Tạp chí tiêu điểm

Tạp chí tiêu điểm

By RFI Tiếng Việt
Download on the App Store

Tạp chí tiêu điểm episodes

  • Đóng tầu ngầm hạt nhân : Seoul khẳng định vị thế thống lĩnh ngành công nghiệp đóng tàu

    Trong số các thỏa thuận về thương mại và an ninh – quốc phòng mà Washington và Seoul cùng thông báo hôm 14/11/2025, hồ sơ đáng quan tâm nhất là việc Hoa Kỳ chấp nhận để Hàn Quốc đóng tầu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân cho hải quân cả hai nước. Dự án này, nếu được thực hiện, đánh dấu một bước ngoặt lớn, khẳng định hơn nữa thế thống trị của Hàn Quốc trong lĩnh vực công nghiệp hàng hải cũng như là sức mạnh hải quân nước này.

    « Ngành đóng tàu, lá chủ bài để Hàn Quốc đàm phán thuế quan với Mỹ », ngày 23/06/2025, trang Le Marin chuyên về kinh tế hàng hải đã đưa ra nhận định này. Seoul sở hữu một công nghiệp đóng tàu bậc nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Thậm chí nước Mỹ của Donald Trump, ngày càng bị Trung Quốc bỏ xa trong lĩnh vực hàng hải, gần đây phải đưa tàu chiến của mình đến bảo trì tại các xưởng của Hàn Quốc, một quyết định mang tính chiến lược.

    Truyền thống hàng hải lâu đời

    Thế mạnh ngành công nghiệp này đã có từ xa xưa, nhưng chúng thực sự trở thành một trong những chiến lược quan trọng của đất nước khi tổng thống Park Chung Hee (1962 – 1979) lên nắm quyền. Trong thập niên 1960, ông đã quyết định thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp nặng, bao gồm cả sản xuất thép (Hàn Quốc là nhà sản xuất thép hàng thứ tư trên thế giới), vượt qua Nhật Bản vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, vốn thống lĩnh thị trường đóng tàu trong một thời gian dài sau Đệ Nhị Thế Chiến cho đến khi bị ngành đóng tàu giá rẻ Trung Quốc cạnh tranh gay gắt.

    Từ Seoul, thông tín viên Trần Công nhắc lại đôi nét lịch sử phát triển ngành đóng tàu Hàn Quốc :

    « Từ thời Đô đốc Yi Sun Sin (1545 – 1598), kỹ nghệ đóng tàu của Triều Tiên đã góp phần quyết định giúp quân dân Hàn Quốc đánh bại hải quân Nhật Bản trong cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước. Chiến thuyền “Tàu Rùa” với cấu trúc bọc sắt độc đáo đã trở thành nền tảng lịch sử cho truyền thống hàng hải của quốc gia này.

    Bước sang thời cận đại, ngành đóng tàu Hàn Quốc chính thức hình thành từ năm 1929 với sự ra đời của các xưởng cơ khí và cơ sở đóng tàu đầu tiên. Giai đoạn Thế chiến II và thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng khiến đất nước chìm trong xung đột, nhưng nhu cầu tàu vận tải và quân sự đã tạo nền móng ban đầu cho kỹ thuật đóng tàu hiện đại.

    Đến cuối thập niên 1960, sau khi Hyundai bước vào lĩnh vực đóng tàu, mở ra bước ngoặt lịch sử và đặt nền móng cho sự trỗi dậy của ngành. Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và áp lực cạnh tranh giá rẻ từ Trung Quốc, ngành đóng tàu Hàn Quốc từng có giai đoạn chững lại nghiêm trọng vào những năm 2012–2016. »

    Tại Ulsan (đông nam Hàn Quốc), xưởng đóng tàu lớn nhất thế giới của tập đoàn Hyundai Heavy Industries (HHI), cung cấp việc làm cho khoảng 21 ngàn người lao động, mỗi năm cho xuất xưởng đến 50 loại tầu cỡ lớn bao gồm thương mại và quân sự. Năm 2024, hãng HHI ký kết đến 9 tỷ đô la hợp đồng, theo như phóng sự của kênh truyền hình Pháp France 24 ngày 29/10/2025. Một trong những mặt hàng chủ lực của Ulsan là tàu chở khí hóa lỏng, xưởng này có thể cung cấp mỗi năm từ 13-14 chiếc với ba loại tải trọng khác nhau 176, 180 và 216 ngàn tấn, theo như một phóng sự khác của Le Monde (ngày 16/09/2022).

    Cũng theo thông tín viên Trần Công, « ngày nay, Hàn Quốc đã vươn trở lại vị trí cường quốc số một thế giới về đóng tàu, đặc biệt ở các dòng tàu công nghệ cao như tàu chạy bằng khí hóa lỏng (LNG carrier), tàu chở dầu thô cực lớn (VLCC), tàu chạy methanol và các loại tàu thân thiện môi trường. Ba tập đoàn HD Hyundai, Hanwha Ocean và Samsung Heavy Industries dẫn đầu toàn cầu về công nghệ, tiêu chuẩn an toàn và khả năng chế tạo tàu cỡ lớn. Ngành đóng tàu hiện là trụ cột kinh tế, chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu (khoảng 7%-8%) và là biểu tượng cho năng lực kỹ thuật, công nghiệp và sáng tạo của Hàn Quốc trong kỷ nguyên mới. »

    Ngành đóng tầu : Một trong những trụ cột kinh tế

    Một nhịp độ sản xuất khiến các đối thủ châu Âu vất vả đuổi theo. Ngay vào năm 1987, xưởng đóng tàu của Thụy Điển là Kockums đã phải tuyên bố phá sản. Báo Pháp Le Marin cho biết, trước khi Donald Trump đe dọa áp thuế, xuất khẩu của Hàn Quốc đạt mức kỷ lục trong năm 2024. Các phân tích dữ liệu cho thấy, ngành đóng tàu là một trong những đầu tàu chính của kinh tế đất nước : lĩnh vực này chiếm gần 4% tổng kim ngạch xuất khẩu Hàn Quốc và trong năm 2024, đã tăng lên gần 20% so với năm 2023.

    Để có thể phát triển mạnh ngành công nghiệp này, Hàn Quốc đã có những chiến lược như thế nào ? Đâu là những thế mạnh của ngành công nghiệp đóng tầu Hàn Quốc ? Thông tín viên Trần Công giải thích tiếp :

    « Hàn Quốc sở hữu lợi thế địa lý hiếm có trong ngành đóng tàu khi gần như bốn bề giáp biển, chỉ phần phía bắc tiếp giáp Triều Tiên nên mọi hướng phát triển kinh tế đều tự nhiên hướng ra đại dương. Với bờ biển dài, nhiều vịnh sâu, khí hậu ổn định và hệ thống cảng tự nhiên thuận lợi, Hàn Quốc từ lâu đã hình thành truyền thống hàng hải và nền tảng phát triển công nghiệp biển mạnh mẽ. Vị trí nằm giữa Trung Quốc – Nhật Bản cũng tạo ra mạng lưới thương mại nhộn nhịp, thúc đẩy nhu cầu đóng tàu và dịch vụ kho bãi cảng biển (logistics).

    Song song với lợi thế địa lý, Hàn Quốc còn dẫn đầu thế giới về công nghệ đóng tàu, đặc biệt ở các lĩnh vực LNG carrier, VLCC, tàu chạy nhiên liệu xanh và hệ thống tự động hóa thông minh. Quan hệ chặt chẽ với Mỹ, châu Âu và các tập đoàn năng lượng toàn cầu giúp Hàn Quốc luôn tiếp cận sớm tiêu chuẩn mới, công nghệ mới và giữ vị thế đối tác chiến lược trong các dự án hải quân, hải dương. Ba tập đoàn HD Hyundai, Hanwha Ocean và Samsung Heavy Industries duy trì mạng lưới hợp tác mạnh mẽ, từ Nghiên cứu – Phát triển (R&D) đến sản xuất, tạo ra hệ thống công nghệ bậc nhất thế giới.

    Về chiến lược phát triển, Hàn Quốc đặt mục tiêu duy trì vị trí dẫn đầu bằng cách tập trung vào các loại tàu giá trị cao, đầu tư mạnh vào nhiên liệu sạch như LNG–amoniac–methanol, đẩy nhanh áp dụng công nghệ số trong ngành công nghiệp đóng tàu (digital shipyard), và mở rộng lĩnh vực hải dương như tàu Sản xuất, Lưu trữ và Hạ tải (FPSO), tàu khoan (drillship), tàu khai thác khí thiên nhiên hóa lỏng (FLNG). Nhà nước hỗ trợ qua chính sách tín dụng xuất khẩu, đào tạo nhân lực tay nghề cao và quy hoạch các cụm công nghiệp biển. Nhờ định hướng dài hạn này, ngành đóng tàu Hàn Quốc tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong kinh tế quốc gia và là tâm điểm của tương lai công nghiệp biển toàn cầu. »

    Đóng tàu nhanh, chi phí thấp và kỹ thuật tiên tiến là những lợi thế cạnh tranh mạnh của Hàn Quốc, hiện chiếm đến ¼ thị phần thế giới. Đây cũng chính là những thứ mà nước Mỹ đang thiếu. Trên bảng xếp hạng, Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm các vị trí đầu bảng, còn Hoa Kỳ hầu như vắng bóng. Báo cáo của Quốc Hội Mỹ đưa ra hồi tháng 11/2023, được tờ Wall Street Journal (23/09/2024) dẫn lại, cho thấy Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản sản xuất ra những con tàu chiếm hơn 90% trọng tải của thế giới, trong khi Mỹ chỉ đóng có 0,2%.

    Từ thương mại đến quân sự

    Việc tổng thống Mỹ Donald Trump bật đèn xanh cho phép Hàn Quốc đóng tầu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân đánh dấu một bước ngoặt lớn trong ngành công nghiệp hàng hải đất nước. Một mặt, « điều này cho thấy Washington hoàn toàn thừa nhận tầm quan trọng vị thế chiến lược của Hàn Quốc với tư cách là một cường quốc hàng hải và đồng minh đáng tin cậy ở Ấn Độ - Thái Bình Dương. Sự ủng hộ của Hoa Kỳ không chỉ mang tính chính trị, mà còn có thể mang lại sự hợp tác chặt chẽ về công nghệ, phát triển công nghiệp và lập kế hoạch tác chiến », theo như đánh giá của nhà nghiên cứu Yu Ji-hoon, cựu sĩ quan Hải quân Hàn Quốc, người đã tham gia sâu rộng vào các chương trình tàu sân bay và tàu ngầm của Hải quân, trong một chương trình của Arirang News (12/11/2025). Mặt khác, điều này cho phép Seoul thực hiện tham vọng tăng cường năng lực phòng thủ hải quân mà nhiều đời tổng thống đã theo đuổi nhưng bất thành do vấp phải sự phản đối từ Mỹ.

    Tuy nhiên, quyết định đóng tầu ngầm trong nước của tổng thống Lee Jae Myung cũng làm dấy lên nhiều tranh luận trong giới chuyên gia và truyền thông Hàn Quốc cũng như quốc tế, khi lo rằng tham vọng này của Seoul có nguy cơ mở ra một cuộc chạy đua vũ trang trong vùng Đông Bắc Á. Từ Seoul, thông tín viên Trần Công tường thuật :

    « Sau khi Tổng thống Lee Jae-myung công khai mong muốn đóng tàu ngầm hạt nhân (SSN) tại Hàn Quốc, việc tự đóng SSN trong nước đang tạo ra làn sóng ý kiến mạnh mẽ từ giới chuyên gia, khu vực và báo chí quốc tế.

    Giáo sư Mun Geun-sik (Hanyang University) khẳng định Hàn Quốc hoàn toàn có năng lực nội địa hóa SSN, từ thiết kế thân tàu, chế tạo lò phản ứng tới hệ thống điều khiển – điều mà Philadelphia không thể đáp ứng do thiếu toàn bộ hạ tầng tàu ngầm. Nghị sĩ Yoo Jung-ju cũng nhấn mạnh rằng Philadenphia chỉ là xưởng đóng tàu thương mại, và nếu xây dựng dây chuyền hạt nhân từ đầu sẽ mất 5 – 10 năm, nên “đóng trong nước là lựa chọn duy nhất hợp lý”.

    Giáo sư Peter Ward (Sejong Institute) đưa ra góc nhìn chiến lược hơn, cho rằng Hàn Quốc cần thành lập Ủy ban Mỹ – Hàn về đóng tàu ngầm để kết nối Nghiên cứu & Phát triển – sản xuất – chuỗi cung ứng nhằm rút ngắn thời gian triển khai và giải quyết các rào cản pháp lý. Trong khi đó, giáo sư Kim Yong-hun (Amherst College) nhấn mạnh trở ngại thực sự không phải công nghệ, mà là nhiên liệu hạt nhân, và dự báo Mỹ vẫn muốn giữ quyền kiểm soát phần lò phản ứng trong khuôn khổ hợp tác.

    Báo chí Nhật Bản đánh giá rằng Hàn Quốc đã âm thầm chuẩn bị năng lực đóng tàu ngầm hạt nhân trong nhiều thập kỷ, nhưng kế hoạch liên tục bị đình trệ vì phụ thuộc hoàn toàn vào sự chấp thuận của Mỹ trong vấn đề cung cấp uranium làm giàu. Các tờ như Sankei Shimbun và Mainichi nhận định việc Tổng thống Lee Jae-myung công khai theo đuổi SSN, cộng với sự đồng thuận mới từ Washington, đã tạo ra “cơ hội thực tế đầu tiên” để Seoul hiện thực hóa chương trình vốn bị bỏ lỡ từ những năm 1990.

    Tuy nhiên, truyền thông Nhật cũng cảnh báo rằng nếu Hàn Quốc sở hữu tàu ngầm hạt nhân, cục diện an ninh Đông Bắc Á sẽ biến động mạnh, đẩy Trung Quốc vào trạng thái cảnh giác cao độ và làm gia tăng cạnh tranh chiến lược trong khu vực. Bắc Triều Tiên thậm chí chỉ trích kế hoạch của Seoul là “màn dạo đầu cho hiệu ứng domino hạt nhân”, đồng thời tuyên bố sẽ tăng cường hợp tác quân sự với Trung–Nga để đối trọng.

    Dù vậy, các chuyên gia Hàn Quốc đều thống nhất nhận định : nếu vấn đề nhiên liệu được tháo gỡ, Hàn Quốc có đủ năng lực công nghiệp để tự đóng SSN, và đây sẽ là bước ngoặt nâng tầm tự chủ quốc phòng trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực ngày càng biến động. »

    Dự án hợp tác đóng tầu ngầm Hàn – Mỹ có thể biến thành hiện thực hay không vẫn là một câu hỏi lớn vì nhiều lý do. Tuy nhiên, hầu hết giới chuyên gia đều có chung một nhận xét : Để rút ngắn khoảng cách với lực lượng hải quân Trung Quốc, nước Mỹ của Donald Trump giờ phải dựa vào các đồng minh châu Á. Ông cũng hiểu rằng khẩu hiệu « America First » còn đồng nghĩa với « America Alone » !

    12 min
  • Khí hậu: Vì sao "chuyển đổi công bằng" là trọng tâm của Hội nghị COP30 Brazil?

    Tại Hội nghị Khí hậu lần thứ 30 của Liên Hiệp Quốc COP30 được tổ chức tại Belem Brazil giữa tháng 11/2025, vấn đề « chuyển đổi công bằng » sang nền kinh tế xanh trở thành một yêu sách phổ biến. Ngay từ những ngày đầu hội nghị COP30, khắp các hội trường, người ta có thể thấy các nhà hoạt động xã hội đeo huy hiệu mang dòng chữ « BAM ».

    Giai điệu BAM được các nhà hoạt động xướng lên để thu hút sự chú ý của công chúng. Dòng chữ BAM cũng có mặt khắp nơi trên đường phố, trong các cuộc tuần hành của xã hội dân sự, của các cộng đồng thổ dân, những người tranh đấu vì môi trường, khí hậu đến từ khắp nơi trên thế giới. BAM, chữ viết tắt của Cơ chế Hành động vì Chuyển đổi công bằng toàn cầu Belem (Belém Action Mechanism for a Global Just Transition), được coi là khẩu hiệu hành động của những người ủng hộ công lý khí hậu tại COP30. 

    « Chuyển đổi công bằng » là gì ?

    Vậy chuyển đổi công bằng cụ thể có ý nghĩa gì ? Selma Huart, thuộc tổ chức quốc tế Oxfam chi nhánh tại Pháp, phụ trách cổ vũ chống các bất bình đẳng về khí hậu, giải thích :

    « Chuyển đổi công bằng nghĩa là thay đổi mô hình kinh tế hiện nay, để hướng tới rời bỏ các nhiên liệu hóa thạch, bảo vệ đa dạng sinh học, đồng thời phân bổ công bằng những nguồn lực và lợi ích có được từ quá trình chuyển đổi này. Ý tưởng chính ở đây là, nếu bạn càng có nhiều quyền lực để hành động, bạn càng nên đóng góp nhiều hơn, còn nếu bạn là người dễ bị tổn thương, bạn càng cần được bảo vệ nhiều hơn. Ví dụ như, nếu một công ty dầu mỏ lớn kiếm được hàng tỷ đô la lợi nhuận, đồng thời lại góp phần đáng kể vào việc làm Trái đất nóng lên, thì đúng là họ nên đóng góp nhiều hơn vào việc tài trợ cho quá trình chuyển đổi sinh thái. Ngược lại, nếu một người dễ bị tổn thương sống trong một tòa nhà kém hiệu quả về năng lượng và bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn bởi các hậu quả của biến đổi khí hậu, thì đúng là họ cần phải được bảo vệ. »

    Mở rộng ý nghĩa : Từ quyền lợi của người lao động đến công lý khí hậu…

    Khái niệm chuyển đổi công bằng liên quan đến sinh thái bắt nguồn từ phong trào bảo vệ người lao động Bắc Mỹ trong thập niên 1970. Giới nghiệp đoàn đòi hỏi là người lao động làm việc trong các ngành công nghiệp gây ô nhiễm phải đóng cửa, cần được đền bù, hỗ trợ. Đại diện tổ chức Oxfam France cho biết thêm về sự mở rộng ý nghĩa của « chuyển đổi công bằng » :  

    Khái niệm chuyển đổi công bằng bắt nguồn từ phong trào nghiệp đoàn bảo vệ người lao động. Vào thời điểm đó, việc đóng cửa các mỏ, dẫn đến việc sa thải, đã khiến các nghiệp đoàn lo lắng. Giới nghiệp đoàn đã lên án quá trình chuyển đổi này là bất công và đề xuất các giải pháp để bảo đảm rằng quá trình chuyển đổi sinh thái sẽ không chống lại người lao động, mà sẽ có lợi cho họ. Giờ đây, ý tưởng này được mở rộng. Chuyển đổi công bằng không chỉ có nghĩa là bảo vệ người lao động mà còn bảo vệ người dân và vùng lãnh thổ dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Chuyển đổi công bằng trở thành một vấn đề quốc tế. »

    • Đọc thêm - COP30 : Trung Quốc gia tăng áp lực với các nước giàu trong việc đóng góp tài chính khí hậu

    « Chuyển đổi công bằng » dần dần vượt xa ý nghĩa bảo vệ quyền lợi của những người lao động bị sa thải. Năm 2009, tại Hội nghị Khí hậu của Liên Hiệp Quốc ở Copenhagen (COP15), Liên hiệp các nghiệp đoàn quốc tế ITUC (International Trade Union Confederation) đã đề xuất với Liên Hiệp Quốc gắn liền « chuyển đổi công bằng » với một hiệp ước có tầm vóc về khí hậu, hướng đến một nền kinh tế ít sử dụng năng lượng hóa thạch.  

    10 năm Hiệp định Paris: « Chuyển đổi công bằng » bị coi nhẹ trong Hành động Khí hậu

    Trong một thời gian dài, các hội nghị khí hậu của Liên Hiệp Quốc tập trung vào việc hướng đến giảm năng lượng hóa thạch, trung hòa về khí thải gây hiệu ứng nhà kính, mặt xã hội nói chung và các hậu quả nói riêng của chính sách khí hậu bị gạt ra bên lề. Đến năm 2015, tại hội nghị ở Paris, khi cộng đồng quốc tế đúc kết được Hiệp định về khí hậu (COP21), vấn đề « chuyển đổi công bằng » chỉ dừng ở chỗ : cộng đồng quốc tế đồng ý « xem xét các yêu cầu cấp thiết của việc chuyển đổi công bằng với người lao động và tạo ra việc làm tử tế và có chất lượng, phù hợp với các ưu tiên phát triển của đất nước » (Lời nói đầu của Hiệp định).

    Vấn đề « chuyển đổi công bằng » bước vào bàn đàm phán kể từ Hội nghị khí hậu tại Ba Lan năm 2018 (COP24). Tại COP27 ở Ai Cập và COP28 ở Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất, vấn đề tiếp tục được đưa ra đối thoại, nhưng không có thỏa thuận nào được đúc kết.

    Lời hứa suông, những chuyển đổi bất công, « chủ nghĩa thực dân khí hậu »... 

    Theo giới bảo vệ môi trường, kể từ Hiệp định Paris 2015, mỗi lần hội nghị về khí hậu là một lần các nhà lãnh đạo lại nhắc lại điệp khúc về chuyển đổi sinh thái chỉ có thể thành công nếu đi liền với những chính sách công bằng với người lao động, với dân cư các khu vực bị ảnh hưởng do tác động môi trường, do chuyển đổi mô hình kinh tế. Nhưng tình hình đã không mấy thay đổi.

    Ngay trước thềm COP30, hiệp hội quốc tế ActionAid International công bố một báo cáo về chuyển đổi công bằng, cuộc chiến khí hậu và vấn đề tài chính (Climate Finance for Just Transition: How the Finance Flows / Tài chính cho chuyển đổi công bằng : Dòng tiền được đầu tư như thế nào), cho thấy chỉ có 3% viện trợ khí hậu quốc tế được dành cho các cộng đồng đang chuyển đổi. Báo cáo dựa trên các dự án giảm khí thải, do hai quỹ khí hậu đa phương lớn nhất thế giới đầu tư (với 178 dự án từ Quỹ Khí hậu Xanh do Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn và 466 dự án từ Quỹ Đầu tư Khí hậu, do Ngân hàng Thế giới và các ngân hàng phát triển khu vực thành lập). Ông Bert De Wel, điều phối viên chính sách khí hậu toàn cầu của Liên hiệp các nghiệp đoàn quốc tế ITUC, nhận định:  dữ liệu cho thấy « tài chính khí hậu được quyết định bởi nhu cầu của các nhà đầu tư thay vì những người bị ảnh hưởng bởi tình trạng khẩn cấp ».

    • Đọc thêm : Khai thác đất hiếm : Mặt trái của công nghệ chuyển đổi năng lượng

    Bên cạnh việc tài chính khí hậu cho « chuyển đổi công bằng » không đến với người lao động, một vấn đề nghiêm trọng khác là quá trình được quảng bá là chuyển sang nền kinh tế xanh, chuyển sang năng lượng tái tạo hướng đến giảm phát thải, trên thực tế đang gây ra những tổn thất trầm trọng về môi trường và con người, đặc biệt ở các nước phương Nam. Đơn cử một ví dụ về lithium, thường được gọi là « vàng trắng » rất cần để sản xuất bình điện cho ô tô, là nơi mà châu Mỹ Latinh chiếm gần một nửa trữ lượng thế giới, nhưng các công ty khai thác địa phương sẽ chỉ giữ lại 0,02 euro cho mỗi euro giá trị hàng hóa thành phẩm. Chưa kể đến việc môi trường bị tàn phá, sức khỏe người lao động và dân cư tại chỗ bị ảnh hưởng nặng nề. Đây là thực tại mà một số tổ chức như Oxfam lên án là quá trình « chuyển đổi bất công », chỉ phục vụ cho lợi ích của một thiểu số rất nhỏ, và gọi đó là « chủ nghĩa thực dân khí hậu (colonialisme climatique) ».

    Mạng lưới dân sự quốc tế thúc đẩy BAM, hơn 130 nước phương Nam hưởng ứng

    « Chuyển đổi công bằng » sang kinh tế xanh, điều cấp bách và là nhân tố căn bản quyết định cuộc chiến khí hậu có thành công hay không, đã rất bị coi nhẹ trong hành động khí hậu quốc tế. Trong bối cảnh giới bảo vệ môi trường, giới bảo vệ quyền lợi người lao động bị đẩy vào chân tường, dường như đã có một nỗ lực vượt bậc. Kể từ đầu năm nay, mạng lưới lớn nhất trong lĩnh vực khí hậu Climate Action Network International (CAN) đã quyết liệt vận động cho việc thông qua tại Hội nghị COP30 ở Belem, Brazil, « Cơ chế Hành động vì Chuyển đổi công bằng toàn cầu Belem » (BAM). 

    Tại dịp hội nghị ngay trong đại ngàn Amazon, lá phổi của hành tinh, đã có không khí đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Ngày 10/11, hơn 1.000 tổ chức - nghiệp đoàn, nữ quyền, thanh niên, cộng đồng bản địa, nông dân nhỏ, luật sư môi trường, v.v. — từ 100 quốc gia, đã công bố một bức thư ngỏ « gửi tất cả các quốc gia thành viên » của Hội nghị Khí hậu Liên Hiệp Quốc, kêu gọi biến « lý tưởng chuyển đổi công bằng thành hiện thực ». Cơ chế Hành động BAM, do CAN đề xướng, là nội dung chính. Ngày 11/11, yêu sách BAM nói trên đã được nhóm G77+Trung Quốc, gồm 133 quốc gia phương Nam và Trung Quốc, ra tuyên bố ủng hộ.

    Thách thức số 1 : Trả lãi nợ, gọng kìm siết chặt các nước phương Nam

    Để biến « chuyển đổi công bằng » sang kinh tế xanh thành hiện thực, vấn đề tài chính là số một. Trả lời RFI, ông Mathieu Paris, phụ trách về vấn đề nợ của CCFD Terre solidaire, Hiệp hội hỗ trợ những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất chống lại các bất công, nêu bật vấn đề nhức nhối này : « Năm 2024, các quốc gia Nam Bán Cầu đã phải dùng hơn 900 tỷ đô la để trả lãi cho các khoản nợ. Giờ đây, chúng ta đang nói về 300 tỷ đô la tiền tài trợ cho khí hậu, nhưng một phần lớn số tiền này sẽ lại chỉ được sử dụng để trả nợ chứ không được đầu tư vào cuộc chiến khí hậu ».

    Chuyển đổi mô hình năng lượng là một trong ba lĩnh vực chính của cuộc chiến khí hậu. Hai lĩnh vực còn lại là đầu tư để thích nghi với biến đổi khí hậu và để đền bù các tổn thất, thiệt hại không thể vãn hồi cho các nạn nhân. Với cả hai lĩnh vực nói trên, bất công đang ngự trị. Để thích ứng với biến đối khí hậu, cần đến ít nhất 1.300 tỉ đô la/năm, tại COP29 năm ngoái, các nước phát triển mới chỉ chấp nhận chi ra 300 tỉ đô la, và đây mới chỉ là lời hứa. Quỹ đền bù tổn thất được chính thức thành lập là điều đáng hoan nghênh, nhưng cho đến nay mới chỉ có cam kết vài chục triệu đô la, trong lúc tổn thất được ghi nhận là nhiều trăm tỉ/năm, và con số sẽ còn tăng vọt do Trái đất nóng lên nhanh chóng.

    Không thể « chuyển đổi công bằng » nếu không từ bỏ than-dầu-khí

    Trong lúc tiền rất thiếu cho cuộc chiến khí hậu, tiền vẫn được tiếp tục rót ồ ạt vào các ngành năng lượng hóa thạch. Tổng thống Brazil, quốc gia chủ nhà COP30, nêu bật bất công ghê gớm này : khi dòng tiền hiện tại « không tôn trọng các nguyên tắc phát triển bền vững », « năm ngoái, 65 ngân hàng lớn nhất thế giới đã cam kết đầu tư 869 tỷ đô la cho ngành dầu khí », « việc chi cho vũ khí chống khí hậu gấp đôi số tiền chi cho cuộc chiến vì khí hậu, đang mở đường cho thảm họa khí hậu ».

    Chuyên gia về khí hậu người Brazil, ông Marcio Astrini, tổng giám đốc Đài Quan sát Khí hậu, nhấn mạnh đến việc để đạt được mục tiêu chuyển sang nền kinh tế xanh, việc « loại bỏ nhiên liệu hóa thạch » cần tạo đột phá ngay tại COP30. Trả lời ban tiếng Brazil đài RFI, đầu tuần lễ thứ hai của COP30, ông nhấn mạnh:

    « Chúng ta sẽ có một tuần lễ làm việc, khi các nhà hoạch định chính sách chủ chốt tham gia các cuộc thảo luận với một chương trình nghị sự phong phú, mang hy vọng là sẽ có được một tuyên bố chung về những điểm quan trọng nhất, nhưng cần luôn ghi nhớ rằng : Hội nghị này chỉ thực sự tạo nên sự khác biệt, thực sự đặc biệt, nếu nó thúc đẩy vấn đề loại bỏ nhiên liệu hóa thạch. Đây là trọng tâm của chương trình nghị sự về khí hậu, bởi đây là nguyên nhân của ba phần tư cuộc khủng hoảng khí hậu. Và chính về vấn đề này, chúng ta cần một phản ứng mạnh mẽ và có phối hợp từ các nước ».

    Tinh thần « Mutirão » Brazil trong bối cảnh quốc tế chia rẽ trầm trọng

    Hội nghị khí hậu COP30 tại Belem, Brazil, đang diễn ra. « Chuyển đổi công bằng » là kết tinh đòi hỏi của đông đảo các nước và xã hội dân sự toàn cầu. Theo một số nhà quan sát, cho đến đầu tuần lễ thứ hai của COP, đã có hơn 120 quốc gia ủng hộ một « Mutirão Pact », hướng đến giã từ các năng lượng hóa thạch đúng lúc và công bằng, và các phương tiện tài chính thích đáng cho các nước phương Nam.

    • Đọc thêm - Trump - Putin: Bóng ma tận thế hạt nhân và thảm họa năng lượng hóa thạch

    « Mutirão », trong tiếng nói của một dân tộc bản địa rừng Amazon, chỉ các nỗ lực hợp tác, vượt qua các lợi ích khác biệt vì cái chung, được Ban tổ chức sử dụng làm khẩu hiệu chính thức. COP30 diễn ra trong bối cảnh đặc biệt, khi nước Mỹ của Donald Trump rút khỏi Hiệp định Paris, các nỗ lực cổ vũ cho năng lượng hóa thạch từ phía nhiều thế lực đường như ngày càng trở nên quyết liệt hơn, liệu cuộc họp tại rừng Amazon với tinh thần Mutirão có giúp cộng đồng quốc tế vượt qua được các bất đồng, đạt được một số đồng thuận đầu tiên cho phép biến lý tưởng « chuyển đổi công bằng » thành hiện thực ?

    10 min
  • Khai thác đất hiếm : Mặt trái của công nghệ chuyển đổi năng lượng

    Quá trình chuyển đổi năng lượng đòi hỏi những công nghệ sử dụng nhiều loại đất hiếm. Tuy nhiên, ngoài những căng thẳng về địa chính trị, quy trình khai thác, chiết xuất và tinh chế đất hiếm đặt ra nhiều vấn đề cho xã hội và môi trường. Tình trạng nhiễm độc thạch tín (arsenic) tại nhiều đoạn lưu vực sông Mê Kông do khai thác đất hiếm ở Lào và Miến Điện là một ví dụ mới nhất.

    Theo ước tính, thị trường 17 loại nguyên tố đất hiếm chiếm một tỷ trọng khá khiêm tốn : Khoảng 9 tỷ đô la/năm với sản lượng hàng năm là 150 ngàn tấn. Nhưng đây lại là những thành phần quan trọng cho thị trường các ngành công nghiệp tiên tiến có giá trị lên đến bảy ngàn tỷ đô la mỗi năm. Tính đến những năm 1980, Hoa Kỳ là quốc gia thống lĩnh thị trường sản xuất đất hiếm. Nhưng từ năm 1995, Trung Quốc chiếm thế độc quyền. Một phần là do giá nhân công rẻ, trữ lượng khoáng sản cao và các quy định về môi trường mềm dẻo hơn cho phép Trung Quốc hạ giá thành sản phẩm.

    Ngay từ những năm 1950, người ta đã nhận thấy vai trò thiết yếu của đất hiếm cho phát triển các ngành công nghệ cao. Ngoài các lĩnh vực như điện thoại thông minh, trí tuệ nhân tạo, thậm chí cả vũ khí, chẳng hạn như tên lửa, các nguyên tố đất hiếm này được cho là đóng một vai trò then chốt cho quá trình phát triển điều được gọi là « năng lượng xanh » như tua-bin điện gió, xe điện, tấm pin năng lượng mặt trời ... nhờ vào các đặc tính của chúng như chất xúc tác, nam châm, luyện kim và đánh bóng. Và tùy theo mỗi loại đất hiếm, chúng có một ứng dụng khác nhau trong công nghiệp.

    Đất hiếm : Quy trình tinh chế gây ô nhiễm

    Khai thác khoáng sản vốn dĩ đã là một hoạt động gây ô nhiễm. Điều này cũng không là ngoại lệ đối với đất hiếm. Theo giải thích từ nhà nghiên cứu Emilie Janots, giảng viên đại học Grenoble Alpes trên trang CNRS Terre & Univers, việc lập các khu vực thăm dò và khai thác khoáng sản là gây ô nhiễm, do những hoạt động này tạo ra các vùng tích tụ chất thải, gây ra những hậu quả tai hại cho môi trường. Nguyên nhân chính là vì các đặc tính hóa học của đất hiếm, khiến hoạt động khai thác chúng gây ô nhiễm. Bởi vì, 17 loại nguyên tố đất hiếm này có đặc điểm độc đáo là chúng hiện diện trộn lẫn với nhau trong các mỏ. Và do vậy, việc khai thác, chế biến và phân tách đất hiếm là rất tốn kém về năng lượng, nước và hóa chất. 

    Một mặt, những mỏ lớn nhất có khoảng 5% đất hiếm nhưng trong hầu hết các trường hợp, con số nay chỉ gần 1%. Điều này giải thích vì sao nhu cầu khai thác một lượng lớn đá chỉ để thu được một tỷ lệ đất hiếm ít ỏi vào cuối giai đoạn. Có thể nói phân tách đất hiếm là một quy trình đặc biệt khó, như thể « người ta muốn phân tách các sắc thái khác nhau của mầu xám. Họ dễ tách mầu trắng khỏi màu đen. Nhưng làm sao có thể tách 5% của mầu đen, 6% của mầu đen hay 7% của mầu đen ? », theo cách giải thích ẩn dụ của nhà nghiên cứu mỏ khoáng sản Rajive Ganguli, giáo sư đại học Utah, Hoa Kỳ với Le Monde.

    Mặt khác, 17 loại nguyên tố đất hiếm trộn lẫn vào nhau trong một mỏ khoáng sản, nhưng người ta thường chỉ cần chiết xuất từ 3-4 loại. Mỗi lần cô lập một loại đất hiếm duy nhất phải sử dụng một lượng lớn hóa chất. Một quy trình mà theo đánh giá của giáo sư đại học Utah, Rajive Ganguli là có thể gây ô nhiễm cao, do việc « người ta phải đào nhiều hố trên mặt đất và bơm vào đấy các loại hóa chất (…) Quy trình này gây ô nhiễm cho nước, các mạch nước ngầm… » Chưa kể tại một số mỏ, đất hiếm còn bị trộn lẫn với thorium, uranium, hai nguyên tố phóng xạ. Đây là nguyên nhân người ta thường tìm thấy hai nguyên tố này trong các khoáng chất chứa đất hiếm và do vậy tạo ra chất thải phóng xạ trong quá trình khai thác.

    Năng lượng xanh có « sạch » hay không ?

    Chỉ có điều, thế giới đang đặt ra mục tiêu kìm hãm mức tăng nhiệt độ hâm nóng khí hậu và do vậy, phải hạn chế việc sử dụng năng lượng hóa thạch như điện than, khí đốt, giảm phát thải khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính. Quá trình chuyển đổi năng lượng này đòi hỏi sử dụng nhiều công nghệ có chứa đất hiếm. Ví dụ như các thanh nam châm trong tua-bin điện gió chứa đến 70% chất neodymium. Do các đặc tính từ tính của loại kim loại này mạnh hơn nhiều so với các loại nam châm cũ nên kích thước và trọng lượng của chúng được giảm xuống, giúp tối ưu hóa hiệu suất của tua-bin gió. Tuy nhiên, việc khai thác các mỏ đất hiếm mới cũng đồng nghĩa với việc hủy hoại môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học.

    Điều này làm dấy lên nỗi ngờ vực : Liệu công nghệ năng lượng xanh có thực sự « sạch » ? Chẳng hạn, để đảm bảo mục tiêu chuyển đổi năng lượng của mình, Liên Hiệp Châu Âu có kế hoạch cấm bán xe mới chạy bằng động cơ xăng dầu vào năm 2035 để rồi đạt mục tiêu trung hòa khí CO2 vào năm 2050. Nhà báo Guillaume Pitron, chuyên gia về nguyên nhiên liệu, trên kênh truyền hình TV5 Monde (15/11/2023) cảnh báo để có thể hoàn thành những mục tiêu này, châu Âu cần rất nhiều thứ kim loại để sản xuất các loại phương tiện mới.

    Và để có thể tìm đủ các thứ kim loại đó, các nhà sản xuất và cung cấp sẽ phải đi tìm kiếm nguyên nhiên liệu tại những nước mà các quy định về môi trường lỏng lẻo hơn nhiều so với tại châu Âu. « Ví dụ, họ có thể tìm mua ở Trung Quốc, Congo, Kinshasa, tại Bolivia, những nước không có cùng quy định, tiêu chuẩn và do vậy, cái giá phải trả cho môi trường là nghiêm trọng do việc các nhà cung cấp không có cùng tiêu chuẩn, chuẩn mực về kỹ thuật chiết xuất. Vì vậy, ở đây còn có phí môi trường, phí xã hội, phí con người, những cái giá mà chính chúng ta đã không thật sự nhận thức ra, bởi vì tất cả những điều đó diễn ra ở xa chúng ta ».

    Khai thác đất hiếm ở Miến Điện : Ô nhiễm arsenic trên Mêkông

    Đây là những gì đang xảy ra cho nhiều đoạn trên lưu vực sông Mê Kông. Theo tiết lộ của trang Mongabay (27/10/2025), nhóm nghiên cứu thuộc trung tâm tư vấn Stimson Center qua phân tích các hình ảnh vệ tinh, đã xác định ít nhất có 27 mỏ đất hiếm đã được mở tại Lào từ năm 2022. Theo đó, « mười lăm trong số các mỏ này đang hoạt động trong lưu vực sông Mê Kông, nghĩa là có 12 mỏ trên sông Nam Khan và 3 mỏ trên sông Nam Ngiep, cả hai đều đổ vào sông Mê Kông, con sông dài khoảng 4.900 km, bắt nguồn từ Tây Tạng chảy qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam trước khi đổ ra Biển Đông. »

    Cũng theo Trung tâm Stimson, mười mỏ khai thác đất hiếm khác trên các con sông Nam hao và Nam Xan, trên lưu vực sông Ma, có nguy cơ gây ra mối đe dọa sinh thái xuyên biên giới, không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với Khu Bảo tồn Đa dạng Sinh thái Nam Xam, nằm ở biên giới Lào và Việt Nam, nơi sinh sống của loài vượn má trắng phương Bắc đang bị đe dọa nghiêm trọng và loài voi châu Á có nguy cơ bị tuyệt chủng.

    Trang Mongabay cho biết hàm lượng chất arsenic tại những con sông này cao bất thường so với trước đây. Các nhà nghiên cứu cảnh báo nguy cơ môi trường sinh thái đa dạng ở sông Mê Kông, nơi nuôi sống cho hơn 50 triệu người dân do sự phụ thuộc của họ vào nguồn thực phẩm, nguồn nước và sinh kế, bị tổn hại lâu dài và nghiêm trọng là có thực.

    Các hoạt động khai thác đất hiếm phi pháp tại Miến Điện, phần đông là chủ đầu tư Trung Quốc, đang làm nhiều nhánh sông đi từ Miến Điện đến các vùng phía bắc Thái Lan bị nhiễm độc thạch tín (arsenic) do tình trạng đổ bừa bãi nước thải xử lý đất hiếm ra sông mà không được kiểm soát.

    Chủ nghĩa thực dân môi trường

    Phóng sự dài do đài SBS News của Úc thực hiện cho thấy sông Kok nhuộm một màu cam kỳ lạ, cá chết nổi nhiều bất thường và bị biến dạng, cũng như là nhiều trường hợp mắc bệnh đã được ghi nhận ở nhiều ngư dân sống dọc theo con sông. Theo thổ lộ của anh Gob Kotekham, người Thái Lan, 42 tuổi với kênh SBS News, « có điều gì rất lạ đang xảy ra : những nốt phát ban xuất hiện trên người và chúng cứ lan rộng. Chúng làm tôi mẩn ngứa. Tình trạng này kéo dài hơn hai tháng, tôi chưa bao giờ cảm thấy như vậy trước đây ».

    Đối với nhà báo Guillaume Pitron, đây là những yếu tố các nhà hoạch định chính sách môi trường nên tính đến. « Tôi có cảm giác là mọi thứ nhà mình đều sạch sẽ nhưng trên thực tế là có một ai đó đang trả những cái giá, những khoản phí ở một đầu khác trên thế giới cách xa chúng ta hàng nghìn km mà không ai đặt chân đến cả. Một cái giá "vô hình" nhưng có thực và không thể bỏ qua. Chúng có nguy cơ làm cho quá trình chuyển đổi năng lượng còn khó chấp nhận hơn trên bình diện xã hội nếu chúng ta không làm điều gì đó để giảm nhẹ ».

    Nhìn chung, đất hiếm là cần thiết cho công nghệ xanh. Nhưng quá trình chế biến nó vốn quá ô nhiễm và nguy hiểm cho các nước Bắc Bán cầu, giờ đây chủ yếu được tiến hành ở các nước Nam bán cầu. Nhà nghiên cứu Simone Lobach, khi trả lời đặc phái viên đài RFI Jeanne Richard, nhân hội nghị COP 30 tại Belem, không ngần ngại ví hiện tượng này là « chủ nghĩa thực dân môi trường » !

    10 min
  • Chặn đứng nạn phá rừng Amazon: Brazil muốn gắn chip toàn bộ đàn gia súc ngay những năm tới

    Hội nghị khí hậu lần thứ 30 của LHQ được tổ chức ngay trong đại ngàn Amazon, được coi là một lá phổi chính của hành tinh. Mục tiêu của tổng thống Brazil Lula da Silva, khi chọn thủ phủ bang Para làm nơi tổ chức hội nghị khí hậu, là đặt việc bảo vệ rừng để chống biến đổi khí hậu vào tâm điểm chú ý của quốc tế. Thách thức với chính Brazil là chặn đứng được nạn phá rừng để chăn thả gia súc phổ biến hiện nay. Gắn chip gia súc được kỳ vọng cho phép giải quyết tận gốc vấn đề. 

    Kể từ khi ông Lula trở lại nắm quyền năm 2022, diện tích rừng bị phá đã sụt giảm mạnh so với thời tổng thống tiền nhiệm Bolsonaro, đồng minh của tổng thống Mỹ Donald Trump, người phủ nhận tác động của con người đến khí hậu. Tuy nhiên, rừng tại Amazon vẫn tiếp tục bị phá, bị cháy hàng nghìn cây số vuông một năm. Mục tiêu đầy tham vọng của tổng thống Lula, chấm dứt nạn phá rừng ngay từ năm 2030, là điều mà nhiều người coi là bất khả.

    Hơn nửa lượng thịt tiêu thụ liên quan đến nạn phá rừng

    Để thực thi chính sách chấm dứt nạn phá rừng của tổng thống Lula, vấn đề gắn chip vào tai gia súc được coi là một trong các biện pháp căn bản nhất. Vì sao như vậy ?

    Việc gắn chip vào tai gia súc, về mặt nguyên tắc, được coi là biện pháp hữu hiệu để chấm dứt tình trạng gia súc được buôn bán trao tay nhiều lần, xóa sạch vết tích liên quan đến nạn rừng bị phá bất hợp pháp. Chính phủ Brazil đặt mục tiêu áp dụng biện pháp này trên toàn quốc kể từ năm 2032. Riêng với bang Para - tâm điểm của nạn phá rừng - thời hạn là sớm hơn 5 năm, tức ngay từ năm 2027.

    Bang Para, nơi diễn ra hội nghị khí hậu của Liên Hiệp Quốc, tháng 11/2025, là bang đứng đầu về diện tích rừng Amazon bị phá, kể từ năm 2013. Không kể các cơ sở chăn nuôi lớn, theo chính quyền bang, có đến một nửa trong số khoảng 100.000 hộ chăn nuôi gia súc ở Para, với tổng số gia súc khoảng 26 triệu con, liên quan đến nạn phá rừng bất hợp pháp. Ước tính, hơn một nửa lượng thịt được bán ra thị trường liên quan đến nạn phá rừng.  

    Nhân dịp hội nghị COP30, ban Brazil đài RFI có loạt bài về rừng Amazon. Bài về « những thách thức của việc thực thi chính sách gắn chip để theo dõi gia súc », do đặc phái viên Lúcia Müzell thực hiện, cho biết trước hết về tình trạng gia súc được chăn thả theo lối quảng canh truyền thống là một nguyên nhân căn bản dẫn đến việc rừng bị phá bất hợp pháp là tình trạng phổ biến, rất khó thay đổi.

    Học cách nuôi nhiều gia súc trên một diện tích hạn chế 

    Tại Brazil, trung bình một đầu gia súc trên một hecta, trong lúc tại châu Âu, như Hà Lan, tỉ lệ này là 7 con/hecta. Một trở ngại hàng đầu với người chăn nuôi tại Amazon như vậy là chuyển đổi phương thức sản xuất, mang lại hiệu suất cao hơn. Ông Adelson Aleves Da Silva Torres, nông dân rừng Amazon, một trong những người đầu tiên bắt đầu áp dụng phương pháp mới, cho biết về hoàn cảnh của ông trước đây và cũng là tình trạng phổ biến hiện nay, đang ngăn cản việc áp dụng kế hoạch gắn chip vào tai gia súc:

    « Chính phủ có thể giúp chúng tôi quản lý những khu vực nhỏ để chăn nuôi gia súc bằng hàng rào điện. Xác định như vậy có vẻ hợp lý, nhưng chúng tôi là những người nghèo. Chúng tôi không thể quản lý kiểu đó được. Bởi vì nếu dễ dàng như vậy thì đã không cần phải phá rừng. Bởi vì muốn nuôi nhiều gia súc trên khoảng diện tích chỉ 10 hecta thì không thể được. Và nếu đàn gia súc tăng lên, và người ta muốn phát triển chăn nuôi, thì họ sẽ phải phá rừng. Nguyên do phá rừng chủ yếu hiện nay bắt nguồn từ chuyện này. »

    Chuyển đổi mô hình đòi hỏi đầu tư lớn: Nhà chăn nuôi nhỏ cần được hỗ trợ  

    Ông Bruno Velo, chuyên gia phân tích chính sách công tại Imaflora, tức Viện Quản lý và Chứng nhận Lâm nghiệp và Nông nghiệp, nhấn mạnh đến tiềm năng to lớn của việc gắn chip vào tai gia súc đối với việc chuyển sang mô hình phát triển bền vững, nhưng trách nhiệm đặt lên vai người nông dân là rất lớn :

    « Việc theo dõi gia súc đến từng cá thể có tiềm năng to lớn đưa ngành chăn nuôi Brazil đi theo hướng bền vững hơn. Nhưng để làm được điều đó, cần phải có sự tham gia của người chăn nuôi. Đây là những người trực tiếp thực hiện quá trình chuyển đổi và các hành động cần thiết, như gắn thẻ tai cho gia súc, thực hiện quy trình quản lý môi trường, cô lập các khu vực rừng bị phá. Làm được việc này chính là người chăn nuôi. »

    Theo chuyên gia chính sách công Brazil, để thành công trong việc chuyển đổi, các nhà sản xuất nhỏ và vừa cần được hỗ trợ thích đáng về kỹ thuật và tài chính :

    « Đây là một quá trình đòi hỏi thời gian khá dài và nhiều nỗ lực, cùng nhiều hiểu biết về chuyên môn kỹ thuật ở người chủ. Nhà sản xuất, người muốn hợp thức hóa đất đai, cần phải xác định những khu vực này một cách khá chính xác, bằng cách sử dụng các hình ảnh vệ tinh. Và cũng phải tách riêng ra những khu vực rừng đã bị phá bất hợp pháp. Vậy nên, đây là một quá trình tốn kém. Tại một quốc gia bất bình đẳng sâu sắc, tính khả thi của việc này đối với người sản xuất, khả năng chịu đựng những chi phí này, vốn không đồng đều. Các nhà sản xuất lớn, có nhiều vốn liếng hơn, có thể có đủ tiền để chuyển đổi và thực hiện điều này một cách tự chủ hơn. Những nhà sản xuất nhỏ, hộ gia đình nông dân cần được hỗ trợ để có đủ kinh phí cho quá trình chuyển đổi này. »

    Trước mắt, chính quyền bang Para quy định miễn phí việc gắn chip với các chủ chăn nuôi sở hữu dưới 100 gia súc. Tuy nhiên, còn nhiều việc phải làm trong việc hỗ trợ các nhà chăn nuôi, mà trong số họ, trình độ học vấn thấp cũng là một trở ngại lớn, theo ghi nhận của đặc phái viên RFI. 

    Cơ bản vẫn là mong muốn của người dân

    Người phụ trách Môi trường và Phát triển Bền vững của bang Para, ông, nguyên công tố viên ghi nhận việc nhân sự và các phương tiện cho việc phòng chống phá rừng đã được tăng cường hơn so với việc trước : « Chúng tôi đã tăng gấp 10 lần lực lượng chống phá rừng của bang. Trước đây, chỉ có 10 thanh tra, giờ đây chúng tôi có 100 thanh tra. Không chỉ thanh tra viên, mà còn có xe cộ, drone, tất cả các thiết bị cần thiết cho hoạt động thanh tra này. »

    Trên thực tế, việc giám sát chặt diện tích rừng rộng hơn 2 lần lãnh thổ nước Pháp tại bang Para, chỉ với số nhân viên như trên quả là điều vô cùng nan giải. Người phụ trách Môi trường và Phát triển Bền vững của bang Para, ông Raul Protásio Romão, coi việc nhà chăn nuôi tự nguyện hành động vì nhận ra lợi ích của mình là điều căn bản: « Một nửa trong số các chủ trang trại liên quan đến nạn phá rừng trái phép. Nhưng lượng đất trái phép chỉ chiếm chưa đến 10% tổng diện tích đất mà họ sở hữu. Đây là nhóm các chủ sở hữu có xu hướng tìm kiếm cách hợp pháp hóa đất đai. Nếu không hợp thức hóa được, họ có thể phải gánh chịu những thiệt hại đáng kể do bị phạt. Khi cân nhắc thiệt hơn, việc hợp thức hóa có lợi cho họ hơn nhiều. »

    Giảm nuôi gia súc, tăng rừng phục hồi

    Bà Maria Goretti Rios, ở Para, là một trong những hộ nông dân đi trước trong việc gắn chip theo dõi gia súc. Năm ngoái, gia đình người nông dân này đã lần đầu tiên trực tiếp bán được bò có gắn chip cho công ty đóng gói thịt JBS, lớn nhất Brazil, thay vì phải bán qua các trung gian. Bài phóng sự điều tra của Ban Brazil cũng ra dẫn trường hợp nhà chăn nuôi Wanderlan Sousa Damasceno, đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số khu rừng bị phá trái phép, và trong vòng một năm, ông đã thí điểm được mô hình nuôi 5 gia súc/hecta.

    Ban Brazil, nhân dịp hội nghị khí hậu tại rừng Amazon, có một bài viết khác giới thiệu về xu thế giới chăn nuôi ở Amazon giảm đàn gia súc, để đầu tư cho trồng ca cao bền vững, vừa mang lại một nguồn thu nhập đáng kể, vừa giúp phục hồi rừng. 

    Sự kỳ diệu của ca cao « bền vững » 

    Bang Para từ mươi năm nay đã vươn lên đứng đầu Brazil về sản xuất ca cao. Ca cao tại Para có thể được chế biến đến 30 sản phẩm khác nhau, từ bơ, chocolat đến trà, mật, đến bia… Khác với nhiều nhà sản xuất ca cao lớn trên thế giới, dựa vào cây ca cao độc canh, đặc biệt như ở châu Phi, dẫn đến nạn phá rừng để trồng ca cao, tại bang Para, Brazil, 70% lượng ca cao đến từ cây ca cao bền vững, được trồng ngay trong rừng.

    Người nông dân Jackson da Silva Costa được dẫn ra như một biểu tượng cho sự thay đổi đầy triển vọng này. Nhà chăn nuôi gia súc quản lý 24 hecta đất này, kể từ năm 2023, để tránh bị phạt và « hợp thức hóa đất đai », đã để 5 hecta đất rừng bị phá tự hồi sinh, và bên trong khu rừng đang tái sinh, ông trồng cacao và các loài cây ăn quả phù hợp với rừng. 

    Nền dân chủ Brazil thời Lula tăng tốc bảo vệ Amazon

    Bất chấp 4 năm cầm quyền của tổng thống Bolsonaro, sự trở lại của tổng thống Lula đã góp phần mang lại một sức bật mới trong việc đẩy lùi và hướng đến chấm dứt nạn phá rừng Amazon. Việc gắn chip vào tai gia súc chăn thả để giám sát di chuyển được kỳ vọng như một biện pháp căn bản giúp chặn đứng nạn tàn phá Amazon.

    Thách thức là chồng chất, nhưng định hướng này mang lại hy vọng sẽ góp phần đáng kể vào cuộc chiến bảo vệ rừng, chống biến đổi khí hậu. Việc Châu Âu, và có thể tiếp theo là Trung Quốc, siết chặt các biện pháp chống tiêu thụ các sản phẩm liên quan đến phá rừng, sẽ mang lại những áp lực quan trọng giúp tăng tốc việc chuyển đổi mô hình chăn nuôi, giúp gìn giữ rừng Amazon - tài sản chung của nhân loại. 

    10 min
  • Hoa Kỳ đối mặt với những thách thức mới của chương trình hạt nhân Bắc Triều Tiên

    Cho đến hiện tại Bình Nhưỡng vẫn tỏ ra kín tiếng trước nhiều lời mời từ tổng thống Mỹ Donald Trump gởi đến nhà lãnh đạo Kim Jong Un. Tuy nhiên, trong tháng 9/2025, Bắc Triều Tiên để ngỏ khả năng nối lại đàm phán với điều kiện Hoa Kỳ từ bỏ yêu cầu phá dỡ kho vũ khí hạt nhân của nước này. Theo giới quan sát, nguyên thủ Mỹ hiện đang đối mặt với một nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên ngày càng tự tin hơn, được tiếp thêm sức nhờ vào sự hậu thuẫn của Nga.

    Ngày 29/07/2025, Kim Yo Jong, em gái lãnh đạo Bắc Triều Tiên tuyên bố rằng sức mạnh hạt nhân của của CHDCND Triều Tiên là « không thể đảo ngược », vị thế quốc gia có trang bị vũ khí hạt nhân là « vĩnh viễn », và bất kỳ cuộc đối thoại nào trong tương lai sẽ phải bắt đầu bằng sự thừa nhận vị thế đó . Bà Kim Yo Jong còn nói thêm « năm 2025 không phải là năm 2018, cũng không phải 2019 », hàm ý nhắc đến các thượng đỉnh trước đây giữa Bắc Triều Tiên và Mỹ trong nhiệm kỳ đầu tiên của Donald Trump.

    Trong một lần xuất hiện hiếm hoi tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, ngày 29/09/2025, thứ trưởng Ngoại Giao Bắc Triều Tiên Kim Son Gyong đã tái khẳng định rằng nước ông sẽ không từ bỏ vũ khí hạt nhân bất chấp yêu cầu của quốc tế, xem đây là những yếu tố then chốt để duy trì « cân bằng thế mạnh » với Hàn Quốc.

    Theo nhiều nhà quan sát, những tuyên bố trên của Bắc Triều Tiên phản ảnh một bước tiến đáng kể trong lập trường ngoại giao của chế độ Kim Jong Un. Hơn năm năm sau thất bại thượng đỉnh Hà Nội 2019, Bình Nhưỡng đang đưa ra một tầm nhìn hoàn toàn khác cho tương lai.

    Để hiểu rõ hơn những thách thức mới của chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên đối với an ninh bán đảo Triều Tiên và khu vực Đông Bắc Á cũng như là đối với thế răn đe của Hoa Kỳ trong khu vực, RFI Tiếng Việt có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu về Đông Bắc Á, Đông Nam Á Laurent Gédéon, Đại học Sư phạm Lyon. 

    ---------- ***** ----------

    RFI Tiếng Việt : Trước hết, ông giải thích như thế nào về những tuyên bố gần đây của Bình Nhưỡng ?

    Laurent Gédéon : Theo tôi, có ba điểm chính có thể phân tích từ những tuyên bố trên của Kim Yo Jong : Thứ nhất, vũ khí hạt nhân, với tư cách là một yếu tố răn đe, hiện đã được đưa vào Hiến pháp của CHDCND Triều Tiên và không còn chỉ là đòn bẩy hay một biến số điều chỉnh trong các cuộc đàm phán tương lai. Thứ hai, việc nối lại đàm phán chắc chắn sẽ thất bại nếu Hoa Kỳ vẫn kiên trì yêu cầu phi hạt nhân hóa như là một điều kiện tiên quyết. Điểm thứ ba, đối thoại vẫn có thể thực hiện được, nhưng trên cơ sở thừa nhận « sự đã rồi » được thể hiện qua tình trạng hạt nhân của CHDCND Triều Tiên.

    Liệu ta có thể nói rằng với lời khẳng định trên, Bắc Triều Tiên đang vạch ra một đường lối đối ngoại mới với Hoa Kỳ ?

    Laurent Gédéon : Tuyên bố này của Bình Nhưỡng thực sự cho thấy rõ ba trục, có thể hiểu như là đường lối mới trong chính sách đối ngoại, nhất là với Hoa Kỳ.

    Trục thứ nhất là nhằm củng cố tính chính đáng trong nội bộ, cũng như với bên ngoài về chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Bằng cách khẳng định quy chế hạt nhân là « không thể đảo ngược » và « vĩnh viễn », CHDCND Triều Tiên tìm cách hợp pháp hóa việc sở hữu vũ khí nguyên tử, không còn là một con bài mặc cả tạm thời, mà là một thành phần lâu dài trong lập trường chiến lược của đất nước.    

    Điều này giúp Bình Nhưỡng khẳng định trong đối nội rằng răn đe hạt nhân là một trụ cột không thể thay đổi của chủ quyền quốc gia, và trong đối ngoại – không chỉ đối với Mỹ và các đồng minh của Mỹ, mà cả với Trung Quốc và Nga – rằng kể từ giờ phải tính đến thực tế địa chiến lược này.

    Trục thứ hai, theo tôi, liên quan đến việc có một sự thay đổi cơ bản trong khuôn khổ đàm phán với Mỹ. Trong quá khứ, các cuộc đàm phán giữa Washington và Bình Nhưỡng được thực hiện trên cơ sở Mỹ muốn hạn chế và sau đó là chấm dứt chương trình vũ khí hạt nhân Bắc Triều Tiên. Khi đòi được công nhận vị thế hạt nhân trước, lập trường mới của Bình Nhưỡng rõ ràng đang làm thay đổi khuôn khổ đàm phán trước đây.

    Cuối cùng, khi nói rõ là « 2025 không phải là năm 2018 hay 2019 », CHDCND Triều Tiên bác bỏ ý tưởng trở lại với sự năng động của những  thượng đỉnh trước đây giữa Donald Trump và Kim Jong Un tại Singapore và Hà Nội. Theo Bình Nhưỡng, bối cảnh chiến lược và ngoại giao mới đòi hỏi phải « xuất phát lại từ đầu » với những luật chơi mới.

    Tuy nhiên, vài ngày sau khi nhậm chức vào tháng 01/ 2025, tổng thống Mỹ Donald Trump, trước giới báo chí, đã có vài bình luận ngắn gọn, ngầm thừa nhận Bắc Triều Tiên là một cường quốc hạt nhân. Vậy Bình Nhưỡng còn trông đợi điều gì từ Washington khi đòi được công nhận là một cường quốc hạt nhân « vĩnh viễn » ?

    Laurent Gédéon : Theo tôi, Bắc Triều Tiên có thể kỳ vọng các tiến triển trong một số lĩnh vực.

    Trước hết, một sự công nhận ngầm về vị thế hạt nhân của Bắc Triều Tiên ngụ ý chấm dứt câu chuyện « phi hạt nhân hóa toàn diện » và Washington chấp nhận vị thế của Bình Nhưỡng là một cường quốc hạt nhân hợp pháp. Bắc Triều Tiên không còn muốn bị đối xử như là một kẻ bị ruồng bỏ cần phải giải trừ vũ khí, mà là một cường quốc hạt nhân có chủ quyền được công nhận, một bên đối thoại chiến lược hợp pháp, tương tự như Ấn Độ, Pakistan hay Israel. Cả ba quốc gia hạt nhân này đều không ký kết TNP (Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân), nhưng trên thực tế được cộng đồng quốc tế chấp nhận.

    Hệ quả của sự công nhận này đối với Bình Nhưỡng có lẽ sẽ là khép lại vấn đề giải giới, nâng Bắc Triều Tiên lên hàng cường quốc không thể phủ nhận trong các cuộc đàm phán về an ninh khu vực và buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận một mối quan hệ bình đẳng theo kiểu « cường quốc với cường quốc ».

    Bước tiến thứ hai đối với Bắc Triều Tiên, theo tôi, liên quan đến việc nước này muốn một cuộc đàm phán vô điều kiện tiên quyết với Hoa Kỳ, có thể đi vào đàm phán song phương trực tiếp và bình đẳng chiến lược với Washington. Trên thực tế, Bình Nhưỡng muốn có một tiến triển tương tự như Ấn Độ, quốc gia mà Hoa Kỳ đã dần chấp nhận vị thế hạt nhân và cuối cùng đã ký kết một thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân sự năm 2008 mà vẫn không chính thức thừa nhận Ấn Độ là một cường quốc hạt nhân.

    Yếu tố thứ ba có thể khiến Bình Nhưỡng quan tâm đến là việc nới lỏng cấm vận, giảm nhẹ áp lực kinh tế đang đè nặng lên Bắc Triều Tiên. Điều này rõ ràng sẽ có những hệ quả tích cực cả về mặt đối nội, xét về cấp độ uy tín bên ngoài của nước này, lẫn các mối quan hệ của Bình Nhưỡng với quốc tế.

    Một lý do khác mà Bình Nhưỡng có thể coi là điều tích cực, đó là việc cắt giảm các cuộc tập trận quân sự Mỹ - Hàn, nhất là việc đình chỉ các cuộc tập trận thường kỳ hàng năm, cũng như áp lực quân sự đối với Bình Nhưỡng.

    Điểm cuối cùng là quá trình bình thường hóa dần dần để từ đó có thể đi đến một thỏa thuận hòa bình cho phép chế độ Bắc Triều Tiên củng cố quyền lực trong nước và xác định vị thế tích cực trong cộng đồng quốc tế.

    Chuyện gì sẽ xảy ra nếu nước Mỹ của Donald Trump chấp nhận chính thức công nhận vị thế cường quốc hạt nhân như Bắc Triều Tiên đòi hỏi ?

    Laurent Gédéon : Hệ quả của việc Hoa Kỳ công nhận chính thức vị thế hạt nhân của Bắc Triều Tiên là đáng kể. Đều này sẽ có những tác động đến toàn khu vực, bởi vì làm như vậy sẽ phá vỡ nền tảng chính sách nhất quán của Washington từ nhiều thập niên qua, từ chối cho Bình Nhưỡng tiếp cận bất kỳ vũ khí hạt nhân nào.

    Điều chắc chắn là Hàn Quốc sẽ không ngồi yên và điều này sẽ khơi lại cuộc tranh luận nội bộ về việc Seoul phát triển vũ khí hạt nhân, và có nhiều khả năng mối quan hệ giữa Seoul và Washington sẽ bị thay đổi, do sự mất lòng tin.

    Tương tự đối với Nhật Bản: Tokyo cũng sẽ xem tiến triển này là một thách thức đối với trật tự khu vực. Nhật Bản chắc chắn sẽ cố gắng tăng ngân sách quân sự và có thể, giống như Hàn Quốc, sẽ có một cuộc tranh luận trong nước về nhu cầu trang bị một năng lực hạt nhân độc lập cho quốc gia. Điều này có nguy cơ phá vỡ điều cấm kỵ hạt nhân mà Nhật Bản duy trì từ sau Đệ Nhị Thế Chiến.

    Sự công nhận đó có thể có những tác động đối với nhiều cường quốc hạt nhân khác, đặc biệt là Trung Quốc và Nga. Việc Washington lùi bước trong hồ sơ này, tất nhiên, có thể sẽ được Bắc Kinh cũng như là Matxcơva coi đó là một thắng lợi chiến lược trước Hoa Kỳ và là dấu hiệu cho thấy ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực đang suy yếu.

    Điểm cuối cùng không kém phần quan trọng, sẽ có những hệ quả đáng kể đối với Hiệp ước Không Phổ biến Hạt nhân (TNP). Công nhận vị thế hạt nhân Bắc Triều Tiên sẽ mở cánh cửa cho nhiều yêu sách khác, chẳng hạn như từ Iran, cũng có thể đòi được công nhận tương tự, đồng thời có thể thúc đẩy những nước được gọi là các quốc gia ngưỡng hạt nhân, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ả Rập Xê Út, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, dấn bước và trang bị vũ khí nguyên tử cho riêng mình.

    Nhìn chung, thế giới sẽ chuyển từ một trật tự hạt nhân do một vài cường quốc kiểm soát sang một hệ thống đa cực bất ổn nhiều hơn, thậm chí hỗn loạn, qua việc nhiều quốc gia sẽ tìm cách bù đắp thế yếu kém của mình bằng cách sở hữu vũ khí nguyên tử. Như vậy chúng ta sẽ có hiện tượng gọi là phổ biến hạt nhân theo chiều ngang, tức là có nhiều quốc gia hạt nhân mới, và một sự phổ biến theo chiều dọc, nghĩa là hiện đại hóa các kho vũ khí hạt nhân hiện có.

    Ông giải thích thế nào về thái độ tự tin này của Bình Nhưỡng ? Phải chăng đó là vì chế độ Kim Jong Un đã đạt được một số mục tiêu được đề ra trong kế hoạch 5 năm được thông báo hồi đầu năm 2021 để phát triển nhiều loại vũ khí hạt nhân tân tiến hơn ? Và nhất là nhờ vào sự hỗ trợ về công nghệ của Nga ?

    Laurent Gédéon : Nhiều khả năng là kế hoạch năm năm do Kim Jong Un khởi xướng đầu năm 2021 và sự hỗ trợ về mặt công nghệ của Nga đã đóng một vai trò quan trọng trong sự thay đổi lập trường của Bắc Triều Tiên đối với Mỹ.

    Tôi xin nhắc lại là kế hoạch năm năm 2021-2025 đã được công bố tại Đại hội Đảng Lao Động Triều Tiên lần thứ 8 vào tháng 01/2021. Trong kỳ họp này, một lộ trình đã được vạch ra với mục tiêu phát triển đồng thời các lực lượng hạt nhân « thế hệ mới » và tầu ngầm chiến lược, cùng nhiều loại vũ khí siêu thanh. Tất cả những điều này là một phần trong chính sách chung « phát triển song song » các lực lượng hạt nhân và quy ước.

    Sự hỗ trợ của Nga chắc chắn đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này. Và giai đoạn 2021-2025 đã được đánh dấu bằng việc ký kết hiệp ước « đối tác chiến lược toàn diện » giữa Nga và Bắc Triều Tiên vào năm 2024. Do đó, rất có thể Nga đã chuyển giao cho Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên không chỉ vũ khí thông thường mà cả các công nghệ nhạy cảm trong nhiều lĩnh vực như động cơ đẩy tầu ngầm hạt nhân, ra-đa, dẫn đường tên lửa hay như động cơ đẩy bằng nhiên liệu rắn cho tên lửa. Tuy nhiên, người ta không có bằng chứng chính thức xác định chính xác loại công nghệ được cung cấp và chúng đã có thể thay đổi đáng kể các năng lực của Bắc Triều Tiên như thế nào. Điều này hiện chỉ là những suy đoán.

    Dựa trên những gì chúng ta biết, có khả năng CHDCND Triều Tiên đã đạt được hoặc sắp đạt được một số mục tiêu chính của kế hoạch 2021-2025, đặc biệt là các mục tiêu thu nhỏ và đa dạng hóa các hệ thống phóng (tên lửa, tàu ngầm), và nói chung là tăng cường năng lực răn đe chiến lược.

    Trong bối cảnh này, thái độ tự tin hơn của Bình Nhưỡng là điều dễ hiểu bởi vì, với tiến bộ về mặt kỹ thuật trong năng lực hạt nhân, CHDCND Triều Tiên cảm thấy mình đang ở thế mạnh. Hơn nữa, quan hệ đối tác với Nga giúp cho nước này tăng cường quyền tự chủ chiến lược và một giải pháp dự phòng về ngoại giao và công nghệ trong trường hợp Washington và các đồng minh cố gắng gây áp lực mạnh lên Bình Nhưỡng. Cần lưu ý rằng năm 2025 đánh dấu sự kết thúc của kế hoạch 5 năm và việc chính quyền Bắc Triều Tiên khẳng định vị thế hạt nhân « không thể đảo ngược » có thể được hiểu là cách để xác nhận họ đã đạt được các mục tiêu của kế hoạch.

    Theo ông, Nga – Triều tăng cường hợp tác trên phương diện quốc phòng cũng như việc cải thiện đáng kể năng lực hạt nhân và quân sự của Bình Nhưỡng có sẽ đẩy Hàn Quốc, Hoa Kỳ cũng như Nhật Bản lao vào cuộc chạy đua vũ trang tốn kém, và có thể làm suy yếu liên minh Mỹ – Nhật – Hàn, đồng thời gây tổn hại cho uy tín của Mỹ trong khu vực ?

    Laurent Gédéon : Đúng vậy. Một vài yếu tố cho thấy là nguy cơ chạy đua vũ trang là có thực.

    Ví dụ, liên quan đến Hàn Quốc, nước này đã bắt tay vào quá trình tái vũ trang quy mô lớn, thể hiện qua việc phát triển tên lửa đạn đạo quy ước tầm cực xa, hiện đại hóa hệ thống phòng thủ tên lửa, đầu tư vào phòng thủ mạng và drone chiến đấu, cũng như tăng cường các cuộc tập trận chung với Hoa Kỳ.

    Về phần mình, Nhật Bản đã phá vỡ điều cấm kỵ trong hiến pháp và đã quyết định trong năm 2022-2023, phát triển năng lực tấn công phủ đầu, tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng (lên mức 2% GDP ngay trong năm nay, thay vì từ đây đến năm 2027) và tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ và Úc.

    Về phía Hoa Kỳ, họ đối diện với tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược và ngân sách. Bởi vì, trên thực tế, Mỹ đang tham dự vào nhiều mặt trận. Họ phải duy trì thế răn đe tại châu Âu trong bối cảnh chiến tranh tại Ukraina, kềm chế Trung Quốc ở Thái Bình Dương và giải quyết khủng hoảng hạt nhân Bắc Triều Tiên.

    Một số nhà phân tích tin rằng áp lực ba bên này có thể làm cạn kiệt các năng lực triển khai của Washington trong dài hạn, nhất là khi Lầu Năm Góc phải tài trợ cùng lúc cho việc hiện đại hóa các năng lực hạt nhân và hải quân Mỹ, tạo ra một gánh nặng ngân sách ước tính đến hơn 1.500 tỷ đô la trong vòng 30 năm. Chính vì thế, người ta thường xuyên đề cập đến nguy cơ Mỹ kiệt quệ chiến lược, một viễn cảnh thực sự gây lo lắng cho các đồng minh của Mỹ tại châu Á.

    Thêm vào đó, các lợi ích chiến lược của Washington, Tokyo và Seoul nhìn chung là hội tụ, nhưng lại hoàn toàn không thống nhất. Chẳng hạn, mục tiêu của Mỹ là ngăn chặn phổ biến hạt nhân và duy trì sự ổn định khu vực. Seoul thì muốn bảo vệ lãnh thổ và được độc lập chiến lược nhiều hơn. Về phần Tokyo, họ muốn tự phòng vệ trước Bình Nhưỡng và Bắc Kinh nhưng không muốn lệ thuộc quá mức vào Mỹ.

    Ba lợi ích nói trên có thể xung đột nhau vì nhiều nguyên nhân, chẳng hạn trong trường hợp Hoa Kỳ giảm các cam kết vì lý do ngân sách hay chính trị. Một lý do khác có thể liên quan đến sự trỗi dậy trở lại của những căng thẳng lịch sử giữa Nhật Bản và Hàn Quốc. Tương tự, việc Washington chọn ưu tiên đối thoại trực tiếp với Bình Nhưỡng, gây bất lợi cho Seoul, có thể dẫn đến nhiều hệ quả chính trị. 

    Trong tất cả các kịch bản này, có nguy cơ là sự gắn kết của tam giác Mỹ – Nhật – Hàn bị suy yếu, bởi vì các đồng minh châu Á của Washington rất có thể bắt đầu nghi ngờ độ tin cậy của Mỹ, đặt biệt là độ tin cậy của lá chắn hạt nhân Hoa Kỳ. Điều này, sau đó, có thể thúc đẩy Seoul và Tokyo, như chúng ta đã thấy, phát triển năng lực răn đe của riêng mình, mở đường cho việc phổ biến hạt nhân tại các nước đồng minh của Mỹ.

    Tóm lại, đúng vậy, trong dài hạn, Washington có nguy cơ chịu tổn thất do đánh mất uy tín, một tình huống chỉ có thể có lợi cho Nga và Trung Quốc và do vậy Bắc Kinh và Matxcơva sẽ tìm cách khai thác tốt nhất cho các lợi ích của họ.

    RFI Tiếng Việt xin trân trọng cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên trường đại học Sư phạm Lyon.

    18 min
  • Xung đột Gaza: Liệu có thể buộc Hamas hạ vũ khí ?

    Kế hoạch hòa bình cho Gaza của tổng thống Mỹ Donald Trump được các bên xung đột chấp thuận và giai đoạn một đã nhanh chóng được triển khai vào giữa tháng 10/2025. Lần đầu từ kể khi xung đột bùng nổ cách nay hai năm, viễn cảnh hòa bình lâu dài cho Gaza hé mở. Giải giáp lực lượng quân sự của Hamas là đòi hỏi chủ yếu của Israel để tổ chức mà nhiều nước phương Tây coi là « khủng bố » này không còn là mối đe dọa với Nhà nước Do Thái.

    Tổ chức Hamas không tự nguyện buông súng và để ngỏ khả năng gắn liền vấn đề này với sự ra đời của một Nhà nước Palestine có chủ quyền. Theo giới quan sát, viễn cảnh giải giáp lực lượng Hamas, một nội dung chính trong kế hoạch hòa bình 20 điểm của tổng thống Mỹ, có khả năng thực thi được hay không là một vấn đề còn hoàn toàn để ngỏ.

    Hamas suy yếu, buộc phải chấp nhận thỏa thuận « hạ vũ khí »

    Sau khi kế hoạch 20 điểm của tổng thống Mỹ được công bố, chuyên gia về chiến tranh đô thị John Spencer, Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point, một người thân cận với thủ tướng Israel Netanyahu, tỏ ra rất tin tưởng vào viễn cảnh thực thi việc tước vũ khí của Hamas:

    « Kế hoạch 20 điểm được thảo ra là một kế hoạch hòa bình toàn diện, hoàn toàn loại bỏ Hamas khỏi vai trò là một tác nhân. Nếu mọi điểm của kế hoạch đó được tuân thủ thì sẽ không còn Hamas nữa. Hamas sẽ không có vai trò gì trong các nỗ lực chính trị, thậm chí là trong các hoạt động xây dựng xã hội trong tương lai.

    Điều quan trọng nữa là các quốc gia với đa số là người Ả Rập và Hồi giáo đã ký kết vào kế hoạch này. Đây không phải là một thương vụ để đàm phán, mà là một kế hoạch 20 điểm để thực hiện… Dải Gaza sẽ được phi cực đoan hóa và phi quân sự hóa. Hamas sẽ phải từ bỏ tất cả vũ khí. Chắc chắn kế hoạch này là chiến thắng hoàn toàn của Israel, nhưng cũng phục vụ các lợi ích của người Palestine không thuộc Hamas.

    Người Palestine sẽ có một chính phủ mới. Sẽ có một chương trình giáo dục giải cực đoan, và thậm chí cả con đường hướng tới quyền tự quyết của người Palestine nói chung. Kế hoạch này mang lại nhiều tiềm năng nhất cho hòa bình, không chỉ cho Gaza mà còn cho người dân Palestine. »

    • Đọc thêm : Israel và Hamas đạt thỏa thuận về giai đoạn đầu trong kế hoạch hòa bình của Trump cho Gaza

    Tuy nhiên, thách thức của việc thực thi mục tiêu giải giới lực lượng vũ trang Hamas nằm ngay trong các điều khoản của kế hoạch này. Theo nhà nghiên cứu David Rigoulet-Roze, Viện Phân tích Chiến lược Pháp (IFAS), chuyên gia về các cuộc xung đột ở Trung Đông, điều 13 của kế hoạch quy định việc « phi quân sự hóa » bao gồm phá hủy cơ sở hạ tầng quân sự (đường hầm, kho vũ khí và xưởng sản xuất vũ khí), nhưng hiện tại vẫn chưa có thỏa thuận cụ thể về việc giám sát quá trình này. Trong chuyến công du mới đây tại Israel, phó tổng thống Mỹ J.D Vance thừa nhận là không có thời hạn cụ thể cho việc giải giáp Hamas.

    Sau hai năm chiến tranh, Hamas vẫn là một thế lực

    Theo giới chuyên gia, hai năm sau khi xung đột bắt đầu, lực lượng Hamas vẫn bám trụ vững chắc ở dải Gaza, mặc dù suy yếu nhiều. Hiện chưa có số liệu thống kê chính xác về tổn thất của phong trào Hồi giáo này. Nhiều nguồn tin đưa ra con số từ 8.000 đến 12.000 chiến binh thiệt mạng trong hai năm chiến tranh, trên tổng số 25.000 đến 30.000 chiến binh Palestine trước vụ khủng bố ngày 07/10/2023. 

    Hamas có thể vẫn tiếp tục tuyển mộ thêm đến 15.000 chiến binh trong thời gian chiến tranh chống Israel, theo một số nguồn tin Mỹ, được trang mạng Bỉ RTL trích dẫn. Theo truyền thông Anh quốc, chỉ vài giờ sau khi lệnh ngừng bắn được thực thi, Hamas đã ngay lập tức triển khai đến 7.000 chiến binh trên những vùng đất mà Israel rút quân. Một số giới chức Hamas cho biết mục tiêu là để bảo đảm an ninh chống lại những kẻ trộm cướp và các băng đảng người Palestine được sự hậu thuẫn của quân đội Israel trước đây.

    • Đọc thêm - Trung Đông : Phe Hamas từ chối cam kết giải giáp

    Hamas sở hữu một kho vũ khí đa dạng, bao gồm vũ khí hạng nhẹ, hỏa tiễn tự chế và drone thô sơ. Theo ghi nhận năm 2018 của Small Arms Survey, một chương trình nghiên cứu chuyên về vũ khí của Thụy Sĩ, Hamas từ lâu đã phát triển một ngành công nghiệp tại chỗ để sản xuất hỏa tiễn từ các vật liệu dân dụng. Dự trữ vũ khí của Hamas được đánh giá là phân tán, rất khó truy tìm.

    Sức mạnh Hamas (1) : Hệ thống đường hầm hàng trăm cây số

    Sức mạnh quân sự của Hamas một phần chủ yếu dựa vào các hệ thống đường hầm nằm sâu trong lòng đất dài hàng trăm cây số, và các đô thị ở dải Gaza được Hamas dày công xây dựng để biến thành các thành lũy khó chinh phục. Chuyên gia về chiến tranh đô thị John Spencer nhận định hệ thống đường hầm quân sự nhưng gắn liền với các công trình dân sự, và hệ thống phòng thủ đô thị nói chung ở Gaza là độc nhất vô nhị :

    « Hamas cai quản dải Gaza từ năm 2005 đã chi hơn một tỷ đô la cho hệ thống đường hầm phức hợp ước tính dài hơn 350 dặm, dành cho mục đích quân sự, nằm bên dưới các khu vực đô thị của Gaza, bắt đầu từ ngay dưới các tòa nhà cho đến hơn độ sâu khoảng 60 mét dưới lòng đất. Không chỉ đường hầm, mà mọi khía cạnh của môi trường Gaza đã được Hamas chuẩn bị cho chiến tranh trong vòng 20 năm, kể từ khi họ nắm quyền vào năm 2007. Nhưng trước đó nữa, ngay cả trong giai đoạn Israel chiếm đóng dải Gaza (cho đến năm 2005), Hamas đã xây dựng nhiều đường hầm vì mục tiêu quân sự. Đó là một điều rất độc đáo và thực sự độc nhất vô nhị trong lịch sử chiến tranh đô thị.

    Trong lịch sử, hầu hết các trận chiến đô thị đều là nơi mà bên phòng thủ có rất ít thời gian chuẩn bị. Càng có nhiều thời gian chuẩn bị phòng thủ thì chiến tranh càng kéo dài và càng tàn khốc. Một số trận chiến lớn nhất trong lịch sử chiến tranh đô thị như Stalingrad về cơ bản là giao tranh giữa hai lực lượng quân đội trên địa hình đô thị. Trận chiến đô thị lớn nhất kể từ Đệ nhị Thế chiến II, trước chiến tranh Ukraina, là trận Mosul, một trận chiến kéo dài chín tháng để giành lại thành phố từ tay tổ chức Nhà nước Hồi giáo. Phải huy động đến hơn 100.000 quân, lực lượng an ninh Irak mới giành lại được thành phố (có từ 3.000 đến 5.000 quân cố thủ), vì Daech đã có hai năm chuẩn bị phòng thủ. Trong khi tại thành phố lớn như Gaza, Hamas đã có 20 năm chuẩn bị. Bên dưới mỗi bước chân người đi đường đều có một đường hầm. Về cơ bản, mọi ngôi nhà đều đã được quân sự hóa, hầu hết đều có kho chứa bom, thiết bị nổ tự chế hoặc vị trí bắn tỉa. »

    Sau hai năm chiến tranh, với khoảng 80% khu vực Gaza bị phá hủy, và 90% vũ khí hạng nặng của Hamas bị tiêu hủy, theo quân đội Israel, Hamas không còn là mối đe dọa trực tiếp với Israel, nhưng 60% của hệ thống đường hầm 500, 600 km vẫn còn nguyên vẹn, theo số liệu của chính Israel.

    Sức mạnh của Hamas không chỉ ở hệ thống đường hầm quân sự độc nhất vô nhị này, mà một phần chủ yếu nằm ở việc tại dải Gaza, Hamas không có đối thủ cạnh tranh. Theo nhà nghiên cứu Hugh Lovatt, chuyên về Trung Đông và Bắc Phi tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Châu Âu, Hamas không thể sụp đổ, do các nhóm đối địch « không có đủ sức mạnh quân sự để đạt được điều này » và « cũng không có được sự ủng hộ của người Palestine, nhất là khi họ bị mất uy tín do mối quan hệ với Israel ».

    Sức mạnh Hamas (2): Từ phong trào thuần túy tôn giáo đến bàn tay sắt tại Gaza

    Về nguồn gốc của tổ chức độc quyền thống trị dải Gaza từ năm 2006, nhà xã hội học chính trị Laetitia Bucaille, Viện INALCO và Trung tâm CESMA, tác giả cuốn « Gaza quel avenir ? » (Tương lai nào cho Gaza ?) vừa ra mắt, nhấn mạnh đến quan hệ với Huynh đệ Hồi giáo, một tổ chức tôn giáo với tham vọng chính trị mang tầm vóc khu vực (Radio France) :

    « Hamas là từ viết tắt tiếng Ả Rập của Phong trào Kháng chiến Hồi giáo, được thành lập vào cuối năm 1987, thời điểm bắt đầu Intifada lần thứ nhất, tức phong trào phản kháng của người Palestine chống lại ách cai trị của Isarel. Phong trào này là một nhánh chính trị của tổ chức Huynh đệ Hồi Giáo. Chúng ta biết là Huynh đệ Hồi giáo bắt đầu thành lập các mạng lưới hoạt động tại các vùng lãnh thổ Palestine vào cuối những năm 1970, được Ả Rập Xê Út và Koweit tài trợ. Các thế lực này dựa vào việc tái Hồi giáo hóa xã hội để chuẩn bị về dài hạn tái chiếm Palestine. Với họ, chủ nghĩa dân tộc Ả Rập thế tục đã thất bại, và họ tin tưởng lực lượng tiếp nối giúp đạt được mục tiêu này chính là Hồi giáo. »

    Hamas độc quyền thống trị tại dải Gaza sau cuộc bầu cử năm 2006. Nhà nhân chủng học Đức Susanne Schroter, trong bộ phim tài liệu « Hệ thống Hamas » (của Arte), mô tả « sau chiến thắng bầu cử, họ đã tấn công Fatah, một phong trào chính trị yếu hơn, bằng những hành động cực kỳ tàn bạo. Bắn người tại nơi làm việc, buộc họ phải rời bỏ nhà cửa, trục xuất họ khỏi đất nước. Hamas đã bộc lộ bản chất thật sự của mình và gửi một thông điệp rõ ràng đến người dân Palestine: Không có sự phản đối nào được dung thứ. »

    • Đọc thêm - Điểm lại lịch sử tranh đấu vì độc lập: Từ "20 năm bị xóa sổ" đến Nhà nước Palestine

    Nhà sử học Đức Ulrik Becker, cũng trong bộ phim tài liệu nói trên, nhấn mạnh đến việc tổ chức Hồi giáo này, trong thời gian độc quyền kiểm soát Gaza, đã truyền bá rộng rãi tư tưởng thánh chiến dân tộc chủ nghĩa chống Israel cho trẻ em, ngay từ trong nhà trường :

    « Điều tôi thấy bi thảm và đặc biệt khủng khiếp là hệ tư tưởng hiếu chiến và bài Do Thái này đang được gieo rắc vào đầu óc trẻ em từ rất nhỏ. Thật đáng sợ khi thấy ý tưởng hy sinh bản thân vì lý tưởng thánh chiến lại xuất hiện trong sách giáo khoa và trong mọi môn học. Ví dụ, trong môn toán, có những bài tập như, ‘‘chênh lệch giữa số liệt sĩ bị giết trong cuộc Intifada đầu tiên với cuộc Intifada thứ hai là bao nhiêu ?’’ hoặc trong môn vật lý, ‘‘dùng ná cao su để nhắm vào người Israel, cần tính toán góc bắn như thế nào’’ ».

    Vòng xoáy hận thù Israel – Palestine: Mảnh đất màu mỡ cho Hamas và quyền lực của Netanyahu

    Kế hoạch hòa bình 20 điểm cho Gaza của tổng thống Mỹ không xác định rõ lộ trình giải giáp Hamas, không có thời hạn cho việc phi quân sự hóa Gaza. Sau hai năm chiến tranh, bất chấp các tổn thất nặng nề, lực lượng quân sự Hồi giáo dân tộc chủ nghĩa Hamas vẫn còn sở hữu hàng trăm cây số đường hầm, được coi là căn cứ địa vững chắc. Đông đảo người dân Palestine tại vùng đất này, đặc biệt là giới trẻ dường như vẫn tin theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa Hồi giáo chống Israel mà Hamas truyền bá sâu rộng. Chưa kể các hậu thuẫn to lớn từ Qatar hay Thổ Nhĩ Kỳ (xem thêm : Thổ Nhĩ Kỳ và Palestine bàn cách viện trợ nhân đạo cho Gaza không qua Israel, RFI). Làm thế nào có thể giải giới được tổ chức Hamas tại dải Gaza trong những điều kiện như vậy ?

    • Đọc thêm : Hòa bình cho Gaza: Vì sao « kế hoạch » của Trump có nguy cơ đổ bể ?

    Theo nhiều chuyên gia, để chấm dứt vòng xoáy hận thù miên viễn, cần trở lại cái gốc của vấn đề. Đó là đòi hỏi công nhận một nhà nước Palestine có chủ quyền tại các vùng đất đã được quốc tế nhìn nhận.

    Cho đến nay, cản trở cho hòa bình đến từ cả hai phía. Chuyên gia về xung đột Palestine – Israel Laetitia Bucaille nhận định : « Kể từ Hiệp định Oslo, Hamas đã cố gắng khẳng định vị thế của mình trên chính trường với tư cách là một đối tác chính trị. Nhưng họ chưa bao giờ trở thành một đối tác như vậy với cả Israel lẫn phương Tây, bởi đòi hỏi trước hết là Hamas phải từ bỏ bạo lực, công nhận Hiệp định Oslo và công nhận Israel. Nhưng rõ ràng, Hamas không muốn thực hiện ba điều kiện này nếu không nhận lại bất cứ điều gì. Vì vậy, họ chưa bao giờ làm được điều đó. » Một số chuyên gia, như nhà nghiên cứu Sébastien Boussois (La Tribune), chỉ trích việc chính quyền Israel của thủ tướng Netanyahu trong một thời gian dài xem việc dung dưỡng Hamas như là một thủ đoạn ngăn cản việc khẳng định một nhà nước Palestine độc lập, góp phần làm tình hình thêm trầm trọng.

    “Hoà bình bằng vũ lực” hay Chung sống hòa bình ?

    Việc Israel muốn chấm dứt mối đe dọa Hamas cần gắn liền với việc Tel Aviv công nhận Nhà nước Palestine, đình chỉ việc xâm chiếm các vùng đất Palestine. Trả lời RFI, chuyên gia về Trung Đông, giáo sư Jean-Paul Chagnollaud, chủ tịch Viện Nghiên cứu về Trung Đông – Địa Trung Hải (IReMMO) nhận định :

    « Nếu có một điều không bao giờ hiệu quả, đó là hòa bình bằng vũ lực. Hành động kiểu này sẽ chỉ tạo ra các lực lượng đối kháng và bạo lực đối kháng. Hòa bình thực sự chỉ có thể được thiết lập khi lợi ích của tất cả các bên được xem xét trong một thỏa hiệp rộng rãi mang tầm vóc lịch sử. Nếu chỉ là hòa bình bằng vũ lực, bằng cách ném bom Liban, ném bom Syria, v.v., chúng ta sẽ có một giai đoạn mà đối phương bị khuất phục, điều không thể phủ nhận được. Nhưng đó chỉ là sự thống trị của kẻ ngạo mạn. Sau đó, một khi khói lửa lắng xuống, người ta sẽ lại phải đối diện với cùng các vấn đề tương tự, nhưng trầm trọng hơn.

    • Đọc thêm - Hòa bình cho Gaza và lợi ích của gia đình Trump : Một công đôi việc

    Câu hỏi đầu tiên mà chúng ta đặt ra là lệnh ngừng bắn và thỏa thuận đình chiến này sẽ hướng đến điều gì ? Sẽ đi theo hướng thuần túy kinh tế-thương mại như tổng thống Mỹ Donald Trump đã vạch ra ? Hay từ đây chúng ta sẽ nghĩ đến một điều gì khác mang tính toàn thể hơn, như hướng đến thực thi giải pháp hai Nhà nước Israel và Palestine cùng tồn tại ? Đối với tôi, đó là lựa chọn khả dĩ duy nhất. Nhưng hiện tại không có gì là chắc chắn cả. »

    10 min
  • Trung Á : Tầm ảnh hưởng của Nga bị xói mòn ?

    Từ ngày 08 đến 10/10/2025, tổng thống Vladimir Putin có chuyến thăm cấp nhà nước ba ngày tại Tajikistan vào thời điểm các nước Trung Á đang có những chuyển đổi địa chính trị trong khi Nga tìm cách duy trì ảnh hưởng đang dần suy yếu của mình do cuộc chiến xâm lược Ukraina.

    Về mặt chính thức, tổng thống Nga đến thủ đô Dushanbe để dự hai cuộc họp quan trọng : Thượng đỉnh Nga và năm nước Trung Á Kazakhstan, Kirghizistan, Ouzbekistan, Tajikistan, và Turkmenistan, và Thượng đỉnh Cộng đồng Các Quốc gia Độc lập (CIS) giữa Nga, năm nước Trung Á cùng với Belarus, Armenia và Azerbaijan.

    Trung Á : Sân sau chiến lược truyền thống của Nga

    Theo giới quan sát, những cuộc họp này còn là cách để ông Putin chứng tỏ Nga vẫn duy trì kiểm soát đối với « các nước láng giềng gần », những nước nằm trong vùng ảnh hưởng của Matxcơva, đặc biệt là tại Trung Á, đang trở thành vùng tranh giành ảnh hưởng giữa Trung Quốc và phương Tây.

    Nhìn từ góc độ lịch sử, Trung Á từ lâu được xem như là sân sau chiến lược của Nga. Và mỗi nước Cộng hòa có những nét đặc biệt và riêng biệt trong quỹ đạo thuộc địa Nga và Xô Viết cũng như là trong mối quan hệ của họ đối với Nga. Các mối liên hệ trong nhiều lĩnh vực kinh tế, thương mại, giáo dục và an ninh, quân sự cũng từ đó được siết chặt hơn.

    Nhà nghiên cứu về Trung Á đương đại, Isabelle Ohayon, trợ lý giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về thế giới Nga, Kavkaz và Trung Âu, trên đài phát thanh France Culture, ngày 08/04/2025, nhắc đến Kazakhstan như một ví dụ điển hình :

    « Kazakhstan có mối liên hệ rất chặt chẽ và lâu đời với Nga, bởi vì nước này là quốc gia đầu tiên, là không gian đầu tiên bị đế chế Nga đô hộ ngay từ đầu thế kỷ XVIII. Đây cũng là đất nước, trước khi Liên Xô sụp đổ, có cộng đồng cư dân Nga và nói tiếng Nga đông nhất. Người Kazakhstan chỉ chiếm có 39% dân số vào năm 1991 so với tỷ lệ 70% hiện nay. Điều đó cho thấy là hiện tượng Nga hóa, sự hiện diện của Nga, cũng như sự gắn bó với nền văn hóa lớn của Nga theo nghĩa chung đã thâm nhập, thấm nhuần sâu sắc tại Kazakhstan hơn là các nước Cộng hòa khác. Nếu chỉ xét về việc sử dụng ngôn ngữ, tiếng Nga được dùng phổ biến, song ngữ phát triển khá mạnh mẽ ».

    Năm 1991, Liên Xô tan rã, nhưng các mối quan hệ đó vẫn tồn tại. Theo nữ tiến sĩ Laetitia Spetschinsky, chuyên ngành Quan hệ Quốc tế tại trường đại học Công giáo Louvain, Bỉ, trả lời phỏng vấn báo Bỉ L’Echo, « sự tan rã một đế chế không có nghĩa là toàn bộ cấu trúc được xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử bị sụp đổ : Hệ thống liên thông đường sắt và các tiêu chuẩn công nghiệp vẫn được duy trì ».

    Về điểm này, nhà nhiếp ảnh người Ouzbekistan Timur Karpov, trong một chương trình trên đài truyền hình ARTE (19/11/2024), có cùng nhận định : « Nga luôn gây sức ép mạnh mẽ đối với Uzbekistan. Mối quan hệ giữa hai nước đã bắt đầu phát triển trong suốt thời kỳ Xô Viết. Vào thời điểm đó, toàn bộ giới lãnh đạo đất nước, bằng cách này hay cách khác, đều có liên hệ chặt chẽ với Nga. Hệ quả là việc nước tôi khó thể tách rời khỏi Nga cũng là lẽ tất nhiên ».

    Chiến tranh Ukraina : Bàn cờ Trung Á được xáo lại

    Nhưng việc Nga phát động chiến tranh xâm lược Ukraina đã làm thay đổi bàn cờ địa chính trị tại Trung Á. Những phát biểu của ông Putin sẵn sàng dùng vũ lực để chiếm lại những vùng lãnh thổ từng thuộc về đế chế Nga hay để bảo vệ kiều dân Nga ở hải ngoại càng làm gia tăng nỗi lo về an ninh tại các nước Trung Á.

    Điều này thôi thúc các nước trong khu vực cùng với một số nước vùng Kavkaz bắt đầu mở rộng các mối quan hệ với nhiều nước đối tác cũng như đối thủ của Nga, từ Trung Quốc, Liên Hiệp Châu Âu, cho đến Thổ Nhĩ Kỳ hay các nước Vùng Vịnh, nhằm tìm cách bảo vệ trước nguy cơ một cuộc tấn công mới từ Nga.

    Đối với năm nước Trung Á, cuộc chiến Ukraina một thời cơ tốt để thiết lập các mối quan hệ mới với nhiều cường quốc khác. Vladislav Inozemstsev, cố vấn đặc biệt tại Viện Nghiên cứu về Truyền thông Trung Đông, trả lời hãng Bloomberg, lưu ý, « tầm ảnh hưởng của Putin đang suy yếu, nhưng sẽ không kéo dài bao lâu ».

    Trong số các nước tận dụng khoảng trống quyền lực do Nga để lại, Trung Quốc là bên hưởng lợi nhiều nhất. Phóng sự của ký giả Heike Smith, ban tiếng Pháp đài RFI, nêu trường hợp cửa khẩu Khorgos, nằm giữa Trung Quốc và Kazakhstan. Tại đây, các hoạt động vận chuyển hàng hóa từ Trung Quốc sang châu Âu tăng vọt ngoạn mục kể từ khi chiến tranh Ukraina bùng nổ, theo như mô tả của Hicham Belmaachi, một doanh nhân người Maroc.

    « Từ khi xảy ra chiến tranh ở Ukraina, chúng tôi nhận thấy nhiều công ty quốc tế, đặc biệt là các hãng vận tải biển lớn nhất, đã rút khỏi Nga. Điều này đồng nghĩa với việc các hãng lớn vận tải đường biển quốc tế đã ngừng hoạt động tại Nga. Vì vậy, chúng tôi đã phải thiết kế lại hoàn toàn hệ thống kho bãi tại khu vực này. Cụ thể là Kazakhstan, Uzbekistan và Kyrgyzstan, thay vì nhập khẩu phần lớn sản phẩm từ Nga, nay đã chuyển hướng sang Trung Quốc ».

    Mối tương quan lực lượng cũng vì thế có thay đổi. Nga không còn thế ưu việt tại Trung Á như trước đây. Nếu như Matxcơva vẫn thống trị khu vực trong lĩnh vực an ninh, Nga lại bị Trung Quốc cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại, công nghệ và thậm chí cả ngoại giao.

    Về điểm này, nhà chính trị học người Kazakhstan, Dossym Satpaiev, giám đốc trung tâm tư vấn Risks Assessment Group, trả lời RFI, nhận định cuộc chiến tại Ukraina đã mang đến một cơ hội tốt cho phép Kazakhstan giữ khoảng cách với Matxcơva.

    « Đúng là chúng tôi có đường biên giới rất dài với Nga. Khoảng 20% ​​dân số là người Nga. Dầu mỏ xuất khẩu của chúng tôi vẫn đi qua lãnh thổ Nga. Hơn nữa, một phần lãnh thổ Kazakhstan phụ thuộc vào nguồn cung cấp điện của Nga. Kazakhstan cũng nhận khí đốt từ Nga. Vì vậy, Nga vẫn có ảnh hưởng đối với Kazakhstan. Nhưng mặt khác, cuộc chiến ở Ukraina đã tạo cho Kazakhstan một cơ hội tốt để dần dần tách khỏi Matxcơva. Kazakhstan giờ đây phải tìm kiếm một đối trọng địa chính trị với Nga. »

    Trung Á : Thách thức mới cho Nga

    Không chỉ có Trung Quốc, nhiều cường quốc phương Tây cũng bắt đầu dòm ngó đến Trung Á, từ Liên Hiệp Châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, cho đến nước Mỹ của Donald Trump, thông qua các thỏa thuận về đầu tư khai thác khoáng sản, vận chuyển và năng lượng. Trên đài RFI, Michael Levystone, đồng sáng lập Đài Quan sát Tân Á – Âu, chuyên gia về Châu Âu và vùng Á-Âu tại INALCO, nhận xét tiếp :

    « Đây là khu vực có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, chẳng hạn như năng lượng mặt trời ở Uzbekistan, năng lượng gió trên bờ biển Caspi của Kazakhstan và Turkmenistan, và thủy điện, vốn đã rất phát triển ở Kyrgyzstan và Tajikistan. Một khu vực nằm ở ngã tư của các cường quốc : Nga, Trung Quốc, Iran, và cũng không xa Thổ Nhĩ Kỳ.

    Trong bối cảnh các lệnh trừng phạt rất khắc nghiệt đối với nền kinh tế Nga nhằm trả đũa cho cuộc xâm lược Ukraina ngày 24 tháng 2 năm 2022, khu vực này một lần nữa thực sự trở thành trung tâm thương mại xuyên khu vực giữa Trung Quốc và Liên Hiệp Châu Âu theo hướng Đông-Tây, và giữa Nga và Nam Á theo hướng Bắc-Nam. Đây là những quốc gia, các nước Cộng hòa Trung Á, đang nỗ lực tối đa hóa tiềm năng địa kinh tế mới này, gắn liền với việc điều chỉnh quy mô các hành lang giao thông đi qua khu vực này để kết nối các cường quốc kinh tế với nhau. »

    Dù vậy, giới chuyên gia đều nhận định, bất chấp cuộc chiến tại Ukraina, tầm ảnh hưởng của Nga tuy suy giảm, nhưng Matxcơva vẫn còn hiện diện đáng kể về mặt chính trị, kinh tế và quân sự trong vùng. Trang Bloomberg lưu ý, hàng triệu di dân Trung Á đang sinh sống và làm việc tại Nga gởi tiền, góp phần nuôi sống nền kinh tế trong nước. Kazakhstan, Kirghizistan và Armenia là thành viên của khu vực thuế quan chung do Nga điều hành. Còn Tajikistan tham gia vào khối liên minh phòng thủ với Matxcơva, trong khi Kazakhstan là quốc gia duy nhất trong vùng không có căn cứ quân sự Nga.

    Trong bối cảnh mới này, theo quan điểm của ông Michael Levystone, mục tiêu chuyến công du Trung Á của tổng thống Putin là nhằm chứng minh Nga vẫn có ảnh hưởng trong vùng. Trên làn sóng RFI, ông nhận định :

    « Nga đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ Trung Quốc và các nước vùng Vịnh, đặc biệt là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Ả Rập Xê Út. Về đất hiếm, Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ rất chú ý và ngày càng hiện diện nhiều hơn. Năng lượng hạt nhân theo truyền thống là một trong những điểm mạnh trong chính sách ngoại giao kinh tế của Matxcơva trong khu vực. Ngoài năng lượng hạt nhân, còn có vũ khí Nga.

    Vấn đề nhỏ là tại Uzbekistan, Rosatom đã trúng thầu xây dựng một nhà máy điện hạt nhân, nhưng công suất lắp đặt đã bị tổng thống Mirziuyev hạ xuống đáng kể vào năm 2024. Và tại Kazakhstan, dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên Hồ Balkash thực tế đã được chính quyền Astana trao cho Rosatom vào đầu năm nay.

    Bộ trưởng Năng lượng Kazakhstan khi đó đã tuyên bố Trung Quốc sẽ được trao thầu xây dựng một dự án hạt nhân khác tại Kazakhstan. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rõ ràng ngay cả ở đây, Nga cũng không hoàn toàn có chủ quyền. Các nước Trung Á, trong trường hợp này là Kazakhstan, vẫn có phản xạ muốn cân bằng mọi thứ để tránh, về cơ bản, giao phó một phần đáng kể an ninh năng lượng của họ cho riêng Nga. »

    11 min
  • Chống Nga can thiệp bầu cử: Vì sao Moldova thành điểm quyết đấu giữa EU và Matxcơva?

    Moldova, quốc gia nhỏ bé với hơn 2 triệu dân, thành viên Liên Xô cũ, vốn rất ít được chú ý, đột ngột trở thành tâm điểm thời sự châu Âu cuối tháng 9/2025. Bầu cử Quốc Hội Moldova không chỉ là cuộc đấu giữa đảng PAS cầm quyền của tổng thống Maia Sandu, chủ trương nhanh chóng gia nhập Liên Âu và khối đảng phái yêu nước thân Nga (BECS), mà còn là một thử thách lớn với Liên Âu, coi việc mở rộng khối là con đường giúp củng cố hòa bình, an ninh và thịnh vượng.

    Cuộc bầu cử Modlova là trận quyết đấu mới giữa Liên Âu với Nga trong « cuộc chiến hỗn hợp », khi chiến tranh tâm lý, chiến tranh trên mạng đi kèm với những can thiệp hoặc đe dọa can thiệp bằng vũ lực. Báo chí châu Âu nói đến một « trắc nghiệm lớn đầu tiên » trong cuộc đọ sức giữa Liên Âu và Nga » (RTBF). « Một phần tương lai của Liên Âu và chính sách mở rộng của khối sẽ được quyết định tại đây », theo nhà chính trị học Florent Parmentier, chuyên về khu vực đông Âu hậu Liên Xô. Nhìn từ Ukraina, đang trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nga, đây là một trắc nghiệm « với Ukraina và toàn châu Âu ». Tổng thống Volodymyr Zelensky khẳng định : « Châu Âu không thể cho phép mất Moldavia, như đã mất Belarus và Gruzia ».

    Tình thế đầy bất trắc trước bầu cử

    Ngày 28/09/2025 vừa qua, cử tri Moldova đã dành đa số quá bán tại Quốc Hội mới cho đảng của nữ tổng thống Maia Sandu, người đã đặt cử tri trước lựa chọn « địa-chính trị » rõ ràng: Bầu cho PAS là hội nhập hoàn toàn với gia đình Liên Âu. Và ngược lại, nếu đảng PAS mất đa số,  Moldavia sẽ rơi trở lại quỹ đạo của điện Kremlin, đất nước « sẽ mất tất cả ».

    Xét theo sự ủng hộ trước đó của cử tri, tình thế Moldova trước bầu cử là đầy bất trắc, dù mục tiêu gia nhập Liên Âu được ghi vào Hiến pháp, sau cuộc trưng cầu dân ý cuối năm ngoái 2024. Phe ủng hộ gia nhập Liên Âu chỉ giành chiến thắng trong gang tấc (50,35%). Số người ủng hộ tổng thống Maia Sandu cũng sụt giảm nhiều trong cuộc bầu cử tổng thống năm ngoái. Chiến tranh Ukraina khiến kinh tế Moldova suy trầm, lạm phát tăng vọt. Moldova có lúc phải tiếp nhận đến 1,5 triệu người tị nạn Ukraina. Điện Kremlin cắt khí đốt với Moldova từ đầu năm nay. Chưa kể đến sự tồn tại của vùng ly khai thân Nga Transnistria, nơi có cả nghìn quân Nga trú đóng, và nhiều khu vực, nơi có đến hơn 90% cư dân chống gia nhập Liên Âu. Theo một số ước tính, trước thềm bầu cử, có đến 30% cử tri do dự.

    Tung tin giả, mua phiếu bầu, gây rối: « Lòng tin vào Liên Âu », mục tiêu triệt hạ chính

    Nga và các thế lực thân điện Kremlin bị cáo buộc chi hàng trăm triệu euro để can thiệp vào cuộc bầu cử, tương đương với nhiều phần trăm tổng sản phẩm quốc nội của Moldova, một quốc gia thường được xếp vào nhóm nghèo nhất châu Âu. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn Viện Pháp về Quan hệ Quốc tế (IFRI), ngay sau cuộc bầu cử Quốc Hội Moldova, nhà nghiên cứu Florent Parmentier, ghi nhận ba yếu tố « can thiệp bầu cử » chính:

    « Thứ nhất là thông tin bịa đặt, và việc thiết lập một hệ thống tuyên truyền với mục tiêu cuối cùng là lên án Liên Âu,  lĩnh vực được triển khai hết công suất. Một ví dụ : trong chuyến thăm Chisinau của tổng thống Pháp, thủ tướng Đức và thủ tướng Ba Lan ngày 27/8/2025, có một tin giả được tung ra. Nếu tổng thống Maya Sandou chiến thắng trong cuộc bầu cử lập pháp, rất có thể ngay lập tức sẽ có 700 binh sĩ Moldova được cử tham gia liên quân tình nguyện vì Ukraina do Pháp và Anh chủ trương. Loại tin giả này nhằm làm cho mọi người tin là tổng thống Maia Sandou sẽ kéo Moldova vào cuộc chiến tranh (chống Nga).

    Bên cạnh việc thường xuyên tung tin giả,  một nỗ lực gây bất ổn khác liên quan đến vấn đề mua phiếu bầu, điều vốn đã được bàn luận rộng rãi trong cuộc bầu cử tổng thống cuối năm ngoái. Ngày 20/10/2024, vòng bỏ phiếu đầu tiên, bà Maia Sandou tuyên bố : đã có đến 300.000 cử tri bị mua chuộc. Để đánh giá đúng tầm mức to lớn của con số này, cần liên hệ với tổng số dân Moldova 2,6 triệu người.

    Yếu tố thứ ba là trong trường hợp có sự chênh lệch sít sao về kết quả bầu cử, có thông tin về kế hoạch của Nga huấn luyện một số phần tử gây bạo loạn người Moldova cùng với người Serbia, tổ chức các cuộc biểu tình phản đối sau bầu cử, và có các hành động gieo rắc không khí lo sợ.  Như vậy, chúng ta thấy cái đích tấn công của Nga là lòng tin vào Liên Hiệp Châu Âu cũng như chính sách kết nạp thành viên mới của Liên Âu và những lợi ích mà Liên Âu có thể mang lại. Tiếp theo đó là làm xói mòn lòng tin vào các định chế nhà nước Moldova. » 

    ECFR : Gần như hóa giải được nạn mua phiếu trước bầu cử

    Để chống lại các can thiệp Nga, Liên Âu dồn lực cho Moldova. Tháng 9/2025, trước thềm cuộc bầu cử, Hội đồng Đối ngoại châu Âu (European Council on Foreign Relations - ECFR), viện tư vấn hàng đầu về các chính sách của châu Âu, tiến hành một khảo sát tại quốc gia này. Theo thẩm định của ECFR, với các hỗ trợ của các cơ quan của Liên Âu về điều tra tài chính và chia sẻ các thông tin khác, chính quyền Moldova về cơ bản đã hóa giải được các can thiệp của Nga trong lĩnh vực mua phiếu bầu, giảm mạnh so với kỳ bầu cử tổng thống năm ngoái.

    Tổng cộng 25.000 người đã bị phạt vì tội mua bán phiếu bầu trong thời gian tranh cử. Chính quyền Moldova kết hợp tấn công các mạng lưới mua bán phiếu bầu với việc tuyên truyền rộng rãi về « tính chất tội phạm » của hoạt động này, nâng cao nhận thức cộng đồng quy mô lớn, « bao gồm quảng cáo, truyền hình và mạng xã hội, đặc biệt tại các nhà thờ Chính thống giáo », khiến « hầu hết các mạng lưới mua bán phiếu bầu » được coi là « đã bị tê liệt » trước bầu cử.

    Việc nhà tài phiệt Vladimir Plahotniuc bị dẫn độ từ Hy Lạp về Moldova ngay trước thềm bầu cử được coi là một đòn nặng giáng vào các thế lực thao túng. Plahotniuc là cựu chủ tịch đảng Dân Chủ Moldova cánh tả, cựu phó chủ tịch Quốc Hội, được coi là người giàu nhất Moldova. Plahotniuc cùng Ilan Shor, nhà tài phiệt Moldova, cựu chủ tịch đảng Sor thân Nga cánh hữu, hiện đang lưu vong tại Matxcơva, bị cáo buộc lừa đảo 1 tỉ euro. Cả hai đều chạy ra nước ngoài năm 2019 vì sợ bị bắt. Ilan Shor hiện bị cáo buộc đứng sau các tài trợ cho hoạt động đưa tin giả, tin bóp méo trên các mạng Facebook, TikTok, Telegram…

    Chống tin giả: Lần đầu tiên EU triển khai « Đội Phản ứng Nhanh »

    Lần đầu tiên Liên Âu triển khai Đội Phản ứng Nhanh chống lại cuộc chiến Hỗn hợp (Hybrid Rapid Response Team) để hỗ trợ một quốc gia, là Moldova, chống lại can thiệp của nước ngoài, từ đầu năm nay, với thành phần gồm nhóm chuyên gia từ Bruxelles và từ nhiều quốc gia thành viên. Vào tháng 6, Liên Âu họp với đại diện các tập đoàn truyền thông kỹ thuật số Google, Meta và TikTok cùng các cơ quan chức năng Moldova và các nhóm thuộc xã hội dân sự nước này để phối hợp đối phó với các chiến dịch thông tin sai lệch.

    Kể từ tháng 7/2025, Ủy Ban Châu Âu lập FACT, một chi nhánh khu vực thuộc Đài quan sát Truyền thông Kỹ thuật số Châu Âu (EDMO), tập trung vào việc chống các chiến dịch thông tin sai lệch của Nga trong kỳ bầu cử vừa qua tại Moldova.

    Chủ thuyết của Liên Âu : Kết nạp thành viên mới giúp « bảo đảm an ninh » 

    Liên Hiệp Châu Âu hiện tại gồm 27 quốc gia thành viên. Tính từ Cộng đồng Kinh tế châu Âu, thành lập năm 1957, với 6 nước (Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg), được coi là tiền thân của Liên Âu, khối đã trải qua 7 đợt kết nạp. Việc mở rộng cho sự tham gia của các thành viên mới, về mặt nguyên tắc, được Liên Âu coi là điều giúp mang lại hòa bình và an ninh cho châu lục, thúc đẩy kinh tế, củng cố nền dân chủ, nhà nước pháp quyền, nhân quyền.

    Moldova và Ukraina, cùng Gruzia là ba quốc gia chính thức đệ đơn gia nhập Liên Âu ngay sau khi Nga tấn công Ukraina đầu năm 2022. Trong bối cảnh này, Ủy Ban Châu Âu tiếp tục coi việc mở rộng khối như một chiến lược không những là hàng đầu, mà còn có ý nghĩa sống còn với khối. Ủy viên châu Âu phụ trách việc kết nạp các thành viên mới, bà Marta Kos, nhận định : « Việc mở rộng Liên Âu là một yếu tố then chốt trong việc đảm bảo an ninh của châu Âu trong bối cảnh đối đầu leo ​​thang giữa các chế độ dân chủ và độc tài. » (họp báo sau cuộc gặp của các bộ trưởng phụ trách các vấn đề Châu Âu đầu tháng 9/2025, tại Copenhagen).  

    Ủy viên châu Âu phụ trách việc kết nạp các thành viên mới nhấn mạnh : « tiến trình mở rộng Liên Âu đã trở thành một phần của cuộc đối đầu địa-chính trị giữa các xã hội dân chủ tự do và các chế độ độc tài. Điều này được thể hiện rõ ràng và khắc nghiệt nhất ở Ukraina, cũng như qua các hình thức chiến tranh hỗn hợp, kín đáo hơn ở các quốc gia ứng cử viên khác, chẳng hạn như Cộng hòa Moldova ». Ủy viên phụ trách kết nạp khẳng định tiến trình gia nhập của Ukraina và Moldova đang tiến triển nhanh chóng, và Ủy Ban Châu Âu đang nỗ lực để thúc đẩy. 

    Trắc nghiệm « khả năng đề kháng » của châu Âu trước Putin

    Sau chiến thắng của đảng cầm quyền chủ trương hội nhập Liên Âu, thủ tướng Ba Lan Donald Tusk phát biểu trên X: « Các vị đã ngăn chặn được nỗ lực của Nga kiểm soát toàn bộ khu vực. Một bài học tốt cho tất cả chúng ta. » Trước thềm bầu cử, một báo cáo của Hội đồng Đối ngoại châu Âu ECFR,  nói rõ: « nếu các đảng phái hoặc nhóm đảng phái liên kết với điện Kremlin trúng cử, sẽ có rủi ro an ninh trực tiếp ở biên giới phía tây nam Ukraina và Nga sẽ có một căn cứ ở vùng trung tâm để tiến hành các hoạt động chống lại các nước Liên Âu ».

    Hội đồng Đối ngoại châu Âu giải thích: « Châu Âu nên xem Moldova như một nơi thử nghiệm khả năng đề kháng của chính mình (European resilience). Cuộc bầu cử này có thể mang đến cho Bruxelles cái nhìn sâu sắc và quý giá về các chiến thuật, các công cụ và các hệ quả từ các hoạt động của Matxcơva… Cơ hội để phản bác chiến lược tuyên truyền sai lệch và chiến tranh hỗn hợp của Nga ».

    Nga: Tham vọng phục hồi quyền lực tại nhiều vùng thuộc Liên Xô cũ

    Về mặt chính thức, chính quyền Nga không chống lại việc các nước nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Matxcơva gia nhập Liên Hiệp Châu Âu. Tuy nhiên, tham vọng của Matxcơva khôi phục ảnh hưởng, thậm chí chi phối trở lại các vùng thuộc Liên Xô trước đây là điều mà đông đảo giới quan sát ghi nhận. Cách nay hai năm, truyền thông Mỹ loan tải kế hoạch bí mật của cơ quan an ninh Nga FSB, đề ra chiến lược 10 năm để đưa Moldova trở lại phạm vi ảnh hưởng của Nga. Chiến lược dường như được soạn thảo vào năm 2021.

    Trong các mục tiêu đề ra có việc phản đối « chính sách bành trướng của Rumani » tại Moldova, nơi Rumani là tiếng nói của đa số, và là ngôn ngữ chính thức. Chiến lược được coi là của cơ quan an ninh Nga cũng phản đối sự hợp tác của Moldova với khối NATO, tạo lập « các nhóm truyền bá cho quan điểm của điện Kremlin tại Moldova ».

    Làm thế nào để quyết tâm hội nhập với EU không dẫn đến xung đột với Nga ?

    Việc đảng cầm quyền tại Moldova, chủ trương nhanh chóng gia nhập Liên Âu, thắng cử Quốc Hội khiến không ít người thở phào nhẹ nhõm. Tuy nhiên nhiều nhà quan sát đặt câu hỏi : Liệu Moldova có thể hội nhập hoàn toàn với Liên Âu cùng lúc duy trì quan hệ bình thường với Matxcơva ?

    Trang mạng Le Diplomate, chuyên về địa chính trị, giới thiệu bài « Moldavia, thùng thuốc súng ở ngưỡng cửa châu Âu ? », dẫn lời chuyên gia Nga Andrew Korybko, thuộc trung tâm tư vấn Club Valdai, gần gũi với điện Kremlin, nói thẳng là việc NATO tiếp tục mở rộng về phía đông, có thể khiến quan hệ giữa Nga và NATO thêm căng thẳng. Và Moldavia có thể bị cuốn vào chiến tranh với Nga, như Ukraina.

    Tuy nhiên, trên thực tế, theo một số thăm dò dư luận gần đây, chỉ có một phần tư người Moldova ủng hộ gia nhập NATO, và tỉ lệ này gần như không thay đổi kể từ năm 2022, tức từ đầu cuộc xâm lăng của Nga chống Ukraina.

    Sự lựa chọn tỉnh táo và môi trường thông tin lành mạnh

    Vấn đề căn bản với đông đảo người dân Moldova, khi chọn con đường hội nhập nhanh chóng với Liên Âu, không phải là tham gia vào một khối quân sự bị Nga coi là đối thủ, mà là được sống trong một xã hội có an ninh, Nhà nước pháp quyền, các thể chế nhà nước có trách nhiệm, đời sống kinh tế được cải thiện, một xã hội không bị tham nhũng hoành hành, một xã hội mở cửa với những tiếng nói khác biệt. Đây cũng là các tôn chỉ của cơ chế Đối tác phía Đông giữa Liên Âu và Moldova, được xác định từ năm 2009.

    Xét theo các mục tiêu này, chiến thắng của đảng chủ trương hội nhập Liên Âu tại Moldova vừa qua, dù là một thắng lợi đáng kể, cũng chỉ là một bước tiến trên chặng đường dài và gian nan của quốc gia nhỏ bé, thuộc Liên Xô cũ. Trong hành trình dài này, điều quyết định là sự lựa chọn của người dân Moldova. Lựa chọn đúng hướng và tỉnh táo ắt chỉ có thể có được trong một môi trường thông tin minh bạch và lành mạnh, điều mà Liên Âu đã góp phần nỗ lực bảo vệ trong kỳ tranh cử Quốc hội Moldova vừa qua.

    9 min
  • Taiwan Relations Act và những thách thức từ chính quyền Trump 2.0

    Vào lúc Trung Quốc tăng cường các hoạt động hăm dọa quân sự xung quanh đảo Đài Loan, tổng thống Mỹ Donald Trump kể từ ngày nhậm chức đã có những cử chỉ gây áp lực với chính quyền Đài Bắc từ quốc phòng, kinh tế cho đến công nghệ. Điều này làm dấy lên nghi vấn : Liệu các bảo đảm về an ninh trong khuôn khổ Taiwan Relations Act mà Hoa Kỳ cung cấp cho Đài Loan vẫn sẽ vững chắc ?

    Kể từ khi lên nắm quyền vào năm 2013, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có một mục tiêu : Thống nhất Trung Quốc bằng cách đặt Đài Loan dưới sự quản lý của Bắc Kinh, kể cả bằng vũ lực nếu cần thiết. Tuy nhiên, đảo Đài Loan, mà Trung Quốc coi như là một phần lãnh thổ, một tỉnh ly khai, từ năm 1979, được hưởng sự bảo vệ của Mỹ thông qua Taiwan Relations Act (Đạo luật Quan hệ Đài Loan).

    TRA : Hoàn cảnh ra đời

    Chính sách này của Mỹ đối với Đài Loan ra đời trong bối cảnh Washington công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, có thủ đô là Bắc Kinh, như là nước Trung Quốc duy nhất, quốc gia mà Mỹ thiết lập quan hệ chính thức.

    Theo Camille Grand, nhà nghiên cứu tại Hội đồng Châu Âu về Quan hệ Quốc tế (ECFR), cựu trợ lý tổng thư ký NATO, trên làn sóng France Culture ngày 18/07/2025, việc Hoa Kỳ tìm cách xích lại gần Trung Quốc của Mao Trạch Đông, ngoài mục tiêu chiến lược chống Liên Xô, còn thể hiện một cái nhìn thực tế chiến lược của Washington, « về một đất nước sắp có một tỷ dân so với một hòn đảo nhỏ dân tộc chủ nghĩa mà cơ may lấy lại quyền lực ở lục địa đã trở thành một điều khôi hài ».

    Tuy công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Washington vẫn muốn duy trì các mối quan hệ đồng minh tại vùng Thái Bình Dương, và do vậy Mỹ vẫn hiện diện tại Hàn Quốc, Nhật Bản, cũng như đúc kết một mối quan hệ với Đài Loan trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về an ninh, quốc phòng.

    Cũng trên làn sóng France Culture, chuyên gia về Trung Quốc, Alice Ekman, giám đốc nghiên cứu Viện Nghiên cứu An ninh Liên Hiệp Châu Âu, lưu ý TRA là một văn bản cho phép định hình hợp tác quốc phòng, nhưng không bảo đảm bất kỳ sự can thiệp quân sự nào của Mỹ nếu Đài Loan bị tấn công:

    «"Hoa Kỳ cam kết hỗ trợ duy trì hòa bình, an ninh và ổn định ở Tây Thái Bình Dương", như cách gọi vào thời điểm đó. Sau đó, mục 2, đoạn 2, đề nghị cung cấp cho Đài Loan "vũ khí phòng thủ cần thiết để đảm bảo sự ổn định và an ninh này". Rồi ở mục 3, tôi sẽ không đi sâu vào thủ tục và chi tiết, nhưng điều quan trọng là văn bản này cũng chính thức hóa việc bán vũ khí cho Đài Loan: "Hoa Kỳ cam kết cung cấp cho Đài Loan các mặt hàng quốc phòng và dịch vụ quốc phòng với số lượng đủ để đảm bảo khả năng tự vệ của Đài Loan" ».

    Trump II và những thách thức cho TRA

    Trong nhiệm kỳ I, tổng thống Trump đã để lại ấn tượng mạnh mẽ và tích cực đối với Đài Loan. Chính sách thuế quan và các quyết định hạn chế chuyển giao công nghệ của ông đã giúp Đài Loan đạt được mục tiêu mà họ theo đuổi từ gần hai thập niên : Đa dạng hóa đầu tư Đài Loan và dịch chuyển sang các quốc gia khác trong khu vực, đồng thời khuyến khích đưa một số nhà xưởng về đảo.

    Trong lĩnh vực quốc phòng, chính quyền Trump I cũng có những cử chỉ tích cực với doanh số bán vũ khí cho Đài Bắc đã đạt mức 18 tỷ đô la, so với con số 14 tỷ thời chính quyền Obama. Cũng trong nhiệm kỳ I, ông Trump còn ký Taiwan Travel Act (Đạo luật Du lịch Đài Loan) năm 2018, chấm dứt một số hạn chế trao đổi chính thức kể từ khi quan hệ bang giao bị cắt đứt năm 1979.

    Nhưng từ khi bắt đầu nhiệm kỳ II, mọi sự thay đổi. Tổng thống Trump có những phát biểu gay gắt đối với Đài Bắc, cho rằng hòn đảo này đã đánh cắp công nghệ chip bán dẫn, rằng Đài Loan phải tăng chi quốc phòng, và phải trả « phí bảo vệ » tương tự như một loại phí « bảo hiểm an ninh ».

    Và gần đây nhất, theo như tiết lộ của tờ Washington Post, tổng thống Mỹ dường như đã từ chối phê duyệt gói viện trợ quân sự cho Đài Loan trị giá hơn 400 triệu đô la. Gói viện trợ này bao gồm các mặt hàng như đạn dược và drone. Nhà Trắng tuyên bố rằng quyết định này vẫn chưa hoàn tất.

    Ngoài ra, hồi tháng 7/2025, ông Trump còn ngăn cản tổng thống Đài Loan trên đường đến thăm các nước bạn bè Trung Mỹ quá cảnh vào Mỹ sau khi có những phản đối từ Trung Quốc, khiến ông phải hủy chuyến đi. Trước đó, một tháng, Washington hủy một cuộc họp dự kiến tại Mỹ với bộ trưởng Quốc Phòng Đài Loan.

    Tất cả những động thái « bất thường » này của Mỹ đã làm dấy lên nỗi lo lắng : Chính sách bảo vệ Đài Loan của Mỹ có được bảo đảm dưới thời chính quyền Trump 2.0 ? Liệu những cử chỉ này của ông Trump có làm suy yếu « TRA » mà Mỹ cung cấp cho Đài Bắc ?  

    Để trả lời những câu hỏi trên, nữ chuyên gia về Trung Quốc Alice Ekman, cho rằng nên xét đến vấn đề bán vũ khí. « TRA » là một văn bản chính thức hóa tính liên tục và nhu cầu cung cấp vũ khí cho Đài Loan. Câu hỏi đặt ra ở đây là bất chấp những áp lực từ Trung Quốc, tình hình bán vũ khí cho Đài Loan dưới thời Trump II ra sao ?

    « Vẫn còn quá sớm để biết được vì ông ấy chỉ mới bắt đầu nhiệm kỳ, nhưng người ta cũng đã bắt đầu có vài ước tính. Chính quyền Mỹ hy vọng sẽ đạt được thành tích như thời Trump I trên phương diện bán vũ khí. Nghĩa là, trong nhiệm kỳ I, họ đã phê duyệt các giao dịch bán vũ khí cho Đài Loan với tổng trị giá là 18 tỷ đô la và do vậy, họ hy vọng chí ít sẽ đạt được con số tương tự, thậm chí cao hơn. Để so sánh, dưới thời Biden, doanh số bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan đạt tổng cộng 8 tỷ đô la.

    Vì vậy, đây là điều thú vị nên xem xét đến, dù rằng người ta có ấn tượng là ông Trump chưa nói nhiều đến Đài Loan, thậm chí không hề nhắc đến hòn đảo này trong bài phát biểu nhậm chức ngày 20/01/2025. Nhưng điều tôi muốn nói là tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Hoa Kỳ sẽ thay đổi hướng đi liên quan đến Đài Loan kể từ đầu nhiệm kỳ của Trump. Điều tôi thấy, và tôi nghĩ nhiều nhà phân tích cũng thấy, là một cách tiếp cận mang tính giao dịch nhiều hơn, điều đó không có gì mới mẻ ».

    « TRA » : Đối tượng gây căng thẳng và áp lực

    Tuy nhiên, theo cách nhìn từ nhà nghiên cứu về an ninh Camille Grand, những phát biểu trên của tổng thống Trump còn là biểu hiện của những căng thẳng trong nội bộ chính trường Mỹ từ hai trường phái. Giữa một bên có sự đồng thuận lưỡng đảng xem cạnh tranh với Trung Quốc là một ưu tiên, trong đó Đài Loan là một trong những điểm nóng và do vậy, ủng hộ bảo đảm an ninh cho Đài Loan mạnh mẽ.

    « Và đây đặc biệt là quan điểm rất rõ ràng của Lầu Năm Góc, đề cập đến một phần lớn các công cụ quân sự của họ, vị thế của họ ở châu Á, trong trường hợp xảy ra khủng hoảng liên quan đến Đài Loan. Đây chính xác là những gì Bộ trưởng Quốc phòng Peter Hegseth đã phát biểu tại Singapore cách đây không lâu.

    Nhưng cũng có một xu hướng thứ hai trong phe Cộng hòa, nhìn chung theo chủ nghĩa biệt lập hơn, vì vậy họ rất thô bạo với châu Âu, với chủ trương "hãy tự lo liệu an ninh của mình", và cả trong bối cảnh châu Á, họ cũng nói với các đồng minh rằng, "nếu quý vị không tăng chi tiêu quốc phòng, nếu quý vị không tự lo cho an ninh của mình, chúng tôi sẽ xem xét những gì chúng tôi có thể sẽ làm".

    Và như vậy, với một thứ áp lực ngầm lên các đồng minh châu Á, dù là Nhật Bản, Hàn Quốc và nhất là Đài Loan hiện đang trên tuyến đầu do mối quan hệ an ninh kém vững chắc của họ, vì không có quân đội Mỹ thường trực, không có hiệp ước nào, như chúng tôi đã đề cập trước đó. »

    Ngoài ra, vì chỉ là một văn bản luật, không phải là một hiệp ước liên minh quân sự như ông Camille Grand đề cập ở trên, nên TRA luôn mang tính bất ổn và là đối tượng gây sức ép thường trực từ phía Đài Loan và Trung Quốc.

    Ông giải thích tiếp : « Một nhóm vận động hành lang của Đài Loan hoạt động rất mạnh mẽ - không phải theo nghĩa xấu - tại Washington, và nhóm này vẫn rất tích cực cho đến ngày nay, nhằm đảm bảo việc bảo vệ lợi ích của Đài Bắc trong các cuộc tranh luận tại Hoa Kỳ. Rồi còn có hoạt động của một nhóm vận động hành lang Trung Quốc, nhằm gây ảnh hưởng đến các quyết định của Mỹ ví dụ như chất lượng vũ khí được chuyển giao cho Đài Bắc, chiều sâu của mối quan hệ chính trị, v.v… »

    Trả lời phỏng vấn The Wall Street Journal, đại diện của Đài Loan tại Hoa Kỳ  Alexander Tah Ray Yui khẳng định, trong vòng 10 năm qua, chi tiêu quốc phòng của Đài Loan tăng gần gấp đôi. Trong 8 năm, Đài Loan đã chi 26 tỷ đô la mua vũ khí, chủ yếu từ Mỹ. Và tổng thống Lại Thanh Đức cũng đã tuyên bố sẵn sàng tăng ít nhất 3% GDP cho quốc phòng.

    Đại diện Đài Loan tại Mỹ nói thêm một chi tiết : « Đã có 48 thông báo bán vũ khí từ Hoa Kỳ cho Đài Loan nhưng bất chấp một phần lớn trong ngân sách mà Đài Loan đã chi, những thiết bị đó vẫn chưa đến được Đài Loan vì nhiều lý do. Chúng tôi rất đánh giá cao việc Mỹ cung cấp những thiết bị này, nhưng điều quan trọng là tốc độ giao hàng mà những thiết bị này, vốn đã có sẵn trong kho, có thể được cung cấp cho Đài Loan ».

    Trung Quốc : Mối đe dọa hàng đầu

    Nhìn chung, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan là không thay đổi. Trong nhãn quan Hoa Kỳ, Trung Quốc vẫn là mối đe dọa hàng đầu. Chỉ có điều phương thức thực hiện có thể sẽ mang tính « giao dịch » nhiều hơn, theo như nhận xét của Alice Ekman. Đây còn là cách để Mỹ có thể tiếp tục hỗ trợ Đài Loan và tránh được sức ép từ Trung Quốc trong các cuộc đàm phán về thương mại, theo như nhận định từ Viện Nghiên cứu Chiến tranh (ISW), trụ sở tại Mỹ.

    Quyết định hủy bỏ gói viện trợ quân sự 400 triệu đô la, nếu được xác nhận, sẽ phù hợp với ưu tiên của chính quyền Trump đối với việc bán vũ khí quân sự hơn là viện trợ quân sự. Đài Loan đã đáp trả mong muốn này của Washington qua việc bày tỏ ý định tăng cường mua thiết bị quân sự Mỹ thông qua các giao dịch mua bán vũ khí với nước ngoài. Cử chỉ này của Đài Bắc đã được Washington ủng hộ mạnh mẽ. Và điều đó cũng đồng nghĩa với việc các yêu cầu mang tính cưỡng ép của Trung Quốc đối với Đài Loan chỉ có tác dụng hạn chế.

    Theo trang ISW, Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua Đạo luật Quỹ Đồng minh Đài Loan và Đạo luật Sáu Đảm bảo với Đài Loan để bỏ phiếu vào ngày 18/09 trước khi được tổng thống ký thành luật. Văn bản thứ nhất quy định dành 120 triệu đô la cho giai đoạn 2026-2028 để trợ cấp các đồng minh ngoại giao và kinh tế của Đài Loan, chống lại sức ép kinh tế từ Trung Quốc nhằm cô lập ngoại giao Đài Loan.

    Dự luật thứ hai là những cam kết bán chính thức của Hoa Kỳ đã định hướng chính sách của Mỹ - Đài kể từ năm 1982 và các chính quyền tiếp theo « không thể thay đổi các bảo đảm » mà không có sự chấp thuận của Quốc Hội. Cụ thể, Hoa Kỳ cam kết : Không ấn định ngày chấm dứt bán vũ khí cho Đài Loan, Không đồng ý tham vấn với Trung Quốc về việc bán vũ khí cho Đài Loan, Không đóng vai trò trung gian hòa giải giữa Trung Quốc và Đài Loan, Không đồng ý sửa đổi Đạo luật Quan hệ Đài Loan (TRA), Không đưa ra bất kỳ lập trường nào về chủ quyền Đài Loan và cuối cùng, Hoa Kỳ sẽ không gây áp lực buộc Đài Loan đàm phán với Trung Quốc !

    13 min
  • Mỹ tốc lực tái lập quan hệ với Belarus: Kịch bản hoàn toàn có lợi cho Putin?

    Quan hệ giữa Mỹ và Belarus, quốc gia thường được coi là hoàn toàn nằm trong quỹ đạo của điện Kremlin, có một số biến chuyển bất ngờ. Quan sát viên Mỹ được mời dự tập trận Zapad do Nga và Belarus chủ trì. Washington mở lại sứ quán tại Belarus. Trừng phạt với hãng hàng không quốc gia Belarus được dỡ bỏ sau khi Minsk thả hàng chục tù chính trị. Việc Mỹ và Belarus tốc lực bình thường hóa quan hệ có phải là một kịch bản nằm hoàn toàn trong lợi ích của chế độ Putin?

    Drone Nga xâm nhập lãnh thổ NATO, Mỹ được mời quan sát tập trận Zapad

    Ngay trước khi cuộc tập trận lớn Zapad 4 năm một lần, đêm 09/09/2025 khoảng 20 drone Nga xâm nhập lãnh thổ Ba Lan, quốc gia sườn đông của khối NATO. Đây là lần thứ 4 trong lịch sử liên minh phòng thủ NATO từ khi thành lập năm 1949, điều 4 Hiến chương của khối được một quốc gia thành viên kích hoạt để tham vấn các đồng minh. Lần đầu tiên chiến đấu cơ NATO được huy động để hủy diệt mục tiêu xâm nhập không phận của một thành viên.

    Chính trong bối cảnh đó, các quan sát viên quân đội Mỹ đã được mời tham dự cuộc tập trận Zapad vào hai ngày cuối, 15 và 16/09.  Trước đó, ngày 11/09, chính quyền Minsk trả tự do cho 52 tù nhân nhiều quốc tịch, trong đó có 14 công dân nước ngoài và nhiều tù nhân chính trị Belarus, gồm cả ông Nikolai Statkevich, ứng cử viên tổng thống Belarus năm 2010 (người đã không chấp nhận đi ra nước ngoài, nên sau đó bị đưa trở lại nhà tù). Tuyên bố trả tự do cho tù nhân nói trên được đưa ra vào lúc luật sư John Coale, đặc sứ của tổng thống Trump, dẫn đầu một phái đoàn Mỹ đến Minsk. Cũng trong dịp này, phía Mỹ thông báo mở lại sứ quán tại Belarus, bị đóng cửa năm 2022 sau khi Nga xâm lược Ukraina, dùng Belarus làm bàn đạp tấn công Ukraina từ phía bắc.

    Trước đó, quan hệ giữa chính quyền Trump và Belarus đã có một bước tiến đáng kể. Hồi cuối tháng 6/2025, đặc phái viên của tổng thống Mỹ về Ukraina, ông Keith Kellogg, công du Belarus. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa một quan chức cấp cao Nhà Trắng và nhà độc tài Belarus từ 5 năm nay, và chuyến thăm đã « đánh dấu một bước ngoặt lớn » so với chính sách của tổng thống tiền nhiệm Joe Biden. Trong dịp này chế độ Lukashenko đã trả tự do cho 14 tù nhân chính trị Belarus, trong đó có ông Sergei Tikhanovsky, lãnh đạo đối lập, bị bắt giam khi cổ vũ cho phong trào biểu tình phản đối chính quyền trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2020. Ông Tikhanovsky là chồng của bà Sviatlana Tsikhanouskaya, lãnh đạo hiện tại của phong trào đối lập Belarus, tị nạn ở hải ngoại.

    • Đọc thêm : Quốc Hội Belarus « hợp thức hóa » trấn áp phong trào đòi dân chủ

    Trước khi bay đi Alaska hội kiến với tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 15/08, ông Trump đã gọi điện cho tổng thống Lukashenko. Sau cuộc điện đàm, ông Trump gọi nhà độc tài Belarus, hiện không được các nước phương Tây công nhận sau cuộc bầu cử bị lên án là gian lận, là « vị tổng thống rất đáng kính », cho biết đã nhận lời mời thăm Belarus và « nóng lòng » gặp mặt đồng nhiệm.

    Vì sao Trump và chế độ Minsk nhanh chóng xích lại gần nhau ?

    Điểm chung bề ngoài có thể thấy rõ giữa tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà độc tài Belarus là hai bên có sự gặp gỡ về quan điểm trong việc ủng hộ việc tìm giải pháp cho việc chấm dứt chiến tranh Ukraina. Hãng thông tấn Nhà nước Belarus Belta, trong một bài viết hồi cuối tháng 8/2025 (« Lukashenko: Trump excelled as a mediator during Alaska talks / Tổng thống Belaurs : Trump là một nhà trung gian tuyệt vời tại cuộc đối thoại Alaska »), cho biết tổng thống Belarus đã ca ngợi lãnh đạo Mỹ, bênh vực cuộc thượng đỉnh Alakska, bị không ít người lên án là đã quá nhân nhượng Putin.

    Một chuyên gia hàng đầu về Belarus, ông Artyom Shraibman, trong một bài trả lời phỏng vấn, với chủ đề chính « Những gì diễn ra trong lòng Belarus » (What’s Going On Inside Belarus), đăng tải cuối tháng 8/2025 trên trang Carnegie Russia Eurasia Center, đã ghi nhận các nỗ lực bình thường hóa quan hệ Mỹ - Belarus diễn ra vào thời điểm mà các đàm phán giữa Mỹ và Nga nhằm tìm giải pháp chấm dứt xung đột Ukraina « rõ ràng đang bị đình trệ ».

    • Đọc thêm : Hạn định 50 ngày với Nga và rủi ro bế tắc chính trị cho Donald Trump

    Tổng thống Trump đã tuyên bố chấm dứt chiến tranh 24 giờ sau khi nhậm chức, rồi sau đó triển hạn thêm 6 tháng. Nửa năm đã trôi qua, cuộc xung đột tiếp diễn. Không có gì cho thấy là Nga từ bỏ các tham vọng tối đa về Ukraina, như chiếm lĩnh nhiều vùng lãnh thổ của Ukraina, đòi Ukraina phi quân sự hóa.

    Theo chuyên gia Artyom Shraibman, trong lúc tổng thống Lukashenko tìm cách thoát thế cô lập, dùng việc trả tự do cho các tù nhân chính trị  đổi lại việc dỡ bỏ trừng phạt, và cải thiện quan hệ với Mỹ, ông Trump muốn phá thế bế tắc trong các đàm phán với Nga về chấm dứt chiến tranh Ukraina, thông qua Belarus.

    Mỹ bình thường hoá quan hệ với Belarus : « Con đường vòng » để Washington bỏ cấm vận Nga ?

    Việc Mỹ đẩy nhanh việc bình thường hóa quan hệ với Belarus, quốc gia đàn em của Nga, được một số nhà quan sát xem như mang lại nhiều lợi thế cho điện Kremlin. Nhà báo Marie Jégo, của Le Monde, chuyên về Nga, cựu thông tín viên tại Matxcơva, trong bài « Sự nhượng bộ hoàn toàn của Trump đối với Putin », nêu bật :

    « Về những điều đã xảy ra, cá nhân tôi thấy khá là bất ngờ. Và đây là điều đã không được các chuyên gia và nhà quan sát thực sự chú ý. Đó là vụ xâm nhập bằng drone của Nga vào bầu trời Ba Lan, và chỉ một ngày sau sự kiện này, nước Mỹ đã cử một đặc phái viên đến Minsk. Mỹ đã đạt được thỏa thuận với nhà độc tài Lukashenko, người được Matxcơva coi là một quân cờ, và chính Belarus là nơi khởi nguồn của cuộc tấn công xâm lược Ukraina của Nga. Và từ Belarus, mà tên lửa đã bắn vào Ukraina. Belarus đã can dự rất nhiều vào cuộc chiến này.

    Vậy là người Mỹ đã đến đó chỉ một ngày sau sự kiện kinh hoàng drone Nga xâm nhập. Họ đã đến đó. Và đã có một cuộc đàm phán. Ông Lukashenko đã thả 52 tù nhân chính trị. Riêng điều này thì chúng tôi rất vui. Đây là điều tốt. Nhưng mặt khác, chính quyền Mỹ cũng cho biết họ đang dỡ bỏ các trừng phạt, đặc biệt là đối với lĩnh vực hàng không dân dụng của Belarus. Điều đó có nghĩa là Belarus giờ đây sẽ có thể nhận được phụ tùng thay thế từ hãng Boeing của Mỹ. Và nếu như Belarus được như vậy, thì Nga cũng sẽ là nước nhận được. Như vậy, có thể nói, đây là một con đường vòng để dỡ bỏ các trừng phạt Nga. »

    • Đọc thêm : Mỹ « bình thường hóa » quan hệ với Nga: Ác mộng với châu Âu và Ukraina?

    Trang mạng chuyên về chính trị Quốc tế Politico.eu, có bài ghi nhận về « nguy cơ tan vỡ » của mặt trận Mỹ - Âu trừng phạt Nga.  

    Minsk với thế đi dây một thời giữa nước Nga Putin và châu Âu dân chủ

    Trước cuộc xâm lăng Ukraina của Nga, kể từ khi lên cầm quyền năm 1994, tổng thống Belarus đã xây dựng chiến lược cân bằng giữa hai đối cực, giữa nước Nga của Putin và châu Âu dân chủ. Chế độ Lukashenko đã lợi dụng vị thế địa-chiến lược đặc biệt nằm ở giữa Liên Âu và Nga để thực thi chính sách « đi dây ». Belarus phụ thuộc vào Nga về năng lượng, quân sự và chính trị, nhưng mặt khác chính sách cởi mở có chọn lọc của quốc gia thành viên Liên Xô cũ này với Liên Âu đã giúp cho Minsk được nhiều lợi thế về kinh tế.

    Chuyên gia về Belarus, Artyom Shraibman, trên Carnegie Endowment for International Peace, trong bài « Not So Quiet on the Eastern Front: Elements of a Risk Management Strategy Toward Belarus » (Mặt trận phía Đông không quá yên tĩnh: Một số đề xuất về chiến lược quản lý rủi ro đối với Belarus) (6/2025) ghi nhận : « Cho đến năm 2020 (tức trước cuộc bầu cử tổng thống bị lên án là gian lận), ông Lukashenko đã tìm cách duy trì thế cân bằng mong manh của Belarus giữa phương Tây và Nga, đòi phần thưởng từ mỗi bên để đổi lấy việc không xích lại gần bên kia. Chìa khóa cho chiến thuật này là khả năng của Minsk trong việc xử lý mối quan hệ với Nga như một con lắc (pendulum). Sự linh hoạt đó đã đột ngột chấm dứt do mối quan hệ gần như hoàn toàn đổ vỡ với phương Tây sau khi chính quyền Lukashenko đàn áp dữ dội các cuộc biểu tình lớn ở Belarus vào mùa hè năm 2020. Kể từ đó, con lắc Belarus bị kẹt hoàn toàn trong vùng kiểm soát của Nga. »

    • Đọc thêm : Càng bị phương Tây cô lập, Belarus càng lệ thuộc vào người "anh cả" Nga
    Châu Âu cần ứng xử thế nào với « con lắc Lukashenko » ?

    Kể từ khi Nga xâm lược Ukraina, « con lắc » Belarus hoàn toàn bị kẹt trong vùng kiểm soát của Nga. Câu hỏi đặt ra là sau các động thái bình thường hóa quan hệ mới đây từ phía Mỹ, liệu chế độ Lukashenko có trở lại với hành xử kiểu « con lắc »?

    Cho đến nay Liên Âu duy trì chính sách rất cứng rắn với chế độ Minsk, không công nhận Lukashenko là tổng thống Belarus, và coi Belarus là quốc gia đồng lõa với Nga trong cuộc xâm lăng Ukraina. Liên Âu ủng hộ đối lập Belarus lưu vong và có chính sách hậu thuẫn xã hội dân sự Belarus trong tiến trình chuyển tiếp sang chế độ dân chủ, đã bị cuộc đàn áp mùa hè 2020 của chế độ Lukashenko chặn đứng. Hiện tại, hơn 1.200 nhà hoạt động Belarus vẫn bị giam giữ. Đối lập Belarus cảnh báo các nước phương Tây, trước hết là châu Âu, không để Minsk lợi dụng thủ đoạn thả tù nhân nhỏ giọt theo mặc cả với Mỹ, để đánh bóng hình ảnh.

    • Đọc thêm : Tổng thống Belarus Lukashenko "khó xử" vì chiến tranh Ukraina

    Tuy nhiên, 5 năm sau cuộc bầu cử tổng thống Belarus không được phương Tây công nhận, gần 4 năm kể khi Nga xâm lược Ukraina, quan hệ giữa châu Âu và chế độ Putin ở mức căng thẳng chưa từng có. Belarus không những có thể được Nga dùng làm bàn đạp tấn công Ukraina một lần nữa, mà có thể được dùng để tấn công chính các thành viên NATO châu Âu.

    Chuyên gia về Belarus, Artyom Shraibman, lưu ý châu Âu cần chủ động xây dựng một chiến lược khéo léo với Minsk, để không bị Mỹ đẩy vào thế bị động trong quan hệ với Belarus (bài « Trump serves Lukashenko a welcome aperitif and pressur on Europe  / Trump đãi Lukashenko món khai vị và gây áp lực lên châu Âu », ngày 22/09/2025). Để làm được điều đó,  theo vị chuyên gia này, không nên đi theo định kiến cho rằng Belarus hoàn toàn là « tay sai », nhất nhất hành xử theo mệnh lệnh của điện Kremlin.

    • Đọc thêm : Belarus lo chiến tranh hạt nhân, nhưng khẳng định sẽ tiếp nhận vũ khí hạt nhân "chiến lược" Nga

    Trong vụ drone xâm nhập Ba Lan vừa qua, quân đội Belarus đã báo trước cho phía Ba Lan. Cuộc tập trận Zapad được tổ chức ở miền đông Belarus, cách xa biên giới với Ba Lan. Chế độ Lukashenko không muốn biên giới với Ba Lan đóng cửa làm tê liệt tuyến đường sắt nối liền Trung Quốc – châu Âu thông qua Belarus. Chuyên gia về Belarus nhấn mạnh : châu Âu phải tỏ ra cứng rắn, nhưng cũng cần có những biện pháp tinh tế, khiến chế độ Lukashenko « phải cân nhắc kỹ lưỡng » trước khi quyết định có hành xử theo đòi hỏi của Matxcơva hay không, đặc biệt vào những thời điểm hệ trọng, liên quan đến chiến tranh hay hòa bình.

    10 min

About Tạp chí tiêu điểm

From the publisher's feed

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

More shows like Tạp chí tiêu điểm

6 Minute English by BBC Radio

6 Minute English

1,807 Listeners

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ by SBS

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ

29 Listeners

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

222 Listeners

 by RFI Tiếng Việt

15 Listeners

VOV - Tin nhanh 24h by Đài Tiếng nói Việt Nam

VOV - Tin nhanh 24h

3 Listeners

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Tạp chí văn hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí văn hóa

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners