Miền ký ức 197X

Miền ký ức 197X

By Cong Han PhamArtsBooks
Download on the App Store

Miền ký ức 197X episodes

  • Chuyện của lũ trẻ chăn trâu

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    Những đêm đông ở quê, thích nhất là được nằm ổ vì nó rất ấm
    và mềm mại. Ổ rơm được bện từ những cọng rơm dài, sau đó xén bằng chằn chặn
    nhìn rất đẹp mắt. Trải chiếu lên cái ổm rơm là được một cái giường đệm thật êm,
    thật ấm. Nó thích nhất cảm giác bốn bố con chen chúc nhau trong ổ rơm, đắp cái
    chăn cũ kỹ, ấm nực. Có những hôm thày vẫn còn làm gì đó ngoài sân, ba anh em
    chui lên ổ trước, bao giờ anh Quốc cũng kể chuyện ma khiến nó và thằng Văn sợ
    xanh mắt, không đứa nào dám nằm ngoài hoặc trong cùng. Trong giấc ngủ chập chờn
    của mùa đông giá lạnh, theo những câu chuyện anh kể, nó hay mơ bị một con ma
    tóc tai rũ rượi thò tay qua cửa sổ bóp cổ. Sợ đến mức nhiều hôm đái dầm ướt hết
    cả ổ rơm.

    9 min
  • Hương xưa vị Tết

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Công Hân

    Nhà nó nằm trong một ngôi làng nhỏ
    ven con sông Cầu nước hiền hoà chảy. Hai bên bờ là những bãi phù sa màu mỡ
    khiến cây cối quanh năm xanh tốt. Ngôi làng mang dáng vẻ điển hình của những
    làng quê đồng bằng Bắc Bộ: Có cổng làng hình bán nguyệt, ao sen bậc xây bằng
    gạch, giếng đào, đường lát gạch nghiêng. Có gốc đa đầu làng xoè tán, mái đình
    cong như trăng lưỡi liềm đêm cuối tháng, có một ngôi miếu cổ ngay bờ sông nghe
    bảo rất linh thiêng. Người già trong làng kể rằng khi xưa có một con chim đậu
    trên nóc miếu ăn quả si và nhả hạt ở đó, thế là sau đó, một cây si mọc lên
    không phải từ đất mà từ mái ngói rêu phong của ngôi miếu cổ. Theo năm tháng, rễ
    cây si bao trùm cả miếu, cắm xuống đất như một tấm lưới rộng bảo về ngôi miếu
    mà không một cơn bão lớn nào có thể làm cho nó suy suyển.

    Ngày xưa quê nó nghèo lắm. Người dân

    trong làng một năm trồng hai mùa lúa và xen canh hoa màu. Mùa đông ở quê rất
    lạnh, gió hun hút, những ngôi nhà xơ xác, mái rơm run rẩy không đủ che ấm cho
    người. Kinh tế chỉ trông vào ruộng lúa, luống khoai… đời sống vô cùng đạm bạc.
    Chính vì vậy, chỉ ba ngày Tết mới được ăn no nê những món ngon. Còn lại những
    tháng ngày khác trong năm là triền miên những ngô, khoai, sắn.

    Tết ở quê nó rất vui. Có lẽ cũng một phần vì nghèo khó, dân

    làng làm lụng cả năm khó nhọc nên dành dụm tất cả cho Tết để mong có ba ngày ăn
    no mặc ấm và tưởng nhớ tổ tiên. Chợ làng 5 ngày 2 phiên. Nhưng năm nào chợ Tết
    cũng họp vào ngày 28 âm lịch, đó có lẽ là ngày vui nhất trong năm.

    Chợ Tết quê vô cùng nhộn nhịp. Nông

    sản bày bán la liệt. Hồi đó còn đốt pháo, tiếng tạch tạch, đì đùng của nó thúc
    giục lũ trẻ con nhanh chân đến chợ. Thịt lợn ngốn mắt, cá tươi từ dưới ao, gà
    trong chuồng lông mượt, ức vàng, da đỏ rất hấp dẫn. Nhưng đông nhất vẫn là
    những bà hàng xén. Thôi thì đủ loại, từ quần áo, dép guốc đến cặp tóc, vòng
    tay, hoa lông gà và trăm thứ linh tinh khác. Trai gái trong làng xúm xít chọn
    lựa, mua những bộ quần áo may sẵn để mặc Tết, họ cười đùa, hồn nhiên và trong
    trẻo.

    Tụi trẻ con thì chỉ quấn lấy những

    hàng bán pháo: pháo tép, pháo cối đỏ rực được cuộn tròn trong túi ni lông, có
    những băng pháo dài hàng mét nhìn rất “khiêu khích” lũ trẻ. Thỉnh thoảng có đứa
    trẻ đốt quả pháo tép làm cả lũ giật mình cười sảng khoái. Nhà nào cũng phải cố
    mua, ít nhất là 2 bánh pháo Bình Đà.

    Những bà mẹ thì tất tả với đủ thứ để

    chuẩn bị cho Tết. Những cái không bao giờ thiếu là lá dong, lá chít để gói bánh
    chưng, ống giang để chẻ lạt buộc bánh, mo cau để gói giò, hai cây mía để thờ,
    một con gà cúng Tất niên. Trong cái thúng kẹp nách đi chợ, bao giờ cũng có rau
    húng, rau thơm, xà lách, ớt tươi và vài quả chanh để bữa trưa ăn… lòng lợn.

    Quê nó có tục lệ thịt lợn vào sáng 29

    Tết. Nhà nào giàu mà nuôi được lợn thì ăn cả con, nhà nào nghèo hơn thì chung
    nhau, mỗi nhà một “chân” nhưng ít nhất thì cũng phải từ hơn 10 cân trở lên để
    đủ dùng 3 ngày Tết.

    Từ sáng sớm, tiếng lợn kêu ụt éc râm

    ran khắp xóm làng. Trẻ con cũng háo hức thức dậy cùng người lớn, chúng chạy
    loanh quanh xem chọc tiết, làm lòng và thế nào cũng nài xin được cái bong bóng
    để thổi nghịch chơi. Tiết được hãm để làm dồi và đánh tiết canh. Thịt được làm
    sạch sẽ, “pha” ra nong và sau đó phân ra từng loại: xương, nạc, mỡ… để dùng vào
    các món chế biến. Công đoạn quan trọng nhất của buổi giết lợn là… giã giò. Thịt
    nạc được thái nhỏ, cho vào cối đá và lúc nào cũng có hai thanh niên khoẻ mạnh
    giã tay, mỗi người một chày nhịp nhàng. Khoảng 10 giờ sáng, tiếng giã giò chí
    chốp nghe thật vui tai. Giò gói bằng những chiếc mo cau trắng nõn được ngâm, cọ
    rửa, phơi phóng…. rất cầu kỳ. Bởi giò có ngon hay không phụ thuộc rất lớn vào
    cái… mo cau và lúc cho vào nồi để luộc.

    Kết thúc buổi giã giò là bữa ăn “tiết

    canh, lòng lợn” không thể thiếu trong mỗi gia đình. Đó là bữa “ăn Tết” đầu tiên
    trong chuỗi những ngày Tết. Sau đó, các mẹ các chị gánh gạo nếp, đỗ xanh đi
    đãi, mang lá dong ra bờ sông để cọ rửa chuẩn bị cho việc gói bánh chưng.

    9 min
  • Chuyện của cậu học trò nghèo

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân


    Hồi đó

    cả làng nghèo rớt mùng tơi, thỉnh thoảng có nhà khá khẩm hơn tí vì có người đi
    làm cơ quan nhà nước. Nó nhớ ông Hai làm Bí thư thôn, được phát báo Nhân dân
    nên  hôm nào nó cũng qua nhà ông đọc ké,
    chả sót chữ nào. Nhà ông Hai có cái xe đạp MiFa oách ơi là oách, cả xóm không
    ai có. Còn nhà nó, “tất lẽ dĩ ngẫu” nghèo rớt nên thày u sắm được một cái xe
    đạp “cởi truồng” cho mấy anh em đi học cấp 3 cũng đã quá giỏi rồi. Cái xe này
    không phanh, không chuông, không gác đờ bu, cứ mỗi lần phanh là phải lấy chân
    chèn vào bánh trước, chuông là cái loa phát ra từ mồm “em đi nhờ tí anh ơi”,
    “bác ơi cháu nhờ tí”, “cô ơi cho cháu đi nhờ tí ạ”…Còn 2 cái bánh thì không hề
    có cái “gác-đờ-bu” (tức là cái chắn bùn) nên hôm nào trời mưa thì cứ là bùn đất
    ngập từ đầu xuống đến đít.

    Nó được

    tiếp quản chiếc xe đạp ấy khi ông anh tốt nghiệp lớp 12 rồi đi bộ đội. Dù xe
    trần truồng, cũ rích và nặng trình trịch nhưng nó khoái thật là khoái. Hồi đầu
    tập xe, đi chân chó, nhấp nha nhấp nhổm như ngồi phải cọc vì không nhoai được
    lên yên xe. Thế mà cũng lượn vù vù, vèo vèo quanh con đường làng đất đỏ bụi mù
    bụi mịt.

    Lớp 10,

    ra huyện học, nó cùng lũ bạn đạp xe đi đi về về mỗi ngày 14 cây số cả thảy.
    Nhiều lần tuột xích, nhảy xuống lắp vào rồi chùi tay lên vạt cỏ ven đê, hoặc
    vặt nắm lá tre, lá dại ven đường lau tạm. Nhiều hôm xích tuột, giắt vào
    cái líp không lôi được ra, vừa muộn học, vừa không dắt nổi xe, chỉ muốn khóc.
    Những lúc như thế, thấy tức quá, tức thày u sao nghèo thế, có cái xe mà cũng
    không ra hồn…cứ trách móc như vậy…

    ***

    Nhiều

    lần khác, nó cũng trách móc thày u lắm. Ví dụ có hôm đi học về, mở nồi cơm ra
    thấy ít là đá thúng đụng nia, mặt sưng vù lên, mồm lẩm bẩm, “đi học về mệt, để cho tí cơm ranh thế này ăn
    làm sao no được, chết đi còn hơn….” Nhiều hôm nói to, thày u ngồi ngoài bàn
    nước chắc là có nghe tiếng, nhưng họ im lặng. Lúc đó, chả hiểu thày u nghĩ gì,
    có khi ghét mình lắm nên mới phần ít cơm như vậy. Thế là tủi thân, vừa ăn cơm
    vừa nước mắt lưng tròng…

    Rồi có

    một chuyện xảy ra, đến tận bây giờ vẫn nhớ như in trong đầu.

    Thường

    thì buổi trưa tan học, cả lũ đạp xe về. Hôm nào học thêm chiều, cả đám cũng vẫn
    về nhà ăn cơm rồi quay lại trường học. Hôm đó nó có việc của lớp không về được
    nên nhờ con Hải cùng xóm, bảo, “mày ăn
    xong sang nhà mang cơm ra cho tao nhé”. Nó ừ nhiệt tình. Khoảng hai tiếng
    sau, con bé hùng hục đạp xe ra. Lúc đó trong lớp có vài ba đứa cũng ở lại ăn
    trưa, bọn này ở xã khác, toàn nhà giàu. Chúng mang cơm nắm, lạc rang, ruốc và
    trứng luộc đi ăn. Cả nhóm bày đồ ăn ra bàn học. Con Hải đưa cho nó cái túi
    bóng, bên trong bọc giấy xi măng. Nó sờ thấy mềm mềm, hình như không phải cơm
    rồi. Vội đứng dậy, nó cầm theo cái túi ra hành lang lớp học mở ra, ôi thôi,
    không hề có cơm nắm muối vừng như nó nghĩ, mà là… bốn củ khoai lang luộc, đã
    nguội ngắt, lạnh tanh từ bao giờ. Lúc đó, nước mắt nó trào ra, nghẹn đắng, vừa
    tủi thân, vừa xấu hổ thậm chí còn thấy hận thày u. Cảm giác lúc đó thật khó tả.
    Nó điên ruột, cầm nguyên cái túi khoai lang ấy đi xuống sân trường, men theo
    đầu hồi tòa nhà, ra toa-lét và vứt tất cả vào trong đó...

    7 min
  • Tháng Mười, nhớ mùa chim Ngói…

    Tản văn của Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    … Nhớ những buổi sáng sớm mùa Thu

    tháng Mười bàng bạc sương, hanh hao gió. Cánh đồng như nhuộm một màu nhung mướt
    bông, mềm mại, bảng lảng. Nó lũn cũn xách cái lồng toòng teng theo thầy đi bẫy
    chim ngói. Thầy rảo chân đi trước, trên vai là chiếc đòn gánh một đầu treo cái
    bẫy khung tre mắc lưới chắc chắn, đầu kia xóc vào chùm cây lá móc, tán xòe
    giống lá cọ nhưng nhỏ như bàn tay để làm lều ngụy trang. Nó vừa đi vừa huýt sáo
    trêu con chim mồi, thỉnh thoảng đưa cái lồng chim ngang mặt, nó chu môi “chít
    chít” như kiểu chim mẹ mớm mồi cho chim con.

    Ra khỏi đầu làng thì mặt trời cũng

    bắt đầu nhô lên qua ngọn núi Lát phía xa xa. Ánh sáng chiếu thành những luồng
    thẳng xuyên qua hàng cây xà cừ cổ thụ rọi xuống đường. Ra đến đồng Giữa, hai bố
    con dừng chân. Cả cánh đồng mênh mông tịnh không một bóng người. Mùa này lúa
    vừa gặt xong, gió heo may về đồng xao xác, chim ngói chính mùa, hàng đàn từ
    phương Bắc bay lại kiếm mồi. Hai cha con ngồi xuống gốc cây xà cừ bỏ cơm nắm ra
    ăn. “Hôm nay có chim không thày?” Nó hỏi. “Nắng đẹp thế này thể nào cũng có,
    trời lành lạnh thì chúng về đông lắm, thóc vương cũng nhiều” - Thày cắn miếng
    cơm nắm nhai ngon lành, mắt nhìn về phía xa áng chừng chờ đợi…

    Nắng đã lên cao, sương tan, cánh đồng

    trở nên vàng rộm. Những thửa ruộng trơ lại những đám gốc rạ lùn, nhìn như bãi
    nấm tòe ra. Mùi rạ ngấm sương đêm, gặp nắng bốc lên ngai ngái, thật thân quen
    và dễ chịu. Những đám lá khúc xanh non mọc sân sấn dưới mặt ruộng, bọn con gái
    trong làng hay đi ngắt lá khúc về phơi khô để Tết gói bánh khúc. Có lần nó và
    chị Toàn cũng đi lấy lá khúc, hai chị em hì hục cả buổi sáng cũng được một rổ
    đầy.

    Thày bắt đầu đi ra giữa đồng giăng

    bẫy. Chiếc lưới được trải xuống, kéo rộng ra, khung tre đã được tính toán kỹ
    lưỡng về độ khít để khi giật dây là nó khép lại nhốt đàn chim trong lưới. Chiếc
    dây dứa buộc hai cái khung được kéo vào “lều” bằng cành lá móc dựng cách đó dăm
    thước. Nó đứng nhìn thày làm, tay vẫn xách cái lồng chim mồi. Xong xuôi, thày
    vãi thóc xuống lưới rồi chui vào “lều” ngồi, nó chui tọt theo. Hai cha con ngồi
    một lúc bỗng thày thò đầu ra ngoài, nói đủ nghe “bọn chim về rồi kìa”. Nó nhìn
    theo hướng tay thầy chỉ, từ phía làng, trên nền trời xanh nhạt, những chấm đen
    lớn dần, dày lên. Thày ấn đầu nó và cùng ngồi thụp xuống. “Khi nào thày hô thì
    mày tung chim mồi lên nhé! - Vâng ạ”. Hai cha con núp lặng trong “lều”. Nó lôi
    con chim mồi ra khỏi lồng, gỡ dây cho đỡ rối, ôm con chim bằng cả hai tay, tư
    thế sẵn sàng. Vài phút sau, thày hô khẽ nhưng dứt khoát: “Thả chim!” Nó dùng
    hai tay hất con chim mồi lên cao, con chim loạng choạng đôi chút nhưng ngay lập
    tức vút lên trời xanh đúng lúc đàn chim bay đến gần, bỗng “phịch”, con chim
    đang bay thì hết dây nên mất đà rơi xuống, cả đàn chim ngói sà xuống theo,
    “nhiều quá, dễ đến gần trăm con”, nó nghĩ. Khi chúng đang mải mê mổ thóc thì
    thày dùng hết sức bình sinh giật mạnh cái dây thừng, cái bẫy bất thình lình
    khép lại, lũ chim đập cánh tán loạn, một số thoát ra ngoài bay vút đi. Hai cha
    con chạy lại, nó thích thú nhìn những chú chim vùng vẫy trong lưới, bắt từng
    con thả vào lồng, miệng đếm, tay bắt…, được gần bốn chục con. Xong, hai cha con
    thu dọn “chiến trường” ra về.



    6 min
  • Đi qua mùa nhớ

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân


    Tháng 7. Mưa ngâu.               

    Cánh đồng chiêm trũng mênh mông nước.

    Nó chưa từng biết biển, chỉ nghe nói rằng biển rộng lắm, tàu bè tấp nập. Có thế
    cánh đồng này không rộng bằng đại dương bao la như trong tưởng tượng của nó.
    Nhưng mỗi khi vào mùa ngâu, nước từ trên trời đổ xuống như thác cũng khiến các
    thửa ruộng ngập nước, xóa nhòa bở thửa, tràn qua cả con mương tiêu, khiến cánh
    đồng trắng xóa một màu nước.

     

    Nó cùng đám bạn đi lấy rau lợn. Tháng

    ngâu mưa nhiều, dưới “dộc” thì ngập nước, trên “nội” lạc, đỗ vẫn xanh um chưa
    đến mùa thu hoạch, thế là dân tình được nghỉ, gọi nôm na là mùa nông nhàn. Bọn
    trẻ trâu thường phải đi cắt cỏ, hoặc đánh cá bằng thuyền te, hay “hãm tài” như
    nó thì đi xuống đồng chiêm trũng mà mò rau lợn, xong rồi cắt bè cỏ năn về cho
    trâu ăn.

     

    Sau trận mưa ngâu mà có năm kéo dài

    đến tận 3 ngày, cả làng quê chìm trong biển nước. Giữa tháng Bảy, mưa rả rích,
    trắng trời. Những năm ngâu nhiều, dân làng lại bảo ông bà Ngâu năm nay chắc
    giận hờn gì nhau nên bà Ngâu khóc suốt, tận 3 ngày không thèm nín. Vì thế, nước
    cứ là tràn trề, thối đất thối cát. Tạnh ngâu cũng là lúc cánh đồng mênh mông
    nước, vài hôm sau thì trở nên trong vắt, nhìn thấy cả cá tôm bơi lượn tung
    tăng. Dưới đáy đồng là những bãi rau dong to bản, mềm lả lướt nhưng ròn tươi,
    mang về thái ra cho vào nồi nấu với cám gạo, khoai bi trở thành món ăn tuyệt
    hảo cho lợn.

     

    Thường sau những ngày ngâu, nó và lũ

    bạn trong xóm lại tòong teeng quang gánh ra đồng. Đứa lấy rau lợn, đứa cắt cỏ
    năn, đứa mò trai, đứa bắt ốc. Nhiều khi khát cổ, cả lũ vục tay xuống mặt nước
    cho lên miệng uống ừng ực. Nước mưa thật ngọt và mát. Có lần vừa uống nước xong
    thì mấy con đỉa ngo ngoe bơi tới, bọn con gái hét toáng lên rồi thi nhau nôn ọe
    ra điều bẩn quá. Lũ con trai thì cười ha hả, bảo, chả có đỉa nào sống được khi
    đã chui vào bụng, a xít trong dạ dày nó giết chết các loại vi trùng. Mà đúng
    thế thật, chả thấy ai uống nước đồng ngâu mà bị đau bụng cả. Từ thời các cụ đã
    thế, đến thế hệ thày u rồi bọn chúng nó cũng vẫn thói quen đó, chả thấy làm
    sao. Chỉ thấy là ngâm nước cả sáng khát khô cổ và khi bụm tay vục nước uống vào
    thấy ngọt lịm, tỉnh cả người.

    Lũ bạn kể, có hôm đi cắt cỏ năn, qua

    bờ đồng Giữa, nhìn xuống “dộc” mênh mông nước, chẳng thấy người nào mà sao có
    tiếng hò lảnh lót ngọt lịm vang lên: “Hò ơ…ơ…ơ. Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất
    sâu, có nỗi thương đau có niềm hi vọng. Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng,
    hương tràm bên anh, mà em đi đâu ớ ơ ơ ơ ơ ờ ớ…”. Cả lũ bảo ai hát ấy nhỉ, thi
    nhau tìm. Rồi bỗng một cái đầu nhô lên khỏi bè cỏ năn đang trôi lềnh bềnh trên
    mặt nước, chính là nó chứ ai. Đấy là những hôm nó đi cắt cỏ sớm, khi mặt trời chưa
    kịp mọc. Một mình kéo xe ba gác ra đồng Giữa, ăn vội nắm cơm, rồi ùm xuống
    “dộc” cắt cỏ. Cỏ năn gặp mùa ngâu nước nổi, nó lớn nhanh và mập mạp, cây nào
    cây nấy to gần bằng cái đũa dài hàng mét, mọc tua tủa từ đáy ruộng đâm lên. Chỉ
    cần lấy liềm khua một cái là hàng loạt cỏ nổi phềnh lên trên mặt nước. Sau khi
    cắt chán thì lấy cái sào đánh đụn chúng lại, vớt tạo thành đống nổi trên mặt
    nước và lùa vào bờ, bốc lên xe kéo về phơi tái để dành cho trâu bò ăn dần. Bọn
    trẻ con hay lấy cỏ năn tết thành các con thú dễ thương lắm, nhất là con dế, con
    cua… Cỏ năn sau khi phơi tái rất dai, có thể bện để làm những cái đai chắc
    chắn, dùng bó những ôm rơm nếp to cất lên gác bếp để dành tuốt chổi rơm. Đoạn
    đường lùa bè cỏ từ giữa cánh đồng vào bờ, bao giờ nó cũng thong dong bơi theo,
    có những đoạn nước nông thì nó đi thật chậm, đằm mình xuống làn nước mát lạnh,
    chỉ nổi cái đầu lên khỏi mặt nước, mồm hát véo von từ chèo Tấm Cám đến cải
    lương Lan Điệp. Mà công nhận nó cũng tài, mấy cái phương trình hóa học đọc mãi
    không thuộc, thế mà mấy bài hát hoặc mấy vở chèo, cải lương nghe trên đài vài
    lần đã thuộc, cứ như mình có “căn” với âm nhạc vậy. Thế nên nó thuộc nhiều bài
    lắm.

    10 min
  • Chiếc radio - món quà vô giá

    Chiếc radio - món quà vô giá

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    Hồi ấy, khi quê còn chưa có điện,

    chưa có tivi, nhà nó có cái đài Xiongmao thì oách lắm, như báu vật. Cứ tầm 5
    giờ chiều, kênh tiếng Việt của đài Trung Quốc lại phát truyện Tây Du Ký. Bọn
    trẻ con ở xóm tụ tập hết bên nhà nó, vây quanh cái đài, nuốt từng câu từng chữ
    và hình dung ra đủ thứ. Nào là Tôn Ngộ Không mắt lửa con ngươi vàng, người đầy
    lông lá có cây gậy Như Ý thần sầu. Nào là Trư Bát Giới hám gái có cái mũi lợn
    và đôi tai như hai cái quạt nan. Rồi thì Đường Tăng đẹp như một Hoàng tử nhưng
    mà suốt ngày bị yêu quái lừa… Bọn trẻ đứa nào cũng muốn làm Tôn Ngộ Không, muốn
    làm anh hùng cứu người. Mỗi chiều, đài chỉ đọc 15 phút, cứ đang đến đoạn gay cấn
    thì ông đọc truyện lại thông báo, “muốn biết Tôn Hành Giả có cứu được Đường
    Tăng hay không, xin mời các bạn đón nghe hồi sau sẽ rõ”. Lúc đó, bao giờ anh
    Lợi Vảy cũng đọc một câu thơ: “Đang vui thì đứt dây đàn/ Đang cơn buồn ị thì
    nàng đến chơi” làm cả lũ lại cười ồ lên, dù thấy nẫu hết cả ruột.

    Nghĩ ngày đó nó cũng ác, ghét đứa nào

    là “phát xít” luôn, còn lâu mới được vào trong sân, cứ là đứng ngoài cổng nhé.
    Nhà nó có cái cổng bằng gỗ, cài then và chốt bên trong nên rất dễ “canh vé”.
    Những đứa bị phát xít thường là những thằng nghịch ngợm suốt ngày quậy phá, học
    dốt và lười. Nó thì cũng hay bị ghét, vì cả cái xóm đấy, cứ đứa nào bị bố mẹ
    quát mắng là y như rằng lấy “thằng Lục nhà ông Soạn” ra để làm gương. Kiểu như,
    “đấy, mày ăn cứt cho nó, nó vừa học giỏi vừa ngoan, không có xe mà nó vẫn đi
    học đều. Còn mày có xe đạp mà suốt ngày trốn học, đồ ăn hại”… Đại loại thế. Cho
    nên bọn kia cứ có cơ hội là “chơi” nó luôn. Có lần đi vào lớp, vừa dợm ngồi thì
    cái ghế băng sập xuống , nó ngã chổng vó lên trời. Cả lũ cười ầm ầm, nó vừa
    đau, vừa quê, vừa cay cú nhưng không làm gì được. Hồi ấy trường nghèo nên bàn
    ghế cũng phải tận dụng đồ cũ. Mấy cái bàn còn có vẻ chắc chắn, nhưng ghế băng
    thì như răng ông bà lão, cứ là long hết cả lay. Thỉnh thoảng lao động cuối tuần,
    cả lớp phải phân công nhau mang tre đi để chèn vào đoạn chân cắm vào tấm băng
    ngồi cho nó chặt khít lại. Nhưng lũ học trò nghịch ngợm, ngồi học mà đung đưa
    các kiểu, thế là chỉ cần “ọp ẹp” một lúc là cái chân ghế lại long ra lủng là
    lủng liểng, chỉ cần đặt mông xuống là ngã bổ chửng ngay tắp lự.

    Cái ngõ nhà nó chỉ có 20 hộ gia đình

    nhưng có đến mười mấy đứa trẻ con, đa phần con trai. Mà sao cái xóm này đẻ ra
    lắm con trai thế không biết. Nhà nó 7 anh em trai, nhà chú Minh bên cạnh có 3
    thằng, nó học cùng lớp thằng cả nhà chú. Trước mặt, ông bà Mạnh cũng có 3 đứa
    con trai, bên trái là nhà ông Sáng 4 thằng con trai, đằng sau là nhà ông Thìn 2
    con trai… và còn nhiều nữa. Nên xóm nó lúc nào cũng náo loạn, đặc biệt là các
    buổi trưa hè, cứ là ầm ĩ cả xóm làng.

    Quay lại chuyện nghe đài. Cái đài này

    là một kỷ vật mà cả nhà đều rất nâng niu, vì nó vừa đáng giá, vừa là kỷ niệm
    của anh Quốc khi ra quân. Nó nhớ buổi tối hôm ấy. Tầm 8 giờ, mùa đông chớm
    lạnh, cả nhà đang ngồi ăn củ luộc thì thấy lạch cạch ngoài sân và tiếng gọi
    “Thày ơi, U ơi”. Cả nhà dừng tay vén mành lao ra. Ôi anh Quốc về, mấy anh em
    reo lên. Thày vội vã quay ngược trở vào nhà cầm cái đèn dầu, khều nó cháy to
    lên rồi lại tất tưởi ra sân. Anh Quốc đi bộ đội về, anh đóng quân ở Đồng Nai,
    đi tàu hỏa về Ga Hàng Cỏ - Hà Nội rồi vẫy xích lô đi 30 cây số về nhà. Trên
    xích lô lỉnh kỉnh bao nhiêu là đồ đạc. Cái ba lô căng phồng quần áo và những đồ
    dùng cá nhân. Mọi người giúp anh chuyển đồ vào trong nhà, anh thanh toán cho
    bác xích lô để bác về luôn kẻo đường xa, lại muộn. U nhanh nhảu vào bếp lấy cái
    lá chuối khô ở góc chạn, chạy lên nhà gói 4 con củ luộc rồi tất tả ra đưa cho
    bác xích lô, bảo, nhà quê chả có cái gì, thôi thì có mấy con củ luộc, chú cầm
    tạm gọi là quà quê. Bác xích lô xúc động nói, dạ cảm ơn bác, thôi em xin phép
    gia đình, em lại nhà kẻo muộn.

    8 min
  • Những mùa đông xa ngái

    Những mùa đông xa ngái

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    Hồi ấy, cứ mỗi mùa đông đến, u lại lôi trong cái tủ lệch cũ

    rích ra một cái bao tải được buộc chặt bằng lạt giang. Cái bao tải ấy nằm yên
    suốt 3 mùa Xuân, Hạ, Thu chỉ được lôi ra khỏi xó tủ tối tăm vào những ngày chớm
    Đông hanh hao gió.

    Nó nhớ trong cái bao tải to đùng ấy, có hai cái ruột chăn

    bông, mà sau khoảng dăm năm, u lại mời một ông làm nghề “bật bông” đi rong
    trong làng về nhà để bật lại. Cứ mỗi lần bật bông là nhà cửa bụi mù toàn… bụi
    bông, trắng như tuyết bám hết lên cả mái nhà, cánh cửa và bất cứ thứ gì ram
    ráp. Sau đó là trận dọn dẹp cũng “hoành tráng” không kém. Cái âm thanh bật bông
    ấy nghe vui tai lắm, cứ “tực tưng, tực tưng…” cả ngày. Họ lấy hai cái thanh gỗ
    đóng thành khung chắc nịch rồi nối hai đầu là những đoạn dây thép. Sau đó, đổ
    bông cũ lên và dùng tay, hoặc một cái dụng cụ mỏng, cứng rồi đánh như đánh đàn.
    Những cục bông sẽ tung tóe bay lên, khi hạ xuống dây thì lại bị đánh tung lên,
    cứ như thế một lúc thì bông nở hết cỡ, thành đống đầy ắp, trắng nõn. Mỗi lần
    bật bông xong, u sẽ cho ruột bông vào cái vỏ chăn con công cũ, nhạt màu có từ
    khi nó chưa ra đời, thỉnh thoảng nó hỏi thì u bảo, bà nội mày mua từ khi tao
    lấy thày mày. Ngày xưa, con gái đi lấy chồng, nhà giàu thì mới có chăn con
    công, còn không, chăn hoa cà cũng đã rất sang trọng. Từ nhỏ nó đã được đắp
    chiếc chăn con công này mỗi mùa đông đến. Chiếc chăn vẽ hình những chú công có
    chiếc đuôi dài và xòe to, màu sắc sặc sỡ. Còn cái chăn hoa cà thì nền màu hồng
    nhạt in hình những bông hoa tím nhìn rất nhã nhặn.

    Không chỉ có mấy cái ruột chăn bông, trong cái bao tải ấy,

    còn có một đống áo rét. Áo trấn thủ trần trái trám là của thày, áo bông hoa cà
    cũ sờn là của u, các anh chị cũng mỗi người một cái áo rét, đa phần là áo len
    cổ lọ hoặc áo mút. Loại áo mút khi mặc nó cứ dính chặt vào người. Những cô gái
    mặc áo mút lộ ra những đường cong rất đẹp. Hồi đó, chị Toàn thuộc dạng xinh
    nhất làng, mắt to đen, tóc dài và miệng cười rất duyên. Chị Toàn có đến hai cái
    áo mút, một cái màu hồng và một cái màu xanh. Mỗi lần vào đông, chị mặc chiếc
    áo mút màu hồng cùng với cái quần sa tanh Nam Định đen nhẫy, tóc chị búi cao để
    lộ cái cổ kiêu sa, bầu ngực căng tròn của tuổi thanh nữ khiến nó nhìn trộm mãi
    mà không thấy chán.

    Nó cũng có một cái áo len, loại cao cổ màu xanh thẫm, được

    đan bằng loại len sợi to thô sều nhưng rất ấm. Chỉ có điều khi mới mặc, những
    đám lông của áo len cứ chạm vào người gây ngứa ngáy, nhặm nhuội, rất khó chịu,
    mãi sau mới quen cảm giác đó. Cái áo len xanh ấy đã gắn bó suốt tuổi thơ của
    nó, dễ đến chục năm mới bỏ. Có những lần, tay áo len đen kịt vì ghét bám vào,
    thế nhưng nó cũng không chịu cởi ra để giặt, phần vì không có áo thay, phần vì
    khi đã mặc vào người rồi thì sẽ rất ấm, không ai muốn cởi ra trong khi thời
    tiết buốt lạnh cả. Anh Sáu bảo, trâu bò cả năm nó không tắm có chết đâu, áo bẩn
    cũng đếch làm sao. Thế là thôi, chả giặt nữa.

    7 min
  • Gió đồng hun hút

    Gió đồng hun hút

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân


    Nó ngọ nguậy trong cái chăn bông hoa cà cũ rích, ấm nực. Thày hỏi khe khẽ, Lục dậy chưa? Nó oằn

    oèo ngái ngủ: Rồi! Thày bỗng tỉnh táo hẳn lên, giọng thúc giục: dậy đi, xem chị
    mày luộc củ xong chưa, ăn tạm mấy con rồi mang gà ra đồng chứ! Nó nằm im thít,
    chả phản ứng gì. Cái hơi ấm của thày, của thằng Văn làm nó như say như nghiện,
    ấm đến thế là cùng. Nghe mơ màng, loáng thoáng tiếng loạch xoạch ở dưới bếp,
    chắc chị Toàn đang luộc củ, nó đoán thế, vì nghe tiếng rơm cháy lép tép, lách
    nhách và mùi khói thơm ngái bay cả lên khắp nhà.

    Thày bỗng vặn mình tốc chăn ra, vỗ

    vào người nó một cái khá mạnh: dậy đi, còn nằm đến bao giờ? Giọng thày quyết
    liệt, dứt khoát. Nó vùng dậy, hít một hơi thật sâu rồi bước qua người thằng
    Văn, nhảy uỵch xuống đất. Thày cũng dậy trước đó vài khắc, đang đi ra vườn. Nó
    đứng trong nhà, nhìn qua tấm mành tre xuyên qua sân,  trời lem nhem sáng, bàng bạc sương. Ánh lửa
    hồng bập bùng hắt lên tường bếp thật ấm áp. Nó “xoát xoát” hai bàn tay vào nhau
    cho nóng lên, đoạn xoa lên mặt, hai dái tai, cổ cho ấm…. rồi lặp lại lần nữa.
    Xong xuôi, nó vén mành, lò dò bước ra sân.

    Cái sân gạch ẩm ướt bởi sương đêm.

    Những cọng rơm rơi thành lối từ đống rơm vào bếp cũng mềm mụp vì ẩm ướt, chắc
    chị Toàn phải ra rút rơm đến vài lần mà nồi củ chưa chín. Ngửa mặt lên trời,
    hít thêm một hơi thật sâu, nó cảm nhận được cái lạnh chui tọt vào cổ, những hạt
    sương lây rây đậu lên mặt, nó lấy tay vuốt khẽ rồi nhón chân vào bếp. Chị Toàn
    đang đều tay đẩy rơm, tay kia cầm cái “que đời” , tãi rơm ra cho cháy nỏ và đều
    khắp. Ngọn lửa bập bùng dưới đít xoong, có lúc cháy to quá vọt lên trên vung
    tạo thành hàng rào lửa nhọn và mềm. Chị ngồi trên chiếc “chế cục” sát bếp, má
    ửng đỏ. Mái tóc dài được “cột” chắc chắn bằng chiếc cặp ba lá bản to trắng tinh,
    gọn gàng buông  chùng xuống quét đất.
    Thỉnh thoảng chị lại khe khẽ hát: “Còn duyên là duyên kẻ đón, a la đón người
    đưa, hết duyên là duyên đi sớm a la sớm về trưa chứ trưa mặc lòng…”.

    Òa! Nó bất thần “hù” nhẹ, bàn tay vỗ

    lên lưng khiến chị Toàn giật mình “chưởi” yêu: Sư mày, làm chị hết hồn! Nó ôm
    cổ chị và hỏi, củ chín chưa? Em xin mấy “con” nào! Chắc là được rồi, để chị thử
    xem mềm chưa đã. Chị trả lời, cùng lúc lấy chiếc que đời nhấc cái vung ra.
    Nghiêng người về phía chạn bát, chị với tay lấy cái đũa dài, nhọn rồi nhổm dậy
    chọc chọc vào nồi. À, mềm mụp rồi. Nó nài nỉ, chị ơi xem có con củ Hàm long nào
    không? Chị cốc nhẹ đầu nó, làm gì có củ Hàm long, toàn củ tím, mày có tìm đến
    tết cũng chả có con củ Hàm long nào đâu. Nó đứng dậy, qua chạn lấy cái bát “chí
    yêu” mang ra chỗ chị: Cho em 3 con
    nhé! Chị Toàn lấy đũa xọc từng củ khoai lang rồi tuốt vào bát nó. Những con củ
    vừa chín tới, bốc khói nghi ngút. Nó bê bát củ đi ra ngoài. Chị Toàn cũng dập
    lửa, lấy cái chổi lúa quét quáy dọn dẹp rồi bước ra sân. Chiếc quần sa tanh đen
    còn dính đầy những cọng rơm nhỏ, chị tất tả ra giếng múc nước để lát nữa rửa
    mặt cho thằng Văn…

    Loáng cái nó đã chén xong 3 con củ,

    trời vẫn còn chưa sáng rõ. Tiếng gà vẫn gáy râm ran. Nó vào trong nhà mặc thêm
    cái áo trấn thủ “trần trái trám” tuy không có tay nhưng ấm nực. Đây là món quà
    mà chú Thục đi bộ đội Điện Biên Phủ mang về tặng thày. Nó chui đầu vào mặc rất
    nhanh, xoay qua xoay lại chỉnh cho cân đối rồi khoác chiếc áo tơi ra ngoài.

    Nó ra nhà ngang, với cái nón đội lên

    đầu, rút cái roi tre có gắn chùm vải rách te tua ở đầu, kéo chiếc xe ba gác ra
    sân, đẩy sát cửa chuồng gà. Quành qua góc vườn, ngay chân đống rơm, nó lôi hai
    cái lồng gà ra xếp lên xe, rồi mở cửa chuồng, lùa đàn gà vào. Đứng chờ một lúc
    thì chị Toàn từ bếp chạy ra, đưa cho nó gói cơm nắm. “Hết vừng lạc rồi, ăn tạm
    muối cộ rang nhé”, chị nói nhẹ và cười duyên. Nó “vầng” khẽ, cảm thấy ấm lòng.
    Chưa khi nào nó thấy chị gái mình có nụ cười đẹp và ánh mắt gần gũi đáng yêu
    đến thế.

    9 min
  • Chuyện những đêm hè

    Chuyện những đêm hè

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân


    Hồi bé, tầm bảy tám tuổi gì đó, nó được anh Quốc mua cho một quyển truyện tranh đen trắng với tựa đề Trần Quốc

    Toản ra quân. Đây là cuốn truyện mà khi anh đi “cắm trại huyện” mua về làm quà
    cho nó. Đêm ấy trăng sáng vằng vặc, u sàng gạo ở góc sân chẳng cần đèn dầu. Nó
    sải chiếu ở giữa sân nằm sấp ngấu nghiến cuốn sách. U thấy thế bảo, mày vào
    châm đèn mà đọc không thì hỏng mắt đấy. Nó cãi lại, trăng sáng thế này cần gì
    phải đèn, con đọc được. U mắng vốn, mày chỉ giỏi cãi. Đấy cứ đọc đi, rồi mai
    kia mờ mắt thì đừng kêu ca nhé.

    Nó lờ đi lời dạy của u, vì quả thực

    là trăng sáng quá, sáng đến mức nó nhìn rõ cả những cái vân li ti trên nền
    giấy. Biết u lo lắng nhưng mà thắp đèn thì nhiều con thiêu thân lao vào, mà nằm
    đọc “chay” thế này vẫn rõ mồn một mà lại có cảm giác lạ lẫm, thú vị. Chỉ một
    loáng, nó đã đọc xong quyển truyện, nằm ngửa ra úp sách lên ngực, ngước mắt lên
    bầu trời xa tít, nơi có ông trăng tròn vành vạnh và ngàn sao li ti mờ xa. Nó mơ
    màng và tưởng tượng mình đang bay giữa dải ngân hà, chạm tay vào chòm sao Thần
    Nông rồi bay sang ngôi sao Mai sáng quắc lúc gần sáng. Nó cũng từng tưởng tượng
    nếu gặp chú Cuội trên cung trăng, thì sẽ hỏi là có phải vì “tè bậy” mà cái cây
    đa bật gốc bay lên trời hay không? Bởi nó và bọn trẻ con hàng xóm tối nào đi chơi
    về qua cây đa đầu làng cũng xúm vào tè bậy, mà chả thấy cái rễ nào bật lên và
    cây đa vẫn cứ vững chắc và xum xuê lá.

     

    Nhà nó ở đầu xóm, trước mặt là ao,

    nhìn qua bên kia là cánh đồng lúa bát ngát, nên mùa hè, gió nồm nam lồng lộng
    thổi từ biển vào, mát lịm. Nó hay sải chiếu trên hiên nhà, hoặc dưới sân nằm
    học bài hoặc chơi đánh bài tam cúc với thằng Văn. Nhiều đêm nằm nghe đài với u,
    hương cau thoang thoảng thật dễ chịu. Hai u con thích nhất là tiết mục Tiếng
    thơ và chương trình dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc. Nửa đêm nghe giọng
    ngâm của cô Lài Tâm, Kim Cúc thấy xốn xang trong lòng. U thì bảo, tao nghe
    tiếng thơ cho nó dễ ngủ, còn nó thì thích cái chương trình dành cho đồng bào
    Việt Nam ở xa Tổ quốc vì hay có hát Cải lương và Chèo nghe rất mùi mẫn và ngọt
    tai.

     

    Có những đêm hè trăng thanh gió mát,

    cả lũ trẻ con rùng rùng rủ nhau xuống nhà ông Phi để xem vô tuyến. Hồi ấy cả
    làng có nhõn cái vô tuyến đen trắng mà con trai ông Phi mang từ Liên Xô về. Lần
    đầu được xem, nó cứ lởn vởn trong đầu câu hỏi, tại sao người ta lại có thể chui
    vào trong cái hộp to chỉ như cái thúng mà nói nhồm nhồm trong đó, lại còn bắn
    súng, phi ngựa nữa. Tài thật! Có đêm nó nằm mơ thấy mình chui vào trong vô
    tuyến, mặc bộ long bào y như vua Lý Nhân Tông trong vở chèo Lý Nhân Tông kế
    nghiệp mà đoàn chèo Hà Bắc diễn trong hội làng đầu Xuân năm ấy.

    4 min
  • Ký ức về cha

    Tản văn của nhà báo Ngô Bá Lục

    Giọng đọc: Nhà báo Công Hân

    Đêm đông

    Nó ngọ nguậy trong chăn ấm, cái chăn bông hoa cà từ thuở nảo

    thuở nào cũng chẳng biết nữa, chỉ biết rằng cái chăn bông cũ rích ấy đã làm bạn
    với nó suốt những mùa đông thời thơ ấu. Nghe mơ hồ tiếng soàn soạt đều đều, nó
    kéo tụt chăn ra khỏi mặt, thấy ánh sáng vàng vọt hắt ra từ chiếc đèn dầu đặt
    trên cái bàn gỗ cũ kỹ. Thầy ngồi tựa lưng vào thành giường, thoăn thoắt vót tăm
    hương, cái thành giường có hình những chiếc nan quạt rất đẹp, trơn bóng vì thời
    gian. Thầy miệt mài vót, lưỡi dao lướt trên thanh tre ngọt sắc. Thằng Văn ngọ
    nguậy rồi lẩm bẩm, thầy ơi em tè. Thầy ngừng tay vạch chăn ra, Lục dậy đưa Văn
    đi tè con. Nó nằm im giả vờ say ngủ. Thấy vậy thầy lặng lẽ bế thằng Văn lên, đi
    ra ngoài vườn. Nó thấy một khoảng trống, lạnh và hút gió. Cảm nhận sự thiếu hụt
    của thầy và thằng em thật rõ.

    Trưa hè

    Nắng tháng sáu như đổ lửa. Cánh đồng xa xa như có khói bốc

    lên, nhoè nhoẹt và mơ hồ. Bụi tre đầu xóm, lũ trẻ trốn ngủ trưa chơi đánh khăng
    cãi nhau ỏm tỏi. Nó không thích trò chơi này vì sợ con khăng bay vào mắt, ngồi
    đánh tú lơ khơ quỳ với bọn khác, an toàn mà vẫn rất vui. Chỗ này rất thoáng mát
    nên lũ trẻ không trưa nào vắng mặt. Bụi tre cạnh ao làng, lũ trẻ đánh khăng
    chán chê, reo hò ầm ĩ rồi nhảy bùm bùm xuống tắm. Mày tắm không? Tao sợ thầy
    lắm. Sợ gì, tắm một tý thôi. Nó chưa kịp nói gì tiếp theo thì thằng bạn lôi tùm
    xuống ao, ướt hết. Nó cười khanh khách, cả lũ cùng cười. Bọn nó lặn ngụp, mặc
    cho nước bùn nổi lên đục ngầu. Ê, Lục thi lặn không? Tao sợ ngạt mũi. Sợ gì,
    bịt vào làm sao mà ngạt. Nó đồng ý liền, ngụp xuống lại trồi lên ngay. Sao thế?
    Tao thấy tối mù chả nhìn thấy gì. Ối giời, ngu thế! Mở mắt ra chứ. Nó lại ngụp,
    mắt mở to, toàn thấy màu vàng. Khoát tay trườn về phía trước, người nổi lên nó
    lại ngụp xuống. Bọn nó vừa tắm vừa reo hò, chạy lên bờ lại lao tùm xuống nước.
    Nó cũng thế, theo chân lũ bạn, thoăn thoắt trèo lên cây phượng gù chĩa cành ra
    bờ ao, lom khom bò ra phía đầu cành, rồi đứng lên, hai tay áp vào chĩa thẳng.
    Tùm! Nó vừa ngoi lên khỏi mặt nước thì thằng bạn kêu lên, ê Lục, thầy mày kìa.
    Nó hốt hoảng khoát nước lội lên bờ. Thầy cầm cái roi tre, mặt đằng đằng tức
    giận. Không nói câu nào, thầy tiến về phía cây phượng gù. Nó cuống cuồng không
    cả chạy được, hai chân ríu lại, mặt tái mét, nó khóc oà! Vút! Một cái roi in
    hằn trên mông nó, đau điếng. Vừa xoa mông vừa lò cò chạy về nhà, nó khóc bô bô.

    Chập tối. Nó sốt cao. Mắt đỏ tía, môi

    khô rát. U lấy khăn ướt đặt trên trán nó. Thầy lúi húi nấu cháo, khói rơm cay
    mắt. Tối nay cả nhà ăn cháo theo Lục nhá, U đùa. Nó muốn nói câu gì mà không
    nói được. Lần sau không được trốn ngủ trưa để đi tắm ao nghe chửa, bị cảm sốt
    thế này làm sao đi học được. Thầy dọn mâm ra, đơm cháo rồi cho nhiều tía tô và
    hành tươi. Ông bê bát cháo lên, không nói gì, nhẹ nhàng đỡ nó ngồi dậy. Thầy
    bón từng thìa cháo, nó ngắc ngứ rồi cũng nuốt hết, cháo khoai tây nhuyễn nhuyễn
    có vị tỏi xào thơm thơm là. Uống nước xong, thầy bảo, thôi ngủ đi, sáng mai
    chắc không đi học được rồi. Đó là kết quả của việc trốn nhà đi chơi trưa đấy.
    Mày đã thấy chưa! Nó im bặt không nói câu gì, lặng lẽ nằm xuống vắt tay lên
    trán, rồi thiếp đi trong tiếng quạt nan đều đều của u.

    11 min

About Miền ký ức 197X

From the publisher's feed

Đây là kênh Youtube với những hoài niệm, ký ức về tuổi thơ của chúng tôi - những người thuộc thế hệ 7X lớn lên trong giai đoạn đầy khó khăn nhưng rất giàu tình người. Hãy nghe và đồng cảm cùng chúng…