
Sign up to save your podcasts
Or


Ngày 29/09/2026, thủ tướng Anh Andy Burnham tới dự Đại hội thường niên của Đảng Lao động cầm quyền với một nghị trình bất ngờ : Công khai định hướng cho đảng Lao Động rằng họ sẽ lấy chủ đề quay trở lại Liên Hiệp Châu Âu (EU) làm khẩu hiệu tranh cử vào năm 2029, đảo ngược hướng đi cho tranh luận về Brexit dai dẳng trong các chính đảng Anh mười năm qua. Từ Luân Đôn, thông tín viên Nguyễn Giang tường trình:
Đâu là các điểm mới trong tuyên bố của ông Burnham so với những phát ngôn về Brexit và EU của các thủ tướng Anh từ 2016 tới nay?
TTV Nguyễn Giang : Tại Đại hội của Đảng Lao động Anh tuần này ở Liverpool, hôm 29/09, thủ tướng Andy Burnham đã tung ra "quả bom tấn” (bombshell) về lộ trình đảo ngược Brexit. Năm 2024, trong Cương lĩnh của đảng này có ba lằn ranh đỏ, không thể bước qua : Đó là không đưa Anh quay lại Thị trường chung (single market) của EU, không trở lại Liên minh thuế quan (customs union), và không chấp nhận tự do di chuyển (freedom of movement). Nhưng nay, ông Andy Burnham nói thẳng rằng Brexit “gây hại cho Anh nhiều hơn là đem lại lợi ích”. Ông mô tả rằng khi ra khỏi EU, Anh muốn kiểm soát biên giới tốt hơn, muốn tự chủ hơn để phát triển kinh tế, nhưng cả hai mục tiêu đó đều không đạt được, nên phải tìm giải pháp mới.
Từ 10 năm qua, các đảng khác và nhiều đời thủ tướng Anh cũng nói về Brexit, vậy những gì ông Burnham nói có thực sự là mới mẻ?
Chính trị Anh lâu nay chia làm hai phái. Phe ủng hộ Brexit, chống lại EU thì luôn nói là “hãy cố làm cho Brexit hoạt động hiệu quả” (make Brexit work). Các khó khăn kinh tế bị họ đổ lỗi cho chính phủ “làm mất cơ hội mà Brexit đem lại”. Những người hoàn toàn chống Brexit như một lãnh đạo của đảng Reform UK (cánh hữu bài ngoại), ông Richard Tice thì cho rằng tranh luận về Brexit là màn hỏa mù mà ông Burnham đưa ra, vì đằng nào thì với quyền lực trong tay, ông Burnham và đảng Lao động đã và đang đảo ngược Brexit bằng “biện pháp cửa sau”, hàm ý là thiếu minh bạch khi ký với EU nhiều thỏa thuận thắt chặt giao thương, trao đổi giáo dục, hợp tác khoa học, năng lượng.
Phe phản đối Brexit, ủng hộ EU cũng chỉ dám ước mơ về việc trở lại EU “trong mấy chục năm tới”, hay “trong thế hệ chúng ta”, tức là rất chung chung. Các đảng Tự do Dân chủ (LibDem) và Đảng Xanh muốn Anh quay lại liên minh thuế quan, hay cùng lắm thì vào thị trường chung EU nhưng không dám nghĩ tới việc đảo ngược hoàn toàn Brexit. Ông Burnham là người đầu tiên táo bạo nói thẳng rằng nước Anh cần chấm dứt tranh cãi mãi mãi về Brexit, mà cần đưa lên nghị trình rõ ràng về việc quay lại EU trong 2-3 năm tới.
Vậy lộ trình đó là như thế nào và lập luận của ông Burnham là gì?
Thủ tướng Burnham, trong các phát biểu và khi trả lời phỏng vấn truyền hình bên lề Đại hội Đảng Lao động ở Liverpool, đã nói rất thẳng rằng cứ tranh cãi đúng sai về Brexit thì nước Anh còn “trôi nổi vô phương hướng từ nay đến hết thế kỷ 21 này”. Theo ông, cần phải chọn các phương án, như gia nhập Liên minh thuế quan (bước thấp nhất), hoặc vào Thị trường chung EU (bước tầm trung), và nếu được thì cần xem xét cả việc đưa Anh quay trở lại EU toàn bộ. Lập luận của ông là Brexit gây hại nhiều hơn là lợi cho nước Anh và nếu cần thì Đảng Lao động đề xuất tổ chức trưng cầu dân ý lại về việc vào EU hay ở ngoài.
Liên Hiệp Châu Âu đã có phản ứng ra sao về phát biểu này của thủ tướng Anh ?
Lãnh đạo Pháp và Tây Ban Nha đã hoan nghênh đề xuất để Anh quay lại EU. Tất nhiên, như lời tổng thống Emmanuel Macron nói thêm sau đó, Anh không thể chọn cách vào lại EU theo quy chế riêng. Còn ai cũng biết là để quay lại EU thì đơn của nước Anh cần được tất cả các nước thành viên EU phê chuẩn, điều này không dễ và không nhanh chóng.
Tác động của phát biểu và nghị trình tái gia nhập EU mà ông Burnham đưa ra là như thế nào ở Anh? Dư luận nghĩ gì?
Việc chấm dứt với tính nửa vời của tranh luận Brexit, kể cả ở phe tả như Đảng Lao động là điều mới mẻ nhất và có thể có tác động tới quan hệ Anh-EU từ sau hội nghị thượng đỉnh song phương cuối năm 2026. Xin nhắc rằng người tiền nhiệm của ông Burnham, cùng đảng Lao động, là Keir Starmer, muốn đàm phán tăng cường liên kết với EU trong nhiều lĩnh vực, nhưng vì Anh khi đó giữ các lằn ranh đỏ, như không vào lại liên minh thuế quan, sẽ đứng ngoài thị trường chung, nên đàm phán không có kết quả. Nay thì với cam kết sẵn sàng quay lại EU toàn bộ, toàn phần, người ta tin rằng ông Burnham sẽ dễ dàng tái khởi động việc thảo luận một số cơ chế với EU. Bởi EU sẽ không muốn một nước lớn như Anh “chân trong chân ngoài”. Xin nhắc là EU có quy chế cho các nước nhỏ hơn Anh, ví dụ Na Uy, Liechtenstein hay Thụy Sĩ tham gia thị trường chung EU mà không cần là thành viên của khối.
Dư luận chung ở Anh đã thay đổi khá nhiều về Brexit. Thăm dò dư luận mới ngày 30/09/2026 của YouGov cho thấy việc liên kết trở lại với EU chặt chẽ hơn nhưng không tái gia nhập thị trường chung châu Âu được tới 73% dân Anh ủng hộ và 15% phản đối. Còn về việc tái gia nhập EU thì số ủng hộ là 59%, số phản đối là 32%.
Trên các trang tin tiếng Anh, chỉ một bài viết về phát biểu của ông Burnham dã có 4-5 nghìn lời bình luận, chứng tỏ sự quan tâm rất cao. Những người ủng hộ thì vui, nhưng cũng có người lo ngại là quá trình tái gia nhập EU sẽ kéo dài và tốn kém. Một số ý kiến quan tâm đến điều lãnh đạo EU gợi ý cho Canada trở thành "thành viên liên kết" (associate member) của EU và muốn biết quy chế đó là gì, có thể áp dụng cho Vương quốc Anh hay là không.
Phe phản đối vẫn có, nhưng đa số nhấn mạnh một đảng chính trị không thể xóa bỏ kết quả trưng cầu dân ý dân chủ 10 năm trước, chọn Brexit của đa số cử tri Anh. Điều đáng chú ý là có các trang Facebook của người Anh sống ở Pháp, ở Tây Ban Nha phàn nàn rằng hồi trưng cầu dân ý lần trước họ không được tham gia – công dân Anh định cư ở nước ngoài tạm bị mất quyền cử tri ở quê nhà – và họ hỏi là nếu có bỏ phiếu đảo ngược Brexit thì họ có được tham gia hay không. Vì họ muốn có quyền lợi.
Cuối cùng, đề xuất tái gia nhập EU của ông Burnham nằm ở đâu trong những cải cách thiên tả của ông?
Có vẻ như chính phủ của ông Burnham nay nhận thấy việc quay lại EU là cách duy nhất giúp Anh chống đỡ được sóng gió thương mại và các đổ vỡ địa chính trị trên toàn cầu. Tuy không có chính sách viết hẳn ra, nhưng qua phát biểu của bộ trưởng Thương Mại James Reynolds hôm đầu tuần, ta có thể thấy chính phủ Anh coi Mỹ và Trung Quốc là các đối thủ. Tức là Hoa Kỳ thời Trump không còn là đồng minh kinh tế với Anh nữa, theo quan điểm này. Và ông Reynolds nói Anh phải có mặt trong nghị trình tạo ra thương hiệu Made in Europe, để giúp cả Liên Hiệp Châu Âu và Anh bảo vệ được quyền lợi trước Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Về đối nội lẫn đối ngoại, đảng Lao động dưới sự lãnh đạo của ông Burnham đã nghiêng hẳn về phía tả, ví dụ như quốc hữu hóa một số dịch vụ công. Chính phủ Anh cũng ra lệnh trừng phạt người định cư Do Thái ở Israel, mở cửa ưu tiên đón người tị nạn Palestine. Đây là những điều ngược hoàn toàn với chính sách của Hoa Kỳ ở Trung Đông.
Thêm vào đó, các lãnh đạo đảng Lao động Anh từ năm 2025 cũng đã nêu ra lo ngại về làn sóng cực hữu dâng lên ở châu Âu, được chính quyền Trump ủng hộ từ xa. Các nhân vật quan trọng của đảng này như thị trưởng Luân Đôn Sadiq Khan, hay cựu thủ tướng Gordon Brown đã ủng hộ việc quay lại EU như cách làm giảm đi nguy cơ Anh bị chủ nghĩa dân tộc sau Brexit dâng cao, gây ra chia rẽ nội bộ giữa các nhóm dân tộc, vùng miền ở Anh. Vì thế, việc liên kết với phe tả, phe trung tả hay trung hữu ở châu Âu để chống lại làn sóng cực hữu còn có ý nghĩa sâu xa hơn với đảng Lao động Anh về chính trị nội bộ, chứ không chỉ là chuyện kinh tế.
Hàng loạt vụ tác nhân AI thoát khỏi kiểm soát của công ty chủ quản AI trong hai tháng gần đây, đặc biệt là vụ Hugging Face, gây chấn động trước hết tại Mỹ. Nhiều đại tập đoàn AI đã kêu gọi chính quyền Mỹ sớm có biện pháp kiểm soát an toàn AI, nhưng tổng thống Donald Trump gạt phăng với lý do cuộc đua tranh công nghệ. Tuy vây, Washington lần đầu tiên chính thức đưa các đối thoại với Bắc Kinh về kiểm soát nguy cơ AI vào chương trình nghị sự.
Biến cố Hugging Face: Các tác nhân AI phối hợp hành độngĐầu tháng 7/2026, trong vài ngày, hàng trăm tác nhân AI thuộc một số mô hình tân tiến của OpenAI đang trong giai đoạn thử nghiệm, trong môi trường cô lập với bên ngoài, đã tìm cách thoát ra được bên ngoài, xâm nhập vào các cơ sở của nền tảng Hugging Face. Hơn 17.000 hành động can thiệp đã được thực hiện, hoàn toàn không có bàn tay của con người (báo cáo của Hugging Face). Ngay sau sự việc được phát hiện, cuối tháng 7/2026, hơn 1.000 nhân viên của bốn tập đoàn OpenAI, Anthropic, Google DeepMind và Meta, trong đó có hai lãnh đạo OpenAI và Anthropic, đã công bố một thư ngỏ kêu gọi thế giới hành dộng phối hợp giảm tốc phát triển công nghệ AI, nhằm kịp thời đối phó với nguy cơ mất an toàn nghiêm trọng khi các công nghệ tiên tiến (frontier models) vượt tầm kiểm soát.
Hiểm họa do sự phát triển đột biến của AI gây ra với nhân loại đã liên tục được giới chuyên gia cảnh báo từ lâu nay. Tuy nhiên biến cố Hugging Face là một sự kiện chưa từng có. Cuộc xâm nhập của các tác nhân AI này không gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng đây là lần đầu tiên các tác nhân IA chứng tỏ khả năng tự tổ chức phối hợp hành động quy mô lớn, vượt khỏi hệ thống kiểm soát.
Chuyên gia hàng đầu về AI người Canada, Yoshua Bengio, giải thưởng Turing 2018 (thường được coi là Nobel tin học), nhà sáng lập Viện Trí tuệ nhân tạo Milan, nhấn mạnh đến tính chất vô cùng nguy hiểm của tác nhân AI hành động tự chủ :
« Các tác nhân AI thậm chí còn tạo ra các lý do để làm những việc mà chúng biết là không nên làm, giống hệt như cách con người vẫn làm. Đó chính là điều chúng ta cần thực sự chú ý. Đa số mọi người hiện tại vẫn coi AI chỉ là những cỗ máy hay chương trình do các kỹ sư con người viết ra, nhưng thực tế chúng ta đã vượt xa giai đoạn đó rồi. Chúng ta đang đối mặt với các hệ thống AI có khả năng tự chủ, không cần đến con người. Để đạt được những mục tiêu mà chúng ta đặt ra, chúng có thể thực hiện đủ loại hành động có thể thực sự nguy hiểm. Nếu để tình trạng này tiếp diễn, và nếu các hệ thống này ngày càng trở nên thông minh và tự chủ hơn nữa, hậu quả có thể sẽ vô cùng thảm khốc. Tuy nhiên, đó lại chính là hướng đi hiện nay. »
Từ hơn hai tháng nay, hàng loạt vụ tác nhân AI hành động tự tung tự tác được ghi nhận. Viện An ninh Trí tuệ nhân tạo Anh quốc AISI, trong cuộc thử nghiệm cuối tháng 7, đầu tháng 8, đã phát hiện được 10 trường hợp tác nhân AI can thiệp mạng Internet mà không được phép, chiếm gần 10% số thử nghiệm, trong đó đại đa số xuất phát từ các mô hình của Anthropic. Xét về quy mô và tầm mức, vụ Hugging Face là ghê gớm nhất.
Áp lực gia tăng trong nội bộ nước Mỹ …Về các sự cố AI hành động tự tung tự tác nói trên, trong giới chuyên gia có nhiều quan điểm. Có nhiều người cho đây là thủ đoạn của các tập đoàn công nghệ Mỹ nhằm khôn khéo quảng bá hình ảnh (Racha Chatila, giáo sư danh dự về AI và đạo đức công nghệ ở Đại học Sorbonne), đồng thời gây áp lực với Trung Quốc. Giáo sư Laurence Devillers, chuyên về các vấn đề đạo lý với AI, một mặt chỉ trích việc thổi phồng các nguy cơ của AI dến mức hoang tưởng khi nói đến sự tuyệt diệt của nhân loại, mà không dựa trên cơ sở cụ thể nào, nhưng đồng ý về hiểm họa AI vượt tầm kiểm soát là có thực (trả lời Radio France).
Áp lực gia tăng lên chính quyền Trump. Giữa tháng 9/2026, ba tập đoàn lớn trong lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo tại Hoa Kỳ, Open AI, Anthropic và Google DeepMind thúc đẩy thành lập một cơ quan độc lập với nhà nước, giám sát để ngăn ngừa những rủi ro liên quan đến công nghệ này, tương tự như Cơ quan Quản lý Tài chính Hoa Kỳ (FINRA). Ngày 18/09, thống đốc bang California Gavin Newsom ban hành sắc lệnh thúc đẩy các tập đoàn phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo tăng cường các hàng rào an ninh đề phòng AI « vượt khỏi tầm kiểm soát của con người » với công cụ mới mang tên kill switch, tức một cơ chế ngăn chặn khẩn cấp.
Murielle Popa-Fabre, chuyên gia về quản trị AI (bài Comment réguler l’IA sans reculer ? Radio France, 17/09/2026) đánh giá cao hành động phối hợp của các tập đoàn AI hàng đầu vào thời điểm sắp diễn ra thượng đỉnh Mỹ - Trung và hội nghị quốc tế :
« Thời điểm mà các thông báo được các công ty AI đưa ra rất đáng chú ý, ngay trước cuộc gặp Tập Cận Bình - Donald Trump, cũng như một hội nghị quan trọng của Liên Hiệp Quốc vào tuần tới, nơi mà công tác xây dựng cơ chế quản trị AI đã được triển khai từ lâu. Vấn đề này bao gồm hai khía cạnh. Thứ nhất là nhận thức ngày càng rõ rằng mọi hành động cần phải được thực hiện ở cấp độ quốc tế. Và thứ hai là các giải pháp cụ thể đang được đề xuất, đáng chú ý là từ phía công ty Anthropic, như để các bên thứ ba đáng tin cậy (un tiers de confiance) đánh giá các mô hình AI. Bất kể lý do ẩn sau những hành động này là gì, đây vẫn là một bước tiến rất quan trọng. Bởi vì đề xuất này làm nổi bật những vấn đề then chốt liên quan đến hệ thống kiểm thử - giám sát, tham gia của bên thứ ba đáng tin cậy, và cho thấy những thách thức rộng lớn hơn xoay quanh công tác quản trị AI. »
Tại phiên họp về AI của Hội đồng Bảo an, ngày 23/09/2026 (một ngày trước thượng đỉnh Mỹ - Trung), theo sáng kiến của Pháp, lãnh đạo các công ty hàng đầu trí tuệ nhân tạo, OpenAI, Anthropic và Hugging Face đã kêu gọi tăng cường hợp tác quốc tế để kiểm soát những rủi ro. Trong lúc tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 22/09 bác bỏ ý tưởng về cơ chế giám sát toàn cầu, đại sứ Trung Quốc muốn đặt toàn bộ cơ chế giám sát dưới sự bảo trợ của LHQ. Theo AFP, chủ tịch - tổng giám đốc Anthropic Dario Amodei lần đầu tiên cam kết Anthropic « đơn phương làm chậm lại tốc độ phát triển AI » để đảm bảo mọi mô hình mới đều « thực sự an toàn ».
… Washington thúc đẩy đối thoại chính thức với Trung Quốc trước thềm thượng đỉnhVấn đề đối thoại về an toàn AI rút cục đã được chính phủ Mỹ chính thức đưa vào đề xuất với Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent, người phụ trách đàm phán chính, đã đề xuất về cơ chế thông báo về an toàn AI (safety notifications) trong các cuộc thảo luận với Trung Quốc trước thềm thượng đỉnh (24/09). Cụ thể là xây dựng thảo luận về các mối đe dọa chung, bao gồm cả việc thông báo về các sự cố liên quan đến AI có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia mỗi bên.
Ông Sun Chenghao, nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm An ninh và Chiến lược Quốc tế, thuộc Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh), cho biết chương trình nghị sự có thể tập trung vào các rủi ro AI có khả năng gây hại cho cả hai nước, chẳng hạn như các cuộc tấn công mạng sử dụng AI, việc lạm dụng AI vào mục đích sinh học, sự cố nghiêm trọng ở các mô hình AI lớn hoặc tình trạng mất quyền kiểm soát của con người (AP).
Quân sự : AI ngày càng trở thành chủ chốt, nguy cơ đại thảm họa gia tăngBộ trưởng An ninh Quốc gia Trung Quốc Trần Nhất Tân (Chen Yixin), trong một bài viết trên báo Trung Quốc hồi tuần trước, nhấn mạnh AI đang làm thay đổi cơ bản cách thức tiến hành chiến tranh, « từ vai trò hỗ trợ trên chiến trường sang vai trò chủ chốt ». Theo Reuters, hai tác giả Melanie Sisson, nghiên cứu viên cao cấp tại viện nghiên cứu Brookings, và Jiang Tianjiao, phó giáo sư tại Đại học Phục Đán (Fudan), đã tham gia vào cuộc đối thoại về trí tuệ nhân tạo (AI) và an ninh quốc gia giữa Mỹ và Trung Quốc do Brookings và Trung tâm An ninh và Chiến lược Quốc tế của Đại học Thanh Hoa tổ chức từ năm 2019, đặc biệt nhấn mạnh đến việc cần tìm phương thức để hạn chế các quyết định quân sự do máy móc đưa ra (machine-made military decisions), và thiết lập các giao thức liên lạc trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân (set communication protocols) để phòng ngừa công nghệ AI hoạt động ngoài dự kiến.
Trả lời đài France Info, chuyên gia về Trung Quốc đương đại Emmanuel Véron ghi nhận bước tiến trong đối thoại Mỹ - Trung trong bối cảnh cạnh tranh ngày một quyết liệt :
« Tôi cho rằng cần phải nhấn mạnh lại rằng trí tuệ nhân tạo (AI) là nền tảng cho các vấn đề về quyền lực, và theo một nghĩa nào đó là cơ sở cho sự thống trị toàn cầu trong tương lai. Trong bối cảnh này, cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đều không chọn cách dừng lại, giảm tốc hay từ bỏ bất kỳ lĩnh vực nào liên quan đến đổi mới và phát triển AI. Và nếu một bên không chịu lùi bước thì bên kia cũng sẽ không làm vậy. Chúng ta đang bị cuốn vào một cuộc cạnh tranh dài hơi.
Tuy nhiên, một tín hiệu đã được phát đi: ‘‘Hãy nhìn xem, chúng tôi đang thảo luận về khả năng quản lý những bước phát triển này.’’ Đó chính là mấu chốt của vấn đề xác định phạm vi cho bất kỳ khuôn khổ hợp tác tiềm năng nào giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đối với các bước tiến của AI, đặc biệt là các vấn đề then chốt như kiểm soát AI để ngăn chặn nó tự ý nắm quyền điều hành một nhà nước, kiểm soát hệ thống răn đe hạt nhân, hay thậm chí là chi phối các mảng lớn của xã hội toàn cầu đi ngược với mong muốn của chính quyền một nước hoặc của chính nhân loại. Rõ ràng là một cuộc đối thoại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang diễn ra, cho thấy cả hai bên đều có quan ngại về những bước tiến này. »
Cạnh tranh AI: Hai lập trường đối nghịch Mỹ, TrungĐông đảo giới quan sát dè dặt về khả năng Mỹ, Trung hướng đến xác lập được một số đồng thuận trong lĩnh vực nhạy cảm này trong bối cảnh lập trường của hai bên về chiến lược AI là hết sức đối nghịch. Đối lại liên minh AI Pax Silica do Hoa Kỳ tổ chức, tập hợp trước hết các nước phương Tây, ra mắt từ cuối năm ngoái, tháng 7/2026, Bắc Kinh thành lập Tổ chức Hợp tác Trí tuệ Nhân tạo Thế giới (WAICO), với chủ trương thu hút các quốc gia thuộc khối Nam bán cầu (Global South). Định chế WAICO gồm 29 nước, chủ yếu từ Nam bán cầu, được kỳ vọng mang lại cho các nước thành viên các đào tạo, tiếp cận công nghệ, tiếng nói trong quản trị AI.
Về các rủi ro do AI, chính quyền Mỹ hiện đặt cược vào các công ty tư nhân, xây dựng các quy trình kiểm tra an toàn tự nguyện, phát triển dựa vào các « mã nguồn đóng », trong lúc Trung Quốc đặt mục tiêu trên hết là ổn định chính trị, nhà nước tập trung kiểm soát, dựa trên « các mã nguồn mở ». Mỹ lo ngại việc phổ biến rộng rãi chính sách mã nguồn mở có thể tạo điều kiện cho công nghệ AI dễ dàng lọt vào tay các thế lực bất hảo.
***
Hiểm họa AI khôn lường: Những cường quốc bậc trung không bó tayTrong bối cảnh AI đang được cả Mỹ và Trung Quốc tập trung đầu tư để phát triển với mục tiêu rất khác nhau, viễn cảnh các tác nhân AI thuộc các công nghệ tân tiến nhất lọt khỏi tầm kiểm soát đang trở thành hiện thực nhãn tiền, nhiều nỗ lực trong cộng đồng quốc tế đang thúc đẩy các cơ chế hợp tác liên quốc gia khác hướng đến công nghệ Trí tuệ nhân tạo an toàn đặt dưới sự kiểm soát của con người, không bị các thế lực độc tài thao túng. Chuyên gia Yoshua Bengio nhận định :
« Ngay cả Alan Turing – một người tiên phong của ngành khoa học máy tính – cũng từng viết về điều này từ năm 1951. Ông nhận định rằng nếu máy tính trở nên thông minh hơn con người, chúng ta sẽ gặp nguy cơ diệt vong. Sự thống trị này có thể thông qua quyền lực kinh tế, quyền lực quân sự, hoặc bằng việc chi phối người dân, dư luận, v.v. Có vô số kịch bản mà công nghệ này có thể trở thành một công cụ thống trị.
Cộng đồng quốc tế cần thấu hiểu sức mạnh ghê gớm mà người ta đang tạo ra. Một sức mạnh như vậy đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ. Cho dù có một lộ trình khả thi để tạo ra các hệ thống AI không có tính nguy hiểm tiềm tàng, nhưng đó lại không phải là hướng đi đang được tiến hành hiện nay. Chúng ta cần nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng của hiểm họa này. Vì vậy cần phải có một nỗ lực mang tính đa phương. Những nỗ lực hiện tại của Canada và các quốc gia khác nhằm xây dựng các liên minh kinh tế và địa chính trị vững chắc hơn, chính vì vậy càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trước sự trỗi dậy ghê gớm của AI. » (Mọi người cần hiểu mức độ nguy hiểm của AI, France Info, ngày 20/09/2026).
Thế giới không thể khoanh tay chờ đợi cuộc mặc cả giữa hai siêu cường. Chuyên gia Yoshua Bengio, vừa được hai chính phủ Đức và Canada cam kết tài trợ 300 triệu đô la, cũng là nhà điều hành doanh nghiệp IA LoiZéro, có chủ trương phát triển một công nghệ IA coi an toàn là nền tảng (safe-by-design), một công nghệ AI có thể, về lâu dài, đóng vai trò như công cụ giám sát và kiềm chế các hành vi lệch lạc của những tác nhân IA « tự trị » hùng mạnh đang được các công ty tư nhân tập trung phát triển.
Cùng với cuộc chiến tranh Ukraina, eo biển Hormuz bị phong tỏa và đường ống dẫn Đông – Tây của Ả Rập Xê Út bị drone bắn phá, việc phe nổi dậy Houthi chiếm giữ nhiều vị trí chiến lược tại eo biển Bab El Mandeb đang làm dấy lên nỗi lo xảy ra một cú sốc năng lượng mới trên thế giới. Phe Houthi có sẽ là tia lửa châm ngòi khủng hoảng kinh tế toàn cầu ?
Nằm ở phía nam bán đảo Ả Rập, giữa Yemen, Djibouti và Erithrea, eo biển Bab el Mandeb, dài 50 km và rộng khoảng 32 km, nối Hồng Hải với Ấn Độ Dương, cửa ngõ đến kênh đào Suez, một tuyến đường tắt hàng hải chính yếu nối châu Á và châu Âu.
Trong điều kiện bình thường, gần 20 ngàn tầu thuyền đi qua tuyến đường này mỗi năm, tương đương với khoảng 10-15% thương mại toàn cầu. Đối với châu Âu, khoảng 40% thương mại với Trung Quốc phụ thuộc vào tuyến đường vận tải qua Hồng Hải và Bab el Mandeb. Hành lang đường biển này, tuy không có quy mô như eo biển Hormuz, eo biển Bab el Mandeb còn là nơi trung chuyển của khoảng 12% lượng cung dầu hỏa thế giới và gần 8% lượng khí tự nhiên hóa lỏng.
Ngay sau khi phe Houthi tuyên bố chiếm được các đảo chiến lược nằm ở eo biển Bab el Mandeb và thông báo của Ả Rập Xê Út đóng đường ống dẫn dầu Đông – Tây sau một cuộc tấn công bằng drone, giá dầu Brent tham chiếu đã vượt ngưỡng 100 đô la/thùng và tiến gần đến mức 110 đô la, khiến giá xăng dầu tiêu thụ tại nhiều nơi từ châu Á, đến châu Phi, châu Âu hay tại Mỹ cũng tăng cao.
Ả Rập Xê Út : Ngân hàng trung ương dầu hỏaThierry Bros, giáo sư tại trường Khoa học Chính trị Paris, chuyên gia cao cấp về Năng lượng tại Energy Delta Institute, trả lời phỏng vấn trang Atlantico lưu ý thị trường dầu hỏa thế giới trước khi có xung đột với Iran vẫn có một mức độ linh hoạt nhất định. Năm 2025, thị trường trong trạng thái dư cung tương đối, do việc Ả Rập Xê Út, quốc gia sản xuất dầu hỏa duy nhất có khả năng duy trì một công suất khai thác dự phòng đáng kể, khi nguồn cung toàn cầu gặp trục trặc, vẫn có thể tăng sản lượng để bù đắp phần nào.
Ngoài ra, Ả Rập Xê Út đã thực hiện những khoản đầu tư được cho là « vô ích » trong thời bình, khi cho phát triển đường ống Đông – Tây, nối vùng Vịnh với cảng Yanbu ở Hồng Hải. Từ khi Hormuz bị đóng, đường ống dài khoảng 1.200 km này đã cho phép Ả Rập Xê Út đưa khoảng bốn triệu thùng dầu mỗi ngày ra thị trường thế giới. Nếu Bab el Mandeb bị phong tỏa, đường ống dẫn này có nguy cơ trở nên « vô dụng ». Việc Riyad thông báo đóng đường ống dẫn này sau vụ drone tấn công càng khiến áp lực lên giá dầu tăng cao.
Trên kênh truyền hình quốc tế France 24, vị chuyên gia về năng lượng giải thích :
« Khi eo biển Hormuz bị phong tỏa, hơn 20 triệu thùng dầu và 20% khí hóa lỏng đã biến mất khỏi thị trường mỗi ngày, gây ra một cuộc khủng hoảng khí đốt nghiêm trọng tại châu Âu. Tuy nhiên, Ả Rập Xê Út, được coi là ngân hàng dầu hỏa trung tâm thế giới, đã có những giải pháp thay thế, và một trong số các biện pháp đó là cung cấp bốn triệu thùng dầu mỗi ngày thông qua đường ống dẫn Đông – Tây, giúp giải quyết phần lớn vấn đề eo biển Hormuz.
Vì vậy, trên thực tế, từ 20 triệu thùng mỗi ngày, chúng ta đã giảm vấn đề xuống chỉ còn, nếu tôi có thể nói như vậy, 9 triệu thùng mỗi ngày, vì Trung Quốc cũng đã giảm nhu cầu nhập khẩu. Ngày nay, nếu đường ống dẫn dầu bị đóng cửa, hoặc nếu eo biển bị đóng cửa – về cơ bản là giống nhau – chúng ta sẽ lại thiếu hụt 14 triệu thùng dầu mỗi ngày trong một thế giới tiêu thụ khoảng 100 triệu thùng mỗi ngày, có nghĩa là 14%, một con số khổng lồ. »
Bab el Mandeb, chốt chặn chiến lược thứ hai của IranTrong bối cảnh này, theo giới quan sát, nếu Hormuz và Bab el Mandeb bị đóng hoàn toàn, giá dầu có thể tăng vọt đến mức đe dọa nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, theo quan điểm của Thierry Bros, chiến lược của Iran và phe Houthi không nhất thiết nhằm phá hủy hoàn toàn hệ thống kinh tế toàn cầu, mà là đẩy giá dầu lên cao đến mức Washington buộc phải đàm phán.
Thời điểm tung đòn chiến lược này cũng không phải ngẫu nhiên. Donald Trump đang đối mặt với những khó khăn trong cuộc bầu cử giữa kỳ. Iran hiểu rõ rằng dầu mỏ là « vũ khí kinh tế » mạnh nhất mà họ còn nắm giữ. Do vậy, eo biển Bab el Mandeb được coi là « vũ khí nguyên tử » thứ hai của Teheran trong cuộc đối đầu với Washington.
Trả lời France 24, chuyên gia Thierry Bros giải thích tiếp : « Iran và các đồng minh của họ, trong trường hợp này là phe nổi dậy Houthi và cả những kẻ đã đánh bom đường ống dẫn dầu, mà tôi nghĩ là từ Irak, đang cố gắng đẩy giá dầu lên cao vì họ biết phương Tây chúng ta không thể sống thiếu dầu mỏ, và nếu giá dầu tăng quá cao, Trump sẽ buộc phải tìm ra giải pháp cho cuộc chiến.
Thực tế, chúng ta đang trong một cuộc chạy đua với thời gian. Một mặt, ông Trump đang cố gắng lật đổ chế độ Iran bằng cách ngăn chận dòng chảy dầu mỏ và do đó là doanh thu từ dầu mỏ, khiến Iran có ít tiền, và có thể không còn khả năng trả lương cho quân đội. Vì vậy, khi chính quyền không còn tiền trả lương cho quân đội, không gì chắc chắn là họ sẽ bắn vào người dân của họ.
Mặt khác, Iran đang cố gắng bằng mọi cách đẩy giá dầu lên cao. Cách tốt nhất là tấn công Ả Rập Xê Út, vì vương quốc này là 'ngân hàng trung ương' của dầu mỏ, là một trong những nhà sản xuất dầu lớn nhất, một trong những nhà xuất khẩu dầu lớn nhất. »
Giá dầu tăng, lỗi ở Ukraina ?Việc sử dụng phe Houthi để gây sức ép tại Bab el Mandeb được xem như là một quân bài chiến lược nhằm tạo thêm đòn bẩy trong đàm phán. Dù vậy, trong cuộc đọ sức này, cả Mỹ và Trung Quốc đều không có lợi ích trong việc đẩy kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái. Điều này giải thích vì sao Trung Quốc đã giảm nhập khẩu đến 5 triệu thùng dầu/ngày, bởi vì Bắc Kinh không muốn gây ra một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Đây chính là yếu tố hạn chế nguy cơ leo thang quá mức giữa các bên tham chiến.
Theo AP, giá dầu diesel tại Mỹ hôm thứ Hai 14/09 đã chạm mức kỷ lục hơn 6 đô la/gallon, tăng gần 66% so với thời điểm đầu cuộc chiến Iran. Trong thế khó này, nguyên thủ Mỹ đã đổ trách nhiệm cho đồng cấp Ukraina và yêu cầu Volodymyr Zelensky ngừng không kích các nhà máy lọc dầu của Nga, vì theo ông, đây chính là nguồn cội khiến giá dầu tăng cao.
Về điểm này, ông Jean-Louis Schilansky, cựu chủ tịch UFIP (Liên đoàn Công nghiệp Dầu khí Pháp) trên kênh truyền hình Franceinfo phần nào nhìn nhận các tác động của cuộc chiến Ukraina đối với nguồn cung nhiên liệu : « Quả thật, các cuộc tấn công của Ukraina vào các nhà máy lọc dầu của Nga từ nhiều tháng qua đã phần nào làm giảm sản lượng dầu diesel của Nga, chủ yếu xuất khẩu sang Ấn Độ và các nước châu Á khác, và do vậy, đã góp phần làm gia tăng căng thẳng trên thị trường dầu diesel quốc tế ».
Châu Âu, bên thiệt lớn nhấtChỉ có điều, trong cuộc đọ sức này, ngoài Ả Rập Xê Út là nạn nhân liên đới, Châu Âu là bên thua cuộc lớn nhất và có nguy cơ đối mặt với khủng hoảng năng lượng nhiều hơn Mỹ, khi phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép là khí đốt và dầu hỏa. Theo ông Thierry Bros, cú sốc năng lượng này diễn ra vào lúc nền kinh tế Châu Âu trì trệ, có mức tăng trưởng thấp, năng suất suy giảm và đang gặp nhiều bất ổn chính trị:
« Thật không may, khủng hoảng khí đốt hiện nay là khủng hoảng của châu Âu. Hôm thứ Sáu, 11/09, giá khí đốt đã chạm mức kỷ lục chưa từng thấy kể từ cuối tháng 12/2022. Bởi vì giá khí đốt tại Mỹ rẻ hơn đến 10 lần so với châu Âu, do vậy không có khủng hoảng khí đốt ở Mỹ. Giờ đây, khủng hoảng xăng dầu là toàn cầu, nhưng đối với châu Âu, đó là khủng hoảng khí đốt và dầu lửa, trong khi tại Mỹ chỉ là khủng hoảng dầu hỏa.
Một lần nữa, châu Âu đã tỏ ra thụ động, bởi vì người cuối cùng có quyền chấm dứt cuộc chiến giá cả này sẽ là Trump, nếu giá dầu tăng quá cao và cử tri của ông không thể chịu đựng được nữa. Thật không may, trong vấn đề này, châu Âu đã không được tham vấn ».
Giới chuyên gia cảnh báo, trong một môi trường kinh tế chứa ẩn nhiều rủi ro như nợ công cao, lãi suất tăng và nỗi hoài nghi về khả năng hình thành bong bóng trí tuệ nhân tạo gia tăng, một cú sốc địa chính trị mới có thể trở thành một tác nhân gây ra phản ứng dây chuyền trên thị trường tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng nhìn nhận rằng kịch bản thảm họa này chỉ xảy ra nếu phe Houthi thực sự có khả năng phong tỏa hoàn toàn eo biển và duy trì tình trạng đó trong thời gian dài.
Các dữ liệu bị rò rỉ hay đánh cắp không còn đơn thuần là « sản phẩm phụ » của các cuộc tấn công mạng. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chúng đang trở thành một « nguồn tài nguyên vận hành » được mua bán và tái khai thác trong một hệ sinh thái tội phạm mạng có tổ chức chặt chẽ.
Theo các khảo sát gần đây, ngoài một số vụ tấn công mạng có mục tiêu chính trị và địa chính trị, 86% các vụ xâm phạm dữ liệu có mục tiêu kiếm tiền và 55% số vụ tấn công là do các nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện. Những dữ liệu bị đánh cắp này sau đó sẽ được rao bán trên Internet, đặc biệt là trên thị trường chợ đen của Dark Web.
Những người rao bán và mua dữ liệu đánh cắp là ai ? Rayna Stambouliscka, tổng giám đốc công ty tư vấn an ninh mạng RS Stratégie, cộng tác viên Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS), trên đài France Culture cho biết : « Đó là những người muốn bán lại các dữ liệu, hoặc họ tự đánh cắp dữ liệu, hoặc họ mua dữ liệu rẻ hơn từ người khác, hoặc họ có một nguồn cung cấp liên tục các dữ liệu mới giá rẻ… Nhìn chung, có hai loại hình chính : Những người thích các dữ liệu của cá nhân và những người thích các dữ liệu của các tổ chức ».
Giống như trên eBay của Mỹ hay Leboncoin tại Pháp, dữ liệu bị rò rỉ được chào bán trên Dark Web, có ghi rõ xuất xứ và các mẫu dữ liệu giống như trong cửa hàng nước hoa, theo giải thích của Gael Musquet, một hacker, với đài France Inter : « Quý vị nhận được các mẫu cho phép xác minh chất lượng dữ liệu, mức độ cuộc tấn công đã được thực hiện ».
Các nghiên cứu gần đây cho thấy thị trường ngầm này có quy mô to lớn. Năm 2024, lần đầu tiên các hoạt động mua bán dữ liệu bị đánh cắp cán mốc 2 tỷ đô la. Và chỉ riêng trong sáu tháng đầu năm 2025, người ta ghi nhận hơn 1,4 tỷ bản ghi dữ liệu bị xâm phạm. Một công trình khảo sát 30 chợ darknet lớn đã phát hiện hơn 96 ngàn tin rao bán dữ liệu đánh cắp từ khoảng 3000 người bán chỉ trong vòng tám tháng. Doanh thu được ghi nhận trong thời gian nghiên cứu vượt 140 triệu đô la, nhưng con số này được cho là khá nhỏ so với quy mô thực tế của thị trường hiện nay.
Dark Web : Tin tặc đóng vai trò « nhà sản xuất »Nền kinh tế ngầm này ngày càng giống với các nền tảng thương mại điện tử hợp pháp, thậm chí có cả dịch vụ chăm sóc khách hàng và hệ thống đánh giá người bán. Điều này minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của mô hình mà trang Businesstechweekly gọi là « tội phạm mạng như một dịch vụ » (Cybercrime-as-a-Service).
Các cuộc điều tra do Synacktiv1 tiến hành còn chỉ ra rằng thị trường này là một chu trình khai thác có thể kéo dài nhiều năm, với sự tham gia của nhiều nhóm tác nhân khác nhau, được phân công lao động tương tự như « các chuỗi gia công trong ngành công nghiệp », theo như cách diễn đạt của Maxence Fossat, chuyên gia an ninh mạng tại Synacktiv, trong một báo cáo công bố ngày 28/05/2026.
Cụ thể, mạng lưới này được phân chia giữa những người thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng các phần mềm đánh cắp thông tin (infostealers) hoặc trực tiếp xâm nhập vào hệ thống; Các đơn vị tổng hợp dữ liệu, chuyên tập hợp và hợp nhất các dữ liệu thu được từ nhiều vụ rò rỉ khác nhau; Các nhà cung cấp dịch vụ kiểm thử tự động, chỉ giữ lại những thông tin truy cập thực sự còn hiệu lực và có thể khai thác được. Và sau cùng là các đầu mối môi giới, bán lại chuyên biệt, những người chào bán các quyền truy cập này cho các nhóm tội phạm khác, trong đó nổi bật nhất là các tổ chức vận hành phần mềm tống tiền (ransomware).
Tuy nhiên, không phải mọi dữ liệu thu được từ một vụ rò rỉ đều có giá trị thương mại trong cùng một khoảng thời gian. Bà Yamina Tadjeddine Fourneyron, giáo sư kinh tế tại đại học Lorraine, chuyên gia về tài sản tiền điện tử, trên đài France Culture giải thích : « Khi bạn vào Dark Web, những thị trường chợ đen, để bán lại, bạn sẽ thấy mọi thứ được tổ chức theo bản chất của thông tin được bán. Đó là lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, dữ liệu tài chính, hay dữ liệu cá nhân, ít nhiều đầy đủ thông tin hay không ? Và bạn sẽ tìm thấy những người chuyên về từng lĩnh vực, và sau đó là danh tiếng và xếp hạng phản ánh độ tin cậy của người bán lại. »
Theo hacker Gael Musquet, thông tin cá nhân này được mua bán, đấu giá, thậm chí được cho không nếu không ai muốn. Và đối với những tội phạm ít kinh nghiệm hơn, sách hướng dẫn và thiết bị cũng được cung cấp đính kèm: « Họ có dữ liệu thô, nhưng cũng có cả công cụ phân tích, công cụ gửi email và tin nhắn văn bản. Tóm lại, tùy thuộc vào trình độ kỹ năng của người có được những tập tin này, tội phạm mạng sẽ cung cấp các công cụ để khai thác dữ liệu đó dễ dàng hoặc khó khăn hơn. »
Những dữ liệu có giá trị cao nhấtTrang ITSocial còn lưu ý thêm, trong nền kinh tế ngầm của tội phạm mạng, mỗi dữ liệu bị đánh cắp có « vòng đời kinh tế » riêng : Cookie phiên làm việc có giá trị rất cao nhưng ngắn hạn, trong khi các cặp « tên đăng nhập và mật khẩu » có thể tiếp tục được mua bán và khai thác trong thời gian dài hơn.
Các dữ liệu kỹ thuật lại tuân theo một logic khai thác dài hạn. Những dữ liệu như tài liệu nội bộ, cấu hình hạ tầng công nghệ thông tin, sơ đồ kiến trúc hệ thống, hay mã nguồn phần mềm có thể được lưu giữ trong nhiều năm trước khi được sử dụng để phát hiện các lỗ hổng bảo mật, hoặc chuẩn bị cho các cuộc tấn công có chủ đích.
Loại hình khai thác này chủ yếu liên quan đến các tác nhân có năng lực cao, đặc biệt là những nhóm hoạt động vì lợi ích quốc gia hoặc phục vụ mục tiêu tình báo kinh tế. Đối với các tin tặc, giá trị của dữ liệu không nằm ở khả năng bán lại ngay lập tức, mà ở tiềm năng cung cấp thông tin chiến lược trong dài hạn.
Tùy theo giá trị của mỗi loại thông tin mà giá cả các cơ sở dữ liệu được định giá rất khác nhau trên thị trường ngầm. Các cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, thông tin sở hữu trí tuệ nhân tạo là những tập tin có giá trị cao nhất, có thể được giao dịch với giá hàng trăm nghìn đô la. Đặc biệt, dữ liệu y tế được coi là loại tài sản có giá trị cao vì tính « vĩnh viễn » của chúng. Nếu thẻ tín dụng bị lộ, chủ sở hữu có thể khóa và cấp lại thẻ mới. Nhưng hồ sơ bệnh án hay thông tin sức khỏe cá nhân gần như không thể thay đổi khi đã bị đánh cắp.
Trong số này, các dữ liệu cá nhân là những món hàng có giá trị thấp nhất. Trong vụ rò rỉ dữ liệu tại France Travail, cơ quan hỗ trợ việc làm cho người thất nghiệp tại Pháp, vào năm 2024, thông tin của hơn 36 triệu người được rao bán trên Dark Web với giá 5.000 đô la. Vì vậy, theo giáo sư kinh tế Yamina Tadjiddine, tiêu chí định giá dữ liệu thực ra không khác nhiều so với thị trường kinh tế truyền thống : « Điều này phụ thuộc vào mức độ khan hiếm. Nếu bạn là người đầu tiên sở hữu chúng, rõ ràng là giá sẽ rất cao. Ví dụ, hiện nay, dữ liệu thẻ tín dụng gần như vô giá trị vì chúng đã được phổ biến rộng rãi. Sau đó còn có một khía cạnh khác : Tính chất đầy đủ của thông tin thu thập được. »
AI, trợ thủ đắc lực mới cho tin tặc, doanh nghiệp thêm khốn đốnCác cuộc tấn công mạng đang trở nên phổ biến và ngày càng tinh vi hơn. Thay vì khai thác các lỗ hổng kỹ thuật, tin tặc tấn công bằng xâm nhập các tài khoản hợp lệ bị đánh cắp. Dữ liệu rò rỉ giúp tội phạm thực hiện các chiến dịch lừa đảo, giả mạo danh tính và kỹ nghệ xã hội thuyết phục hơn nhờ những hiểu biết về nội bộ của nạn nhân.
Theo điều tra của Synacktiv, hai yếu tố đang thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế ngầm này là trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI) và các nhà môi giới quyền truy cập ban đầu (Initial Access Brokers - IAB). AI giúp tự động hóa nhiều công đoạn tấn công, còn các IAB chuyên tìm kiếm rồi bán lại quyền truy cập vào hệ thống bị xâm nhập cho những nhóm tội phạm khác.
Cuối cùng, Synacktiv nhận định, các doanh nghiệp thường đánh giá thấp tính chất kéo dài của rủi ro. Một vụ rò rỉ dữ liệu có thể tiếp tục tạo điều kiện cho các cuộc tấn công nhiều năm sau đó. Báo cáo Chi phí Xâm phạm Dữ liệu 2024 của IBM ước tính chi phí trung bình cho một vụ rò rỉ dữ liệu đã tăng 15% kể từ năm 2020 và tăng thêm 12% trong năm 2025, theo báo cáo mới nhất. Mức tăng này bắt nguồn từ chi phí cao hơn cho việc phát hiện, xử lý leo thang sự cố và tổn thất kinh doanh.
Trong bối cảnh này, giới chuyên gia dự báo đến năm 2031, thế giới sẽ ghi nhận cứ mỗi hai giây sẽ xảy ra một cuộc tấn công mạng và thiệt hại do ransomware có thể lên đến 265 tỷ đô la/năm. Vì vậy, báo cáo của Synacktiv khuyến nghị các tổ chức cần xem rò rỉ dữ liệu là điểm khởi đầu của một chu trình khai thác lâu dài thay, vì là một sự cố đã kết thúc sau khi được phát hiện.
----- ***** -----
Ghi chú :
Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là một trong những trục quan trọng nhất trong dòng chảy lịch sử thế giới đương đại. Giữa các cuộc chiến thương mại, đối đầu địa chính trị và cạnh tranh công nghệ, mỗi ngày trôi qua càng củng cố thêm niềm tin chắc rằng cuộc đối đầu giữa Washington và Bắc Kinh đang định hình thế giới ngày nay và có thể cả trong tương lai.
Nhà sử học Pierre Grosser, trên đài phát thanh France Inter nhận định, nếu nhìn lại lịch sử hơn một thế kỷ quan hệ Mỹ - Trung, hai quốc gia này đã nhiều lần thay đổi vị thế đối với nhau : Từ đối tác thương mại, đồng minh thời chiến, đối thủ ý thức hệ, cho đến đối thủ cạnh tranh chiến lược toàn diện như ngày nay.
Là chuyên gia về quan hệ quốc tế và châu Á và cũng là tác giả tập sách « Chiến tranh lạnh khác chăng ? Đối đầu Mỹ - Trung », Pierre Grosser còn nêu ra sáu cột mốc lớn quan trọng để lý giải vì sao Washington và Bắc Kinh đang trong một cuộc cạnh tranh được nhiều nhà quan sát gọi là « cuộc đối đầu định hình thế kỷ XXI ». Đằng sau những tranh chấp thương mại, công nghệ hay vấn đề Đài Loan, là một câu chuyện dài về quyền lực, nhận thức lịch sử và trật tự thế giới.
1900 : Khi Hoa Kỳ đến « mở cửa » Trung Quốc …Vào cuối thế kỷ XIX, Trung Quốc đang ở giai đoạn suy yếu nghiêm trọng. Sau thất bại trước Nhật Bản năm 1895 và hiệp ước Shimonoseki, các cường quốc châu Âu và Nhật Bản lao vào cuộc đua tranh giành tô giới và nhượng địa ở Trung Quốc. Trong bối cảnh này Hoa Kỳ tự thể hiện mình là người ngoài cuộc bằng cách ủng hộ chính sách « Mở cửa » (Open Door Policy), với hai công hàm ngoại giao năm 1899 và 1900, đề cao việc bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc và tự do cạnh tranh thương mại.
Theo sử gia Pierre Grosser, trong « cuộc chạy đua đến Trung Quốc », chính sách này của Mỹ là mang tính hai mặt : Hoa Kỳ tự thể hiện mình như « một cường quốc đế quốc kiểu khác, chủ yếu được thúc đẩy bởi các lợi ích thương mại », nhưng vẫn không thoát khỏi lô-gic truyền thống của chủ nghĩa bành trướng.
Việc Hoa Kỳ chiếm Cuba và nhất là Philippines sau cuộc chiến với Tây Ban Nha năm 1898 có liên hệ trực tiếp với tham vọng thâm nhập thị trường Trung Quốc, đồng thời tạo thành bàn đạp chiến lược để Mỹ tiến sâu vào châu Á, khẳng định vị thế cường quốc Thái Bình Dương. « Đây là một phần của bước ngoặt chủ nghĩa đế quốc, đánh dấu sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một cường quốc thế giới vào thời điểm đó. Đồng thời, đó cũng là thời điểm Washington hầu như chính thức thâu tóm Hawai ».
Nhưng chính ở giai đoạn này đã làm xuất hiện nghịch lý đầu tiên trong quan hệ Mỹ - Trung. Trong khi Washington yêu cầu Bắc Kinh mở cửa cho hàng hóa Mỹ, thì Hoa Kỳ lại đóng cửa với người Trung Quốc khi ban hành đạo luật « Loại trừ » (Loi d’Exclusion) năm 1882, cấm phần lớn người Trung Quốc nhập cư vào Mỹ. Luật này được đưa ra sau « những hành động bạo lực chống người Trung Quốc », khiến gần 1000 người thiệt mạng, đặc biệt là những người đã tham gia xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa.
Sự mâu thuẫn này trong chính sách của Mỹ khó hiểu đến mức, nhà báo Yves Guillot, trên tờ Le Siècle (Thế kỷ) ngày 27/06/1900, phải viết : « Người Mỹ [...] mở cửa Trung Quốc cho chính họ và các sản phẩm của họ, nhưng họ lại có ý định đóng cửa nước Mỹ đối với người Trung Quốc. Làm sao người Trung Quốc có thể hiểu được logic này ? »
Một chi tiết khác cũng được nhà sử học Pierre Grosser nhắc đến là vào đầu thế kỷ XX, đã tồn tại những định kiến rất giống với những lời chỉ trích nhắm vào Trung Quốc ngày nay. « Ngay từ thời đó đã tồn tại một quan niệm gắn liền người Trung Quốc với ma túy. Và ngày nay, với vấn đề fentanyl, chúng ta thấy ý tưởng cũ ấy được khơi lại theo cách tương tự : người Trung Quốc bị cáo buộc là nguồn gốc mang ma túy đến Mỹ, tìm cách lách các hàng rào thuế quan và đôi khi gian lận về bản chất hay thành phần thực sự của hàng hóa. »
1943 : Roosevelt đặt cược vào Trung QuốcChiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ, Trung Quốc nằm trong số các quốc gia kháng chiến chống đế quốc Nhật mạnh mẽ nhất. Pierre Grosser nhấn mạnh rằng, trên thực tế Trung Quốc đã tham chiến sớm hơn nhiều so với cường quốc khác. « Trung Quốc đã chiến đấu đơn độc từ năm 1931 trở đi, ngay cả khi chúng ta coi chiến tranh bắt đầu từ năm 1937. Khi sự leo thang giữa Trung Quốc và Nhật Bản thực sự bắt đầu, thì Hoa Kỳ chỉ tham gia chiến tranh vào tháng 12 năm 1941. Trước đó, điều gì đã xảy ra ? Mỹ cũng giống như Liên Xô, đã hỗ trợ Trung Quốc để kìm chân Nhật Bản, ngăn chặn họ tấn công vào phía bắc hoặc cuối cùng là về phía Hoa Kỳ. »
Trong bối cảnh này, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã có một quyết định mang ý nghĩa lịch sử. Ngày 11/01/1943, Hoa Kỳ ký « Hiệp ước Trung – Mỹ về miễn áp dụng luật ngoài lãnh thổ tại Trung Quốc ». Trong điều khoản thứ 3 có ghi, xin trích : « Hoa Kỳ từ bỏ quyền quản lý và kiểm soát tại Trung Quốc và đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong việc đạt được sự từ bỏ các quyền đó từ các quốc gia khác. »
Điều này có nghĩa là Mỹ từ bỏ các đặc quyền ngoại trị từng áp đặt lên Trung Quốc từ thời các « hiệp ước bất bình đẳng », theo đó, các quyền tài phán của Phương Tây cho phép công dân nước ngoài trốn tránh công lý của Trung Quốc. Những đặc quyền này khá phổ biến ở châu Á trong thế kỷ 19, từ lâu đã được biện minh bằng ý tưởng rằng các nước châu Á « không đủ văn minh để xét xử đúng đắn » người phương Tây.
Theo quan điểm của Pierre Grosser, động thái này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một yếu tố cốt lõi trong chính sách của Roosevelt : « Hoa Kỳ đã lôi kéo Trung Quốc trở thành một cường quốc », đưa Trung Quốc tham gia vào câu lạc bộ các cường quốc lớn. Như một phần thưởng, Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã giành được một ghế trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc tương lai vào năm 1943. Và Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ký Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, được tham gia các cuộc đàm phán lớn về trật tự kinh tế quốc tế như Bretton Woods.
Ngày nay, Bắc Kinh vẫn thường nhắc lại giai đoạn này để chứng minh rằng Trung Quốc không phải là một cường quốc mới nổi. Theo lập luận của họ, Trung Quốc đã được các đồng minh thắng trận công nhận là một cường quốc từ năm 1945.
1950 : Cuộc đối đầu quân sự Mỹ - Trung đầu tiênNăm 1949, Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bại trận, Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài Loan, thành lập nước Trung Hoa Dân Quốc. Đây thực sự là một cú sốc lớn, ám ảnh giới chính khách Mỹ trong nhiều năm sau đó. Chủ nghĩa MaccarThy bài cộng sản ra đời từ đó ở Mỹ.
Năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ buộc Mao Trạch Đông phải điều khoảng một triệu quân sang Triều Tiên, khiến người con trai ông yêu quý nhất bị thiệt mạng. Theo Pierre Grosser, quyết định này của Mao Trạch Đông ít nhất vì ba động cơ : Thứ nhất là vì lợi ích an ninh. Bắc Kinh không thể chấp nhận việc quân đội Mỹ tiến sát biên giới Trung Quốc. Thứ hai là lý tưởng cách mạng. Và thứ ba, thường là yếu tố hay bị bỏ qua nhất, đó là nhu cầu củng cố quyền lực trong nước.
« Bằng cách phóng đại mối đe dọa từ Mỹ và nguy cơ về một cuộc “phản cách mạng toàn cầu” do Hoa Kỳ dẫn dắt, đặc biệt là nguy cơ can thiệp từ bên trong Trung Quốc, đây là một cách để củng cố quyền lực và trấn áp mọi hình thức có thể thách thức chế độ cộng sản. Và vì thế, từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1951 đã diễn ra một chiến dịch trấn áp đẫm máu, khiến khoảng từ 500.000 đến 600.000 người thiệt mạng ».
Tuy nhiên, chuyên gia về châu Á Pierre Grosser đánh giá, hệ quả lớn nhất của cuộc chiến lại liên quan đến Đài Loan. Trước chiến tranh, Washington đã phần nào mất niềm tin vào Tưởng Giới Thạch. Nhưng chiến tranh Triều Tiên đã khiến Mỹ thay đổi hoàn toàn chính sách. Hạm đội 7 được điều tới eo biển Đài Loan và từ đó Mỹ chính thức trở thành lá chắn an ninh của hòn đảo. Đối với nhà sử học, đây là một bước ngoặt chiến lược quyết định, bởi vì Đài Loan từ đó trở thành điểm nóng lâu dài trong quan hệ Mỹ - Trung.
1972 và cú bắt tay « lịch sử » Nixon – Mao Trạch ĐôngNgày 28/02/1972, hình ảnh tổng thống Mỹ Richard Nixon, nổi tiếng chống cộng sản bắt tay chủ tịch đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã gây chấn động thế giới. Sự xích lại gần này, theo ông Pierre Grosser, đầu tiên bắt nguồn từ nhu cầu của Trung Quốc, diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi quan trọng :
« Điều cốt lõi mang tính bước ngoặt là sự rạn nứt quan hệ Trung – Xô. Sự rạn nứt này thậm chí đã leo thang đến mức suýt nổ ra chiến tranh thực sự. Dĩ nhiên, chiến tranh đã không bùng nổ vì leo thang không đến mức mất kiểm soát. Tuy nhiên, vào năm 1969, nhiều cuộc đụng độ nghiêm trọng dọc theo biên giới phía bắc giữa Trung Quốc và Liên Xô đã nổ ra. Từ đó, Mao Trạch Đông dần dần cho rằng kẻ thù số một của Trung Quốc là Liên Xô chứ không còn là Hoa Kỳ nữa. Chính điều này đã phần nào tạo thuận lợi cho quá trình xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ».
Nếu như cuộc gặp lịch sử này thường được thần thoại hóa như là một đòn chiến lược thiên tài của bộ đôi Nixon – Kissinger, đối với nhà nghiên cứu về châu Á, sự thay đổi này đã được chuẩn bị từ trước và xuất phát từ nhu cầu chiến lược của cả hai bên. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh Mỹ sa lầy trong Chiến tranh Việt Nam. Và do vậy Washington kỳ vọng Bắc Kinh sẽ gây áp lực với đồng minh cộng sản Việt Nam để có được một thỏa thuận hòa bình.
Theo Pierre Grosser, nước cờ cho thấy là « vô ích ». Cộng sản Việt Nam kiên định duy trì thế tự chủ chiến lược, và thậm chí còn nuôi dưỡng sự ngờ vực lâu dài đối với Trung Quốc khi nhìn thấy nước này đang đàm phán với kẻ đang ném bom họ. Dù vậy, sự kiện này đã mở đường cho việc bình thường hóa bang giao Mỹ - Trung vào cuối thập niên 1970, và tạo đà cho Trung Quốc bước vào giai đoạn cải cách mở cửa.
2021 : Ngày Hoa Kỳ tạo ra đối thủ…Ngày 07/04/1999, tại Nhà Trắng, tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố : « Nếu Trung Quốc chấp nhận những trách nhiệm đi kèm với việc gia nhập WTO, điều đó sẽ mang lại cho Hoa Kỳ khả năng tiếp cận rộng lớn đối với thị trường Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy nhanh hơn các cải cách nội bộ tại quốc gia này. Nếu Trung Quốc sẵn sàng tuân thủ các quy tắc của thương mại quốc tế, thì sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu Hoa Kỳ nói không. »
Từ thập niên 1970, tại Mỹ, đã tồn tại một niềm tin chiếm ưu thế cho rằng Trung Quốc sẽ là một « miền đất hứa » về kinh tế. Và việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ làm thay đổi đất nước này từ bên trong. Điều đáng chú ý là các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng chia sẻ tính toán nhưng không theo cách như Hoa Kỳ và các nước phương Tây nghĩ : Trung Quốc xem việc gia nhập WTO như là một đòn bẩy để thúc đẩy cải cách nhằm thay đổi bộ máy quan liêu trong nước.
Tuy nhiên, canh bạc này còn được dựa trên một sự tính toán kinh tế rất cụ thể. Sử gia Pierre Grosser tóm tắt học thuyết do Robert Reich, bộ trưởng Lao Động Mỹ thời tổng thống Bill Clinton nêu ra như sau :
« "Trong tiến trình toàn cầu hóa này, chúng ta sẽ giữ lại những công việc được trả lương cao nhất, các khâu thiết kế và sáng tạo." Ở phía bên kia sẽ là những lao động Trung Quốc đảm nhận công việc sản xuất. Họ chỉ cần nhận hướng dẫn qua máy tính về cách thức chế tạo sản phẩm, thực hiện khâu gia công rồi gởi thành phẩm trở lại. Và như vậy đôi bên sẽ cùng có lợi. Tóm lại, nước Mỹ sẽ giữ những công việc sáng tạo, hấp dẫn nhất bởi vì tôi không nói là ông ấy nói như thế, nhưng hàm ý rằng, Trung Quốc sẽ không bao giờ có thể nâng cấp công nghệ sản phẩm ».
Nhưng những thực tế sau này đã cho thấy đây là một tính toán sai lầm, khi Trung Quốc dần trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Mỹ trong nhiều lĩnh vực chiến lược. Việc hy vọng thương mại sẽ thúc đẩy dân chủ hóa Trung Quốc, chỉ là một ảo tưởng. Theo giải thích của Pierre Grosser, « đúng là có hy vọng đó (…) Nhưng ngay từ giữa những năm 1990 người ta đã thấy rằng những người siêu giàu và tầng lớp trung lưu không nhất thiết sẽ ủng hộ dân chủ. Người ta đã phần nào thấy rõ điều đó. Họ đã từng có hy vọng như vậy nhưng xét cho cùng, những lý do kinh tế mới là động lực chính khiến chính sách này được thúc đẩy ».
Tuy nhiên, sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã chuyển hướng toàn bộ sự chú ý của Hoa Kỳ sang Trung Đông. « Mỹ sa lầy ở Trung Đông trong suốt mười lăm năm, » trong khi đó, theo Pierre Grosser, « Trung Quốc lại phát triển mạnh mẽ trong những năm 2000 mà hầu như không bị Mỹ chú ý đến. »
2026 : Trận đấu thế kỷNgày 13/05/2026, nhân cuộc họp thượng đỉnh Mỹ - Trung diễn ra ở Bắc Kinh, chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố : « Hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai bên, trong khi đối đầu sẽ gây tổn hại cho cả hai. Chúng ta cần hỗ trợ lẫn nhau để cùng thành công và cùng thịnh vượng, qua đó mở ra một con đường mới : con đường chung sống hòa thuận giữa các cường quốc trong kỷ nguyên mới ».
Theo Pierre Grosser, tuyên bố trên của ông Tập Cận Bình không có gì là mới mẻ : Điều này nằm trong chiến lược nhất quán nhằm thể hiện Trung Quốc là một cường quốc có trách nhiệm và lý trí, đối lập với hình ảnh một nước Mỹ bị xem là thất thường, khó đoán định. Kể từ năm 2008, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Hoa Kỳ đã bước vào giai đoạn suy yếu, cả về kinh tế lẫn địa chính trị.
Nhà sử học nhắc lại : « Tập Cận Bình từng nói rằng thế giới đang có những biến đổi chưa từng có từ một thế kỷ nay. Và một trong những biến đổi đó là Trung Quốc hiện đang lấy lại vị thế của mình, trở thành một đại cường, chứ không phải là một siêu cường, bởi vì, siêu cường thì không tốt, siêu cường gây chiến tranh, còn một cường quốc lớn đương nhiên phải được đối xử với sự tôn trọng ».
Vị chuyên gia này còn nhắc thêm rằng, « Trung Quốc thích suy nghĩ trong dài hạn, đồng thời thường xuyên nhắc lại rằng họ có hàng nghìn năm lịch sử, trong khi đó Hoa Kỳ mới chuẩn bị kỷ niệm 250 năm lịch sử của mình ».
Dù vậy, Pierre Grosser cũng lưu ý thêm rằng, cạnh tranh Trung – Mỹ hiện nay chưa hẳn là một cuộc Chiến Tranh Lạnh giống như thế kỷ XX do sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau về kinh tế giữa hai ông khổng lồ, « ngay cả khi hiện nay sự phụ thuộc của Trung Quốc vào Hoa Kỳ ít hơn nhiều so với bảy hoặc tám năm trước, bởi vì đã có cuộc chiến thương mại nhưng cũng vì giờ đây Trung Quốc tiến hành giao thương và đầu tư vào châu Á, quan tâm đến châu Âu và thậm chí người ta thường xuyên nói đến sự hiện diện của Trung Quốc ở châu Phi ».
Sử gia Pierrer Grosser nhìn nhận hiện nay Trung Quốc đang nỗ lực củng cố thế tự chủ về tài chính do lo ngại phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt quy mô lớn nếu xảy ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt liên quan đến Đài Loan, giống như những gì Nga và Iran đang trải qua.
Tóm lại, sự cạnh tranh giữa hai đại cường hàng đầu thế giới tồn tại đồng thời với nhu cầu hợp tác. Raymond Aron, một triết gia, nhà xã hội học, khoa học chính trị nổi tiếng người Pháp về Chiến tranh Lạnh chẳng phải đã từng nói : « Chiến tranh là điều không thể, nhưng hòa bình hoàn toàn cũng khó xảy ra ». Theo nhiều khía cạnh, công thức này có lẽ phản ảnh khá chính xác mối quan hệ Mỹ - Trung hiện nay !
Ngày 17/08/2026, vài giờ trước khi diễn ra cuộc tập trận thường niên Mỹ - Hàn Ulchi Freedom Shield (Lá chắn tự do), tổng thống Mỹ Donald Trump bất ngờ thông báo giảm thời lượng chiến dịch. Theo giới quan sát, những động thái khó lường của nguyên thủ Mỹ có nguy cơ làm suy yếu một trong những nền tảng quan trọng nhất trong cấu trúc an ninh Đông Bắc Á hiện nay là tam giác an ninh bao gồm Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Trump trừng phạt Seoul ?Trên mạng xã hội Truth Social, ông đánh giá rằng cuộc tập trận « tốn kém » này gởi đi « một tín hiệu hoàn toàn không phù hợp và mang tính thù địch » đến Bình Nhưỡng. Ngoài ra, cuối thông điệp, tổng thống Trump còn khiển trách Hàn Quốc đã « từ chối » hỗ trợ Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống Iran trong khi Washington có những cam kết bảo đảm an ninh cho Seoul. Trả lời Reuters, bà Jenny Town, giám đốc chương trình 38 Vĩ tuyến bắc, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Stimson, trụ sở tại Hoa Kỳ, nhận định :
« Theo tôi, đây là một động thái chưa từng có tiền lệ khi gắn hai vấn đề hoàn toàn khác biệt lại với nhau. Đây là những cuộc tập trận thường kỳ của một liên minh đã tồn tại hơn 70 năm qua. Chiến dịch này không phải là một hành động đặc biệt nhắm vào bất kỳ quốc gia nào. Việc nói rằng "chúng tôi sẽ giảm quy mô tập trận vì quý vị không đáp ứng yêu cầu trước đây về một hành động quân sự ở khu vực khác" đơn giản không phải là cách người ta hành xử với đồng minh. Đặc biệt là với đồng minh mà bạn đã cam kết bảo vệ an ninh. Hiện Mỹ đang duy trì khoảng 28.500 quân nhân trên bán đảo Triều Tiên để bảo vệ khu vực này. »
Những phát biểu này của Donald Trump không chỉ gây ngỡ ngàng cho các đồng minh trong khu vực, mà còn khiến giới quan sát khó hiểu: Ông Trump đang có những tính toán gì tại châu Á ? Một số nhà phân tích cho rằng động thái này của ông Trump là nhằm mục tiêu đối nội. Ông muốn chuyển hướng công luận về thất bại chiến lược quân sự trong cuộc xung đột với Iran, đã kéo dài gần chín tháng và hiện đang rơi vào tình trạng bế tắc, khi chỉ còn vài tháng nữa là đến bầu cử giữa kỳ.
Đổi đầu tư lấy cam kết an ninh ?Tuy nhiên, theo nhiều kênh truyền thông Mỹ, tổng thống Hoa Kỳ dường như đang dùng cuộc tập trận như là một công cụ ngoại giao để gây sức ép với Hàn Quốc, buộc nước này tăng tốc thực hiện khoản đầu tư trị giá 350 tỷ đô la để đổi lấy mức thuế quan thấp hơn. Ngoại trưởng Hàn Quốc Cho Hyun hôm 19/08 xác nhận sự việc trước Quốc Hội.
Theo trang CNBC, tin nhắn của ông Trump được đăng đúng thời điểm bộ trưởng Thương Mại Hàn Quốc Kim Jung Kwan đến Washington để thảo luận với đồng cấp Mỹ Howard Lutnick về các cam kết đầu tư và vấn đề thuế quan. Còn trang Politico, dẫn các nguồn tin am hiểu vấn đề, cho biết quyết định của Trump một phần xuất phát từ việc ông không hài lòng với tiến độ triển khai các khoản đầu tư của Hàn Quốc, vốn được cho là chậm hơn Nhật Bản.
Đây cũng không phải là lần đầu tiên ông Trump sử dụng cuộc tập trận như một đòn bẩy ngoại giao. Nhà báo Arnaud Vaulerin, trong chương trình phát thanh France Culture, nhắc lại : « Khi diễn ra cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên giữa Kim Jong Un và Donald Trump tại Singapore năm 2018, ông Trump cũng đã yêu cầu đình chỉ các cuộc tập trận chung Mỹ - Hàn. Vì vậy, đây là một đòn bẩy mang tính giao dịch mà ông ấy luôn sử dụng. »
Chuyên gia Jenny Town nhìn nhận, ngay khi trở lại Nhà Trắng trong nhiệm kỳ hai, Donald Trump đã nhiều lần phát tín hiệu muốn nối lại các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, theo bà, « cách thức thực hiện lần này khá tùy tiện và khó có thể tạo ra tác động như ông mong muốn, nhất là khi hiện tại không có bất kỳ tiến trình đàm phán thực chất nào đang diễn ra ».
Tập trận thường niên Mỹ - Hàn không đơn thuần là huấn luyện tác chiến. Hoạt động quân sự này còn là biểu tượng hữu hình cho cam kết an ninh mà Washington dành cho Seoul. Hàng năm, hàng chục ngàn binh sĩ tham gia các cuộc diễn tập nhằm kiểm tra khả năng phối hợp trước các kịch bản từ tấn công tên lửa, chiến tranh mạng, cho đến xung đột quy mô lớn trên bán đảo Triều Tiên.
Trump làm suy yếu thế răn đe của Hàn QuốcViệc chính quyền Donald Trump quyết định rút ngắn thời lượng diễn tập vào phút chót trong khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất và binh sĩ đã sẵn sàng, là một sự lãng phí. Chuyên gia Jenny Town nhận định đây không phải là một quyết định khôn ngoan, bởi cuộc tập trận lần này là một trong những chương trình đầu tiên thực sự tích hợp nhiều bài học rút ra từ các cuộc chiến tranh hiện đại, đặc biệt là cuộc chiến Ukraina:
« Đặc biệt là khi xem xét các phương thức tác chiến hiện đại cũng như tính chất đa miền của chúng, tôi cho rằng đây thực sự là giai đoạn đầu tiên chúng ta bắt đầu chứng kiến việc triển khai các cuộc diễn tập đa miền và diễn tập ứng phó tình huống khẩn cấp; qua đó chúng ta có thể hình dung các kịch bản xung đột khác nhau và đánh giá mức độ sẵn sàng của mình trước những tình huống đó, đồng thời nỗ lực nhận diện các điểm yếu của chính mình trong quá trình này. Vì vậy, tôi thực sự cho rằng đó là một quyết định vội vàng và sẽ gây ảnh hưởng đến khả năng sẵn sàng của liên minh. »
Chuyên gia Marianne Péron Doise, giám đốc Đài Quan sát Địa Chính trị về vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), cũng có cùng một quan điểm : Quyết định đơn phương của Mỹ đã làm suy giảm phần nào năng lực răn đe và tác chiến của đồng minh Hàn Quốc, vào lúc nước này đang phải đối mặt với mối đe dọa Bắc Triều Tiên ngày càng lớn, mà cuộc chiến Ukraina được cho là một bước ngoặt chiến lược quan trọng cho tình hình an ninh bán đảo Triều Tiên.
Trả lời đài France Culture, bà phân tích tiếp : « Nếu nhìn vào Bắc Triều Tiên và đặt trong bối cảnh rộng hơn, dù mức độ không hoàn toàn giống với chiến trường Châu Âu, việc Bình Nhưỡng nay thường xuyên triển khai binh sĩ sang chiến đấu cùng với quân đội Nga trong cuộc chiến tranh xâm lược Ukraina đã giúp họ có điều kiện tích lũy và nâng cao kinh nghiệm tác chiến trên thực địa. Đó là chưa kể đến việc Bắc Triều Tiên đã củng cố các năng lực hạt nhân và tên lửa đạn đạo.
Vì thế, mức độ dễ bị tổn thương của Hàn Quốc đang gia tăng đáng kể. Tuy nhiên, không chỉ có yếu tố mang tính "sỉ nhục" đối với một đồng minh rất thân cận đang trên tuyến đầu là Hàn Quốc, hành động này của tổng thống Mỹ còn có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của chính các lực lượng Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc. Điều mà chính quyền Trump có thể chưa lường trước được, vì cuối cùng chúng sẽ làm suy yếu các năng lực tác chiến, phản ứng cũng như khả năng phối hợp hiệu quả giữa lực lượng Mỹ và Hàn Quốc ».
Nhật Bản thấp thỏm lo cho an ninh quốc giaViệc giảm quy mô hay thời lượng tập trận có thể không làm thay đổi tức thời tương quan lực lượng trong khu vực, nhưng đang gởi đi tín hiệu rằng Washington sẵn sàng điều chỉnh các cam kết chiến lược vì những tính toán chính trị ngắn hạn. Và đối với Tokyo, thông điệp không chỉ dành riêng cho Seoul này là thật sự đáng lo ngại, vào lúc Nhật Bản, vốn phụ thuộc nhiều vào Hoa Kỳ về an ninh, hiện đang đối diện cùng lúc với các đe dọa an ninh quốc gia đến từ ba nước có vũ khí hạt nhân là Nga, Bắc Triều Tiên và Trung Quốc.
Phát biểu của ông Trump diễn ra một thời gian ngắn sau chuyến thăm của tổng thống Nga Vladimir Putin đến bốn đảo phía bắc của quần đảo Kuril do Matxcơva kiểm soát nhưng Tokyo đòi chủ quyền. Liệu hành động này của nguyên thủ Nga có nhằm mục đích trắc nghiệm mức độ bền vững của quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật? Chuyên gia địa chính trị Marianne Péron Doise phân tích tiếp :
« Tôi nghĩ rằng tổng thống Nga thực sự muốn nhắc nhở Nhật Bản về cuộc tranh chấp tồn tại từ lâu này, đồng thời tái khẳng định đó vẫn là nguồn gốc bất ổn và đe dọa tiềm tàng. Tuy nhiên, thông điệp này không chỉ mang tính song phương mà còn nằm trong bối cảnh khu vực rộng lớn hơn. Nga đang thể hiện thế chủ động trong hồ sơ này, một cuộc tranh chấp đã kéo dài nhiều năm, nhưng chính phủ Nhật Bản trước đây đã chọn không làm trầm trọng thêm. Theo thỏa thuận ngầm, hai bên tránh những chuyến thăm hoặc hành động quá nổi bật có thể gợi nhắc đến sự hiện diện của Nga cũng như yêu sách chủ quyền của Nhật Bản đối với bốn hòn đảo thuộc quần đảo Kuril, mà Tokyo gọi là " lãnh thổ phương bắc".
Hiện nay, Nhật Bản có một chính phủ mới thể hiện lập trường quyết đoán hơn nhiều trong các vấn đề quốc phòng, với bà Takaichi, được ủng hộ bởi một phong trào dân tộc chủ nghĩa rất mạnh mẽ. Vì vậy Matxcơva muốn "vạch ra lằn ranh đỏ" đối với chính phủ mới này, thăm dò khả năng phản ứng của Nhật Bản. Rộng hơn, Nga muốn cho thấy khả năng gây sức ép hoặc tạo bất ổn trên nhiều mặt trận cùng lúc, trong bối cảnh Nhật Bản đang phải đối diện với những nước láng giềng bị xem là mối đe dọa nghiêm trọng, gồm Nga, Triều Tiên và Trung Quốc. »
Trump làm tổn hại uy tín của Mỹ ?Xin nhắc lại, trong những năm gần đây, Mỹ đã thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác an ninh ba bên Mỹ-Nhật-Hàn, đặc biệt dưới thời tổng thống Joe Biden. Các cuộc tập trận chung, chia sẻ thông tin tình báo và cơ chế phối hợp ứng phó khủng hoảng là những thành tựu quan trọng của chiến lược khu vực. Mục tiêu không chỉ răn đe Bắc Triều Tiên mà còn duy trì cán cân quyền lực đối phó với đà trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc.
Trong bối cảnh này, giới quan sát lo ngại, quyết định của ông Trump có nguy cơ làm suy yếu một trong ba kiềng của cấu trúc an ninh. Toàn bộ hệ thống có nguy cơ bị tác động và Nhật Bản có lý do để lo ngại sự gắn kết chiến lược mong manh giữa ba nước có thể bị suy giảm.
Trước mắt, liên minh Mỹ-Hàn chưa thể sụp đổ nhưng mối nguy lớn nhất là sự xói mòn dần dần niềm tin chính trị. Nhà nghiên cứu Yu Jihoon, Viện Phân tích Quốc Phòng Hàn Quốc, cảnh báo : « Nếu người dân Hàn Quốc bắt đầu tin rằng các cam kết an ninh hoặc các cuộc tập trận quân sự có thể bị sử dụng như một công cụ mặc cả cho những vấn đề không liên quan như Iran, đầu tư, thương mại hay các bất đồng đối ngoại khác, thì độ tin cậy vào uy tín của Mỹ cũng sẽ suy giảm theo ».
Dịch bệnh, chiến tranh, khủng hoảng tài chính hay bất ổn chính trị thường dẫn đến suy thoái và khó khăn cho nhiều quốc gia. Thế nhưng với Geneve, Thụy Sĩ, những biến động đó nhiều lần trở thành cơ hội để gia tăng sự giàu có và củng cố vị thế quốc tế của thành phố này. Minh chứng mới nhất là vào tháng 03/2026, chính quyền bang Geneve công bố thặng dư ngân sách 50 triệu franc Thụy Sĩ cho năm 2025.
Bất chấp các cuộc khủng hoảng quốc tế liên tiếp xảy ra, thành phố đắt đỏ hàng thứ tư thế giới vẫn tiếp tục thịnh vượng. Và đây cũng là năm thứ sáu liên tiếp Geneve công bố thặng dư ngân sách. Làm thế nào giải thích cho sự ổn định đáng ngạc nhiên này ? Theo Marc Guéniat, nhà báo điều tra của nhật báo Thụy Sĩ Le Temps, đó không phải là một hiện tượng mới, mà là một sự tiếp nối liên tục trong dòng lịch sử của Geneve từ hơn bốn thế kỷ.
Sự giầu có đến từ PhápNền tảng cho sự thịnh vượng của Geneve trước hết được xây dựng trên vai trò là một vùng đất trú ẩn, bắt đầu từ thế kỷ XVI với cuộc Cải cách Tin Lành do nhà thần học người Pháp có sức ảnh hưởng mạnh mẽ là Jean Calvin thực hiện. Cuộc cải cách này đã biến Geneve thành trung tâm của đạo Tin Lành tại châu Âu, được mệnh danh là « La Mã của người Tin Lành ».
Thành Geneve trở thành điểm đến cho những người bị đàn áp tôn giáo vào thời kỳ đó, đặc biệt là từ Pháp, sau khi các chính sách khoan dung tôn giáo ở Pháp bị bãi bỏ, nhiều tín đồ Tin Lành buộc phải rời bỏ quê hương. Trên làn sóng đài phát thanh France Culture, ngày 22/05/2026, phóng viên điều tra Marc Guéniat và cũng là tác giả tập sách « Genève confidentielle, la ville qui aimait l'argent des autres » (tạm dịch: Bí mật Genève, thành phố yêu chuộng tiền của người khác, NXB Stock), giải thích :
« Một làn sóng nhập cư cộng đồng tín hữu Kháng Cách (Huguenot), những tín hữu Tin lành Pháp đã đến định cư tại Geneve. Họ mang theo tài năng, di sản, của cải, kiến thức chuyên môn và mạng lưới thương mại. Một khi ổn định, họ tiếp tục sử dụng những nguồn lực ấy, để rồi từ Geneve xuất khẩu kiến thức và chuyên môn của họ sang Pháp. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng Geneve đã trở nên giàu có hơn đáng kể là nhờ Pháp. »
Nhờ đó Geneve dần dần xây dựng sức mạnh kinh tế dựa trên khả năng thu hút nguồn vốn, các mối quan hệ thương mại và tri thức chuyên môn từ bên ngoài. Động lực này tiếp tục được củng cố nhờ những cơ hội kinh doanh bất ngờ. Marc Guéniat nhắc đến trường hợp nổi tiếng của « indiennes », loại vải cotton in hoa rất được ưa chuộng nhưng từng bị cấm ở Pháp:
« Một ví dụ khác là vải bông (cotton) in hoa văn, mà Vua Louis XIV đã cố gắng cấm ở Pháp vào cuối thế kỷ 17 và suốt thế kỷ 18. Loại vải này rất thời thượng và rất được người Pháp ưa chuộng. Chúng bị cấm trên lãnh thổ của họ. Chính người dân Geneve đã bắt đầu sản xuất và xuất khẩu chúng thông qua các mạng lưới buôn lậu. Và một lần nữa, hoạt động đó đã làm giàu cho Geneve. »
Thế giới bất ổn là một cơ hộiTừ đó người ta có thể rút ra một nghịch lý lịch sử : Geneve đã làm giàu đáng kể nhờ chính nước Pháp. Ngày nay, khả năng thích ứng ấy của Geneve vẫn thể hiện rõ trong nền kinh tế hiện đại. Trong khi các cuộc khủng hoảng quốc tế làm suy yếu nhiều quốc gia, thành phố đắt hàng thứ tư thế giới vẫn biết cách biến bất ổn thành cơ hội kinh tế.
« Ví dụ trong đại dịch Covid-19, thế giới rơi vào khủng hoảng, mọi thứ gần như đình trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, thì tại Geneve, 300 hãng kinh doanh nguyên nhiên liệu, nhất là các tập đoàn kinh doanh dầu mỏ, đã hoạt động tích cực và thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ. Chúng được phản ảnh trong ngân sách liên bang thông qua thuế đánh vào lợi nhuận của những công ty này và các khoản thu nhập từ nhân viên của họ. Có thể nói, Geneve đã vượt qua được khủng hoảng này rất tốt.
Và kịch bản này cũng đã được lặp lại với cuộc chiến ở Ukraina. Một cuộc khủng hoảng năng lượng lớn đã diễn ra. Trên khắp châu Âu, tại các nước phương Tây, người ta bắt đầu tự hỏi liệu có nên giảm tiêu thụ điện năng hay không. Và một lần nữa, giá cả tăng vọt và các cuộc đàm phán về nguyên liệu thô đã diễn ra. Khoảng 300 công ty trên, bao gồm cả chi nhánh của hãng Total của Pháp, đã thu được những khoản lợi nhuận to lớn và tất nhiên là thặng dư kỷ lục trong ngân sách liên bang. »
Như « món lộc trời ban », Geneve sở hữu một « khả năng chống chịu phi thường », nhờ vậy thành phố hưởng lợi từ những biến động địa chính trị toàn cầu, hay nói như Voltaire, triết gia người Pháp, là « từ những sai lầm gây ra ở nước ngoài ».
Ổn định chính trị : Lá chủ bài cho sự hưng thịnhNhưng Geneve đâu chỉ có những hình ảnh tích cực. Trong một phim tài liệu do đài truyền hình Thụy Sĩ RTS thực hiện, khi được hỏi « Theo quý vị, sự thịnh vượng của Thụy Sĩ từ đâu mà có ? », nhiều người trong số họ trả lời « nhờ vào các ngân hàng ». Đối với Geneve nói riêng và Thụy Sĩ nói chung, câu chuyện về « bí mật ngân hàng » ngày nay là khá quen thuộc. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 từng làm thổi bùng lên dự đoán rằng sự suy giảm dần của bí mật ngân hàng sẽ kéo theo sự sụp đổ của mô hình tài chính Geneve. Nhưng điều đó đã không xảy ra.
Ngược lại, thành phố giàu có này đã tái tạo mô hình tài chính của mình. Với cuộc khủng hoảng đồng euro (2010 – 2012), một lần nữa hình ảnh về một nước Thụy Sĩ như là nơi « trú ẩn an toàn » lại nổi lên mạnh mẽ. Theo Marc Guéniat, chưa bao giờ lượng vốn đổ vào các ngân hàng Thụy Sĩ lại nhiều đến như thế trong giai đoạn đó. Sức hấp dẫn này trước hết là nhờ vào sự ổn định chính trị ngoại lệ của Thụy Sĩ:
« Trong 150 năm qua, Thụy Sĩ vẫn có cùng một kiểu chính phủ điều hành, với một Quốc Hội ổn định, không hề có bất kỳ biến động lớn nào. Họ không đột nhiên có một François Mitterrand được bầu lên nắm quyền, cũng không đột nhiên có một Nicolas Sarkozy được bầu. Thụy Sĩ đi theo một con đường gần như đã được định sẵn, và đó là điều mà người ta gọi là ổn định chính trị. Đây là một lợi thế đáng kể cho những người giàu có hoặc các doanh nhân, cho phép họ lập kế hoạch cho tương lai. Tôi nghĩ đó là một yếu tố then chốt của sự thịnh vượng của đất nước. »
Dù vậy, Marc Guéniat cũng nhìn nhận đằng sau sự ổn định đó, vẫn tồn tại những cơ chế tài chính ít minh bạch : « Tuy bí mật ngân hàng đã biến mất, nhưng vẫn còn một loạt các dịch vụ tài chính bình phong được Geneve cung cấp, thông qua đội ngũ các luật sư và người ủy thác cung cấp nhiều dịch vụ cho phép bạn cất giấu tiền để trốn thuế bất chấp việc trao đổi thông tin thuế tự động, bằng cách thành lập các công ty bình phong ở Bahamas hoặc các thiên đường thuế ở vùng Caribê. Vì vậy, cơ chế này về cơ bản vẫn còn tồn tại. »
Trong số các dịch vụ này, « cảng miễn thuế - port franc » là một ví dụ tiêu biểu. Marc Guéniat cho biết: « Cảng miễn thuế là các kho ngoại quan cho phép mọi người đăng ký hàng hóa, đặc biệt là các kiệt tác, và lưu trữ chúng mà không phải trả thuế trị giá gia tăng TVA. Điều này rõ ràng giúp tiết kiệm chi phí TVA, và sau đó cho phép họ lưu trữ tác phẩm nghệ thuật, âm thầm đầu cơ vào việc làm tăng giá của những thứ hàng hóa đó, và sau đó bán lại, với việc người mua phải trả thuế TVA ».
Những điểm mong manh tiềm tàngDù sở hữu một nền kinh tế mạnh mẽ, Geneve cũng không tránh khỏi những căng thẳng xã hội ngày càng gia tăng. Trong nhiều thập niên sau Đệ Nhị Thế Chiến, thành phố này đã xây dựng được một sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Marc Guéniat giải thích :
« Sau chiến tranh, Thụy Sĩ đã hình thành một loại liên minh chính trị giữa các đảng tự do, các đảng trung hữu và các đảng dân chủ xã hội, những đảng này đã được hợp nhất vào các chính phủ liên minh ở cả cấp bang và liên bang. Và kết quả của liên minh này là việc duy trì luật pháp thân thiện với doanh nghiệp, mang tính tự do, thuận lợi cho tinh thần kinh doanh, đồng thời cho phép phát triển một hệ thống phúc lợi xã hội đủ mạnh để bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất. »
Mô hình này đã mang lại nhiều cơ hội thăng tiến xã hội cho con cháu những người nhập cư sau Thế Chiến Thứ Hai. Tuy nhiên, theo Marc Guéniat, cỗ máy này bắt đầu có những dấu hiệu trục trặc trong 15 năm trở lại đây.
« Thành phố đã trải qua một làn sóng nhập cư đáng kể vào thời điểm đó để xây dựng một Thụy Sĩ đang phát triển nhanh chóng như hiện nay, trong số đó có nhiều người đến từ Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Và những người này, nhờ vào khế ước xã hội, đã có thể sinh con và cho con cái họ tiếp tục học lên cao hơn, và theo một cách nào đó, con cái họ đã thành công hơn thế hệ cha mẹ. Đúng là Thụy Sĩ có một chu kỳ tích cực, tồn tại khoảng sáu mươi năm. Và trong khoảng 15 năm trở lại đây, khi chu kỳ này phần nào chững lại, người ta đang chứng kiến sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng đáng kể, và những người làm việc toàn thời gian không còn đủ sống. »
Trong suốt hơn bốn thế kỷ, Geneve đã sống cùng với các biến động lớn của lịch sử thế giới. Từ các cuộc đàn áp tôn giáo ở châu Âu, những khủng hoảng tiền tệ, các biến động tài chính toàn cầu, cho tới đại dịch và chiến tranh hiện đại, thành phố này luôn tìm thấy cơ hội giữa những bất ổn.
Chính khả năng biến khủng hoảng của thế giới thành lợi thế của mình đã làm nên nét đặc thù cho Genève. Đó có lẽ là bí mật lớn nhất đằng sau sự thịnh vượng của thành phố : Trong khi nhiều nơi nhìn thấy rủi ro, Geneve trông thấy cơ hội. Và trong một thế giới ngày càng bất ổn, lợi thế ấy dường như vẫn chưa mất đi.
Vào lúc lệnh cấm nhập khẩu khí ga hóa lỏng LNG của Nga sắp có hiệu lực, châu Âu trong vòng sáu tháng đầu năm 2026, đã mua gần như toàn bộ lượng LNG do nhà máy Yamal tại Siberia sản xuất. Sự việc cho thấy thế khó khăn của Liên Hiệp Châu Âu (EU) để thoát khỏi sự phụ thuộc vào khí đốt Nga, đồng thời phản ảnh nguy cơ làm suy yếu hiệu quả của các biện pháp trừng phạt khi khối này liên tục cho phép các ngoại lệ.
Bất chấp các biện pháp trừng phạt, châu Âu chưa thể nào khóa được vòi khí đốt Nga. Trong một báo cáo công bố hồi đầu tháng 7/2026, Cơ quan Hợp tác Điều tiết Năng lượng EU (ACER) của Liên Hiệp Châu Âu ghi nhận : « Từ tháng 01-05/2026, nhập khẩu khí đốt qua đường ống tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025, trong khi nhập khẩu khí ga hóa lỏng LNG tăng 11% ».
Các dữ liệu từ công ty phân tích Kpler, được nhật báo tài chính Anh Financial Times dẫn lại, xác nhận xu hướng trên, theo đó, trong vòng sáu tháng đầu năm, Liên Âu mua gần như toàn bộ sản lượng của dự án Yamal LNG tại Siberia, do công ty tư nhân Novatek của Nga kiểm soát, đạt mức 9,89 triệu tấn, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2025. Các nước Pháp, Bỉ và Tây Ban Nha là những nhà nhập khẩu khí đốt Nga nhiều nhất, để rồi từ đó tái xuất một phần sang các nước khác trong khu vực. Cũng theo Kpler, châu Âu dường như đã trả hơn sáu tỷ euro cho Nga.
Xung đột Trung Đông : Khí đốt Nga được lợi ?Theo ACER, việc Liên Âu tăng nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) từ Nga là do các nước và doanh nghiệp tranh thủ nhập hàng trước khi các lệnh hạn chế mới có hiệu lực, cùng với những điều chỉnh trong hợp đồng và việc giữ lại một phần LNG vốn trước đây được trung chuyển sang nơi khác. Kênh truyền hình tư nhân Pháp BFMTV, nhắc lại, trung tuần tháng 3/2026, Liên Âu đã cam kết ngưng hoàn toàn mua khí đốt Nga từ đây đến tháng 11/2027. Các quy định của EU hiện nay cấm mua khí ga hóa lỏng Nga theo hợp đồng ngắn hạn. Và kể từ ngày 01/01/2027, lệnh cấm của EU đối với các hợp đồng dài hạn sẽ có hiệu lực.
Ngoài ra, xung đột ở Trung Đông cũng làm giảm nguồn cung LNG từ Qatar, đặc biệt sau các rủi ro liên quan đến eo biển Hormuz. Vì vậy, trong giai đoạn châu Âu tích trữ khí đốt cho mùa đông, Nga tiếp tục trở thành một nguồn cung quan trọng. Về điểm này, chuyên gia Philippe Chalmin, giáo sư tại đại học Paris Dauphine, chuyên gia về thị trường nguyên nhiên liệu, trả lời kênh truyền hình tư nhân Pháp LCI, nhìn nhận, một phần nguyên nhân còn do việc khí ga tự nhiên hóa lỏng của Nga chưa bị trừng phạt, và mặt khác, đó còn là một thực tế khác khá mỉa mai : Châu Âu cần khí hóa lỏng Nga để có thể nhập khẩu ít hơn từ Mỹ.
« Điều này diễn ra trong bối cảnh toàn cầu rất căng thẳng; hầu như không có LNG nào rời khỏi vùng Vịnh Ba Tư. Gần đây người ta đã chứng kiến một vụ tấn công, gây ra mối lo ngại đáng kể, vào một cảng dầu ở Damietta, Ai Cập, mà cho đến hiện tại người ta vẫn chưa xác định được hoàn toàn nguồn gốc.
Rõ ràng là thế giới hiện đang trải qua một thời kỳ căng thẳng liên quan đến khí tự nhiên hóa lỏng. Giá khí đốt lúc này không xa mức 20 đô la Mỹ/triệu BTU (đơn vị nhiệt Anh), và điều đó tương đương với giá ở châu Âu gần 60 euro/megawatt-giờ, vì vậy chúng ta đang ở trong một tình huống tương đối khó khăn.
Có một điểm quan trọng cuối cùng cần nhấn mạnh là trước đây, khi thời tiết tốt hơn, mùa cao điểm tiêu thụ khí đốt tự nhiên là mùa đông. Hiện nay, với những đợt nắng nóng, sau điều được gọi là "mùa sưởi ấm", chúng ta có mùa hè, "mùa làm mát", hay mùa của máy điều hòa. Điều này có nghĩa là lượng tiêu thụ điện tăng lên và do đó, tỷ lệ tiêu thụ khí đốt tự nhiên cũng tăng theo. »
Lệnh trừng phạt và những mâu thuẫn của Liên ÂuTheo Cơ quan Hợp tác Điều tiết Năng lượng EU, hiện nay khí đốt Nga vẫn chiếm 12% nhu cầu của khối. Tại hai nước Đông Âu là Hungary và Slovakia, khí đốt Nga chiếm từ 70 – 80% lượng tiêu thụ, được sử dụng chủ yếu cho sưởi ấm nhà và ngành công nghiệp. Từ góc độ này, chuyên gia về nguyên nhiên liệu Philippe Chalmin, giải thích vì sao châu Âu vẫn chưa sẵn sàng từ bỏ khí đốt Nga vào lúc lệnh cấm đối với LNG Nga sắp có hiệu lực vào đầu năm 2027.
« Nếu chúng ta muốn tuân theo logic của các lệnh trừng phạt, chúng ta thực sự sẽ phải từ bỏ LNG của Nga. Vấn đề là, chúng ta sẽ thay thế LNG của Nga bằng cái gì ? Về cơ bản là đối với châu Âu là bằng LNG của Mỹ. Nhưng như vậy, chúng ta có nguy cơ phải trả giá cao hơn cho LNG của Mỹ. Bởi vì, khi một tàu chở LNG rời vịnh châu Mỹ, như ông Trump nói, hoặc Vịnh Mexico, như cách gọi trước đây, thì có hai khả năng : Đi đến châu Âu, là lựa chọn gần nhất, hoặc đi đến châu Á. Hiện tại, sự chênh lệch giá cả khiến chúng nghiêng về phía châu Á nhiều hơn. Điều đó có nghĩa là có một cuộc đấu về giá cả giữa châu Á và châu Âu. »
Một nghịch lý khác cho thấy rõ sự phụ thuộc của EU đối với khí đốt Nga : Ngày 23/07/2026, để có thể đạt được gói trừng phạt thứ 21 nhắm vào Matxcơva, EU đã chấp nhận một ngoại lệ theo yêu cầu của Hy Lạp. Theo đó, nước này được phép tiếp tục vận chuyển LNG của Nga đến các nước thứ ba trong một số điều kiện nhất định, trái ngược hoàn toàn với quyết định được Liên Âu đưa ra vào trung tuần tháng Ba năm nay.
Thời báo Le Temps của Thụy Sĩ nhận định, quyết định này đã làm nổi rõ sự khó khăn ngày càng lớn của châu Âu trong việc thống nhất áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Matxcơva. Quyết tâm chính trị chung ngày càng vấp phải những thực tế thương mại và lợi ích quốc gia riêng. Việc cho phép các trường hợp ngoại lệ đồng nghĩa với việc tạo ra những kẽ hở và làm suy yếu một trong những công cụ gây sức ép quan trọng nhất của khối.
Đội tầu ma của NgaTrong khoảng thời gian này Nga cũng đang điều chỉnh và thích nghi với tình hình, khi không ngừng mở rộng « hạm đội ma » nhằm tìm cách lách các lệnh trừng phạt bằng nhiều biện pháp như đổi cờ hiệu đăng ký, vô hiệu hóa hoặc gây nhiễu hệ thống định vị, cũng như sử dụng các công ty bình phong để che giấu hoạt động. Theo tiết lộ của Financial Times, « hạm đội ma » của Nga giờ có đến 25 tầu, bao gồm tám chiếc mua lại.
Mặc dù Liên Âu ngày càng siết chặt các biện pháp nhắm vào mạng lưới này, nhưng Matxcơva dường như vẫn luôn đi trước một bước. Gói trừng phạt mới nhất của EU lần đầu tiên nhắm vào các tầu và các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba hỗ trợ trực tiếp về hậu cần hoặc vận hành cho đội tầu bí mật. Tuy nhiên hiệu quả của các biện pháp đó vẫn còn hạn chế. Trên kênh truyền hình LCI, nhà sử học quân sự, Benoist Bihan, chuyên gia về các vấn đề chiến lược giải thích :
« Việc này sẽ trở nên khó khăn hơn bởi vì việc chuyển trở lại trực tiếp một số tầu dưới quốc kỳ Nga có thể cho phép Nga chẳng hạn như triển khai lực lượng bảo vệ có vũ trang trên tàu, hay nói cách khác là "quốc hữu hóa hạm đội ma" của mình. Điều đó sẽ khiến việc kiểm tra, chặn bắt hoặc khám xét các tàu này trên biển trở nên phức tạp hơn rất nhiều. Bởi vì, việc kiểm soát một tầu mang cờ hiệu của nước thứ ba hoàn toàn khác với cách xử lý một con tàu treo quốc kỳ Nga và được hưởng sự bảo hộ trực tiếp của Nhà nước Nga.
Do đó, Nga cũng đang thích nghi với các biện pháp mà các nước châu Âu, trong đó có Pháp, đã áp dụng trong những tháng gần đây nhằm cản trở hoạt động của các tàu này. Nga vẫn có khả năng bố trí các tàu hộ tống đi kèm, điều này có thể buộc các nước phương Tây phải vượt qua những ngưỡng đối đầu nghiêm trọng hơn nếu muốn ngăn chặn tuyến vận tải này. Vì vậy, đây hoàn toàn không phải là một vấn đề đơn giản.
Tôi cũng muốn nói thêm rằng Tuyến Hàng hải Phương Bắc (Northern Sea Route), chạy dọc phía bắc nước Nga và kết nối đến châu Á, hiện đang ngày càng được khai thác nhiều hơn. Khi khí hậu ấm lên, tuyến đường này không bị băng bao phủ lâu như trước và có thể hoạt động trong thời gian dài hơn trong năm.
Điều đó tạo ra những hành lang vận tải mới vì lượng băng ngày càng ít đi. Đồng thời, các tuyến đường này đặc biệt có lợi cho Nga vì chúng nằm trong những khu vực mà hải quân NATO khó tiếp cận hoặc khó triển khai hoạt động quân sự, qua đó giúp Nga duy trì và phát triển các tuyến vận chuyển năng lượng sang thị trường châu Á. »
Song song với đội tầu ma, Nga hiện nay dường như cũng đang tự sản xuất các tầu chở khí tự nhiên hóa lỏng, qua đó từng bước giảm sự phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng và công nghệ phương Tây. Trong bối cảnh này, trang Le Temps đặt câu hỏi : châu Âu đã thực sự sẵn sàng đi xa đến mức nào để cắt đứt nguồn khí đốt Nga, nguồn thu góp phần tài trợ cho cuộc chiến ở Ukraina ?
Một chính sách trừng phạt liên tục kèm theo các trường hợp ngoại lệ cuối cùng lại có thể gởi đi thông điệp ngược với mục tiêu ban đầu : Matxcơva vẫn có thể dựa vào những bất đồng và chia rẽ trong nội bộ Liên Âu, tờ báo kết luận.
Ngày 28/07/2026, chính quyền Donald Trump ra quyết định cấm nhập khẩu robot tiên tiến của nước ngoài. Biện pháp này, về thực chất, là nhắm vào các mẫu robot được tăng cường trí tuệ nhân tạo (AI) do Trung Quốc phát triển. Và theo nhiều nhà phân tích, động thái này của Mỹ còn làm nổi rõ cách tiếp cận cạnh tranh giữa hai siêu cường trong lĩnh vực này.
Hãng tin Mỹ AP cho biết lệnh cấm do Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ (FCC) ban hành còn áp dụng cho cả việc nhập khẩu các loại robot bốn chân mới (thường được gọi là robot chó) và một số bộ biến tần điện (power inverters) được sử dụng trong năng lượng tái tạo, trung tâm dữ liệu và thiết bị gia dụng. Và lệnh cấm này áp dụng đối với các « phiên bản mới » của những mặt hàng được nêu trên.
Robot tiên tiến và nỗi lo an ninh của MỹTheo giải thích của FCC, các loại robot tiên tiến có thể tạo ra rủi ro về an ninh mạng, thu thập dữ liệu và làm gia tăng sự phụ thuộc của Mỹ vào chuỗi cung ứng nước ngoài. Chủ tịch của FCC, ông Brendan Car, cho biết hành động này nhằm « bảo đảm an toàn cho các chuỗi cung ứng trọng yếu của Mỹ ». Ngoài ra, chính quyền Trump cho biết đang cân nhắc các biện pháp kiểm soát việc sử dụng các mô hình trí tuệ nhân tạo AI mã nguồn mở của Trung Quốc, trong bối cảnh AI của nước này đang nhanh chóng gia tăng vị thế.
Theo nhiều chuyên gia được kênh truyền hình quốc tế France 24 trích dẫn, Hoa Kỳ có lý do để lo lắng cho an ninh quốc gia. Thế hệ robot hiện đại ngày nay, chủ yếu do Trung Quốc chế tạo, không chỉ để thực hiện các nhiệm vụ đơn giản như vẫy tay chào khách tham quan tại các hội nghị công nghệ đầu những năm 2000, mà là những mẫu robot dạng AI hiện thân (embodied AI). Chúng có thể nghe, nhìn, di chuyển và tương tác với môi trường, nhờ các thiết bị cảm biến, cũng như các mô hình ngôn ngữ lớn như ChatGPT hay DeepSeek, được cài đặt bên trong « cơ thể robot ».
Ông Valentin Weber, chuyên gia về Trung Quốc và các công nghệ tiên tiến, thuộc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Đức (DGAP), trụ sở ở Berlin, nhận định mức độ tinh vi của những cỗ máy này đang đặt ra những thách thức mới cho an ninh Hoa Kỳ : « Với hệ thống cảm biến, những robot này có thể được xem như là những camera giám sát di động, thường được trang bị các chương trình nhận diện khuôn mặt. Hoa Kỳ không muốn những loại thiết bị này xuất hiện trong các môi trường nhạy cảm như văn phòng chính phủ hoặc các khu vực quân sự. »
Robot hình người : Trung Quốc thống lĩnh thị trườngNgoài vấn đề an ninh, giới quan sát ghi nhận đây còn là vấn đề kinh tế. Tuy lệnh cấm mới của Mỹ không nhắm trực tiếp vào Trung Quốc, mà liên quan đến các thiết bị nước ngoài nói chung, theo kênh CNN, trong năm 2025, các nhà sản xuất Trung Quốc cung cấp « hơn 90% robot cho thế giới ». Các hãng Unitree, Agibot, UBTech và Galbot của Trung Quốc hầu như thống lĩnh thị trường mới nổi, qua mặt các hãng Figure AI, Tesla của Mỹ và Agile Robots của Đức.
Lệnh cấm được đưa ra vào thời điểm các khảo sát dự báo năm 2026 bùng nổ thị trường robot hình người. TrendForce, một công ty chuyên nghiên cứu về thị trường Robot của Đài Loan, trích dẫn các nguồn quan sát dự báo lượng xuất xưởng toàn cầu sẽ vượt mức 50 ngàn đơn vị, tăng hơn 700% so với năm 2025. Trong số này, Unitree và AgiBot của Trung Quốc chiếm gần 80% tổng sản lượng.
Và từ đây đến cuối năm 2030, con số này có thể đạt mốc 195 ngàn đơn vị. RBC Capital Markets đưa ra triển vọng dài hạn, đến năm 2050, sẽ có khoảng một tỷ robot trên trái đất với quy mô thị trường là 9 nghìn tỷ đô la, trong đó, Trung Quốc vẫn chiếm thị phần áp đảo trên 60%.
Ngày 20/08/2025, ông Johnny Chen, chủ tịch Solomon Technology Corporation, trong một phóng sự của kênh truyền hình quốc tế France 24, đã vẽ ra bức tranh ngành công nghiệp robot humanoid như sau : « Mỹ hiện đang đi đầu trong việc sản xuất robot hình người vì nước này có công nghiệp AI tân tiến nhất. Nhưng Trung Quốc Đại Lục đang tiến rất nhanh, đặc biệt là trong lĩnh vực phần cứng, nhờ nhiều nhà sản xuất có mặt ở đó. Lợi thế của Đài Loan ngày nay là chất bán dẫn và một số nhà sản xuất linh kiện có chất lượng cao. Bên nào cũng phải nỗ lực hết sức cho tương lai và tích hợp các nguồn lực khác nhau để có cơ hội cạnh tranh trong ngành công nghiệp robot hình người. »
Từ bức tranh tổng quan này, lệnh cấm trên của Mỹ còn là một cách để gây sức ép đối với một lĩnh vực mà Trung Quốc đã sớm đưa lên hàng đầu trong danh sách các ưu tiên công nghệ. Sự việc cũng làm nổi rõ hai tầm nhìn chiến lược khác nhau về phát triển AI.
Robot hình người : Trung Quốc và lợi thế chuỗi cung ứngFrance 24 nhắc lại Trung Quốc thời Tập Cận Bình, ngay từ năm 2015, đã coi việc phát triển robot và AI là một chiến lược quốc gia. Rút kinh nghiệm từ khủng hoảng tài chính 2008, Bắc Kinh tin rằng phải dựa nhiều hơn vào công nghiệp, sản xuất và công nghệ có khả năng tạo ra giá trị vật chất. Tầm nhìn của Tập Cận Bình là sử dụng AI để nâng cấp các lĩnh vực sản xuất và nền kinh tế thực, thay vì chỉ phát triển các ứng dụng số hay dịch vụ trực tuyến. Sự xuất hiện của ChatGPT tháng 11/2022 là chất xúc tác, thúc đẩy Trung Quốc tăng tốc đầu tư vào AI hiện thân.
Trong chương trình truyền hình của France 24, Lucas Goumarr, nhà sáng lập và tổng giám đốc hãng Korben Robotique của Pháp nhấn mạnh vai trò của chính phủ Trung Quốc trong chiến lược phát triển AI : « Nhà nước Trung Quốc hoạt động dựa trên các kế hoạch phát triển mà người ta gọi là kế hoạch năm năm. Trong các kế hoạch 5 năm đó, robot học chính là một trong số các ưu tiên chiến lược. Điều thú vị là nên hiểu được lý do tại sao. »
Về cơ bản, việc phát triển robot giúp Trung Quốc giải quyết hai thách thức kinh tế : Thiếu hụt lao động trong một số ngành nghề vì ngày càng có ít người Trung Quốc muốn làm công nhân nhà máy và thách thức nhân khẩu do dân số lão hóa nhanh chóng. Bắc Kinh hy vọng rằng robot có thể dần thay thế con người trong nhiều công việc, từ đó nâng cao năng suất lao động khi lực lượng lao động trong độ tuổi làm việc không còn đủ lớn để duy trì các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của chính phủ.
Kết quả là trong vòng 20 năm, từ là một công xưởng thế giới, Trung Quốc – đặc biệt là Thâm Quyến, đã vươn lên thành một trong những trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới. Cũng trong chương trình của France 24, Stephane Bohbot, chủ tịch Innov8 Group, giải thích :
« Điểm đáng chú ý là Trung Quốc đã thực hiện một sự chuyển đổi rất mạnh mẽ. Xuất phát từ một nền kinh tế dựa chủ yếu vào sản xuất và công nghiệp, họ đã xây dựng được năng lực sản xuất rất lớn với chi phí thấp, nhờ tự động hóa và robot hóa quy trình ở quy mô lớn. Đồng thời, ngày nay họ cũng sở hữu các trung tâm đổi mới sáng tạo mạnh mẽ, đặc biệt tại Thâm Quyến và Nam Xương (Nanchang), khu vực thường được gọi là “thung lũng robot”, với khoảng hơn một chục trường đại học đào tạo những kỹ sư chất lượng cao. Điều này tạo ra sự gắn kết rất chặt chẽ giữa khu vực học thuật và khu vực công nghiệp. Các kỹ sư mới tốt nghiệp có thể nhanh chóng tham gia trực tiếp vào các trung tâm sản xuất và nghiên cứu, từ đó tạo ra những sản phẩm có năng lực cạnh tranh rất cao. »
Một điểm khác không kém phần quan trọng tạo nên thế mạnh cho Trung Quốc trong cuộc đua chiến lược với Mỹ : Lợi thế chuỗi cung ứng khổng lồ, theo như quan sát của ông Stephane Bohbot: « Đối với một robot hình người, gần như 80% linh kiện cần thiết có thể được tìm thấy và tiếp cận chỉ trong vài giờ. Điều này giúp đẩy nhanh đáng kể quá trình chế tạo nguyên mẫu (prototype). Thời gian từ khi phát triển sản phẩm đến khi đưa ra thị trường chỉ khoảng 9 tháng, nhanh gấp đôi so với nhiều nơi khác trên thế giới. Chính điều đó tạo nên khả năng lặp lại và cải tiến sản phẩm cực nhanh của Trung Quốc. Đây là một trong những thế mạnh lớn nhất của họ. »
Hoa Kỳ và ưu thế năng lực AIVậy vì sao Hoa Kỳ vẫn luôn được xếp đầu bảng cuộc đua ? Theo giải thích của trang robotnewstoday, số lượng không phải là thước đo duy nhất. Hoa Kỳ có nhiều hãng công nghệ danh tiếng đang dẫn đầu về công nghệ AI nền tảng (foundation-model AI) và các ứng dụng công nghệ giá trị cao có trả phí, như mô hình robot có khả năng tư duy, thay vì chỉ tập trung vào các sản phẩm giá rẻ.
Nhà tỷ phú Elon Musk của Tesla đã đưa ra tham vọng trong vòng 2-3 năm tới dự kiến đưa ra thị trường hơn một triệu robot hình người. Ông còn tuyên bố sẽ có một sự chuyển hướng chiến lược lớn : Từ một công ty sản xuất ô tô điện, Tesla sẽ trở thành một doanh nghiệp sản xuất robot.
Chuyên gia Valentin Weber, trả lời France 24, tóm tắt chiến lược của Mỹ : « Hoa Kỳ tập trung chủ yếu vào việc phát triển các mô hình tiên tiến và đặt cược nhiều vào năng lực tính toán và các trung tâm dữ liệu để tạo ra các hệ thống AI ngày càng hiệu quả hơn ». Một quan điểm cũng được Lucas Goumarr đồng chia sẻ.
Tuy nhiên, vị giám đốc trẻ tuổi của hãng Pháp Korben Robotique lưu ý thêm về một thách thức khác cho Mỹ, « có một điểm quan trọng khác khi nhìn vào sự tập trung mạnh mẽ của ngành robot tại châu Á. Một công ty nổi tiếng khác của Mỹ là Boston Dynamics, đã bị hãng Hyundai, một tập đoàn của Hàn Quốc mua lại. Điều đó cho thấy rõ là mặc dù Hoa Kỳ cố gắng phát triển thị trường robot hình người, ngành công nghiệp này vẫn có mức độ tập trung rất cao tại châu Á. »
Hoa Kỳ và nỗi lo phụ thuộc trí tuệ nhân tạo Trung QuốcNhìn chung, « biện pháp mới này của Mỹ là nhằm bảo đảm trong dài hạn, các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ sử dụng công nghệ và robot của Mỹ », theo như đánh giá Guangyu Qiao-Franco, chuyên gia về công nghệ mới ở Trung Quốc, thuộc đại học Radboud Nijmegen, Hà Lan, với France 24. Đối với Washington, một trong những kịch bản xấu nhất là Hoa Kỳ trở nên phụ thuộc vào robot Trung Quốc trong một nền kinh tế ngày càng dựa vào máy móc được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo tiên tiến.
Vẫn còn phải xem liệu Hoa Kỳ có đủ khả năng để bắt kịp sự chậm trễ trong lĩnh vực cụ thể này hay không. Guangyu Qiao-Franco thừa nhận : « Đây là câu hỏi lớn, và chắc chắn sẽ không dễ dàng khi mà hệ sinh thái sản xuất của Trung Quốc đã rất phát triển để sản xuất những robot này với số lượng lớn ».
Về phần mình, nhà nghiên cứu người Đức Valentin Weber nhận định: « Trung Quốc cũng rất giỏi trong việc hạ giá thành. Cơ hội tốt nhất cho Mỹ là hợp tác chặt chẽ với các đối tác khác, đặc biệt là các đối tác châu Âu, để đưa ra các lựa chọn thay thế ». Chỉ có điều, vấn đề « Hợp tác quốc tế », không hẳn là điểm mạnh của Donald Trump, France 24 kết luận !
Tuy không có hiệp ước phòng thủ chung chính thức giống như Liên minh Bắc Đại Tây Dương NATO, chiến tranh giữa Mỹ và Iran ở Trung Đông đang thúc đẩy bốn nước Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên hành động như một khối có liên kết chiến lược. Mối quan hệ hợp tác này có thể là một thách thức to lớn đối với Hoa Kỳ.
Những năm gần đây, mỗi khi nói đến các cuộc khủng hoảng quốc tế, từ chiến tranh Ukraina đến căng thẳng ở Trung Đông, người ta thường nghe nhắc đến một nhóm quốc gia gồm Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên, mà nhiều nhà phân tích phương Tây gọi là « CRINK », được ghép từ chữ cái đầu bằng tiếng Anh của bốn quốc gia (China, Russia, Iran và North Korea). Mạnh mẽ hơn, nhóm bốn nước này còn bị chỉ định là « trục gây bất ổn », « trục chống phương Tây » hay « trục các quốc gia gây hấn ».
CRINK : Một khối thống nhất như NATO ?Câu hỏi quan trọng : Liệu đây có thực sự là một khối thống nhất giống như NATO? Hay người ta đang đơn giản hóa một thực tế phức tạp hơn rất nhiều. Chủ đề vẫn gây tranh cãi trong giới quan sát, giữa một bên cho rằng Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên đang hình thành một liên minh chiến lược chặt chẽ nhằm đối đầu với Mỹ và phương Tây, và bên kia thì cho rằng « không tồn tại bất kỳ khối nào », rằng mỗi nước theo đuổi lợi ích riêng và không có sự phối hợp đáng kể.
Thực tế cho thấy là cả hai cách nhìn này đều chưa hoàn toàn chính xác. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan hệ hợp tác quân sự và an ninh giữa bốn nước đã gia tăng mạnh mẽ, nhất là kể từ khi Nga tiến hành « chiến dịch quân sự đặc biệt » ở Ukraina năm 2022. Các hoạt động chuyển giao vũ khí, hàng hóa lưỡng dụng, các cuộc tập trận chung và những thỏa thuận song phương xuất hiện với tuần suất cao hơn.
Tuy cho đến nay bốn nước này chưa có một cấu trúc chỉ huy chung hay một cơ chế phòng thủ tập thể, nhưng theo ghi nhận của các tác giả một báo cáo đăng trên trang Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) ngày 30/09/2025, CRINK đang tồn tại như một mạng lưới hợp tác linh hoạt hơn là một liên minh quân sự chính thức. Xung đột giữa Israel và Iran trong giai đoạn 2024-2026 là phép thử rõ nét nhất cho nhận định trên.
Bắc Triều Tiên : Lợi ích quốc gia trên cả ý thức hệ, tình hữu nghịNếu thực sự tồn tại một « khối » thống nhất như NATO, người ta có thể kỳ vọng rằng khi Iran đối mặt với áp lực quân sự, ba đối tác còn lại sẽ ngay lập tức tham gia hỗ trợ một cách mạnh mẽ. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Và Bắc Triều Tiên là một ví dụ đáng chú ý nhất. Thái độ thận trọng của Bình Nhưỡng cho thấy lợi ích quốc gia của Bắc Triều Tiên vẫn được đặt lên trên bất kỳ tình cảm ý thức hệ nào.
Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt (ngày 18/06/2026), nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về Nam Á, Trung Á và Vịnh Ba Tư, nhận định : « Thời gian gần đây, Cơ quan Tình báo Quốc gia Hàn Quốc (NIS) có đưa ra một thông điệp khá rõ ràng, cho thấy Bắc Triều Tiên đã khẳng định họ không hậu thuẫn Iran trong suốt cuộc chiến, vì muốn duy trì mối quan hệ tốt với chính quyền Trump trong tương lai. Bình Nhưỡng không muốn là mục tiêu sau khi chiến tranh Iran kết thúc. »
Nga và Iran : Mối quan hệ đối tác chặt chẽTuy nhiên, Nga lại có một cách hành xử khác. Iran không chỉ là một đối tác mà còn là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới giúp Matxcơva đối phó với các biện pháp cô lập của phương Tây. Trong chiến tranh Ukraina, Iran đã cung cấp cho Nga một lượng lớn drone Shahed và nhiều loại khí tài khác, đổi lại, Matxcơva đã mở rộng hợp tác quân sự, chia sẻ công nghệ và ký kết các thỏa thuận chiến lược, hỗ trợ Teheran trong nhiều lĩnh vực quốc phòng.
Về điểm này, chuyên gia địa chính trị Didier Chaudet cho biết thêm rằng « một lượng lớn vũ khí đã được vận chuyển từ các cảng của Nga tại vùng biển Caspi đến Iran. Tất nhiên, đây là cách Nga lách các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Iran, một phần để đáp trả những lời chỉ trích về việc thiếu hỗ trợ trong năm 2025 khi căng thẳng giữa Israel và Iran tăng cao. Thật vậy, đối với Nga, nếu Iran sụp đổ, có nguy cơ thực sự họ sẽ là nạn nhân tiếp theo, khiến liên minh phương Tây trở nên quyết liệt hơn đối với Nga trong tương lai. »
Đây cũng là quan điểm của nhà nghiên cứu Andrea Kendall - Taylor, giám đốc Chương trình An ninh Xuyên Đại Tây Dương, Trung tâm An ninh Hoa Kỳ Mới (CNAS), khi trả lời trang RFE/RL (24/07/2026). Theo bà, việc Iran sụp đổ có nguy cơ tạo ra bất ổn sâu rộng tại Trung Đông, đồng thời làm suy yếu một trong những đối tác quan trọng nhất của Nga. Thế nên, việc duy trì sự tồn tại và ổn định của Iran phù hợp với lợi ích chiến lược của Matxcơva.
Trung Đông ổn định là lợi ích của Bắc KinhTrong khi đó, Bắc Kinh lại chọn một cách tiếp cận khác thận trọng hơn. Trung Quốc tránh can dự quân sự trực tiếp, nhưng duy trì các mối quan hệ sâu rộng với Iran. Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà địa chính trị học Didier Chaudet phân tích : « Ai cũng biết rằng Trung Quốc mua dầu của Iran, vì điều này nằm trong lợi ích của họ. Tương tự, trong khoảng thời gian 2025-2026 (…) rõ ràng đã có các hoạt động buôn bán những loại sản phẩm không thuộc diện trừng phạt do Mỹ và các đồng minh áp đặt, những sản phẩm không nằm trong phạm vi pháp luật, nhưng lại giúp tái thiết đặc biệt là khả năng tên lửa tầm trung của Iran. »
Bắc Kinh không nhất thiết hành động vì mục tiêu bảo vệ Iran vô điều kiện. Lợi ích của Trung Quốc nằm ở một Trung Đông ổn định, đủ để bảo đảm các tuyến năng lượng và thương mại, đồng thời tránh sụp đổ nhà nước dẫn tới chiến tranh kéo dài. Một Iran hỗn loạn hoặc rơi vào nội chiến sẽ gây bất ổn cho toàn bộ khu vực và tác động đến kinh tế toàn cầu, điều mà Trung Quốc cũng như là châu Âu hoàn toàn không mong muốn, theo giải thích của nhà nghiên cứu Didier Chaudet.
Lệnh trừng phạt của phương Tây : Mẫu số chung của CRINKNhưng khi quan sát CRINK, người ta phát hiện ra một nghịch lý thú vị: Bốn nước này tuy không phối hợp ở mức độ cao như một liên minh quân sự thực sự, nhưng họ vẫn liên tục hỗ trợ lẫn nhau. Vậy điều gì đang gắn kết họ với nhau ? Đó là các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây. « Nhìn từ Trung Quốc, một nước như Hoa Kỳ có thể áp đặt luật lệ của mình ra ngoài lãnh thổ nhắm mục tiêu các công ty cùng nhiều thực thể của Trung Quốc, nhất là trong hồ sơ Iran, là điều càng ngày càng không thể chấp nhận trên phương diện luật quốc tế », theo đánh giá của chuyên gia Chaudet.
Trong hoàn cảnh này, việc tăng cường hợp tác với nhau giữa bốn nước là một lựa chọn hợp lý. Nhà phân tích Andrea Kendall - Taylor gọi đây là một mạng lưới linh hoạt, vừa chia sẻ nguồn lực, vừa giúp nhau giảm tác động các biện pháp trừng phạt. Một trong những tác động quan trọng nhất của mạng lưới là giúp tăng cường năng lực của từng thành viên, đồng thời làm suy giảm hiệu quả các công cụ gây sức ép từ phương Tây.
Ví dụ điển hình nhất là Bắc Triều Tiên. Trong nhiều năm, hình ảnh phổ biến về quốc gia này là một nền kinh tế trì trệ và cô lập, nhưng tình hình đã được cải thiện đáng kể trong hai năm gần đây. Theo giải thích của chuyên gia Didier Chaudet, « bởi vì Triều Tiên đang được hưởng lợi từ việc họ có thể hợp tác với Nga và kiếm tiền từ Nga dưới danh nghĩa hỗ trợ mà họ dành cho Nga trong cuộc chiến ở Ukraina. Bởi vì Trung Quốc, đối mặt với áp lực quốc tế từ những lãnh đạo cũng nhắm mục tiêu vào các thực thể Trung Quốc, đã quyết định nới lỏng các quy định thương mại giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. »
CRINK : Một mạng lưới linh hoạtĐiều này giải thích vì sao, bất chấp các lệnh cấm vận kéo dài, nền kinh tế Bắc Triều Tiên vẫn cho thấy có những dấu hiệu cải thiện tương đối. Từ góc độ quan hệ quốc tế, đây không còn là câu chuyện về tình hữu nghị hay ý thức hệ, mà là vấn đề lợi ích. Nga cần đạn dược và nhân lực. Bắc Triều Tiên cần tiền và công nghệ. Iran cần thị trường xuất khẩu dầu mỏ và đối tác quân sự. Trung Quốc cần các đối tác sẵn sàng cùng mình chống lại những gì Bắc Kinh coi là một sự áp đặt ngoài lãnh thổ của luật pháp và trừng phạt từ Mỹ. Mỗi bên đều có thứ mình muốn và mỗi bên đều có thứ để trao đổi.
CRINK không phải là một phiên bản NATO đối lập, không phải là một liên minh có bộ chỉ huy chung. Không có nghĩa vụ phòng thủ tập thể giữa bốn nước và cũng không phải lúc nào các thành viên cũng sẵn sàng bảo vệ nhau bằng sức mạnh quân sự. Do vậy, cuộc xung đột Mỹ - Iran đã bộc lộ các giới hạn của nhóm.
Nhưng cũng sẽ sai lầm nếu cho rằng cả bốn nước này không hoàn toàn liên kết với nhau. Mạng lưới hợp tác này ngày càng được thắt chặt và được thúc đẩy bởi các lợi ích chiến lược, nhu cầu chống chịu các lệnh trừng phạt, cũng như là mong muốn xây dựng một trật tự quốc tế mà họ cho là ít bị chi phối hơn từ sức mạnh của Mỹ và phương Tây.
Bài toán nhiều mặt trận : Mối họa lớn nhất cho MỹDù không phải là một khối thống nhất, đó cũng không hẳn là những quốc gia hành động riêng lẻ. Chính vùng xám này giữa hai cách hiểu là điều khiến giới phân tích ở Mỹ đặc biệt lo lắng. Trong một tập sách mới do tổ chức Foundation for Defense of Democraties vừa phát hành, tựa đề « Trục các quốc gia gây hấn : Đối phó với sự hợp tác giữa Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên », các tác giả cảnh báo rằng cách thức mà bốn chế độ chuyên chế này hỗ trợ nhau trong các lĩnh vực quân sự, kinh tế, không gian mạng và công nghệ có nguy cơ đặt Hoa Kỳ trước nhiều thách thức lớn. Trả lời kênh Fox News Digital ngày 29/07/2026, Mark Montgomery, cựu đô đốc Hải quân Mỹ, đã vẽ ra một kịch bản tồi tệ nhất là ông cho là mối nguy hiểm lớn nhất : « bài toán nhiều mặt trận đồng thời ».
Hoa Kỳ sẽ phải ứng phó ra sao nếu trong cùng một lúc xảy ra đối đầu giữa Trung Quốc và Đài Loan, Bắc Triều Tiên có thể gây áp lực với Hàn Quốc hoặc tiến hành các cuộc tấn công hạn chế nhằm kìm chân lực lượng Mỹ, và một cuộc xung đột giữa Nga và các quốc gia Baltic thành viên NATO, kèm theo đó là các hoạt động khủng bố hoặc hành động thù nghịch từ Iran ? Mark Montgomery kết luận : Hoa Kỳ nên xem nhóm bốn nước này là một « mối đe dọa thống nhất, đe dọa tổng hợp » mà họ phải đối đầu trong « mọi khu vực khủng hoảng » !
From the publisher's feed
Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

1,807 Listeners

42 Listeners

29 Listeners

222 Listeners

15 Listeners

3 Listeners

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

6 Listeners