và tròn trịa. Chẳng Đặng Đừng thì lại là một ca khúc… thật lẳng lơ. Vì vậy, khi nhận được bản mix cuối cùng, tôi đã nín thở để nghe cho kỹ.
Ái chà, thật dữ dội. Những người (đàn bà) thường lao vào anh như những con thiêu thân để rồi bị cháy bỏng… nhưng mà anh đã… chẳng đặng đừng, và vẫn tiếp tục… yêu tiếp. Nghe anh hát ba chữ “chẳng đặng đừng” mới thấy cái tài hoa của Triệu Vinh trong cách hát sao cho nó… lẳng. Phải cho anh mấy tràng pháo tay để cám ơn anh.
Cũng nhờ thế mà KJ mới thấy vui để tiếp tục làm văn nghệ sau gần 10 năm.
Chẳng Đặng Đừng
Falling in Love Again (Can’t Help It)
NT: Tôi có một anh bạn rất sợ tiếng động. Nói đúng ra là anh ta không thích tiếng động. Anh ta luôn luôn phàn nàn về chỗ anh ở, không hiểu vì sao hàng xóm của anh lại có thể ồn ào như vậy.
Anh ở tít ngoài vùng ngoại ô hẻo lánh. Anh không thể nào hiểu được tại sao tôi lại chọn ở giữa chốn phố phường, suốt ngày suốt đêm xe cộ chạy tấp nập, còi kêu inh ỏi, bộ hành ơi ới.
Làm tôi tự hỏi, có nơi nào thật sự hoàn toàn im lặng trên thế giới này không?
Tiểu bang Minnesota có một tòa nhà, nơi Orfield Laboratories được biết đến với căn phòng anoechoic chamber, căn phòng tiêu âm, nơi 99.99% tiếng động bị hút mất. Cả bốn mặt tường, trần và sàn nhà được xây bằng 6 lớp bê tông dày và thép đã được cách ly. Trên mặt tường, trần và sàn là một lớp những mảng nhọn và dày được cấu tạo bằng thủy tinh sợi (fiberglass) để ngăn những phản xạ âm thanh. Đây là nơi độc nhất có tiếng động nền (background noise) ở mức gần -9 dB. So với “im lặng” chúng ta thường được biết ở khoảng +30 dB.
Tôi nghe nói người chịu nỗi sự im lặng trong căn phòng này lâu nhất là 45 phút.
Tôi cũng nghe nói trong cái ngột ngạt của im lặng, điều làm người ta khó chịu nhất là nghe rất rõ tiếng máu chảy trong động mạch cũng như tiếng tim đập của chính họ.
Có nghĩa là có chạy đằng trời chúng ta cũng chẳng bao giờ thoát khỏi… tiếng động.
Phòng tiêu âm được xây vào năm 1943. Ông nhạc sĩ Paul Simon viết ca khúc về âm thanh của sự im lặng vào năm 1964. Bạn và tôi hè nhau dịch ca khúc The Sound of Silence này ra tiếng Việt vào năm 2018.
Tôi vẫn thích mấy câu trong bài nhạc: people talking without speaking. People hearing without listening. People writing songs that voices never share. Noone dared to disturb the sound of silence.
Âm Thanh Của Thinh Lặng
The Sound of Silence
NT: Người bạn nhờ tôi viết lời Việt cho một ca khúc tôi chưa nghe bao giờ. Anh gửi tôi link YouTube bài nhạc của Kris Kristofferson.
Tôi chỉ biết Kris Kristofferson như một tài tử điện ảnh vào thời tôi mới lớn, rất ấn tượng qua cuốn phim The Sailor Who Fell From Grace With the Sea từ một cuốn tiểu thuyết của Yukio Mishima (yes, that Mishima) và ngược lại trong cuốn phim A Star is Born (tại sao cứ phải làm đi làm lại một cuốn phim thật nhàm như vây?)
Tôi có đọc sơ qua tiểu sử của Kristofferson, và đoạn đường anh đã đi qua để trở thành một nhạc sĩ, ca sĩ, tài tử điện ảnh nổi tiếng. Anh có một niềm tin mãnh liệt vào tài năng của chính mình. Phục hết mình, vì tôi là một người rất… thiếu tự tin.
Và nhờ vậy mà tôi mới biết đến ca khúc này.
Hôm đó, tôi còn nhớ, trời tháng 3 đầy mây xám, còn gây gây lạnh như vẫn tiếc nuối những ngày mùa đông ảm đạm. Tôi lắng nghe tiếng nhạc rời rạc những vạch guitar điện và âm khàn đục của một người đàn ông ở tuổi trung niên.
Rồi anh hát: there’ll be time enough for sadness when you leave me. Khi em xa anh, sẽ có dư thời gian để cho anh buồn. Thật kỳ lạ, tự nhiên mà tôi cảm thấy lòng mình thật thê thảm.
Âm nhạc có bùa phép như thần thánh, có sức quyến rũ như người tình, có hương thơm lẫn gai nhọn như cành hồng. Một ý niệm vu vơ vẫn có thể làm ta rướm máu.
Hà thân, tôi gửi cho bạn ca khúc Để Còn Nhớ Một Thời Yêu này với ít nhiều giọt máu và nước mắt đấy nhé.
Để Còn Nhớ Một Thời Yêu
For the Good Times
NT: Năm 2000, Thì Thầm Rủ Tôi của anh Ngu Yên tìm đến với tôi với nhiều xúc cảm.
Đây là một bài nhạc jazz. Trong nhạc Việt, đa số những bài mà tôi biết được gọi là nhạc jazz thường là nhạc blues, trong dạng early classic blues (nhạc blues cổ điển ban đầu) rất quen thuộc trong giới nô lệ da màu vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Đó là những Thúy Đã Đi Rồi, Nỗi Lòng, Những Chiều Không Có Em, v.v… (Ca khúc Sao Đêm của Lê Trọng Nguyễn có lẽ là một bài nhạc jazz Việt đầu tiên mà tôi biết.)
Thì Thầm Rủ Tôi là một bài nhạc jazz chính hiệu con nai vàng. Thêm vào đó, ca từ lại rất khác thường.
Có lẽ nhu cầu của đa số người nghe đã khiến những ca khúc không mang chữ nghĩa tình yêu lãng mạn, bi đát, vu vơ bị lọt đài “popular”, ngoài trừ một số nhạc Trịnh Công Sơn và Phạm Duy. Có lẽ vì vậy mà những khác thường hay làm cho tôi ngạc nhiên thích thú.
Đúng theo tiêu chuẩn jazz cổ điển, Thì Thầm Rủ Tôi được viết khá giản dị, và ngắn gọn, tuy không thoát khỏi cái “ngu yên” của anh Ngu Yên.
Anh nói về nỗi im lặng, nhưng cái im lặng của Ngu Yên rất ồn ào
Anh nói về nỗi chán chường, nhưng ẩn tình thì thật sôi sục
Hành văn của anh mang nhiều động từ hơn tĩnh từ. Đọc lời của anh làm tôi liên tưởng đến truyện ngắn của E. Hemingway.
Cho đến nay, Thì Thầm Rủ Tôi vẫn đem đến cho tôi nhiều ấn tượng.
Dù đã 25 năm trôi qua.
Thì Thầm Rủ Tôi
NT: Nguyên thủy bài nhạc của hôm nay, Historia de un Amor của nhạc sĩ Carlos Almarán, là một tác phẩm xuất phát từ nỗi đau và sự mất mát. Almarán viết bài hát này để tưởng nhớ người anh trai của ông đã qua đời. Với giai điệu buồn bã và lời ca nồng nàn, bài hát kể về một tình thân đã mất đi, khắc họa sâu sắc cảm xúc đau thương và nỗi nhớ nhung người thân yêu.
Sự mất mát nào cũng mang nhiều nỗi đau thương như vậy. Biến cố 30 tháng Tư vẫn luôn nhắc nhớ mối thương tâm cho nhiều người Việt trên khắp cùng thế giới.
Bài nhạc Chuyện Tình Yêu, lời của Anh Bằng, tuy đã lãng mạn hóa ý chính của Almarán, bằng nhiều từ ngữ lộng lẫy kiêu sa dành cho tình yêu đôi lứa, nhưng vào lúc này, cuộc tình tan vỡ bỗng nhiên gợi cho tôi ý tưởng của bao cuộc phân ly mất mát trong một thời điểm đen tối nhất của đất nước Việt Nam. Những chồng chia tay vợ, anh em chia lìa nhau, cha mẹ mất con.
Cho nên bây giờ ta chỉ còn là những “bóng dáng cô liêu trong ngậm ngùi”, vẫn “thiên thu trông mong đợi chờ”.
Chuyện Tình Yêu
L’Histoire d’un amour
NT: Mấy tuần nay, tôi đang đắm chìm trong cuốn tiểu huyết mới của Haruki Murakami, The City and Its Uncertain Walls (Thành Phố và Những Thành Tường Bất Định), một cuốn tiểu thuyết dày cộm của nhà văn Nhật được đọc giả trên thế giới yêu chuộng.
Cuốn tiểu thuyết đi sâu vào cái biên giới mong manh giữa ảo và thực, nơi mà những bức tường thành không chỉ đơn thuần là một cấu trúc vật lý, mà còn là biểu tượng cho sự bất định và mơ hồ của tâm linh. Murakami xây dựng một thế giới nơi mà ranh giới giữa thực tại và giấc mơ, giữa ký ức và hiện tại, luôn luôn biến đổi và khó nắm bắt. Những nhân vật trong truyện, dù có thực hay ảo, đều bị cuốn vào vòng xoáy của sự tìm kiếm và đối mặt với những cảm xúc sâu kín nhất của chính bản thân mình.
Trong khi đọc, tôi bắt gặp mình và nhân vật chính có một sự lẫn lộn, ai là tôi và ai là nhân vật trong truyện. Những đoạn văn của Murakami như vẽ lên bức tranh mà chính tôi cũng không thể phân biệt được đâu là giới hạn giữa bản thân và nhân vật. Tôi như lạc vào mê cung của cảm xúc và tâm trí, nơi mà mỗi trang sách lật mở một phần của chính con người tôi. Những dòng chữ của ông khiến tôi dường như đang sống trong một thực tại đa chiều, nơi mà giấc mơ và hiện thực giao thoa.
Murakami đã khéo léo dẫn dắt tôi qua những hẻm tối tăm của cuộc sống, nơi mà những bức tường thành không chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ mà còn là biểu tượng của những giới hạn tinh thần mà mỗi chúng ta phải đối mặt. Những câu chuyện trong “Thành Phố và Những Thành Tường Bất Định” không chỉ là câu chuyện của các nhân vật, mà còn là câu chuyện của chính tôi, của bất kỳ ai đang tìm kiếm bản ngã và sự thật giữa thế giới đầy những mơ hồ.
Cuốn tiểu thuyết của Murakami không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là một cuộc hành trình khám phá bản thân và đối mặt với những bí ẩn sâu thẳm trong tâm hồn. Đây thực sự là một tác phẩm khiến tôi phải suy ngẫm về chính mình và thế giới xung quanh, về những thứ mà tôi tưởng chừng như đã hiểu rõ nhưng thực ra vẫn còn rất nhiều điều chưa được khám phá.
Tôi cũng khám phá ra rằng, khi tôi nghe Minh Nguyệt hát ca khúc Điên Cuồng bản dịch bài Crazy bởi chính cô, tôi cũng hơi có cảm giác lẫn lộn như khi đọc truyện của Haruki Murakami. Tiếng hát của Minh Nguyệt như thổi vào lòng tôi những cung bậc cảm xúc đa dạng, lúc thăng hoa, lúc trầm lắng, khiến tôi như bị cuốn vào một thực tại song song, nơi mà mỗi câu hát đều mở ra một góc nhìn khác về chính mình. Những lời ca không chỉ đơn thuần là âm thanh mà còn là những dòng cảm xúc, làm cho tôi lạc lỏng nơi mà sự thật và mơ hồ đan xen nhau trong từng nhịp điệu.
Đọc đến đây, thể nào Minh Nguyệt cũng sẽ phán cho tôi một câu, “Cái ông này lúc nào cũng dài dòng văn tự. Thôi đi ông, để cho tui hát.”
Điên Cuồng
Crazy