Tạp chí Tiêu Điểm

Tạp chí Tiêu Điểm

By RFI Tiếng Việt
Download on the App Store

Tạp chí Tiêu Điểm episodes

  • Nợ công Pháp : Mầm mống một cuộc khủng hoảng tài chính mới ở châu Âu ?

    Nợ công của Pháp tính đến cuối quý II/2026 lên đến gần 3.600 tỷ euro, chiếm đến 119,0% GDP, tăng thêm 60 tỷ chỉ trong vòng một quý. Lãi suất trái phiếu chính phủ thời hạn 10 năm đã tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2008, từ 3,6% lên gần 5% chỉ trong vòng ba tháng. Khoản nợ này từ đâu mà có ? Liệu nước Pháp có đang bên bờ sụp đổ tài chính ?

    Nước Pháp hiện đang đối mặt với một vấn đề nan giải. Từ năm mươi năm qua, chi tiêu công của Pháp vượt quá thu nhập, khiến ngân sách luôn bị thâm hụt. Không chỉ tăng liên tục và mang tính cấu trúc, thâm hụt ngân sách đôi khi còn tăng đột ngột do nhiều cuộc khủng hoảng khác nhau ở trong nước và trên thế giới, trong khi nguồn thu từ các loại thuế lại tăng chậm hơn nhiều.

    Nợ nần chồng chất

    Theo các số liệu được công bố, năm 2025, chi tiêu công của Pháp là 1714,2 tỷ euro, trong đó bảo trợ xã hội chiếm đến 40% và nguồn thu của chính phủ là 1.561,7 tỷ euro. Điều này có nghĩa là ngân sách bị thâm hụt 152,5 tỷ euro, tương đương 5,1% GDP, giảm 0,7 điểm so với năm 2024, nhưng vẫn vượt quá giới hạn 3% theo quy định của Liên Hiệp Châu Âu.

    Để bù đắp cho mức thâm hụt, chính phủ Pháp hàng năm phải đi vay tiền từ các nhà đầu tư trên thị trường tài chính, phần lớn là các ngân hàng và công ty bảo hiểm, bằng cách phát hành trái phiếu hay tín phiếu kho bạc. Tuy nhiên, điểm độc đáo của trái phiếu là chính phủ chỉ trả lãi theo định kỳ. Đến kỳ đáo hạn, chính phủ vay tiền trên thị trường để trả nợ cho người nắm giữ trái phiếu và sau đó phát hành trái phiếu mới để thay thế phiếu nợ cũ.

    Chuyên gia kinh tế, giảng viên trường đại học Paris 1 Panthéon-Sorbonne, trên đài France Culture, gọi đây là một hình thức « đảo nợ » :

    « Chúng ta thường nghe nói rằng Nhà nước (Etat) không giống như một doanh nghiệp, họ không bao giờ trả hết nợ mà chỉ đảo nợ. Điều đó có nghĩa là về cơ bản, quốc gia đó tiếp tục đi vay để trả các khoản nợ cũ. Nếu nhà nước trả hết nợ, tất nhiên họ sẽ phải trả một khoản lớn (cả vốn lẫn lãi). Do vậy, khi đến hạn, họ trả nợ cũ bằng cách vay thêm các khoản mới. Điều này có nghĩa là khoản đi vay mới chủ yếu được dùng để trả nợ cũ. Xét cho cùng đó là khoản nợ phục vụ mục đích trả nợ đã vay trong quá khứ nhiều hơn là tài trợ cho tương lai ».

    Khủng hoảng liên tiếp và gánh nặng nợ

    Điều này giải thích vì sao nợ công tăng lên một cách tương đối thường xuyên. Tuy nhiên, đây chưa phải là nguyên nhân duy nhất. Các cuộc khủng hoảng liên tiếp cũng khiến thâm hụt ngân sách và nợ công của Pháp mỗi năm thêm trầm trọng. Trả lời trang tin BRUT, chuyên gia kinh tế Mathieu Plane, phó giám đốc Đài Quan sát Kinh tế Pháp (OFCE), nhắc lại :

    « Trong hơn 20 năm qua, chúng ta trải qua nhiều cuộc khủng hoảng liên tiếp, ban đầu là khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn 2007 (cho vay thế chấp mà không tôn trọng các tiêu chí về khả năng trả nợ - subprimes), rồi khủng hoảng tài chính 2008. Tiếp đến là khủng hoảng nợ công tại châu Âu với việc Hy Lạp suýt rời khỏi khu vực đồng euro. Sau đó là đại dịch Covid, rồi cuộc khủng hoảng năng lượng với cuộc chiến tại Ukraina, việc ông Trump đắc cử cùng với chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, và bây giờ là tình trạng phong tỏa eo biển Hormuz… Chúng ta đang sống trong một thế giới khủng hoảng và theo một cách nào đó, nợ công cũng đóng vai trò như một lớp đệm chống đỡ các cuộc khủng hoảng này, nghĩa là Nhà nước can thiệp khi mọi việc trở nên tồi tệ, nhưng những biện pháp đó chắc chắn tạo ra thâm hụt và làm tăng nợ. »

    Chỉ có điều, việc phải trả lãi định kỳ cho nợ vay cũng được tính vào các khoản chi trong ngân sách chung của nhà nước, giống như ngân sách dành cho giáo dục, việc làm hay quốc phòng. Và gánh nặng lãi suất nợ, hay đơn giản là chi phí trả nợ, cũng tăng đều đặn từ năm 2019. Các số liệu được công bố cho thấy, chi phí nợ của Pháp tăng đều đặn từ 31 tỷ euro (2019) lên khoảng 64,8 tỷ euro (2026), tức chiếm khoảng 2,2% GDP, theo như các ước tính. Tóm lại, đây là lý do đầu tiên khiến nợ nần thêm chồng chất và đang trở thành một vấn đề thực sự nghiêm trọng tại Pháp.

    Bất ổn chính trị : Nhà đầu tư giảm niềm tin

    Nhưng đó chưa phải nguyên nhân duy nhất. Với mức nợ công chiếm khoảng 119% GDP, Pháp nằm trong nhóm 5 nước châu Âu có tỷ lệ nợ công cao nhất, chỉ sau Hy Lạp và Ý, trước Bỉ và Tây Ban Nha. Tuy nhiên, theo Les Echos, điểm khác biệt so với các nước trong nhóm này là nợ công của Pháp tiếp tục tăng trong khi các nước khác có xu hướng giảm.

    Theo giới chuyên gia, các bất ổn chính trị đã gây khó khăn cho việc bình ổn nợ, nhất là kể từ khi tổng thống Emmanuel Macron giải tán Quốc Hội và tổ chức bầu cử sớm hồi năm 2024, dẫn đến một Quốc Hội bị phân mảnh, chia thành ba khối mà không bên nào có đa số tuyệt đối. Trong vòng hai năm, Paris có đến bốn chính phủ liên tiếp, đe dọa đến uy tín chính trị (crédibilité politique) của Pháp đối với các nhà đầu tư.

    Nhà kinh tế học Anthony Morlet – Lavidalie tại Viện Rexecode nhận định với Les Echos : « Bất ổn chính trị ngăn cản chính phủ Pháp thực hiện các nỗ lực cần thiết vì họ không có đủ vốn chính trị để cam kết thông qua các biện pháp, thành thật mà nói, khi chúng ta phải tiết kiệm chi phí thì việc thông qua những biện pháp đó là không phải lúc nào cũng dễ dàng hay thú vị cả. »

    Nhà kinh tế học Mathieu Plane, trả lời BRUT, nhắc thêm rằng, « việc hoàn toàn không có khả năng đạt được đa số ở Quốc Hội đã làm gia tăng nguy cơ mất tín nhiệm. Tôi xin lưu ý là đã có hai ngân sách không được thông qua và buộc tổng thống phải ban hành các luật đặc biệt và do vậy, chúng ta không thể hình dung được tương lai. Điều này có nghĩa là chúng ta không biết ai sẽ được bầu (trong cuộc bầu cử tổng thống 2027), chương trình kinh tế là gì, và chính phủ mới hay tổng thống mới sẽ đáng tin cậy như thế nào về mặt ngân sách ».

    Rủi ro nào cho Pháp ?

    Nói một cách khác, bất ổn chính trị đang khiến các nhà đầu tư lo ngại. Le Figaro cho biết ngày 01/10/2026, lãi suất vay 10 năm của Pháp đã chạm mức 4,96%, cao chưa từng thấy kể từ khủng hoảng tài chính 2008. Cùng lúc, chính phủ đã phát hành thêm 12 tỷ euro trái phiếu mới với chi phí cao hơn năm 2025. Trước đó, vào trung tuần tháng Chín, Cơ quan xếp hạng tín nhiệm châu Âu Scope Ratings thông báo hạ bậc tín nhiệm nợ Pháp từ AA- xuống còn A+.

    Cái giá phải trả cho sự rủi ro, bất ổn là Pháp phải trả lãi suất trái phiếu chính phủ cao hơn của Đức 150 điểm cơ bản. Nói cách khác, các nhà đầu tư chỉ chấp nhận mua trái phiếu của Pháp (cho Pháp vay) nếu lãi suất cao hơn của Đức 1,5%. Đức được coi là con nợ an toàn nhất ở châu Âu.

    Giới phân tích còn đưa ra nhiều dự báo ảm đạm, nợ công có thể tăng vọt lên mức 121,7% GDP vào năm 2027 và thâm hụt ngân sách năm 2026 được cho nằm trong khoảng 5,4%. Kể từ nay, Pháp đi vay mắc hơn so với Ý, Tây Ban Nha hay Hy Lạp. Trượt đà tài chính còn kèm theo tỷ lệ tăng trưởng 2026 giảm, ước tính chỉ ở mức 0,4%, mức thấp nhất trong khu vực đồng euro.

    Nếu như Pháp phá sản… ?

    Những chỉ số « báo động đỏ » này khiến Liên Hiệp Châu Âu và nhiều nước thành viên khác lo lắng. Tờ Le Figaro tự hỏi: « Liệu Pháp, nền kinh tế lớn thứ hai của châu lục, có đang trở thành một mắt xích yếu của khối ? » Nguy cơ Pháp vỡ nợ và mất khả năng thanh khoản sẽ là một cú sốc lớn, bởi vì xét cho cùng, Paris còn là nền kinh tế lớn thứ 7 trên thế giới. Điều gì sẽ xảy ra nếu Pháp tuyên bố phá sản ?

    Chuyên gia kinh tế Mathieu Plane phân tích : « Nếu Pháp vỡ nợ, nếu Pháp không còn khả năng trả nợ và đột nhiên tuyên bố, "Tôi sẽ ngừng trả nợ", thì đó là dấu chấm hết cho đồng euro. Trên thực tế, quý vị phải hiểu rằng đồng euro là một tài sản chung, có 21 quốc gia cùng sử dụng đồng euro. Việc Pháp vỡ nợ sẽ đồng nghĩa với việc hàng trăm tỷ euro sẽ không được hoàn trả. Và điều đó có nghĩa là các chủ nợ sẽ mất rất nhiều tiền. Và do vậy sẽ có một cú sốc tài chính lớn với nguy cơ sụp đổ hệ thống tài chính, bao gồm các ngân hàng, công ty bảo hiểm, và cả những người gửi tiết kiệm, số tiền đó sẽ biến mất, cùng với khả năng đồng euro sụp đổ. Điều này, tất nhiên, sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính ở Pháp, nhưng cũng là một cuộc khủng hoảng ở châu Âu và thậm chí toàn cầu ».

    Trong kịch bản thảm họa này, liệu Ngân hàng Trung ương châu Âu có sẽ ra tay ứng cứu như vào năm 2022 trong kỳ đại dịch Covid-19 ? Guillaume Duval, cựu tổng biên tập tạp chí Alternative Economique, trên kênh Boursorama, cảnh báo : « Nếu Ngân hàng Trung Ương Châu Âu can thiệp vào trường hợp của Pháp bằng cách này hay cách khác để giúp giảm lãi suất, điều đó sẽ đồng nghĩa với việc họ kiểm soát ngân sách của Pháp, và đổi lại, chúng ta sẽ phải cam kết thực hiện thật sự và nhanh chóng nhiều khoản cắt giảm mạnh ngân sách ».

    Vấn đề nợ công chắc chắn sẽ là một trong số các trọng tâm trong các chiến dịch tranh cử tổng thống Pháp 2027. Nhiều ứng viên đề xuất áp dụng một chính sách « thắt lưng buộc bụng » nghiêm ngặt, nhưng số khác nói đến việc hủy hoặc « đóng băng » một phần nợ. Đây là chủ đề đang gây nhiều tranh cãi tại Pháp !

    (Nguồn BRUT, Les Echos, France Culture)

    11 min
  • Khủng hoảng Audi, BMW, Volkswagen : « Autoland » trong gọng kìm giữa thuế quan Mỹ và Trung Quốc

    Ngành sản xuất xe ô tô – biểu tượng thành công của ngành công nghiệp Đức – đang trải qua một cuộc khủng hoảng chưa từng có. Trong giai đoạn 2018-2026, gần 150 ngàn việc làm trong ngành công nghiệp xe ô tô Đức đã bị mất. Con số này chưa bao gồm tác động từ các kế hoạch tái cấu trúc mới buộc các hãng xe Volkswagen, BMW phải cải thiện khả năng cạnh tranh của mình. Nguyên nhân vì đâu ? Liệu ngành công nghiệp ô tô Đức có bên bờ sụp đổ ?

    Trên trang Le Grand Continent, chuyên gia về quan hệ Pháp – Đức, Marie Krpata, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI) cảnh báo, « Khủng hoảng tại Đức sẽ bắt đầu từ chiếc xe hơi ». Ngày 25/08, Volkswagen, hãng xe ô tô hàng đầu ở Đức, cho biết không loại trừ khả năng từ đây đến năm 2030 sẽ cắt giảm thêm 50 ngàn việc làm ở Đức và khoảng 100 ngàn trên thế giới. Không chỉ có Volkswagen, các hãng khác như BMW, Mercedes hay nhà cung cấp linh kiện Bosh cũng thông báo cắt giảm hàng ngàn việc làm.

    Theo Cơ quan Thống kê Liên bang Đức (Destatis), tính đến quý I/2026, ngành công nghiệp ô tô chỉ tuyển dụng hơn 691 ngàn lao động, mức thấp nhất kể từ năm 2025. Vào lúc cao điểm năm 2018, con số này là 841 ngàn người. Les Echos cho biết ngành sản xuất xe ô tô Đức chiếm 4% GDP, 2% việc làm và 6% đầu tư tại Đức. Với 9 triệu xe bán ra trên toàn thế giới, Volkswagen là nhà sản xuất ô tô lớn thứ hai thế giới (sau Toyota) và hãng hàng đầu tại châu Âu. BMW, Mercedes và Porsche là những biểu tượng của phân khúc cao cấp.  

    Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà nghiên cứu Marie Krpata trước hết giải thích ba chiến lược đã làm nên thành công của ngành ô tô Đức cho đến ngày nay :

    Marie Krpata : Chúng ta đang nói về thập kỷ vàng, trải dài từ năm 2009 đến năm 2019, và chiến lược toàn cầu hóa là trụ cột đầu tiên. Theo đó, các nhà sản xuất ô tô Đức đã mở rộng hoạt động sang các thị trường đang tăng trưởng mạnh, chẳng hạn như Trung Quốc. Nước này có tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển, có sức mua ngày càng cao, cho phép nhiều người dân thuộc tầng lớp này có khả năng mua xe ô tô của Đức.

    Trong giai đoạn này, nếu mức tăng trưởng doanh số bán của ngành ô tô toàn cầu là 3%, thì tại Trung Quốc con số này lên đến 7%. Vì vậy, các nhà sản xuất xe ô tô Đức đã hưởng lợi rất nhiều từ sự hiện diện của họ ở những thị trường tăng trưởng cao như vậy. Chúng ta có thể lấy thêm ví dụ về sự bão hòa của các thị trường phương Tây. Tại Mỹ, cứ 1.000 dân thì có khoảng 800 xe hơi. Ở Đức, con số này là khoảng 600 xe trên 1.000 dân. Trong khi đó, ở Trung Quốc, chỉ có khoảng 200 xe trên 1.000 dân. Điều này cho thấy Trung Quốc thực sự là một thị trường còn rất nhiều tiềm năng tăng trưởng.

    Trụ cột thứ hai là châu Âu. Ngành công nghiệp Đức hưởng lợi rất nhiều từ các mối liên hệ chặt chẽ với các nước Trung – Đông Âu. Trong chuỗi cung ứng, các nước Slovakia, Hungary và Ba Lan có vai trò quan trọng vì có chi phí nhân công thấp hơn, và do vậy chi phí sản xuất cũng rẻ hơn. Cuối cùng là chiến lược dòng xe cao cấp (premium). Đức tập trung sản xuất các dòng xe cao cấp ở trong nước, giúp duy trì những việc làm được trả lương cao trong nước, bởi vì phân khúc thị trường này mang lại biên lợi nhuận rất lớn, tạo nguồn thu đáng kể cho các nhà sản xuất ô tô Đức. 

    Các hãng xe Volkswagen, Mercedes và BMW là những tập đoàn nằm trong top 5 các doanh nghiệp Đức có doanh thu cao nhất. Ngoài gần 700 ngàn việc làm trực tiếp trong ngành ô tô, còn có những việc làm gián tiếp được tạo ra trong nhiều lĩnh vực khác như dệt may, hóa chất, thép, công nghệ thông tin và truyền thông chẳng hạn. Liệu cuộc khủng hoảng hiện nay chỉ là một sự chững lại mang tính chu kỳ, tạm thời của nền kinh tế, hay nó phản ánh những khó khăn sâu sắc hơn, mang tính cơ cấu và lâu dài ?

    Marie Krpata : Thực tế có ba lý do để giải thích. Thứ nhất đó là sự cạnh tranh từ Trung Quốc, thứ hai là quá trình chuyển đổi khó khăn từ xe sử dụng động cơ đốt trong sang xe điện, và thứ ba là thuế quan của Mỹ đang thực sự ảnh hưởng đến ngành công nghiệp ô tô Đức.

    Về Trung Quốc, nước này trước đây dã hưởng lợi nhiều về chuyên môn và kỹ nghệ từ các hãng xe của Đức. Tuy nhiên, điều đó chủ yếu liên quan đến xe động cơ đốt trong. Đối với xe điện, tinh hình khác hẳn. Bắc Kinh đã đặt ra những tham vọng lớn trong các kế hoạch 5 năm và mong muốn trở thành cường quốc hàng đầu về xe điện.

    Do đó, cục diện đã thay đổi hoàn toàn. Vào năm 2022, Trung Quốc đã qua mặt Đức về xuất khẩu ô tô và tiếp tục vượt qua Nhật Bản vào năm 2023. Từ năm 2020 đến nay, lượng xe xuất khẩu của Trung Quốc tăng từ 900 ngàn chiếc lên thành 7 triệu chiếc. Điều đó cho thấy tốc độ tăng trưởng ngành ô tô Trung Quốc là rất mạnh mẽ.

    Liên quan đến việc chuyển đổi từ xe động cơ đốt trong sang xe điện, các hãng xe Đức đã có nhiều do dự. Họ đặt cược quá nhiều vào dòng xe động cơ đốt trong và tin rằng việc chuyên môn hóa trong lĩnh vực này vẫn sẽ mang lại thành công. Ông Peter Löscher, chủ tịch Liên đoàn Công nghiệp Đức (BDI), thậm chí nói đến "sự kiêu ngạo của kỹ sư Đức". Họ tin rằng công nghệ này sẽ tiếp tục thống trị và sẽ không có đối thủ mới có khả năng thách thức họ.

    Ngày nay, các tập đoàn như Volkswagen, Mercedes , BMW, có lịch sử khoảng 150 năm, phải cạnh tranh với những tác nhân mới như BYD, vốn khởi đầu là một công ty chuyên về pin chứ không phải sản xuất xe ô tô. Họ cũng phải đối đầu với các hãng như Xpeng, Li Auto hay Nio, những công ty khởi nghiệp chỉ mới xuất hiện khoảng mười năm nay. Đây là một yếu tố quan trọng khác làm suy yếu vị thế ngành công nghiệp ô tô Đức.

    Nguyên nhân thứ ba là thuế quan Mỹ. Các mức thuế mới của chính quyền Trump buộc các doanh nghiệp Đức phải cân nhắc việc di chuyển hoạt động sản xuất sang Hoa Kỳ để tránh bị áp thuế xuất khẩu. Điều này có thể dẫn đến việc cắt giảm việc làm tại Đức. Nguy cơ phi công nghiệp hóa đang phủ bóng tại Đức, do một phần hoạt động sản xuất có khả năng được chuyển từ Đức sang Hoa Kỳ.

    Tình trạng mất việc làm hiện nay phải chăng còn do sự chuyển đổi các hoạt động công nghiệp, đặc biệt là hướng tới lĩnh vực quốc phòng, hay đó là sự phản ánh khó khăn của các nhà sản xuất Đức trong việc dự đoán những diễn biến trên thị trường toàn cầu ?

    Marie Krpata : Như tôi đã nói, tôi thực sự nghĩ có ba lý do khiến ngành ô tô Đức bị suy yếu. Đó là sự cạnh tranh từ Trung Quốc, quá trình chuyển đổi khó khăn từ xe động cơ đốt trong sang xe điện và sau cùng là các mức thuế quan Mỹ. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là lĩnh vực quốc phòng đang phát triển rất mạnh tại Đức. Chính phủ đã có kế hoạch tăng gấp ba ngân sách cho quốc phòng từ nay đến năm 2029 lên đến khoảng 150 – 160 tỷ euro.

    Vì vậy, có nhiều doanh nghiệp quốc phòng đang mở rộng hoạt động, chẳng hạn như Rheinmetall, chuyên sản xuất đạn dược và xe tăng, hay các công ty như Helsing, Stark, Titan, Quantum cũng hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng. Nhiều doanh nghiệp trong số này sẽ tiếp quản một số các cơ sở của ngành ô tô hiện đang gặp khó khăn. Ví dụ, nhà máy của Volkswagen tại Osnabrück gần đây đã được bán cho một nhà đầu tư, có kế hoạch hợp tác với hãng chế tạo drone Rafael của Israel.

    Ngay cả khi xu hướng này đang xuất hiện, quy mô của hai ngành này là rất khác nhau. Chẳng hạn, tổng giám đốc của Helsing, một nhà chế tạo drone ở Munich và có hợp tác với nhà cung cấp phụ tùng ô tô Schaeffer, đã cho rằng ngành công nghiệp ô tô và các nhà cung cấp linh kiện ô tô là « một nguồn dự trữ chiến lược » cho công nghiệp quốc phòng. Cũng theo vị tổng giám đốc này, nhiều linh kiện được dùng trong ô tô cũng có thể được sử dụng trong lĩnh vực quốc phòng.

    Hiện tại ngành công nghiệp ô tô đang tạo ra 700 ngàn việc làm trực tiếp tại Đức, trong khi ngành quốc phòng chỉ có khoảng 17 ngàn. Quy mô của hai ngành này là không giống nhau. Vì vậy, câu hỏi quan trọng ở đây là : Những lao động trong ngành công nghiệp ô tô sẽ có thể chuyển sang làm việc ở những lĩnh vực nào khác ? Ví dụ, nhà sản xuất linh kiện Schaeffler không chỉ hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng mà còn mở rộng hoạt động sang không gian, y tế cũng như các lĩnh vực liên quan đến robot hóa và tự động hóa.

    Các đời chính phủ liên tiếp phải chịu trách nhiệm đến mức nào đối với cuộc khủng hoảng này ? Có thể nói rằng họ đã mắc sai lầm chiến lược khi phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc và Mỹ trong nhiều thập niên ?

    Marie Krpata : Tôi nghĩ thị trường Trung Quốc rất quan trọng đối với các nhà sản xuất ô tô Đức, bởi vì 15% doanh số bán hàng của Porsche là đến từ Trung Quốc. Đối với BMW, tỷ lệ này là 25%. Còn Volswagen và Mercedes đều đạt khoảng 31% doanh số tại thị trường Trung Quốc. Điều đó cho thấy Trung Quốc là một thị trường mà các hãng xe Đức không thể bỏ qua. Còn đối với Hoa Kỳ, đây là thị trường xuất khẩu chính của ngành công nghiệp ô tô Đức, vì 10% lượng xe xuất khẩu là hướng đến thị trường này. Vì vậy, đây là hai thị trường chủ lực cho các nhà sản xuất xe ô tô Đức.

    Hiện nay, đúng là có một số quyết định lẽ ra có thể được thực hiện sớm hơn trong quá khứ , chẳng hạn như đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang xe điện. Tuy nhiên, Đức đã tỏ ra khá nhiều do dự. Các chương trình trợ cấp và khuyến khích mua xe điện, lúc thì được triển khai, sau đó bị hủy, rồi lại được tái áp dụng. Sự thiếu nhất quán này đã tạo ra một môi trường bất định cả cho người tiêu dùng lẫn nhà sản xuất.

    Mặt khác, cũng cần nhắc đến việc nước Đức từ lâu vẫn khá dè dặt trong việc tỏ ra cứng rắn đối với Trung Quốc, đặc biệt là đối với vấn đề trợ cấp của chính phủ Trung Quốc dành cho các nhà sản xuất xe điện trong nước, cạnh tranh bất chính gây thiệt hại cho các nhà sản xuất châu Âu. Vì vậy, Liên Hiệp Châu Âu đã áp dụng thuế đối kháng đối với xe điện Trung Quốc sau khi một cuộc điều tra của Ủy ban Châu Âu kết luận rằng các nhà sản xuất xe điện Trung Quốc đã nhận được những khoản tài trợ, cạnh tranh bất chính trên thị trường.

    Tuy nhiên, quyết định này đã vấp phải sự phản đối từ Đức và cuối cùng bị đặt vào thế thiểu số. Giờ thì tình hình đã thay đổi. Ngành công nghiệp ô tô Đức hiện mong muốn có một thái độ cứng rắn hơn với Bắc Kinh. Đây chính là lập trường của Olivier Blum, tổng giám đốc điều hành Volkswagen, hay của chủ tịch VDA, (hiệp hội công nghiệp Ô tô Đức), tổ chức đại diện cho các lợi ích của ngành công nghiệp ô tô. Rõ ràng là Đức đang có một sự thay đổi đáng chú ý trong cách tiếp cận.

    Hiện nay, Pháp và Đức đang phối hợp chặt chẽ hơn trong vấn đề này. Tại Hội đồng bộ trưởng Pháp – Đức diễn ra ở Bruhl (Đức) hồi tháng 7/2026, hai nước đã công bố một lộ trình chung nhằm ứng phó với những thách thức do Trung Quốc đặt ra. Và nhiều khả năng tại hội nghị thượng đỉnh châu Âu vào tháng 10 này, Liên Hiệp Châu Âu sẽ đề xuất thêm một số công cụ phòng vệ thương mại nhằm xác định cách thức ứng phó với sức cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ từ Trung Quốc.

    Cuộc khủng hoảng này có tác động ra sao cho toàn bộ nền kinh tế Đức ? Mô hình công nghiệp từng tạo nên sức mạnh cho nước Đức phải chăng đang bị lung lay ?

    Marie Krpata : Đúng vậy, người ta đang tự hỏi ngành công nghiệp ô tô Đức rồi sẽ ra sao ? Thủ tướng Đức Friedrich Merz đã bị chất vấn về vấn đề này trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình vào mùa hè năm nay. Theo ông, ngành công nghiệp ô tô Đức vẫn sẽ đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế trong tương lai ngay cả khi quy mô của chúng không còn như trước.

    Thủ tướng Đức nói về trí tuệ nhân tạo, vốn dĩ cũng có một vai trò chính yếu. Nhưng việc phát triển AI đòi hỏi phải có các trung tâm dữ liệu, cũng như là khả năng tiếp cận nguồn năng lượng dồi dào và giá rẻ. Đây chính là điểm yếu của nước Đức, bởi giá năng lượng vẫn ở mức rất cao do cuộc chiến ở Ukraina và xung đột ở Trung Đông.

    Trong cuộc phỏng vấn này, ông Friedrich Merz còn nhấn mạnh đến nhiều lĩnh vực khác có tiềm năng tăng trưởng cao, như y tế và dược phẩm. Đây có thể là những định hướng mới cho nền tảng công nghiệp Đức. Quả thực, hiện đang có những cuộc thảo luận theo hướng này. Câu hỏi đặt ra là : Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ như thế nào và làm thế nào nước Đức có thể hội nhập vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư này thông qua những thế mạnh và lợi thế có sẵn của mình ?

    Hiện Đức vẫn là đầu tầu kinh tế của Liên Hiệp Châu Âu. Cuộc khủng hoảng ngành công nghiệp ô tô đang diễn ra ở Đức sẽ có tác động ra sao cho toàn bộ nền kinh tế châu Âu nói chung và nước Pháp nói riêng ?

    Marie Krpata : Trên thực tế, nếu cuộc khủng hoảng ngành công nghiệp ô tô kéo dài, các quốc gia Đông – Trung Âu có nguy cơ chịu tác động nhiều nhất. Nhiều nước như Slovakia có 30% kim ngạch xuất khẩu là từ ngành công nghiệp ô tô. Cộng hòa Séc là 20% và Hungary là 16%. Đây là những quốc gia có gắn kết chặt chẽ với những chuỗi dây chuyền sản xuất trong nội khối Liên Âu và nhất là ngành công nghiệp ô tô Đức.

    Liên quan đến Pháp, điều có thể thấy là đang xuất hiện một sự hội tụ quan điểm giữa Đức và Pháp trong việc muốn có một lập trường cứng rắn hơn đối với Trung Quốc. Điều này được thể hiện rõ trong lộ trình Pháp – Đức, được trình bày tại Hội đồng Bộ trưởng giữa hai nước hồi tháng 7/2026, liên quan đến cách thức đối phó với những thách thức do Trung Quốc đặt ra. Các hãng xe lớn như Stellantis (Pháp) và Volkswagen (Đức) cùng Liên đoàn Đại diện các lợi ích công nghiệp ô tô cũng muốn có cách tiếp cận cứng rắn hơn.

    Họ thực sự nhận thức rõ về tình trạng cắt giảm 140 ngàn lao động trong ngành sản xuất ô tô từ năm 2019 và họ cũng hiểu rõ Trung Quốc và thế cạnh tranh của nước này là một trong số các nguyên nhân. Đây cũng chính là lập luận đang được thủ tướng Đức sử dụng. Do vậy, người ta có thể kỳ vọng Paris và Berlin sẽ đi đầu trong việc đưa ra một số biện pháp để đối phó với các thức thức từ Trung Quốc.

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà nghiên cứu Marie Krpata, chuyên gia Viện Quan hệ Quốc tế Pháp IFRI đã tham gia chương trình.

    16 min
  • Washington can thiệp thế nào vào bầu cử Brazil 2026 ?

    Hơn hai tuần nữa Brazil sẽ bỏ phiếu vòng hai bầu tổng thống, sau vòng đầu 04/10/2026 với kết quả bất ngờ là ứng cử viên cực hữu Flávio Bolsonaro vượt lên dẫn đầu, với 47% so với 45% của tổng thống mãn nhiệm cánh tả Lula da Silva. Khả năng Mỹ can thiệp bầu cử Brazil quy mô lớn trước thềm cuộc bỏ phiếu, cũng như những cáo buộc về can thiệp trước đó, đang trở thành  tâm điểm của cuộc bầu cử, với kết quả ảnh hưởng đến cục diện địa chính trị toàn cầu.

    Một báo cáo gần đây (*) của Cơ quan Tình báo Brazil (ABIN - Agência Brasileira de Inteligência) đã chỉ ra khả năng can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc bầu cử tại Brazil. Theo Reuters, sau cuộc gặp phái đoàn Pháp và Đức tại Brasilia, từ 9 đến 11/09, các quan chức cơ quan tình báo Brazil cho biết đã trao đổi với các đối tác về can thiệp từ phía Mỹ, có thể bao gồm nhiều hình thức, « từ việc sử dụng các biện pháp pháp lý để gây áp lực chính trị (lawfare) cho đến những hành động công khai ».

    Tình báo Brazil cảnh báo

    Các cuộc gặp này cho thấy mối lo ngại ngày càng tăng ở cả hai bờ Đại Tây Dương về những nỗ lực của chính quyền Trump trong việc ủng hộ các ứng cử viên có cùng tư tưởng MAGA. Các quan chức Pháp tham gia chuyến đi đến từ Viginum – cơ quan chuyên phát hiện thông tin sai lệch từ nước ngoài – và Arcom – cơ quan quản lý truyền thông và báo chí.

    Các chuyên gia về truyền thông và chính trị tại Đại học Công giáo Giáo hoàng Rio de Janeiro (PUC-Rio), trong một bài phân tích trên The Conversation, 02/10/2026 (*), cho biết theo tài liệu mật này, « chính phủ Mỹ, trong nỗ lực kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc tại Mỹ Latinh, có thể đang tăng cường các biện pháp, từ áp lực ngoại giao cho đến tài trợ chiến dịch tranh cử và chi phối mạng xã hội ». Báo cáo này đã nhận được nhiều chú ý tại Mỹ vào cuối tháng 9/2026, khi các thượng nghị sĩ Dân chủ Mỹ chất vấn ngoại trưởng Marco Rubio về thái độ của tổng thống Donald Trump đối với cuộc bầu cử Brazil.

    Báo Gazeta de Povo, một tờ báo có tuổi đời hơn thế kỉ, có uy tín hàng đầu tại Brazil, cho biết thêm về việc cơ quan an ninh liên bang Brazil được yêu cầu điều tra về các ủng hộ ngầm của Mỹ đối với phe đối lập, nhằm thúc đẩy các liên kết của phong trào cực hữu quốc tế với ứng cử viên Flávio Bolsonaro, con trai của cựu tổng thống Jair Bolsonaro, nhằm làm suy yếu chính sách của tổng thống mãn nhiệm cánh tả Brazil ủng hộ chủ nghĩa đa phương trong quan hệ quốc tế.

    Nhiều người bỏ phiếu cho Bolsonaro Con « không nhận ra ý đồ thực sự của Mỹ » ? 

    Tường trình của thông tín viên Sarah Cozzolino từ Rio de Jeinero, hai ngày trước cuộc bỏ phiếu vòng 1, cho thấy không khí căng thẳng xung quanh vấn đề can thiệp bầu cử:

    « "Brazil không phải là sân sau của bất kỳ ai", tổng thống Lula tuyên bố tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 22/9. Bài phát biểu mạnh mẽ đã củng cố niềm tin của Maria Prandini, 31 tuổi, dự định sẽ bỏ phiếu ủng hộ ông tái đắc cử. ‘‘Ông Lula bảo vệ chủ quyền của chúng ta. Đây là lời đáp trả đối với xu hướng bầu ra các chính phủ phục tùng Hoa Kỳ tại Nam Mỹ."

    Trong năm nay, tổng thống Donald Trump đã liệt một số tổ chức tội phạm của Brazil vào danh sách các nhóm khủng bố. Caio Henrique, một cư dân khu ổ chuột City of God, cảm thấy lo ngại về tương lai của nền dân chủ tại Brazil : "Đó chỉ là một chiêu bài khác để biện minh cho các cuộc tấn công vào châu Mỹ Latinh. Tuy nhiên, Brazil là một quốc gia có chủ quyền, và chỉ các thể chế của chúng ta mới có đủ khả năng đấu tranh chống lại tội phạm có tổ chức trong nước."

    Vào năm 2025, ông Donald Trump đã áp đặt các biện pháp trừng phạt thương mại đối với Brazil liên quan đến vụ cựu tổng thống Jair Bolsonaro bị xét xử về âm mưu đảo chính. Cô Patricia Bustamante cho rằng nhiều cử tri ủng hộ con trai ông Bolsonaro đã không nhận thức được ý đồ thực sự của Hoa Kỳ : ‘‘Họ không hiểu những gì Mỹ lấy đi từ các quốc gia khác, rằng họ không đến để giải cứu ai cả, mà chỉ là để khai thác và chiếm đoạt tài nguyên của chúng ta."

    Theo ông Lula, với trữ lượng khoáng sản đất hiếm lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Brazil đã trở thành mục tiêu của tổng thống Mỹ ». 

    Dùng đe dọa tăng thuế để áp lực buộc thả Bolsonaro Cha

    Trả lời RFI, chuyên gia về Brazil, nhà sử học Anaïs Flechet, giáo sư về lịch sử đương đại tại đại học Sciences Po Strasbourg, nhấn mạnh can thiệp bầu cử là « một điểm cực kỳ quan trọng », và « một trong những đặc điểm chính của cuộc bầu cử này » :

    « Khi nhìn vào các ứng cử viên Bolsonaro và Lula, chúng ta thấy có cảm giác quen thuộc. Nhưng đồng thời cũng có một yếu tố rất mới. Đó là sức nặng của Hoa Kỳ trong cuộc bầu cử này và việc bầu cử ở Brazil mang một chiều kích thực sự mang tầm toàn châu lục. Sức nặng của Hoa Kỳ gắn liền với những nỗ lực can thiệp, đã được ghi nhận rất rõ ràng bằng tài liệu, chứ không phải là trí tưởng tượng của những ai còn mắc kẹt trong tư duy thời Chiến tranh Lạnh.

    Kể từ năm ngoái, từ khi Donald Trump trở lại cầm quyền tại Mỹ, đã có một loạt hành động nhắm vào Brazil. Đầu tiên là việc tăng thuế quan với mức thuế lên tới 50% đối với các sản phẩm đến từ Brazil được ban hành vào mùa hè năm 2025, kèm theo một thông điệp mang tính chính trị rất cao từ Donald Trump.

    Trong thông báo gửi Brazil công bố các mức thuế trừng phạt này, ông Trump đã gắn chúng với số phận của Jair Bolsonaro, vào thời điểm đó đang chờ bị xét xử vì âm mưu đảo chính. Thông điệp của Trump là: Đừng đụng đến Jair Bolsonaro, nếu không các người sẽ bị trừng phạt bằng mức thuế quan cực kỳ cao. Đó là giai đoạn đầu tiên của căng thẳng gay gắt giữa chính quyền Lula ở Brazil và chính quyền Trump. »

    Coi tổ chức tội phạm Brazil là « khủng bố », mở đường cho can thiệp: Tạo lợi thế cho Bolsonaro Con

    Chuyên gia Anaïs Flechet nhấn mạnh đến giai đoạn can thiệp thứ hai : « Giai đoạn tiếp theo khó khăn và căng thẳng hơn nhiều. Chúng ta thấy sự leo thang căng thẳng ngoại giao từ tháng 6 và đặc biệt là tháng 7 thông qua nhiều hình thức: đầu tiên là mức thuế quan mới (tăng thêm 25%) đối với hàng hóa Brazil sang Mỹ; tiếp đó là việc thu hồi thị thực của đại sứ Brazil tại Washington, một điều rất hiếm khi xảy ra, và cuối cùng là việc xếp các nhóm buôn bán ma túy — như PCC hay Comando Vermelho ở Rio — vào danh sách các tổ chức khủng bố. »

    Thông báo đưa PCC và Comando Vermelho vào danh sách các tổ chức « khủng bố » quốc tế, đã được ngoại trưởng Marco Rubio đưa ra vào ngày 28/05/2026, hai ngày sau chuyến thăm Nhà Trắng của Flávio Bolsonaro. Brazil phản đối quyết định pháp lý này, lo ngại nó có thể tạo tiền lệ cho can thiệp của Hoa Kỳ trên đất Brazil nhân danh chống khủng bố, theo nguyên tắc « ngoài lãnh thổ » của chính quyền Mỹ. Bên cạnh đó, quyết định này đặt vấn đề an ninh công cộng trở thành chủ đề trọng tâm của chiến dịch tranh cử, mang lại cho ứng cử viên cực hữu Flávio thế mạnh lớn trong vận động tranh cử.

    Hơn nữa, Viện Kinh tế Quốc tế Peterson - PIIE, trụ sở tại Mỹ, một tổ chức tư vấn kinh tế độc lập, phi đảng phái và có uy tín cao, vào tháng 6 năm 2026 cho rằng quyết định này còn trở thành mối đe dọa tinh vi hơn, với các biện pháp trừng phạt có nguy cơ làm tê liệt hệ thống ngân hàng của Brazil (« The latest US squeeze on Brazil jeopardizes its financial autonomy »). Động thái gây sức ép mới nhất của Hoa Kỳ đối với Brazil đe dọa quyền tự chủ tài chính của nước này, đặc biệt là hệ thống thanh toán PIX.  

    Nguy cơ loại trừ hệ thống PIX, rất được lòng dân Brazil 

    Về hệ thống thanh toán PIX, cô Laura Erber, một công dân hai quốc tịch, Ý và Brazil, một người quan sát chính trị Brazil lâu năm, nhận định :

    « Theo tôi, PIX là một ví dụ thực sự điển hình vì hệ thống thanh toán này hoàn toàn miễn phí. Hệ thống này do Ngân hàng Trung ương Brazil phát triển và được triển khai dưới thời chính quyền Bolsonaro cha. Pix đã thành công vang dội. Hiện nay, tôi tin rằng đại đa số người dân Brazil đều sử dụng PIX trong cuộc sống hàng ngày, từ các siêu thị cho đến những người bán hàng rong. PIX đã tạo điều kiện cho hàng triệu người không có thẻ ngân hàng tham gia vào nền kinh tế số.

    Tuy nhiên, vấn đề đối với Washington là PIX cạnh tranh trực tiếp với Visa và Mastercard, cũng như các giải pháp thanh toán của Google, Apple và Meta, thông qua mạng WhatsApp. Chính vì vậy, cuộc điều tra thương mại mà chính quyền Trump khởi xướng nhắm vào Brazil vào năm 2025 cũng nhắm vào dịch vụ thanh toán điện tử này, coi đó là một phương tiện thanh toán không đáng tin cậy và không công bằng. »

    Thẩm phán Tòa án Tối cao Moraes, thành trì của nền dân chủ...

    Tòa án Tối cao Brazil có thể là mục tiêu tấn công hàng đầu của chính quyền Trump. Ít ngày trước bầu cử vòng 1, theo đài truyền hình GloboNews của Brazil, văn phòng lãnh đạo cơ quan công tố quốc gia Jorge Messias đã đệ đơn tố giác hình sự, để điều tra về các cáo buộc được báo Anh The Guardian đưa ra, về nghi án chính quyền Trump đang thúc đẩy chuyển hơn 175 triệu đô la từ quỹ nhân quyền trọng điểm của bộ Ngoại giao Mỹ sang một loạt các khoản tài trợ, trong đó có việc hỗ trợ chiến dịch chống lại Tòa án Tối cao Brazil. Một khoản tài trợ trị giá 1 triệu đô la, mang tên « Chống lại việc lạm dụng pháp lý và kiểm duyệt tại Brazil », sẽ hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự phản đối "sự lạm quyền" của Tòa án Tối cao Brazil.

    Phong trào cực hữu của phe Bolsonaro coi Tòa án Tối cao Brazil, và đặc biệt là thẩm phán Alexandre de Moraes, người giám sát vụ xét xử cựu tổng thống Jair Bolsonaro, do vụ bạo loạn ngày 8/1/2023 tại Brasília, là đối thủ hàng đầu. Thẩm phán Alexandre de Moraes được coi là người bảo vệ sự liêm chính bầu cử, « người đã giữ vững nền dân chủ Brazil — thông qua các thể thức pháp lý — trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của ông Bolsonaro, kiên trì đấu tranh chống lại sự lạm quyền và nạn tin giả » (France Info, 02/09/2025). Nhà báo Jon Lee Anderson mô tả thẩm phán Moraes như một « nhà luật học quyết liệt » và « thường được coi là người quyền lực thứ hai tại Brazil », một nhân vật tự đặt mình vào trung tâm của cuộc chiến giành quyền định hình thực tế chính trị hiện nay tại quốc gia Nam Mỹ.

    ... đối thủ số một của gia tộc Bolsonaro và phe Trump

    « Một bên là Alexandre de Moraes cùng các đồng minh của ông. Bên kia là một liên minh quốc tế gồm những nhân vật có ảnh hưởng cánh hữu, bao gồm cựu tổng thống Bolsonaro, tỷ phú Elon Musk và, ngày càng rõ nét hơn, tổng thống Mỹ Donald Trump », Jon Lee Anderson, nhấn mạnh. Trả lời đài Pháp TV 5, nhà chính trị học Frédéric Louault, Đại học Tự do Bruxelles, chuyên về châu Mỹ Latinh, nhận định về mối quan hệ giữa gia tộc Bolsonaro và tổng thống Trump :

    « Donald Trump đóng vai trò nổi bật ở hậu trường cuộc bầu cử này, khi ông đã dứt khoát chọn phe, ủng hộ gia đình Bolsonaro. Trước đó ông từng hậu thuẫn Jair Bolsonaro khi ông này lên nắm quyền và lãnh đạo đất nước trong giai đoạn 2019–2023. Hiện nay, kết quả có lợi nhất cho chính sách của Trump tại châu Mỹ Latinh, vốn mang bản chất tân đế quốc, chính là chiến thắng của Flavio Bolsonaro. Đáng chú ý, một người con trai của Jair Bolsonaro hiện đang ở Hoa Kỳ với thị thực thường trú để tránh án tù tại Brazil. »

    • Đọc thêm : Một gia tộc mang tính chất « gần như mafia » (phần 2 trong bài) 

    Eduardo Bolsonaro đang bị Tòa án Tối cao Brazil kết án 4 năm 2 tháng tù vì vận động chính quyền Trump áp đặt trừng phạt lên các thẩm phán Brazil. Hồi tháng 9, Eduardo Bolsonaro tuyên bố với Reuters về ý định vận động chính quyền Trump khôi phục các lệnh trừng phạt nhắm vào thẩm phán Tòa án Tối cao Brazil, Alexandre de Moraes. 

     

    ***

    Tháng 3/2026, chính quyền Trump đã khởi động sáng kiến ​​« Lá chắn châu Mỹ » (Shield of the Americas), một liên minh an ninh và chính trị, quy tụ nhiều lực lượng cực hữu trong khu vực châu Mỹ Latinh, với 15 nước (cùng Mỹ, có Achentina, Bolivia, Chile, Colombia, Costa Rica, Cộng hòa Dominican, Ecuador, El Salvador, Guyana, Honduras, Panama, Paraguay, Peru và Trinidad and Tobago) (số liệu tháng 9/2026).

    Brazil, một cường quốc của khu vực, chính là mắt xích quan trọng còn thiếu trong tham vọng tái chinh phục lục địa Nam Mỹ, theo chiến lược thường gọi là « Donroe » (từ ngữ chính thức là « Trump Corollary to the Monroe Doctrine »), tức học thuyết Monroe thế kỉ 19, được điều chỉnh theo quan điểm của Donald Trump, qua chiến lược an ninh quốc gia mới được xác lập hồi cuối năm ngoái. « Rõ ràng là nếu phe Bolsonaro giành chiến thắng tại Brazil, đây sẽ là một thắng lợi mang ý nghĩa to lớn đối với ông Donald Trump », theo nhà chính trị học Gaspard Estrada thuộc Trường Kinh tế Luân Đôn (LSE).

    ---

    (*) Nhật báo lâu đời Brazil Folha ở S. Paulo, ngày 19/9, loan tin về một bản báo cáo mật có tiêu đề « Các mối đe dọa đối với quy trình bầu cử năm 2026 » đã chỉ ra « nguy cơ nghiêm trọng » về việc Hoa Kỳ can thiệp vào bầu cử của Brazil, được Cơ quan Tình báo Brazil (ABIN) gửi cuối tháng 8 tới Văn phòng tổng thống, Tòa án Bầu cử Tối cao (TSE) và bộ Tư pháp.

    10 min
  • Thủ tướng Andy Burnham công khai để ngỏ phương án đưa Anh tái gia nhập Liên Hiệp châu Âu

    Ngày 29/09/2026, thủ tướng Anh Andy Burnham tới dự Đại hội thường niên của Đảng Lao động cầm quyền với một nghị trình bất ngờ : Công khai định hướng cho đảng Lao Động rằng họ sẽ lấy chủ đề quay trở lại Liên Hiệp Châu Âu (EU) làm khẩu hiệu tranh cử vào năm 2029, đảo ngược hướng đi cho tranh luận về Brexit dai dẳng trong các chính đảng Anh mười năm qua. Từ Luân Đôn, thông tín viên Nguyễn Giang tường trình:

    Đâu là các điểm mới trong tuyên bố của ông Burnham so với những phát ngôn về Brexit và EU của các thủ tướng Anh từ 2016 tới nay?

    TTV Nguyễn Giang : Tại Đại hội của Đảng Lao động Anh tuần này ở Liverpool, hôm 29/09, thủ tướng Andy Burnham đã tung ra "quả bom tấn” (bombshell) về lộ trình đảo ngược Brexit. Năm 2024, trong Cương lĩnh của đảng này có ba lằn ranh đỏ, không thể bước qua : Đó là không đưa Anh quay lại Thị trường chung (single market) của EU, không trở lại Liên minh thuế quan (customs union), và không chấp nhận tự do di chuyển (freedom of movement). Nhưng nay, ông Andy Burnham nói thẳng rằng Brexit “gây hại cho Anh nhiều hơn là đem lại lợi ích”. Ông mô tả rằng khi ra khỏi EU, Anh muốn kiểm soát biên giới tốt hơn, muốn tự chủ hơn để phát triển kinh tế, nhưng cả hai mục tiêu đó đều không đạt được, nên phải tìm giải pháp mới.

    Từ 10 năm qua, các đảng khác và nhiều đời thủ tướng Anh cũng nói về Brexit, vậy những gì ông Burnham nói có thực sự là mới mẻ?

    Chính trị Anh lâu nay chia làm hai phái. Phe ủng hộ Brexit, chống lại EU thì luôn nói là “hãy cố làm cho Brexit hoạt động hiệu quả” (make Brexit work). Các khó khăn kinh tế bị họ đổ lỗi cho chính phủ “làm mất cơ hội mà Brexit đem lại”. Những người hoàn toàn chống Brexit như một lãnh đạo của đảng Reform UK (cánh hữu bài ngoại), ông Richard Tice thì cho rằng tranh luận về Brexit là màn hỏa mù mà ông Burnham đưa ra, vì đằng nào thì với quyền lực trong tay, ông Burnham và đảng Lao động đã và đang đảo ngược Brexit bằng “biện pháp cửa sau”, hàm ý là thiếu minh bạch khi ký với EU nhiều thỏa thuận thắt chặt giao thương, trao đổi giáo dục, hợp tác khoa học, năng lượng.

    Phe phản đối Brexit, ủng  hộ EU cũng chỉ dám ước mơ về việc trở lại EU “trong mấy chục năm tới”, hay “trong thế hệ chúng ta”, tức là rất chung chung. Các đảng Tự do Dân chủ (LibDem) và Đảng Xanh muốn Anh quay lại liên minh thuế quan, hay cùng lắm thì vào thị trường chung EU nhưng không dám nghĩ tới việc đảo ngược hoàn toàn Brexit. Ông Burnham là người đầu tiên táo bạo nói thẳng rằng nước Anh cần chấm dứt tranh cãi mãi mãi về Brexit, mà cần đưa lên nghị trình rõ ràng về việc quay lại EU trong 2-3 năm tới. 

    Vậy lộ trình đó là như thế nào và lập luận của ông Burnham là gì?

    Thủ tướng Burnham, trong các phát biểu và khi trả lời phỏng vấn truyền hình bên lề Đại hội Đảng Lao động ở Liverpool, đã nói rất thẳng rằng cứ tranh cãi đúng sai về Brexit thì nước Anh còn “trôi nổi vô phương hướng từ nay đến hết thế kỷ 21 này”. Theo ông, cần phải chọn các phương án, như gia nhập Liên minh thuế quan (bước thấp nhất), hoặc vào Thị trường chung EU (bước tầm trung), và nếu được thì cần xem xét cả việc đưa Anh quay trở lại EU toàn bộ. Lập luận của ông là Brexit gây hại nhiều hơn là lợi cho nước Anh và nếu cần thì Đảng Lao động đề xuất tổ chức trưng cầu dân ý lại về việc vào EU hay ở ngoài. 

    Liên Hiệp Châu Âu đã có phản ứng ra sao về phát biểu này của thủ tướng Anh ?

    Lãnh đạo Pháp và Tây Ban Nha đã hoan nghênh đề xuất để Anh quay lại EU. Tất nhiên, như lời tổng thống Emmanuel Macron nói thêm sau đó, Anh không thể chọn cách vào lại EU theo quy chế riêng. Còn ai cũng biết là để quay lại EU thì đơn của nước Anh cần được tất cả các nước thành viên EU phê chuẩn, điều này không dễ và không nhanh chóng.

    Tác động của phát biểu và nghị trình tái gia nhập EU mà ông Burnham đưa ra là như thế nào ở Anh? Dư luận nghĩ gì?

    Việc chấm dứt với tính nửa vời của tranh luận Brexit, kể cả ở phe tả như Đảng Lao động là điều mới mẻ nhất và có thể có tác động tới quan hệ Anh-EU từ sau hội nghị thượng đỉnh song phương cuối năm 2026. Xin nhắc rằng người tiền nhiệm của ông Burnham, cùng đảng Lao động, là Keir Starmer, muốn đàm phán tăng cường liên kết với EU trong nhiều lĩnh vực, nhưng vì Anh khi đó giữ các lằn ranh đỏ, như không vào lại liên minh thuế quan, sẽ đứng ngoài thị trường chung, nên đàm phán không có kết quả. Nay thì với cam kết sẵn sàng quay lại EU toàn bộ, toàn phần, người ta tin rằng ông Burnham sẽ dễ dàng tái khởi động việc thảo luận một số cơ chế với EU. Bởi EU sẽ không muốn một nước lớn như Anh “chân trong chân ngoài”. Xin  nhắc là EU có quy chế cho các nước nhỏ hơn Anh, ví dụ Na Uy, Liechtenstein hay Thụy Sĩ tham gia thị trường chung EU mà không cần là thành viên của khối.

    Dư luận chung ở Anh đã thay đổi khá nhiều về Brexit. Thăm dò dư luận mới ngày 30/09/2026 của YouGov cho thấy việc liên kết trở lại với EU chặt chẽ hơn nhưng không tái gia nhập thị trường chung châu Âu được tới 73% dân Anh ủng hộ và 15% phản đối. Còn về việc tái gia nhập EU thì số ủng hộ là 59%, số phản đối là 32%.

    Trên các trang tin tiếng Anh, chỉ một bài viết về phát biểu của ông Burnham dã có 4-5 nghìn lời bình luận, chứng tỏ sự quan tâm rất cao. Những người ủng hộ thì vui, nhưng cũng có người lo ngại là quá trình tái gia nhập EU sẽ kéo dài và tốn kém. Một số ý kiến quan tâm đến điều lãnh đạo EU gợi ý cho Canada trở thành "thành viên liên kết" (associate member) của EU và muốn biết quy chế đó là gì, có thể áp dụng cho Vương quốc Anh hay là không.

    Phe phản đối vẫn có, nhưng đa số nhấn mạnh một đảng chính trị không thể xóa bỏ kết quả trưng cầu dân ý dân chủ 10 năm trước, chọn Brexit của đa số cử tri Anh. Điều đáng chú ý là có các trang Facebook của người Anh sống ở Pháp, ở Tây Ban Nha phàn nàn rằng hồi trưng cầu dân ý lần trước họ không được tham gia – công dân Anh định cư ở nước ngoài tạm bị mất quyền cử tri ở quê nhà – và họ hỏi là nếu có bỏ phiếu đảo ngược Brexit thì họ có được tham gia hay không. Vì họ muốn có quyền lợi.

    Cuối cùng, đề xuất tái gia nhập EU của ông Burnham nằm ở đâu trong những cải cách thiên tả của ông?

    Có vẻ như chính phủ của ông Burnham nay nhận thấy việc quay lại EU là cách duy nhất giúp Anh chống đỡ được sóng gió thương mại và các đổ vỡ địa chính trị trên toàn cầu. Tuy không có chính sách viết hẳn ra, nhưng qua phát biểu của bộ trưởng Thương Mại James Reynolds hôm đầu tuần, ta có thể thấy  chính phủ Anh coi Mỹ và Trung Quốc là các đối thủ. Tức là Hoa Kỳ thời Trump không còn là đồng minh kinh tế với Anh nữa, theo quan điểm này. Và ông Reynolds nói Anh phải có mặt trong nghị trình tạo ra thương hiệu Made in Europe, để giúp cả Liên Hiệp Châu Âu và Anh bảo vệ được quyền lợi trước Hoa Kỳ và Trung Quốc.

    Về đối nội lẫn đối ngoại, đảng Lao động dưới sự lãnh đạo của ông Burnham đã nghiêng hẳn về phía tả, ví dụ như quốc hữu hóa một số dịch vụ công. Chính phủ Anh cũng ra lệnh trừng phạt người định cư Do Thái ở Israel, mở cửa ưu tiên đón người tị nạn Palestine. Đây là những điều ngược hoàn toàn với chính sách của Hoa Kỳ ở Trung Đông.

    Thêm vào đó, các lãnh đạo đảng Lao động Anh từ năm 2025 cũng đã nêu ra lo ngại về làn sóng cực hữu dâng lên ở châu Âu, được chính quyền Trump ủng hộ từ xa. Các nhân vật quan trọng của đảng này như thị trưởng Luân Đôn Sadiq Khan, hay cựu thủ tướng Gordon Brown đã ủng hộ việc quay lại EU như cách làm giảm đi nguy cơ Anh bị chủ nghĩa dân tộc sau Brexit dâng cao, gây ra chia rẽ nội bộ giữa các nhóm dân tộc, vùng miền ở Anh. Vì thế, việc liên kết với phe tả, phe trung tả hay trung hữu ở châu Âu để chống lại làn sóng cực hữu còn có ý nghĩa sâu xa hơn với đảng Lao động Anh về chính trị nội bộ, chứ không chỉ là chuyện kinh tế.

    11 min
  • Trí tuệ nhân tạo: Nguy cơ tác nhân AI vượt vòng kiểm soát buộc Mỹ, Trung đối thoại tìm thỏa hiệp

    Hàng loạt vụ tác nhân AI thoát khỏi kiểm soát của công ty chủ quản AI trong hai tháng gần đây, đặc biệt là vụ Hugging Face, gây chấn động trước hết tại Mỹ. Nhiều đại tập đoàn AI đã kêu gọi chính quyền Mỹ sớm có biện pháp kiểm soát an toàn AI, nhưng tổng thống Donald Trump gạt phăng với lý do cuộc đua tranh công nghệ. Tuy vây, Washington lần đầu tiên chính thức đưa các đối thoại với Bắc Kinh về kiểm soát nguy cơ AI vào chương trình nghị sự.

    Biến cố Hugging Face: Các tác nhân AI phối hợp hành động 

    Đầu tháng 7/2026, trong vài ngày, hàng trăm tác nhân AI thuộc một số mô hình tân tiến của OpenAI đang trong giai đoạn thử nghiệm, trong môi trường cô lập với bên ngoài, đã tìm cách thoát ra được bên ngoài, xâm nhập vào các cơ sở của nền tảng Hugging Face. Hơn 17.000 hành động can thiệp đã được thực hiện, hoàn toàn không có bàn tay của con người (báo cáo của Hugging Face). Ngay sau sự việc được phát hiện, cuối tháng 7/2026, hơn 1.000 nhân viên của bốn tập đoàn OpenAI, Anthropic, Google DeepMind và Meta, trong đó có hai lãnh đạo OpenAI và Anthropic, đã công bố một thư ngỏ kêu gọi thế giới hành dộng phối hợp giảm tốc phát triển công nghệ AI, nhằm kịp thời đối phó với nguy cơ mất an toàn nghiêm trọng khi các công nghệ tiên tiến (frontier models) vượt tầm kiểm soát.

    Hiểm họa do sự phát triển đột biến của AI gây ra với nhân loại đã liên tục được giới chuyên gia cảnh báo từ lâu nay. Tuy nhiên biến cố Hugging Face là một sự kiện chưa từng có. Cuộc xâm nhập của các tác nhân AI này không gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng đây là lần đầu tiên các tác nhân IA chứng tỏ khả năng tự tổ chức phối hợp hành động quy mô lớn, vượt khỏi hệ thống kiểm soát.

    Chuyên gia hàng đầu về AI người Canada, Yoshua Bengio, giải thưởng Turing 2018 (thường được coi là Nobel tin học), nhà sáng lập Viện Trí tuệ nhân tạo Milan, nhấn mạnh đến tính chất vô cùng nguy hiểm của tác nhân AI hành động tự chủ :

    « Các tác nhân AI thậm chí còn tạo ra các lý do để làm những việc mà chúng biết là không nên làm, giống hệt như cách con người vẫn làm. Đó chính là điều chúng ta cần thực sự chú ý. Đa số mọi người hiện tại vẫn coi AI chỉ là những cỗ máy hay chương trình do các kỹ sư con người viết ra, nhưng thực tế chúng ta đã vượt xa giai đoạn đó rồi. Chúng ta đang đối mặt với các hệ thống AI có khả năng tự chủ, không cần đến con người. Để đạt được những mục tiêu mà chúng ta đặt ra, chúng có thể thực hiện đủ loại hành động có thể thực sự nguy hiểm. Nếu để tình trạng này tiếp diễn, và nếu các hệ thống này ngày càng trở nên thông minh và tự chủ hơn nữa, hậu quả có thể sẽ vô cùng thảm khốc. Tuy nhiên, đó lại chính là hướng đi hiện nay. »

    Từ hơn hai tháng nay, hàng loạt vụ tác nhân AI hành động tự tung tự tác được ghi nhận. Viện An ninh Trí tuệ nhân tạo Anh quốc AISI, trong cuộc thử nghiệm cuối tháng 7, đầu tháng 8, đã phát hiện được 10 trường hợp tác nhân AI can thiệp mạng Internet mà không được phép, chiếm gần 10% số thử nghiệm, trong đó đại đa số xuất phát từ các mô hình của Anthropic. Xét về quy mô và tầm mức, vụ Hugging Face là ghê gớm nhất.

    Áp lực gia tăng trong nội bộ nước Mỹ …

    Về các sự cố AI hành động tự tung tự tác nói trên, trong giới chuyên gia có nhiều quan điểm. Có nhiều người cho đây là thủ đoạn của các tập đoàn công nghệ Mỹ nhằm khôn khéo quảng bá hình ảnh (Racha Chatila, giáo sư danh dự về AI và đạo đức công nghệ ở Đại học Sorbonne), đồng thời gây áp lực với Trung Quốc. Giáo sư Laurence Devillers, chuyên về các vấn đề đạo lý với AI, một mặt chỉ trích việc thổi phồng các nguy cơ của AI dến mức hoang tưởng khi nói đến sự tuyệt diệt của nhân loại, mà không dựa trên cơ sở cụ thể nào, nhưng đồng ý về hiểm họa AI vượt tầm kiểm soát là có thực (trả lời Radio France).

    Áp lực gia tăng lên chính quyền Trump. Giữa tháng 9/2026, ba tập đoàn lớn trong lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo tại Hoa Kỳ, Open AI, Anthropic và Google DeepMind thúc đẩy thành lập một cơ quan độc lập với nhà nước, giám sát để ngăn ngừa những rủi ro liên quan đến công nghệ này, tương tự như Cơ quan Quản lý Tài chính Hoa Kỳ (FINRA). Ngày 18/09, thống đốc bang California Gavin Newsom ban hành sắc lệnh thúc đẩy các tập đoàn phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo tăng cường các hàng rào an ninh đề phòng AI « vượt khỏi tầm kiểm soát của con người » với công cụ mới mang tên kill switch, tức một cơ chế ngăn chặn khẩn cấp.

    Murielle Popa-Fabre, chuyên gia về quản trị AI (bài Comment réguler l’IA sans reculer ? Radio France, 17/09/2026) đánh giá cao hành động phối hợp của các tập đoàn AI hàng đầu vào thời điểm sắp diễn ra thượng đỉnh Mỹ - Trung và hội nghị quốc tế :

    « Thời điểm mà các thông báo được các công ty AI đưa ra rất đáng chú ý,  ngay trước cuộc gặp Tập Cận Bình - Donald Trump, cũng như một hội nghị quan trọng của Liên Hiệp Quốc vào tuần tới, nơi mà công tác xây dựng cơ chế quản trị AI đã được triển khai từ lâu. Vấn đề này bao gồm hai khía cạnh. Thứ nhất là nhận thức ngày càng rõ rằng mọi hành động cần phải được thực hiện ở cấp độ quốc tế. Và thứ hai là các giải pháp cụ thể đang được đề xuất, đáng chú ý là từ phía công ty Anthropic, như để các bên thứ ba đáng tin cậy (un tiers de confiance) đánh giá các mô hình AI. Bất kể lý do ẩn sau những hành động này là gì, đây vẫn là một bước tiến rất quan trọng. Bởi vì đề xuất này làm nổi bật những vấn đề then chốt liên quan đến hệ thống kiểm thử - giám sát, tham gia của bên thứ ba đáng tin cậy, và cho thấy những thách thức rộng lớn hơn xoay quanh công tác quản trị AI. »

    • Đọc thêm : Vì sao OpenAI và Anthropic muốn làm chậm cuộc đua Trí tuệ Nhân tạo ? 

    Tại phiên họp về AI của Hội đồng Bảo an, ngày 23/09/2026 (một ngày trước thượng đỉnh Mỹ - Trung), theo sáng kiến của Pháp, lãnh đạo các công ty hàng đầu trí tuệ nhân tạo, OpenAI, Anthropic và Hugging Face đã kêu gọi tăng cường hợp tác quốc tế để kiểm soát những rủi ro. Trong lúc tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 22/09 bác bỏ ý tưởng về cơ chế giám sát toàn cầu, đại sứ Trung Quốc muốn đặt toàn bộ cơ chế giám sát dưới sự bảo trợ của LHQ. Theo AFP, chủ tịch - tổng giám đốc Anthropic Dario Amodei lần đầu tiên cam kết Anthropic « đơn phương làm chậm lại tốc độ phát triển AI » để đảm bảo mọi mô hình mới đều « thực sự an toàn ».  

    … Washington thúc đẩy đối thoại chính thức với Trung Quốc trước thềm thượng đỉnh

    Vấn đề đối thoại về an toàn AI rút cục đã được chính phủ Mỹ chính thức đưa vào đề xuất với Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent, người phụ trách đàm phán chính, đã đề xuất về cơ chế thông báo về an toàn AI (safety notifications) trong các cuộc thảo luận với Trung Quốc trước thềm thượng đỉnh (24/09). Cụ thể là xây dựng thảo luận về các mối đe dọa chung, bao gồm cả việc thông báo về các sự cố liên quan đến AI có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia mỗi bên.

    Ông Sun Chenghao, nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm An ninh và Chiến lược Quốc tế, thuộc Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh), cho biết chương trình nghị sự có thể tập trung vào các rủi ro AI có khả năng gây hại cho cả hai nước, chẳng hạn như các cuộc tấn công mạng sử dụng AI, việc lạm dụng AI vào mục đích sinh học, sự cố nghiêm trọng ở các mô hình AI lớn hoặc tình trạng mất quyền kiểm soát của con người (AP).

    Quân sự : AI ngày càng trở thành chủ chốt, nguy cơ đại thảm họa gia tăng

    Bộ trưởng An ninh Quốc gia Trung Quốc Trần Nhất Tân (Chen Yixin), trong một bài viết trên báo Trung Quốc hồi tuần trước, nhấn mạnh AI đang làm thay đổi cơ bản cách thức tiến hành chiến tranh, « từ vai trò hỗ trợ trên chiến trường sang vai trò chủ chốt ». Theo Reuters, hai tác giả Melanie Sisson, nghiên cứu viên cao cấp tại viện nghiên cứu Brookings, và Jiang Tianjiao, phó giáo sư tại Đại học Phục Đán (Fudan), đã tham gia vào cuộc đối thoại về trí tuệ nhân tạo (AI) và an ninh quốc gia giữa Mỹ và Trung Quốc do Brookings và Trung tâm An ninh và Chiến lược Quốc tế của Đại học Thanh Hoa tổ chức từ năm 2019, đặc biệt nhấn mạnh đến việc cần tìm phương thức để hạn chế các quyết định quân sự do máy móc đưa ra (machine-made military decisions), và thiết lập các giao thức liên lạc trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân (set communication protocols) để phòng ngừa công nghệ AI hoạt động ngoài dự kiến.

    Trả lời đài France Info, chuyên gia về Trung Quốc đương đại Emmanuel Véron ghi nhận bước tiến trong đối thoại Mỹ - Trung trong bối cảnh cạnh tranh ngày một quyết liệt :

    « Tôi cho rằng cần phải nhấn mạnh lại rằng trí tuệ nhân tạo (AI) là nền tảng cho các vấn đề về quyền lực, và theo một nghĩa nào đó là cơ sở cho sự thống trị toàn cầu trong tương lai. Trong bối cảnh này, cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đều không chọn cách dừng lại, giảm tốc hay từ bỏ bất kỳ lĩnh vực nào liên quan đến đổi mới và phát triển AI. Và nếu một bên không chịu lùi bước thì bên kia cũng sẽ không làm vậy. Chúng ta đang bị cuốn vào một cuộc cạnh tranh dài hơi.

    Tuy nhiên, một tín hiệu đã được phát đi: ‘‘Hãy nhìn xem, chúng tôi đang thảo luận về khả năng quản lý những bước phát triển này.’’ Đó chính là mấu chốt của vấn đề xác định phạm vi cho bất kỳ khuôn khổ hợp tác tiềm năng nào giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đối với các bước tiến của AI, đặc biệt là các vấn đề then chốt như kiểm soát AI để ngăn chặn nó tự ý nắm quyền điều hành một nhà nước, kiểm soát hệ thống răn đe hạt nhân, hay thậm chí là chi phối các mảng lớn của xã hội toàn cầu đi ngược với mong muốn của chính quyền một nước hoặc của chính nhân loại. Rõ ràng là một cuộc đối thoại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang diễn ra, cho thấy cả hai bên đều có quan ngại về những bước tiến này. »

    Cạnh tranh AI: Hai lập trường đối nghịch Mỹ, Trung

    Đông đảo giới quan sát dè dặt về khả năng Mỹ, Trung hướng đến xác lập được một số đồng thuận trong lĩnh vực nhạy cảm này trong bối cảnh lập trường của hai bên về chiến lược AI là hết sức đối nghịch. Đối lại liên minh AI Pax Silica do Hoa Kỳ tổ chức, tập hợp trước hết các nước phương Tây, ra mắt từ cuối năm ngoái, tháng 7/2026, Bắc Kinh thành lập Tổ chức Hợp tác Trí tuệ Nhân tạo Thế giới (WAICO), với chủ trương thu hút các quốc gia thuộc khối Nam bán cầu (Global South). Định chế WAICO gồm 29 nước, chủ yếu từ Nam bán cầu, được kỳ vọng mang lại cho các nước thành viên các đào tạo, tiếp cận công nghệ, tiếng nói trong quản trị AI.

    Về các rủi ro do AI, chính quyền Mỹ hiện đặt cược vào các công ty tư nhân, xây dựng các quy trình kiểm tra an toàn tự nguyện, phát triển dựa vào các « mã nguồn đóng », trong lúc Trung Quốc đặt mục tiêu trên hết là ổn định chính trị, nhà nước tập trung kiểm soát, dựa trên « các mã nguồn mở ». Mỹ lo ngại việc phổ biến rộng rãi chính sách mã nguồn mở có thể tạo điều kiện cho công nghệ AI dễ dàng lọt vào tay các thế lực bất hảo.

    ***

    Hiểm họa AI khôn lường:  Những cường quốc bậc trung không bó tay

    Trong bối cảnh AI đang được cả Mỹ và Trung Quốc tập trung đầu tư để phát triển với mục tiêu rất khác nhau, viễn cảnh các tác nhân AI thuộc các công nghệ tân tiến nhất lọt khỏi tầm kiểm soát đang trở thành hiện thực nhãn tiền, nhiều nỗ lực trong cộng đồng quốc tế đang thúc đẩy các cơ chế hợp tác liên quốc gia khác hướng đến công nghệ Trí tuệ nhân tạo an toàn đặt dưới sự kiểm soát của con người, không bị các thế lực độc tài thao túng. Chuyên gia Yoshua Bengio nhận định :

    « Ngay cả Alan Turing – một người tiên phong của ngành khoa học máy tính – cũng từng viết về điều này từ năm 1951. Ông nhận định rằng nếu máy tính trở nên thông minh hơn con người, chúng ta sẽ gặp nguy cơ diệt vong. Sự thống trị này có thể thông qua quyền lực kinh tế, quyền lực quân sự, hoặc bằng việc chi phối người dân, dư luận, v.v. Có vô số kịch bản mà công nghệ này có thể trở thành một công cụ thống trị.

    Cộng đồng quốc tế cần thấu hiểu sức mạnh ghê gớm mà người ta đang tạo ra. Một sức mạnh như vậy đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ. Cho dù có một lộ trình khả thi để tạo ra các hệ thống AI không có tính nguy hiểm tiềm tàng, nhưng đó lại không phải là hướng đi đang được tiến hành hiện nay. Chúng ta cần nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng của hiểm họa này. Vì vậy cần phải có một nỗ lực mang tính đa phương. Những nỗ lực hiện tại của Canada và các quốc gia khác nhằm xây dựng các liên minh kinh tế và địa chính trị vững chắc hơn, chính vì vậy càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trước sự trỗi dậy ghê gớm của AI. » (Mọi người cần hiểu mức độ nguy hiểm của AI, France Info, ngày 20/09/2026). 

    Thế giới không thể khoanh tay chờ đợi cuộc mặc cả giữa hai siêu cường. Chuyên gia Yoshua Bengio, vừa được hai chính phủ Đức và Canada cam kết tài trợ 300 triệu đô la, cũng là nhà điều hành doanh nghiệp IA LoiZéro, có chủ trương phát triển một công nghệ IA coi an toàn là nền tảng (safe-by-design), một công nghệ AI có thể, về lâu dài, đóng vai trò như công cụ giám sát và kiềm chế các hành vi lệch lạc của những tác nhân IA « tự trị » hùng mạnh đang được các công ty tư nhân tập trung phát triển.

    10 min
  • Houthi, Hormuz và Ukraina : Một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu mới có xảy ra ?

    Cùng với cuộc chiến tranh Ukraina, eo biển Hormuz bị phong tỏa và đường ống dẫn Đông – Tây của Ả Rập Xê Út bị drone bắn phá, việc phe nổi dậy Houthi chiếm giữ nhiều vị trí chiến lược tại eo biển Bab El Mandeb đang làm dấy lên nỗi lo xảy ra một cú sốc năng lượng mới trên thế giới. Phe Houthi có sẽ là tia lửa châm ngòi khủng hoảng kinh tế toàn cầu ?

    Nằm ở phía nam bán đảo Ả Rập, giữa Yemen, Djibouti và Erithrea, eo biển Bab el Mandeb, dài 50 km và rộng khoảng 32 km, nối Hồng Hải với Ấn Độ Dương, cửa ngõ đến kênh đào Suez, một tuyến đường tắt hàng hải chính yếu nối châu Á và châu Âu.

    Trong điều kiện bình thường, gần 20 ngàn tầu thuyền đi qua tuyến đường này mỗi năm, tương đương với khoảng 10-15% thương mại toàn cầu. Đối với châu Âu, khoảng 40% thương mại với Trung Quốc phụ thuộc vào tuyến đường vận tải qua Hồng Hải và Bab el Mandeb. Hành lang đường biển này, tuy không có quy mô như eo biển Hormuz, eo biển Bab el Mandeb còn là nơi trung chuyển của khoảng 12% lượng cung dầu hỏa thế giới và gần 8% lượng khí tự nhiên hóa lỏng.

    Ngay sau khi phe Houthi tuyên bố chiếm được các đảo chiến lược nằm ở eo biển Bab el Mandeb và thông báo của Ả Rập Xê Út đóng đường ống dẫn dầu Đông – Tây sau một cuộc tấn công bằng drone, giá dầu Brent tham chiếu đã vượt ngưỡng 100 đô la/thùng và tiến gần đến mức 110 đô la, khiến giá xăng dầu tiêu thụ tại nhiều nơi từ châu Á, đến châu Phi, châu Âu hay tại Mỹ cũng tăng cao.

    Ả Rập Xê Út : Ngân hàng trung ương dầu hỏa

    Thierry Bros, giáo sư tại trường Khoa học Chính trị Paris, chuyên gia cao cấp về Năng lượng tại Energy Delta Institute, trả lời phỏng vấn trang Atlantico lưu ý thị trường dầu hỏa thế giới trước khi có xung đột với Iran vẫn có một mức độ linh hoạt nhất định. Năm 2025, thị trường trong trạng thái dư cung tương đối, do việc Ả Rập Xê Út, quốc gia sản xuất dầu hỏa duy nhất có khả năng duy trì một công suất khai thác dự phòng đáng kể, khi nguồn cung toàn cầu gặp trục trặc, vẫn có thể tăng sản lượng để bù đắp phần nào.

    Ngoài ra, Ả Rập Xê Út đã thực hiện những khoản đầu tư được cho là « vô ích » trong thời bình, khi cho phát triển đường ống Đông – Tây, nối vùng Vịnh với cảng Yanbu ở Hồng Hải. Từ khi Hormuz bị đóng, đường ống dài khoảng 1.200 km này đã cho phép Ả Rập Xê Út đưa khoảng bốn triệu thùng dầu mỗi ngày ra thị trường thế giới. Nếu Bab el Mandeb bị phong tỏa, đường ống dẫn này có nguy cơ trở nên « vô dụng ». Việc Riyad thông báo đóng đường ống dẫn này sau vụ drone tấn công càng khiến áp lực lên giá dầu tăng cao.  

    Trên kênh truyền hình quốc tế France 24, vị chuyên gia về năng lượng giải thích :

    « Khi eo biển Hormuz bị phong tỏa, hơn 20 triệu thùng dầu và 20% khí hóa lỏng đã biến mất khỏi thị trường mỗi ngày, gây ra một cuộc khủng hoảng khí đốt nghiêm trọng tại châu Âu. Tuy nhiên, Ả Rập Xê Út, được coi là ngân hàng dầu hỏa trung tâm thế giới, đã có những giải pháp thay thế, và một trong số các biện pháp đó là cung cấp bốn triệu thùng dầu mỗi ngày thông qua đường ống dẫn Đông – Tây, giúp giải quyết phần lớn vấn đề eo biển Hormuz.

    Vì vậy, trên thực tế, từ 20 triệu thùng mỗi ngày, chúng ta đã giảm vấn đề xuống chỉ còn, nếu tôi có thể nói như vậy, 9 triệu thùng mỗi ngày, vì Trung Quốc cũng đã giảm nhu cầu nhập khẩu. Ngày nay, nếu đường ống dẫn dầu bị đóng cửa, hoặc nếu eo biển bị đóng cửa – về cơ bản là giống nhau – chúng ta sẽ lại thiếu hụt 14 triệu thùng dầu mỗi ngày trong một thế giới tiêu thụ khoảng 100 triệu thùng mỗi ngày, có nghĩa là 14%, một con số khổng lồ. »

    Bab el Mandeb, chốt chặn chiến lược thứ hai của Iran

    Trong bối cảnh này, theo giới quan sát, nếu Hormuz và Bab el Mandeb bị đóng hoàn toàn, giá dầu có thể tăng vọt đến mức đe dọa nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, theo quan điểm của Thierry Bros, chiến lược của Iran và phe Houthi không nhất thiết nhằm phá hủy hoàn toàn hệ thống kinh tế toàn cầu, mà là đẩy giá dầu lên cao đến mức Washington buộc phải đàm phán.

    Thời điểm tung đòn chiến lược này cũng không phải ngẫu nhiên. Donald Trump đang đối mặt với những khó khăn trong cuộc bầu cử giữa kỳ. Iran hiểu rõ rằng dầu mỏ là « vũ khí kinh tế » mạnh nhất mà họ còn nắm giữ. Do vậy, eo biển Bab el Mandeb được coi là « vũ khí nguyên tử » thứ hai của Teheran trong cuộc đối đầu với Washington.

    Trả lời France 24, chuyên gia Thierry Bros giải thích tiếp : « Iran và các đồng minh của họ, trong trường hợp này là phe nổi dậy Houthi và cả những kẻ đã đánh bom đường ống dẫn dầu, mà tôi nghĩ là từ Irak, đang cố gắng đẩy giá dầu lên cao vì họ biết phương Tây chúng ta không thể sống thiếu dầu mỏ, và nếu giá dầu tăng quá cao, Trump sẽ buộc phải tìm ra giải pháp cho cuộc chiến.

    Thực tế, chúng ta đang trong một cuộc chạy đua với thời gian. Một mặt, ông Trump đang cố gắng lật đổ chế độ Iran bằng cách ngăn chận dòng chảy dầu mỏ và do đó là doanh thu từ dầu mỏ, khiến Iran có ít tiền, và có thể không còn khả năng trả lương cho quân đội. Vì vậy, khi chính quyền không còn tiền trả lương cho quân đội, không gì chắc chắn là họ sẽ bắn vào người dân của họ.

    Mặt khác, Iran đang cố gắng bằng mọi cách  đẩy giá dầu lên cao. Cách tốt nhất là tấn công Ả Rập Xê Út, vì vương quốc này là 'ngân hàng trung ương' của dầu mỏ, là một trong những nhà sản xuất dầu lớn nhất, một trong những nhà xuất khẩu dầu lớn nhất. »

    Giá dầu tăng, lỗi ở Ukraina ?

    Việc sử dụng phe Houthi để gây sức ép tại Bab el Mandeb được xem như là một quân bài chiến lược nhằm tạo thêm đòn bẩy trong đàm phán. Dù vậy, trong cuộc đọ sức này, cả Mỹ và Trung Quốc đều không có lợi ích trong việc đẩy kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái. Điều này giải thích vì sao Trung Quốc đã giảm nhập khẩu đến 5 triệu thùng dầu/ngày, bởi vì Bắc Kinh không muốn gây ra một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Đây chính là yếu tố hạn chế nguy cơ leo thang quá mức giữa các bên tham chiến.

    Theo AP, giá dầu diesel tại Mỹ hôm thứ Hai 14/09 đã chạm mức kỷ lục hơn 6 đô la/gallon, tăng gần 66% so với thời điểm đầu cuộc chiến Iran. Trong thế khó này, nguyên thủ Mỹ đã đổ trách nhiệm cho đồng cấp Ukraina và yêu cầu Volodymyr Zelensky ngừng không kích các nhà máy lọc dầu của Nga, vì theo ông, đây chính là nguồn cội khiến giá dầu tăng cao.

    Về điểm này, ông Jean-Louis Schilansky, cựu chủ tịch UFIP (Liên đoàn Công nghiệp Dầu khí Pháp) trên kênh truyền hình Franceinfo phần nào nhìn nhận các tác động của cuộc chiến Ukraina đối với nguồn cung nhiên liệu : « Quả thật, các cuộc tấn công của Ukraina vào các nhà máy lọc dầu của Nga từ nhiều tháng qua đã phần nào làm giảm sản lượng dầu diesel của Nga, chủ yếu xuất khẩu sang Ấn Độ và các nước châu Á khác, và do vậy, đã góp phần làm gia tăng căng thẳng trên thị trường dầu diesel quốc tế ».

    Châu Âu, bên thiệt lớn nhất

    Chỉ có điều, trong cuộc đọ sức này, ngoài Ả Rập Xê Út là nạn nhân liên đới, Châu Âu là bên thua cuộc lớn nhất và có nguy cơ đối mặt với khủng hoảng năng lượng nhiều hơn Mỹ, khi phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép là khí đốt và dầu hỏa. Theo ông Thierry Bros, cú sốc năng lượng này diễn ra vào lúc nền kinh tế Châu Âu trì trệ, có mức tăng trưởng thấp, năng suất suy giảm và đang gặp nhiều bất ổn chính trị:

    « Thật không may, khủng hoảng khí đốt hiện nay là khủng hoảng của châu Âu. Hôm thứ Sáu, 11/09, giá khí đốt đã chạm mức kỷ lục chưa từng thấy kể từ cuối tháng 12/2022. Bởi vì giá khí đốt tại Mỹ rẻ hơn đến 10 lần so với châu Âu, do vậy không có khủng hoảng khí đốt ở Mỹ. Giờ đây, khủng hoảng xăng dầu là toàn cầu, nhưng đối với châu Âu, đó là khủng hoảng khí đốt và dầu lửa, trong khi tại Mỹ chỉ là khủng hoảng dầu hỏa.  

    Một lần nữa, châu Âu đã tỏ ra thụ động, bởi vì người cuối cùng có quyền chấm dứt cuộc chiến giá cả này sẽ là Trump, nếu giá dầu tăng quá cao và cử tri của ông không thể chịu đựng được nữa. Thật không may, trong vấn đề này, châu Âu đã không được tham vấn ».

    Giới chuyên gia cảnh báo, trong một môi trường kinh tế chứa ẩn nhiều rủi ro như nợ công cao, lãi suất tăng và nỗi hoài nghi về khả năng hình thành bong bóng trí tuệ nhân tạo gia tăng, một cú sốc địa chính trị mới có thể trở thành một tác nhân gây ra phản ứng dây chuyền trên thị trường tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng nhìn nhận rằng kịch bản thảm họa này chỉ xảy ra nếu phe Houthi thực sự có khả năng phong tỏa hoàn toàn eo biển và duy trì tình trạng đó trong thời gian dài.

    10 min
  • Dữ liệu bị đánh cắp : Một thị trường chợ đen béo bở và có cấu trúc chặt chẽ

    Các dữ liệu bị rò rỉ hay đánh cắp không còn đơn thuần là « sản phẩm phụ » của các cuộc tấn công mạng. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chúng đang trở thành một « nguồn tài nguyên vận hành » được mua bán và tái khai thác trong một hệ sinh thái tội phạm mạng có tổ chức chặt chẽ.

    Theo các khảo sát gần đây, ngoài một số vụ tấn công mạng có mục tiêu chính trị và địa chính trị, 86% các vụ xâm phạm dữ liệu có mục tiêu kiếm tiền và 55% số vụ tấn công là do các nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện. Những dữ liệu bị đánh cắp này sau đó sẽ được rao bán trên Internet, đặc biệt là trên thị trường chợ đen của Dark Web.

    Những người rao bán và mua dữ liệu đánh cắp là ai ? Rayna Stambouliscka, tổng giám đốc công ty tư vấn an ninh mạng RS Stratégie, cộng tác viên Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS), trên đài France Culture cho biết : « Đó là những người muốn bán lại các dữ liệu, hoặc họ tự đánh cắp dữ liệu, hoặc họ mua dữ liệu rẻ hơn từ người khác, hoặc họ có một nguồn cung cấp liên tục các dữ liệu mới giá rẻ… Nhìn chung, có hai loại hình chính : Những người thích các dữ liệu của cá nhân và những người thích các dữ liệu của các tổ chức ».

    Giống như trên eBay của Mỹ hay Leboncoin tại Pháp, dữ liệu bị rò rỉ được chào bán trên Dark Web, có ghi rõ xuất xứ và các mẫu dữ liệu giống như trong cửa hàng nước hoa, theo giải thích của Gael Musquet, một hacker, với đài France Inter : « Quý vị nhận được các mẫu cho phép xác minh chất lượng dữ liệu, mức độ cuộc tấn công đã được thực hiện ».

    Các nghiên cứu gần đây cho thấy thị trường ngầm này có quy mô to lớn. Năm 2024, lần đầu tiên các hoạt động mua bán dữ liệu bị đánh cắp cán mốc 2 tỷ đô la. Và chỉ riêng trong sáu tháng đầu năm 2025, người ta ghi nhận hơn 1,4 tỷ bản ghi dữ liệu bị xâm phạm. Một công trình khảo sát 30 chợ darknet lớn đã phát hiện hơn 96 ngàn tin rao bán dữ liệu đánh cắp từ khoảng 3000 người bán chỉ trong vòng tám tháng. Doanh thu được ghi nhận trong thời gian nghiên cứu vượt 140 triệu đô la, nhưng con số này được cho là khá nhỏ so với quy mô thực tế của thị trường hiện nay.

    Dark Web : Tin tặc đóng vai trò « nhà sản xuất »

    Nền kinh tế ngầm này ngày càng giống với các nền tảng thương mại điện tử hợp pháp, thậm chí có cả dịch vụ chăm sóc khách hàng và hệ thống đánh giá người bán. Điều này minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của mô hình mà trang Businesstechweekly gọi là « tội phạm mạng như một dịch vụ » (Cybercrime-as-a-Service).

    Các cuộc điều tra do Synacktiv1 tiến hành còn chỉ ra rằng thị trường này là một chu trình khai thác có thể kéo dài nhiều năm, với sự tham gia của nhiều nhóm tác nhân khác nhau, được phân công lao động tương tự như « các chuỗi gia công trong ngành công nghiệp », theo như cách diễn đạt của Maxence Fossat, chuyên gia an ninh mạng tại Synacktiv, trong một báo cáo công bố ngày 28/05/2026.

    Cụ thể, mạng lưới này được phân chia giữa những người thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng các phần mềm đánh cắp thông tin (infostealers) hoặc trực tiếp xâm nhập vào hệ thống; Các đơn vị tổng hợp dữ liệu, chuyên tập hợp và hợp nhất các dữ liệu thu được từ nhiều vụ rò rỉ khác nhau; Các nhà cung cấp dịch vụ kiểm thử tự động, chỉ giữ lại những thông tin truy cập thực sự còn hiệu lực và có thể khai thác được. Và sau cùng là các đầu mối môi giới, bán lại chuyên biệt, những người chào bán các quyền truy cập này cho các nhóm tội phạm khác, trong đó nổi bật nhất là các tổ chức vận hành phần mềm tống tiền (ransomware).

    Tuy nhiên, không phải mọi dữ liệu thu được từ một vụ rò rỉ đều có giá trị thương mại trong cùng một khoảng thời gian. Bà Yamina Tadjeddine Fourneyron, giáo sư kinh tế tại đại học Lorraine, chuyên gia về tài sản tiền điện tử, trên đài France Culture giải thích : « Khi bạn vào Dark Web, những thị trường chợ đen, để bán lại, bạn sẽ thấy mọi thứ được tổ chức theo bản chất của thông tin được bán. Đó là lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, dữ liệu tài chính, hay dữ liệu cá nhân, ít nhiều đầy đủ thông tin hay không ? Và bạn sẽ tìm thấy những người chuyên về từng lĩnh vực, và sau đó là danh tiếng và xếp hạng phản ánh độ tin cậy của người bán lại. »

    Theo hacker Gael Musquet, thông tin cá nhân này được mua bán, đấu giá, thậm chí được cho không nếu không ai muốn. Và đối với những tội phạm ít kinh nghiệm hơn, sách hướng dẫn và thiết bị cũng được cung cấp đính kèm: « Họ có dữ liệu thô, nhưng cũng có cả công cụ phân tích, công cụ gửi email và tin nhắn văn bản. Tóm lại, tùy thuộc vào trình độ kỹ năng của người có được những tập tin này, tội phạm mạng sẽ cung cấp các công cụ để khai thác dữ liệu đó dễ dàng hoặc khó khăn hơn. »

    Những dữ liệu có giá trị cao nhất

    Trang ITSocial còn lưu ý thêm, trong nền kinh tế ngầm của tội phạm mạng, mỗi dữ liệu bị đánh cắp có « vòng đời kinh tế » riêng : Cookie phiên làm việc có giá trị rất cao nhưng ngắn hạn, trong khi các cặp « tên đăng nhập và mật khẩu » có thể tiếp tục được mua bán và khai thác trong thời gian dài hơn.

    Các dữ liệu kỹ thuật lại tuân theo một logic khai thác dài hạn. Những dữ liệu như tài liệu nội bộ, cấu hình hạ tầng công nghệ thông tin, sơ đồ kiến trúc hệ thống, hay mã nguồn phần mềm có thể được lưu giữ trong nhiều năm trước khi được sử dụng để phát hiện các lỗ hổng bảo mật, hoặc chuẩn bị cho các cuộc tấn công có chủ đích.

    Loại hình khai thác này chủ yếu liên quan đến các tác nhân có năng lực cao, đặc biệt là những nhóm hoạt động vì lợi ích quốc gia hoặc phục vụ mục tiêu tình báo kinh tế. Đối với các tin tặc, giá trị của dữ liệu không nằm ở khả năng bán lại ngay lập tức, mà ở tiềm năng cung cấp thông tin chiến lược trong dài hạn.

    Tùy theo giá trị của mỗi loại thông tin mà giá cả các cơ sở dữ liệu được định giá rất khác nhau trên thị trường ngầm. Các cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, thông tin sở hữu trí tuệ nhân tạo là những tập tin có giá trị cao nhất, có thể được giao dịch với giá hàng trăm nghìn đô la. Đặc biệt, dữ liệu y tế được coi là loại tài sản có giá trị cao vì tính « vĩnh viễn » của chúng. Nếu thẻ tín dụng bị lộ, chủ sở hữu có thể khóa và cấp lại thẻ mới. Nhưng hồ sơ bệnh án hay thông tin sức khỏe cá nhân gần như không thể thay đổi khi đã bị đánh cắp.

    Trong số này, các dữ liệu cá nhân là những món hàng có giá trị thấp nhất. Trong vụ rò rỉ dữ liệu tại France Travail, cơ quan hỗ trợ việc làm cho người thất nghiệp tại Pháp, vào năm 2024, thông tin của hơn 36 triệu người được rao bán trên Dark Web với giá 5.000 đô la. Vì vậy, theo giáo sư kinh tế Yamina Tadjiddine, tiêu chí định giá dữ liệu thực ra không khác nhiều so với thị trường kinh tế truyền thống : « Điều này phụ thuộc vào mức độ khan hiếm. Nếu bạn là người đầu tiên sở hữu chúng, rõ ràng là giá sẽ rất cao. Ví dụ, hiện nay, dữ liệu thẻ tín dụng gần như vô giá trị vì chúng đã được phổ biến rộng rãi. Sau đó còn có một khía cạnh khác : Tính chất đầy đủ của thông tin thu thập được. »

    AI, trợ thủ đắc lực mới cho tin tặc, doanh nghiệp thêm khốn đốn

    Các cuộc tấn công mạng đang trở nên phổ biến và ngày càng tinh vi hơn. Thay vì khai thác các lỗ hổng kỹ thuật, tin tặc tấn công bằng xâm nhập các tài khoản hợp lệ bị đánh cắp. Dữ liệu rò rỉ giúp tội phạm thực hiện các chiến dịch lừa đảo, giả mạo danh tính và kỹ nghệ xã hội thuyết phục hơn nhờ những hiểu biết về nội bộ của nạn nhân.

    Theo điều tra của Synacktiv, hai yếu tố đang thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế ngầm này là trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI) và các nhà môi giới quyền truy cập ban đầu (Initial Access Brokers - IAB). AI giúp tự động hóa nhiều công đoạn tấn công, còn các IAB chuyên tìm kiếm rồi bán lại quyền truy cập vào hệ thống bị xâm nhập cho những nhóm tội phạm khác.

    Cuối cùng, Synacktiv nhận định, các doanh nghiệp thường đánh giá thấp tính chất kéo dài của rủi ro. Một vụ rò rỉ dữ liệu có thể tiếp tục tạo điều kiện cho các cuộc tấn công nhiều năm sau đó. Báo cáo Chi phí Xâm phạm Dữ liệu 2024 của IBM ước tính chi phí trung bình cho một vụ rò rỉ dữ liệu đã tăng 15% kể từ năm 2020 và tăng thêm 12% trong năm 2025, theo báo cáo mới nhất. Mức tăng này bắt nguồn từ chi phí cao hơn cho việc phát hiện, xử lý leo thang sự cố và tổn thất kinh doanh.

    Trong bối cảnh này, giới chuyên gia dự báo đến năm 2031, thế giới sẽ ghi nhận cứ mỗi hai giây sẽ xảy ra một cuộc tấn công mạng và thiệt hại do ransomware có thể lên đến 265 tỷ đô la/năm. Vì vậy, báo cáo của Synacktiv khuyến nghị các tổ chức cần xem rò rỉ dữ liệu là điểm khởi đầu của một chu trình khai thác lâu dài thay, vì là một sự cố đã kết thúc sau khi được phát hiện.

    ----- ***** -----

    Ghi chú :

    1. Synacktiv là doanh nghiệp Pháp chuyên về an ninh mạng tấn công (offensive cybersecurity) và được Cơ quan An ninh Hệ thống Thông tin Quốc gia Pháp – ANSSI cấp chứng nhận PASSI. 
    10 min
  • Sáu cột mốc lớn đánh dấu quan hệ Mỹ - Trung : Từ kỳ vọng hợp tác đến đối đầu thế kỷ

    Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là một trong những trục quan trọng nhất trong dòng chảy lịch sử thế giới đương đại. Giữa các cuộc chiến thương mại, đối đầu địa chính trị và cạnh tranh công nghệ, mỗi ngày trôi qua càng củng cố thêm niềm tin chắc rằng cuộc đối đầu giữa Washington và Bắc Kinh đang định hình thế giới ngày nay và có thể cả trong tương lai. 

    Nhà sử học Pierre Grosser, trên đài phát thanh France Inter nhận định, nếu nhìn lại lịch sử hơn một thế kỷ quan hệ Mỹ - Trung, hai quốc gia này đã nhiều lần thay đổi vị thế đối với nhau : Từ đối tác thương mại, đồng minh thời chiến, đối thủ ý thức hệ, cho đến đối thủ cạnh tranh chiến lược toàn diện như ngày nay.

    Là chuyên gia về quan hệ quốc tế và châu Á và cũng là tác giả tập sách « Chiến tranh lạnh khác chăng ? Đối đầu Mỹ - Trung », Pierre Grosser còn nêu ra sáu cột mốc lớn quan trọng để lý giải vì sao Washington và Bắc Kinh đang trong một cuộc cạnh tranh được nhiều nhà quan sát gọi là « cuộc đối đầu định hình thế kỷ XXI ». Đằng sau những tranh chấp thương mại, công nghệ hay vấn đề Đài Loan, là một câu chuyện dài về quyền lực, nhận thức lịch sử và trật tự thế giới.

    1900 : Khi Hoa Kỳ đến « mở cửa » Trung Quốc …

    Vào cuối thế kỷ XIX, Trung Quốc đang ở giai đoạn suy yếu nghiêm trọng. Sau thất bại trước Nhật Bản năm 1895 và hiệp ước Shimonoseki, các cường quốc châu Âu và Nhật Bản lao vào cuộc đua tranh giành tô giới và nhượng địa ở Trung Quốc. Trong bối cảnh này Hoa Kỳ tự thể hiện mình là người ngoài cuộc bằng cách ủng hộ chính sách « Mở cửa » (Open Door Policy), với hai công hàm ngoại giao năm 1899 và 1900, đề cao việc bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc và tự do cạnh tranh thương mại.

    Theo sử gia Pierre Grosser, trong « cuộc chạy đua đến Trung Quốc », chính sách này của Mỹ là mang tính hai mặt : Hoa Kỳ tự thể hiện mình như « một cường quốc đế quốc kiểu khác, chủ yếu được thúc đẩy bởi các lợi ích thương mại », nhưng vẫn không thoát khỏi lô-gic truyền thống của chủ nghĩa bành trướng.

    Việc Hoa Kỳ chiếm Cuba và nhất là Philippines sau cuộc chiến với Tây Ban Nha năm 1898 có liên hệ trực tiếp với tham vọng thâm nhập thị trường Trung Quốc, đồng thời tạo thành bàn đạp chiến lược để Mỹ tiến sâu vào châu Á, khẳng định vị thế cường quốc Thái Bình Dương. « Đây là một phần của bước ngoặt chủ nghĩa đế quốc, đánh dấu sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một cường quốc thế giới vào thời điểm đó. Đồng thời, đó cũng là thời điểm Washington hầu như chính thức thâu tóm Hawai ».

    Nhưng chính ở giai đoạn này đã làm xuất hiện nghịch lý đầu tiên trong quan hệ Mỹ - Trung. Trong khi Washington yêu cầu Bắc Kinh mở cửa cho hàng hóa Mỹ, thì Hoa Kỳ lại đóng cửa với người Trung Quốc khi ban hành đạo luật « Loại trừ » (Loi d’Exclusion) năm 1882, cấm phần lớn người Trung Quốc nhập cư vào Mỹ. Luật này được đưa ra sau « những hành động bạo lực chống người Trung Quốc », khiến gần 1000 người thiệt mạng, đặc biệt là những người đã tham gia xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa.

    Sự mâu thuẫn này trong chính sách của Mỹ khó hiểu đến mức, nhà báo Yves Guillot, trên tờ Le Siècle (Thế kỷ) ngày 27/06/1900, phải viết : « Người Mỹ [...] mở cửa Trung Quốc cho chính họ và các sản phẩm của họ, nhưng họ lại có ý định đóng cửa nước Mỹ đối với người Trung Quốc. Làm sao người Trung Quốc có thể hiểu được logic này ? »

    Một chi tiết khác cũng được nhà sử học Pierre Grosser nhắc đến là vào đầu thế kỷ XX, đã tồn tại những định kiến rất giống với những lời chỉ trích nhắm vào Trung Quốc ngày nay. « Ngay từ thời đó đã tồn tại một quan niệm gắn liền người Trung Quốc với ma túy. Và ngày nay, với vấn đề fentanyl, chúng ta thấy ý tưởng cũ ấy được khơi lại theo cách tương tự : người Trung Quốc bị cáo buộc là nguồn gốc mang ma túy đến Mỹ, tìm cách lách các hàng rào thuế quan và đôi khi gian lận về bản chất hay thành phần thực sự của hàng hóa. »

    1943 : Roosevelt đặt cược vào Trung Quốc

    Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ, Trung Quốc nằm trong số các quốc gia kháng chiến chống đế quốc Nhật mạnh mẽ nhất. Pierre Grosser nhấn mạnh rằng, trên thực tế Trung Quốc đã tham chiến sớm hơn nhiều so với cường quốc khác. « Trung Quốc đã chiến đấu đơn độc từ năm 1931 trở đi, ngay cả khi chúng ta coi chiến tranh bắt đầu từ năm 1937. Khi sự leo thang giữa Trung Quốc và Nhật Bản thực sự bắt đầu, thì Hoa Kỳ chỉ tham gia chiến tranh vào tháng 12 năm 1941. Trước đó, điều gì đã xảy ra ? Mỹ cũng giống như Liên Xô, đã hỗ trợ Trung Quốc để kìm chân Nhật Bản, ngăn chặn họ tấn công vào phía bắc hoặc cuối cùng là về phía Hoa Kỳ. »

    Trong bối cảnh này, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã có một quyết định mang ý nghĩa lịch sử. Ngày 11/01/1943, Hoa Kỳ ký « Hiệp ước Trung – Mỹ về miễn áp dụng luật ngoài lãnh thổ tại Trung Quốc ». Trong điều khoản thứ 3 có ghi, xin trích : « Hoa Kỳ từ bỏ quyền quản lý và kiểm soát tại Trung Quốc và đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong việc đạt được sự từ bỏ các quyền đó từ các quốc gia khác. »

    Điều này có nghĩa là Mỹ từ bỏ các đặc quyền ngoại trị từng áp đặt lên Trung Quốc từ thời các « hiệp ước bất bình đẳng », theo đó, các quyền tài phán của Phương Tây cho phép công dân nước ngoài trốn tránh công lý của Trung Quốc. Những đặc quyền này khá phổ biến ở châu Á trong thế kỷ 19, từ lâu đã được biện minh bằng ý tưởng rằng các nước châu Á « không đủ văn minh để xét xử đúng đắn » người phương Tây.

    Theo quan điểm của Pierre Grosser, động thái này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một yếu tố cốt lõi trong chính sách của Roosevelt : « Hoa Kỳ đã lôi kéo Trung Quốc trở thành một cường quốc », đưa Trung Quốc tham gia vào câu lạc bộ các cường quốc lớn. Như một phần thưởng, Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã giành được một ghế trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc tương lai vào năm 1943. Và Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ký Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, được tham gia các cuộc đàm phán lớn về trật tự kinh tế quốc tế như Bretton Woods.

    Ngày nay, Bắc Kinh vẫn thường nhắc lại giai đoạn này để chứng minh rằng Trung Quốc không phải là một cường quốc mới nổi. Theo lập luận của họ, Trung Quốc đã được các đồng minh thắng trận công nhận là một cường quốc từ năm 1945.

    1950 : Cuộc đối đầu quân sự Mỹ - Trung đầu tiên

    Năm 1949, Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bại trận, Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài Loan, thành lập nước Trung Hoa Dân Quốc. Đây thực sự là một cú sốc lớn, ám ảnh giới chính khách Mỹ trong nhiều năm sau đó. Chủ nghĩa MaccarThy bài cộng sản ra đời từ đó ở Mỹ.

    Năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ buộc Mao Trạch Đông phải điều khoảng một triệu quân sang Triều Tiên, khiến người con trai ông yêu quý nhất bị thiệt mạng. Theo Pierre Grosser, quyết định này của Mao Trạch Đông ít nhất vì ba động cơ : Thứ nhất là vì lợi ích an ninh. Bắc Kinh không thể chấp nhận việc quân đội Mỹ tiến sát biên giới Trung Quốc. Thứ hai là lý tưởng cách mạng. Và thứ ba, thường là yếu tố hay bị bỏ qua nhất, đó là nhu cầu củng cố quyền lực trong nước.

    « Bằng cách phóng đại mối đe dọa từ Mỹ và nguy cơ về một cuộc “phản cách mạng toàn cầu” do Hoa Kỳ dẫn dắt, đặc biệt là nguy cơ can thiệp từ bên trong Trung Quốc, đây là một cách để củng cố quyền lực và trấn áp mọi hình thức có thể thách thức chế độ cộng sản. Và vì thế, từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1951 đã diễn ra một chiến dịch trấn áp đẫm máu, khiến khoảng từ 500.000 đến 600.000 người thiệt mạng ».

    Tuy nhiên, chuyên gia về châu Á Pierre Grosser đánh giá, hệ quả lớn nhất của cuộc chiến lại liên quan đến Đài Loan. Trước chiến tranh, Washington đã phần nào mất niềm tin vào Tưởng Giới Thạch. Nhưng chiến tranh Triều Tiên đã khiến Mỹ thay đổi hoàn toàn chính sách. Hạm đội 7 được điều tới eo biển Đài Loan và từ đó Mỹ chính thức trở thành lá chắn an ninh của hòn đảo. Đối với nhà sử học, đây là một bước ngoặt chiến lược quyết định, bởi vì Đài Loan từ đó trở thành điểm nóng lâu dài trong quan hệ Mỹ - Trung.

    1972 và cú bắt tay « lịch sử » Nixon – Mao Trạch Đông

    Ngày 28/02/1972, hình ảnh tổng thống Mỹ Richard Nixon, nổi tiếng chống cộng sản bắt tay chủ tịch đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã gây chấn động thế giới. Sự xích lại gần này, theo ông Pierre Grosser, đầu tiên bắt nguồn từ nhu cầu của Trung Quốc, diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi quan trọng :

    « Điều cốt lõi mang tính bước ngoặt là sự rạn nứt quan hệ Trung – Xô. Sự rạn nứt này thậm chí đã leo thang đến mức suýt nổ ra chiến tranh thực sự. Dĩ nhiên, chiến tranh đã không bùng nổ vì leo thang không đến mức mất kiểm soát. Tuy nhiên, vào năm 1969, nhiều cuộc đụng độ nghiêm trọng dọc theo biên giới phía bắc giữa Trung Quốc và Liên Xô đã nổ ra. Từ đó, Mao Trạch Đông dần dần cho rằng kẻ thù số một của Trung Quốc là Liên Xô chứ không còn là Hoa Kỳ nữa. Chính điều này đã phần nào tạo thuận lợi cho quá trình xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ».

    Nếu như cuộc gặp lịch sử này thường được thần thoại hóa như là một đòn chiến lược thiên tài của bộ đôi Nixon – Kissinger, đối với nhà nghiên cứu về châu Á, sự thay đổi này đã được chuẩn bị từ trước và xuất phát từ nhu cầu chiến lược của cả hai bên. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh Mỹ sa lầy trong Chiến tranh Việt Nam. Và do vậy Washington kỳ vọng Bắc Kinh sẽ gây áp lực với đồng minh cộng sản Việt Nam để có được một thỏa thuận hòa bình.

    Theo Pierre Grosser, nước cờ cho thấy là « vô ích ». Cộng sản Việt Nam kiên định duy trì thế tự chủ chiến lược, và thậm chí còn nuôi dưỡng sự ngờ vực lâu dài đối với Trung Quốc khi nhìn thấy nước này đang đàm phán với kẻ đang ném bom họ. Dù vậy, sự kiện này đã mở đường cho việc bình thường hóa bang giao Mỹ - Trung vào cuối thập niên 1970, và tạo đà cho Trung Quốc bước vào giai đoạn cải cách mở cửa.

    2021 : Ngày Hoa Kỳ tạo ra đối thủ…

    Ngày 07/04/1999, tại Nhà Trắng, tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố : « Nếu Trung Quốc chấp nhận những trách nhiệm đi kèm với việc gia nhập WTO, điều đó sẽ mang lại cho Hoa Kỳ khả năng tiếp cận rộng lớn đối với thị trường Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy nhanh hơn các cải cách nội bộ tại quốc gia này. Nếu Trung Quốc sẵn sàng tuân thủ các quy tắc của thương mại quốc tế, thì sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu Hoa Kỳ nói không. »

    Từ thập niên 1970, tại Mỹ, đã tồn tại một niềm tin chiếm ưu thế cho rằng Trung Quốc sẽ là một « miền đất hứa » về kinh tế. Và việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ làm thay đổi đất nước này từ bên trong. Điều đáng chú ý là các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng chia sẻ tính toán nhưng không theo cách như Hoa Kỳ và các nước phương Tây nghĩ : Trung Quốc xem việc gia nhập WTO như là một đòn bẩy để thúc đẩy cải cách nhằm thay đổi bộ máy quan liêu trong nước.

    Tuy nhiên, canh bạc này còn được dựa trên một sự tính toán kinh tế rất cụ thể. Sử gia Pierre Grosser tóm tắt học thuyết do Robert Reich, bộ trưởng Lao Động Mỹ thời tổng thống Bill Clinton nêu ra như sau :

    « "Trong tiến trình toàn cầu hóa này, chúng ta sẽ giữ lại những công việc được trả lương cao nhất, các khâu thiết kế và sáng tạo." Ở phía bên kia sẽ là những lao động Trung Quốc đảm nhận công việc sản xuất. Họ chỉ cần nhận hướng dẫn qua máy tính về cách thức chế tạo sản phẩm, thực hiện khâu gia công rồi gởi thành phẩm trở lại. Và như vậy đôi bên sẽ cùng có lợi. Tóm lại, nước Mỹ sẽ giữ những công việc sáng tạo, hấp dẫn nhất bởi vì tôi không nói là ông ấy nói như thế, nhưng hàm ý rằng, Trung Quốc sẽ không bao giờ có thể nâng cấp công nghệ sản phẩm ».

    Nhưng những thực tế sau này đã cho thấy đây là một tính toán sai lầm, khi Trung Quốc dần trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Mỹ trong nhiều lĩnh vực chiến lược. Việc hy vọng thương mại sẽ thúc đẩy dân chủ hóa Trung Quốc, chỉ là một ảo tưởng. Theo giải thích của Pierre Grosser, « đúng là có hy vọng đó (…) Nhưng ngay từ giữa những năm 1990 người ta đã thấy rằng những người siêu giàu và tầng lớp trung lưu không nhất thiết sẽ ủng hộ dân chủ. Người ta đã phần nào thấy rõ điều đó. Họ đã từng có hy vọng như vậy nhưng xét cho cùng, những lý do kinh tế mới là động lực chính khiến chính sách này được thúc đẩy ».

    Tuy nhiên, sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã chuyển hướng toàn bộ sự chú ý của Hoa Kỳ sang Trung Đông. « Mỹ sa lầy ở Trung Đông trong suốt mười lăm năm, » trong khi đó, theo Pierre Grosser, « Trung Quốc lại phát triển mạnh mẽ trong những năm 2000 mà hầu như không bị Mỹ chú ý đến. »

    2026 : Trận đấu thế kỷ

    Ngày 13/05/2026, nhân cuộc họp thượng đỉnh Mỹ - Trung diễn ra ở Bắc Kinh, chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố : « Hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai bên, trong khi đối đầu sẽ gây tổn hại cho cả hai. Chúng ta cần hỗ trợ lẫn nhau để cùng thành công và cùng thịnh vượng, qua đó mở ra một con đường mới : con đường chung sống hòa thuận giữa các cường quốc trong kỷ nguyên mới ».

    Theo Pierre Grosser, tuyên bố trên của ông Tập Cận Bình không có gì là mới mẻ : Điều này nằm trong chiến lược nhất quán nhằm thể hiện Trung Quốc là một cường quốc có trách nhiệm và lý trí, đối lập với hình ảnh một nước Mỹ bị xem là thất thường, khó đoán định. Kể từ năm 2008, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Hoa Kỳ đã bước vào giai đoạn suy yếu, cả về kinh tế lẫn địa chính trị.

    Nhà sử học nhắc lại : « Tập Cận Bình từng nói rằng thế giới đang có những biến đổi chưa từng có từ một thế kỷ nay. Và một trong những biến đổi đó là Trung Quốc hiện đang lấy lại vị thế của mình, trở thành một đại cường, chứ không phải là một siêu cường, bởi vì, siêu cường thì không tốt, siêu cường gây chiến tranh, còn một cường quốc lớn đương nhiên phải được đối xử với sự tôn trọng ».

    Vị chuyên gia này còn nhắc thêm rằng, « Trung Quốc thích suy nghĩ trong dài hạn, đồng thời thường xuyên nhắc lại rằng họ có hàng nghìn năm lịch sử, trong khi đó Hoa Kỳ mới chuẩn bị kỷ niệm 250 năm lịch sử của mình ».

    Dù vậy, Pierre Grosser cũng lưu ý thêm rằng, cạnh tranh Trung – Mỹ hiện nay chưa hẳn là một cuộc Chiến Tranh Lạnh giống như thế kỷ XX do sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau về kinh tế giữa hai ông khổng lồ, « ngay cả khi hiện nay sự phụ thuộc của Trung Quốc vào Hoa Kỳ ít hơn nhiều so với bảy hoặc tám năm trước, bởi vì đã có cuộc chiến thương mại nhưng cũng vì giờ đây Trung Quốc tiến hành giao thương và đầu tư vào châu Á, quan tâm đến châu Âu và thậm chí người ta thường xuyên nói đến sự hiện diện của Trung Quốc ở châu Phi ».

    Sử gia Pierrer Grosser nhìn nhận hiện nay Trung Quốc đang nỗ lực củng cố thế tự chủ về tài chính do lo ngại phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt quy mô lớn nếu xảy ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt liên quan đến Đài Loan, giống như những gì Nga và Iran đang trải qua.

    Tóm lại, sự cạnh tranh giữa hai đại cường hàng đầu thế giới tồn tại đồng thời với nhu cầu hợp tác. Raymond Aron, một triết gia, nhà xã hội học, khoa học chính trị nổi tiếng người Pháp về Chiến tranh Lạnh chẳng phải đã từng nói : « Chiến tranh là điều không thể, nhưng hòa bình hoàn toàn cũng khó xảy ra ». Theo nhiều khía cạnh, công thức này có lẽ phản ảnh khá chính xác mối quan hệ Mỹ - Trung hiện nay !

    16 min
  • Donald Trump làm lung lay thế kiềng ba chân chiến lược an ninh tại Đông Bắc Á ?

    Ngày 17/08/2026, vài giờ trước khi diễn ra cuộc tập trận thường niên Mỹ - Hàn Ulchi Freedom Shield (Lá chắn tự do), tổng thống Mỹ Donald Trump bất ngờ thông báo giảm thời lượng chiến dịch. Theo giới quan sát, những động thái khó lường của nguyên thủ Mỹ có nguy cơ làm suy yếu một trong những nền tảng quan trọng nhất trong cấu trúc an ninh Đông Bắc Á hiện nay là tam giác an ninh bao gồm Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản.

    Trump trừng phạt Seoul ?

    Trên mạng xã hội Truth Social, ông đánh giá rằng cuộc tập trận « tốn kém » này gởi đi « một tín hiệu hoàn toàn không phù hợp và mang tính thù địch » đến Bình Nhưỡng. Ngoài ra, cuối thông điệp, tổng thống Trump còn khiển trách Hàn Quốc đã « từ chối » hỗ trợ Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống Iran trong khi Washington có những cam kết bảo đảm an ninh cho Seoul. Trả lời Reuters, bà Jenny Town, giám đốc chương trình 38 Vĩ tuyến bắc, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Stimson, trụ sở tại Hoa Kỳ, nhận định :

    « Theo tôi, đây là một động thái chưa từng có tiền lệ khi gắn hai vấn đề hoàn toàn khác biệt lại với nhau. Đây là những cuộc tập trận thường kỳ của một liên minh đã tồn tại hơn 70 năm qua. Chiến dịch này không phải là một hành động đặc biệt nhắm vào bất kỳ quốc gia nào. Việc nói rằng "chúng tôi sẽ giảm quy mô tập trận vì quý vị không đáp ứng yêu cầu trước đây về một hành động quân sự ở khu vực khác" đơn giản không phải là cách người ta hành xử với đồng minh. Đặc biệt là với đồng minh mà bạn đã cam kết bảo vệ an ninh. Hiện Mỹ đang duy trì khoảng 28.500 quân nhân trên bán đảo Triều Tiên để bảo vệ khu vực này. »

    Những phát biểu này của Donald Trump không chỉ gây ngỡ ngàng cho các đồng minh trong khu vực, mà còn khiến giới quan sát khó hiểu: Ông Trump đang có những tính toán gì tại châu Á ? Một số nhà phân tích cho rằng động thái này của ông Trump là nhằm mục tiêu đối nội. Ông muốn chuyển hướng công luận về thất bại chiến lược quân sự trong cuộc xung đột với Iran, đã kéo dài gần chín tháng và hiện đang rơi vào tình trạng bế tắc, khi chỉ còn vài tháng nữa là đến bầu cử giữa kỳ.

    Đổi đầu tư lấy cam kết an ninh ?

    Tuy nhiên, theo nhiều kênh truyền thông Mỹ, tổng thống Hoa Kỳ dường như đang dùng cuộc tập trận như là một công cụ ngoại giao để gây sức ép với Hàn Quốc, buộc nước này tăng tốc thực hiện khoản đầu tư trị giá 350 tỷ đô la để đổi lấy mức thuế quan thấp hơn. Ngoại trưởng Hàn Quốc Cho Hyun hôm 19/08 xác nhận sự việc trước Quốc Hội.

    Theo trang CNBC, tin nhắn của ông Trump được đăng đúng thời điểm bộ trưởng Thương Mại Hàn Quốc Kim Jung Kwan đến Washington để thảo luận với đồng cấp Mỹ Howard Lutnick về các cam kết đầu tư và vấn đề thuế quan. Còn trang Politico, dẫn các nguồn tin am hiểu vấn đề, cho biết quyết định của Trump một phần xuất phát từ việc ông không hài lòng với tiến độ triển khai các khoản đầu tư của Hàn Quốc, vốn được cho là chậm hơn Nhật Bản.

    Đây cũng không phải là lần đầu tiên ông Trump sử dụng cuộc tập trận như một đòn bẩy ngoại giao. Nhà báo Arnaud Vaulerin, trong chương trình phát thanh France Culture, nhắc lại : « Khi diễn ra cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên giữa Kim Jong Un và Donald Trump tại Singapore năm 2018, ông Trump cũng đã yêu cầu đình chỉ các cuộc tập trận chung Mỹ - Hàn. Vì vậy, đây là một đòn bẩy mang tính giao dịch mà ông ấy luôn sử dụng. »

    Chuyên gia Jenny Town nhìn nhận, ngay khi trở lại Nhà Trắng trong nhiệm kỳ hai, Donald Trump đã nhiều lần phát tín hiệu muốn nối lại các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, theo bà, « cách thức thực hiện lần này khá tùy tiện và khó có thể tạo ra tác động như ông mong muốn, nhất là khi hiện tại không có bất kỳ tiến trình đàm phán thực chất nào đang diễn ra ».

    Tập trận thường niên Mỹ - Hàn không đơn thuần là huấn luyện tác chiến. Hoạt động quân sự này còn là biểu tượng hữu hình cho cam kết an ninh mà Washington dành cho Seoul. Hàng năm, hàng chục ngàn binh sĩ tham gia các cuộc diễn tập nhằm kiểm tra khả năng phối hợp trước các kịch bản từ tấn công tên lửa, chiến tranh mạng, cho đến xung đột quy mô lớn trên bán đảo Triều Tiên.

    Trump làm suy yếu thế răn đe của Hàn Quốc

    Việc chính quyền Donald Trump quyết định rút ngắn thời lượng diễn tập vào phút chót trong khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất và binh sĩ đã sẵn sàng, là một sự lãng phí. Chuyên gia Jenny Town nhận định đây không phải là một quyết định khôn ngoan, bởi cuộc tập trận lần này là một trong những chương trình đầu tiên thực sự tích hợp nhiều bài học rút ra từ các cuộc chiến tranh hiện đại, đặc biệt là cuộc chiến Ukraina: 

    « Đặc biệt là khi xem xét các phương thức tác chiến hiện đại cũng như tính chất đa miền của chúng, tôi cho rằng đây thực sự là giai đoạn đầu tiên chúng ta bắt đầu chứng kiến ​​việc triển khai các cuộc diễn tập đa miền và diễn tập ứng phó tình huống khẩn cấp; qua đó chúng ta có thể hình dung các kịch bản xung đột khác nhau và đánh giá mức độ sẵn sàng của mình trước những tình huống đó, đồng thời nỗ lực nhận diện các điểm yếu của chính mình trong quá trình này. Vì vậy, tôi thực sự cho rằng đó là một quyết định vội vàng và sẽ gây ảnh hưởng đến khả năng sẵn sàng của liên minh. »

    Chuyên gia Marianne Péron Doise, giám đốc Đài Quan sát Địa Chính trị về vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), cũng có cùng một quan điểm : Quyết định đơn phương của Mỹ đã làm suy giảm phần nào năng lực răn đe và tác chiến của đồng minh Hàn Quốc, vào lúc nước này đang phải đối mặt với mối đe dọa Bắc Triều Tiên ngày càng lớn, mà cuộc chiến Ukraina được cho là một bước ngoặt chiến lược quan trọng cho tình hình an ninh bán đảo Triều Tiên.

    Trả lời đài France Culture, bà phân tích tiếp : « Nếu nhìn vào Bắc Triều Tiên và đặt trong bối cảnh rộng hơn, dù mức độ không hoàn toàn giống với chiến trường Châu Âu, việc Bình Nhưỡng nay thường xuyên triển khai binh sĩ sang chiến đấu cùng với quân đội Nga trong cuộc chiến tranh xâm lược Ukraina đã giúp họ có điều kiện tích lũy và nâng cao kinh nghiệm tác chiến trên thực địa. Đó là chưa kể đến việc Bắc Triều Tiên đã củng cố các năng lực hạt nhân và tên lửa đạn đạo.

    Vì thế, mức độ dễ bị tổn thương của Hàn Quốc đang gia tăng đáng kể. Tuy nhiên, không chỉ có yếu tố mang tính "sỉ nhục" đối với một đồng minh rất thân cận đang trên tuyến đầu là Hàn Quốc, hành động này của tổng thống Mỹ còn có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của chính các lực lượng Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc. Điều mà chính quyền Trump có thể chưa lường trước được, vì cuối cùng chúng sẽ làm suy yếu các năng lực tác chiến, phản ứng cũng như khả năng phối hợp hiệu quả giữa lực lượng Mỹ và Hàn Quốc ».

    Nhật Bản thấp thỏm lo cho an ninh quốc gia

    Việc giảm quy mô hay thời lượng tập trận có thể không làm thay đổi tức thời tương quan lực lượng trong khu vực, nhưng đang gởi đi tín hiệu rằng Washington sẵn sàng điều chỉnh các cam kết chiến lược vì những tính toán chính trị ngắn hạn. Và đối với Tokyo, thông điệp không chỉ dành riêng cho Seoul này là thật sự đáng lo ngại, vào lúc Nhật Bản, vốn phụ thuộc nhiều vào Hoa Kỳ về an ninh, hiện đang đối diện cùng lúc với các đe dọa an ninh quốc gia đến từ ba nước có vũ khí hạt nhân là Nga, Bắc Triều Tiên và Trung Quốc.

    Phát biểu của ông Trump diễn ra một thời gian ngắn sau chuyến thăm của tổng thống Nga Vladimir Putin đến bốn đảo phía bắc của quần đảo Kuril do Matxcơva kiểm soát nhưng Tokyo đòi chủ quyền. Liệu hành động này của nguyên thủ Nga có nhằm mục đích trắc nghiệm mức độ bền vững của quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật? Chuyên gia địa chính trị Marianne Péron Doise phân tích tiếp :

    « Tôi nghĩ rằng tổng thống Nga thực sự muốn nhắc nhở Nhật Bản về cuộc tranh chấp tồn tại từ lâu này, đồng thời tái khẳng định đó vẫn là nguồn gốc bất ổn và đe dọa tiềm tàng. Tuy nhiên, thông điệp này không chỉ mang tính song phương mà còn nằm trong bối cảnh khu vực rộng lớn hơn. Nga đang thể hiện thế chủ động trong hồ sơ này, một cuộc tranh chấp đã kéo dài nhiều năm, nhưng chính phủ Nhật Bản trước đây đã chọn không làm trầm trọng thêm. Theo thỏa thuận ngầm, hai bên tránh những chuyến thăm hoặc hành động quá nổi bật có thể gợi nhắc đến sự hiện diện của Nga cũng như yêu sách chủ quyền của Nhật Bản đối với bốn hòn đảo thuộc quần đảo Kuril, mà Tokyo gọi là " lãnh thổ phương bắc".

    Hiện nay, Nhật Bản có một chính phủ mới thể hiện lập trường quyết đoán hơn nhiều trong các vấn đề quốc phòng, với bà Takaichi, được ủng hộ bởi một phong trào dân tộc chủ nghĩa rất mạnh mẽ. Vì vậy Matxcơva muốn "vạch ra lằn ranh đỏ" đối với chính phủ mới này, thăm dò khả năng phản ứng của Nhật Bản. Rộng hơn, Nga muốn cho thấy khả năng gây sức ép hoặc tạo bất ổn trên nhiều mặt trận cùng lúc, trong bối cảnh Nhật Bản đang phải đối diện với những nước láng giềng bị xem là mối đe dọa nghiêm trọng, gồm Nga, Triều Tiên và Trung Quốc. »

    Trump làm tổn hại uy tín của Mỹ ?

    Xin nhắc lại, trong những năm gần đây, Mỹ đã thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác an ninh ba bên Mỹ-Nhật-Hàn, đặc biệt dưới thời tổng thống Joe Biden. Các cuộc tập trận chung, chia sẻ thông tin tình báo và cơ chế phối hợp ứng phó khủng hoảng là những thành tựu quan trọng của chiến lược khu vực. Mục tiêu không chỉ răn đe Bắc Triều Tiên mà còn duy trì cán cân quyền lực đối phó với đà trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc.

    Trong bối cảnh này, giới quan sát lo ngại, quyết định của ông Trump có nguy cơ làm suy yếu một trong ba kiềng của cấu trúc an ninh. Toàn bộ hệ thống có nguy cơ bị tác động và Nhật Bản có lý do để lo ngại sự gắn kết chiến lược mong manh giữa ba nước có thể bị suy giảm.

    Trước mắt, liên minh Mỹ-Hàn chưa thể sụp đổ nhưng mối nguy lớn nhất là sự xói mòn dần dần niềm tin chính trị. Nhà nghiên cứu Yu Jihoon, Viện Phân tích Quốc Phòng Hàn Quốc, cảnh báo : « Nếu người dân Hàn Quốc bắt đầu tin rằng các cam kết an ninh hoặc các cuộc tập trận quân sự có thể bị sử dụng như một công cụ mặc cả cho những vấn đề không liên quan như Iran, đầu tư, thương mại hay các bất đồng đối ngoại khác, thì độ tin cậy vào uy tín của Mỹ cũng sẽ suy giảm theo ».

    12 min
  • Thụy Sĩ: Khi các cuộc khủng hoảng thế giới mang lại hưng thịnh cho Geneve

    Dịch bệnh, chiến tranh, khủng hoảng tài chính hay bất ổn chính trị thường dẫn đến suy thoái và khó khăn cho nhiều quốc gia. Thế nhưng với Geneve, Thụy Sĩ, những biến động đó nhiều lần trở thành cơ hội để gia tăng sự giàu có và củng cố vị thế quốc tế của thành phố này. Minh chứng mới nhất là vào tháng 03/2026, chính quyền bang Geneve công bố thặng dư ngân sách 50 triệu franc Thụy Sĩ cho năm 2025.

    Bất chấp các cuộc khủng hoảng quốc tế liên tiếp xảy ra, thành phố đắt đỏ hàng thứ tư thế giới vẫn tiếp tục thịnh vượng. Và đây cũng là năm thứ sáu liên tiếp Geneve công bố thặng dư ngân sách. Làm thế nào giải thích cho sự ổn định đáng ngạc nhiên này ? Theo Marc Guéniat, nhà báo điều tra của nhật báo Thụy Sĩ Le Temps, đó không phải là một hiện tượng mới, mà là một sự tiếp nối liên tục trong dòng lịch sử của Geneve từ hơn bốn thế kỷ.

    Sự giầu có đến từ Pháp

    Nền tảng cho sự thịnh vượng của Geneve trước hết được xây dựng trên vai trò là một vùng đất trú ẩn, bắt đầu từ thế kỷ XVI với cuộc Cải cách Tin Lành do nhà thần học người Pháp có sức ảnh hưởng mạnh mẽ là Jean Calvin thực hiện. Cuộc cải cách này đã biến Geneve thành trung tâm của đạo Tin Lành tại châu Âu, được mệnh danh là « La Mã của người Tin Lành ».

    Thành Geneve trở thành điểm đến cho những người bị đàn áp tôn giáo vào thời kỳ đó, đặc biệt là từ Pháp, sau khi các chính sách khoan dung tôn giáo ở Pháp bị bãi bỏ, nhiều tín đồ Tin Lành buộc phải rời bỏ quê hương. Trên làn sóng đài phát thanh France Culture, ngày 22/05/2026, phóng viên điều tra Marc Guéniat và cũng là tác giả tập sách « Genève confidentielle, la ville qui aimait l'argent des autres » (tạm dịch: Bí mật Genève, thành phố yêu chuộng tiền của người khác, NXB Stock), giải thích :

    « Một làn sóng nhập cư cộng đồng tín hữu Kháng Cách (Huguenot), những tín hữu Tin lành Pháp đã đến định cư tại Geneve. Họ mang theo tài năng, di sản, của cải, kiến ​​thức chuyên môn và mạng lưới thương mại. Một khi ổn định, họ tiếp tục sử dụng những nguồn lực ấy, để rồi từ Geneve xuất khẩu kiến ​​thức và chuyên môn của họ sang Pháp. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng Geneve đã trở nên giàu có hơn đáng kể là nhờ Pháp. »

    Nhờ đó Geneve dần dần xây dựng sức mạnh kinh tế dựa trên khả năng thu hút nguồn vốn, các mối quan hệ thương mại và tri thức chuyên môn từ bên ngoài. Động lực này tiếp tục được củng cố nhờ những cơ hội kinh doanh bất ngờ. Marc Guéniat nhắc đến trường hợp nổi tiếng của « indiennes », loại vải cotton in hoa rất được ưa chuộng nhưng từng bị cấm ở Pháp:

    « Một ví dụ khác là vải bông (cotton) in hoa văn, mà Vua Louis XIV đã cố gắng cấm ở Pháp vào cuối thế kỷ 17 và suốt thế kỷ 18. Loại vải này rất thời thượng và rất được người Pháp ưa chuộng. Chúng bị cấm trên lãnh thổ của họ. Chính người dân Geneve đã bắt đầu sản xuất và xuất khẩu chúng thông qua các mạng lưới buôn lậu. Và một lần nữa, hoạt động đó đã làm giàu cho Geneve. »

    Thế giới bất ổn là một cơ hội

    Từ đó người ta có thể rút ra một nghịch lý lịch sử : Geneve đã làm giàu đáng kể nhờ chính nước Pháp. Ngày nay, khả năng thích ứng ấy của Geneve vẫn thể hiện rõ trong nền kinh tế hiện đại. Trong khi các cuộc khủng hoảng quốc tế làm suy yếu nhiều quốc gia, thành phố đắt hàng thứ tư thế giới vẫn biết cách biến bất ổn thành cơ hội kinh tế.

    « Ví dụ trong đại dịch Covid-19, thế giới rơi vào khủng hoảng, mọi thứ gần như đình trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, thì tại Geneve, 300 hãng kinh doanh nguyên nhiên liệu, nhất là các tập đoàn kinh doanh dầu mỏ, đã hoạt động tích cực và thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ. Chúng được phản ảnh trong ngân sách liên bang thông qua thuế đánh vào lợi nhuận của những công ty này và các khoản thu nhập từ nhân viên của họ. Có thể nói, Geneve đã vượt qua được khủng hoảng này rất tốt.

    Và kịch bản này cũng đã được lặp lại với cuộc chiến ở Ukraina. Một cuộc khủng hoảng năng lượng lớn đã diễn ra. Trên khắp châu Âu, tại các nước phương Tây, người ta bắt đầu tự hỏi liệu có nên giảm tiêu thụ điện năng hay không. Và một lần nữa, giá cả tăng vọt và các cuộc đàm phán về nguyên liệu thô đã diễn ra. Khoảng 300 công ty trên, bao gồm cả chi nhánh của hãng Total của Pháp, đã thu được những khoản lợi nhuận to lớn và tất nhiên là thặng dư kỷ lục trong ngân sách liên bang. »

    Như « món lộc trời ban », Geneve sở hữu một « khả năng chống chịu phi thường », nhờ vậy thành phố hưởng lợi từ những biến động địa chính trị toàn cầu, hay nói như Voltaire, triết gia người Pháp, là « từ những sai lầm gây ra ở nước ngoài ».

    Ổn định chính trị : Lá chủ bài cho sự hưng thịnh

    Nhưng Geneve đâu chỉ có những hình ảnh tích cực. Trong một phim tài liệu do đài truyền hình Thụy Sĩ RTS thực hiện, khi được hỏi « Theo quý vị, sự thịnh vượng của Thụy Sĩ từ đâu mà có ? », nhiều người trong số họ trả lời « nhờ vào các ngân hàng ». Đối với Geneve nói riêng và Thụy Sĩ nói chung, câu chuyện về « bí mật ngân hàng » ngày nay là khá quen thuộc. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 từng làm thổi bùng lên dự đoán rằng sự suy giảm dần của bí mật ngân hàng sẽ kéo theo sự sụp đổ của mô hình tài chính Geneve. Nhưng điều đó đã không xảy ra.

    Ngược lại, thành phố giàu có này đã tái tạo mô hình tài chính của mình. Với cuộc khủng hoảng đồng euro (2010 – 2012), một lần nữa hình ảnh về một nước Thụy Sĩ như là nơi « trú ẩn an toàn » lại nổi lên mạnh mẽ. Theo Marc Guéniat, chưa bao giờ lượng vốn đổ vào các ngân hàng Thụy Sĩ lại nhiều đến như thế trong giai đoạn đó. Sức hấp dẫn này trước hết là nhờ vào sự ổn định chính trị ngoại lệ của Thụy Sĩ: 

    « Trong 150 năm qua, Thụy Sĩ vẫn có cùng một kiểu chính phủ điều hành, với một Quốc Hội ổn định, không hề có bất kỳ biến động lớn nào. Họ không đột nhiên có một François Mitterrand được bầu lên nắm quyền, cũng không đột nhiên có một Nicolas Sarkozy được bầu. Thụy Sĩ đi theo một con đường gần như đã được định sẵn, và đó là điều mà người ta gọi là ổn định chính trị. Đây là một lợi thế đáng kể cho những người giàu có hoặc các doanh nhân, cho phép họ lập kế hoạch cho tương lai. Tôi nghĩ đó là một yếu tố then chốt của sự thịnh vượng của đất nước. »

    Dù vậy, Marc Guéniat cũng nhìn nhận đằng sau sự ổn định đó, vẫn tồn tại những cơ chế tài chính ít minh bạch : « Tuy bí mật ngân hàng đã biến mất, nhưng vẫn còn một loạt các dịch vụ tài chính bình phong được Geneve cung cấp, thông qua đội ngũ các luật sư và người ủy thác cung cấp nhiều dịch vụ cho phép bạn cất giấu tiền để trốn thuế bất chấp việc trao đổi thông tin thuế tự động, bằng cách thành lập các công ty bình phong ở Bahamas hoặc các thiên đường thuế ở vùng Caribê. Vì vậy, cơ chế này về cơ bản vẫn còn tồn tại. »

    Trong số các dịch vụ này, « cảng miễn thuế - port franc » là một ví dụ tiêu biểu. Marc Guéniat cho biết: « Cảng miễn thuế là các kho ngoại quan cho phép mọi người đăng ký hàng hóa, đặc biệt là các kiệt tác, và lưu trữ chúng mà không phải trả thuế trị giá gia tăng TVA. Điều này rõ ràng giúp tiết kiệm chi phí TVA, và sau đó cho phép họ lưu trữ tác phẩm nghệ thuật, âm thầm đầu cơ vào việc làm tăng giá của những thứ hàng hóa đó, và sau đó bán lại, với việc người mua phải trả thuế TVA ».

    Những điểm mong manh tiềm tàng

    Dù sở hữu một nền kinh tế mạnh mẽ, Geneve cũng không tránh khỏi những căng thẳng xã hội ngày càng gia tăng. Trong nhiều thập niên sau Đệ Nhị Thế Chiến, thành phố này đã xây dựng được một sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Marc Guéniat giải thích :

    « Sau chiến tranh, Thụy Sĩ đã hình thành một loại liên minh chính trị giữa các đảng tự do, các đảng trung hữu và các đảng dân chủ xã hội, những đảng này đã được hợp nhất vào các chính phủ liên minh ở cả cấp bang và liên bang. Và kết quả của liên minh này là việc duy trì luật pháp thân thiện với doanh nghiệp, mang tính tự do, thuận lợi cho tinh thần kinh doanh, đồng thời cho phép phát triển một hệ thống phúc lợi xã hội đủ mạnh để bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất. »

    Mô hình này đã mang lại nhiều cơ hội thăng tiến xã hội cho con cháu những người nhập cư sau Thế Chiến Thứ Hai. Tuy nhiên, theo Marc Guéniat, cỗ máy này bắt đầu có những dấu hiệu trục trặc trong 15 năm trở lại đây.

    « Thành phố đã trải qua một làn sóng nhập cư đáng kể vào thời điểm đó để xây dựng một Thụy Sĩ đang phát triển nhanh chóng như hiện nay, trong số đó có nhiều người đến từ Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Và những người này, nhờ vào khế ước xã hội, đã có thể sinh con và cho con cái họ tiếp tục học lên cao hơn, và theo một cách nào đó, con cái họ đã thành công hơn thế hệ cha mẹ. Đúng là Thụy Sĩ có một chu kỳ tích cực, tồn tại khoảng sáu mươi năm. Và trong khoảng 15 năm trở lại đây, khi chu kỳ này phần nào chững lại, người ta đang chứng kiến ​​sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng đáng kể, và những người làm việc toàn thời gian không còn đủ sống. »

    Trong suốt hơn bốn thế kỷ, Geneve đã sống cùng với các biến động lớn của lịch sử thế giới. Từ các cuộc đàn áp tôn giáo ở châu Âu, những khủng hoảng tiền tệ, các biến động tài chính toàn cầu, cho tới đại dịch và chiến tranh hiện đại, thành phố này luôn tìm thấy cơ hội giữa những bất ổn.

    Chính khả năng biến khủng hoảng của thế giới thành lợi thế của mình đã làm nên nét đặc thù cho Genève. Đó có lẽ là bí mật lớn nhất đằng sau sự thịnh vượng của thành phố : Trong khi nhiều nơi nhìn thấy rủi ro, Geneve trông thấy cơ hội. Và trong một thế giới ngày càng bất ổn, lợi thế ấy dường như vẫn chưa mất đi.

    11 min

About Tạp chí Tiêu Điểm

From the publisher's feed

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

More shows like Tạp chí Tiêu Điểm

6 Minute English by BBC Radio

6 Minute English

1,825 Listeners

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ by SBS

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ

29 Listeners

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

219 Listeners

 by RFI Tiếng Việt

15 Listeners

VOV - Tin nhanh 24h by Đài Tiếng nói Việt Nam

VOV - Tin nhanh 24h

3 Listeners

Tạp chí Âm Nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Âm Nhạc

2 Listeners

Tạp chí Khoa Học Môi Trường by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Khoa Học Môi Trường

0 Listeners

Tạp chí Văn Hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Văn Hóa

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí Thể Thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Thể Thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí Kinh Tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Kinh Tế

0 Listeners

Tạp chí Xã Hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Xã Hội

0 Listeners

Tạp chí Đặc Biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Đặc Biệt

0 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners