
Sign up to save your podcasts
Or


Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 10
Hành Ấm Ma
A-nan, thiện-nam-tử kia, tu pháp Tam-ma-đề, khi Tưởng-ấm đã hết, thì những mộng-tưởng bình-thường của người đó đã tiêu-diệt, khi thức, khi ngủ, luôn luôn một thể, tính giác-minh rỗng-lặng như hư-không trong-sạch, không còn những sự-tướng tiền-trần thô-trọng; xem những núi sông đất-liền thế-gian, như gương soi-sáng, khi đến, không dính vào đâu, khi qua, không có dấu-vết, rỗng-chịu chiếu-ứng, rõ-ràng không còn tập-quán cũ, chỉ một tính tinh-chân.
Căn-nguyên của sinh-diệt từ đó phơi-lộ ra, thấy được 12 loài chúng-sinh thập phương, rõ hết các loài; tuy chưa thông-suốt manh-mối của mỗi chúng-sinh, nhưng đã thấy cơ-sở sinh-diệt chung, giống như bóng dã-mã, lớp-lớp chớp-nhoáng hiện ra, làm cái then-chốt phát-sinh các phù-căn-trần; ấy thì gọi là phạm vi Hành-ấm.
Nếu cái cỗi-gốc của những lăng-xăng chớp-nhoáng u-ẩn đó, vào được tính đứng-lặng bản-lai, những tập-khí sinh-diệt bản-lai dừng-lại như sóng-mòi diệt hết, hóa-thành nước đứng, thì gọi là hết Hành-ấm. Người đó, thì vượt khỏi chúng-sinh-trược; xét lại nguyên-do, cỗi-gốc là u-ẩn vọng-tưởng.
A-nan nên biết, các thiện-nam-tử được sự nhận-biết đúng-đắn trong Xa-ma-tha đó, chính-tâm đứng-lặng sáng-suốt, mười loài Thiên-ma không còn được dịp khuấy-phá. Trong lúc nghiên-cứu tinh-vi cùng-tột cỗi-gốc sinh-loại, khi cỗi-gốc sinh-diệt bản-loại lộ ra, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động lăng-xăng cùng-khắp u-ẩn kia, lại móng tâm so-đo chấp là tính viên-nguyên, thì người đó sa vào hai cái luận vô-nhân:
– Một, là người đó thấy cái gốc không có nhân. Vì cớ sao? Người đó đã được cơ-sở sinh-diệt toàn lộ ra, nương theo tám trăm công-đức của nhãn-căn, thấy trong tám muôn kiếp, tất-cả chúng-sinh đều theo dòng nghiệp-báo mà xoay-vần, chết nơi nầy, sinh nơi kia; chỉ thấy chúng-sinh luân-hồi trong đó, ngoài tám muông kiếp thì mờ-mịt không thấy gì, bèn phát ra sự nhận-định rằng, những loại chúng-sinh thập phương trong thế-gian nầy, trước tám muôn kiếp, không do nhân gì mà tự có. Do sự chấp-trước so-đo như thế, bỏ mất Chính-biến-tri, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề.
– Hai, là người đó thấy cái ngọn không có nhân. Vì cớ sao? Người đó đã thấy cỗi-gốc sinh-diệt, biết người sinh người, rõ chim sinh chim, thấy chim quạ luôn luôn đen, chim hộc luôn luôn trắng, loài người, loài trời thân vẫn đứng thẳng, các loài súc-sinh thân vẫn nằm ngang, sắc trắng không phải do tẩy mà thành, sắc đen không phải do nhuộm tạp ra, suốt tám muôn kiếp không hề dời-đổi, cho đến hết đời nầy cũng như vậy; mà từ xưa đến nay, người đó không thấy gì là Bồ-đề, làm sao lại còn có việc thành đạo Bồ-đề, rồi nhận-định tất-cả các sự vật ngày nay, đều không có nguyên-nhân gì cả.
Do những so-đo, chấp-trước như thế, bỏ mất tính Chính-biến-tri, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ nhất, lập những luận vô-nhân.
A-nan, các thiện-nam-tử đó, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng sáng-suốt, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, lại móng tâm so-đo chấp là tính viên-thường, thì người ấy sa vào bốn cái luận biến-thường:
– Một, là người đó xét-cùng bản-tính của tâm và cảnh, cả hai đều không có nhân; tu-tập biết được trong hai muôn kiếp, thập phương chúng-sinh có những sự sinh-diệt, đều là xoay-vần, không hề tan mất, nên chấp đó là thường.
– Hai, là người đó xét-cùng cỗi-gốc tứ-đại, thấy tứ-đại thường-trụ, tu-tập biết được trong bốn muôn kiếp, thập phương chúng-sinh tuy có sinh-diệt, nhưng đều có bản-thể thường-hằng, không hề tan-mất, nên chấp đó là thường.
– Ba, là người đó xét-cùng nguyên-do bản-lai của sáu căn, của sự chấp-thụ thức Mạt-na và của các tâm, ý, ý-thức, thấy tính vẫn thường-xuyên; tu-tập biết được trong tám muôn kiếp, tất-cả chúng-sinh xoay-vần không mất, bản-lai là thường-trụ; rồi xét-tột tính không mất đó, mà chấp là thường.
– Bốn, là người đó nghĩ rằng đã hết Tưởng-ấm, lẽ ra không còn lưu-chuyển, đứng-lặng xoay-vần; tư-tưởng sinh-diệt đã diệt hết rồi, thì trong lý tự-nhiên thành không-sinh-diệt; người đó, nhân tâm-niệm so-đo như thế, mà chấp là thường.
Do những sự chấp thường ấy, bỏ mất Chính-biến-tri, đọa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề, ấy gọi là ngoại-đạo thứ hai, lập những luận viên-thường.
Lại các thiện-nam-tử đó, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, lại móng tâm so-đo chấp-trước giữa mình và cái khác, thì người đó mắc vào bốn kiến-chấp điên-đảo, là những luận “một phần vô-thường, một phần thường” :
– Một là người đó quán cái tâm diệu-minh lặng vậy cùng khắp thập phương thế-giới, cho là cái thần-ngã rốt-ráo; do đó, chấp có cái ta cùng khắp mười phương đứng-lặng sáng-suốt không lay-động, còn tất-cả chúng-sinh, thì ở trong tâm ta tự sinh, tự chết; vậy tâm-tính của ta, thì gọi là thường, còn những bọn sinh-diệt kia, thì thật là vô-thường.
– Hai, là người đó không xét cái tâm, lại xét khắp hằng-sa quốc-độ trong mười phương, thấy có chỗ bị kiếp-tai phá-hoại, thì cho là có tính rốt-ráo vô-thường, còn những chỗ không bị kiếp-tai phá-hoại, thì gọi là rốt-ráo thường.
– Ba, là người đó quán-sát riêng cái tâm mình là tinh-tế nhỏ-nhiệm giống như vi-trần, lưu-chuyển trong mười phương mà tính không dời-đổi, lại có thể khiến cái thân nầy, sinh rồi lại diệt; rồi chấp cái tính không mất đó, là tính thường của mình, còn tất-cả sự sống chết, từ tính ấy sinh ra, thì gọi là vô-thường.
– Bốn, là người đó biết Tưởng-ấm hết rồi, thấy được dòng Hành-ấm, chấp cái lưu-chuyển thường-xuyên của Hành-ấm là tính thường, còn những Sắc-ấm, Thụ-ấm, Tưởng-ấm hiện đã diệt hết, thì gọi là vô-thường.
Do những chấp-trước so-đo “một phần vô-thường, một phần thường” như thế, mà sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ ba, lập những luận “một phần thường”.
Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; khi xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, lại sinh tâm so-đo chấp-trước về phận-vị, thì người đó sa vào bốn cái luận hữu-biên:
– Một, là người đó so-đo cái cỗi-gốc sinh-diệt lưu-chuyển không ngừng, rồi chấp quá-khứ, vị-lai, là hữu-biên và chấp cái tâm tương-tục, là vô-biên.
– Hai, là người đó xét trong tám muôn kiếp thì thấy chúng-sinh, còn trước tám muôn kiếp thì bặt không nghe-thấy gì, rồi gọi chỗ không nghe-thấy, là vô-biên, còn chỗ có chúng-sinh, là hữu-biên.
– Ba, là người đó chấp rằng mình biết cùng khắp, là được tính vô-biên, còn tất-cả các người kia, hiện ra trong cái biết của mình, mà mình không hề biết họ nhận được tính-biết, thì những người kia không được cái tâm vô-biên và chỉ có tính hữu-biên.
– Bốn, là người dó khi xét-cùng diệt-trừ Hành-ấm, dùng tri-kiến của mình, mà so-đo chấp tất-cả chúng-sinh trong mỗi cái thân, đều là phần nửa sinh, phần nửa diệt và chấp tất-cả sự-vật có ra trong thế-giới, đều một nửa là hữu-biên, một nửa là vô-biên.
Do những so-đo, chấp-trước hữu-biên, vô-biên như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề, ấy gọi là ngoại-đạo thứ tư, lập những luận hữu-biên.
Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước về tri-kiến, thì người đó mắc vào bốn thứ luận hư-vọng “điên-đảo biến-kế, càn-loạn bất-tử” :
– Một, là người đó quán-sát cỗi-gốc biến-hóa, thấy chỗ dời-đổi, thì gọi là biến, thấy chỗ tương-tục, thì gọi là thường, thấy chỗ thấy được, thì gọi là sinh, chỗ không thấy được, thì gọi là diệt; chỗ các nhân tương-tục, không có đứt-đoạn, thì gọi là thêm; chính trong tương-tục, chỗ rời nhau ở giữa, thì gọi là giảm; chỗ mỗi mỗi cái sinh ra, thì gọi là có, chỗ tương-đối không có, thì gọi là không, dùng lý quán-sát tất-cả và dụng tâm thành những kiến-chấp riêng-biệt; có người đến cầu Pháp hỏi nghĩa, thì đáp rằng “Ta nay cũng sinh, cũng diệt, cũng có, cũng không, cũng thêm, cũng bớt”, trong tất-cả thời đều nói lộn-xộn, khiến cho người nghe không thể hiểu được.
– Hai, là người đó chín-xét cái tâm về chỗ tương-đối là không, nhân cái không mà được chứng; có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là không; ngoài chữ không ra, không nói gì cả.
– Ba, là người đó chín-xét cái tâm về chỗ mỗi mỗi đều có, nhân cái đó mà được chứng; có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là phải; trừ chữ phải ra, không nói gì cả.
– Bốn, là người đó chấp cả có, cả không; do cái cảnh rời-rạc mà tâm cũng rối-loạn; có người đến hỏi thì đáp rằng: “Cũng có, tức là cũng không, trong cái cũng không, không phải là cũng có”; tất-cả đều càn-loạn, không thể nói hết được.
Do những so-đo, chấp-trước càn-loạn, rỗng-trống như thế, mà sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ năm, lập bốn thứ luận hư-vọng, “điên-đảo biến-kế, càn-loạn bất-tử”.
Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh-tâm so-đo chấp-trước nơi dòng sinh-diệt vô-tận, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-hữu-tướng” :
– Người đó nghĩ rằng, trong thân ta hiện nay, có tính sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.
Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ sáu, lập tám loại luận “hậu-hữu-tướng”.
Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-vô-tướng” :
– Người đó nghĩ rằng, thân ta hiện nay, sinh rồi lại diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.
Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ bảy, lập tám loại luận “hậu-vô-tướng”.
Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-vô-tướng” :
– Người đó nghĩ rằng, thân ta hiện nay, sinh rồi lại diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.
Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ bảy, lập tám loại luận “hậu-vô-tướng”.
Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-vô-tướng” :
– Người đó nghĩ rằng, thân ta hiện nay, sinh rồi lại diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.
– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.
Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ bảy, lập tám loại luận “hậu-vô-tướng”.
Thức Ấm Ma
A-nan, khi Hành-ấm hết rồi, thì cái then-chốt của các sự nhiễu-động đều xóa sạch, và cái bổ-đặc-già-la đã chấm dứt.
Bầu trời niết-bàn sáng-suốt, bỗng-nhiên hiện ra trước, giống như nhìn ra xa về phương Đông, thấy rõ các nước xa xôi. Cái tinh-minh độc-diệu của tâm-tính, bỗng-nhiên hiện ra, chỉ thấy tính sinh-diệt của sáu căn, tính thanh-tịnh bản-nhiên, thì thuần là một thể sáng-suốt, cùng khắp mười phương, không còn các thứ trần-lao, uế-tạp.
Trong cái tinh-minh đó, thấy được nguyên-do thọ-mạng của 12 loại chúng-sinh trong mười phương, mà không chỉ được manh-mối, chỉ nhận được tính đồng nhất của mười phương chúng-sinh, gọi là tính sống; ấy gọi là phạm vi Thức-ấm.
Nếu tiêu-dung sáu căn, thì thấy-nghe dung-thông, không còn các thứ đối-đãi, thì mười phương hư-không, và cái tâm sáng-suốt, đồng một tinh-minh, thì đó là chấm dứt Thức-ấm; người đó vượt khỏi mệnh-trược; xét lại nguyên-do, thì cỗi-gốc là điên-đảo, huyễn-hóa, rỗng-không vọng-tưởng.
A-nan, các thiện-nam-tử đó, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào bảy loại luận đoạn-diệt:
– Một, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.
– Hai, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.
– Ba, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.
– Bốn, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.
– Năm, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.
– Sáu, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.
– Bảy, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.
Do những so-đo, chấp-trước đoạn-diệt như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ tám, lập năm loại luận đoạn-diệt.
Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào năm loại luận niết-bàn:
– Một, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.
– Hai, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.
– Ba, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.
– Bốn, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.
– Năm, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.
Do những so-đo, chấp-trước niết-bàn như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ chín, lập năm loại luận niết-bàn.
Kết Luận Về Ngũ Ấm Ma
A-nan, tất cả những ma-sự như thế, đều do người tu hành, trong khi dụng-công, tâm không chánh-kiến, nên sinh ra; hoặc do âm-dương, hoặc do kiếp-số, hoặc do oan-gia, hoặc do nhân-duyên, mà sinh ra; đều là những vọng-tưởng hư-vọng, do mê-lý, mê-sự, mà sinh ra; nếu người tu hành, tâm chánh-kiến, thì không bị các ma-sự ấy; nếu bị, thì phải biết mà hàng-phục, thì tự-nhiên không bị hại.
A-nan, ông nên biết, người tu hành, trong mạt-pháp, phải biết những ma-sự nầy, để tự-bảo-vệ, và bảo-vệ chúng-sinh, để được chánh-giác.
Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 9
A Nan, tất cả những người tu tâm trong thế gian, không nhờ Thiền na, thì không có trí huệ.
Người nào giữ được cái thân không làm việc dâm dục, trong lúc đi, lúc ngồi, đều không nghĩ nhớ, lòng ái nhiễm không sanh, không còn ở trong Dục Giới, thì bản thân liền được làm Phạm lữ; một loài như thế, gọi là Phạm Chúng thiên.
Tập quán ngũ dục đã trừ rồi, tâm ly dục hiện ra, vui vẻ thuận theo các luật nghi, thì người đó liền có thể thực hành những Phạm đức; một loài như thế, gọi là Phạm Phụ thiên.
Thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, uy nghi không thiếu, cấm giới trong sạch, lại có thêm trí sáng, thì người đó liền được thống lĩnh Phạm chúng, làm Đại Phạm vương; một loài như thế, gọi là Đại Phạm thiên.
A Nan, ba loài tốt đó, tất cả khổ não không bức bách được; tuy không phải chân chính tu phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc của Dục Giới không lay động được, nên gọi là Sơ Thiền.
A Nan, thứ nữa, các hàng Phạm Thiên khi thống lĩnh phạm chúng, lại tu tập Phạm hạnh được viên mãn, làm cho tâm đứng lặng không lay động, và do sự đứng lặng ấy, sanh ra sáng suốt; một loài như thế, gọi là Thiểu Quang thiên.
Hào quang sáng suốt thêm nhiều, chói sáng không cùng, ánh vào thập phương thế giới đều thành trong sáng như ngọc lưu ly; một loài như thế, gọi là Vô Lượng Quang thiên.
Nắm giữ hào quang viên mãn, tạo thành giáo thể, phát ra sự giáo hóa thanh tịnh, ứng dụng không cùng; một loài như thế, gọi là Quang Âm thiên.
A Nan, ba loài tốt ấy, tất cả lo buồn không bức bách được; tuy không phải chân chính tu hành phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc thô động đã dẹp xuống, nên gọi là Nhị Thiền.
A Nan, những loài trời như thế, khi dùng hào quang viên mãn làm việc giáo hóa, do sự giáo hóa càng rõ lẽ nhiệm mầu, phát ra hạnh tinh tấn, thông với cái vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Thiểu Tịnh thiên.
Cảnh thanh tịnh hiện tiền, dẫn phát không có bờ bến, thân tâm được khinh an, thành cái vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Vô Lượng Tịnh thiên.
Thế giới và thân tâm, tất cả hoàn toàn thanh tịnh, đức thanh tịnh được thành tựu, cảnh giới thù thắng hiện tiền, dồn về vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Biến Tịnh thiên.
A Nan, ba loài tốt đó, đầy đủ công hạnh đại tùy thuận, thân tâm yên lặng, được cái vui vô lượng; tuy không phải chân chính được phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm yên ẩn, hoan hỷ được đầy đủ, nên gọi là Tam Thiền.
A Nan, lại nữa, những loài trời đó, thân tâm không bị bức bách, nguyên nhân của khổ đã hết, lại xét cái vui không phải thường trụ, lâu rồi cũng phải tiêu tan, nên cả hai tâm khổ và vui, đồng thời đều phóng xả; những tướng thô nặng đã diệt, thì phúc thanh tịnh sanh ra; một loài như thế, gọi là Phúc Sanh thiên.
Tâm phóng xả được viên mãn, sự nhận hiểu cao xa càng thanh tịnh; trong cái phúc không gì trở ngại đó, được sự tùy thuận nhiệm mầu cùng tột vị lai; một loài như vậy, gọi là Phúc Ái thiên.
A Nan, từ cõi trời đó, có hai đường rẽ:
Nếu dùng cái tâm sáng suốt thanh tịnh vô lượng trước kia, mà tu chứng an trụ nơi phúc đức viên mãn sáng suốt, thì thân mệnh cùng tột, thân tâm đều diệt hết, ý nghĩ bặt mất, trải qua năm trăm kiếp; song, người ấy đã lấy cái sanh diệt làm nhân, thì không thể phát minh tánh không sanh diệt, nên nửa kiếp đầu thì diệt, nửa kiếp sau lại sanh; một loài như thế, gọi là Vô Tưởng thiên.
A Nan, bốn loài tốt ấy, tất cả những cảnh khổ vui trong thế gian không lay động được; tuy không phải là chỗ bất động chân thật của đạo vô vi; song, nơi cái tâm hữu sở đắc, công dụng đã thuần thục, nên gọi là Tứ Thiền.
A Nan, trong đó, lại có năm bậc Bất Hoàn thiên, các vị này đã diệt hết tập khí chín phẩm tư hoặc trong cõi dưới rồi, khổ vui không còn, bên dưới không có chỗ ở, nên an lập chỗ ở nơi chúng đồng phận của tâm phóng xả.
A Nan, khổ vui cả hai đều diệt, không còn tâm niệm ưa ghét; một loài như thế, gọi là Vô Phiền thiên.
Tự tại phóng xả, không còn năng xả, sở xả; một loài như thế, gọi là Vô Nhiệt thiên.
Khéo thấy thế giới mười phương thảy đều đứng lặng, không còn tất cả những cấu nhiễm trầm trọng của trần cảnh; một loài như thế, gọi là Thiện Kiến thiên.
Tri kiến thanh tịnh hiện tiền, sử dụng được không ngăn ngại; một loài như thế, gọi là Thiện Hiện thiên.
Quán sát rốt ráo các cực vi, cùng tột tánh của sắc pháp, vào tánh không bờ bến; một loài như thế, gọi là Sắc Cứu Kính thiên.
A Nan, những bậc Bất Hoàn thiên đó, chỉ riêng bốn vị Thiên vương Tứ Thiền được có kính nghe, nhưng không thể thấy biết; cũng như hiện nay, có các thánh đạo trường nơi rừng sâu đồng rộng thế gian, đều là những nơi trụ trì của các vị A la hán, nhưng những người thô thiển thế gian không thể thấy được.
A Nan, mười tám loài trời đó, tâm thường ở trong định, không dính dáng với trần cảnh, song chưa hết cái lụy của hình hài; từ đó trở về, gọi là Sắc Giới.
Lại nữa, A Nan, từ chỗ cao nhất của Sắc Giới, lại có hai đường rẽ:
Nếu nơi tâm phóng xả, phát minh được trí huệ, trí huệ sáng suốt viên thông, thì ra khỏi cõi trần, thành vị A la hán, vào Bồ tát thừa; một loài như thế, gọi là Hồi tâm Đại A la hán.
Nếu nơi tâm phóng xả, khi thành tựu được sự phóng xả rồi, lại cảm thấy cái thân làm ngăn ngại và tiêu cái ngăn ngại ấy vào hư không, thì một loài như thế, gọi là Không xứ.
Các chất ngại đã tiêu trừ rồi, nhưng không diệt được cái vô ngại, trong đó chỉ còn thức A lại gia và còn nguyên vẹn phần nửa vi tế của thức Mạt na; một loài như thế, gọi là Thức xứ.
Sắc và không đã hết, cái tâm biết là hết ấy cũng diệt trừ, mười phương vẳng lặng, không còn gì nữa; một loài như thế, gọi là Vô Sở Hữu xứ.
Thức tánh vốn không lay động, lại dùng cái diệt mà diệt đến cùng; trong chỗ không thể hết, phát minh nhận cho là hết, nên hình như còn, mà không phải còn, hình như hết, mà không phải hết; một loài như thế, gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ.
Bọn nầy xét cùng cái không, nhưng không tột lý không; nếu từ thánh đạo cõi trời Bất Hoàn mà xét cùng, thì một loài như thế, gọi là Bất hồi tâm độn A la hán. Nếu từ cõi trời vô tưởng và ngoại đạo mà xét cùng cái không, không biết trở về, mê lầm không nghe Chánh pháp, thì sẽ vào trong luân hồi.
A Nan, trên các cõi trời đó, mỗi mỗi đều là những phàm phu hưởng sự báo đáp của nghiệp quả và khi sự báo đáp ấy hết rồi, thì trở vào trong luân hồi. Thiên vương các cõi kia, thường là Bồ tát, dùng Tam ma địa mà lần lượt tiến lên, hồi hướng về đường tu hành đạo Phật.
A Nan, những cõi trời tứ không đó, thân tâm diệt hết, định tánh hiện tiền, không có sắc pháp của nghiệp quả; từ đó đến cuối cùng, gọi là Vô Sắc Giới.
Bọn đó, đều do không rõ Diệu giác minh tâm, chứa nhóm cái vọng, mà giả dối phát sanh ra ba cõi, giả dối theo bảy loài trong đó, mà chìm đắm và cá thể thụ sanh cũng theo từng loài.
Lại nữa, A Nan, trong ba cõi ấy, còn có bốn giống A tu la.
Nếu từ loài quỷ, do sức bảo hộ Chánh pháp, được thần thông vào hư không, thì giống A tu la này, từ trứng sanh ra, thuộc về loài quỷ.
Nếu từ cõi trời, đức kém phải sa đọa, chỗ ở gần với mặt trời, mặt trăng, thì giống A tu la đó, từ thai sanh ra, thuộc về loài người.
Có chúa A tu la, nắm giữ thế giới, sức mạnh đến chỗ không phải sợ ai, có thể tranh quyền với Phạm vương, Đế Thích và Tứ Thiên vương; giống A tu la này, nhân biến hóa mà có, thuộc về loài trời.
A Nan, riêng có một số A tu la thấp kém, sanh trong lòng biển lớn, lặn trong thủy huyệt, ban ngày đi chơi trên hư không, tối về ngủ dưới nước; giống A tu la này, nhân thấp khí sanh ra, thuộc về loài súc sanh.
A Nan, xét rõ bảy loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người và thần tiên, trời và A tu la như thế, đều là những tướng hữu vi tối tăm, giả dối tưởng tượng thụ sanh, giả dối tưởng tượng theo nghiệp; đối với tâm tánh Diệu viên minh, bản lai không năng tác, sở tác, thì đều như hoa đốm giữa hư không, vốn không dính dáng; chỉ một cái hư vọng, chứ không có cỗi gối manh mối gì.
A Nan, những chúng sanh đó, không nhận được tâm tánh bản lai, chịu cái luân hồi như thế trong vô lượng kiếp, mà không chứng được chân tánh thanh tịnh, đó đều do chúng thuận theo những sát, đạo, dâm, hoặc ngược lại ba cái đó, thì lại sanh ra không sát, không đạo, không dâm; có, thì gọi là loài quỷ, không, thì gọi là loài trời; có và không thay nhau, phát khởi ra tánh luân hồi.
Nếu khéo tu tập phát huy phép Tam ma địa, thì trong bản tánh thường diệu, thường tịch, cả hai cái có, cái không đều không và cái không có, không không cũng diệt, còn không có gì là bất sát, bất đạo, bất dâm, làm sao lại còn thuận theo được những việc sát, đạo, dâm.
A Nan, không đoạn được ba nghiệp, thì mỗi mỗi chúng sanh đều có phần riêng, nhân những cái riêng ấy, mà quả báo đồng phận chung của các cái riêng, không phải là không chỗ nhất định; đó là do vọng kiến của tự mình phát sanh ra; hư vọng phát sanh vốn không có nhân, không thể tìm xét nguồn gốc được.
Ông khuyên người tu hành, muốn được đạo Bồ đề, cốt yếu phải trừ tam hoặc; tam hoặc không hết, thì dầu được thần thông, cũng đều là những công dụng hữu vi của thế gian; tập tập mê lầm đã không diệt, thì lạc vào đường ma; tập khí mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma; tập tập mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma; tập khí mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma; tập tập mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma.
Nói như thế ấy, tức là lời nói chân chính; nếu nói khác thế, tức là lời nói của Ma vương.
Khi bấy giờ, đức Như Lai gần chấm dứt thời thuyết pháp, ở nơi sư tử tọa, vin ghế thất bảo, xoay về Tử Kim sơn, trở lại dựa nơi ghế, bảo khắp đại chúng và ông A Nan rằng:
Bọn ông là hàng Duyên giác, Thanh văn Hữu học, ngày nay, đã hồi tâm hướng về vô thượng diệu giác đạo Đại Bồ đề, và tôi cũng đã chỉ dạy phép tu chân chính; nhưng các ông còn chưa biết những ma sự nhỏ nhiệm trong lúc tu chỉ, tu quán.
Nếu cảnh ma hiện ra, ông không biết được, thì sẽ tu tâm không đúng và mắc vào tà kiến; hoặc bị ma Ngũ ấm của ông, hoặc bị Thiên ma, hoặc mắc quỷ thần, hoặc gặp lỵ mỵ, mà trong tâm không rõ, nhận giặc làm con.
Lại nữa, có khi được một ít đã cho là đủ, như Vô Văn Tỳ kheo được Tứ Thiền, nói ma là chứng bậc thánh; đến khi quả báo chư thiên hết rồi, suy tướng hiện ra, thì phỉ báng quả A la hán còn phải thụ sanh, nên đọa vào ngục A Tỳ.
Các ông hãy nghe kĩ, nay tôi sẽ nói rõ cho các ông.
Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 8
Quyển Tám
Đoạn IV: Kết luận về bản nhân của điên đảo để khởi mối cho ý nghĩa tiệm thứ tu tập
“A-nan, như thế, chúng-sinh trong mỗi mỗi loài, cũng đều đủ hết 12 thứ điên-đảo. Cũng như dụi con mắt, thì hoa-đốm đủ thứ phát-sinh ra, chân-tâm diệu-viên trong-sạch sáng-suốt mà điên-đảo, thì đầy-đủ những tư-tưởng càn-loạn giả-dối như vậy. Nay, ông tu-chứng Tam-ma-đề của Phật, thì đối với những tư-tưởng càn-loạn, làm nguyên-nhân cỗi-gốc của các điên-đảo, nên lập ra ba tiệm-thứ mới trừ-diệt được, cũng như, trong khí-mãnh trong-sạch, trừ-bỏ mật-độc, dùng nước nóng và các thứ chất tro, chất thơm rửa-sạch khí-mãnh rồi, về sau, mới đựng nước cam-lộ.”
Đoạn V: Khai thị ba tiệm thứ
“Thế nào gọi là ba tiệm-thứ? Một là tu-tập, trừ các trợ-nhân; hai là chân-tu, nạo-sạch chính-tính; ba là tăng-tiến, trái lại hiện-nghiệp.
Thế nào là trợ-nhân? A-nan, 12 loài chúng-sinh đó trong thế-giới, không thể tự-toàn, phải nương theo bốn cách ăn mà an-trụ, nghĩa là, nương theo đoạn-thực, xúc-thực, tư-thực và thức-thực; vậy nên Phật bảo tất-cả chúng-sinh, đều nương với cái ăn mà an-trụ. A-nan, tất-cả chúng-sinh, ăn thức lành thì sống, ăn thức độc thì chết; vậy, các chúng-sinh, cầu Tam-ma-đề, nên dứt-bỏ năm thứ rau-cay trong thế-gian. Năm thứ rau-cay nầy, ăn chín, thì phát lòng-dâm, ăn sống, thì thêm lòng-giận. Những người ăn rau-cay đó, trên thế-giới, dù biết giảng nói 12 bộ kinh, thiên-tiên 10 phương, hiềm vì nó hôi-nhớp, đều tránh xa cả; các loài ngạ-quỷ, vân vân… nhân trong lúc người kia ăn rau-cay, liếm môi-mép của người đó; người ấy thường ở với quỷ một chổ, phúc-đức ngày càng tiêu, hằng-lâu không được lợi-ích. Người ăn rau-cay đó, tu phép Tam-ma-đề, Bồ-tát, Thiên-tiên, Thiện-thần thập phương không đến giữ-gìn ủng-hộ; Đại-lực Ma-vương được phương-tiện đó, hiện ra thân Phật, đến thuyết-pháp cho người kia, chê-phá cấm-giới, tán-thán dâm-dục, nóng-giận, si-mê; đến khi mệnh-chung, tự mình người ấy làm quyến-thuộc của Ma-vương; khi hưởng-thụ phúc ma hết rồi, thì đọa vào ngục Vô-gián. A-nan, người tu đạo Bồ-đề, phải đoạn-hẳn năm thứ rau-cay; ấy gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ nhất.
Thế nào là chính-tính? A-nan, chúng-sinh như vậy vào Tam-ma-đề, cốt-yếu trước hết, phải nghiêm-chỉnh giữ giới thanh-tịnh, đoạn-hẳn lòng dâm, không dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ-ăn trong-sạch nấu chín, không ăn đồ sống. A-nan, người tu-hành đó, nếu không đoạn dâm-dục và sát-sinh, mà ra khỏi được ba cõi, thì thật không có lẽ như vậy. Nên xem sự dâm-dục như là rắn-độc, như thấy giặc-thù. Trước hết, phải giữ tứ-khí, bát-khí của giới-luật Thanh-văn, giữ thân miệng không lay-động; về sau, hành-trì luật-nghi thanh-tịnh Bồ-tát, giữ-gìn cái tâm không móng lên. Cấm-giới đã thành-tựu, thì ở trong thế-gian, hẳn không còn những nghiệp sinh nhau, giết nhau; đã không làm việc trộm-cướp, thì không còn mắc nợ nhau và cũng khỏi phải trả các nợ kiếp trước trong thế-gian. Con người thanh-tịnh ấy, tu phép Tam-ma-đề, chính nơi nhục-thân cha mẹ sinh ra, không cần thiên-nhãn, tự-nhiên thấy được thập phương thế-giới, thấy Phật nghe Pháp, chính mình vâng-lĩnh thánh-chỉ của Phật, được phép đại-thần-thông, đi khắp thập phương thế-giới; túc-mạng được thanh-tịnh, không còn những điều khó-khăn nguy-hiểm; ấy gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ hai.
Thế nào là hiện-nghiệp? A-nan, người giữ-gìn cấm-giới thanh-tịnh như vậy, tâm không tham-dâm, không hay giong-ruổi theo lục-trần ở ngoài; nhân không giong-ruổi, tự xoay lại về tính bản-nguyên; trần đã không duyên, thì căn không ngẫu-hợp với đâu nữa; trở-ngược dòng về chỗ toàn-nhất, sáu cái dụng không hiện-hành, cõi-nước mười phương sáng-suốt thanh-tịnh, ví-như ngọc lưu-ly, có mặt trăng sáng treo ở trong ấy. Thân tâm khoan-khoái, tính diệu-viên bình-đẳng, được đại-an-ẩn, tất-cả mật-viên tịnh-diệu các đức Như-lai đều hiện trong đó; người ấy liền được Vô-sinh-pháp-nhẫn. Từ đó, lần-lượt tu-tập, tùy cái hạnh phát ra mà an-tập các thánh-vị, đó gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ ba.”
Đoạn VI: An lập các thánh vị
Chi I. – Càn-tuệ-địa.
“A-nan, thiện-nam tử ấy, lòng dục-ái khô-cạn, căn và cảnh không ngẫu-hợp, thân-tàn hiện-tiền, không còn tiếp-tục sinh nữa, nắm cái tâm rỗng-sáng, thuần là trí-tuệ; tính trí-tuệ sáng-suốt cùng khắp, soi-thấu thập-phương thế-giới; chỉ có cái tuệ khô-khan ấy, nên gọi là Càn-tuệ-địa, tập-khí ngũ-dục mới khô-cạn, chưa tiếp-giáp với dòng nước Pháp của các đức Như-lai.”
Chi 2. – Thập-tín.
Tức lấy cái tâm ấy, chính giữa chính giữa lần vào, tính viên-diệu mở-mang, từ chỗ chân-diệu-viên lại phát ra chân-diệu. Tính diệu-tín thường-trụ, tất-cả vọng-tưởng diệt hết không còn, trung-đạo được thuần-chân, gọi là Tín-tâm-trụ.
Chân-tín tỏ-rõ, tất-cả đều viên-thông, ba thứ ấm, giới, nhập không thể làm ngăn-ngại; như thế, cho đến trong vô-số kiếp quá-khứ, vị-lai, tất-cả tập-khí xả-thân, thụ-thân đều hiện ra trước mặt, thiện-nam-tử ấy đều có thể nhớ-nghĩ được, không quên mất gì; gọi là Niệm-tâm-trụ.
Tính diệu-viên thuần-chân, chân-tinh phát-hóa ra, các tập-khí vô-thủy đều thông vào một tính tinh-minh, chỉ dùng tinh-minh ấy, tiến đến chỗ chân-tịnh; gọi là Tinh-tiến-tâm.
Tâm-tinh hiện-tiền, thuần-dùng trí-tuệ; gọi là Tuệ-tâm-trụ.
Nắm-giữ trí-tuệ sáng-suốt, lặng-đứng cùng khắp, tính tịch-diệu thường đứng-lại; gọi là Định-tâm-trụ.
Định-quang phát-minh, đi sâu vào tính sáng-suốt, chỉ có tới, chứ không lui; gọi là Bất-thối-tâm.
Tâm an-nhiên đi tới, giữ-gìn không mất, giao-tiếp với khí-phần thập-phương Như-lai; gọi là Hộ-pháp-tâm.
Giữ-gìn tính giác-minh, có thể dùng diệu-lực xoay từ-quang của Phật về nơi mình và hướng về Phật mà an-trụ, cũng như hai gương sáng đối nhau, trong đó các bóng nhiệm-mầu lớp-lớp lồng nhau; gọi là Hồi-hướng-tâm.
Tự-tâm thầm xoay Phật-quang trở về, được vô-thượng diệu-tịnh thường-trụ của Phật, an-trụ nơi vô-vi, được không bỏ mất; gọi là Giới-tâm-trụ.
Tự-tại an-trụ nơi giới, có thể đi khắp mười phương, tùy nguyện mà đi; gọi là Nguyện-tâm-trụ.
Chi 3. – Thập-trụ
A-nan, thiện-nam-tử đã thành Phật-tử rồi, đầy-đủ diệu-đức vô-lượng của Như-lai và tùy-thuận mười phương; gọi là Hoan-hỉ-hạnh.
Khéo biết làm lợi-ích cho tất-cả chúng-sinh; gọi là Nhiêu-ích-hạnh.
Tự-giác và giác-tha, được không chống trái; gọi là Vô-sân-hận-hạnh.
Theo các chủng-loại mà hiện ra sắc-thân cùng-tột vị-lai, ba đời đều bình-đẳng, mười phương được thông-suốt; gọi là Vô-hận-hạnh.
Tất-cả đều hợp về đồng, nơi các thứ pháp-môn, được không sai-lầm; gọi là Ly-si-loạn-hạnh.
Rồi ở trong đồng, hiện ra các cái khác, nơi mỗi mỗi tướng khác, mỗi mỗi đều thấy là đồng; gọi là Thiện-hiện-hạnh.
Như vậy, cho đến mười phương hư-không, đầy khắp vi-trần và trong mỗi mỗi vi-trẩn hiện ra thập phương thế-giới; hiện vi-trần, hiện thế-giới, không ngăn-ngại nhau; gọi là Vô-trước-hạnh.
Các thứ hiện-tiền, đều là Đệ-nhất-ba-la-mật-đa; gọi là Tôn-trọng-hạnh.
Viên-dung như vậy, có thể thành-tựu quy-tắc của chư Phật mười phương; gọi là Thiện-pháp-hạnh.
Mỗi mỗi đều là Nhất-chân-vô-vi Thanh-tịnh-vô-lậu, vì tính bản-nhiên là như vậy; gọi là Chân-thật-hạnh.
Chi 4. – Thập-hạnh
A-nan, thiện-nam-tử đó đầy-đủ thần-thông, thành-tựu Phật-sự rồi, toàn là một tinh-chân thuần-khiết, xa các lỗi-lầm, chính khi hóa-độ chúng-sinh mà diệt tướng năng-độ, sở-độ, xoay tâm vô-vi hướng về đường Niết-bàn; gọi là Cứu-hộ nhất-thiết chúng-sinh, Ly-chúng-sinh-tướng hồi-hướng.
Xoay cái tính nghe của mình, nhập vào dòng tịch-diệt của Như-lai; gọi là Tùy-thuận Như-lai phương-tiện hồi-hướng.
Quán-sát trí-tuệ, soi-khắp pháp-giới, cảm-ứng khắp nơi, không giới-hạn; gọi là Tận-chân-hồi-hướng.
Thế-gian và xuất-thế-gian đều được thanh-tịnh; gọi là Thanh-tịnh nhất-thiết chúng-sinh hồi-hướng.
Tùy theo các loài chúng-sinh, hiện ra các hình, các loại, mà không rời một niệm; gọi là Tùy-chủng-loại hồi-hướng.
Quán-sát tất-cả chúng-sinh đều có tính đức Như-lai; gọi là Chân-căn tùy-thuận hồi-hướng.
Thế-gian, phi-thế-gian, đều như huyễn-mộng, không sinh không diệt; gọi là Vô-vi hồi-hướng.
Biết các pháp đều như huyễn, như hóa, mà khéo hay phân-biệt, không rời huyễn-hóa; gọi là Tùy-khéo-phân-biệt hồi-hướng.
Viên-mãn thành-tựu, các pháp chân-thực; gọi là Năng-sinh chân-thật hồi-hướng.
Tùy theo sở-nguyện của chúng-sinh, mà hiện ra các cảnh-giới; gọi là Tùy-nguyện vô-ngại hồi-hướng.
Chi 5. – Thập-hồi-hướng
A-nan, thiện-nam-tử đó, đầy-đủ các đức, xoay cái tính nghe, nhập vào dòng tịch-diệt của Như-lai, mà không rời thế-gian, cứu-độ chúng-sinh, đó gọi là Thập-hồi-hướng.
Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 7
Nguyên Nhân Điên Đảo Của Mười Hai Loại Chúng Sanh
A Nan bạch Phật: Bạch Thế Tôn, chúng con từ vô thủy đến nay, do vọng tưởng điên đảo, nên bị luân hồi. Nay được Phật dạy, ngộ được chân tâm, nhưng chưa rõ nguyên nhân điên đảo của chúng sinh. Cúi xin Phật từ bi, chỉ dạy.
Phật bảo A Nan: Chúng sinh từ vô thủy, do ái dục mà sinh vọng tưởng, từ vọng tưởng sinh nghiệp, từ nghiệp sinh khổ. Nguyên nhân điên đảo là do tham ái, sân hận, si mê, che lấp chân tánh. Nay ta nói về mười hai loại chúng sinh: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng.
Mỗi loại do nghiệp duyên khác nhau, nhưng đều từ vô minh mà khởi. Như thai sinh do ái dục giao hợp, noãn sinh do tưởng niệm, v.v. Tất cả đều điên đảo, nhận giả làm chân, nên chịu luân hồi.
Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm
Phật dạy: Để phá điên đảo, hàng ma chướng, ta truyền thần chú Thủ Lăng Nghiêm. Chú này là vua các chú, từ đảnh Phật phóng quang, bao gồm tất cả công đức.
(Phật tuyên chú: Nam mô tát đát tha, tô già đa da, a la ha đế, tam miệu tam bồ đà da... [toàn văn chú dài, tụng để hộ trì, phá ma]).
Phật dạy: Trì chú này phải giữ giới thanh tịnh, tụng 108 biến, kiết giới, lập đạo tràng. Tụng chú, được chư Phật hộ niệm, ma quỷ tránh xa, chứng tam ma đề.
Dâm Giới Và Địa Ngục Dâm Nghiệp
Phật dạy: Giới dâm là căn bản, nếu phạm dâm, rơi vào địa ngục. Có các địa ngục: thiết sàng, đồng trụ, do dâm nghiệp mà chịu khổ. Nam nữ phạm dâm, sau chết rơi vào địa ngục, chịu lửa thiêu, kim châm, v.v.
Phật kể các ví dụ: Như chim uyên ương do dâm mà sinh, nhưng dâm chỉ là vọng, không thật. Chúng sinh phải đoạn dâm, giữ thân khẩu ý thanh tịnh.
Lợi Ích Trì Chú
Trì chú này, như mang áo giáp kim cang, ma không thể hại. Tăng trí huệ, tiêu nghiệp chướng, cứu khổ địa ngục, chứng bồ đề.
A Nan và đại chúng nghe xong, vui mừng đảnh lễ, phát nguyện trì tụng.
Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 6
Ngũ Ấm Ma
Phật dạy A Nan về 50 loại ấm ma, tức các cảnh giới ma quỷ khởi lên khi tu thiền định, do phá ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Đây là các vọng tưởng, ma chướng từ nội tâm hoặc ngoại ma, cần nhận biết để hàng phục, tránh lạc vào tà đạo.
Sắc Ấm Ma (10 loại): Khi phá sắc ấm, hành giả thấy thân mình như lưu ly, trong suốt, hoặc thấy thập phương biến thành lưu ly, thấy các cảnh giới lạ lùng như thấy Phật, thấy chúng sinh nội tạng, hoặc tự cho mình đã chứng thánh, nhưng thật là ma chướng. Nếu chấp vào, sẽ rơi vào tà kiến, như cho rằng không nhân quả, hoặc mê tín dị đoan.
Thọ Ấm Ma (10 loại): Phá thọ ấm, hành giả cảm thọ các trạng thái an lạc, bi ai, hoặc thấy thân mình bay bổng, thấy thập phương chúng sinh đồng loại, hoặc tự cho mình có thần thông, nhưng là ma nhập, dẫn đến tham dục, sân hận, kiêu mạn.
Tưởng Ấm Ma (10 loại): Phá tưởng ấm, hành giả tưởng tượng các cảnh giới như thấy thập phương biến đổi, thấy Phật thuyết pháp, hoặc tự cho mình ngộ đạo, nhưng là vọng tưởng, dẫn đến cuồng si, tà thuyết.
Hành Ấm Ma (10 loại): Phá hành ấm, hành giả thấy dòng chảy nghiệp báo, thấy quá khứ vị lai, hoặc tự cho mình là Phật, nhưng là ma biến hiện, dẫn đến phá giới, hại người.
Thức Ấm Ma (10 loại): Phá thức ấm, hành giả vào cảnh giới không không, vô biên, hoặc tự cho mình chứng niết bàn, nhưng là ma tinh nhập, dẫn đến đoạn diệt kiến, phủ nhận nhân quả.
Phật dạy: "Các ma này đều từ tâm sinh, nếu nhận biết là vọng, không chấp trước, thì tự tiêu diệt. Tu hành phải giữ giới luật nghiêm mật, tâm ngay thẳng, mới tránh ma chướng."
Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối
Phật dạy bốn lời răn dạy thanh tịnh:
Đoạn dâm: Không dâm dục, thân khẩu ý thanh tịnh.
Đoạn vọng: Không nói dối, giữ chân thật.
Đoạn sát: Không sát sinh, từ bi với chúng sinh.
Đoạn đạo: Không trộm cắp, bố thí.
Đây là nền tảng để phá ma, chứng đạo.
Công Đức Trì Kinh
Đọc tụng kinh này, được chư Phật hộ niệm, ma quỷ không dám hại, tăng trí huệ, chứng bồ đề.
Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 5
Mở Sáu Nút
A Nan bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, tuy Như Lai đã dạy về hai nghĩa quyết định. Nay xem trong thế gian những người muốn cởi nút, nếu không biết đầu nút ở đâu, thì con tin chắc là những người ấy không cởi được.
Bạch Thế Tôn, con và hàng Thanh Văn hữu học trong hội chúng này cũng như vậy. Từ vô thủy đến nay, chúng con cùng sanh cùng diệt với các thứ vô minh, tuy được căn lành nghe được Phật pháp như vậy. Tuy được gọi là hàng xuất gia, nhưng như người bị sốt rét cách nhật.
Xin nguyện Đức đại từ thương xót kẻ chìm đắm. Nay ngay nơi thân tâm, xin chỉ cho chúng con thế nào là nút buộc, do đâu mà mở ra. Cũng khiến cho chúng sinh khổ não trong đời vị lai thoát khỏi luân hồi, không rơi vào ba cõi.
Nói lời ấy rồi, A Nan và đại chúng gieo năm vóc sát đất, khóc lóc thành khẩn, ngưỡng trông được nghe lời khai thị vô thượng của Như Lai.
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn thương xót A Nan và hàng hữu học trong chúng hội, lại cũng vì chúng sinh trong đời vị lai, tạo cái nhân xuất thế để làm đạo nhãn cho đời sau.
Đức Phật dùng tay sáng ngời vàng rực như diêm phù đàn xoa đảnh đầu A Nan. Liền khi ấy, các cõi Phật trong 10 phương thế giới đều rung động. Các Đức Như Lai nhiều như số vi trần trong các cõi nước đều có hào quang báu từ đảnh đầu phóng ra.
Hào quang ấy đồng thời từ các cõi nước kia, đến rừng Kỳ Đà, rót xuống đảnh Đức Như Lai, Tất cả đại chúng ở đây đều được điều chưa từng có.
Bấy giờ A Nan và đại chúng đều nghe các Đức Như Lai trong 10 phương nhiều như vi trần đồng thanh bảo A Nan rằng.
Hay thay, A Nan! Ông muốn biết câu sinh vô minh là đầu mối khiến ông phải luân hồi sinh tử, thì nó chính là sáu căn của ông chứ không phải là cái gì khác.
Ông cũng muốn biết Vô thượng bồ đề khiến ông mau được giải thoát an lạc vắng lặng diệu thường, đó cũng chính là sáu căn của ông, chẳng phải gì khác.
A Nan tuy nghe được pháp âm như vậy, nhưng tâm chưa rõ. Cúi đầu bạch Phật: “Tại sao chính sáu căn khiến cho con phải chịu luân hồi sinh tử, và cũng chính sáu căn khiến cho con được an lạc diệu thường chứ không là cái gì khác?”
Đức Phật bảo A Nan: “Căn và trần đồng một gốc, trói và mở chẳng phải là hai. Bản tánh của thức là hư vọng, như hoa đốm giữa hư không.”
A Nan, nhân nơi trần mà phát ra cái biết (của căn), nhân cái căn mà có tướng (của trần). Tướng (phần sở kiến) và kiến (phần năng kiến) đều không có tự tánh, như bó lau gác vào nhau.
Vậy nay chính ông ngay nơi tri kiến, lập nên tướng tri kiến, đó tức là cội gốc vô minh. Chính nơi tri kiến, không có tướng tri kiến, thì đó là vô lậu chân tịnh niết bàn. Làm sao trong ấy còn có vật gì khác? Bây giờ Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này, nên nói kệ rằng:
Trên phương diện chân tánh, các pháp hữu vi là không.
Vì duyên sanh, nên chúng như huyễn.
Vì các pháp là vô vi, nên chẳng sinh chẳng diệt.
Chúng chẳng có thực, như hoa đốm giữa hư không.
Nói vọng để hiển bày cái chơn.
Vọng chơn đều là vọng.
(Chân lý) Vốn chẳng phải chơn lẫn chẳng phải phi chơn.
Làm sao có năng kiến, sở kiến?
(Thức) ở giữa (căn và trần), không có thật tánh.
Thế nên chúng giống như bó lau gác vào nhau.
Buộc và mở cùng một sở nhân.
Thánh và phàm chẳng phải hai đường.
Ông hãy xem tánh chất giữa các cọng lau giao nhau,
Đó chẳng phải là không và có.
Mê mờ nghĩa ấy, tức vô minh.
Hiểu ra nghĩa đó, tức là giải thoát.
Mở nút phải theo thứ lớp.
Khi sáu nút đã được mở, thì một cũng không còn.
Nơi các căn, hãy chọn tánh viên thông.
Được vào dòng, tức thành chánh giác.
Thức A-đà-na rất vi tế.
Tập khí chảy như dòng nước xiết.
Tự tâm chấp lấy tự tâm.
Vốn không phải huyễn, lại thành pháp huyễn.
Chẳng thủ trước, thì chẳng có gì là phi huyễn.
Phi huyễn còn chẳng sinh,
Pháp huyễn làm sao lập?
Đó gọi là Diệu Liên Hoa
Kim Cang Vương Bảo Giác
Như huyễn tam-ma-đề,
Đạn chỉ siêu vô học.
Pháp A-tỳ-đạt-ma nầy,
Chính là con đường duy nhất dẫn đến niết-bàn,
Mà các Đức Thế Tôn (Bạc-già-phạm) trong mười phương đồng tu tập.
Sáu Nút
A Nan chắp tay đảnh lễ bạch Phật: “Con nay nghe Phật mở lòng vô giá đại bi dạy cho chúng con những lời pháp chân thật, thanh tịnh diệu thường. Nhưng tâm chúng con còn chưa được rõ mở từng nút theo thứ lớp, chưa rõ mở sáu nút thì một cũng không còn. Xin Đức Phật lại mở lòng từ bi, thương xót hội chúng này và những chúng sinh trong đời sau, mà ban bố cho pháp âm, để rửa sạch những cấu nhiễm sâu dày của chúng con.”
Liền khi ấy từ toà sư tử, Như Lai chỉnh y niết-bàn tăng, vén y tăng-già-lê, vịn vào bàn thất bảo, tay cầm lên chiếc khăn hoa kiếp-ba-la do chư thiên dâng cúng.
Đức Phật ở trước đại chúng, (từ chiếc khăn) cột thành một nút, đưa cho A Nan xem và Phật hỏi rằng: “Đây là cái gì?”
A Nan và đại chúng đồng bạch Phật rằng: “Đó gọi là nút thắt.”
Đức Phật cột nút khác và hỏi A Nan, “Đây là cái gì?”
A Nan và đại chúng lại đồng bạch Phật rằng, “Đó gọi là nút thắt.”
Đức Phật tuần tự cột từng nút như vậy trên chiếc khăn hoa, tổng cộng thành sáu nút. Mỗi khi cột xong một nút, đều đưa lên hỏi A Nan rằng Đây là cái gì?”
A Nan và đại chúng cũng tuần tự đồng bạch Phật rằng, “Đó gọi là nút thắt.”
Đức Phật bảo A Nan: “Khi Như Lai mới cột khăn lại thì ông gọi là nút, cái khăn hoa nầy, trước đây chỉ một cái, tại sao lần thứ hai, thứ ba, ông vẫn gọi là nút.”
A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, chiếc khăn hoa thêu quý báu nầy vốn chỉ một thể, song theo ý con, khi Như Lai cột một lần thì gọi là một nút, nếu cột 100 lần, thì thành 100 nút. Huống chi khăn nầy chỉ có sáu nút, không đến bảy, cũng không dừng ở năm. Sao Như Lai chỉ gọi cái đầu tiên là nút, mà cái thứ hai thứ ba thì không gọi là nút?”
Đức Phật bảo A Nan, “Cái khăn hoa báu nầy, ông biết nó vốn chỉ là một, khi Như Lai thắt sáu lần thì ông gọi là sáu nút. Ông quán sát kỹ, thấy thể của khăn nầy là đồng, do vì các nút mà thành ra khác.”
Ý ông nghĩ sao? Khi mới cột nút lần đầu thì gọi là nút thứ nhất, như thế cho đến nút thứ sáu. Nay Như Lai muốn gọi nút thứ sáu là nút thứ nhất có được không?
A Nan: Bạch Thế Tôn. Không. Nếu còn sáu nút, thì cái gọi là thứ sáu, rốt cuộc chẳng phải là cái thứ nhất. Dù con có biện bạch hết đời, làm sao có thể lộn lạo tên gọi của sáu nút kia được?
Đức Phật dạy: “Đúng vậy, sáu nút không đồng nhau, Xét về căn gốc, vẫn do một cái khăn mà ra. Nhưng làm cho nó đảo lộn thứ tự thì rốt ráo không thể được.”
Sáu căn của ông cũng giống như vậy. Trong thể tánh tuyệt đối giống nhau, lại sinh ra cái tuyệt đối khác nhau.
Đức Phật bảo A Nan: ‘Ông chắc không muốn có sáu nút nầy, mà chỉ muốn thành một thể, việc ấy phải làm sao?’
A Nan thưa rằng: ‘Nếu còn những nút đó, thì thị phi sẽ nổi dậy, trong đó sẽ tự cho rằng nút nầy chẳng phải là nút kia, nút kia chẳng phải là nút nầy. Nhưng nay Như Lai giải trừ tất cả. Các nút đã không sinh ra thì không có bỉ thử. Đã không có một thì sáu làm sao thành? ’
Đức Phật bảo: ‘Nghĩa mở được sáu, một không còn cũng như vậy.’
Do từ vô thuỷ, tâm ông điên loạn. Tri kiến vọng phát mãi mãi không dừng, làm cho tri kiến sinh mệt nhọc. Như khi con mắt mỏi mệt thì thấy như có hoa đốm không có nguyên nhân gì, hỗn loạn khởi lên trong thể tánh sáng suốt rỗng lặng.
Tất cả các tướng trong thế gian, núi sông đất liền, sinh tử niết bàn, đều là tướng hoa đốm điên đảo, do bệnh mê lầm mà phát ra.
A Nan thưa: “Bệnh mê lầm nầy cũng giống như các nút thắt, làm sao để giải trừ?”
Đức Phật dùng tay cầm cái khăn có nút, kéo mối bên trái, hỏi A Nan rằng, “Thế này có cởi được không?”
A Nan đáp: “Bạch Thế Tôn. Không.”
Đức Phật dùng tay kéo riêng mối bên phải, rồi hỏi A Nan rằng, “Thế này có cởi được không?”
A Nan đáp: “Bạch Thế Tôn. Không.”
Đức Phật bảo A Nan: “Nay Như Lai dùng tay kéo mối bên phải rồi bên trái, rốt cuộc vẫn không cởi được. Vậy ông dùng phương tiện nào mà mở ra được?
A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài phải cởi từ chính giữa, các nút sẽ được mở ra.”
Đức Phật bảo A Nan: “Đúng vậy, đúng vậy. Nếu ông muốn mở nút, ông phải mở từ chính giữa.”
A Nan, Như Lai nói Phật pháp do nhân duyên sinh, chẳng phải là căn cứ vào những tướng hoà hiệp thô trọng của thế gian. Như Lai nhận ra các tướng thế gian và xuất thế gian, biết rõ bản nhân của chúng do nhân duyên gì mà phát sinh ra.
Như thế cho đến một giọt mưa ngoài hằng sa thế giới, (Như Lai) cũng đều biết số mục. Cũng như nay trước mắt ông, các thứ cây tùng thẳng, cây gai cong, chim hộc trắng, chim quạ đen, (Như Lai) đều biết nguyên do.
Vậy nên A Nan, tùy tâm ông lựa chọn trong sáu căn, nếu trừ được nút thắt trong căn ấy rồi, thì trần tướng tự diệt. Các vọng đã tiêu, đó chẳng phải chân thì là gì? A Nan, nay Như Lai hỏi ông: “Cái khăn hoa nầy hiện có sáu nút, nếu đồng thời cởi ra, thì có thể cùng lúc trừ hết được chăng?”
A Nan: “Bạch Thế Tôn. Không. Những nút nầy khi cột lại, vốn có thứ tự. Nay cũng phải theo thứ lớp mà mở. Sáu nút tuy đồng một thể, nhưng cột lại không đồng thời, thì khi mở nút, làm sao cùng một lúc mà mở hết được?”
Đức Phật dạy rằng, “Việc giải trừ các nút nơi sáu căn cũng như vậy. Khi các căn bắt đầu được mở, trước hết sẽ được nhân không. Đến khi tánh không viên mãn sáng suốt, thì thắng nghĩa sinh. Khi thắng nghĩa sinh rồi, thì các căn đều được giải thoát. Các căn đều được giải thoát rồi, thì thắng nghĩa cũng không còn. Thoát khỏi các trần, không còn đối đãi, thì gọi là bồ đề niết bàn.”
A Nan và đại chúng nghe lời Phật dạy, tâm được khai ngộ, đồng tán thán là việc chưa từng có.
Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 4
Hai Mươi Lăm Vị Thánh Trình Bày Viên Thông
Khi ấy, A Nan và đại chúng, nhờ Phật dạy bảo, thân tâm an định, được vô sở đắc. Như người khách xa nhà, nhớ đường về, việc đi đã xong, không còn lạc lối. Cả đại chúng trong pháp hội, biết từ vô thủy, tự thành luân hồi, tâm sinh diệt, chưa từng ngộ chân tâm thường trụ. Nay được chân tâm, như người bệnh khỏi, vui mừng khôn xiết.
A Nan bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, nay con đã ngộ, sáu căn đều có thể cởi nút. Nhưng trong sáu căn, con chưa biết chọn căn nào để tu viên thông. Cúi xin Phật từ bi, chỉ dạy cho con và đại chúng, căn nào dễ vào, căn nào khó, để chúng con chọn lựa."
Phật bảo A Nan: "Ông và đại chúng, nay đã ngộ sáu căn hư vọng, nay ta hỏi ông và 25 vị Thánh ở đây, ai đã chứng viên thông, trình bày phương pháp tu, để làm gương cho chúng sinh hậu thế."
Lúc ấy, 25 vị Thánh: các Bồ Tát và A La Hán, lần lượt đứng dậy, trình bày căn viên thông của mình.
Quan Thế Âm Bồ Tát: "Con nhập lưu vong, phản văn văn tự tính, đắc tam ma đề, chứng bồ đề. Nhĩ căn viên thông hơn hết."
Đại Thế Chí Bồ Tát: "Con quán sát thập phương, duy nhất niệm Phật, niệm lực nhiếp thủ, nhập tam ma địa."
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: "Con quán chiếu ngũ ấm giai không, chứng vô học quả."
Di Lặc Bồ Tát: "Con tu kim cang vương tam muội, hàng phục ma oán."
Hư Không Tạng Bồ Tát: "Con tu như huyễn tam ma đề, hóa hiện tự tại."
Dược Vương Bồ Tát: "Con tu dược sư như lai bản nguyện, cứu khổ chúng sinh."
Dược Thượng Bồ Tát: "Con đồng Dược Vương, tu hành bố thí."
Bạt Đà Bà La Bồ Tát: "Con tu quán thủy đại, chứng vô sinh nhẫn."
Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử: "Con tu hỏa đại, diệt trừ phiền não."
Hư Không Quang Bồ Tát: "Con tu phong đại, động tịnh bất nhị."
Tu Di Đăng Vương Bồ Tát: "Con tu địa đại, kiên cố bất động."
Nguyệt Quang Bồ Tát: "Con tu thủy kính, chiếu soi thập phương."
Bảo Ấn Thủ Bồ Tát: "Con tu hỏa quang tam muội."
Tỳ Sa Môn Thiên Vương: "Con hộ trì quốc độ, hàng phục ác quỷ."
Na La Diên Thiên: "Con tu lực lượng, hộ pháp bất thoái."
Điện Quang Thiên: "Con tu lôi âm, chấn nhiếp ma quân."
Ô Sô Sa Ma Vương: "Con tu từ bi, độ thoát chúng sinh."
Ma Hê Thủ La Thiên: "Con tu trí huệ, chiếu phá vô minh."
Ưu Ba Ly: "Con tu giới luật, thanh tịnh thân tâm."
Xá Lợi Phất: "Con quán thân bất tịnh, chứng vô sinh pháp nhẫn."
Mục Kiền Liên: "Con tu thần thông, du hành thập phương."
Phú Lâu Na: "Con tu biện tài, thuyết pháp vô ngại."
Tu Bồ Đề: "Con quán không tính, chứng vô vi quả."
Ưu Ba Ni Sa Đà: "Con tu khổ hạnh, chứng A La Hán."
A Nan: "Con đa văn đệ nhất, nhưng nay chọn nhĩ căn, phản văn tự tính, như Quan Âm."
Phật khen Quan Thế Âm Bồ Tát: "Nhĩ căn viên thông, thích hợp chúng sinh cõi Ta Bà, dễ tu dễ chứng."
Phật dạy A Nan tu theo nhĩ căn, phản văn văn tự tính, nhập lưu vong, vong sở, sở tức, không sinh diệt.
Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm
Phật phóng quang, tuyên thần chú Thủ Lăng Nghiêm, bảo A Nan trì tụng để hộ trì, phá ma chướng.
Chú: Nam mô tát đát tha, tô già đa da, a la ha đế, tam miệu tam bồ đà da... (toàn văn chú dài, tụng để hộ thân).
Công Đức Trì Chú
Trì chú này, tiêu nghiệp chướng, tăng phước huệ, hộ mạng, trừ tai ương, chứng bồ đề.
Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 3
Lục Nhập
Nhãn Nhập
Lại nữa, A-Nan, tại sao lục nhập vốn là tánh chân như nhiệm mầu từ Như Lai tạng ?
A-Nan! Như mắt kia nhìn chăm chú lâu khiến cho mỏi mệt. Con mắt và tướng mỏi mệt đều là bồ-đề. Tướng nhìn sững quá lâu hoá ra mỏi mệt nhân nơi sáng tối, phát ra cái thấy từ trong hai thứ vọng trần kia, thu nạp trần cảnh, gọi là tánh thấy. Tánh thấy nầy rời hai trần cảnh sáng tối kia, hoàn toàn không có tự thể.
Như vậy, A-Nan! phải biết cái thấy đó, chẳng phải do sáng hay tối mà có, chẳng phải từ mắt mà ra, chẳng phải do hư không phát sinh.
Sao vậy? Nếu tánh thấy từ sáng đến, thì cái tối phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn thấy được cái tối nữa. Nếu tánh thấy từ tối mà đến, thì cái sáng phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn thấy được cái sáng nữa.
Nếu cái thấy từ mắt sinh ra, ắt hẳn không có sáng và tối. Thế nên cái thấy vốn không có tự tánh.
Nếu cái thấy từ hư không mà ra thì khi nhìn, trước tiên sẽ thấy trần cảnh, khi xoay trở về lại, phải thấy được con mắt. Còn như nếu tự hư không thấy được thì có quan hệ gì đến nhãn nhập của ông?
Thế nên phải biết, nhãn nhập là hư vọng. Vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
Nhĩ Nhập
A-Nan, thí như có người lấy hai ngón tay bít chặt hai lỗ tai, do lỗ tai mỏi mệt nên nghe trong đầu phát ra âm thanh. Cả lỗ tai và cái mỏi mệt đều là tánh bồ-đề, do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.
Nhân nơi động tỉnh, phát ra cái nghe từ trong hai thứ vọng trần, thu nạp trần tướng nầy, gọi là tánh nghe. Tánh nghe nầy rời hai trần tướng động tĩnh kia hoàn toàn không có thật thể.
Như vậy, A-Nan! phải biết cái nghe đó, chẳng phải do động hay tĩnh mà có, chẳng phải từ lỗ tai mà ra, chẳng phải do hư không phát sinh.
Sao vậy? Nếu tánh nghe từ tĩnh mà đến thì cái động phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn thấy được cái động nữa. Nếu tánh nghe từ động mà đến, thì cái tĩnh phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn biết được cái tĩnh nữa.
Nếu từ tai sinh ra, ắt hẳn không có động và tĩnh. Thế nên tánh nghe vốn không có tự tánh.
Nếu từ hư không mà ra, đã có tánh nghe, tức không phải là hư không nữa; còn nếu hư không tự nghe được, thì quan hệ gì đến nhĩ nhập (nhĩ căn) của ông.
Thế nên phải biết nhĩ nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
Tị Nhập
A-Nan, ví như có người bít chặt hai lỗ mũi, bít lâu thành ra mỏi mệt. Trong lỗ mũi nghe có cảm giác lạnh, do cảm giác như vậy mà phân biệt được là thông, là ngăn bít, là rỗng, là đặc; cho đến các mùi hương thơm khí thối, cả cái ngửi cùng tướng mỏi mệt đều là thể tánh bồ-đề, do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.
Nhân nơi hai thứ vọng trần thông và bít, phát ra cái ngửi ở trong, thu nạp các trần tượng đó, gọi là tánh ngửi. Tánh ngửi đó rời hai thứ vọng trần thông và bít kia, hoàn toàn không có tự thể.
Như vậy, A-Nan! phải biết cái ngửi đó, chẳng phải từ thông hay bít mà có, chẳng phải do lỗ mũi mà ra, chẳng phải từ hư không phát sinh.
Sao vậy? Nếu (tánh ngửi) từ cái thông mà đến, thì khi bít, (tánh ngửi) đã tự biến mất rồi, làm sao còn biết được bít. Nếu nhân nơi bít mà có (tánh ngửi), thì khi thông sẽ không còn tánh ngửi. Làm sao biết được các mùi thơm thối?
Nếu (tánh ngửi) từ lỗ mũi sinh ra, hẳn không còn có cái thông cái bít. Nên tánh ngửi như vậy vốn không có tự tánh.
Nếu (tánh ngửi) do hư không mà ra, thì cái ngửi đó phải xoay trở lại ngửi được lỗ mũi của ông. Lại nếu như hư không tự ngửi được, thì có dính dáng gì đến chỗ thu nạp (tị nhập) của ông?
Thế nên phải biết tị nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
Thiệt Nhập
A-Nan, ví như có người dùng lưỡi liếm mép, liếm mãi sinh ra mỏi mệt. Nếu người đó có bệnh thì thấy có vị đắng, nếu người không bệnh thì thấy có chút vị ngọt. Do những cảm giác ngọt, đắng mà hiện bày tánh nếm, còn khi không động (không liếm mép) thì thường thấy tánh nhạt. Cả tánh nếm và cái mỏi mệt đều là tánh bồ-đề do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.
Nhân hai thứ vọng trần nhạt và ngọt đắng, phát ra cái biết bên trong, thu nạp các trần tượng đó, gọi là tánh biết nếm. Tính biết nếm ấy rời hai thứ vọng trần ngọt đắng và nhạt kia, rốt ráo không có tự thể.
Thật vậy, A-Nan, ông nên biết rằng cái biết đắng, biết nhạt như vậy, không phải từ vị ngọt, vị đắng mà đến; không phải do tánh nhạt mà có; chẳng phải từ lưỡi sinh ra, cũng không phải từ hư không phát sinh.
Sao vậy? Nếu (tánh nếm) từ các vị ngọt đắng mà đến, thì khi nhạt, cái biết nếm đã biến mất rồi, làm sao biết được nhạt? Nếu từ cái nhạt mà ra thì khi ngọt, cái nếm đã biến mất rồi, làm sao biết được hai vị ngọt và đắng?
Nếu (tánh biết nếm) do lưỡi sinh ra, hẳn không có những vị ngọt đắng và nhạt, thì cái tánh biết nếm ấy vốn không có tự-tính.
Nếu (tánh biết nếm) do hư không mà ra, thì hư không tự nếm, chứ không phải lưỡi biết nếm. Lại nữa nếu hư không tự biết, thì có quan hệ gì đến chỗ thu nạp (thiệt nhập) của ông?
Vậy nên biết rằng thiệt nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
Thân Nhập
A-Nan, ví như có người dùng bàn tay lạnh chạm bàn tay nóng. Nếu bên tay lạnh thấy lạnh nhiều hơn, thì bên tay nóng sẽ lạnh theo; nếu bên nóng thấy nóng hơn, thì tay bên lạnh cũng thành ra nóng.
Như vậy, do cảm xúc nhận biết khi hợp lại này mà rõ được sự nhận biết lúc rời ra. Nếu cái thế chênh lệch hình thành giữa nóng và lạnh, thì do đó mà phát ra tướng mỏi mệt và có cảm xúc. Cả tánh biết xúc cảm cùng cái mỏi mệt đều là tánh bồ-đề chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.
Nhân nơi hai vọng trần ly và hợp, phát ra cái hay biết ở bên trong, thu nạp các trần tượng nầy, gọi là tánh biết cảm xúc. Tính biết cảm xúc nầy, rời hai vọng trần ly và hợp, trái và thuận kia, rốt ráo không có tự thể.
Như vậy, A-Nan, ông nên biết cái cảm xúc đó không phải từ cái ly, cái hợp mà đến; không phải từ cái trái, cái thuận mà có; không phải do nơi thân (căn) mà ra, cũng không phải do hư không mà phát sinh.
Sao vậy? Nếu từ cái hợp mà đến thì khi xa lìa, cái biết đã mất rồi, làm sao biết được sự xa lìa? Với hai tướng trái và thuận kia cũng giống như vậy.
Nếu (tánh biết cảm xúc) từ thân thể mà ra, hẳn không có bốn tướng ly hợp trái thuận, thì tánh biết cảm xúc nơi thân của ông vốn không có tự tánh.
Nếu (tánh biết cảm xúc) từ hư không mà ra, thì hư không tự biết, quan hệ gì đến chỗ thu nạp (thân nhập) của ông?
Vậy nên biết rằng thân nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
Ý Nhập
A-Nan, ví như có người mệt nhọc thì ngủ, ngủ rất sâu rồi thức dậy, nhìn trần cảnh để nhớ lại (những gì đã hiện ra trong giấc ngủ), những gì không nhớ được thì gọi là quên. Các thứ sinh trụ dị diệt điên đảo đó, quen thói thu nạp vào bên trong mà không lẫn lộn nhau. Đó gọi là ý căn. Cả ý căn cùng cái mỏi mệt đều là thể tánh bồ-đề do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.
Nhân nơi hai thứ vọng trần sinh và diệt, nhóm cái biết bên trong. Thu nạp pháp trần bên trong, dòng thấy nghe đi ngược vào trong. Dòng nầy đi vào nơi không cùng tận, gọi là cái ý hay biết.
Cái ý hay biết nầy rời hai trần thức và ngủ, sinh và diệt kia thì rốt ráo không có tự thể. Thật vậy, A-Nan nên biết cái ý căn hay biết như thế, không phải từ nơi thức, nơi ngủ mà đến; không phải do nơi sinh, nơi diệt mà có; không phải từ nơi ý căn mà ra, cũng không phải từ nơi hư không mà phát sinh.
Vì cớ sao? Nếu (cái ý căn hay biết) từ nơi thức mà đến, thì khi ngủ đã theo cái thức mà diệt rồi, còn lấy cái gì làm cái ngủ? Nếu chắc lúc sinh mới có, thì khi diệt, đã hoá như không có rồi, thì lấy cái gì mà biết là diệt? Nếu do cái diệt mà có, thì khi sinh sẽ không có cái diệt, lấy cái gì mà biết là sinh?
Nếu do ý căn mà ra, thì hai tướng thức ngủ thay đổi lẫn nhau nơi thân thể, nếu rời hai tướng ấy ra, thì cái ý hay biết ấy cũng đồng như hoa đốm giữa hư không, rốt ráo không có tự tánh. Nếu (cái ý hay biết) do hư không mà sinh thì tự hư không ấy biết, có quan hệ gì đến chỗ thu nạp (ý nhập) của ông?
Do vậy nên biết, ý nhập là hư vọng, vốn không phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
Thập Nhị Xứ
Cái Thấy & Sắc Trần
Lại nữa, A-Nan, vì sao bản tánh của 12 xứ vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng?
A-Nan, ông hãy xem rừng cây Kỳ-đà và các suối hồ nầy.
Ý ông nghĩ sao. Có phải những sắc trần nầy sinh ra cái thấy, hay cái thấy sinh ra sắc tướng?
A-Nan, nếu cái thấy sinh ra sắc tướng, thì khi thấy hư không chẳng có sắc tướng, lẽ ra tánh thấy sinh ra sắc tướng đã tiêu mất rồi. Đã tiêu mất thì hiển bày rõ hết thảy đều không. Sắc tướng đã không, thì lấy gì rõ bày tướng không? Đối với hư không cũng lại như vậy.
Lại nữa nếu sắc trần sinh ra cái thấy, khi thấy hư không chẳng có sắc tướng, thì cái thấy liền bị tiêu mất. Tiêu rồi thì tất cả đều không, còn ai để rõ được không và sắc tướng?
Do vậy nên biết rằng cái thấy cùng sắc không đều chẳng có nơi chốn. Tức là sắc trần cùng với cái thấy, hai xứ đó đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Cái Nghe và Thanh Trần
A-Nan, ông hãy nghe trong vườn Kỳ-đà nầy, khi bữa ăn được bày dọn xong thì đánh trống, đại chúng sẽ nhóm lại khi nghe tiếng chuông. Tiếng chuông trống trước sau theo nhau.
Ý ông nghĩ sao? Như thế là âm thanh đến bên cái nghe, hay cái nghe đến chỗ âm thanh?
A-Nan, nếu âm thanh đến bên cái nghe, thì như khi tôi đến nhà ông Tỳ Xá La để khất thực, ông Tỳ Xá La đã đi vắng, thì âm thanh đến rồi, khi tôi khất thực nơi khác, thì con ông là âm thanh kia đã ra khỏi, không còn đến nữa.
Tiếng trống kia cũng vậy, khi đánh trống thì nghe tiếng, khi trống ngừng thì tiếng đã đi, không còn nghe nữa.
Nếu cái nghe đến chỗ âm thanh, thì như khi tôi đi đến thành Thất La Phiệt, thì trong vườn Kỳ-đà nầy không có cái nghe.
Như vậy, tiếng và cái nghe, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Cái Ngửi và Hương Trần
A-Nan, ông ngửi mùi chiên đàn trong lò nầy. Lượng chiên đàn nầy đốt lên, nếu trong thành Thất La Phiệt nầy, giả sử có người ngửi được thì số người trong thành, đều bị khói chiên đàn làm cho say mèm. Ý ông nghĩ sao? Mùi hương ấy do gỗ chiên đàn sinh ra, hay do cái ngửi sinh ra, hay do hư không sinh ra?
A-Nan, nếu mùi hương do gỗ chiên đàn sinh ra, thì mùi hương ấy do gỗ chiên đàn đốt lên, khói bốc lên hư không, cái ngửi chưa闻到 thì mùi hương đã từ gỗ chiên đàn ra, thì lẽ ra gỗ chiên đàn đã cháy hết rồi.
Nếu do cái ngửi sinh ra, thì mùi hương do cái ngửi sinh ra, thì cái ngửi lẽ ra phải có mùi hương, mà cái ngửi nếu có mùi hương thì không phải là cái ngửi nữa.
Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có mùi hương, thì hư không lẽ ra phải có mùi hương vĩnh viễn, thì cần gì đốt chiên đàn.
Do vậy nên biết mùi hương và cái ngửi, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Cái Nếm và Vị Trần
A-Nan, ông thường mỗi buổi sáng, cầm bát đi khất thực trong thành Thất La Phiệt, nếu khất được cơm canh, vị chua ngọt đắng cay, ý ông nghĩ sao? Cái vị ấy do thức ăn sinh ra, hay do lưỡi sinh ra, hay do hư không sinh ra?
A-Nan, nếu do thức ăn sinh ra, thì thức ăn đã có vị, thì khi ăn, lưỡi còn biết vị gì?
Nếu do lưỡi sinh ra, thì lưỡi lẽ ra phải có vị, nhưng lưỡi không có vị, thì khi ăn, làm sao biết vị?
Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có vị, thì hư không lẽ ra phải có vị vĩnh viễn, thì cần gì thức ăn.
Do vậy nên biết vị và cái nếm, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Cái Xúc và Xúc Trần
A-Nan, ông thường mỗi buổi sáng, xoa đầu, ý ông nghĩ sao? Cái biết xúc ấy do tay sinh ra, hay do đầu sinh ra, hay do hư không sinh ra?
A-Nan, nếu do tay sinh ra, thì khi không xoa, cái biết xúc đã không, thì khi xoa, làm sao biết?
Nếu do đầu sinh ra, thì đầu lẽ ra phải có biết xúc, thì cần gì tay xoa.
Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có biết xúc, thì hư không lẽ ra phải biết xúc vĩnh viễn, thì cần gì xoa đầu.
Do vậy nên biết cái xúc và cái biết xúc, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Cái Biết và Pháp Trần
A-Nan, ông thường nghe tôi nói pháp, ý ông nghĩ sao? Cái biết ấy do pháp sinh ra, hay do ý sinh ra, hay do hư không sinh ra?
A-Nan, nếu do pháp sinh ra, thì pháp đã có biết, thì khi không nghe, cái biết đã không, thì khi nghe, làm sao biết?
Nếu do ý sinh ra, thì ý lẽ ra phải có biết, thì cần gì pháp.
Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có biết, thì hư không lẽ ra phải có biết vĩnh viễn, thì cần gì ý.
Do vậy nên biết cái biết và pháp, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Thập Bát Giới
Lại nữa, A-Nan, tại sao 18 giới vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tàng?
A-Nan, như ông đã biết, mắt và sắc trần làm duyên sinh ra nhãn thức.
Cái thức ấy do mắt sinh ra, lấy mắt làm giới; hay do sắc sinh ra, lấy sắc làm giới; hay do hư không sinh ra, lấy hư không làm giới?
A-Nan, nếu do mắt sinh ra, thì trong hư không không có sáng tối, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?
Nếu do sắc sinh ra, thì trong hư không không có sáng tối, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?
Nếu do hư không sinh ra, thì hư không không có mắt và sắc, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?
Do vậy nên biết nhãn thức giới là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
A-Nan, như ông đã biết, tai và âm thanh làm duyên sinh ra nhĩ thức.
Cái thức ấy do tai sinh ra, lấy tai làm giới; hay do âm thanh sinh ra, lấy âm thanh làm giới; hay do hư không sinh ra, lấy hư không làm giới?
A-Nan, nếu do tai sinh ra, thì trong hư không không có động tĩnh, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?
Nếu do âm thanh sinh ra, thì trong hư không không có động tĩnh, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?
Nếu do hư không sinh ra, thì hư không không có tai và âm thanh, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?
Do vậy nên biết nhĩ thức giới là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
Các giới khác cũng tương tự, đều là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
Giải Sáu Nút
Phật lấy khăn lụa, buộc thành sáu nút, hỏi A-Nan: Sáu nút này là một hay sáu?
A-Nan thưa: Một khăn, sáu nút.
Phật dạy: Sáu nút này nếu cởi một nút thứ sáu, thì nút thứ nhất có cởi không?
A-Nan thưa: Không.
Phật dạy: Sáu căn cũng vậy, nếu cởi một căn, thì các căn khác tự cởi.
A-Nan thưa: Làm sao cởi?
Phật dạy: Ông chọn một căn viên thông, cởi từ gốc, thì các nút tự cởi.
A-Nan và đại chúng được ngộ, lễ Phật.
Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 2
Tánh Thấy Không Sinh Diệt
Khi ấy ông A Nan cùng cả đại chúng nghe lời Phật dạy, thân tâm thư thái, nghĩ mình từ vô thủy đến nay, bỏ mất bản tâm, lầm nhận sự phân biệt bóng dáng tiền trần làm tâm, ngày nay được khai ngộ như em bé mất sữa, bỗng gặp mẹ hiền, chắp tay lễ Phật, xin Đức Như Lai, ở nơi thân tâm, chỉ ra chỗ chân chỗ vọng, chỗ hư chỗ thật, ở nơi hiện tiền phát minh ra hai tánh sinh diệt, và không sinh diệt.
Khi ấy vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật:
Trước tôi chưa được vâng nghe lời Phật dạy bảo, tôi thấy bọn Ca Chiên Diên, Tỳ La Chi Tử đều nói thân này chết rồi là mất hẳn và gọi đó là Niết bàn; nay tuy được gặp Phật nhưng tôi vẫn còn hồ nghi, xin Phật chỉ rõ thế nào chứng biết tánh không sinh diệt nơi tâm này. Hiện nay các hàng hữu lậu trong đại chúng cũng đều trông mong được nghe điều ấy.
Phật bảo:
Đại vương, thân ông hiện đó, nay tôi hỏi ông: Cái nhục thân đó của ông có như kim cang thường còn, không hư hỏng hay lại cũng biến đổi và tan rã?
Bạch Thế Tôn, thân tôi hiện nay rốt cuộc về sau cũng thay đổi và tiêu diệt.
Phật bảo:
Đại vương, ông chưa hề bị diệt, làm sao lại biết được là phải diệt?
Bạch Thế Tôn, cái thân vô thường thay đổi của tôi đây, tuy chưa hề bị diệt; song tôi xét nó hiện nay niệm niệm dời đổi, mãi mãi không thôi như lửa thành tro, lần lần tiêu mất; vì tiêu mất, mãi mãi không dừng nên tôi biết chắc thân này rồi phải diệt mất.
Phật dạy:
Đúng thế, đại vương, tuổi tác của ông nay đã già yếu, vậy mặt mày của ông so với lúc còn bé thì như thế nào?
Bạch Thế Tôn, lúc tôi bé nhỏ, da thịt mướt mị, đến khi trưởng thành, huyết khí sung túc; nay thì tuổi già, ngày thêm suy yếu, hình sắc khô gầy, tinh thần lẫn lộn, tóc bạc mặt nhăn, chừng sống không được bao lâu nữa, so sánh sao được với lúc đương còn trẻ mạnh!
Phật bảo:
Đại vương, hình dung của ông, nào phải đương trẻ mà già liền đâu?
Vua bạch:
Thưa Thế Tôn, sự biến hóa thầm thầm dời đổi, tôi thật không hay; nắng mưa thấm thoát, lần đến thế nầy. Vì sao? Khi 20 tuổi, tuy gọi là trẻ, nhưng mặt mày của tôi đã già hơn khi 10 tuổi; khi 30 tuổi lại sút hơn lúc 20 tuổi và đến nay đã 60 lại thêm hai tuổi, trông lại lúc 50 tuổi, còn khỏe mạnh hơn nhiều.
Bạch Thế Tôn, tôi thấy thầm thầm dời đổi như thế; thân nầy đến nay tuy đã suy yếu, nhưng trong sự thay đổi, còn chia từng 10 năm. Nếu tôi suy xét chín chắn hơn nữa thì cái biến đổi ấy đâu phải từng một kỷ, thật là mỗi năm mỗi thay đổi; lại đâu mỗi năm mỗi thay đổi mà cũng là mỗi tháng mỗi biến hóa; lại không những mỗi tháng mỗi biến hóa mà còn mỗi ngày mỗi đổi thay; xét cho cùng, nghĩ cho kỹ, trong mỗi sát na, trong mỗi niệm, nó không thể đứng yên, vậy nên tôi biết thân tôi rốt cuộc phải biến đổi và tiêu diệt.
Phật bảo:
Đại vương, ông thấy biến hóa dồi đổi không ngừng, ngộ biết là phải diệt; vậy trong lúc diệt đó, ông có biết trong thân có cái gì không diệt chăng?
Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật:
Thật tôi không biết.
Phật bảo:
Nay tôi chỉ cho ông cái tánh không sinh diệt, đại vương, khi ông mấy tuổi, mới thấy nước sông Hằng.
Vua bạch:
Khi tôi ba tuổi, mẹ tôi dắt đi yết lễ thần Kỳ Bà Thiên thì đã đi qua sông ấy; lúc đó tôi liền biết là nước sông Hằng.
Phật bảo:
Đại vương, như lời ông nói: Lúc 20 tuổi thì sút hơn lúc lên 10, cho đến nay đã 60 tuổi, từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ, dồi đổi mãi mãi; vậy khi ông 3 tuổi thấy nước sông ấy, rồi đến khi 13 tuổi thì nước ấy thế nào?
Vua bạch:
Tôi thấy nước ấy cũng giống khi 3 tuổi, như nhau không khác và đến nay tuổi đã 62, cũng vẫn không khác.
Phật bảo:
Nay ông xét mình đầu bạc mặt nhăn, mặt ông chắc là nhăn hơn lúc trẻ; vậy cái thấy hiện nay của ông thấy sông Hằng so với cái thấy lúc nhỏ thấy sông Hằng, có già trẻ gì không?
Vua bạch:
Thưa Thế Tôn, không.
Phật bảo:
Đại vương, mặt ông tuy nhăn, nhưng cái thấy đó chưa hề bị nhăn; cái bị nhăn thì thay đổi, còn cái không bị nhăn thì không có thay đổi. Cái thay đổi thì phải diệt, còn cái không thay đổi kia, vốn không sinh diệt, làm sao trong ấy, lại nhận sống cái chết của ông, mà ông còn dẫn những thuyết của bọn Mạt Già Lê kia bảo rằng thân này chết rồi diệt hẳn.
Vua nghe lời Phật dạy như vậy, tin biết về sau bỏ thân nầy qua thân khác, cùng với đại chúng nhảy nhót vui mừng, được cái chưa từng có.
Tánh Thấy Không Bị Mất
Ông A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, lễ Phật chấp tay, quỳ dài bạch Phật:
Thưa Thế Tôn, nếu cái thấy nghe đó thật không sinh diệt thì làm sao Đức Thế Tôn lại gọi bọn chúng tôi bỏ mất chân tánh, làm việc trái ngược? Xin Phật mở lòng từ bi, rửa sạch trần cấu cho chúng tôi.
Khi ấy Đức Như Lai rũ cánh tay kim sắc, ngón tay chỉ xuống, bảo ông A Nan rằng:
Ông nay thấy tay Mẫu đà la tôi là chính hay là ngược?
Ông A Nan bạch:
Chúng sinh thế gian cho đó là ngược, còn tôi thì không biết thế nào là chính, thế nào là ngược.
Phật bảo ông A Nan:
Nếu người thế gian cho đó là ngược, thì người thế gian gọi thế nào là chính?
Ông A Nan bạch Phật:
Đức Như Lai đưa cánh tay lên, tay Đâu la miên chỉ lên trên không thì gọi là chính.
Phật liền giơ cánh tay lên và bảo ông A Nan rằng:
Cái trái ngược như thế, chỉ là đầu đuôi thay đổi lẫn nhau; các người thế gian lắp đi lắp lại mà xem thấy. Nay lấy cái thân ông và Pháp thân thanh tịnh của chư Như Lai, so theo đó mà phát minh, thì thân của Như Lai gọi là chánh biến tri, thân của các ông gọi là tánh trái ngược; tùy ông xét kỹ nơi thân ông và thân Phật, cái gọi là trái ngược đó, do ở chỗ nào mà gọi là trái ngược?
Khi ấy ông A Nan cùng cả đại chúng chăm chăm ngó Phật, tròng con mắt không lay động, chẳng biết thân tâm chỗ nào trái ngược. Phật phát lòng từ bi, thương xót ông A Nan và đại chúng, phát tiếng hải triều, khắp bảo trong hội:
Các Thiện nam tử, tôi thường nói rằng: Sắc, tâm, các duyên và các tâm sở, các pháp sở duyên, đều duy tâm tánh biến hiện. Thân ông, tâm ông đều là những vật hiện ra trong tâm tánh. Làm sao các ông lại bỏ mất tâm tánh quý báu ấy, nhận cái mê trong ngộ. Mê muội thành có hư không, trong hư không mê muội ấy, kết cái mê muội thành ra có sắc; sắc xen với vọng tưởng; tưởng tướng làm thân, nhóm các duyên lay động bên trong, giong ruổi theo cảnh vật bên ngoài; rồi lấy cái tướng mờ mịt lăng xăng đó làm tâm tánh.
Một phen lầm cái tướng ấy làm tâm thì quyết định lầm cho rằng tâm ở trong sắc thân, mà không biết sắc thân, cho đến núi sông, hư không, đất liền bên ngoài đều là những vật hiện trong tâm tánh; ví như bỏ cả trăm nghìn biển lớn trong lặng, chỉ nhận một cái bọt nước; rồi cho nó là toàn hết cả nước, cùng tột các biển lớn.
Bọn ông tức là những người mê lầm nhiều lớp, như cánh tay tôi rũ xuống, không có sai khác. Như Lai gọi là đáng thương xót đó.
Ông A Nan vâng nghe lời Phật từ bi cứu độ dạy bảo, khóc lóc tréo tay mà bạch Phật rằng:
Tuy tôi vâng nghe diệu âm của Phật như vậy, ngộ được chỗ thường trụ viên mãn sẵn có của tâm tánh, nhưng tôi ngộ được pháp âm của Phật vừa dạy là tôi hiện lấy tâm phan duyên mà thỏa mãn chỗ ước mong.
Tôi luống được tâm ấy, chưa dár nhận là tâm tánh bản lai; mong Phật thương xót, tuyên lời viên âm, nhổ gốc nghi ngờ của tôi, đem về đạo vô thượng.
Phật bảo ông A Nan:
Bọn ông còn lấy tâm phan duyên mà nghe pháp thì cái pháp nhận được đó cũng chỉ là sở duyên, chứ không phải nhận được pháp tánh. Ví như có người lấy ngón tay chỉ mặt trăng cho người khác thì người kia lẽ ra phải nhân ngón tay mà thấy mặt trăng.
Nếu như người kia xem ngón tay và cho đó là mặt trăng thì người ấy chẳng những bỏ mất mặt trăng mà cũng bỏ mất cả ngón tay chỉ nữa.
Vì sao? Vì nhận ngón tay chỉ làm mặt trăng vậy. Đâu những bỏ mất ngón tay lại cũng không phân biệt được sáng và tối.
Vì sao? Vì lấy ngón tay tối làm mặt trăng sáng thì không rõ biết được hai tánh sáng tối. Ông cũng như vậy. Nếu lấy cái phân biệt pháp âm tôi làm tâm của ông thì cái tâm ấy phải rời cái phân biệt tiếng nói, có tánh phân biệt.
Ví như người khách ngủ trọ quán trạm, ở tạm rồi đi, rốt cuộc ở mãi không được, còn người giữ trạm thì không đi đâu, gọi là chủ trạm. Tâm cũng như vậy, nếu thật tâm ông thì không đi đâu, làm sao rời cái tiếng, lại không có tánh phân biệt?
Nói như thế chẳng những đối với tâm phân biệt các tiếng; cái phân biệt hình dung của tôi, rời các sắc tướng, cũng không có tánh phân biệt; như vậy cho đến cái phân biệt đều không, không phải sắc, không phải không, mà bọn Câu Xá Ly lầm là minh đế, thì rời các Pháp trần, cũng không tánh phân biệt.
Như vậy tâm tánh của ông đều có chỗ trả về, lấy gì mà làm chủ?
Cái Không Thể Trả Về
Ông A Nan bạch:
Như tâm tánh của tôi đều có chỗ trả về, thì tâm tánh diệu minh bất diệt của Như Lai làm sao lại không có chỗ trả về?
Xin Phật thương xót chỉ bảo cho tôi điều ấy.
Phật bảo ông A Nan:
Hãy lấy cái tánh thấy của ông thấy tôi đây. Tánh thấy ấy tuy không phải là tâm tánh diệu minh, nhưng nó như mặt trăng thứ hai, chứ không phải bóng của mặt trăng.
Ông hãy nghe cho chín, nay tôi chỉ cho ông cái nghĩa không thể trả về.
A Nan, đại giảng đường nầy mở rộng phương Đông, khi mặt trời lên thì sáng, nửa đêm vắng trăng, mây mù mờ mịt thì lại tối tăm; chỗ có các cửa thì thấy thông suốt; chỗ có tường nhà thì thấy ngăn bít; chỗ phân biệt được, thấy cảnh sở duyên; trong chỗ rỗng trống, toàn là hư không; cảnh tượng mù mịt khi bụi dấy lên; mưa tạnh trời quang thì lại thấy trong lặng.
A Nan, ông hãy xem các tướng biến hóa nầy, nay tôi đều trả về nơi xuất phát của nó.
Thế nào là nơi xuất phát? A Nan, các tướng biến hóa nầy, sáng trả về cho mặt trời. Vì sao? Vì nếu không có mặt trời thì không có sáng. Nguyên nhân cái sáng là do mặt trời, nên trả về cho mặt trời là đúng.
Tối trả về cho mây mù. Vì sao? Vì không mây mù thì không tối; nguyên nhân cái tối là do mây mù, nên trả về cho mây mù là đúng.
Thông suốt trả về cho cửa sổ. Vì sao? Vì không cửa thì không thông suốt; nguyên nhân cái thông suốt là do cửa, nên trả về cho cửa là đúng.
Ngăn bít trả về cho tường nhà. Vì sao? Vì không tường nhà thì không ngăn bít; nguyên nhân cái ngăn bít là do tường nhà, nên trả về cho tường nhà là đúng.
Cảnh sở duyên trả về cho phân biệt. Vì sao? Vì không phân biệt thì không cảnh sở duyên; nguyên nhân cái cảnh sở duyên là do phân biệt, nên trả về cho phân biệt là đúng.
Hư không trả về cho rỗng trống. Vì sao? Vì không rỗng trống thì không hư không; nguyên nhân cái hư không là do rỗng trống, nên trả về cho rỗng trống là đúng.
Mù mịt trả về cho bụi dấy. Vì sao? Vì không bụi dấy thì không mù mịt; nguyên nhân cái mù mịt là do bụi dấy, nên trả về cho bụi dấy là đúng.
Trong lặng trả về cho mưa tạnh trời quang. Vì sao? Vì không mưa tạnh thì không trong lặng; nguyên nhân cái trong lặng là do mưa tạnh, nên trả về cho mưa tạnh là đúng.
A Nan, các tướng như thế đều có chỗ trả về. Nay ông lại xem, cái thấy các tướng ấy là cái gì? Nó trả về cho ai?
A Nan, nếu trả về cho sáng thì khi tối đến sao không thấy tối? Nếu thấy tối thì không phải là cái thấy trả về cho sáng.
Nếu trả về cho tối thì khi sáng đến sao không thấy sáng? Nếu thấy sáng thì không phải là cái thấy trả về cho tối.
Nếu trả về cho thông suốt thì khi ngăn bít sao không thấy ngăn bít? Nếu thấy ngăn bít thì không phải là cái thấy trả về cho thông suốt.
Nếu trả về cho ngăn bít thì khi thông suốt sao không thấy thông suốt? Nếu thấy thông suốt thì không phải là cái thấy trả về cho ngăn bít.
Nếu trả về cho cảnh sở duyên thì khi rỗng trống sao không thấy rỗng trống? Nếu thấy rỗng trống thì không phải là cái thấy trả về cho cảnh sở duyên.
Nếu trả về cho rỗng trống thì khi cảnh sở duyên sao không thấy cảnh sở duyên? Nếu thấy cảnh sở duyên thì không phải là cái thấy trả về cho rỗng trống.
Nếu trả về cho mù mịt thì khi trong lặng sao không thấy trong lặng? Nếu thấy trong lặng thì không phải là cái thấy trả về cho mù mịt.
Nếu trả về cho trong lặng thì khi mù mịt sao không thấy mù mịt? Nếu thấy mù mịt thì không phải là cái thấy trả về cho trong lặng.
A Nan, cái thấy ấy vốn không có chỗ trả về. Nó không phải là cái thấy của ông, cũng không phải là cái thấy của tôi. Nó là chân tánh thấy, không sinh không diệt, không đến không đi, không phải sáng không phải tối, không phải thông suốt không phải ngăn bít, không phải cảnh sở duyên không phải rỗng trống, không phải mù mịt không phải trong lặng.
Nó là diệu minh chân tánh, vốn sẵn có, không thể trả về đâu cả.
Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 1
Đề Mục Kinh
Kinh Đại Phật Đỉnh, Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm (Suramgama), gọi tắt là Kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Sa môn tên là Bát Lạt Mật Đế, người Thiên Trúc dịch.
Sa môn tên là Di Già Thích Ca người Ô Tràng, dịch theo tiếng Trung Quốc.
Đệ tử thụ Bồ tát giới, tên là Phòng Dung, chức Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự, ghi chép lời dịch.
Phần Thứ Nhất – Phần Tựa
Chương I - Tựa Chung
Như vậy tôi được nghe trong một thời, Phật ở tịnh xá Kỳ Hoàn thành Thất La Phiệt, cùng với chúng đại tỷ khưu một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc vô lậu Đại A la hán. Các vị Phật tử trụ trì, khéo vượt trên chư hữu, ở các quốc độ đầy đủ uy nghi, theo Phật chuyển Pháp luân, có khả năng thật hiện lời di chúc nhiệm mầu của Phật, nghiêm giữ giới luật thanh tịnh để làm khuôn phép cho ba cõi, hiện thân vô số, cứu vớt chúng sinh, tột đời vị lai, khỏi các trần lụy. Các vị tên là: Đại trí Xá Lợi Phất, Ma ha Mục Kiền Liên, Ma ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đà La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà làm thượng thủ.
Lại có vô số các vị Bích chi vô học và sơ tâm đồng đến chỗ Phật giảng đạo. Nhằm ngày các vị tỷ khưu mãn hạ tự tứ, các vị Bồ tát, từ mười phương đến, xin Phật giải quyết nghi hoặc, kính vâng đức Từ Nghiêm, thỉnh cầu nghĩa thâm mật. Đức Như Lai giải pháp tọa, ngồi khoan thai, vì cả trong Hội tỏ bày nghĩa sâu. Chúng Hội thanh tịnh được pháp chưa từng có. Giọng nói của Phật hòa nhã như tiếng chim ca lăng tầng già, nghe khắp mười phương. Hằng sa Bồ tát đều đến đạo trường, có ngài Văn Thù Sư Lợi làm thượng thủ.
Chương II - Tựa Riêng
Duyên Khởi Của Kinh
Khi ấy vua Ba Tư Nặc, nhân ngày kỵ phụ vương, mở tiệc chay mời Phật thụ trai nơi cung cấm; vua sắm đủ các món ăn quý báu, rồi thân đến rước Phật và các vị Đại Bồ Tát. Trong thành lại có các trưởng giả cư sĩ đồng thời cùng trai tăng, chờ Phật đến chứng. Phật khiến ngài Văn Thù chia lãnh các vị Bồ Tát và A la hán đi đến các nhà trai chủ.
Duy có ông A Nan trước đã nhận lời mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự hàng tăng chúng. Ông về một mình, không có Thượng tọa và A Xà Lê cùng đi và ngày ấy cũng không được ai cúng dường. Lúc bấy giờ ông cầm bình bát vào trong một thành trên đường đi, theo thứ lớp khất thực; tâm ông trước hết cầu được một người tối hậu đàn việt làm trai chủ, không kể sang hèn, phát tâm làm sao cho tất cả chúng sinh được viên thành vô lượng công đức. Ông A Nan đã biết đức Phật Thế Tôn quở ông Tu Bồ Đề và ông Đại Ca Diếp làm A la hán mà tâm không công bằng. Ông kính vâng lời dạy vô giá của Phật độ thoát mọi điều chê bai nghi hoặc. Ông đến bên thành, thong thả vào cửa, uy nghi nghiêm chỉnh, kính giữ phép hóa trai.
Trong khi khất thực, ông A Nan đi qua nhà người dâm nữ Ma Đăng Già, bị phép huyễn thuật. Nàng ấy dùng tà chú Tiên phạm thiên đạo Sa Tỳ Ca La bắt vào phòng riêng, dựa kề vuốt ve làm cho ông A Nan gần phá giới thể. Đức Như Lai biết ông A Nan mắc phải dâm thuật, nên dùng trai rồi, liền trở về tịnh xá. Vua cùng đại thần, trưởng giả cư sĩ đều đi theo Phật, mong nghe những pháp chủ yếu của đạo Phật.
Khi ấy trên đỉnh đức Thế Tôn, phóng hào quang bách bảo vô úy; trong hào quang hiện ra tòa sen báu nghìn cánh, có hóa thân của Phật kết già ngồi trên, tuyên đọc thần chú, khiến ngài Văn Thù đem chú nầy đến giúp đỡ, tiêu diệt tà chú, đưa ông A Nan cùng nàng Ma Đăng Già đều về chỗ Phật ở. Ông A Nan thấy Phật, đỉnh lễ khóc lóc, giận mình từ vô thủy đến nay, một bề học rộng nhớ nhiều, chưa toàn đạo lực, tha thiết xin Phật dạy cho những phép Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na, là những phương tiện tu hành đầu tiên để thành đạo Bồ Đề của thập phương Như Lai. Lúc ấy lại có hằng sa Bồ tát, Đại A la hán và Bích chi Phật, từ mười phương đến, thảy đều mong nghe Phật dạy, lui về chỗ ngồi, yên lặng lĩnh thụ thánh chỉ của Phật.
Phần Thứ Hai - Phần Chính Tông
Chương I - Chỉ Ngay Chỗ Viên Ngộ
Mục I - Gạn Hỏi Cái Tâm
Đoạn I - Nêu Trước Nguyên Do Của Thường Trụ Và Lưu Chuyển
Phật bảo ông A Nan: "Tôi với ông đồng phái, tình như anh em ruột; lúc ông mới phát tâm thì ở trong Phật pháp, thấy những tướng tốt gì mà bỏ được những ân ái sâu nặng thế gian?" Ông A Nan bạch Phật: "Tôi thấy 32 tướng của Như Lai tốt đẹp lạ thường, hình thể sáng suốt như ngọc lưu ly, thường tự suy nghĩ: Tướng ấy không thể do dục ái sinh ra, vì sao? Giống dâm dục nhơ nhớp, tanh hôi kết cấu, máu mủ xen lộn, làm sao sinh được thân vàng thắm chói trong sạch sáng suốt như vậy, nên tôi ước mong, cắt tóc theo Phật tu học".
Phật dạy: "Hay thay, A Nan, các ông nên biết hết thảy chúng sinh từ vô thủy đến nay sống chết nối nhau, đều do không biết chân tâm thường trụ, tánh tịnh minh thể, dùng các vọng tưởng, vọng tưởng này không thật, nên có luân chuyển. Nay ông muốn cứu cánh nghiên cứu vô thượng bồ đề, phát minh chân tánh, nên dùng tâm ngay thẳng đáp lời tôi hỏi. Mười phương Như Lai, do tâm ngay thẳng mà thoát sinh tử, tâm ngôn đều thẳng, từ đầu đến cuối, ở giữa cũng không cong queo. Tôi hỏi ông, khi ông phát tâm, vì thấy 32 tướng sáng tốt của Như Lai, vậy ông lấy gì thấy và lấy gì thích?" Ông A Nan thưa: "Tôi dùng tâm và mắt, mắt thấy tướng tốt của Phật, tâm sinh mến thích, vì vậy phát tâm, nguyện ra khỏi sinh tử".
Phật dạy: "Như lời ông nói, chỗ mến thích là do tâm và mắt. Nếu ông không biết tâm mắt ở đâu, thì không thể hàng phục trần lao. Như đánh giặc, vua sai binh trừ giặc, phải biết giặc ở đâu. Làm ông lưu chuyển lỗi tại tâm mắt. Tôi hỏi ông, tâm mắt hiện ở chỗ nào?" Ông A Nan thưa: "Tất cả mười loại chúng sinh trong thế gian, đều cho cái tâm hiểu biết ở trong thân. Tôi thấy con mắt sen xanh của Phật cũng ở trên mặt Phật. Nay tôi quan sát bốn đại thô phù là các căn của tôi, chỉ ở trước mặt, còn cái tâm hiểu biết quả ở trong thân".
Phật dạy: "Ông nay ngồi trong giảng đường của tôi, thấy gì trước hết?" Ông A Nan thưa: "Tôi ở trong giảng đường nhiều tầng rộng lớn thanh tịnh này, trước hết thấy Như Lai, thứ đến thấy chúng, rồi nhìn ra ngoài thấy cây cối vườn rừng". Phật dạy: "Ông nhìn ra vườn rừng, do đâu mà thấy?" Ông A Nan thưa: "Giảng đường này cửa sổ mở rộng, nên tôi ngồi trong này thấy thông ra ngoài". Phật bảo ông A Nan: "Như lời ông nói, ngồi trong giảng đường cửa mở, thấy rừng suối ở ngoài, lẽ đâu người ấy không thấy Phật, mà thấy rừng suối?" Ông A Nan thưa: "Không thể không thấy Phật mà thấy rừng suối ở ngoài". Phật dạy: "Đúng vậy".
Đoạn II - Chấp Tâm Ở Trong Thân
Phật bảo ông A Nan: "Ông nay trong giảng đường, cửa sổ mở rộng, thấy rừng suối ở ngoài, lẽ đâu cái tâm hiểu biết của ông ở trong thân, mà không thấy mắt tai mũi lưỡi ở trong, lại thấy rừng suối ở ngoài. Nếu thấy trong thân, thì trước hết phải thấy ruột gan móng vuốt, tóc lông sinh trưởng, gân chuyển mạch rung. Lại sao không thấy? Nếu không thấy trong, sao thấy ngoài?" Ông A Nan thưa: "Thấy trong thân thì không phải ở trong thân". Phật dạy: "Giả sử đèn ở ngoài phòng, sao có thể soi trong phòng? Nếu tâm ông hiểu biết ở trong thân, thì không thấy trong, giống đèn ở ngoài phòng, không soi được trong phòng. Lời này không lầm, sao trái với nghĩa Như Lai?".
Đoạn III - Chấp Tâm Ở Ngoài Thân
Ông A Nan bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, như Phật dạy, không thấy trong, nên không ở trong thân. Thân tâm biết nhau, không rời nhau, nên không ở ngoài thân. Nay con nghĩ tâm ở một chỗ nào đó giữa hai cái". Phật dạy: "Ông nói tâm ở giữa, cái giữa ấy không được mơ hồ. Sao ông cho là giữa? Chỗ giữa ấy, ở trên thân, hay ở chỗ khác? Nếu ở trên thân, thì ở giữa bề mặt, tức là ngoài, không phải giữa. Nếu ở giữa trong thân, thì giống như ở trong. Nếu ở chỗ khác, thì có dấu biết, hay không dấu biết? Nếu không dấu biết, thì như không. Nếu có dấu biết, thì có phương hướng, như ở giữa thân. Ông tự xem, cái giữa ấy chỉ vào đâu?" Ông A Nan thưa: "Cái tâm suy lường này không ở trong ngoài và giữa, thật như Phật dạy, thân tâm biết nhau, không rời nhau, do ba chỗ quyết định, tâm ở trong thân".
Phật dạy: "Cái tâm của ông nếu ở giữa thân và cánh tay, thì có tự tánh, khi ở trong thân thì thấy trong thân, khi gặp vật ngoài thì thấy ngoài thân. Ví như có người lấy chén lưu ly đậy hai con mắt, tuy có vật đậy, nhưng tánh con mắt không thương tổn, mắt liền thấy vật. Cái tâm ông nếu biết, gặp vật ngoài thì tâm có theo ra biết không? Nếu theo ra biết, thì thấy ruột gan trong thân, sao gọi là biết trong? Nếu không theo ra, thì không thấy vật ngoài. Sao ông nói tâm ở giữa thân biết nhau với thân? Lời này không đúng".
Đoạn IV - Chấp Tâm Ở Chỗ Sở Duyên
Ông A Nan bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, con nghe Phật nói với Văn Thù v.v., tâm không ở trong không ở ngoài. Con nghĩ nếu ở trong thì không thấy ngoài, nếu ở ngoài thì thân tâm không biết nhau. Nay thân tâm biết nhau, mà không thấy trong, tất tâm ở giữa". Phật dạy: "Ông nói giữa, cái giữa ấy phải chỉ rõ. Nay cái giữa ấy ở chỗ nào? Ở trên đất, ở trên hư không, hay ở trên thân? Nếu ở trên thân, ở bề mặt thì không phải giữa, ở trong thì giống như ở trong. Nếu ở trên đất, thì có chỗ dính, chỗ không dính. Nếu không dính, thì như hư không, nếu dính thì như vật. Vật có dấu biết, hư không vô tri, sao thành giữa? Nếu ở trên hư không, thì trên dưới không giữa, khắp mười phương thì không giữa. Ông không biết, trong Như Lai tàng, tánh biết là chân không, tánh không là chân biết, thanh tịnh bản nhiên, đầy khắp pháp giới, tùy chúng sinh tâm, ứng sở tri lượng. Một người ở giữa, thì giữa một người, mười phương hư không cũng vậy. Các giữa không có chỗ nhất định, thì biết giữa ở đâu? Không có chỗ nhất định, tức là hư vọng, không phải chân thật. Vậy tâm ông không ở giữa".
Đoạn V - Chấp Tâm Ở Chỗ Sở Duyên
Ông A Nan bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, con cùng các bạn đường, như Phú Lâu Na và Mục Kiền Liên, cho tâm ở chỗ phân biệt. Như con suy nghĩ, phân biệt, cái hay biết này vì có đối duyên, duyên sở thì ở chỗ duyên. Không phải trong ngoài giữa, không có chỗ nhất định". Phật dạy: "Ông nói ở chỗ duyên, cái duyên ấy có di động hay không? Nếu di động, thì như ở giữa, nếu không di động, thì như ở một chỗ. Duyên sở không phải không chỗ, mà nói có chỗ. Duyên trên sở duyên, sở duyên phi sở, sở duyên phi duyên, hỗn loạn không chỗ. Vậy tâm ông không ở chỗ duyên".
Đoạn VI - Chấp Tâm Ở Phi Sở Hữu
Ông A Nan bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, xưa Phật dạy Văn Thù Sư Lợi v.v., cái thấy không thấy tối là thấy. Tâm không thấy trong là tâm. Con nghĩ cái thấy trước mắt là tâm". Phật duỗi tay vàng bóp đầu A Nan, bảo: "A Nan, cái thấy trước mắt không phải tâm". A Nan thưa: "Đó là tâm con". Phật quở: "Không phải". A Nan đứng dậy bạch Phật: "Nếu không phải tâm, thì là gì?" Phật dạy: "Đó là tiền trần hư vọng tướng, không phải tâm ông. Ông chạy trốn nó, nó theo ông. Nếu không phải tâm, thì sao gọi là tâm?".
Đoạn VII - Chấp Tâm Ở Sở Hữu
Ông A Nan thưa: "Bạch Thế Tôn, con không phải Mục Kiền Liên v.v., họ ngộ được tâm viên minh thường trụ, con chưa ngộ, xin Phật thương xót chỉ dạy". Phật từ bi bảo A Nan và đại chúng: "Các ông còn dùng攀緣 tâm nghe pháp, pháp cũng thành sở duyên, chưa được pháp tánh. Như người chỉ mặt nguyệt, chỉ là chỉ, nguyệt là nguyệt. Pháp tôi dạy các ông cũng vậy. Nếu cho cái thấy nghe suy lường là tâm, thì tâm ấy phải rời các trần sắc thanh hương vị xúc, riêng có toàn tánh. Như ông nay ngồi, rời cái thấy nghe, rời ly hợp, trần tướng, cái hay biết còn lại là tâm. Nếu rời trần tướng, không có phân biệt, thì tâm ấy đồng quy quy tinh. Sao có thể phân biệt pháp tôi? Như người lấy tay bóp hư không, chỉ uổng công, hư không sao bị thương? Phật nói chân tâm, ông cho không phải, như người chỉ vật, vật không phải chỉ. Ông lấy trần làm tâm, nên bị luân chuyển. Từ đầu đến nay, ông nhận giặc làm con, mất nguyên thường, nên bị luân chuyển".
A Nan thưa: "Bạch Thế Tôn, nếu cái hay biết ấy là con, sao con không biết? Cái hay biết ấy không rời con, sao không phải chân tâm?" Phật dạy: "Tất cả chúng sinh từ vô thủy, các vọng tưởng tồn tại, chưa từng nhận bốn đại thường trụ, nhân đó sinh diệt. Ông nay chưa ngộ, cho sinh diệt là tâm. Nên biết chân tâm vô sở trụ, bất sinh bất diệt".
A Nan thưa: "Bạch Thế Tôn, trước con chưa được Phật chỉ dạy, cho tâm như của Ca Lưu Đà Di, ở ngoài thân, nay được Phật khai thị, con dùng tâm nhận, miệng nói, mắt thấy, tay chỉ, đó là tâm con. Nếu không phải, thì là gì?" Phật dạy: "A Nan, đó không phải tâm ông". A Nan kêu to, bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, không phải tâm con, thì gọi là gì?" Phật dạy: "Đó là tiền trần hư vọng tướng, mê hoặc ông chân tánh. Do mê chân tánh, từ vô thủy đến nay, nhận giặc làm con, mất nguyên thường, nên bị luân chuyển".
Mục II - Chỉ Cột Nút Để Chỉ Đầu Nút
Phật bảo A Nan: "Ông tuy nhớ rõ mười hai bộ kinh, nhưng đối với nghĩa liễu của Phật, chưa thông suốt. Nay tôi chỉ cho ông". Phật lấy khăn hoa buộc sáu nút, hỏi A Nan: "Cái này là gì?" A Nan thưa: "Khăn hoa". Phật buộc sáu nút, hỏi: "Cái nút thứ nhất gọi là gì?" A Nan thưa: "Nút". Phật buộc các nút khác, hỏi tương tự. Phật nói: "Sao khăn một, nút sáu?" A Nan thưa: "Khăn bản một, nút do buộc mà có". Phật dạy: "Sáu nút không phải một, một không phải sáu. Theo ý ông, sáu và một đồng thời, hay thứ lớp?" A Nan thưa: "Đồng thời". Phật dạy: "Nếu đồng thời, thì khi buộc ba nút đầu, sao gọi nút thứ ba? Không lẽ nút thứ ba là nút thứ nhất?" A Nan thưa: "Khăn một, nút nhiều, nút thứ nhất không phải thứ hai, thứ sáu không phải thứ nhất". Phật dạy: "Sáu nút tuy khác, nhưng khăn thể một, không thể lẫn lộn. Cái tâm ông cũng vậy, cứu cánh minh liễu, không thể lẫn lộn".
Mục III - Chỉ Cởi Nút Trước Sau
Phật dạy: "Nếu ông không thích sáu nút, thích một khăn, thì cởi nút thứ sáu". A Nan thưa: "Nếu cởi nút thứ sáu, thì các nút khác vẫn còn". Phật dạy: "Sáu căn cũng vậy, đầu cởi thô trược, cuối cùng vi tế". Phật cầm khăn hỏi: "Cởi nút, khăn có hủy không?" A Nan thưa: "Không". Phật cởi từng nút, hỏi: "Sao không cởi nút thứ ba trước?" A Nan thưa: "Nút có thứ lớp". Phật dạy: "Sáu căn cởi cũng vậy, đầu cởi thô, sau cởi tế, cứu cánh viên minh".
A Nan thưa: "Nay con cởi nút, thấy không nút, là khăn bản. Sao Phật nói không phải khăn, không phải nút?" Phật dạy: "Ta đầu hỏi ông khăn một nút sáu, ông nói đúng. Nay xem kỹ, khăn do tơ, màu do nhuộm, nút do buộc. Ông còn chấp tướng, sao trách ta?" A Nan thưa: "Nếu không phải khăn nút, thì không có sáu một. Xin Phật cởi nút cho con". Phật cầm khăn kéo mạnh, hỏi: "Sao?" A Nan thưa: "Không cởi". Phật dạy: "Ta kéo mạnh không cởi, ông kéo một đầu, sao cởi?" A Nan thưa: "Phải cởi từ nút gần". Phật dạy: "Đúng vậy, phải cởi từ nút gần, không thể cách nút mà cởi. Ta thường nói các căn bản chân tâm thanh tịnh. Ông phải phát minh sáu căn hư vọng, cởi nút từ gần, nút kia tự cởi, được samadhi, gọi là Bồ Đề Niết Bàn".
Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.
From the publisher's feed
Kinh A Di Đà 1 phẩm 7 phút
Kinh Kim Cang 32 phẩm 30 phút
Kinh Tâm Kinh 1 phẩm 1…
Kinh Pháp Hoa 28 phẩm 3–4 giờ
Kinh Địa Tạng 13 phẩm 2 giờ
Kinh Lăng Nghiêm 10 quyển 4–5 giờ
Kinh Hoa Nghiêm 80 quyển 40 ngày tụng
Kinh Niết Bàn 40 quyển 20 ngày tụng