
Sign up to save your podcasts
Or


Giải Nobel y học 2025 vinh danh các nhà khoa học đã phát hiện ra tế bào « T điều hòa » (Tregs) và cơ chế phân tử của tế bào này, giúp tìm ra phương pháp giải quyết tận gốc các căn bệnh tự miễn bí hiểm - khi đội quân miễn dịch hùng mạnh quay súng bắn vào chính mình. Tuy nhiên, ý nghĩa của phát hiện về Tregs không dừng ở đó.
Từ đầu thế kỉ 20, ngành miễn dịch học tập trung vào hệ thống phòng vệ của cơ thể, phát triển vaccin chống các đại dịch… Ngành vi sinh vật chủ yếu nghiên cứu về vi khuẩn/vi trùng, virus, ký sinh trùng..., tức các tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên từ khoảng 20 năm gần đây, dưới ánh sáng của các phát hiện mới, trong đó đặc biệt có phát hiện về tế bào T điều hòa, giới y khoa ngày càng phát hiện rõ hơn vai trò to lớn của thế giới các vi sinh vật với sức khỏe con người.
***
Hệ miễn dịch: Sức mạnh phi thường của sự kìm chếSau khi giải Nobel y học 2025 được công bố, nhà miễn dịch học hàng đầu người Pháp Alain Fischer, trong bài trả lời phỏng vấn tạp chí La Recherche (ngày 07/10/2025), nhấn mạnh : « Từ lâu, hệ miễn dịch được mô tả như một đội quân sẵn sàng tấn công bất cứ thứ gì lạ. Những khám phá này buộc chúng ta phải thay đổi quan điểm. Đó là, hệ miễn dịch không chỉ là một cỗ máy chiến tranh, mà còn là một hệ thống cân bằng và kiềm chế. Sức khỏe không chỉ phụ thuộc vào khả năng loại bỏ những mối đe dọa, mà còn phụ thuộc vào khả năng bảo vệ những gì cấu thành nên chúng ta. Tế bào lympho T điều hòa thể hiện sự minh triết sinh học này. Chúng nhắc nhở chúng ta rằng sức mạnh của sự sống không nằm ở sự quyết liệt của phản ứng, mà nằm ở sự tinh tế của khả năng kiểm soát. Nói cách khác, giải Nobel này vinh danh một ý tưởng đơn giản, nhưng mạnh mẽ : kiềm chế chính là một hình thức tự vệ (la retenue est une forme de défense). »
Thông cáo báo chí của Ủy ban Nobel ghi nhận, những khám phá của các nhà khoa học đoạt giải năm 2025 đã « thúc đẩy sự phát triển các phương pháp điều trị y tế cho bệnh ung thư và các bệnh tự miễn. Điều này cũng có thể dẫn đến các ca cấy ghép thành công hơn ». Tuy nhiên, các đánh giá nói trên chưa làm bật lên được đầy đủ tầm vóc của các phát hiện đột phá về tế bào T điều hòa.
Thiếu Tregs khiến viêm nhiễm, dị ứng gia tăng: Vấn đề lớn bị Ủy ban Nobel bỏ quaNhà miễn dịch học Alain Fischer lưu ý : « Có một điểm quan trọng, nhưng lại bị Ủy ban Nobel đánh giá thấp một cách kỳ lạ (un point important, étrangement peu mis en avant par le comité Nobel), đó là sự thiếu hụt tế bào Tregs cũng gây ra tình trạng viêm ruột nặng – tức một phản ứng miễn dịch quá mức chống lại hệ vi sinh vật. Thông thường, hệ miễn dịch của chúng ta nhận biết hệ vi sinh vật trên da và đường ruột, nhưng không gây phản ứng viêm : quá trình ‘‘dung nạp’’ chủ động này được duy trì bởi các tiểu loại tế bào Tregs có mặt ở vùng ruột và da. Nếu thiếu tế bào Tregs, thế cân bằng này sẽ bị phá vỡ… Những người mắc những căn bệnh này thường cũng bị các chứng dị ứng thực phẩm hết sức nghiêm trọng. »
Sự phát triển của vi khuẩn có lợi, như Faecalibacterium prausnitzii, giúp lên men chất xơ thành axit béo chuỗi ngắn (AGCC) như butyrate, tạo điều kiện cho việc tăng sản sinh tế bào Tregs, giảm viêm. Trong chiều ngược lại, nếu Tregs bị thiếu hụt, cơ thể có thể phản ứng quá mức, với việc hệ miễn dịch tấn công ồ ạt một số loại vi khuẩn Escherichia coli (vốn tồn tại vô hại ở người khoẻ), dẫn đến bệnh viêm ruột mãn tính Crohn (MICI) (Nature, 2020).
Cái thế giới kì diệu ấy ngày càng được nhìn nhận như là sản phẩm của sự cộng sinh kỳ diệu của cơ thể với thế giới vi sinh vật trong đường ruột. Với tổng diện tích niêm mạc ước tính 300 m2, đường ruột có thể chứa đến hàng chục nghìn tỷ vi sinh vật (vi khuẩn, vi trùng, nấm, archaea [tức vi sinh vật cổ] …), cao hơn nhiều so với số tế bào trong cơ thể. Một hệ vi sinh vật cân bằng, khỏe mạnh trong đường ruột, giúp tế bào T điều hòa phát triển và vận hành tốt, là điều kiện cho một hệ miễn dịch khoẻ mạnh, cân bằng. Miễn dịch học và vi sinh vật học đang hội tụ nỗ lực để khám phá kiệt tác ấy của thiên nhiên trong mỗi con người chúng ta.
Điều gì giúp Tế bào « T điều hoà » được hài hoà ?Trả lời RFI tiếng Việt, nhà sinh học phân tử Lê Học Lãnh Vân (TP Hồ Chí Minh) giải thích: « Thực phẩm nhiều chất xơ, vi sinh vật đường ruột chuyển hóa có lợi cho sự kích thích tạo thành Tregs, thu hút Tregs. Nếu thực phẩm không thích hợp, sự cân bằng vi sinh và hoạt động của vi sinh bị tổn thương, thì từ đó sự điều hòa miễn dịch cũng bị phá vỡ, con người mệt mỏi, dễ sinh bệnh.
Chế độ ăn giàu chất xơ hỗ trợ sự phát triển của vi khuẩn có lợi trong đường ruột. Vi khuẩn này lên men chất xơ thành các axit béo chuỗi ngắn (như butyrate, propionate và acetate) giúp tăng cường chức năng của tế bào Tregs và duy trì sức khỏe đường ruột… Ngoài ra, tryptophan – một axit amin được tìm thấy trong các thực phẩm như thịt gia cầm, trứng, đậu phụ và nhiều loại hạt – được chuyển hóa thành các hợp chất kích hoạt thụ thể aryl hydrocarbon, tiếp tục thúc đẩy hoạt động của tế bào Tregs và bảo vệ cơ thể chống lại viêm đường ruột. Ngược lại, chế độ ăn phương Tây nhiều chất béo, đường và thực phẩm chế biến sẵn làm mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột. Điều này, đến lượt nó, làm giảm số lượng vi sinh vật hỗ trợ tế bào Tregs và thúc đẩy môi trường viêm nhiễm nhiều hơn trong đường ruột. »
Nhiều căn bệnh phổ biến của xã hội hiện nay, như béo phì, các bệnh tim mạch, dị ứng, rối loạn thoái hóa thần kinh và ung thư có liên hệ với tình trạng mất cân bằng hệ vi sinh vật (dysbiosis), hoặc là nguyên nhân, hoặc là hệ quả. Do đó, các biện pháp gần với tự nhiên - như có chế độ ăn uống lành mạnh (với thực phẩm nhiều chất xơ, tryptophan, thực phẩm lên men, men vi sinh - probiotics…), tránh thực phẩm độc hại, thay đổi lối sống (cân bằng, điều hoà), môi trường sống (gần thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm), để giúp khôi phục các chức năng của hệ vi sinh vật đường ruột, được kỳ vọng sẽ sớm trở nên phổ biến (Les pouvoirs méconnus du microbiote, peuple de nos intestins, CNRS, 2022).
Trong cuộc đời một con người, hệ miễn dịch ngoại vi bắt đầu được hình thành như thế nào? Các nghiên cứu gần đây cho thấy, hệ miễn dịch ngoại vi của trẻ sơ sinh được hệ vi sinh vật trong đường ruột huấn luyện, đặc biệt trong giai đoạn cai sữa và bắt đầu ăn dặm. Tiến trình này nếu diễn ra không tốt, đứa trẻ sẽ mắc các bệnh viêm nhiễm dai dẳng, và có thể kéo dài cả đời. Tại Viện Pasteur (Paris), nhóm nghiên cứu của nhà miễn dịch học Gérard Eberl, chủ trì bộ phận Microenvironnement & Immunité, có dự án về vấn đề này :
« Giai đoạn phát triển sau khi sinh là thời điểm quan trọng mà hệ vi sinh vật đường ruột "đào luyện" hệ miễn dịch, dạy nó không phản ứng quá mức. Gérard Eberl và nhóm của ông đã chỉ ra rằng, trong quá trình cai sữa, hệ vi sinh vật đường ruột phát triển và "định hình" khả năng phản ứng lâu dài của hệ miễn dịch. Do đó, có thể thấy rằng tổn thương hệ vi sinh vật trong giai đoạn này, ví dụ như do vệ sinh quá mức hoặc tiếp xúc với kháng sinh, có thể ảnh hưởng đến phản ứng cai sữa. Những rối loạn này sau đó có thể dẫn đến phản ứng quá mức của hệ miễn dịch, làm tăng khả năng mắc các bệnh viêm nhiễm như dị ứng, hoặc ngược lại, làm giảm phản ứng miễn dịch và khiến cơ thể dễ bị nhiễm trùng hơn. »
Giai đoạn 1.000 ngày đầu đời, từ khi người mẹ mang thai đến khi trẻ 2 tuổi, được coi là « cửa sổ vàng », khi diễn ra các tương tác hai chiều giữa hệ miễn dịch và hệ vi sinh vật đang hình thành, giúp duy trì trạng thái cân bằng vi sinh và hệ miễn dịch cân bằng, khoẻ mạnh (tạp chí nhi khoa Front. Pediatr., 2026). Tại phương Tây, gần đây có một số nghiên cứu về « Hiệu ứng trang trại », tức khi trẻ em được tiếp xúc với môi trường giàu vi sinh vật (chuồng trại, cỏ khô, sữa tươi) sẽ ít bị hen suyễn, chàm và viêm mũi dị ứng hơn.
Tregs ở đường ruột : Sản phẩm cộng sinh của hệ miễn dịch – hệ tiêu hóa – hệ vi sinhĐể thấm thía về ý nghĩa của tế bào T điều hòa và hệ miễn dịch đối với sức khỏe và sự sống của con người, đặc biệt là hệ miễn dịch thích ứng, hãy ngược dòng lịch sử để nhìn lại đôi nét về quá trình tiến hóa lâu dài của sinh giới qua hàng trăm triệu năm cùng nhà sinh học phân tử Lê Học Lãnh Vân:
« Sự tiến hóa của hệ miễn dịch phản ánh nguyên tắc cân bằng động kỳ diệu trong thế giới sinh vật. Sự cân bằng động bảo tồn tính đa dạng của hoạt động sống khiến cho hệ thống linh hoạt và bền vững. Khi hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch phức tạp hơn, nó cần điều hòa miễn dịch ngoại vi để chống bệnh đường ruột.
Hệ miễn dịch là kết quả của sự tiến hóa được cân chỉnh bởi chọn lọc tự nhiên qua hàng trăm triệu năm. Nó có hai hệ thống phòng thủ, hệ thống miễn dịch bẩm sinh sinh ra là đã có và hệ thống miễn dịch thích ứng khi cơ thể đã tiếp xúc với mầm bệnh. Những động vật như sứa, san hô, cơ thể đơn giản xuất hiện cách nay khoảng 700 triệu năm chỉ có miễn dịch bẩm sinh. Còn với động vật có xương sống, cơ thể phức tạp hơn xuất hiện trễ cách nay khoảng 550 triệu năm thì có miễn dịch bẩm sinh và miễn dịch thích ứng. Trong nhóm động vật có xương sống, nhóm cá miệng tròn (Cyclostomata) rất xưa, xưa nhất ấy thì chưa có Tregs.
Còn các nhóm sinh vật như cá chép có Tregs sơ khai và nó được hoàn thiện lần lần cho tới động vật có vú thì nó mới có hoàn chỉnh để điều hòa ‘‘miễn dịch ngoại vi’’. Tại sao cần phải có điều hòa miễn dịch ngoại vi ? Vì khi cơ thể phức tạp hơn, hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch phức tạp hơn. Chúng ta nhớ rằng khoảng 70% cho tới 80% tổng số tế bào Tregs của con người là ở trong ruột. Nếu không được điều hòa miễn dịch ngoại vi thì dễ mắc bệnh viêm đường ruột cùng nhiều bệnh khác. »
Ý thức về “kiệt tác của thiên nhiên” trong mỗi con người: Phòng bệnh hơn chữa bệnhTế bào T điều hòa không chỉ là một phát hiện y khoa lớn giúp mở ra khả năng trị liệu tận gốc nhiều căn bệnh nan y, mà còn là cánh cửa giúp khám phá trở lại sự hài hòa của hệ miễn dịch, kết quả của quá trình tiến hoá của sinh giới qua hàng trăm triệu năm. Trong lúc Uỷ Ban Nobel chỉ nhấn mạnh đến giá trị trị liệu với một số căn bệnh (như tự miễn, ung thư), một số ít khoa học gia, như nhà miễn dịch học Pháp Alain Fischer, đã đặc biệt lưu ý đến vai trò to lớn hơn nhiều của Tregs trong việc điều hoà các phản ứng viêm, dị ứng ở đường ruột, vốn là điều gặp phải ở đông đảo dân cư, và đặc biệt là mối quan hệ giữa miễn dịch ngoại vi với hệ vi sinh đường ruột.
Dưới ánh sáng của các hiểu biết mới về Tế bào T điều hòa và hệ vi sinh đường ruột, vấn đề sức khoẻ của con người và tương tác với môi trường sống, các tác động tinh vi của những độc hại từ môi trường, cùng các tập quán ăn uống có hại, lối sống có hại, đang ngày càng trở thành chủ đề trung tâm của nền y học đương đại. Nhà sinh học phân tử Lê Học Lãnh Vân chia sẻ :
« Cuộc sống là một dòng chảy liên tục của vô số cuộc đời nối tiếp nhau mà mỗi cá thể cần giữ được sự điều hòa tạm thời của chọn lọc tự nhiên. Thí dụ, nếu cá thể biết chọn phần tử thích hợp với hệ vi sinh đường ruột để kích thích tạo ra và để nuôi dưỡng hoạt động điều hòa miễn dịch, con người sẽ khỏe mạnh dẻo dai, cuộc sống an nhiên thư thái.
Y học cổ truyền phương Đông rất chú ý tới cân bằng âm dương, cân bằng khí huyết, sống gần gũi với thiên nhiên, mùa nào thức nấy, cân bằng hoạt động giữa làm việc và nghỉ ngơi, luyện tính tình điềm tĩnh. Tất cả những điều này góp phần tạo nên hệ vi sinh đường ruột lành mạnh, tạo sự thoải mái tinh thần, tạo nên cân bằng nội tiết và tất cả những điều đó góp phần điều hòa hệ miễn dịch và cả điều hòa hoạt động của gien trong cơ thể nữa. »
***
Hiểu biết về tế bào T điều hòa nhắc nhở ta về sự hài hòa kỳ diệu của sinh giới trải qua hàng trăm triệu năm tiến hóa. Kiệt tác kỳ diệu ấy tuy nhiên cũng rất mong manh, có thể dễ dàng bị tổn thương do các tác động như chế độ ăn uống sai, ô nhiễm, stress. Trong nền y học thế giới đương đại, chủ trương One Health / Một sức khoẻ duy nhất (tức sức khoẻ con người với sức khoẻ động vật, sức khoẻ của các hệ sinh thái liên kết mật thiết), đang ngày càng tìm thấy được chỗ dựa vững chắc trong sự phát triển tri thức về hệ vi sinh vật bên trong và bên ngoài cơ thể - những trợ thủ đắc lực cho một hệ miễn dịch khoẻ mạnh, cân bằng ở con người. Tháng 4/2026, lần đầu tiên một thượng đỉnh toàn cầu về « One Health » được tổ chức (Lyon - Pháp), với trọng tâm là các hệ vi sinh vật (*).
Một số chương trình nghiên cứu lớn về hệ vi sinh vật đường ruột và miễn dịch đang được triển khai tại một số quốc gia, trong đó có Pháp, có thể mở đường cho việc xác lập các chính sách y tế - bảo vệ môi trường mới, lấy thay đổi lối sống, tập quán ăn uống, bảo vệ môi trường là hướng đi chủ đạo trong việc chăm sóc sức khoẻ con người, hướng đến lấy dự phòng làm trụ cột, thay vì bị động để có bệnh mới tìm thầy, tìm thuốc.
Ghi chú
(*) Ngày 20/06/2025, Hội nghị Đối tác Toàn cầu về Hệ vi sinh vật theo tiếp cận « Một Sức khỏe » (One Health) được tổ chức tại Paris dưới sự bảo trợ của tổng thống Pháp Emmanuel Macron, nhằm xây dựng lộ trình chung để lồng ghép vấn đề hệ vi sinh vật vào các chính sách bền vững liên quan đến sức khỏe con người - sức khỏe động vật - nông nghiệp - môi trường và khí hậu, « một giai đoạn mang tính nền tảng để đưa hệ vi sinh vật trở thành ưu tiên toàn cầu ». Tháng 4/2026, lần đầu tiên một thượng đỉnh toàn cầu về « One Health » được tổ chức (Lyon - Pháp), với trọng tâm là các hệ vi sinh vật.
Tại thượng đỉnh này, một Đài quan sát các Hệ vi sinh vật Toàn cầu theo tiếp cận Một Sức khỏe / Observatoire mondial inter-santés (One Health) des microbiomes được thành lập, bao gồm trước hết 50 nhóm nghiên cứu, thuộc 25 quốc gia từ 5 châu lục. Viện Nghiên cứu Nông học, Môi trường và Thực phẩm Pháp (INREA) và Viện Quốc gia về Y tế và Nghiên cứu Y khoa - INSERM là các bên chủ trì chính. Theo ông Philippe Mauguin, tổng giám đốc INREA, « Hệ vi sinh vật vừa là tác nhân kích phát, vừa là giải pháp cho các thách thức lớn của xã hội : sự gia tăng các bệnh mãn tính, tình trạng kháng kháng sinh, sự suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và quá trình chuyển đổi các hệ thống nông nghiệp và thực phẩm. »
Giải Nobel y học năm 2025 vinh danh các nhà khoa học phát hiện và khám phá cơ chế của tế bào T điều hòa (regulatory T cells), cho phép lý giải các căn bệnh tự miễn vô cùng bí hiểm. Phát hiện về người hùng thầm lặng này cho phép mở ra cánh cửa cho việc trị liệu từ gốc.
Bệnh tự miễn cho đến gần đây vốn được coi là bí ẩn không có lời giải, ảnh hưởng đến từ 5 đến 10% dân số thế giới, trong đó phụ nữ mắc bệnh (80%) nhiều gấp khoảng bốn lần nam giới (theo Viện Y tế và Nghiên cứu Y học Quốc gia - INSERM). Phát hiện về Tế bào T điều hoà mở ra cơ hội cho nhiều thay đổi cách mạng không chỉ trong trị liệu, mà có thể cả trong việc thay đổi lối sống và xây dựng những chính sách y tế, bảo vệ môi trường, là điều kiện thiết yếu cho một hệ miễn dịch khỏe mạnh ở con người.
***
Bệnh tự miễn: Khi « đội quân » miễn dịch hùng mạnh quay súng bắn vào chính mìnhHệ thống miễn dịch trong cơ thể con người thường được so sánh với một đội quân thường trực cảnh giác, sẵn sàng loại bỏ các loại virus, vi khuẩn hoặc các tế bào bất thường. Nhưng điều gì khiến cho trong nhiều trường hợp, đội quân miễn dịch hùng mạnh ấy nhầm lẫn, tấn công vào các tế bào của chính cơ thể mình ?
Trả lời phỏng vấn RFI tiếng Việt, giáo sư Đinh Xuân Anh Tuấn, trưởng khoa Nội hô hấp Bệnh viên Cochin (Paris), giải thích về ý nghĩa của phát hiện này: « Chúng ta biết rằng hệ miễn dịch của mỗi con người trong chúng ta rất cần thiết để giúp cho chúng ta có thể chống lại tất cả những vi khuẩn, có nghĩa là tất cả những cái tế bào mà nó không thuộc của chúng ta. Tế bào bình thường của chúng ta trở thành tế bào ung thư thì lúc đó cơ thể của chúng ta cũng sẽ xem cái tế bào đó như là một cái tế bào ngoại lai, có nghĩa là đến từ cái thế giới bên ngoài. Và lúc đó thì cái hệ miễn dịch của chúng ta sẽ giúp chúng ta có thể phát hiện và loại trừ những tế bào đó.
Nói tóm gọn, hệ miễn dịch rất là cần thiết cho chúng ta. Từ đó, các nhà y học cảm thấy khó hiểu và khó xử, khi mà có một số những tình huống chúng ta gọi là những cái bệnh tự miễn, tức là khi mà hệ miễn dịch của chúng ta nhầm lẫn những tế bào bình thường như là những cái tế bào đến từ bên ngoài. Những kháng thể của chúng ta trong cái hệ miễn dịch đó sẽ tấn công những tế bào của mình. Nếu mà chúng ta hiểu được cái chuyện đó thì chúng ta sẽ thấy cái tầm quan trọng của sự khám phá cái mà chúng ta gọi là ‘‘tế bào T điều hòa’’ hoặc regulatory T cells (gọi tắt là Tregs). »
Điều trị bằng cách làm suy yếu hệ miễn dịch: Phương pháp con dao hai lưỡiCác bệnh tự miễn, với khoảng 80 bệnh được công nhận rộng rãi, thường được phân loại thành nhóm các bệnh tự miễn đặc hiệu cơ quan, như bệnh tự miễn với da, với tuyến giáp (Basedow), hay với phổi, với ruột, tiêu biểu như bệnh tiểu đường loại 1 (khoảng 23.000 người ở Việt Nam, theo số liệu của International Diabetes Federation - IDF), bệnh đa xơ cứng (tức rối loạn thần kinh não và tủy sống), và nhóm các bệnh tự miễn dạng toàn thân, như lupus ban đỏ hệ thống (có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể như da, khớp, thận, tim, phổi và hệ thần kinh, đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện sớm. Ở Việt Nam chỉ có khoảng 10% người bệnh được chẩn đoán sớm) … Tỉ lệ người mắc bệnh các tự miễn gia tăng trong những thập niên gần đây đi kèm với xu thế tuổi thọ tăng cao. Đối với nhiều xã hội công nghiệp, như Pháp, đây được coi là nhóm bệnh nhiều người mắc thứ ba, chỉ đứng sau ung thư và tim mạch.
Hiện tại nhìn chung « chưa có cách chữa khỏi hoàn toàn bệnh tự miễn... Các loại thuốc kiểm soát hoặc ức chế quá trình tự miễn có thể giúp hạn chế các triệu chứng và sự tiến triển của các tổn thương. Tuy nhiên, bệnh vẫn là mãn tính và hiếm khi có thể ngừng điều trị trong thời gian dài », theo Viện Y tế và Nghiên cứu Y học Quốc gia Pháp (INSERM).
Bác sĩ Đinh Xuân Anh Tuấn giải thích về tính chất con dao hai lưỡi của điều trị theo hướng này: « Với sự suy yếu của hệ miễn dịch thì dĩ nhiên bệnh tự miễn sẽ đỡ đi. Nhưng mà lúc đó người bệnh sẽ có cơ nguy khác. Đó là rất là dễ bị nhiễm trùng. Chúng ta cũng biết rằng, khi một người mà vừa mới bị ghép tạng, chúng ta cũng phải dùng những loại thuốc để làm tê liệt hệ miễn dịch, nhưng mà thoát khỏi việc cái tạng bị thải loại thì người bệnh đó lại gặp cái nguy cơ rất là dễ bị nhiễm trùng. »
« T điều hòa » kiềm chế « T sát thủ » : Cơ chế tự nhiên ngăn chặn bệnh tự miễnPhát hiện tế bào T điều hòa giúp hiểu được cơ chế tự nhiên cho phép ngăn chặn các bệnh tự miễn như thế nào ? Nhà sinh học phân tử Lê Học Lãnh Vân (từ TP Hồ Chí Minh), cho biết cụ thể:
« Các tế bào của hệ miễn dịch gọi là bạch cầu với khoảng 15 loại tế bào. Trong các bạch cầu có một nhóm tế bào gọi là tế bào lympho. Tế bào T thuộc nhóm tế bào lympho. Hai loại tế bào T thông thường là tế bào T hỗ trợ (Helper T cells) và tế bào T Sát thủ (Cytotoxic T cells), tế bào T hỗ trợ nhận dạng vùng vi trùng xâm nhập rồi phát tín hiệu cho tế bào T sát thủ giết vi trùng đó. Các tế bào T đều được tạo ra từ tủy xương. Những tế bào này đi qua tuyến ức, có tên khoa học là Thymus. Do đó người ta mới đặt tên nó với chữ cái đầu của Thymus.
Nhóm tế bào T mới được ông Shimon Sakaguchi khám phá ra năm 1995, gọi là ‘‘T điều hòa’’ (Tregs), cũng sinh ra từ tuyến ức. Nhưng khác với các tế bào T hỗ trợ và T sát thủ, các tế bào này có vai trò chủ yếu trong việc điều hòa hệ miễn dịch.
Tế bào T hỗ trợ chiếm khoảng 60%, T sát thủ chiếm khoảng 30% và T điều hòa trung bình khoảng 3%. Trong số các tế bào T được tạo ra từ tủy xương rồi di chuyển sang tuyến ức, có rất nhiều tế bào T sát thủ có khả năng tấn công vào tế bào của cơ thể và con số này tới hơn 90%. Nhưng mà tại tuyến ức, những tế bào T có khả năng tấn công tế bào cơ thể tuyệt đại đa số bị loại bỏ, chỉ khoảng 5% rời khỏi tuyến ức đi ra được vùng ngoại vi (tức ngoài tuyến ức). Đây là các tế bào có khả năng gây bệnh tự miễn. Về nguyên tắc, nơi nào chúng gây phản ứng tự miễn thì tế bào T điều hòa tới đó để dập tắt, tác dụng giảm viêm của Tregs rất hiệu quả. »
Tình trạng tế bào T điều hòa kém về số lượng và chất lượng là nguồn gốc gây bệnh tự miễn. Phát hiện này đã mở đường cho hàng trăm hướng nghiên cứu. Ít năm gần đây, bắt đầu đã xuất hiện một số dược phẩm giúp tăng cường số tế bàoTregs, như Anifrolumab hay Interleukin-2, điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống… Teplizumab là một trong số dược phẩm hiếm hoi gần đây được công nhận rộng rãi trên thế giới trong việc trị tiểu đường type 1, một loại bệnh tự miễn khá phổ biến khác (đầu 2026, Liên Âu phê chuẩn cho dùng thiếu này điều trị tiểu đường type 1 giai đoạn hai, Les Echos).
Tuy nhiên 30 năm kể từ khi Tregs được phát hiện, vẫn còn nhiều cản trở to lớn đối với việc phát triển các trị liệu hiệu quả. Chẳng hạn như với bệnh lupus ban đỏ hệ thống SLE, khó cả khả năng tạo được một lượng lớn tế bào Tregs cần thiết, thiếu các tế bào có khả năng nhắm đích đặc hiệu tại các mô, cũng như khả năng duy trì sự tồn tại đủ lâu dài của các Tregs cần thiết trong cơ thể (« Regulatory T cell therapy in autoimmune and immune-mediated diseases: from basic research to clinical practice and future perspectives », tạp chí Front. Immunol., 07/05/2026). Những hạn chế với bệnh SLE này cũng có thể chung cho nhiều bệnh tự miễn khác. Bên cạnh đó, việc sử dụng Tregs cũng cần phải được kiểm soát để tránh nguy cơ tạo môi trường cho ung thư phát triển do tác động gây ức chế quá mức đối với hệ miễn dịch.
Tồn tại một cơ chế « dung nạp miễn dịch » tự nhiên hoàn toàn khác : Quá trình phát hiện ra sao ?Câu hỏi vì đâu mà các tế bào của hệ thống miễn dịch không tấn công vào cơ thể của mình đã ám ảnh giới khoa học trong nhiều thập niên. Tuyến ức có một vị trí chủ chốt trong nghiên cứu về cơ chế « dung nạp miễn dịch » (tiếng Pháp là tolérance immunitaire), tức cơ chế không cho phép các tế bào miễn dịch tấn công vào tế bào của cơ thể mình. Trước khi nhà nghiên cứu Nhật Bản Shimon Sakaguchi công bố phát hiện với bài báo gây chấn động về các tế bào « T điều hòa » năm 1995, đông đảo các nhà nghiên cứu đã từng tin tưởng tuyệt đối rằng khả năng dung nạp miễn dịch có được là do các tế bào miễn dịch có khả năng gây hại cho cơ thể đã bị loại bỏ hoàn toàn ngay trong tuyến ức, thông qua một quá trình được gọi là « dung nạp miễn dịch trung tâm ».
Một số thí nghiệm khác thường của các đồng nghiệp về tuyến ức, trong những năm 1980, đã giúp nhà miễn dịch học Shimon Sakaguchi nhận ra có khả năng tồn tại một cơ chế dung nạp hoàn toàn khác với cơ chế dung nạp trung tâm đã được biết này. Trong bài trả lời phỏng vấn trang mạng The Conversation, sau khi được trao giải Nobel, nhà nghiên cứu Nhật Bản giải thích:
« Thí nghiệm mà họ thực hiện rất thú vị. Nếu bạn loại bỏ tuyến ức của những con chuột bình thường trong giai đoạn sơ sinh, bạn sẽ nghĩ rằng chúng sẽ bị suy giảm miễn dịch, vì chúng không còn tế bào lympho nữa. Thế nhưng điều ngược lại đã xảy ra: ở chúng phát triển các bệnh tự miễn (tức là các tế bào miễn dịch hoạt động dữ dội hơn). Những bệnh rất giống với những gì chúng ta quan sát thấy ở con người. Vì vậy, có điều gì đó thú vị đang diễn ra ở đây. Tất nhiên, ở bệnh nhân là người mắc các bệnh tự miễn, tuyến ức không bị loại bỏ. Như vậy, ắt hẳn phải tồn tại một cơ chế chung có thể giải thích kết quả quan sát được ở những con chuột bị cắt bỏ tuyến ức và các bệnh tự miễn tự phát ở người. »
Thông qua một thí nghiệm mới, Shimon Sakaguchi đã tìm cách ngăn chặn hệ miễn dịch hoạt động quá mức ở những con chuột thiếu tuyến ức. Để làm được điều này, ông đã chiết xuất tế bào lympho T từ những con chuột có cấu trúc gen giống hệt với những con chuột đã được phẫu thuật cắt tuyến ức và truyền vào những con chuột mất tuyến ức đó. Được điều trị theo cách này, bệnh tự miễn không còn phát triển ở chúng nữa. Nhà nghiên cứu Nhật Bản kết luận: « Điều này cho thấy rằng rõ ràng phải có một quần thể tế bào lympho T có khả năng ngăn ngừa sự phát triển của những căn bệnh này. » Đây là điểm khởi đầu cho việc khám phá cơ chế « dung nạp ngoại vi ».
Shimon Sakaguchi đã rất « phấn khích » và « cảm nhận thấy đây là một hướng đi quan trọng. Rằng nếu phân tích sâu hơn hiện tượng này, nó có thể giúp chúng ta hiểu được nguyên lý cơ bản của cơ chế dung nạp miễn dịch. Tôi nghĩ rằng nếu mình có thể khám phá ra được điều này, chẳng hạn trong vòng mười năm nữa thì thật tuyệt vời. Đó là tất cả những gì mà tôi hy vọng vào thời điểm đó. »
Khám phá của Sakaguchi, được công bố 10 năm sau (trên tạp chí Journal of Immunology), đã ngay lập tức thuyết phục được giới chuyên môn. Nhà nghiên cứu người Mỹ Ethan Shevach, thuộc Viện Y tế Quốc gia (NIH) Mỹ, cũng là một người đi đầu trong nghiên cứu về Tregs, xác nhận : « Dữ liệu rất chắc chắn, không thể bác bỏ », « chúng đã thuyết phục mọi người rằng những tế bào như vậy thực sự tồn tại ».
Gen FOXP3 điều khiển tế bào T điều hòaĐầu những năm 2000, khám phá về tế bào T điều hòa của Sakaguchi đã có thêm một bước tiến mới, có ý nghĩa quyết định. Hai nhóm nghiên cứu, một của Mary Brunkow và một của Fred Ramsdell, đã xác định được một loại gen duy nhất quyết định sự vận hành bình thường của tế bào T điều hòa, nhờ tập trung nghiên cứu hai bí ẩn y học.
Thứ nhất là bệnh xảy ở giống chuột « scurfy », nạn nhân của chứng viêm nhiễm gây tử vong và tự miễn toàn thân, và thứ hai một căn bệnh rất hiếm gặp ở người, gọi là hội chứng IPEX, khi hệ thống miễn dịch phá hủy nội tạng ở trẻ em. Đột biến của gen FOXP3 được phát hiện là nguồn gốc chung của cả hai căn bệnh hiếm nhưng khủng khiếp này. Thiếu gen này, tế bào T điều hòa không thể phát triển, và cơ thể sẽ tự hủy hoại. Khi gen này hoạt động tốt, hệ thống miễn dịch sẽ được sự cân bằng. Khoa học gia Ethan Shevach nhấn mạnh, « việc phát hiện ra gen FOXP3 đã làm thay đổi mọi thứ », « nó chứng minh rằng những tế bào Tregs tạo thành một nhóm riêng biệt, thiết yếu với sự sống. »
***Giải Nobel y học 2025 vinh danh nhà khoa học Nhật Bản cùng hai đồng nghiệp Mỹ và Anh, Mary Brunkow và Fred Ramsdell, về các phát hiện về tế bào T điều hòa và gen FOXP3 cho thấy nền tảng tế bào và phân tử của cơ chế « dung nạp miễn dịch ngoại vi », những phát hiện giúp soi rọi cõi bí ẩn bao trùm các căn bệnh tự miễn, từng được coi là bất khả tri đối với y giới.
Từ một bí ẩn đối với y học, bệnh tự miễn đang dần trở thành căn bệnh có thể kiểm soát, có thể chữa trị tận gốc. Tuy nhiên tác dụng của việc phát hiện tế bào T điều hòa không dừng ở bệnh tự miễn, mà còn giúp đi xa hơn rất nhiều trong việc khám phá cái thế giới kỳ diệu của hệ miễn dịch, kiệt tác của thiên nhiên, sản phẩm của quá trình tiến hóa hàng trăm triệu năm của sinh giới, với những ứng dụng tiềm năng lớn hơn gấp bội phần. Đây sẽ là chủ đề của tạp chí Y học một dịp tới.
Hãy thử tưởng tượng một máy nhỏ đặt trong phòng khách hoặc trong phòng ngủ của một người già. Nhờ camera và micro gắn trên máy, giọng nói và các biểu cảm gương mặt của người này được ghi và được phân tích bởi một ứng dụng trí tuệ nhân tạo và qua đó phát hiện những dấu hiệu báo trước tâm trạng lo lắng hay thờ ơ và giúp các bác sĩ chẩn đoán sớm.
Chiếc máy đó chính là Emobot, do ba kỹ sư trẻ người Pháp phát triển và hiện đã được trang bị cho các viện dưỡng lão hoặc đặt tại nhà của những bệnh nhân đang được theo dõi về chứng trầm cảm.
Hiện nay, tại Pháp nói riêng và trên thế giới nói chung số ca trầm cảm không ngừng gia tăng, nhưng các phương tiện y tế vẫn không đủ để chăm sóc số ca ngày càng tăng đó. Tại Pháp có đến 12,5% dân số bị trầm cảm và trên toàn thế giới số người bị trầm cảm lên tới hơn 320 triệu. Ở Pháp hiện chỉ có tổng cộng 15.000 bác sĩ tâm thần, tức là 1 bác sĩ tâm thần cho 600 bệnh nhân. Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ này là 1 bác sĩ tâm thần trên 1.000 bệnh nhân. Thành ra thường phải chờ nhiều tháng mới được khám bác sĩ tâm thần và các bác sĩ không thể nào dành đủ thời gian cần thiết cho mỗi bệnh nhân, cho nên không thể chăm sóc đầy đủ cho bệnh nhân.
Theo dõi liên tục bệnh nhânHiện nay, các bác sĩ tâm thần chỉ có thể dựa vào những quan sát lâm sàng và dựa trên bảng câu hỏi thẩm định tâm thần để đề ra phương pháp điều trị và chẩn đoán. Giải pháp mà công ty khởi nghiệp Emobot mang lại cho các bác sĩ tâm thần đó là giúp họ theo dõi liên tục tâm trạng của bệnh nhân, hoặc của người lớn tuổi qua các biểu cảm gương mặt và giọng nói của họ được máy ghi lại và được ứng dụng trí tuệ nhân tạo phân tích.
Sau khi được trình làng tại triển lãm công nghệ lớn nhất thế giới Consumer Electronics Show (CES) tại Las Vegas, Hoa Kỳ năm 2023, Emobot đã được giới thiệu tại triển lãm công nghệ lớn nhất châu Âu Vivatech 2025.
Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ tại triển lãm Vivatech, ông Samuel Lerman, một trong ba sáng lập viên của công ty Emobot, cho biết:
“Emobot được thành lập cách đây ba năm, từ một phòng thí nghiệm tại trường CentraleSupélec và chuyên về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tâm thần học. Sản phẩm đầu tiên của công ty là ứng dụng phân tích cảm xúc thụ động, nghĩa là chúng tôi sẽ liên tục phân tích cảm xúc của những bệnh nhân mắc chứng trầm cảm hoặc rối loạn lưỡng cực. Chúng tôi sẽ có thể theo dõi họ liên tục giữa các lần khám với bác sĩ tâm thần. Mục tiêu là ngăn ngừa khả năng tái phát và xem liệu phương pháp điều trị có phù hợp và hiệu quả đối với bệnh nhân đó hay không.
Cụ thể là bệnh nhân tải xuống một ứng dụng, trên điện thoại di động hoặc máy tính và chúng tôi sẽ thu thập một số lượng dữ liệu về bệnh nhân, tất nhiên là phải có sự đồng ý của họ, liên quan đến biểu cảm khuôn mặt. Như vậy chúng tôi sẽ có thể sử dụng camera selfie của điện thoại và camera máy tính để phân tích các biểu cảm nhỏ mỗi giây trên khuôn mặt của bệnh nhân. Chúng tôi cũng sẽ lắng nghe giọng nói của bệnh nhân và thu thập dữ liệu điện thoại, như số bước đã đi, các hoạt động trong ngày và giấc ngủ, những dữ liệu rất quan trọng trong tâm thần học.
Bệnh nhân tải xuống ứng dụng và sau đó tự chụp ảnh hoặc tự quay video để giúp phát hiện những thay đổi tâm trạng. Đối với bệnh nhân, đó là nguyên tắc thụ động. Nói chung là bệnh nhân sử dụng điện thoại của họ một cách bình thường: gởi tin nhắn, sử dụng các mạng xã hội, truy cập các trang web và ứng dụng sẽ phân tích hành vi và biểu cảm khuôn mặt của bệnh nhân.”
Cung cấp dữ liệu bổ sungÔng Samuel Lerman nhấn mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo Emobot không thay thế bác sĩ tâm thần, mà là cung cấp những dữ liệu bổ sung cho bác sĩ:
“Thu hình một bệnh nhân là một vấn đề rất nhạy cảm về tính riêng tư. Ở đây trí tuệ nhân tạo cho phép chúng ta phân tích trực tiếp mà không cần phải lưu trữ hình ảnh hoặc video. Trí tuệ nhân tạo sẽ phân tích các biểu hiện nhỏ của bệnh nhân mỗi giây và cho phép chúng ta biết cảm giác đó tích cực hơn hay tiêu cực hơn và mức năng lượng cao hơn hay thấp hơn. Và dựa trên điều đó, trong vài nghìn giờ, chúng ta có thể phát hiện ra những lúc bệnh nhân có tâm trạng buồn chán và những lúc có tâm trạng vui vẻ hơn, đây là hai tiêu chí chính để xác định chứng trầm cảm.
Bác sĩ đã có tất cả dữ liệu cá nhân của bệnh nhân và tiền sử bệnh án của bệnh nhân. Những gì chúng tôi làm là cung cấp các dữ liệu bổ sung tâm thần học đang rất thiếu. Chúng tôi sử dụng máy ảnh để có thể liên tục quay phim bệnh nhân và chúng tôi không nhất thiết phải nắm rõ hồ sơ y khoa của bệnh nhân.
Đây thực sự là một vấn đề cơ bản, vì tâm thần học là một chuyên khoa có rất ít hình ảnh, rất ít dữ liệu cụ thể. Dữ liệu duy nhất mà bác sĩ thường có là các bảng câu hỏi mà bệnh nhân điền các câu trả lời mỗi hai tuần và hiện giờ bác sĩ chỉ có thể dựa trên đó để đề ra các phương pháp điều trị, v.v.
Sử dụng trí tuệ nhân tạo trong sức khỏe tâm thần sẽ cho phép chúng tôi cung cấp những dữ liệu bổ sung, không phải để thay thế bác sĩ, mà là để giúp họ đưa ra quyết định tốt hơn. Tâm thần của bệnh nhân có ổn định hay đang dao động? Nếu tâm trạng bệnh nhân dao động, thì giải pháp của chúng tôi có thể cung cấp tín hiệu đó. Dựa trên đó, nếu cần, bác sĩ sẽ thay đổi phương pháp điều trị và nói chung là chẩn đoán tốt hơn.
Ứng dụng sẽ được sử dụng trong các phòng khám tâm thần, dù là phòng khám tư hay phòng khám trong các khoa tâm thần của bệnh viện. Ứng dụng sẽ miễn phí trong vòng một năm, chúng tôi sẽ chỉ tính phí theo dõi từ xa. Đây là mức phí cố định được bảo hiểm y tế hoàn trả.”
Trí tuệ nhân tạo còn giúp xác định những bệnh nhân có khả năng cần theo dõi bằng cách phân tích dữ liệu từ hồ sơ bệnh án. Công cụ hỗ trợ chẩn đoán này mang lại rất nhiều lợi ích: phát hiện sớm các rối loạn và hỗ trợ đắc lực cho những người chăm sóc sức khỏe tâm thần. Trong tương lai, các mô hình ngôn ngữ rộng được tích hợp vào các tác nhân đàm thoại sẽ có thể mô phỏng một buổi tư vấn tâm thần, sau đó giới thiệu bệnh nhân đến các chuyên gia sức khỏe tâm thần.
Chẳng hạn như phòng thí nghiệm Sanpsy của đại học Bordeaux, Pháp, đang phát triển một tác nhân đàm thoại với mục tiêu thực hiện một cuộc phỏng vấn y tế với bệnh nhân. Các công cụ được kết nối thì rất hữu ích để theo dõi hành vi hàng ngày của những người mắc các rối loạn sức khỏe tâm thần. Chúng thu thập dữ liệu như hoạt động thể chất, chất lượng giấc ngủ và nhịp tim. Việc theo dõi này cung cấp cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe thông tin giá trị để theo dõi tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và ngăn ngừa khủng hoảng, theo dõi hiệu quả điều trị hoặc giúp cá nhân hóa các biện pháp can thiệp. Ví dụ như nhịp tim có thể cung cấp cho bác sĩ thông tin về các giai đoạn căng thẳng và kiệt sức của bệnh nhân.
Một hình thức tích hợp AI khác trong sức khỏe tâm thần là tính toán cảm xúc. Chatbot, hay còn gọi là các tác nhân đàm thoại, có khả năng diễn giải và phản hồi một cách đồng cảm với cảm xúc của người dùng, giúp tương tác trở nên gần gũi và mang tính cá nhân hơn. Một ví dụ là ứng dụng Kanopee, giúp mỗi người tự quản lý các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần như căng thẳng, lo âu và rối loạn giấc ngủ.
Trí tuệ nhân tạo cũng đóng vai trò phòng ngừa bằng cách phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe tâm thần. Sử dụng các mẫu sinh học, chụp MRI não và phân tích hành vi và ngôn ngữ, nền tảng PsyCHARE có thể xác định những người trẻ có nguy cơ mắc chứng loạn thần như tâm thần phân liệt.. Sau đó, nền tảng này giúp xác định liệu pháp điều trị phù hợp nhất cho bệnh nhân.
Theo giáo sư Pierre Philip, một chuyên gia sức khỏe tâm thần của Pháp, tương lai của AI trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần có vẻ đầy hứa hẹn, với tiềm năng to lớn trong việc theo dõi chủ động và ngăn ngừa các hành vi nguy cơ. Giáo sư Philip tin rằng công nghệ này có thể đóng vai trò trung tâm trong việc phát hiện sớm các dấu hiệu của các triệu chứng trở nặng và hỗ trợ bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính. Nếu vượt qua những thách thức liên quan đến bảo vệ dữ liệu và độ tin cậy của mô hình, AI có thể giải quyết tình trạng thiếu hụt bác sĩ tâm thần và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong ngành tâm thần học.
Với sự hỗ trợ liên tục, giá cả phải chăng và được cá nhân hóa, AI dường như là một giải pháp sáng tạo cho tương lai của sức khỏe tâm thần. Cũng theo giáo sư Philip, AI tạo sinh và các tác nhân đàm thoại sẽ giúp ích rất nhiều, tức là dạy cho mỗi người cách xác định những hành vi nguy cơ và những triệu chứng đầu tiên để khắc phục tình trạng. Đặc biệt là trong việc theo dõi các bệnh tâm thần mãn tính, AI tạo sinh có một tương lai to lớn, vì có thể cung cấp hỗ trợ liên tục phù hợp với nhu cầu cụ thể của từng bệnh nhân.
Bảo đảm sự độc lập của châu Âu trong các chương trình thám hiểm Mặt Trăng là một thách thức chiến lược lớn đối với ngành không gian của châu lục này. Chính là nhắm đến mục tiêu đó mà công ty Venturi Space của Monaco đang phát triển MONA LUNA, một xe tự hành Mặt Trăng 100% của châu Âu. Một nguyên mẫu của chiếc xe tự hành này đã được giới thiệu tại Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget, ngoại ô Paris vào ngày 16/06/2025.
Được thành lập vào năm 2000 tại Monaco, kể từ năm 2021, Venturi Space đã mở rộng kỹ năng của họ sang lĩnh vực thám hiểm không gian qua việc thiết kế các xe tự hành sẽ hoạt động trên Mặt Trăng và sau này trên Sao Hỏa.
Là đối tác chiến lược của công ty Bắc Mỹ Venturi Astrolab, công ty Monaco này phát triển các công nghệ quan trọng - bánh xe có tính năng biến dạng rất lớn và pin hiệu suất cao - cho các xe tự hành Mặt Trăng FLIP và FLEX. FLIP sẽ được triển khai trên Mặt Trăng vào tháng 02/2026. FLEX được NASA lựa chọn trước cho các sứ mệnh có người lái trong chương trình Artemis.
MONA LUNA, xe tự hành Mặt trăng 100% châu ÂuMONA LUNA, xe tự hành Mặt Trăng hoàn toàn châu Âu, được thiết kế để đáp ứng tham vọng của Cơ quan Không gian Châu Âu ESA và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Không gian CNES của Pháp, sẽ được lắp ráp tại các cơ sở của Venturi Space Pháp ở Toulouse.
Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget, ông David Olsommer, đồng sáng lập viên công ty Venturi Space, cho biết:
“Đây là một xe tự hành nặng 750kg mà chúng tôi đang phát triển 100% tại châu Âu, với sự hợp tác, đặc biệt là của Cơ quan Không gian châu Âu, và dự kiến sẽ được sử dụng trên Mặt Trăng, không phải để vận chuyển phi hành gia, mà để vận chuyển thiết bị cho các sứ mệnh tương lai, thậm chí bắt đầu từ những năm 2030.
Hiện giờ đây chỉ là một nguyên mẫu, nhưng một số công nghệ đã được hoàn thiện, đặc biệt là pin, được sản xuất tại Monaco, bánh xe, được sản xuất tại Thụy Sĩ. Các bộ phận khác, hệ thống điện tử sẽ được sản xuất, chủ yếu tại Pháp, tại cơ sở của Venturi Space ở Toulouse.
Thách thức lớn nhất là đối với xe tự hành trên Mặt Trăng đó là Mặt Trăng không có bầu khí quyển. Đêm ở đây cực kỳ lạnh, kéo dài không phải 12 tiếng, mà là 14 ngày. Một ngày trên Mặt Trăng tương đương với 28 ngày trên Trái Đất. Nhiệt độ thực sự xuống mức cực thấp, khoảng -200°C, có nghĩa là hầu hết các công nghệ được sử dụng trên Trái Đất không thể được sử dụng trên Mặt Trăng. Vì vậy, các công nghệ đặc biệt đã được phát triển để chịu được những môi trường này. Mặt Trăng còn có một đặc điểm nữa là do không có tầng khí quyển nên mức độ bức xạ cực kỳ cao, cao hơn rất nhiều so với Trái Đất. Các thiết bị cũng phải chịu được mức độ bức xạ cao như thế.”
Theo lời ông Olsommer, xe tự hành MONA LUNA được điều khiển từ xa. Có một số hệ thống liên lạc với Trái Đất, và cả hệ thống camera quan sát để nhận diện chướng ngại vật, một hệ thống nhận dạng địa hình để xe tự hành có thể tự định hướng trên Mặt Trăng.
Dự án MONA LUNA được xây dựng dựa trên kinh nghiệm tích lũy từ các xe tự hành FLIP và FLEX, được phát triển cùng với đối tác chiến lược của Mỹ là Venturi Astrolab, Inc. Ông Olsommer giải thích:
“Sứ mệnh FLIP, dự kiến phóng vào tháng 2 năm 2026, đang được thực hiện với sự hợp tác của một sứ mệnh NASA. Công ty Venturi Astrolab, có trụ sở tại California, Hoa Kỳ, đã ký hợp đồng với NASA để đưa xe tự hành này lên Mặt Trăng cùng với các tên lửa SpaceX, Falcon Heavy và tàu đổ bộ Astrobotic Griffin.
Nhiệm vụ của xe tự hành này sẽ là thử nghiệm các công nghệ đã được phát triển để hoạt động trên Mặt Trăng. Khi tôi nói về công nghệ, tôi đang nói đến công nghệ tấm pin mặt trời, hệ thống dẫn đường, định vị, chuyển động và lực kéo điện với động cơ, bánh xe và pin. Tôi cũng đang xác minh rằng tất cả các công nghệ chủ chốt đều có thể tồn tại trong môi trường Mặt Trăng. Điều này sẽ hỗ trợ các sứ mệnh trong tương lai bằng cách sử dụng các công nghệ đã được chứng minh trên các nền tảng tiên tiến hơn.
Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên vào năm tới sẽ đặt mục tiêu "sống sót" qua một hoặc hai đêm trên Mặt Trăng. Ít nhất đó là những gì chúng tôi mong đợi, và nếu kéo dài hơn được thì càng tốt. Tuy nhiên, các sứ mệnh trong tương lai sẽ phải hoạt động được trong một thời gian không còn được tính bằng đêm nữa, mà bằng tháng hoặc năm. “
MONA LUNA chủ yếu sẽ được sử dụng để vận chuyển các thiết bị, nhưng trong trường hợp khẩn cấp có thể chở theo một phi hành gia đang gặp khó khăn, theo kịch bản được Cơ quan Không gian châu Âu và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Không gian của Pháp dự trù trong các nghiên cứu về tính khả thi
Hướng tới Sao HỏaKhông chỉ trên Mặt Trăng, công ty Venturi Space còn đang phát triển xe tự hành trên Sao Hỏa, một hành tinh cũng có môi trường rất khắc nghiệt. Xe tự hành Sao Hỏa khác gì so với xe tự hành Mặt Trăng, ông Olsommer cho biết:
“Trái ngược với những gì người ta thường nghĩ, môi trường Sao Hỏa không khắc nghiệt như môi trường xung quanh. Điều này có hai lý do. Thứ nhất là về nhiệt độ. Nhiệt độ trên Sao Hỏa dễ chịu hơn nhiều, ít khắc nghiệt hơn nhiều so với nhiệt độ trên Mặt Trăng. Và thứ hai, trên Sao Hỏa, có một bầu khí quyển CO2 nhẹ cho phép làm mát tất cả các bộ phận của xe tự hành dễ dàng hơn một chút.
Có thể có những lựa chọn ít khắc nghiệt hơn về mặt vật liệu, chính là bởi vì nhiệt độ trên Sao Hỏa không quá khắc nghiệt. Nhưng mặt khác, hành trình đến Sao Hỏa dài hơn nhiều và về mặt lý thuyết, chi phí sẽ tốn kém hơn nhiều. Điều này có nghĩa là hành trình đến Sao Hỏa đòi hỏi một xe tự hành thậm chí còn đáng tin cậy hơn cả xe tự hành sẽ đến Mặt Trăng.
Dự án xe tự hành lên Mặt Trăng là một dự án hoàn toàn do châu Âu thực hiện. Còn dự án xe tự hành lên Sao Hỏa sẽ là một dự án hợp tác với các công ty Mỹ. Hiện chưa có hợp đồng nào được ký kết, không giống như đối với các xe tự hành sẽ đến Mặt Trăng, vốn đã có các hợp đồng cụ thể được ký kết. Nhưng những gì đang được chuẩn bị là cho thời kỳ trước những năm 2030, tức là trong tương lai gần, điều này sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của một số tên lửa đẩy của Mỹ, mà tôi chưa thể tiết lộ tên, dự kiến sẽ bay lên Sao Hỏa trong những năm tới.”
Ngoài MONA LUNA, còn có một xe tự hành Mặt Trăng khác coi như 100% châu Âu, đó là xe tự hành cở rất nhỏ mang tên Tenacious. Được phát triển bởi ispace-Europe, công ty con tại Luxembourg của công ty tư nhân Nhật Bản ispace, xe tự hành này chỉ cao khoảng 26 cm, dài hơn 50 cm và chỉ nặng 5 kg. Việc phát triển Tenacious nhận được tài trợ từ Cơ quan Không gian Luxembourg thông qua hợp đồng với Cơ quan Không gian Châu Âu.
Theo dự kiến, sau khi được triển khai từ tàu đổ bộ, Tenacious sẽ sử dụng camera HD phía trước để ghi lại hình ảnh bề mặt Mặt Trăng. Xe tự hành sẽ liên lạc với các trạm mặt đất thông qua tàu đổ bộ. Nhiệm vụ của Tenacious bao gồm thu thập bụi Mặt Trăng, một phần của hợp đồng đã ký với NASA vào năm 2020, một sáng kiến nhằm chứng minh tính khả thi của việc khai thác tài nguyên Mặt Trăng.
Tenacious đã được giao nhiệm vụ nghiên cứu lớp đất Mặt Trăng trong khuôn khổ chuyến bay của phi thuyền Resilience của công ty Nhật Bản trong tháng 6/2025. Nhưng chuyến bay đã thất bại, vì sau khi đáp thành công xuống Mặt Trăng, Resilience đã mất liên lạc với Trái Đất và như vậy là xe tự hành Tenacious đã không thể thực hiện nhiệm vụ được giao.
Argonaut, tàu đổ bộ Mặt Trăng của châu ÂuTrong lĩnh vực thám hiểm không gian, châu Âu cũng có một công ty lớn, đó là Thales Alenia Space, liên doanh giữa tập đoàn công nghiệp quốc phòng Pháp Thales (67%) và tập đoàn công nghiệp quốc phòng Ý Leonardo (33%). Thales Alenia Space đã ký hợp đồng trị giá 862 triệu euro với Cơ quan Không gian Châu Âu (ESA) để thiết kế và phát triển Bộ phận Hạ cánh Mặt Trăng (LDE) của phi thuyền Argonaut. Dự án này, đóng vai trò thiết yếu trong chương trình Artemis, cũng đánh dấu một bước tiến có tính chất quyết định để đảm bảo khả năng của Châu Âu trong công cuộc chinh phục Mặt Trăng kể từ những năm 2030.
Argonaut là một tàu đổ bộ Mặt Trăng đa năng, có khả năng vận chuyển tải trọng, xe tự hành và thiết bị khoa học lên bề mặt Mặt Trăng. Dự án này nhằm mục đích hỗ trợ các sứ mệnh khoa học tự động hoặc tham gia vào các sứ mệnh có người lái của chương trình Artemis. Chuyến bay đầu tiên của phi thuyền này sẽ được dành riêng cho việc vận chuyển tải trọng nhằm mục đích định vị, viễn thông và phát điện, như một phần của các sứ mệnh của Châu Âu đến phía Nam Mặt Trăng.
Tàu đổ bộ Argonaut bao gồm ba thành phần chính: bộ phận hạ cánh Mặt Trăng, bệ đỡ tải trọng và các thiết bị được gửi lên Mặt Trăng. Một trong những điểm mạnh chính của tàu vũ trụ này là linh hoạt, có thể thích ứng với nhiều loại nhiệm vụ khác nhau, từ vận chuyển thiết bị cho phi hành gia, xe tự hành, trình diễn công nghệ đến các trạm sản xuất sử dụng tài nguyên Mặt Trăng.
Là nhà thầu chính, Thales Alenia Space sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng bộ phận hạ cánh xuống Mặt Trăng. Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget 2025, ông Roberto Provera, giám đốc đặc trách các sáng chế của công ty Thales Alenia Space cho biết:
“Dự án này đã ra đời cách đây 3 năm với một số nghiên cứu ban đầu cho tàu đổ bộ cỡ trung hoàn toàn do Châu Âu phát triển. Chúng tôi đã tiến hành một số nghiên cứu với Cơ quan Không gian Châu Âu. Sau đó, năm ngoái, khi họ tổ chức đấu thầu lần cuối, chúng tôi đã tham gia đấu thầu và đã được giao thực hiện dự án này.
Đây là một tàu đổ bộ. Về cơ bản, đó là một tàu có một hệ thống đẩy rất mạnh và một hệ thống dẫn đường, định hướng và điều khiển. Đó là hai công nghệ chính. Công nghệ quan trọng thứ ba là hệ thống hạ cánh bằng chân. Đó là một cấu trúc hoàn toàn mới mà chúng tôi phải phát triển, từ hệ thống đẩy, dẫn đường, định hướng, điều khiển cho đến hệ thống chân.
Ngoài ra, còn có một thách thức là khả năng sống sót vào ban đêm trên Mặt Trăng, cho nên phải có một hệ thống năng lượng bổ sung.
Nhiệm vụ đầu tiên được lên kế hoạch vào năm 2031. Vì vậy, chúng tôi sẽ giao tàu đổ bộ cho Cơ quan Không gian Châu Âu vào năm 2030. Tàu sẽ bay cùng hỏa tiễn Ariane 6 vào năm 2031. Tàu đổ bộ này là một trong những đóng góp của châu Âu cho dự án Artemis, một chương trình đa quốc gia của Mỹ, Canada, Nhật Bản, Châu Âu. Vì vậy, thành phần này là của châu Âu nhưng nó được tích hợp vào một dự án chung quy tụ những nước muốn tham gia thám hiểm Mặt trăng.”
Trong bối cảnh bất ổn của thế giới ngày nay, với nguy cơ xung đột quân sự leo thang và nhất là trước mối đe dọa từ Nga, Pháp đang nỗ lực tăng cường khả năng phòng thủ, trang bị cho quân đội những công nghệ tiên tiến, trong có có công nghệ robot kết hợp với trí tuệ nhân tạo.
Trí tuệ nhân tạo vẫn là một công nghệ tương đối mới, nhưng ứng dụng quân sự của nó đã trở thành hiện thực ở nhiều quốc gia. Quân đội Pháp cũng đang sử dụng công nghệ này, ví dụ như các xe bọc thép, bao gồm cả xe tăng Leclerc XLR, mới được tăng cường trí tuệ nhân tạo. Việc tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo mang lại hiệu suất quan sát và phát hiện tốt hơn. Ngay cả trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, xe tăng vẫn có thể cung cấp hình ảnh chất lượng cao. Nói chung là robot được sử dụng đặc biệt cho mục đích giám sát, sửa chữa, hậu cần và cho bất kỳ nhiệm vụ lặp đi lặp lại và rủi ro cao nào khác.
Trước đây, 2040 là năm được ấn định cho việc đưa các robot đó vào hoạt động trong quân đội Pháp, nhưng cuộc chiến Ukraina và những cuộc xung đột vũ trang khác đã làm thay đổi các ưu tiên quân sự. Bên cạnh việc đào tạo nhân sự, vũ khí cũng đang trở nên thông minh hơn và thích nghi hơn. Robot hóa hiện là trọng tâm của các chiến thuật quân sự. Thật ra thì robot sẽ không thay thế người lính, mà trở thành phương án dự phòng, đặc biệt là ở những khu vực dễ bị tấn công. Do đó, chính công nghệ này thích ứng với người lính, chứ không phải ngược lại.
Gần đây, tướng Bruno Baratz, tư lệnh đặc trách Chương trình Chiến đấu Tương lai của Quân đội Pháp, đã công bố ý định triển khai robot sẵn sàng chiến đấu. Phát biểu trong một cuộc tập trận robot quân sự gần Paris, tướng Baratz cho biết: "Chúng tôi hy vọng sẽ có một hệ thống robot tiên tiến trong vòng ba năm tới, với những robot mặt đất đầu tiên sẵn sàng trang bị cho lực lượng của chúng tôi. Chính phủ Pháp có kế hoạch triển khai các hệ thống tiên tiến, có tính ứng dụng thực tế cho các đơn vị chiến đấu của chúng tôi trước năm 2040."
Trong các cuộc thử nghiệm robot quân sự, các đơn vị không người lái, được trang bị chân, xích và bánh xe, đã di chuyển qua các chướng ngại vật và tránh các bẫy được thiết kế để mô phỏng điều kiện chiến trường. Quân đội Pháp có kế hoạch triển khai những robot này cho nhiều nhiệm vụ khác nhau, từ giám sát, sửa chữa từ xa, đến rà phá bom mìn. Tướng Tony Maffeis, giám đốc bộ phận kỹ thuật của lục quân (STAT), nhấn mạnh: "Giờ đây, chúng ta cần chứng minh rằng robot có thể hiệu quả hơn khi tiếp xúc gần với kẻ thù. Robot phải hỗ trợ chiến đấu, chứ không phải cản trở chiến đấu."
Dự án Pendragon: Kết hợp trí tuệ nhân tạo với robotTriển lãm công nghệ Vivatech 2025 tại Paris đã là dịp để bộ Quân Lực Pháp giới thiệu với công chúng những ứng dụng của công nghệ trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực quốc phòng, chẳng hạn như dự án Pendragon.
Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm VIvatech 2025, ông Théo Pierre, một chuyên viên về trí tuệ nhân tạo của Cơ quan đặc trách trí tuệ nhân tạo quốc phòng ( MIAD ), trực thuộc bộ Quân Lực Pháp, cho biết:
“Pendragon là dự án trí tuệ nhân tạo AI và robot do Cơ quan đặc trách trí tuệ nhân tạo quốc phòng và Bộ Tư lệnh Tác chiến Tương lai, tức là lục quân, thực hiện. Dự án này trước hết là nhằm thiết lập đơn vị robot chiến đấu đầu tiên tích hợp trí tuệ nhân tạo và sau đó là tập hợp các nền tảng robot trên mặt đất và nền tảng bay, bao gồm cả drone, giúp các nền tảng này tương tác với nhau để thực hiện nhiệm vụ do một chỉ huy quân sự đề ra. Nhiệm vụ này sẽ được diễn giải tự động bằng trí tuệ nhân tạo. Công nghệ trí tuệ nhân tạo cũng sẽ được sử dụng ở một cấp độ khác, thống nhất trong mỗi nền tảng, để thực hiện các nhiệm vụ như trinh sát, phát hiện bằng quang điện tử, mà còn cả bằng tần số vô tuyến, radar, v.v.
Mục tiêu là có một đơn vị chỉ gồm robot, nhưng chúng được điều khiển bởi một chỉ huy quân sự đã được đào tạo cho việc này và sẽ có thể quyết định các hành động cần thực hiện.
Chúng tôi sử dụng các mô hình mà chúng tôi đã đào tạo và khai thác, đồng thời dựa vào các nhà sản xuất để sử dụng dữ liệu của họ. Ngay cả khi chúng được chỉ huy bởi một sĩ quan, những robot này có ít nhiều tự chủ. Mức độ tự chủ của robot cũng có thể do người điều khiển quyết định tùy thuộc vào nhiệm vụ và mức độ nguy hiểm dự kiến của nhiệm vụ. Hiện giờ chúng tôi đang mở trung tâm Pendragon, để tập hợp tất cả các bên có liên quan và có hứng thú với dự án. Về mốc thời gian, đơn vị robot sẽ có buổi biểu diễn thử nghiệm đầu tiên vào mùa hè năm 2026."
Nói chung, theo ông Théo Pierre, trí tuệ nhân tạo AI đang ngày càng được sử dụng trong lĩnh vực quốc phòng của Pháp:
“Việc thành lập cơ quan MIAD chứng minh điều đó. Bây giờ, phải chuyển từ giai đoạn nghiên cứu và phát triển AI sang sản xuất. Điều đó có nghĩa là chúng tôi đang cố gắng đẩy nhanh quá trình tích hợp AI vào các hệ thống vũ khí nói chung. Một trong những mục tiêu của dự án Pengragon là tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ huy và kiểm soát hệ thống. Chính xác hơn là để giảm tải cho chỉ huy quân đội, để viên chỉ huy này sau đó sẽ có thể vận hành nhiều drone cùng một lúc, chứ không chỉ một hoặc hai drone như hiện nay."
Theo hãng tin AFP, trong nhiều tuần vào tháng 5 vừa qua, lục quân Pháp đã tổ chức cuộc thi CoHoMa, một cuộc thi về sự hợp tác giữa người và máy, với sự tham gia của mười đội đến từ các ngành công nghiệp, phòng thí nghiệm nghiên cứu và trường kỹ thuật, thực hiện một nhiệm vụ chung: chứng minh khả năng của robot trong việc giữ vững vị trí trước kẻ thù.
Tướng Tony Maffeis, giám đốc bộ phận kỹ thuật của lục quân (STAT), giải thích với AFP: Từ drone quan sát đến xe rà phá bom mìn, robot đã "rất hữu ích trong việc bảo vệ các đơn vị của chúng ta, nhưng giờ đây chúng ta cần chứng minh robot có thể tăng hiệu quả khi tiếp xúc với kẻ thù."
AFP trích lời ông Baptiste Lepelletier, thuộc một nhóm quy tụ các trường Enac, Isae-Supaero và trung tâm nghiên cứu hàng không vũ trụ Onera của Pháp, cho biết, với cuộc thi này, "chúng tôi bước ra khỏi phòng thí nghiệm và giải quyết một nhiệm vụ thực tế".
Robot mặt đất không thể thiếu sự phối hợp của các drone. Lục quân Pháp đã nghiên cứu vấn đề này từ năm 2021 với dự án Vulcain và bộ phận robot thử nghiệm, đã trình diễn một cuộc tấn công được hỗ trợ bởi một nền tảng robot được trang bị súng máy 12,7 mm.
Không cần chờ đến mục tiêu năm 2040, một số thành tựu từ hai phiên bản trước của cuộc thi CoHoMa đã được tích hợp vào thiết bị. Marc Dehondt, đứng đầu bộ phận đổi mới hệ thống mặt đất của tập đoàn Thales, cho biết họ đã "tích hợp một số thành tựu vào hệ thống chiến đấu Scorpion", hệ thống kết nối các xe bọc thép thế hệ tiếp theo. Nhưng trước khi tham gia chiến đấu, những ứng dụng đầu tiên sẽ là trong hậu cần, với các đoàn xe vận tải chạy bằng drone hoặc robot chở hàng hóa thay cho binh lính.
SERAA: Nhận dạng bằng trí tuệ nhân tạoCũng tại triển lãm Vivatech 2025, bộ Quân Lực Pháp đã giới thiệu dự án SERAA, một hệ thống nhận dạng bằng trí tuệ nhân tạo. Đây là hệ thống đầu tiên được sử dụng để nhận dạng và xác định những đặc tính của các xe tăng đối phương.
Trả lời RFI Việt ngữ, ông Frédéric Ponsavady, trưởng dự án, cho biết:
“Đây là một dự án trong số rất nhiều dự án của bộ Quân Lực, tương tự như những gì chúng ta thấy với hệ thống nhận dạng khuôn mặt, ngoại trừ việc nó thực sự được áp dụng cho bất kỳ loại phương tiện chiến đấu nào. Vì vậy, dù là trên bộ, trên biển, hay thậm chí trên không, nó đều có thể được điều chỉnh. Đây là những hệ thống đồng thời tập trung, phi tập trung, tự vận hành, tự động hóa, v.v. Và nó dựa vào trí tuệ nhân tạo.
Như với bất kỳ hệ thống thông minh nào, nó phải được huấn luyện để nhận dạng các mục tiêu khác nhau. Do đó, có một thách thức đối với tất cả những người làm việc trên những dự án đó: làm sao nâng cao chất lượng nguồn cung cấp dữ liệu cho các hệ thống thông minh này."
Nhưng ông Frédéric Ponsavady nhấn mạnh yếu tố con người vẫn là có tính chất quyết định trong các hệ thống đó:
"Đối với bộ Quân Lực, điều quan trọng là duy trì chủ quyền của mình dựa trên các công nghệ mới. Các lực lượng vũ trang của chúng ta bằng mọi giá phải duy trì khả năng hoạt động trực tiếp, cũng như khả năng về trí tuệ con người, chứ không phải trí tuệ nhân tạo. Nghĩa là thông qua những dự án đa dạng này, chúng ta duy trì và phát triển các kỹ năng và năng lực tương lai của các kỹ sư và quân nhân để có thể ứng phó với các tình huống xung đột quốc tế.
Khó khăn ở đây là chúng ta đụng đến một lĩnh vực hơi phức tạp, nghĩa là chúng ta vẫn cần con người can thiệp. Chúng ta có thể có các hệ thống hoàn toàn tự động mà qua đó có thể gửi mệnh lệnh đến những người lính của tương lai, những robot của tương lai: " Hãy chiếm lĩnh vị trí này." Nhưng chúng ta cũng phải nói rõ là hệ thống nên cẩn thận ở những điểm nào. Tính tự động của hệ thống cũng phải được kiểm soát tốt, bất kể tình huống, phải có các biện pháp bảo vệ. Đây là mối quan tâm đặc biệt của chúng tôi, vì dù sao đi nữa, con người vẫn là mối quan tâm chính của chúng tôi, ít ra là trong một nền dân chủ."
Nạn hàng giả không phải là mới, nhưng tác động kinh tế của tệ nạn rất lớn, chiếm khoảng 2,5% thương mại toàn cầu và gây thiệt hại mỗi năm hàng tỷ đô la cho các doanh nghiệp trên thế giới. Hàng giả không chỉ gây hại cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến người tiêu dùng, vì họ mua phải những sản phẩm kém chất lượng, thậm chí nguy hiểm. Chỉ riêng tại Pháp, 37% người tiêu dùng đã vô tình mua phải hàng giả.
Vrai Ai: Trợ thủ của LacosteNhưng làm sao phân biệt được sự khác biệt giữa một chiếc áo phông Lacoste và một chiếc áo phông giả có logo cá sấu nổi tiếng? Thật sự thì với mức độ tinh xảo ngày càng cao của những cơ sở sản xuất hàng giả, mắt thường thật khó mà phân biệt, trừ phi chúng ta là một chuyên viên sành sõi. Việc phân biệt hàng thật với hàng giả trong ngành dược phẩm lại càng quan trọng vì nó liên quan đến sức khỏe, đến mạng sống con người.
Rất may là hiện nay trí tuệ nhân tạo (AI) đang được sử dụng ngày càng nhiều trong việc phát hiện hàng giả, chẳng hạn như ứng dụng trí tuệ nhân tạo do công ty khởi nghiệp Vrai AI của Pháp phát triển. Ứng dụng này, có thể nhận diện hàng giả dựa trên phân tích ảnh, đã được giới thiệu tại triển lãm công nghệ Vivatech 2025 (17-20/06/2025). Vrai AI hiện đang cộng tác với hãng Lacoste, thương hiệu mà các sản phẩm, nhất là áo phông, rất thường bị làm giả. Có những chiếc áo phông Lacoste nhìn qua là biết ngay là hàng giả, nhưng có những chiếc áo được làm giả một cách tinh vi hơn, mắt thường không thể phát hiện được, mà phải cần đến ứng dụng Vrai AI, với độ chính xác gần như tuyệt đối, 99,7%.
Độ chính xác này không chỉ giúp thương hiệu Lacoste bảo vệ hình ảnh và sản phẩm của họ, mà còn tiết kiệm đáng kể chi phí liên quan đến gian lận khi trả hàng (mua hàng thật nhưng gởi trả hàng giả). Nhân viên Lacoste sử dụng ứng dụng Vrai AI để chụp ảnh các sản phẩm được trả lại và có thể xác định ngay đó là hàng giả hay thật.
Trả lời RFI Việt ngữ tại Vivatech, ông Hugo Garcia-Cotte, đồng sáng lập công ty khởi nghiệp Vrai AI, cho biết:
“Chúng tôi có một hệ thống trí tuệ nhân tạo được huấn luyện trên hàng trăm nghìn bức ảnh sản phẩm thật và siêu giả, từ đó ứng dụng có thể suy ra những lỗi vi mô do kẻ làm giả gây ra so với những lỗi vi mô trên sản phẩm thật. Vì vậy, chúng tôi có thể xác định một sản phẩm thật, như quần áo, thuốc chống sốt rét, nước hoa, cả thẻ căn cước. Ứng dụng Vrai AI có thể phát hiện hàng giả chỉ từ một bức ảnh chụp bằng điện thoại thông minh. Chúng tôi thậm chí đã thử nghiệm ứng dụng này trên những tờ tiền euro giả đẹp nhất và đã có thể phát hiện những tờ tiền giả đẹp nhất từ ảnh chụp bằng điện thoại thông minh. Đối với mỗi loại sản phẩm, chúng tôi huấn luyện ứng dụng trí tuệ nhân tạo trên loại sản phẩm đó bằng cách sử dụng một số lượng sản phẩm thật và sau đó chúng tôi suy ra rằng những sản phẩm không giống hàng thật là hàng giả.
Ứng dụng của chúng tôi đã được huấn luyện trên mọi thứ được in hoặc thêu. Nghĩa là có một số loại lỗi là lỗi in ấn điển hình. Ví dụ, nếu màu sắc không chính xác thì đó có thể là lỗi in trên sản phẩm thật. Nhưng cũng có những lỗi khác chỉ có thể đến từ kẻ làm giả. Ví dụ, nếu phông chữ không đúng thì chắc chắn đó là hàng giả. Và đó là những gì Vrai IA đã tự học được từ hàng ngàn ví dụ mà chúng tôi cung cấp - chính xác là 180.000 ví dụ - nó có thể xác định được loại lỗi nào được chấp nhận và loại lỗi nào là bằng chứng của hàng giả.”
Ngoài việc cộng tác với hãng Lacoste, công ty Vrai AI hiện chủ chủ yếu giúp các nước ở châu Phi phát hiện các dược phẩm làm giả, theo lời ông Hugo Garcia-Cotte:
“Điều mà hầu hết mọi người không nhận ra là nạn làm hàng giả thực sự rất nghiêm trọng. Năm ngoái, cứ 10 người trên thế giới thì có 7 người vô tình mua phải hàng giả. Tôi không nói đến những người mua đồng hồ giả cho vui, mà nói đến thuốc giả giết chết 100 người mỗi giờ trên thế giới, một con số quá lớn. Ngay cả phương Tây cũng gặp tình trạng này, ví dụ như ở Hoa Kỳ, 11,4% thuốc là thuốc giả. Vì vậy, đối với thuốc giả, chúng tôi chụp ảnh hộp hoặc vỉ thuốc, mục đích là để có thể làm việc với hải quan.
Ví dụ, chúng tôi có một thỏa thuận với Cameroun để giúp phát hiện thuốc giả nhập khẩu, bởi vì, chẳng hạn như theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, ở Nigeria có đến 64% thuốc chống sốt rét là thuốc giả, mà tại cửa khẩu, các nhân viên hải quan không có cách nào biết được. Vì vậy, công cụ này có thể cứu sống hàng ngàn người. Hiện giờ ứng dụng chúng tôi đang được triển khai cho các chính phủ ở Cameroun, Eswatini, Senegal, và nhiều nước khác. Vrai AI cũng đang sử dụng trên các loại thuốc chống ung thư được bán ở Trung Quốc, nơi chúng tôi đã cứu sống ít nhất 6.000 người nhờ việc giảm đáng kể tình trạng làm giả loại thuốc này.
Chắc chắn là các quan chức hải quan ở nhiều quốc gia sẽ quan tâm đến loại ứng dụng này. Đây là một vấn đề sức khỏe cộng đồng. Hàng giả giết chết nhiều người hơn cả bệnh sốt rét.
Trong những tuần tới, hoặc ít nhất là trong vài tháng tới, ứng dụng VRAI AI sẽ được trang bị, ít nhất là cho Senegal, để phát hiện các loại thuốc giả có thể gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Và đó thực sự là mục tiêu của chúng tôi. Đúng là chúng tôi có thể tập trung vào việc phát hiện túi xách hoặc đồng hồ giả, thu được nhiều tiền hơn, nhưng mục tiêu của chúng tôi thực sự là cứu sống người bằng ứng dụng đó. Vì vậy, đối tượng số một của chúng tôi là các nước đang phát triển, giúp hải quan các nước đó phát hiện thuốc giả, mặc dù đối với hải quan Pháp, chúng tôi cũng có thể giúp phát hiện rất nhiều sản phẩm khác nữa, bất cứ thứ gì miễn là nó được in hoặc được thêu. Không có vấn đề gì.”
Navee: Chống hàng giả trực tuyếnMột công ty khởi nghiệp khác của Pháp cũng đang cung cấp một giải pháp sáng tạo dựa trên trí tuệ nhân tạo, đó là Navee. Navee vừa được Hiệp hội Nhãn hiệu Quốc tế (INTA) bình chọn là giải pháp sáng tạo nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, ghi nhận tất cả những nỗ lực mà công ty khởi nghiệp của Pháp đã thực hiện trong hơn bốn năm qua. Công nghệ dựa trên AI của Navee để chống hàng giả trực tuyến đã xử lý hơn 50 triệu hình ảnh và giúp khoảng 100 thương hiệu toàn cầu tiết kiệm hơn 500 triệu đô la.
Matteo Amerio, đồng sáng lập Navee (cùng với Matthieu Daviet), cho biết hành trình Navee thực sự chỉ bắt đầu khi anh học tại Stanford, nơi anh cùng cộng sự viên tìm chỗ ở và phát hiện ra rằng các danh sách trực tuyến thực sự tràn ngập hàng giả. Sau đó, cặp bài trùng này quyết định sử dụng công nghệ thị giác máy tính mà họ đang phát triển trong một công ty khởi nghiệp do họ thành lập để phát hiện các sản phẩm gian lận trực tuyến. Họ đã mất hơn bốn năm để phát triển công nghệ này, tự động hóa việc tìm kiếm và phân tích các danh sách gian lận trên toàn bộ mạng Internet.
Trí tuệ nhân tạo (AI) của Navee giải mã các yếu tố hình ảnh, đồ họa và văn bản cụ thể của từng khách hàng trên internet một cách cực kỳ chính xác, giúp nhanh chóng định vị và kiểm soát nội dung trực tuyến, cũng như tự động xóa nội dung, thậm chí xác định các mạng lưới ẩn sau nội dung đó. Để luôn dẫn đầu về công nghệ, công ty khởi nghiệp này cũng đã hợp tác với các đối tác chủ chốt trong ngành như Liên minh các nhà sản xuất bảo vệ sở hữu trí tuệ quốc tế (UNIFAB) và Google. Navee cũng vừa gia nhập ủy ban chống hàng giả của INTA, một hiệp hội toàn cầu quy tụ hơn 31.000 chủ sở hữu thương hiệu và chuyên gia về các dịch vụ liên quan đến thương hiệu và sở hữu trí tuệ.
Amazon cũng nhập cuộcCác công ty thương mại điện tử lớn cũng đã triển khai những công cụ mới để chống tệ nạn hàng giả, đi đầu là Amazon. Theo một nghiên cứu năm 2023 của Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Liên Hiệp Châu Âu (EUIPO), hàng giả gây thiệt hại 16 tỷ euro mỗi năm cho khối này. Các quan chức hải quan Pháp xác định thương mại trực tuyến, đặc biệt là các nền tảng bán hàng trực tuyến, là một trong những phương tiện chính cho buôn bán hàng giả. Tại Pháp, một nghiên cứu do Liên minh các nhà sản xuất công bố vào tháng 9 năm 2023 cho thấy vào năm 2023, 9% sản phẩm giả được mua trên Internet là thông qua Amazon.
Trước tình hình đó, Amazon đã phát triển các công cụ sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để xác minh tài khoản người bán và phân tích các sản phẩm được bán trên nền tảng của mình. Kể từ ngày 17/02/2024, theo Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số (DSA), các nghĩa vụ mới nhằm chống lại việc phát tán nội dung giả mạo đã được áp dụng đối với các nền tảng bán hàng trực tuyến. Các nền tảng này nay phải cung cấp cho người dùng Internet một công cụ đơn giản để báo cáo nội dung giả mạo và sau khi được báo cáo, họ phải nhanh chóng xóa hoặc chặn quyền truy cập vào nội dung này.
Hơn nữa, Điều 30 của DSA yêu cầu các nền tảng bán hàng trực tuyến phải thu thập thông tin chính xác về người bán (thông tin liên hệ, mã số nhận dạng chuyên môn, thông tin thanh toán, v.v.) trước khi cho phép họ bán hàng. Độ tin cậy của thông tin này phải được xác minh.
Amazon đã tạo ra một dịch vụ có tên là "Brand Registry", qua đó các công ty đã đăng ký cung cấp dữ liệu chính xác liên quan đến thương hiệu, sản phẩm và sở hữu trí tuệ của họ. Từ đó Amazon sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo để triển khai các giải pháp tự động xác định nội dung có khả năng vi phạm. Sau đó, một danh mục chứa các vi phạm tiềm ẩn này sẽ được cung cấp cho thương hiệu đối tác để cho phép họ nhanh chóng báo cáo trong trường hợp thực sự vi phạm.
Amazon cũng đã triển khai một quy trình xác minh danh tính tiên tiến dựa trên công nghệ thị giác máy tính, đảm bảo tính xác thực của các tài liệu nhận dạng và tài liệu do người bán tiềm năng cung cấp. Quy trình xác minh này được kết hợp với trao đổi video riêng với từng người bán tiềm năng và được cho là đã ngăn chặn hơn 800.000 nỗ lực của những cá nhân có ý đồ xấu tạo tài khoản người bán mới.
Từ nhiều năm nay, vệ tinh Sentinel-1 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) đã hỗ trợ Việt Nam trong việc đối phó hiệu quả với lũ lụt và nhiều thảm họa lớn khác. Nhân dịp kỉ niệm 50 năm thành lập Cơ quan Vũ trụ châu Âu, RFI tiếng Việt đặt câu hỏi với chuyên gia về vệ tinh quan sát Trái đất, Philippe Bally, về loại vệ tinh đặc biệt này.
Chuyên gia Philippe Bally làm việc tại trung tâm quan sát Trái đất ESRIN, trực thuộc Cơ quan vũ trụ châu Âu ESA. Ông cũng là đại diện của Cơ quan Vũ trụ Châu Âu tại Hội đồng của Hiến chương Không gian Quốc tế và các Thảm họa Lớn (International Charter Space and Major Disasters / Charte Espace et Catastrophes Majeures). Hiến chương Không gian Quốc tế và các Thảm họa Lớn, thành lập từ năm 1999, là cơ chế điều phối các hợp tác quốc tế nhằm cung cấp miễn phí các bản đồ hình ảnh vệ tinh.
RFI : Xin ông giải thích khái quát về phương thức hoạt động của vệ tinh Sentinel-1 và điều gì khiến vệ tinh này khác biệt so với các vệ tinh khác ?
Chuyên gia Philippe Bally : Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) hợp tác với 16 cơ quan vũ trụ khác trên toàn thế giới để vận hành một hệ thống ứng phó với các thảm họa thiên nhiên phục vụ mục tiêu nhân đạo. Hệ thống này giám sát toàn bộ các khu vực trên hành tinh và kích hoạt việc lập trình hoạt động của các vệ tinh ở chế độ khẩn cấp để cung cấp hình ảnh miễn phí, bất kể với quốc gia nào. Sông Mêkông, cũng như Việt Nam nói chung, đều nằm trong vùng phủ sóng của hệ thống này.
Vệ tinh Sentinel-1 đặc biệt vì hai lý do. Thứ nhất, đây là một vệ tinh radar. Nhiều vệ tinh khác có thể ví như máy ảnh, chụp hình dựa vào bức xạ hay ánh sáng mặt trời, tức là các hệ thống tiếp nhận ánh sáng một cách thụ động. Nhưng Sentinel-1 có cảm biến radar, nghĩa là vệ tinh này tự phát ra sóng ở băng tần C và tiếp nhận phản xạ từ các vật thể trên Trái Đất. Có nghĩa đây là một hệ thống chủ động. Nếu so sánh với máy ảnh, thì nó giống như chụp ảnh ban đêm bằng đèn flash – tức một hệ thống chủ động. Đây là điểm độc đáo của vệ tinh này.
Thứ hai, Sentinel-1 có khả năng bao phủ toàn cầu một cách hệ thống và liên tục chụp ảnh mà không cần người dùng yêu cầu. Vệ tinh hoạt động theo chế độ thu nhận dữ liệu định kỳ. Ví dụ, vệ tinh bay qua Paris 6 ngày một lần. Như vậy từ khi đi vào hoạt động đến cuối vòng đời của mìnhn, cứ mỗi 6 ngày vệ tinh lại cung cấp một ảnh chụp Paris mới và ảnh được cung cấp miễn phí. Hoạt động này tạo ra một hệ thống thu thập dữ liệu khổng lồ và liên tục. Đây là một lợi thế lớn, vì phần lớn người dùng dữ liệu vệ tinh đều cần được tiếp cận liên tục và ổn định với dữ liệu, chứ không phải chỉ là vài hình ảnh rời rạc.
Vì sử dụng radar chủ động nên « nhìn » được cả vào lúc ban đêm, và vì hoạt động liên tục nên vệ tinh thường xuyên cung cấp hình ảnh về mọi khu vực. Sentinel-1 là vệ tinh radar duy nhất cung cấp dữ liệu toàn cầu thường xuyên và miễn phí.
RFI : Vệ tinh Sentinel-1 cung cấp loại dữ liệu nào trong bối cảnh thiên tai như lũ lụt ? Sentinel-1 đã đóng vai trò gì trong việc theo dõi lũ lụt sông Mêkông tại Việt Nam ? Những thông tin cụ thể nào đã được rút ra từ ảnh vệ tinh ?
Chuyên gia Philippe Bally : Radar vệ tinh rất nhạy cảm với sự hiện diện của nước, như sông, hồ, vùng bị ngập hoặc cả ruộng lúa nước. Khi chụp ảnh định kỳ và so sánh các ảnh để phát hiện thay đổi, ta có thể thấy tín hiệu radar giảm mạnh khi một bề mặt bị ngập nước, vì radar phản xạ giống như ánh sáng với gương. Trong trường hợp đất ngập nước, tín hiệu không quay lại vệ tinh, hệ quả là ảnh trở nên rất tối. Chính nhờ đó, ta có thể lập được bản đồ phạm vi ngập nước, gọi theo thuật ngữ chuyên môn là « dấu vết quan sát lũ lụt » (traces observées d’inondation), được cập nhật từ 3 đến 6 ngày một lần. Các bản đồ này giúp theo dõi phạm vi và sự biến đổi của các vùng bị ngập, dĩ nhiên phải được bổ sung thêm với các nguồn dữ liệu khác. Người dùng có thể kết hợp các bản đồ kiểu này với các dữ liệu khác, được thu thập với tần suất cao hơn, nhưng xét về độ phân giải thì lại không bằng.
Về mặt không gian, Sentinel-1 cung cấp thông tin chi tiết với độ phân giải chính xác đến khoảng 20m x 20m mỗi pixel, có nghĩa là rất chính xác để theo dõi lũ lụt ở vùng đồng bằng. Còn về mặt thời gian, hệ thống phụ thuộc vào chu kỳ quay lại của vệ tinh – khi Sentinel-1A và Sentinel-1C hoạt động cùng nhau, có thể đạt chu kỳ 3 ngày một lần, cả trong giai đoạn vệ tinh bay lên cũng như hạ xuống.
Các mô hình thủy văn của trung tâm khí tượng có thể mô phỏng với nhịp độ dày đặc xét về thời gian, nhưng về độ chính xác thì không bằng, vì dựa vào mô hình. Trong khi đó, Sentinel-1 cung cấp các quan sát trực tiếp thực tế. Do đó, điều mang lại lợi thế ở đây nằm ở chỗ kết hợp dữ liệu vệ tinh với mô hình thủy văn, với lợi thế liên tục về thời gian của mô hình và lợi thế về độ chính xác cao của ảnh vệ tinh.
RFI : Trong việc giám sát bằng vệ tinh các khu vực có rủi ro cao như lũ lụt sông Mêkông ở Việt Nam, đâu là những cách tân được kỳ vọng trong tương lai ?
Chuyên gia Philippe Bally: Những đổi mới được kỳ vọng trong công nghệ không gian đối với rủi ro thiên tai là phương pháp tích hợp thường được gọi là « virtual constellation », tạm dịch là « kết nối các vệ tinh » (hay « chòm sao ảo »). Đây là các hệ thống hoạt động với số lượng lớn cảm biến rất khác nhau (bao gồm cảm biến quang học lẫn cảm biến radar), nhưng được kết nối một cách thống nhất ngay cả khi chúng thuộc về các tổ chức riêng biệt.
Cơ chế « Hiến chương quốc tế / International Charter », tên đầy đủ là International Charter Space and Major Disasters/ Hiến chương quốc tế về Không gian và những thảm họa lớn) cho phép kết hợp các cảm biến đến từ Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Achentina, châu Âu... và chúng tôi đã thống nhất về cách thông báo và cung cấp dữ liệu, cũng như kết hợp các dữ liệu này với « các nền tảng đám mây » (plateformes cloud) – tức các nền tảng trực tuyến cho phép xem và phân tích ảnh một cách nhanh chóng, bất kể nguồn gốc ảnh hay loại cảm biến nào.
Chúng ta đang thực sự tiến tới những hệ thống đa cảm biến không đồng nhất, nhưng có thể vận hành rất nhanh và rất nhịp nhàng. Các hệ thống ứng phó thiên tai toàn cầu như Copernicus EMS (Emergency Mapping System) ở châu Âu hoặc cơ chế Hiến chương quốc tế về các thảm họa lớn đều sử dụng nguyên tắc gọi là « kết nối các vệ tinh » (chòm sao ảo) vì mục tiêu chung như vậy.
Điều này có nghĩa là chúng tôi vận hành các vệ tinh thuộc nhiều cơ quan khác nhau theo một cách thống nhất, với một cách thu thập dữ liệu duy nhất, xây dựng hình ảnh và chuyển đổi dữ liệu thành thông tin theo cách thức thống nhất.
RFI : Dữ liệu vệ tinh đã được các cơ quan chức năng tại Việt Nam sử dụng như thế nào ?
Chuyên gia Philippe Bally : Liên quan đến Việt Nam, kể từ năm 2015, đã có tổng cộng 10 lần kích hoạt dịch vụ bản đồ vệ tinh bởi UNOSAT – Trung tâm bản đồ vệ tinh của Liên Hiệp Quốc, được đặt tại trụ sở của UNITAR (United Nations Institute for Training and Research), một cơ quan khác của Liên Hiệp Quốc, ở Genève, Thụy Sĩ, và một trung tâm khác tại Thái Lan. Trong số đó, 6 lần được kích hoạt trên cơ sở cơ chế Hiến chương quốc tế về không gian và các thảm họa lớn, mà Cơ quan Vũ trụ Châu Âu ESA cùng 16 cơ quan không gian khác tham gia. Mỗi lần như vậy, chúng tôi đều cung cấp bản đồ lũ dựa trên hình ảnh từ nhiều vệ tinh, đặc biệt là vệ tinh Sentinel-1.
Các lần kích hoạt thường do Liên Hiệp Quốc yêu cầu, nhưng thường với sự phối hợp cùng các cơ quan sử dụng dữ liệu tại chỗ, ở cấp quốc gia hay địa phương, như bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (MONRE), nơi có cục Viễn thám Quốc gia – đơn vị trực tiếp tiếp nhận và phân tích dữ liệu ảnh vệ tinh.
Một ví dụ tiêu biểu cho việc kích hoạt cơ chế này cụ thể là đợt bão Yagi vào tháng 9/2024, gây lũ nghiêm trọng ở Việt Nam phía bắc Hà Nội. Cơ chế Hiến chương quốc tế này (International Charter Space and Major Disasters) đã nhận được yêu cầu kích hoạt từ bộ Tài nguyên Môi trường Việt Nam vào ngày 10/09/2024. Ngay sau đó, hệ thống Cơ chế Hiến chương quốc tế được kích hoạt, và các bản đồ hình ảnh vệ tinh khẩn cấp các vùng bị ngập được thực hiện với sự cộng tác giữa trung tâm bản đồ vệ tinh khẩn cấp Copernicus Emergency Mapping của Liên Âu, cùng UNITAR ở Genève và bộ Tài nguyên và Môi trường của Việt Nam. « Các bản đồ thiệt hại » được thiết lập để xác định phạm vi vùng lũ, và « các bản đồ tình huống » được thiết kế nhằm hỗ trợ việc triển khai cứu hộ, cứu nạn, cũng như các hoạt động ứng phó thảm họa khác. Những bản đồ này được cung cấp miễn phí và nhanh chóng cho phía Việt Nam để sử dụng trong giai đoạn khẩn cấp.
Các bản đồ được thiết lập trong vòng vài ngày, hoặc vài tuần, để đáp ứng mục tiêu đối phó khẩn cấp với thảm họa. Sau khoảng 4–5 tuần, chúng tôi liên hệ lại với phía người sử dụng để thu thập phản hồi về tính hữu ích của các bản đồ và dữ liệu đã cung cấp. Phía Việt Nam đã phản hồi tích cực về bản đồ lũ, đặc biệt về những khu vực bằng phẳng rộng lớn – nơi radar vệ tinh rất hiệu quả trong việc xác định ranh giới vùng ngập. Tuy nhiên, lưu vực sông Mêkông khá phức tạp về mặt thủy văn, việc phân tách giữa sông ngòi, vùng ngập và ruộng lúa không hề đơn giản. Dù vậy, các bản đồ vẫn đã được sử dụng hiệu quả tại đây.
RFI : Xin ông cho biết thêm về một số ứng dụng tiềm năng khác của Sentinel-1.
Chuyên gia Philippe Bally : Ngoài ứng phó thiên tai, Sentinel-1 còn có thể dùng để phòng ngừa rủi ro – không chỉ đối với rủi ro thủy văn mà còn với các loại rủi ro khác, như sạt lở đất hay sụt lún mặt đất. Chúng tôi từng hợp tác với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam để nghiên cứu độ ổn định của các công trình hạ tầng như đường xá, cầu cống, hệ thống bảo vệ chống lũ. Vẫn sử dụng vệ tinh Sentinel-1, nhưng với một kỹ thuật khác với kỹ thuật phát hiện vùng ngập nước.
Đó là kỹ thuật giao thoa radar (radar interferometry), tức kết hợp nhiều ảnh trong thời gian khác nhau để phân tích một cách tinh tế « pha của tín hiệu » (phase du signal). Nhờ đó có thể đo đạc từ xa các biến động theo chiều dọc của mặt đất với độ chính xác đến khoảng 28 mm. Đây là một phương pháp cực kỳ tinh vi và chính xác để theo dõi độ ổn định của nền đất.
« Pha của tín hiệu » rất nhạy và tinh tế: Khi so sánh hai ảnh, chênh lệch về pha phản ánh những biến dạng cực nhỏ – chính xác đến nửa bước sóng (tương đương khoảng 28 mm), dù vệ tinh ở cách xa tới 800 km. Hiện tượng này có phần giống như hiệu ứng Doppler : Có nghĩa là sự thay đổi về tần số và về pha phản ánh biến động bề mặt của đất. Với hệ thống radar, ngoài biên độ thì « pha » là yếu tố quan trọng. Khi hai ảnh được chồng lên nhau, độ lệch về pha cho phép đo được những biến dạng cực kỳ nhỏ, với độ chính xác lên tới 28 mm.
RFI : Ông có thể cho biết đâu là những hạn chế hoặc thách thức cụ thể đối với việc giải thích các dữ liệu vệ tinh tại Việt Nam ?
Chuyên gia Philippe Bally : Về các vấn đề cụ thể trong việc sử dụng viễn thám cho lưu vực sông Mêkông, cơ quan hợp tác chính với Cơ quan Vũ trụ Châu Âu là bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, cụ thể là cục Viễn thám Quốc gia – nơi đang ứng dụng đầy đủ công nghệ không gian trong nhiều lĩnh vực.
Chúng tôi có mối quan hệ hợp tác rất tốt với bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi chưa có nhiều kết nối cụ thể với người sử dụng ở cấp địa phương hơn. Giới hạn lớn nhất cho việc mở rộng ứng dụng vệ tinh đến các đối tượng người dùng địa phương chính là việc thiếu thông tin và đào tạo về những kỹ thuật mới, như kỹ thuật viễn thám. Nhiều người dùng chưa biết rõ lợi ích của việc sử dụng hình ảnh vệ tinh, hoặc nghĩ rằng họ không có đủ nguồn lực để phát triển kiến thức trong lĩnh vực này. Ngay cả khi ảnh vệ tinh được cung cấp miễn phí, thì vẫn cần đầu tư vào việc học hỏi và đào tạo.
RFI xin cảm ơn chuyên gia Philippe Bally.
Sau hơn ba năm đàm phán, ngày 16/04/2025, các quốc gia thành viên Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nhất trí thông qua một văn bản lịch sử để chuẩn bị tốt hơn chống lại các đại dịch trong tương lai. Năm năm sau khi Covid-19 xuất hiện, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người và tàn phá nền kinh tế toàn cầu, thế giới nay vẫn chưa được trang bị để đối mặt với một đại dịch khác, theo WHO và các chuyên gia.
Cách đây hơn 5 năm, ngày 11/01/2020, Trung Quốc công bố ca tử vong đầu tiên do một loại virus chưa xác định, mà sau này mới biết đó là virus corona gây bệnh Covid-19. Đại dịch Covid-19 đã nhanh chóng lan rộng và gây xáo trộn cả thế giới trong một thời gian dài. Gần 800 triệu người bị nhiễm, ít nhất 10 triệu người tử vong theo các số liệu chính thức. Trên thực tế, số nạn nhân có thể còn nhiều hơn nữa, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới ( WHO ).
Hơn năm năm sau, virus vẫn còn đó, nhưng lây lan “âm thầm” hơn, cơn bão đã được kiểm soát nhờ những nỗ lực ngăn chặn đại dịch. Nhưng chúng ta có đã rút ra được những bài học từ cuộc khủng hoảng hay chưa, và nếu có thì liệu những bài học đó có đủ để giúp nhân loại đối đầu với một đại dịch mới, mà theo tất cả các chuyên gia là gần như không thể tránh khỏi?
Covid-19 không còn nguy hiểm?Hiện giờ đại dịch Covid-19 đã qua rồi và virus gây bệnh này không còn nguy hiểm như trước đây, thậm chí một số người nghĩ rằng Covid nay cũng giống như một loại cúm theo mùa. Nhưng trả lời phỏng vấn đài RFI ban Pháp ngữ ngày 13/01/2025, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre, bác sĩ chuyên khoa truyền nhiễm tại bệnh viện Henri - Mondor, ngoại ô Paris và cũng là một chuyên viên bên cạnh Tổ chức Y tế Thế giới, lưu ý:
“Hiện nay chúng ta được chuẩn bị tốt hơn so với cách đây 5 năm, khi mà dịch Covid đã bùng phát mà không ai ngờ đến. Khả năng miễn nhiễm của chúng ta đã được tăng cường do đã bị lây nhiễm Covid và do được chích ngừa, nhờ vậy mà chúng ta đã có thể kềm chế được con virus. Cho nên, dịch bệnh này không còn gây tác hại như cách đây 5 năm.
Nói đó là một bệnh nhẹ thì đúng mà cũng không đúng. Đúng là Covid nay là một bệnh nhẹ hơn so với ban đầu vì nhiều lý do mà chúng ta có thể nêu lên ở đây, nhưng đó vẫn là một căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao. Vẫn còn những người phải nhập viện vì bị nhiễm Covid. Vẫn còn những người chết vì Covid, cho dù có thể không có liên hệ trực tiếp với Covid bằng trước đây. Covid ngày nay vẫn còn có thể làm trầm trọng hơn các bệnh nền, khiến ta phải nhập viện và có thể tử vong”.
Như vậy, liệu thế giới có được chuẩn bị tốt hơn so với năm 2020? “Câu trả lời là có và không”, theo phát biểu gần đây của Tedros Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới, tổ chức đóng vai trò trung tâm trong cuộc chiến chống Covid-19. Ông nhấn mạnh: “Nếu đại dịch tiếp theo xảy ra ngày nay, thế giới vẫn sẽ phải đối mặt với một số điểm yếu và nguy cơ tương tự. Nhưng thế giới cũng đã học được nhiều bài học đau đớn từ đại dịch và thực hiện các bước quan trọng để tăng cường khả năng phòng chống".
Maria Van Kerkhove, nhà dịch tễ học người Mỹ, đứng đầu bộ phận Phòng ngừa và Chuẩn bị cho Dịch bệnh và Đại dịch của WHO, cũng ghi nhận: “Nhiều thứ đã được cải thiện nhờ đại dịch cúm A năm 2009 ( dịch do virus H1N1 gây ra ), nhưng cũng nhờ Covid. Tuy nhiên, tôi nghĩ thế giới chưa sẵn sàng cho một đại dịch hoặc dịch bệnh hàng loạt khác".
H5N1: Một đại dịch mới?Hơn nữa, không chỉ có virus gây bệnh Covid-19, mà một số virus khác cũng có thể đẩy nhân loại vào một đại dịch mới. Vào cuối tháng 12 năm ngoái, nhà chức trách Hoa Kỳ vừa xác nhận ca nhiễm cúm gia cầm nghiêm trọng ở nước này và bang California đã ban hành tình trạng khẩn cấp y tế. Cụ thể, vào tháng 12, một đứa trẻ ở Quận Marin, bang Califorrnia, đã bị sốt và nôn mửa sau khi uống sữa thô, chưa tiệt trùng. Thật ra đó là vì trước đó bệnh nhân đã tiếp xúc với những con chim bị bệnh và chết. Xét nghiệm cho thấy đứa bé có kết quả dương tính với chủng virus cúm gia cầm H5N1, chủng virus mà các chuyên gia về bệnh truyền nhiễm lo ngại có thể trở thành nguồn gốc của đại dịch tiếp theo. Tại Hoa Kỳ, ít nhất 61 người đã nhiễm virus này, hầu hết là thông qua tiếp xúc trực tiếp với gia cầm hoặc bò.
Trước đó, vào tháng 11, một thiếu niên ở tỉnh British Columbia của Canada, sau khi đi khám vì bị viêm kết mạc và ho, đã được đưa vào bệnh viện ở Vancouver, phải thở bằng máy và phải nằm trong phòng điều trị tích cực trong nhiều tuần. Xét nghiệm cho thấy thiếu niên này có kết quả dương tính với chủng virus cúm gia cầm H5N1.
Mỗi khi con người bị bệnh, virus lại có thêm cơ hội để lây lan từ người sang người. Một khi rào cản quan trọng này bị vượt qua, nó có thể gây ra một đại dịch. Không có bằng chứng nào cho thấy virus H5N1 hiện đã vượt qua ngưỡng quan trọng này. Có thể virus này sẽ không bao giờ vượt qua được cột mốc đó. Tuy nhiên, theo ông Matthew Binnicker, nhà vi sinh học đường hô hấp tại bang Minnesota, Hoa Kỳ, "dựa trên những gì chúng ta biết về các loại virus này, xu hướng là không khả quan". Ông nói thêm là cần phải thực hiện "các biện pháp nghiêm ngặt". Nói chung, các chuyên gia khẳng định rằng chuẩn bị cho một tình huống tệ hại hơn không phải là quá sớm và cũng không phải là phi lý. Trong bài trả lời phỏng vấn RFI, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre cũng cảnh báo:
“Một cách tự nhiên, virus đã nhanh chóng thích ứng. Chúng ta đã tìm ra phương cách để cố gắng kiểm soát nó. Nhưng không chỉ có virus gây bệnh Covid, mà trên thế giới ngày nay, một số virus khác cũng có thể đẩy nhân loại vào một đại dịch toàn cầu mới. Như tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới đã nói: Chúng ta có đã làm một cách tối ưu chưa? Có thể là chưa. Bởi vì người ta vẫn quên rằng, dĩ nhiên Covid 19 trước hết là một vấn đề y tế, nhưng đó cũng là tấm gương phản chiếu thực trạng của thế giới hiện nay: dân số vẫn tăng mạnh, trao đổi ngày càng nhiều giữa các quốc gia, những vấn đề liên quan đến việc kềm chế sự lây lan của dịch bệnh. Đại dịch bùng phát chính là do có sự tương tác giữa con người, càng có nhiều sự tương tác đó thì dịch bệnh càng dễ bùng phát. Như tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới đã nói: Chắc chắn chúng ta sẽ gặp một đại dịch toàn cầu mới.”
Vac-xin: Bất bình đẳng Bắc - NamVào tháng 12/2021, các nước thành viên WHO đã quyết định xây dựng một thỏa thuận về phòng ngừa và ứng phó đại dịch để tránh những sai lầm nghiêm trọng của Covid. Nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi lớn, bao gồm việc chia sẻ dữ liệu về các tác nhân gây bệnh mới nổi và những lợi ích từ chúng, cụ thể là vac-xin, xét nghiệm và phương pháp điều trị cũng như giám sát đại dịch.
Các nhà đàm phán đã đặt ra thời hạn tháng 5/2025 để đạt được sự đồng thuận. Ngoài ra, hơn 200 nhà khoa học từ hơn 50 quốc gia đã đánh giá dữ liệu về 1.652 tác nhân gây bệnh, chủ yếu là virus, để từ đó WHO lập danh sách khoảng 30 tác nhân gây bệnh có khả năng gây ra đại dịch trong tương lai, chẳng hạn như Covid-19, sốt Lassa và các loại virus Ebola, Zika và Marburg.
Thế nhưng, nhóm chuyên gia độc lập về phòng ngừa và ứng phó với đại dịch của WHO tuyên bố thẳng: "Vào năm 2025, thế giới chưa sẵn sàng để chống lại mối đe dọa đại dịch mới". Lý do là vẫn tồn tại sự bất bình đẳng trên thế giới trong việc tiếp cận các nguồn tài trợ và các công cụ để chống lại đại dịch, chẳng hạn như vac-xin.
Trong bài trả lời phỏng vấn RFI, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre chia sẽ ý kiến đó:
“Chúng ta có thể thấy vấn đề đó đối với các loại vac-xin thông thường nhất. Vac-xin ngừa cúm A có thể được tiếp cận dễ dàng ở các nước phía Bắc, nhưng lại rất khó được tiếp cận ở các nước phía Nam. Những người làm việc trong lĩnh vực cung cấp vac-xin đều biết là có rất nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu về vac-xin cho châu Phi.
Có thể lấy ví dụ về một đại dịch mới bùng phát gần đây, rất may là không gây nhiều ca tử vong, đó là dịch đậu mùa khỉ Mpox. Vac-xin ngừa bệnh này được phân phát rộng rãi ở các nước phía Bắc, nhưng chúng ta lại chưa bao giờ chích ngừa cho người dân châu Phi. Đây chính là nơi đã từng bùng phát dịch bệnh trước đó, thế mà vac-xin lại chỉ được sản xuất ở các nước phía Bắc.”
Khả năng của thế giới ứng phó với đại dịch mới lại càng bị ảnh hưởng bởi quyết định của tổng thống Donald Trump rút Hoa Kỳ ra khỏi WHO, trong khi Mỹ là nhà tài trợ lớn nhất và đối tác lớn nhất của tổ chức Liên Hợp Quốc có trụ sở tại Geneva này. Việc Hoa Kỳ rời khỏi WHO có thể gây tổn hại đến các nỗ lực y tế công cộng toàn cầu, bao gồm cả việc giám sát và ứng phó với các đợt bùng phát dịch bệnh. WHO vẫn đóng vai trò điều phối đặc biệt quan trọng trong các trường hợp khẩn cấp về sức khỏe toàn cầu.
Trong bối cảnh địa chính trị quốc tế căng thẳng, nhất là với cuộc chiến Ukraina, các drone nay chiếm một vị trí mang tính chiến lược đối với hải quân trên toàn thế giới. Điều này đã được thể hiện qua triển lãm quốc phòng quốc tế Euronaval vào đầu tháng 11 tại Villepinte, ngoại ô Paris, Pháp. Tại cuộc triển lãm 2 năm một lần này, đi đến đâu cũng thấy trưng bày các kiểu drone mới được sử dụng để tác chiến, giám sát biển và đáy đại dương.
Các nước phương Tây đang phải đối phó với các cuộc tấn công bằng drone của lực lượng Houthi ở Yemen được Iran trang bị vũ khí nhắm vào giao thông hàng hải ở Hồng Hải. Trong khi đó, Ukraina đã thành công tiêu diệt 1/3 Hạm đội Hắc Hải của Nga và buộc được hạm đội này rời khỏi Crimea. Vào đầu tháng 11, Kiev khẳng định họ đã thực hiện thành công cuộc tấn công đầu tiên bằng drone mang chất nổ vào các tàu của Nga ở Biển Caspi, cách biên giới Ukraina đến 1.500 km.
Trả lời hãng tin AFP ngày 07/11/2024 bên lề Euronaval, ông Emmanuel Chiva, tổng đại diện về vũ khí của bộ Quân lực Pháp, cho rằng từ những cuộc xung đột đó, có thể dự báo là drone sẽ được hải quân các nước “sử dụng ồ ạt”.
Đô đốc Eric Chaperon, cố vấn quốc phòng của tập đoàn vũ khí Pháp Thales, nói với AFP: “Các drone phải được xem xét ở cả hai góc độ: khả năng tác chiến của drone và khả năng chống drone của kẻ địch”. Tập đoàn công nghệ cao của Pháp, hiện trang bị cho hải quân 50 nước trên thế giới, cung cấp cả hai khả năng đó. Một trong những cải tiến là vũ khí điện từ "có khả năng đốt cháy các thiết bị điện tử của drone". Đô đốc Eric Chaperon giải thích: "Các drone nằm trong tầm hoạt động của vũ khí sẽ rơi chỉ trong một giây."
Tập đoàn Pháp cũng đẩy mạnh phát triển một công nghệ trí tuệ nhân tạo "tiết kiệm", có thể được trang bị trên các drone cũng như các giải pháp kết nối và tương tác, đã được thử nghiệm trong cuộc tập trận ở Bồ Đào Nha vào tháng 9 với một số nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu. Là một trong những người tham gia cuộc tập trận này, ông Nicolas Kuhl của tập đoàn Thales nói với AFP: “Khoảng 60 drone đã được triển khai trên không, trên mặt nước và dưới biển để thực hiện đồng thời các nhiệm vụ tác chiến dưới nước, rà phá bom mìn và giám sát”.
Về phần mình, tập đoàn Naval Group đang phát triển loại drone dưới nước với “khả năng hoạt động lâu dài lên đến vài tuần” và “có khả năng tự ra quyết định rất cao”, theo giải thích của ông Pierre-Antoine Fliche, đứng đầu nhóm đặc trách drone của Naval Group, với AFP: “Thay vì lập trình trước một số nhiệm vụ, chúng tôi sẽ đưa ra mệnh lệnh, chẳng hạn như đến đó, chụp ảnh và quay lại nếu ảnh chụp rõ, luôn kín đáo, quyết liệt”. Pierre-Eric Pommellet, chủ nhân Naval Group, nhấn mạnh với AFP: “Các drone sẽ không bao giờ thay thế các tàu chiến có thủy thủ đoàn, nhưng sẽ giúp cho những tàu này có một năng lực rộng hơn”.
Tập đoàn chế tạo máy bay châu Âu Airbus thì chú trọng đến tính bổ sung cho các sản phẩm của họ. Bruno Even, giám đốc điều hành của Airbus Helicopters, nói với AFP: “Yếu tố mới mà chúng tôi thấy cả trên biển và trên đất liền là tính chất bổ sung giữa drone và trực thăng”.
VSR 700 của Airbus là một máy bay trực thăng “không người lái” nhỏ, có thể hoạt động từ một con tàu và có thể bay tới 8 giờ so với 2 giờ đối với trực thăng thông thường. Nó có khả năng thực hiện các nhiệm vụ mà không cần phi công, chẳng hạn như tìm kiếm tàu địch, gửi tọa độ tới tàu khu trục nhỏ có khả năng bắn tên lửa.
Airbus cũng đang phát triển một loại drone quan sát mang tên Eurodrone, nhằm bù đắp sự chậm trễ của châu Âu về loại drone đã được Hoa Kỳ và Israel phát triển và sẽ được đưa vào sử dụng vào cuối thập niên này, theo lời ông Jean-Brice Dumont, người đứng đầu bộ phận quốc phòng của Airbus.
Đối với những drone ít phức tạp hơn và có thể nhanh chóng được sử dụng như Flexrotor hay Aliaca, tập đoàn Airbus giao việc phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc các công ty khởi nghiệp mà hãng đã mua lại.
Chẳng hạn như công ty ArkeOcéan, một doanh nghiệp gia đình với khoảng ba mươi nhân viên chuyên sản xuất các drone siêu nhỏ "chỉ dài 80cm, rộng 35cm, trôi theo dòng nước, rất khó phát hiện”.
Ngoài ArkeOcéan, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Pháp chuyên về drone đã có mặt rất đông đảo tại triển lãm Euronaval, như Exail, Diodon và Delair. Riêng công ty Delair từ hai năm qua bán ra thị trường một sản phẩm mang tên Seasam, một loại drone dưới nước cở nhỏ, được dùng để theo dõi tình trạng thân tàu, tàu chở hàng cũng như tàu khu trục. Drone này có 7 động cơ nên rất cơ động, chống chọi tốt với dòng nước.
Trả lời RFI Pháp ngữ tại Euronaval, ông Bastien Mancini, giám đốc điều hành của Delair, cho biết công ty này đã cung cấp cho thi trường châu Phi từ lâu và nay đã mở rộng sang các thị trường khác:
“Chúng tôi đã có mặt ở khu vực này từ những năm 2010, tại khoảng 15-20 quốc gia châu Phi, rồi mở rộng sang Đông Âu và Đông Nam Á, những thị trường chính của chúng tôi hiện nay. Chúng tôi xuất khẩu rất nhiều trước khi bán cho thị trường Pháp. Công ty hiện sử dụng đến 110 nhân viên và đến cuối năm sẽ có tổng cộng 140 người, với doanh số năm ngoái là 10 triệu euro và dự báo năm nay sẽ đạt khoảng 30 triệu.
Tốc độ tăng trưởng này là nhờ các hợp đồng mà chúng tôi giành được gần đây, nhất là trong lĩnh vực quốc phòng. Ukraina chiếm một phần đáng kể, nhưng không phải là chiếm đa số. Chúng tôi tạo được những hệ thống thích ứng với những điều kiện tác chiến rất ác liệt, với thiết bị gây nhiễu để làm rơi các drone, cho nên khách hàng chúng tôi có thể yên tâm.”
Chiến trường Ukraina dĩ nhiên là nơi mà công ty Delair có dịp thử nghiệm và cải tiến các drone do họ sản xuất để thích ứng tốt hơn với điều kiện chiến tranh ác liệt, theo lời ông Mancini:
“Chúng tôi đã làm việc ở Ukraina từ năm 2016, vì thật ra chiến tranh coi như đã bắt đầu từ năm 2014 với thỏa thuận Minsk. Từ năm 2016, các drone của chúng tôi đã được sử dụng để giám sát các đường biên giới. Khi quân Nga vượt qua biên giới, phía Ukraina đã gặp chúng tôi và yêu cầu cho họ xem hệ thống drone của chúng tôi vận hành như thế nào trong điều kiện chiến tranh. Sau khi thấy hiệu quả của các hệ thống này, họ đã nhờ chính phủ Pháp giúp đỡ, mua các drone đó để tặng cho họ. Pháp đã làm theo yêu cầu đó.
Chúng tôi thường xuyên, hầu như là mỗi tuần, có những phản hồi từ những người vận hành các drone và chúng tôi trao đổi với họ. Cứ khoảng 3 hoặc 4 tháng, chúng tôi cải tiến để các drone thích ứng tốt hơn với điều kiện chiến tranh. Những yếu tố đó giúp rất nhiều cho ngành công nghiệp vũ khí của Pháp nói chung.”
Để có thể phát triển các loại drone có sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo, công ty Delair đang phải tuyển thêm kỹ sư:
“Chúng tôi có những kỹ sư làm việc về các vấn đề đó. Công ty có một phòng nghiên cứu quy tụ khoảng 45 người, trong đó phân nữa chuyên tạo ra các phần mềm, một số nghiên cứu về các thuật toán và về trí tuệ nhân tạo để có thể giải quyết vấn đề điều khiển drone mà không cần hệ thống định vị GPS, xác định và phân loại những vật thể mà drone nhìn thấy để trợ giúp cho người điều khiển.
Không thể có một hệ thống hoàn toàn tự vận hành. Trí tuệ nhân tạo chỉ trợ giúp, chỉ làm đơn giản hóa nhiệm vụ của người điều khiển. Đó không phải là những robot, mà đằng sau bao giờ cũng có con người. Một quân nhân Ukraina đã nói một điều rất đáng chú ý : 'Cái mà có giá trị đối với chúng tôi không phải là các drone, vì drone có thể bị mất, mà là những người được đào tạo để điều khiển drone'. Đó mới là điều mà họ cố gắng bảo vệ.”
Vấn đề, theo lời ông Mancini, việc phát triển các loại drone tiên tiến, có khả năng cạnh tranh cao, đòi hỏi rất nhiều vốn đầu tư, mà cả về mặt này, Pháp và châu Âu nói chung càng bị tụt hậu so với Hoa Kỳ chẳng hạn:
“Phát triển các drone đòi hỏi rất nhiều vốn. Các công ty hàng đầu thế giới về drone có doanh số từ 300 triệu euro đến 4 tỷ, trong khi các công ty hàng đầu của châu Âu hiện chỉ đạt 50 triệu euro doanh số, công ty chúng tôi thì dự kiến sẽ chỉ đạt 30 triệu. Phát triển các loại drone có khả năng cạnh tranh trên thế giới tốn kém hàng triệu, thậm chí hàng chục, hàng trăm triệu euro. Cho nên phải có những công ty có tầm cỡ như vậy để tạo ra những sản phẩm cho tương lai.
Tôi nghĩ rằng phải làm chủ công nghệ drone một cách tự chủ, vì đó là những robot bay trên không và tiến hành những hoạt động từ trên không. Các nhà công nghiệp Pháp và châu Âu nói chung phải làm chủ được công nghệ của các hệ thống được bán ở châu Âu. Công ty chúng tôi đang cố đóng góp vào việc xây dựng một nhà vô địch trong lĩnh vực này ở cấp độ châu Âu để có thể cạnh tranh trên thế giới.”
Theo số liệu đầu năm 2024, thị trường trí tuệ nhân tạo (AI) toàn cầu đã đạt hơn 196 tỷ đô la. Một số chuyên gia trong lĩnh vực này dự đoán rằng giá trị của AI dự kiến sẽ tăng gấp 13 lần trong 7 năm tới, vượt ngưỡng 1,81 nghìn tỷ đô la vào năm 2030. Có thể nói, chưa bao giờ, thế giới chứng kiến sự phát triển đáng kinh ngạc như vậy của ngành công nghệ trí tuệ nhân tạo.
Đứng trước sự phát triển của AI, nhiều người vẫn tỏ ra hồ nghi về khả năng của nó trong khi số khác lại lo sợ rằng một ngày nào đó, AI sẽ thông minh hơn con người và thống trị thế giới. Sự thực là hiện nay, có nhiều lĩnh vực mà AI thể hiện ưu thế vượt trội so với con người. Vậy nếu ta đặt trí tuệ nhân tạo và trí tuệ nhân loại lên bàn cân thì cán cân sẽ nghiêng về bên nào? Hậu quả ra sao? Hay liệu có cách nào khác kết hợp con người với máy móc để tạo ra một phiên bản tối tân?
Trí tuệ nhân tạo là gì?Trước khi để trí tuệ nhân tạo so găng với con người, có lẽ ta cần tìm hiểu xem rốt cuộc trí tuệ nhân tạo là gì. AI hay Artificial Intelligence là thuật ngữ trong khoa học máy tính để chỉ trí thông minh của máy móc do con người tạo ra. Cũng giống như loài người, để trở nên hiểu biết và thông thái, con người cần học hỏi, hay nói đơn giản là nạp và phân tích kiến thức. AI cũng vậy. nhờ vào sự phát triển của Big Data (hay Dữ liệu lớn), các nhà khoa học đã có thể nhập một lượng dữ liệu khổng lồ và phức tạp vào máy tính. AI sau đó sẽ phân tích những dữ liệu được nạp để học hỏi và ứng dụng để thực hiện các tác vụ được giao.
Chẳng hạn muốn AI nhận biết được quả cam, người ta sẽ cung cấp hàng ngàn hình ảnh của loại quả này từ những góc chụp khác nhau, trong những giai đoạn khác nhau. Sau đó AI sẽ phân tích các hình ảnh này và phân biệt quả cam với các loại quả khác. Nếu giờ ta đưa cho AI một bức tranh vẽ hàng trăm loại quả khác nhau, nó vẫn có thể nhanh chóng xác định được quả cam. Quá trình này được gọi là Deep learning (hay Học sâu) và chỉ là một nhánh nhỏ trong ngành khoa học trí tuệ nhân tạo. Trên thực tế khả năng nhận diện của AI phức tạp và tân tiến hơn nhiều và được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực từ chẩn đoán hình ảnh y khoa để phát hiện bệnh lý đến hệ thống lái tự động có khả năng nhận diện vật thể xung quanh như biển báo, đèn tín hiệu, hay các phương tiện và vật cản khác trên đường để từ đó đưa ra các phản ứng phù hợp như dừng xe hay giảm tốc.
Đâu là những lĩnh vực mà AI thể hiện ưu thế hơn con người?Y học
Dù chưa thể thay thế được các bác sĩ nhưng AI đã chứng tỏ là một trợ lý xuất sắc trong việc chẩn đoán các hình ảnh y khoa như X-quang, MRI hay CT để phát hiện những bất thường. Vào tháng 04/2018, FDA, cơ quan quản lý dược phẩm Hoa Kỳ lần đầu tiên cho phép lưu hành thiết bị sử dụng trí tuệ nhân tạo để tự đưa ra chẩn đoán về bệnh tiểu đường qua nghiên cứu hình ảnh võng mạc. Theo ông Olivier Bousquet, giám đốc trung tâm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo của Google ở châu Âu, AI thể hiện mình là một công cụ “đáng tin cậy như một bác sĩ giàu kinh nghiệm, nếu không muốn nói là thậm chí còn đáng tin cậy hơn cả bác sĩ, vì chúng tôi có thể đào tạo AI bằng lượng dữ liệu lớn hơn những gì mà một bác sĩ có thể thấy trong đời họ.”
Trả lời RFI Pháp ngữ, ông Jean-Emmanuel Bibault, bác sĩ tại Bệnh viện Georges Pompidou đồng thời là nhà nghiên cứu về ứng dụng AI tại Viện Nghiên cứu Y học và Sức khoẻ Quốc gia Pháp (INSERM) giải thích thêm :
“Chúng ta có thể tận dụng AI vào việc nhận diện các dấu hiệu bệnh như là phân tích hình ảnh y khoa. AI có thể làm những tác vụ này nhanh hơn nhiều so với con người. Các bác sĩ có thể tiết kiệm được khoảng 50% thời gian. Trong thử nghiệm mới đây tại một bệnh viện ở Thuỵ Điển, người ta đã chọn ngẫu nhiên 80.000 bệnh nhân và sau đó để hai đội : một đội gồm 2 bác sĩ và một đội gồm 1 bác sĩ và 1 AI cùng đọc hình ảnh y khoa. Và họ thu được kết quả là nhóm có 1 bác sĩ và 1 AI chẩn đoán nhanh hơn hẳn so với nhóm 2 bác sĩ. Ngoài ra cũng có những lĩnh vực mà AI không chỉ làm nhanh mà còn làm tốt hơn con người, ví dụ như việc dự đoán về nguy cơ ung thư hay khả năng hồi phục của bệnh nhân để từ đó đưa ra phác đồ điều trị riêng biệt cho mỗi người.”
Dịch thuật
Không ít người hiện nay tự hỏi liệu việc học ngoại ngữ có còn cần thiết hay không khi mà người ta dường như có thể dịch tất cả mọi ngôn ngữ với Google Dịch. Trung bình một người bình thường có thể sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau. Cũng có một số người có thể sử dụng tới vài chục ngôn ngữ như Ioannis Ikonomon, phiên dịch viên của Uỷ ban Châu Âu, có thể nói được 47 thứ tiếng; hay Alexandre Arguelles, chuyên gia nghiên cứu ngôn ngữ người Mỹ với khả năng sử dụng 50 thứ tiếng. Tài năng là vậy, nhưng những thiên tài này vẫn phải chào thua Google Dịch khi mà công cụ dịch thuật này có thể dịch hơn 100 ngôn ngữ khác nhau trong vỏn vẹn vài giây.
Khi mới ra mắt Google chỉ có thể dịch từ dạng văn bản sang văn bản. Tuy nhiên sau đó vào năm 2014, Google đã mua lại Word Lens, phần mềm sử dụng camera tích hợp trên điện thoại di động để quét và dịch văn bản trên màn hình của thiết bị, nhờ vậy Google sau đó đã có thể dịch cả bằng hình ảnh. Ngoài ra hệ thống này còn có thể tự động nhận dạng ngoại ngữ và giọng nói, sau đó dịch và nói lại như một phiên dịch thực thụ.
Đứng sau thành công của Google Dịch chính là trí thông minh nhân tạo. AI đã học từ lượng lớn dữ liệu ngôn ngữ trong sách vở, báo chí, trang web. Đồng thời, cũng giống như loài người, AI học từ chính những sai lầm của mình. AI sẽ dựa vào phản hồi hay đề xuất của người dùng về những phần nó dịch chưa chuẩn để cải thiện dần chất lượng bản dịch.
Con người phải chăng đành chịu thua máy móc?Trên đây mới chỉ là hai trong số rất nhiều khả năng mà AI có thể làm và thậm chí là làm tốt hơn con người. Vậy phải chăng ta đã bị AI bỏ lại phía sau?
Ít nhất là đến hiện tại, AI chỉ có thể thực hiện các nhiệm vụ được chỉ định. Đây cũng là lý do mà ông Raja Chatila, giáo sư về lĩnh vực Robot và AI tại đại học Sorbonne, Paris, khách mời trong chương trình phát thanh của RFI Pháp ngữ, nhận định rằng trí thông minh nhân tạo rất “kém thông minh” :
“AI thực ra rất ngu ngốc, nó không hiểu nó đang làm gì và chỉ có thể làm việc một cách hệ thống và máy móc. Nó sẽ lặp đi lặp lại chuỗi hành động, dù cho những hành động này không phải lúc nào cũng đúng, cũng chính xác.”
Cùng quan điểm đó, bà Anne Alombert, giảng viên tại đại học Paris 8, thành viên Hội đồng kỹ thuật số quốc gia, bổ sung thêm :
“Trong khi mà máy móc học để thực hiện theo những gì mà nó được yêu cầu làm và tiến tới một mục tiêu đã được hoạch định sẵn thì một đứa trẻ khi học hỏi là học để sáng tạo ra cái mới, khám phá thế giới, đưa ra giải pháp cho những tình huống mà nó chưa bao giờ gặp.”
Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt lớn giữa trí thông minh con người và máy móc : sự sáng tạo, tưởng tượng, phát minh. Những đặc điểm này cho đến hiện tại vẫn là khả năng đặc biệt của loài người. Máy móc dù có thể tạo ra các tác phẩm nghệ thuật như một giai điệu hay một bức tranh nhưng không thể đánh đồng điều đó với khả năng sáng tạo của con người vì suy cho cùng AI chỉ có thể dựa trên các thuật toán và dữ liệu đã được cung cấp để tạo ra các tác phẩm nhưng lại không chứa đựng yếu tố cảm xúc, tính cá nhân, trải nghiệm hay tư duy đột phá của con người.
Minh chứng cho luận điểm này, bà Anne Alombert đưa ra ví dụ : “Chẳng hạn Chat GPT có thể viết một câu chuyện thần thoại nhờ các tính toán dữ liệu nhưng nếu chúng ta tự viết, ta sẽ không tính toán dựa trên từ ngữ, xem có thể viết từ nào sau từ nào, các từ nào sẽ đi cùng với nhau, mà ta sẽ tự sáng tạo nhờ vào những gì mình đã trải qua, những gì mình tưởng tượng và theo những gì mình muốn viết. Và như vậy mỗi người chúng ta sẽ viết ra một câu chuyện theo cách hoàn toàn khác nhau, không thể bắt chước được.”
Còn theo ông Daniel Andler, thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Chính trị và Đạo đức, tác giả cuốn “Trí tuệ nhân tạo và trí tuệ con người, bí ẩn kép”, thì khó có thể nói trí thông minh nhân tạo thực sự sở hữu trí thông minh vì AI vốn dĩ không hiểu được bối cảnh hay tình huống để thích nghi với những tình huống đó. Ông cho biết :
“Nếu coi trí thông minh là khả năng xử lý một vấn đề cụ thể thì AI cũng có khả năng xử lý vấn đề và trong trường hợp đó ta có thể so sánh AI với con người. Nhưng với tôi, trí thông minh không chỉ đơn giản là khả năng xử lý vấn đề mà là xử lý vấn đề một cách hợp lý trong mỗi tình huống cụ thể mà chúng ta gặp phải với tư cách là một cá thể độc lập, duy nhất và có trách nhiệm.”
Còn rất nhiều khả năng khác mà AI không thể so sánh được với con người như tương tác xã hội, trí tuệ cảm xúc, tư duy trừu tượng hay đưa ra các phản ứng linh hoạt, v.v. Việc AI có thể giao tiếp hay sử dụng từ ngữ thể hiện cảm xúc trong các đoạn hội thoại khiến nhiều người lầm tưởng rằng AI cũng có cảm xúc như con người. Nhưng sự thật thì không phải vậy. AI có thể phân tích những từ ngữ, thậm chí là biểu cảm của con người để xác định cảm xúc của người đó và được lập trình để đưa ra những phản hồi phù hợp với những cảm xúc đó nhưng thực tế thì đó chỉ là vỏ ngôn ngữ và AI không thực sự trải qua những trải nghiệm đó và không thể sản sinh ra cảm xúc.
“Nếu không thể đánh bại được máy móc, hãy cộng sinh với nó.”Con người vượt trội hơn AI ở nhiều điểm nhưng đồng thời AI cũng thể hiện mình không hề kém cạnh con người trong một số lĩnh vực khác. Vậy “nếu không thể đánh bại được máy móc, hãy cộng sinh với nó”. Đó là những gì tỷ phú Elon Musk, nhà sáng lập công ty công nghệ thần kinh Neuralink tuyên bố trên mạng X. Ông từng tiết lộ về dự án đầy tham vọng : cấy chip vào não người. Một khi đã ở trong não bộ, con chip sẽ liên kết với các neuron thần kinh và truyền những tín hiệu mà nó thu thập được đến máy tính, tạo ra giao diện não-máy tính. Theo vị tỷ phú, kế hoạch này có thể giúp nâng cấp loài người, kết nối trực tiếp con người với máy tính thông qua suy nghĩ và thậm chí trong tương lai có thể truyền suy nghĩ trực tiếp từ bộ não này đến bộ não khác.
Hồi tháng 01 năm nay, Neuralink thông báo đã cấy ghép thành công chip vào não của một bệnh nhân liệt toàn thân sau một tai nạn nghiêm trọng. Người này giờ đã có thể điều khiển được chuột, chơi game trên máy tính hay đăng bài trên mạng xã hội chỉ bằng suy nghĩ. Elon Musk còn cho biết theo kết quả kiểm tra sơ bộ, người đàn ông này sau khi được cấy chip đã sở hữu “khả năng đột biến tế bào thần kinh”.
Đây liệu có phải là triển vọng mới cho tương lai? Nhờ việc hợp thể với AI con người liệu sẽ ngày càng được nâng cấp và nhân loại cũng không còn phải lo lắng về việc bị thống trị bởi AI, đặc biệt là trong kỷ nguyên mà trí tuệ nhân tạo đang phát triển với tốc độ chưa từng thấy? Hay liệu rằng việc cộng sinh như vậy sẽ khiến ta bị lệ thuộc và càng dễ trở thành nô lệ của trí thông minh do chính chúng ta tạo ra?
From the publisher's feed

42 Listeners

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners