
Sign up to save your podcasts
Or


Cuộc chiến Mỹ - Israel chống Iran không chỉ là một cuộc đối đầu quân sự. Dầu mỏ là mặt trận khác. Đối với chính quyền Donald Trump, mục tiêu chính thức là để ngăn chặn tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân của Teheran, nhưng nhiên liệu dầu khí nói chung và dầu lửa nói riêng ngay lập tức trở thành « vũ khí » mà Iran sử dụng để đáp trả Mỹ.
Iran phong tỏa eo biển Hormuz và tấn công nhắm nhiều cơ sở dầu khí của các đồng minh của Hoa Kỳ tại vùng Vịnh. Về phần mình, Washington sử dụng dầu mỏ như một phương tiện chủ yếu để gây áp lực buộc Iran phải nhân nhượng. Vì sao dầu mỏ trở thành « vũ khí » chủ lực trong cuộc xung đột Mỹ - Iran ?
Chuyên gia Pierre Razoux, giám đốc khoa học của Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Quỹ Địa Trung Hải (FMES), trả lời đài Radio France, nhận định : « Trên thực tế, dầu mỏ đã là nguồn tài nguyên chính của Iran trong ít nhất 60 hoặc 70 năm, kể từ thời đế quốc Iran đến thời cách mạng Iran. Giờ đây, khi Iran hoàn toàn bị cô lập, nếu thực sự muốn kiếm ngoại tệ để hoạt động, nước này phải dựa vào xuất khẩu dầu mỏ, vốn chịu lệnh trừng phạt rất mạnh từ cộng đồng quốc tế. Vì vậy, toàn bộ vấn đề là làm thế nào để vượt qua những lệnh trừng phạt này. »
Đóng cửa eo biển Hormuz: Đòn trả đũa làm rung chuyển thế giớiKinh tế Iran vốn đã bị kiềm tỏa nghiêm trọng do lệnh cấm vận dầu mỏ để ngăn chặn tham vọng hạt nhân của Teheran. Cuộc tấn công chớp nhoáng của liên quân Mỹ - Israel hạ sát lãnh đạo tối cao Iran, giáo chủ Ali Khamenei, và tiếp theo đó là các cuộc tấn công ồ ạt nhắm vào các cơ quan đầu não, các đơn vị vũ trang Iran, đẩy chế độ Cộng hòa Hồi giáo vào chân tường.
Hai ngày sau, ngày 2/3/2026, Iran chính thức đóng cửa eo biển Hormuz, một tuyến đường thủy chiến lược của vận tải dầu mỏ toàn cầu. Giá dầu thô Brent đã vượt mốc 100 đôla/thùng vào ngày 8/3, lần đầu tiên kể từ bốn năm. Eo biển Hormuz là tuyến đường vận chuyển khoảng 20 triệu thùng dầu và sản phẩm dầu mỏ mỗi ngày, chiếm từ 20 đến 30% lượng dầu thô toàn cầu. Các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn trong vùng Vịnh phải cắt giảm sản lượng khoảng 11 triệu thùng/ngày. Thế giới bên bờ vực đại khủng hoảng năng lượng, khiến nhiều người nghĩ đến bóng ma khủng hoảng dầu lửa thập niên 1970.
Mỹ không tấn công cơ sở dầu khí Iran: Vì sao ?Trong chiến dịch Epic Fury tấn công Iran, quân đội Mỹ đã tấn công hàng nghìn mục tiêu, trong đó có các cơ sở quân sự, nhà máy hạt nhân, trụ sở chính quyền Iran, nhưng có một điểm được nhiều nhà quan sát lưu ý là chính quyền Trump về mặt chính thức khẳng định không đụng đến các các cơ sở dầu mỏ của Iran. Chuyên gia Pierre Razoux, giám đốc khoa học của Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Quỹ Địa Trung Hải (FMES), trên đài Radio France nhận định :
« Hoa Kỳ coi cuộc chiến chống Iran như một phần của cuộc cạnh tranh toàn cầu với Trung Quốc. Washington về cơ bản muốn nói với Bắc Kinh rằng chúng tôi đã vô hiệu hóa dầu mỏ của Venezuela, chiếm 5% lượng nhập khẩu của Trung Quốc. Giờ đây, chúng tôi đang tiếp tục vô hiệu hóa dầu mỏ của Iran, chiếm 15% lượng nhập khẩu của Trung Quốc. Vì vậy, kể từ khi Donald Trump dự kiến đến Bắc Kinh vào cuối tháng 3, ngay cả khi cuộc gặp này có thể bị trì hoãn một chút, ông vẫn có đòn bẩy đối với Trung Quốc. Chính vì vậy, mục tiêu của Hoa Kỳ không phải là phá hủy cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Iran, mà là làm tê liệt trong một khoảng thời gian nhất định, đủ lâu để đàm phán với Trung Quốc. Trong khi đó, ngược lại, Israel có thể có lợi ích trong việc phá hủy, hoặc ít nhất là làm suy yếu đáng kể, năng lực sản xuất của Iran. Mục tiêu chính xác của Israel là gây thiệt hại nghiêm trọng và, có thể nói, phá vỡ hệ thống dầu lửa của Iran. Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta thực sự cần nhìn nhận vấn đề theo cách đó ở cấp độ toàn cầu. »
Nhận định của chuyên gia Pierre Razoux được đưa ra ít ngày sau cuộc tấn công của Israel ngày 18/03, nhắm vào một mỏ khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới South Pars/North Dome, của Iran và Qatar tại vùng Vịnh. Iran cáo buộc Mỹ - Israel và đã trả đũa ngay lập tức về vụ oanh kích này với cuộc tấn công vào một cơ sở khí đốt chính của nước láng giềng Qatar, đồng thời đe dọa tiếp tục tấn công trả đũa cơ sở dầu khí của các đồng minh khác của Mỹ, như Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất.
Tổng thống Donald Trump ngay lập tức khẳng định cuộc tấn công do Israel tiến hành và yêu cầu Tel Aviv đình chỉ mọi cuộc tấn công tương tự trong tương lai, có nguy cơ làm khủng hoảng nhiên liệu thêm trầm trọng.
Mỹ phong toả eo biển sau khi can thiệp quân sự không đạt mục tiêuTiếp theo việc Iran phong tỏa gần như toàn bộ việc đi lại qua eo biển Hormuz, ngoại trừ một số tàu thuyền của các quốc gia thân hữu như Trung Quốc, đến lượt Washington ngăn chặn tàu đến và rời các cảng biển của Iran, kể từ ngày 13/04. Quyết định được đưa ra ngay sau khi cuộc đàm phán trực tiếp đầu tiên giữa Mỹ và Iran tại Islamabad ngày 12/04 thất bại. Vì sao Washington đưa ra biện pháp này, một tháng rưỡi sau khi mở màn cuộc tấn công Iran ?
Trong cuộc tọa đàm do đài France 24 tổ chức, ông Adel Bakawan, giám đốc Viện nghiên cứu châu Âu về Trung Đông và Bắc Phi (European Institute for Studies on the Middle East and North Africa), nhận định : « Donald Trump quả thực có một chiến lược. Chiến lược của ông là buộc chế độ này đầu hàng thông qua đàm phán. Ông đã không thành công. Trump bắt đầu ném bom để buộc chế độ này đầu hàng. Ông cũng đã không thành công. Trump lại thử con đường ngoại giao. Ông vẫn không thành công. Giờ đây Trump nghĩ ông đã tìm ra phương pháp đúng đắn. Đó là cố gắng bóp nghẹt nền kinh tế của chế độ Cộng hòa Hồi giáo cho đến khi Lực lượng Vệ binh Cộng hòa phải cầu xin Donald Trump. Tôi xin phép nói hình ảnh một chút. Họ sẽ cầu xin, Donald Trump hãy trở lại bàn đàm phán đi, chúng tôi chắc chắn sẽ đầu hàng. »
Buộc Iran đóng cửa giếng dầu để huỷ diệt tiềm lực kinh tế: Kỳ vọng của TrumpDựa trên những gì Nhà Trắng tính toán có thể bóp nghẹt nền kinh tế Iran với lệnh phong tỏa ngày 13/04 ? Chuyên gia David Rigoulet-Roze, tổng biên tập tạp chí « Orients Stratégiques », trên đài France 24, cho biết :
« Tổng thống Mỹ chính thức nói rằng điều đó sẽ mất ít nhất hai tháng. Các cố vấn của ông nói rằng họ đang thảo luận về thời gian tối thiểu hai tháng để biện pháp này có hiệu quả, bởi vì có vấn đề về kho chứa dầu. Việc không còn nơi chứa sẽ dẫn đến việc các giếng dầu phải đóng cửa. Và một khi giếng dầu bị đóng, sẽ có vấn đề về ngập nước, có nghĩa là không thể khai thác được dầu nữa. Điều này đặc biệt đúng nếu có những giếng dầu cũ. Họ không thể làm chúng hồi sinh. Điều này gây áp lực rất lớn đối với hệ thống sản xuất dầu của Iran.»
Trump tin tưởng là phong tỏa hiệu quả hơn ném bomHomayoun Falakshahi, chuyên gia phân tích về dầu mỏ của công ty dữ liệu hàng hải Kpler, có trụ sở tại Paris (France 24), cho rằng Iran có thể khôi phục được các mỏ, nhưng ngược lại sẽ mất thu nhập do dầu không thể được chuyển ra ngoài. Hai tháng là thời gian mà chính quyền Trump dự kiến sẽ chặn đứng được nguồn thu của Teheran, vốn đã bị siết chặt do các trừng phạt:
« Iran đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc này. Vì vậy, tôi nghĩ họ sẽ có thể đưa sản lượng trở lại bình thường khi có thể. Nhưng điều đó tốn tiền. Việc mất thời gian đồng nghĩa với việc tốn tiền. Trên thực tế, chúng ta đang ở trong tình huống mà, theo ước tính của chúng tôi, Iran có thể cầm cự được hai tháng. Nếu lệnh phong tỏa kéo dài hai tháng, doanh thu của Iran sẽ giảm xuống bằng không. Vì sao? Bởi vì họ có dầu ở ngoài khơi, được lưu trữ gần Singapore và Trung Quốc. Tổng cộng là 120 triệu thùng, tương đương với khoảng hai tháng xuất khẩu. Không kể lượng dầu xuất khẩu hiện tại từ Iran không thể vượt qua được lệnh phong tỏa. Vậy là trong hai tháng nữa, doanh thu sẽ giảm xuống bằng không. Canh bạc ở đây là nếu lệnh phong tỏa kéo dài hai tháng, chúng ta có thể sẽ chứng kiến việc Iran phải đầu hàng, hoặc ít nhất chính quyền Trump tin tưởng như vậy. »
Hai tuần sau khi áp đặt lệnh phong tỏa, tổng thống Trump tỏ ra hài lòng. Lãnh đạo Mỹ hào hứng với nhận định : Việc phong tỏa có hiệu quả hơn một chút so với việc ném bom. Iran đang nghẹt thở. Và tình hình sẽ còn tồi tệ hơn đối với họ. Họ sẽ không thể sở hữu được vũ khí hạt nhân.
Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, những đối thủ đáng gờm về kinh tếCuộc tấn công của Mỹ chống Iran diễn ra chỉ trước một tháng ngày tổng thống Trump dự kiến đi Trung Quốc. Ngày 17/03, đúng vào lúc xung đột tiếp diễn dữ dội, thế giới bên bờ vực đại khủng hoảng năng lượng, ông Trump đề nghị Bắc Kinh hoãn chuyến công du một tháng rưỡi, thời gian để Nhà Trắng giải quyết xong xuôi cuộc chiến chống Iran. Trên thực tế, cuộc chiến quân sự và kinh tế của Washington chống chế độ Hồi giáo không dễ xuôi chèo mát mái. Các lực lượng Iran không chỉ đã tìm ra phương cách để kháng cự, không cho phép chính quyền Trump đạt được mục tiêu bắt chế độ phải quy hàng, mà họ còn là các đối thủ đáng gờm về mặt kinh tế.
Trả lời France 24, ông Adel Bakawan, giám đốc Viện nghiên cứu châu Âu về Trung Đông và Bắc Phi nhận định : « Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Pasdaran trên thực tế đã tư sản hóa. Tư sản hóa là gì ? Tôi đã nghiên cứu chi tiết về hồ sơ của tất cả các tướng lĩnh ở trung tâm của những cuộc tranh giành quyền lực. Họ vừa là tướng lĩnh nhưng cũng vừa là doanh nhân. Các tướng lĩnh - doanh nhân, và là những người có bằng tiến sĩ về địa - chính trị hoặc kinh tế. Nói cách khác, tôi nghĩ rằng tầng lớp nắm quyền ở Teheran có thể hiểu ngôn ngữ của bom đạn, nhưng trước ngôn ngữ của bom đạn, họ cũng nắm được ngôn ngữ của kinh tế. »
Trong cuộc chiến Mỹ chống Iran, bùng lên từ ngày 28/02/2026, tạm lắng từ đầu tháng 4 với quyết định hưu chiến mong manh, năng lượng dầu khí đã trở thành một trường đấu chính. Tấn công vào các cơ sở dầu khí hay phong toả các tuyến đường hàng hải vận tải năng lượng được sử dụng như các phương tiện gây áp lực chủ chốt. Trong lịch sử thế giới đương đại, có lẽ chưa khi nào vũ khí dầu mỏ lại được sử dụng theo cách toàn diện như vậy.
« Thượng sách » và « trung sách » thất bại, Mỹ phải chuyển qua « hạ sách » ?Khác với cuộc khủng hoảng dầu mỏ thập niên 1970, lần này việc kiểm soát vận chuyển và đe doạ gián đoạn nguồn cung đóng vai trò trung tâm. Về phía Iran, quyết định phong toả eo biển Hormuz đã được đưa ra như biện pháp bất khả kháng, buộc đối phương phải trả giá rất lớn trong tình thế chế độ đứng trước nguy cơ tồn vong. Về phía Mỹ, việc trả đũa với các hoạt động phong toả hàng hải nhắm vào Iran cũng có thể xem như là biện pháp bắt buộc sau khi áp lực đe doạ huỷ diệt để Teheran nhận nhượng không đạt kết quả (thượng sách), rồi hơn ba tuần lễ tấn công dữ dội (trung sách) đã không buộc được chế độ Teheran đầu hàng.
Cho đến nay, chưa có gì cho thấy can thiệp quân sự và áp lực về dầu mỏ có thể giúp chính quyền Trump đạt được một thoả thuận về hạt nhân với Iran tốt hơn cái mà tổng thống Mỹ đã xé bỏ trong nhiệm kỳ thứ nhất. Cuộc đấu chưa kết thúc. Việc Mỹ hy vọng chặn đứng hoạt động vận tải dầu mỏ lâu dài có thể dẫn đến việc huỷ diệt năng lực sản xuất của Iran, buộc Teheran phải nhân nhượng, là điều đang diễn ra.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, để hiểu đúng hơn về vũ khí dầu mỏ trong cuộc chiến giữa Mỹ và Iran, cũng cần đặt câu chuyện này trong thế đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Cuộc chiến Mỹ chống Teheran diễn ra ngay trước chuyến đi Bắc Kinh dự kiến của tổng thống Trump dường như cho thấy Iran và dầu mỏ có thể là các biến số quan trọng trong quan hệ giữa hai đại cường.
Chính phủ Anh đang chuẩn bị một dự luật quan trọng nhằm thúc đẩy chương trình « reset » (khởi động lại) quan hệ với Liên Hiệp Châu Âu (EU), mười năm sau Trưng cầu dân ý Brexit, đưa Anh ra khỏi EU. Dự luật được đưa ra trong bối cảnh thế giới đối mặt với chính sách thuế quan bất nhất của chính quyền Trump và cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz giữa Mỹ và Iran có nguy cơ làm tê liệt nền kinh tế thế giới.
Điểm đáng chú ý nhất của dự luật này, nếu được thông qua sớm, là cho phép chính phủ Anh tự động phối hợp và cập nhật các quy định trong nước tương thích với quy chế của Thị trường chung EU (dynamic alignment), mà không cần phải thông qua các cuộc bỏ phiếu chi tiết tại Quốc Hội cho mỗi lần thay đổi.
Thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn giải thích những khó khăn mà nước Anh đang đối mặt, cũng như những điểm chính trong dự luật mới của chính phủ Keir Starmer.
RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Giang. Đầu tiên, xin anh nhắc lại cho khán thính giả của RFI biết về những gì xảy ra sau khi Hiệp định Brexit chính thức có hiệu lực vào năm 2020. Nền kinh tế Anh Quốc vận hành ra sau bên ngoài Liên Hiệp Châu Âu? Giao thương giữa Anh Quốc và EU được thực hiện như thế nào?
TTV. Nguyễn Giang : Kể từ năm 2020, Anh Quốc không còn là thành viên Liên Hiệp Châu Âu và thị trường chung châu Âu nữa nên Luân Đôn phải nỗ lực ký kết các hiệp định tự do thương mại với các nước ở xa như Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ và cả Việt Nam. Đây là cách bù lại thiệt hại do việc mất quy chế thành viên EU. Anh cũng đặt nhiều hy vọng vào việc ký được Hiệp định mậu dịch tự do với Hoa Kỳ, nên trên thực tế thì thời của tổng thống Donald Trump đem lại khá nhiều bất ổn cho Anh, với các mức thuế quan lúc thì nói là cắt giảm khá nhiều (xuống 10% cho hàng xuất khẩu của Anh sang Mỹ, tùy quota ngành nghề), có lúc lại ở vào cảnh bị Hoa Kỳ đe dọa thay đổi.
Xin nhắc là thỏa thuận thương mại Anh-Mỹ đã được ký vào tháng 5/2025, nhưng mới giữa tháng 4 năm nay (2026), Tổng thống Trump lại đe dọa “có thể thay đổi bất cứ lúc nào” vì lý do địa chính trị và vì yêu sách của Mỹ. Như thế, nhìn quanh thì Anh thấy EU vẫn là bạn hàng lớn, gần nhất. Brexit cũng khiến tăng trưởng kinh tế Anh giảm đáng kể. Một bài đăng tháng 2/2026 của nhóm tác giả Nicholas Bloom, Paul Mizen và Gregory Thwaites từ các đại học Stanford University (Mỹ), King’s College London và ĐH Nottingham (Anh) nêu ra con số ước tính khủng khiếp. Theo họ thì Brexit làm thiệt hại của Anh trong những năm qua là 6-8% GDP. Nhìn vào tương lai, thiệt hại tiếp tục sẽ làm sụt giảm chừng 4% GDP mỗi năm, theo nhóm nghiên cứu này, nếu quan hệ Anh-EU vẫn như hiện nay về kinh tế - thương mại. Chính phủ Lao động hiện nay thì coi tăng trưởng là ưu tiên số 1 cho mọi chính sách, nên việc tạo môi trường tương thích về kinh tế với EU là cách họ chọn để khởi động kinh tế Anh vốn tăng trưởng rất yếu, chỉ còn 0,1% trong quý 4 năm 2025.
Mười năm sau ngày trưng cầu dân ý và sáu năm thực hiện Brexit, thủ tướng Anh gần đây tuyên bố muốn đảo ngược một số điều khoản của Brexit. Đó là những điều khoản gì ? Liên quan đến những lĩnh vực nào ?
TTV. Nguyễn Giang : Tôi xin khẳng định rằng về ngôn từ chính thức, từ thủ tướng Keir Starmer và các thông báo của chính phủ Anh, đây không phải là tiến trình đảo ngược một số điều khoản của Brexit, mặc dù phe đối lập nói như vậy.
Cụ thể là thì Anh chỉ muốn, vào những năm tới, kết nối lại gần hơn với EU và tuân theo các tiêu chuẩn EU trong 4 lĩnh vực.
Một là nông nghiệp và thực phẩm. Đây là ưu tiên hàng đầu. Anh muốn ký kết một thỏa thuận về tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ để giảm bớt việc kiểm tra biên giới đối với thực phẩm, đồ uống và các sản phẩm động thực vật.
Hai là công nghiệp xe hơi. Anh muốn phối hợp các tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo xe sản xuất tại Anh có thể lưu thông thuận tiện sang thị trường EU, mà không gặp trở ngại về quy định mới.
Ba là lĩnh vực năng lượng và biến đổi khí hậu: Hai bên sẽ kết nối lại hệ thống giao dịch khí thải (Emissions Trading Scheme) và hợp tác chặt chẽ trong thị trường điện năng để giảm chi phí năng lượng.
Lĩnh vực thứ tư, có vẻ dễ hơn cả vì không mang tính kinh tế, là Anh và EU sẽ tiếp tục phối hợp công tác an ninh biên giới và di trú. Hai bên đã và đang trao đổi thông tin và phối hợp các quy trình kiểm soát biên giới, chia sẻ dữ liệu tội phạm.
Anh có thể giải thích kỹ hơn quy chế « tương thích chủ động » của luật Anh với luật EU ?
TTV. Nguyễn Giang : Đây là quy chế thực ra đã áp dụng ở phạm vi hẹp giữa Anh và EU ở Bắc Ireland. Ví dụ trong xuất nhập khẩu nông sản. Quy định về tỷ lệ thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp với một số loại cây trồng tạo ra hàng xuất khẩu trao đổi thương mại Bắc Ireland thuộc Anh và CH Ireland thuộc EU đã được áp dụng như sau: Phía Anh đồng ý tự tuân theo quy định về tỷ lệ thuốc trừ sâu trong trồng cấy cây xanh, chẳng hạn ở Bắc Ireland, theo tiêu chuẩn EU, việc xuất nhập khẩu cây giữa hai miền Nam-Bắc Ireland không cần kiểm tra thêm.
Nay thì Anh sẵn sàng để từng ngành nghề, do các bộ khác nhau phụ trách, tự động điều chỉnh quy định của mình theo tiêu chuẩn của EU, mỗi khi EU chỉnh sửa các tiêu chuẩn của họ.
Lấy ví dụ, nếu EU quy định pin cho xe ô-tô động cơ điện phải có tới 55% thành phần kỹ thuật, công nghệ bản địa chứ không phải hàng Trung Quốc, hay của nước thứ ba nào khác, Anh sẽ tự làm đúng như vậy khi ban hành quy định về pin cho xe chạy điện. Như thế thì hai bên có thể bán pin xe sang thị trường của nhau mà không cần đàm phán về thuế quan nữa.
Cơ chế này, nếu được thông qua bằng một đạo luật vào dịp hè năm nay, sẽ được áp dụng cho các ngành kinh tế khác trên toàn Vương quốc Anh trong quan hệ với EU.
Trên thực tế thì hai bên đã thảo luận về tiêu chuẩn sản phẩm (Hóa chất và hàng tiêu dùng). Anh có xu hướng bám sát các tiêu chuẩn an toàn hóa chất (REACH) và bảo vệ người tiêu dùng của EU, để tránh tình trạng hàng hóa Anh bị từ chối tại biên giới do khác biệt về tiêu chuẩn. Việc mở rộng theo từng khu vực kinh tế (sector by sector) là những bước đi thận trọng để triển khai chiến lược “tương thích hóa” kinh tế hai bên. Hôm 15/04/2026, EU đã nhận lại Anh vào chương trình giáo dục Erasmus, nay được gọi là Erasmus +, sẽ được triển khai từ 2027. Theo chính phủ Anh thì ít nhất 100 nghìn sinh viên, thanh niên sẽ được hưởng lợi chỉ trong năm đầu tiên từ việc Anh quay lại chương trình đào tạo, trao đổi giáo dục, văn hóa này.
Tôi muốn nói thêm là EU đã ký mở rộng hợp tác tương tự với Thụy Sĩ, nước nằm giữa châu Âu nhưng không phải là thành viên Liên Hiệp Châu Âu, tuy không dùng ngôn từ như các dự tính ký với Anh. Tháng 2 năm nay, EU và Thụy Sĩ đã ký thỏa thuận tăng cường hợp tác trong bốn lĩnh vực: thực phẩm, điện, bảo vệ biên giới và khai thác không gian vũ trụ. Có thể thấy là ba lĩnh vực đầu gần như giống hệt với những gì EU có thể sẽ ký với Anh.
Vì sao thủ tướng Anh, Kier Starmer muốn thực hiện dự luật đó vào lúc này ? Thực trạng nền kinh tế Anh hiện nay ra sao ?
TTV. Nguyễn Giang : Đầu tiên là bối cảnh quốc tế ngày một khó khăn, về an ninh năng lượng, về chuỗi cung ứng, do chiến sự Trung Đông, do cuộc chiến thuế quan Hoa Kỳ-Trung Quốc, chiến tranh ở Ukraina, đã khiến việc sáp lại gần với láng giềng lớn nhất, và đối tác thương mại quan trọng là EU, trở nên cấp bách với Anh.
Như chính lời Thủ tướng Keir Starmer nói với BBC hôm 13/04, thì 10 năm sau Trưng cầu dân ý Brexit, Anh Quốc “cần nhìn về phía trước, không nhìn lại quá khứ”, và khi mà “xung đột lớn, bất ổn lớn (massive conflict, great uncertainty) đang xảy ra trên thế giới thì “vì quyền lợi của mình, Vương quốc Anh cần có một quan hệ gần gũi hơn, mạnh mẽ hơn với châu Âu”. Ông cho rằng nhu cầu đó đến từ thực tiễn hiện nay, và đúng với cả quốc phòng, an ninh, năng lượng và kinh tế.
Thứ hai là nhu cầu kích hoạt tăng trưởng kinh tế. Đầu năm nay, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nêu dự báo tăng trưởng kinh tế ở Anh năm 2026 là 1,5%, nhưng trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới (World Economic Outlook) trong tháng 4 năm nay, IMF hạ dự báo về tăng trưởng kinh tế Anh xuống chỉ còn 0,8% năm nay. Tức là thực trạng nền kinh tế Anh đang ở điểm rất dễ rơi vào suy thoái.
Nghị trình chủ đạo của Chính phủ Anh hiện nay là phải thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế. Quan điểm của Đảng Lao Động cầm quyền là tạo quan hệ gần gũi hơn trong giao thương với EU qua chính sách tạo sự “tương thích hóa” ở các ngành then chốt, thì doanh nghiệp sẽ giảm bớt được rào cản kỹ thuật và chi phí, từ đó kinh tế Anh có thêm cơ hội tăng trưởng.
Lãnh đạo chính phủ Anh muốn thay đổi những điều khoản trên mà không cần đưa ra Nghị Viện thảo luận. Đâu là những công cụ pháp lý cho phép ông thực hiện các thay đổi mà không qua Nghị Viện ?
TTV. Nguyễn Giang : Dự kiến một dự luật (bill) sẽ được giới thiệu trong Diễn văn của Nhà vua (The King’s Speech) vào tháng 5/2026 và được thông qua trước kỳ nghỉ hè năm nay, đánh dấu bước chuyển biến lớn nhất trong quan hệ Luân Đôn - Bruxelles sau khi Anh chính thức rời EU. Khi được thông qua rồi thì luật này cho phép chính phủ, từ nay tới 2028-2029, có thể ra các nghị định hoặc hướng dẫn để điều chỉnh các chính sách từng ngành nghề cụ thể của nền kinh tế, tạo sự tương thích với quy định của EU mà không cần Quốc Hội thông qua chi tiết nữa.
Ý định này của thủ tướng Keir Starmer gây tranh cãi ra sao và lập luận của phe chống và ủng hộ là gì ? Liệu đây có là nước cờ mạo hiểm cho thủ tướng Anh khi mà các đảng đối lập chỉ trích ông « phản bội » ý nguyện của người dân ?
TTV. Nguyễn Giang : Ngay lập tức kế hoạch này đã bị các đảng đối lập như Bảo thủ và Reform chỉ trích. Họ coi mọi thay đổi hiệp định Brexit đều phải được Nghị viện thông qua.
Phe phê phán chính phủ nói đây chẳng khác gì luật thời vua Henry VIII- năm 1539 triều đình Anh ra một luật cho phép ông vua đó điều hành vương quốc bằng các sắc lệnh (to rule by decree) mà không cần Nghị viện bỏ phiếu cho mỗi lần cụ thể để chuẩn thuận hoặc bác bỏ thay đổi.
Hiện nay, phe đối lập và những người ủng hộ Brexit cứng rắn lo ngại đây là hành động “hội nhập lại EU bằng cửa sau”, làm mất đi quyền tự chủ về luật pháp của Anh khi phải chạy theo các quy tắc mà họ không còn quyền bỏ phiếu quyết định tại Bruxelles. Trong ngày 13/04/2026, lãnh đạo đảng Bảo thủ Kemi Badenoch đã phát biểu công khai phản đối ý tưởng về dự luật này. Theo bà thì đây là “cách làm tệ nhất ở cả hai đầu”: Anh mất quyền tham gia quyết định về các tiêu chuẩn hàng hóa của EU, mà phải chạy theo, tuân thủ quy định EU. Mặt khác, quy chế tương thích này khiến Anh không còn ký hiệp ước thương mại một cách thoải mái với các nước khác ngoài EU nữa.
Trên thực tế thì cả hai đảng Bảo thủ và Reform đều thừa nhận kinh tế đang rất yếu. Nhưng giải thích của Reform là các đời thủ tướng Bảo thủ đã qua và Lao động hiện nay đã “không biết tận dụng cơ hội Brexit đem lại” và đã làm uổng phí sự độc lập tự chủ khỏi EU để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đảng Bảo thủ cầm quyền từ khi Brexit 2016 đến giữa năm 2024 thì nay có ban lãnh đạo mới và ban lãnh đạo này cũng nói họ đang đưa ra các chính sách (mang tính đề xuất) để thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng nói một cách khách quan thì chính sách của đảng nào nêu ra cũng vấp phải thực tiễn rất khắc nghiệt.
Dư luận Anh nay nghĩ gì về Brexit và về quan hệ với EU ?
TTV. Nguyễn Giang : Về dư luận thì tính đến tháng 1/2026, theo Statista, có tới 58% người dân Anh coi quyết định Brexit là sai, và chỉ có 30% coi là đúng. Tuy thế, người ta không nghĩ việc quay trở lại EU là khả thi. Trước mắt, việc xích lại gần EU để kinh tế đỡ khó khăn là bước đi mà nhiều người coi là hợp lý nhất. Tôi thấy bên cạnh chuyện kinh tế thì nhìn chung, người dân chấp nhận Anh ở bên ngoài EU và họ chỉ có thể than phiền về thủ tục kiểm tra biên giới, về hàng không khi sang EU đi du lịch. Rất nhiều vấn đề thực tiễn này vẫn chưa có giải pháp chung gì cả.
Trong cuộc chiến Mỹ-Israel chống Iran, bùng lên từ cuối tháng 2/2026, có một ẩn số quan trọng : Phản ứng của lực lượng Houthi. Theo nhiều nhà quan sát, cho dù Houthi chỉ là một cộng đồng thiểu số tại Yemen, nhưng nếu lực lượng này quyết định tham chiến, tác động sẽ rất lớn đến khu vực. Vì sao ?
Chiến tranh Iran : Houthi nhập cuộc ngày 28/03/2026Sau gần một tháng kể từ đầu cuộc chiến, ngày 28/03, lực lượng Houthi tấn công Israel bằng tên lửa. Cuộc tấn công đã được thông báo vào hôm trước : Mục tiêu là để ngăn ngừa Israel và Mỹ leo thang quân sự chống Iran. Trên đài France 24, cựu đại sứ Pháp tại Qatar và Ả Rập Xê Út, Bertrand Besancenot, nhận định:
« Đây là một tín hiệu quan trọng, theo tôi. Tín hiệu này cho thấy, thật không may, Teheran muốn khẳng định chúng ta đang ở trong giai đoạn leo thang xung đột. Do đó, việc lực lượng Houthi bắt đầu tham gia vào cuộc xung đột, bất chấp thỏa thuận ngừng bắn với Mỹ trước đó, rõ ràng có nghĩa là Teheran trên thực tế đã yêu cầu lực lượng Houthi can thiệp. »
Từ thời điểm đó đến nay, quân Houthi dùng tên lửa đạn đạo oanh kích Israel ít nhất bốn lần vào các vị trí chiến lược, trong đó đáng chú ý có đợt tấn công ngày 02/04 cùng ngày với đợt oanh kích lớn nhất của Iran nhắm vào Israel từ đầu chiến tranh.
Tấn công Israel và cản trở giao thông ở Hồng Hải để phản đối chiến tranh của Israel tại GazaĐây không phải là lần đầu quân Houthi tham chiến. Kể từ khi bùng nổ cuộc chiến tranh của Israel chống Hamas tại Gaza từ cuối năm 2023, để trả đũa vụ tấn công khủng bố của Hamas trên đất Israel, cái tên Houthi đã được thế giới biết đến rộng rãi. Tính đến đầu năm 2024, Houthi dùng ít nhất 40 tên lửa đạn đạo và hàng trăm drone tấn công Isarel, và khoảng 30 tàu thuyền trên biển Hồng Hải, nối liền Địa Trung Hải với Ấn Độ Dương. Ông David Rigoulet-Roze, nhà nghiên cứu tại Viện Phân tích chiến lược Pháp (Institut Français d’Analyse stratégique - IFAS), chuyên gia về Trung Đông và bán đảo Ả Rập, nhận định:
« Sau ngày 7/10/2023, lực lượng Houthi là một trong các bên đầu tiên thể hiện ủng hộ về mặt quân sự đối với Hamas trong cuộc chiến ở Gaza. Đã có một kho vũ khí tồn tại dưới thời cựu tổng thống Saleh trước khi bị lật đổ, nhưng rõ ràng hệ thống vũ khí của lực lượng Houthi đã phát triển, nhờ sự hỗ trợ của người Iran, đặc biệt là Lực lượng Vệ binh Cách mạng, và của Hezbollah, giúp Houthi tăng cường khả năng tên lửa đạn đạo. » (Chương trình Arte Les Houthis : l’engrenage continue au Moyen-Orient ? / Lực lượng Houthi: Vòng xoáy bạo lực ở Trung Đông có tiếp tục?).
Houthi là ai ?Lực lượng Houthi có tên gọi chính thức là Ansar Allah, tức « những người trung thành với Thượng Đế », được thành lập trong thập niên 1990, sau khi hai miền Yemen thống nhất dưới quyền lãnh đạo của gia tộc Saleh. Houthi là tên của nhà sáng lập phong trào Hussein Badreddin al-Houthi, thuộc bộ tộc Houthi, thành viên một trong ba liên minh bộ tộc lớn nhất ở vùng núi miền bắc Yemen. Nhà sáng lập Houthi thuộc tiểu nhánh Hồi giáo Zaydism, hệ phái Hồi giáo Shia. Zaydism là nhánh tôn giáo chiếm khoảng 20 đến 30% dân số Yemen (tiểu nhánh này có rất nhiều khác biệt so với nhánh imam thứ 12 / Twelver Shi'ism, cũng thuộc hệ phái Shia, là nhánh tôn giáo chủ lưu tại Iran). Phong trào vũ trang của Houthi chống chế độ bị cáo buộc tham nhũng và tàn bạo của gia tộc Saleh thân Ả Rập Xê Út bùng lên vào năm 2003 khi Mỹ tấn công Irak.
Năm 2011, cách mạng bùng nổ tại Yemen trong bối cảnh phong trào Mùa Xuân Ả Rập. Tổng thống Saleh bị lật đổ. Nội chiến bùng lên năm 2014, với ba lực lượng chính : (1) phong trào ly khai muốn tái lập nước Nam Yemen, được Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất hậu thuẫn, (2) chính phủ Saleh lưu vong, được quốc tế công nhận, và (3) người Houthi.
Cách mạng, nội chiến và can thiệp nước ngoài: Houthi tìm hậu thuẫn của IranCuộc can thiệp quân sự của liên quân quốc tế do Ả Rập Xê Út đứng đầu, với hậu thuẫn của Mỹ nhằm tái lập chính phủ Saleh, kết thúc với thỏa thuận ngừng bắn năm 2022 dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Gần 400.000 người thiệt mạng tại Yemen, trong 7 năm chiến tranh. Yemen hiện tại được coi là một trong những xứ sở khốn khổ nhất thế giới, với 18 triệu trong số hơn 40 triệu dân bị thiếu ăn trầm trọng, thiếu nước sạch và phương tiện y tế.
Lực lượng Houthi hiện kiểm soát khoảng 30% lãnh thổ Yemen, tại các vùng rừng núi hiểm trở, và các địa bàn chiến lược chủ yếu, như các vùng ven biển và vùng giáp biên với Ả Rập Xê Út. Chính trong bối cảnh cách mạng, nội chiến và can thiệp nước ngoài này, quan hệ giữa Houthi và Iran được siết chặt. Bà Agnès Levallois, chủ tịch Viện Nghiên cứu Trung Đông Địa Trung Hải (IReMMO), chuyên về vùng Cận Đông, nhận định (chương trình của Arte) :
« Chúng ta hãy trở lại năm 2015, khi Ả Rập Xê Út quyết định phát động chiến tranh chống lực lượng Houthi, nổi lên sau các cuộc biểu tình năm 2011 buộc tổng thống Saleh phải ra đi. Phong trào phản kháng Mùa Xuân Ả Rập 2011 cũng đã lan đến Yemen. Sau khi tổng thống Saleh ra đi, đã có những cuộc đối đầu giữa các lực lượng khác nhau cấu thành nên xã hội Yemen. Lực lượng Houthi là một thành phần của xã hội Yemen, chủ yếu là người Hồi giáo theo hệ phái Shia, đã tìm đến Iran để nhận được các hỗ trợ. Đây là chiến lược được xác lập trong bối cảnh các cuộc nổi dậy sau phong trào Mùa Xuân Ả Rập năm 2011. »
Eo biển Bab el-Mandeb, một huyết mạch hàng hải Á – ÂuTheo một báo cáo của Liên Hiệp Quốc, lực lượng Houthi vào năm 2024 có khoảng 350.000 binh sĩ. Một lá chủ bài của Houthi là eo biển Bab el-Mandeb, tuyến hàng hải gần nhất nối liền châu Á với châu Âu, nơi trung chuyển của khoảng 10% thương mại hàng hải quốc tế (xem thêm về eo biển Bal el-Mandeb trên trang CNES - Trung tâm nghiên cứu Không gian Quốc gia Pháp). Tướng Dominique Trinquand, cựu lãnh đạo phái bộ quân sự của Pháp tại Liên Hiệp Quốc, nhấn mạnh đến nguy cơ Houthi phong tỏa eo biển:
« Điều này có thể dẫn đến hệ quả gì ? Có thể nói một cách đơn giản là xung đột sẽ được mở rộng. Ngoài eo biển Hormuz, còn có một eo biển cực kỳ quan trọng khác là eo biển Bab el-Mandeb ở Hồng Hải. Lực lượng Houthi đã từng gây thiệt hại và làm gián đoạn đáng kể khu vực này trong nhiều năm. Có một lực lượng hải quân của châu Âu được triển khai để bảo vệ Hồng Hải. Nhưng nếu lực lượng Houthi quyết định nhập cuộc và nếu như họ vẫn có đủ tên lửa để ngăn chặn tuyến đường hàng hải đó, thì xung đột sẽ mở rộng và tình hình sẽ trở nên ngày càng phức tạp hơn, bởi với việc hai eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb ở Hồng Hải bị ngăn chặn, không một con tàu nào có thể đi qua tại khu vực này. »
Sẵn sàng tham gia cuộc chiến « bất cân xứng » chống đại cườngCho đến nay, lực lượng Houthi mới tấn công Israel và chưa có hành động ngăn cản tự do hàng hải tại eo biển Bab el-Mandeb, thỏa thuận hưu chiến với Mỹ vẫn được duy trì theo nhiều nhà quan sát, trái ngược với nhận định của cựu đại sứ Pháp tại Ả Rập Xê Út. Chuyên gia Viện Phân tích chiến lược Pháp David Rigoulet-Roze lưu ý, với cuộc tấn công này, lực lượng Houthi muốn bắn tín hiệu đến Mỹ và Ả Rập Xê Út (chương trình Arte) :
« Ẩn dưới hành động này, phe Houthi đã ngầm gửi đi một thông điệp đến Mỹ và Ả Rập Xê Út. Cụ thể là lực lượng Houthi có khả năng lập một liên minh với Teheran để phản công. Điều quan trọng cần nhớ là kể từ năm 2015, lực lượng Houthi đã liên tục oanh kích Ả Rập Xê Út bằng tên lửa. Sân bay của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất cũng từng bị tấn công. Ả Rập Xê Út sẽ phải đối đầu với hai địch thủ. Đây là điều không thể bỏ qua, cho dù khả năng hoạt động của lực lượng Houthi vẫn còn bị hạn chế. Việc có thêm mối đe dọa tiềm tàng ở sau lưng, bên cạnh mối đe dọa trực tiếp từ Iran, quả thực là khiến Ả Rập Xê Út lâm vào thế khó. Vì vậy, lực lượng Houthi không chỉ gây khó cho riêng Israel, mà toàn bộ cấu trúc an ninh khu vực đang bị xáo trộn, với những hậu quả rất, rất khó lường. »
Một số nhà quan sát, như chính trị gia Pháp Thierry Breton, cựu ủy viên Châu Âu, xem cuộc chiến Iran chống Mỹ là cuộc chiến tranh « bất cân xứng » chống lại đại cường, mang tầm vóc thế giới « đầu tiên » trong kỉ nguyên đương đại (bài « Cuộc chiến tranh thế giới bất cân xứng đầu tiên », Le Grand Continent, ngày 27/03/2026). Một bên với vũ khí tối tân, chi phí lớn, muốn tập trung kết thúc trong thời gian ngắn, bên kia chủ trương kéo dài chiến tranh với cường độ thấp.
Trong chiến lược chiến tranh « bất cân xứng », lực lượng Houthi có thể đóng vai trò đắc lực khi đe dọa eo biển ở Hồng Hải, có thể tác động mạnh đến các nước trong khu vực, đặc biệt là Ai Cập, mà một phần lớn nền kinh tế dựa vào kênh đào Suez, buộc các nước gây áp lực với Mỹ chấm dứt chiến tranh.
Houthi : « Proxy » của Iran hay tự chủ về chiến lược ?Lực lượng Houthi rõ ràng là chỗ dựa đắc lực của chế độ Hồi giáo Iran trong cuộc đối đầu với đại cường Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong vấn đề này, giới quan sát có hai luồng quan điểm đối nghịch. Nếu như nhiều người, như chuyên gia David Rigoulet-Roze cho rằng Houthi là « lực lượng ủy nhiệm » (proxy) hay thế lực thừa hành mệnh lệnh từ Iran (cho dù tác giả có ghi nhận đây là một proxy không giống như các proxy khác), thì ông Élie Tenenbaum, Viện Quan hệ Quốc tế của Pháp (IFRI), phê phán việc lạm dụng khái niệm « proxy », và khẳng định tính chất tự chủ cao về chiến lược của người Houthi (chương trình Arte) :
« Houthi và Iran là các tác nhân có quyền tự chủ chiến lược riêng. Họ xích lại gần nhau vì nhu cầu hợp tác. Ngược lại với trường hợp của lực lượng Hezbollah ở Liban, Houthi không phải do Iran lập ra. Chế độ Teheran không có chỗ đứng nào trong giai đoạn khởi nguồn của phong trào Houthi. Mối liên hệ với Iran chỉ dần dần gia tăng từ năm 2015. Ban đầu, hỗ trợ của Iran rất hạn chế. Có sự hỗ trợ về vũ khí và tài chính, và có cả việc chuyển giao công nghệ, nhưng các tên lửa của Yemen chẳng hạn không hoàn toàn là tên lửa của Iran, mà là những tên lửa sử dụng công nghệ của Iran, đã được Yemen chế tạo theo cách của mình ».
Houthi, tuy tham gia « Trục kháng chiến », chống bá quyền của Mỹ và chủ nghĩa dân tộc Do Thái cực đoan (Sionism), do Iran đứng đầu, nhưng chủ động về chiến lược. Đó cũng là quan điểm của chuyên gia hàng đầu về Yemen, ông Bruce Riedel, nhà phân tích của cơ quan tình báo Mỹ CIA đã nghỉ hưu, cố vấn cấp cao bốn đời tổng thống Mỹ, tác giả cuốn « Nước Mỹ và người Yemen » (Tọa đàm trực tuyến do viện tư vấn Quincy Institute for Responsible Statecraft, có trụ sở tại Washington, tổ chức đầu năm 2024). Hòa bình cho người Palestine, hòa bình và độc lập cho dân tộc Yemen là những mục tiêu chủ chốt mà lực lượng Houthi theo đuổi cho đến nay, theo nhiều chuyên gia về Yemen.
Kể từ khi bùng phát chiến tranh chống Iran do Mỹ và Israel khởi xướng, Trung Quốc tỏ ra kín tiếng. Bắc Kinh không lên án mạnh mẽ Washington trong cuộc chiến tranh chống Teheran, cũng không hoạt động quá tích cực trên mặt trận ngoại giao. Trung Quốc lặng lẽ quan sát Hoa Kỳ phạm sai lầm, đồng thời củng cố thế tự chủ chiến lược trong nhiều lĩnh vực.
Trung Quốc đang có cách nhìn như thế nào về cuộc chiến giữa Mỹ và Iran ? RFI Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn với nhà địa chính trị Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Trung – Nam Á, đặc biệt là Pakistan, Ấn Độ và thế giới Himalaya, nhà nghiên cứu Đài Quan sát Tân Á-Âu.
----- ***** -----
RFI Tiếng Việt : Kể từ khi Hoa Kỳ và Israel phát động cuộc chiến chống lại Iran, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vẫn giữ im lặng. Ông nhận định như thế nào về thái độ này của nhà lãnh đạo Trung Quốc ?
Didier Chaudet : Thực ra, đó là một cách tiếp cận cực kỳ khôn ngoan bởi vì người ta có thể tưởng tượng rằng sự im lặng từ phía Trung Quốc là dấu hiệu của sự bối rối, sự bất lực trong việc đảm nhận vai trò lãnh đạo, nhưng đó là quan điểm của phương Tây. Ý tưởng ở đây là cứ để cho Mỹ tiếp tục phạm sai lầm, hết sai lầm này đến sai lầm khác, và cho phép sự tương phản mà Trung Quốc thể hiện trở nên rõ ràng đối với mọi người, đặc biệt là ở các nước đang phát triển : Trung Quốc không tạo ra vấn đề, Trung Quốc không gây ra các cuộc chiến tranh mới, Trung Quốc không làm bất ổn thế giới hiện tại, chính Hoa Kỳ mới là bên làm điều đó, chính Hoa Kỳ đang phá hủy hệ thống quốc tế mà chính họ đã góp phần tạo ra sau Thế Chiến Thứ Hai.
Về phía truyền thông Trung Quốc, trên thực tế họ khá trung lập. Phần lớn các phương tiện truyền thông Trung Quốc có sự gia tăng mạnh mẽ các phân tích về Iran ngay sau khi chiến tranh bắt đầu, nhưng trên thực tế, diễn ngôn chủ yếu là trung lập trên các phương tiện truyền thông nhà nước và cả trong giới blogger. Có lẽ trong giới blogger, có một chút thiên về ủng hộ Iran hơn, chỉ trích phương Tây, chủ nghĩa tân đế quốc, và thiên về chủ nghĩa nhân đạo hơn. Có thể có một vài tiếng nói rải rác với lập trường ủng hộ Mỹ hơn, nhưng chúng có rất ít ảnh hưởng hiện nay.
Đã có một thỏa thuận ngừng bắn và một vòng đàm phán ngắn giữa Hoa Kỳ và Iran tại Islamabad, Pakistan. Các cuộc đàm phán này, tuy đã thất bại, nhưng có nhiều lời bàn tán về vai trò kín đáo của Trung Quốc trong các cuộc hòa giải của Pakistan. Sau đó, CNN dẫn lời các nguồn tin tình báo Mỹ cho biết Trung Quốc đang chuẩn bị gửi vũ khí cho Iran trong những tuần sắp tới. Và do vậy tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa áp thuế Trung Quốc lên mức 50% nếu nước này gửi thiết bị quân sự cho Iran. Theo ông, Trung Quốc đang tính toán gì trong ván cờ này ?
Didier Chaudet : Thực ra, ở đây, chúng ta lại dựa vào một nguồn tin của Mỹ chỉ trích Trung Quốc, nên chẳng có gì mới mẻ cả, điều đó khá kinh điển. Chúng ta nhớ rằng chính những phương tiện truyền thông Mỹ đã từng nói với chúng ta rằng có vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Irak. Vì vậy, đó là lý do tại sao tôi khá thận trọng về loại chuyện này. Tuy nhiên, từ một quan điểm rất thực tế, điều đó sẽ có lý, bởi vì trên thực tế, mà không cần đi quá xa, không cần cung cấp một lượng vũ khí khổng lồ, nếu Iran có thể tự vệ và tự vệ tốt, người Mỹ sẽ buộc phải quay lại bàn đàm phán.
Vậy trên thực tế chuyện gì đã diễn ra ở Islamabad ? Pakistan đã làm một khối lượng công việc khổng lồ. Họ không chỉ gián tiếp dựa vào Trung Quốc, mà còn dựa vào một liên minh các quốc gia tầm trung trong thế giới Hồi giáo, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê Út và Ai Cập. Họ đã mời ngoại trưởng các nước này đến Islamabad. Một khi ngoại trưởng bốn nước đã có một thỏa thuận, lãnh đạo ngoại giao Pakistan đã đến Trung Quốc để trình bày chi tiết những gì đã được thảo luận giữa bốn bên. Vì vậy, trên thực tế, đã có sự ủng hộ kín đáo từ Trung Quốc đối với khả năng đối thoại, và cốt lõi khu vực Trung Đông Hồi giáo vẫn còn tương đối độc lập và phần nào có tổ chức đang cùng nhau tìm kiếm hòa bình.
Nhưng Hoa Kỳ chỉ cho liên minh này 24 giờ. Từ góc nhìn của Hoa Kỳ, điều này khá nan giải vì nó chứng minh rõ ràng rằng họ vẫn đang hoạt động trong khuôn khổ đơn cực. Họ muốn áp đặt quan điểm của mình. Điều Mỹ muốn từ Iran là biến nước này thành một quốc gia giống như Venezuela, một dạng thuộc địa bán ngoại giao. Điều này không hiệu quả với Iran vì Iran không phải là Venezuela. Iran không bị kiểm soát bởi một người duy nhất, đó là một cấu trúc, và dù quý vị thích hay không, tôi cho rằng cấu trúc đó vẫn được ủng hộ bởi ít nhất từ 20-30 đến 35% dân số Iran, những người chia sẻ với chương trình nghị sự chống đế quốc.
Vì vậy, người Iran có khả năng tự vệ, và trên thực tế, toàn bộ chiến lược quân sự của Iran trong khoảng 25 năm qua là nhằm củng cố Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Pasdaran). Khi chúng ta nói rằng quân đội chính quy đã bị đánh bại, chúng ta đã biết điều đó vì quân đội chính quy thực sự không nhận được nhiều tiền từ nhà nước Iran. Nhà nước Iran biết rất rõ rằng họ không thể tự mình chống đỡ trong một cuộc chiến với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, họ muốn đảm bảo rằng tình hình trở nên bất khả kháng đối với Mỹ đến mức họ sẽ thua trong một cuộc chiến tranh xâm lược. Và đó là lý do tại sao Lực lượng Vệ binh Cách mạng có tất cả các nguồn lực quân sự cần thiết. Nhưng ngày nay, một thất bại nhanh chóng và hoàn toàn của Iran sẽ thực sự là một vấn đề cho cả Nga và Trung Quốc.
Tôi nghĩ nhiều người ở Trung Quốc rất thận trọng. Trên thực tế, họ không nhất thiết muốn giúp đỡ nhiều. Có một cuộc tranh luận nội bộ về việc liệu vũ khí có được gửi đến Iran hay không; tôi không chắc chắn 100%. Điều đó sẽ không quá sốc, thậm chí còn khá thực tế. Nhưng quý vị cũng thấy Trung Quốc cực kỳ thận trọng trong cách họ xử lý mọi việc. Quả thực, do thái độ của Mỹ, những người muốn có lập trường quyết liệt hơn và chống đế quốc ở Bắc Kinh cuối cùng cũng có thể lên tiếng vì cách tiếp cận cực đoan của Trump khiến một số người Trung Quốc bắt đầu nghĩ rằng, « Nhưng xét cho cùng, đúng vậy, một chút chiến tranh du kích chống phương Tây không hẳn là một ý kiến tồi. »
Trong trường hợp Hoa Kỳ không mở lại được eo biển Hormuz nhưng Tậ Cận Bình thuyết phục được Iran làm điều đó, hậu quả nào cho Washington và các nước vùng Vịnh ? Liệu Trung Quốc có giữ thế chi phối trong bất kỳ giải pháp ngoại giao nào không ? Vài nếu Bắc Kinh có thể giữ vai trò bảo lãnh, đổi lại họ sẽ đòi hỏi điều gì ?
Didier Chaudet : Trên thực tế, cách tiếp cận của Trung Quốc giống như những gì người ta đã thấy trong các hoạt động ngoại giao khác ở Trung Đông, ví ụu như khi Bắc Kinh đưa Iran và Ả Rập Xê Út xích lại gần nhau hơn, mục tiêu là nhằm đối xử với các bên khác như người lớn, chứ không phải như trẻ con bị ép buộc, bằng cách nói rằng, « nếu quý vị muốn hòa bình, chúng tôi sẽ giúp đỡ, chúng tôi sẽ đóng góp ». Hơn nữa, trong vụ việc này, Trung Quốc có một tác động khá khiêm tốn, vì chính nền ngoại giao Irak đã thúc đẩy sự hòa giải, Trung Quốc chỉ đơn giản ủng hộ.
Ở đây, cách tiếp cận cũng tương tự, « Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ ổn định ». Tất nhiên, nếu mọi việc có thể được giải quyết bằng con đường ngoại giao, Trung Quốc chắc chắn sẽ ủng hộ vì họ cần duy trì hiện trạng này. Không chỉ họ, mà tất cả các quốc gia châu Á – Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc – những quốc gia không nhất thiết là bạn thân của Trung Quốc ở châu Á, trên thực tế cũng đang đứng về phía Trung Quốc.
Do vậy, nếu tình hình vẫn tiếp tục như hiện nay , nếu eo biển Hormuz không được mở cửa – và thính giả ở Việt Nam và Pháp thực sự cần phải tính đến điều này – trong vài tháng nữa, chúng ta sẽ nghe về nạn đói ở các nước phía nam, và tình trạng thiếu lương thực này cũng sẽ ảnh hưởng đến các nước phương bắc. Thính giả ở Pháp không nên nghĩ rằng điều này không liên quan đến họ, chúng sẽ ảnh hưởng đến Pháp theo hai cách : Gia tăng luồng di cư và gia tăng các vấn đề, ngay cả cho ngành nông nghiệp ở chính nước Pháp. Còn ở Việt Nam, tình hình thậm chí có thể còn bi thảm hơn. Người Trung Quốc chắc chắn đã chuẩn bị tốt hơn kể từ cuộc chiến 12 ngày, họ đã hiểu rằng ngày này sẽ đến, rằng eo biển Hormuz sẽ bị đóng cửa.
Rõ ràng trong tình hình ngoại giao hiện nay, nếu Trung Quốc thành công về mặt ngoại giao trong việc đạt được điều mà người Mỹ không thể đạt được bằng vũ lực, thì đối với tất cả các nước thuộc khu vực Nam bán cầu, Trung Quốc sẽ là nhà lãnh đạo không thể tranh cãi của thế giới hậu chiến tranh Iran. Và Trung Quốc sẽ đòi hỏi gì đổi lại ? Hoàn toàn không gì cả. Họ sẽ chứng tỏ mình là những người trưởng thành trong cuộc đàm phán, như chúng ta thường nói trong tiếng Anh, đối diện với Mỹ và châu Âu, bên chỉ biết nghe theo, nói mà không làm gì cả. Ngoại trừ việc ngày nay, nói mà không hành động sẽ phải trả giá rất đắt. Một lần nữa, người dân có nguy cơ chết đói trong vài tháng tới nếu tình hình tiếp diễn như hiện nay.
Tuy nhiên, nếu chúng xem xét kỹ một số chi tiết nhất định chẳng hạn như việc phí quá cảnh qua eo biển Hormuz cho Iran phải thanh toán bằng nhân dân tệ, liệu chúng ta có thể nói rằng hậu quả lâu dài của chiến hiện nay sẽ khá tích cực cho Trung Quốc hay không ? Điều đó có nghĩa là một ngày nào đó sẽ không còn hệ thống « petrodollar » (dầu hỏa – đô la) nữa mà sẽ là « petroyuan » (dầu hỏa – nhân dân tệ) ?
Didier Chaudet :Chắc chắn rồi. Một lần nữa, tại sao Trung Quốc không lên tiếng nhiều hơn ? Tại sao Trung Quốc không hoạt động nhiều hơn trên mặt trận ngoại giao ? Bởi vì người ta « không bao giờ ngăn chặn một kẻ thù khi họ đang tự bắn vào chân mình ». Đến thời điểm này, Hoa Kỳ đã mất phương hướng vì họ liên tục mắc sai lầm. Một khi mọi việc thực sự sẽ lắng xuống, chúng ta rất có thể sẽ hướng tới một thế giới hậu đô la, một thế giới hậu Mỹ, đặc biệt là ở Trung Đông, bởi vì chúng ta cũng phải tính đến việc tất cả các quốc gia đang dựa vào sự bảo hộ của Mỹ để tự vệ và ổn định đất nước, như Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Qatar, Ả Rập Xê Út, đều đã chọn sai người.
Tôi không chắc Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất sẽ hồi phục được, đặc biệt là sau các vụ đánh bom của Iran. Tất nhiên, nước này cũng sẽ oán giận Iran, nhưng sự thật là Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đã hoàn toàn liên minh với Hoa Kỳ và Israel, và điều đó không mang lại cho họ bất kỳ sự bảo vệ nào. Những người có khả năng chi trả ở Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất nhất hiện nay đang rời khỏi đất nước.
Là người hiểu rõ Hồng Kông, tôi vẫn ngạc nhiên trước thực tế rằng Hồng Kông được miêu tả với chúng ta theo một khía cạnh khá bi thảm, trong khi trên thực tế, cuộc sống ở đó rất tốt, và Hồng Kông có lẽ đang mong chờ tất cả số tiền từng chảy vào Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Qatar giờ sẽ chuyển sang Singapore và Hồng Kông. Người ta rất ít khi nói về Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, và có lẽ cả Qatar nữa, nhưng hai nước này có nguy cơ sẽ không còn là những cường quốc kinh tế như trước đây nữa, do các chính sách của Mỹ và Israel, và vì vậy dẫn đến đòn trả đũa của Iran.
Trang mạng Capital ngày 09/04/2026, có nói đến khả năng hình thành một trục dầu hỏa Nga – Trung Quốc – Iran, có thể kiểm soát đến 30% lượng dầu hỏa toàn cầu. Nếu giả thuyết này thành hiện thực, liệu đó có sẽ là kết cục tàn khốc cho thế bá quyền của Mỹ như một số nhận định ?
Didier Chaudet :Trên thực tế, có một số nhà phân tích liên tục lập luận theo kịch bản khối này đối đầu khối kia. Trong khi đó, ở Bắc Kinh, Matxcơva và Tehran, họ nhận ra rằng họ chỉ là đồng minh tình thế. Không phải là hoàn toàn không thể xảy ra việc khối này nổi lên, nhưng nếu điều đó xảy ra, đó là do sự ép buộc từ Mỹ và bởi sự bất lực của Mỹ và sự bất lực của châu Âu trong việc tồn tại độc lập. Chỉ trong bối cảnh này, chúng ta mới có thể thấy một khối như vậy xuất hiện.
Bởi vì, trên thực tế, Nga bảo vệ lợi ích của chính họ. Trung Quốc chưa bao giờ hoàn toàn đứng về phía Nga, họ không muốn Nga sụp đổ, nhưng họ cũng không hoan nghênh cuộc chiến xâm lược Ukraina, trái ngược với những gì một số người ở Paris có thể nói – những người mà trên thực tế không hiểu gì về Iran, Trung Quốc hay Nga, và do đó chỉ đang nói những lời lẽ mang tính ý thức hệ.
Hiện tại, đây là những quốc gia bị phe phương Tây nhắm mục tiêu đến mức họ có thể bị cám dỗ thành lập khối để trả đũa, nhưng khối này còn lâu mới chắc chắn hình thành. Đây là những quốc gia có lợi ích không hoàn toàn trùng khớp. Người Trung Quốc ủng hộ việc duy trì hiện trạng và một mức độ hòa bình quốc tế nhất định hơn là Nga, và giờ đây thậm chí còn hơn cả Iran.
Bởi vì, trong thế giới hiện nay, Trung Quốc đang chiến thắng bằng hòa bình. Chúng ta luôn lo sợ những gì có thể xảy ra với Đài Loan. Tôi rất sốc khi truyền thông Pháp lại khiến người Pháp lo sợ về những gì sẽ xảy ra ở Đài Loan hơn nhiều quốc gia khác ở châu Á. Thực tế, nếu bạn hiểu biết đôi chút về Đài Loan, thì Đài Loan không phải là Ukraina, và trong một thế giới hoàn toàn bị Trung Quốc thống trị, tôi sẽ không quá ngạc nhiên nếu người Đài Loan đạt được thỏa thuận với Trung Quốc trong khi vẫn duy trì được một mức độ độc lập nhất định, nhưng lại ở thế có lợi. Điều đó sẽ không hoàn toàn gây sốc.
Ở một khía cạnh kinh tế khác, nhiều chuyên gia đang bàn luận về nguy cơ « điện hóa – nhân dân tệ », nghĩa là mua đồ điện Trung Quốc và thanh toán bằng nhân dân tệ. Với vị thế thống trị trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, phải chăng Trung Quốc đang thu lợi từ cuộc chiến quy mô lớn đang diễn ra ở Trung Đông ?
Didier Chaudet :Đó là những gì đã và đang diễn ra. Nếu nhìn vào số liệu năm nay, 4/5 sản lượng năng lượng mặt trời toàn cầu, xét từ góc độ sản xuất, được thực hiện ở Trung Quốc. Cường quốc châu Á này còn thống trị cả các loại máy móc điện, và nhất là xe điện. Với những gì đang xảy ra hiện nay, người dân, kể cả ở Trung Đông đang chi tiền để mua các tấm pin năng lượng mặt trời ở Trung Quốc.
Việc mua các sản phẩm này của Trung Quốc đang bùng nổ, ví dụ như Irak. Quốc gia này có dầu mỏ, nhưng có nhu cầu về khí ga tự nhiên và cần nhiều năng lượng để tinh chế dầu. Nhưng trong lúc này, điều đó là không thể bởi vì toàn bộ chuỗi cung ứng truyền thống đã bị gián đoạn bởi những gì đang xảy ra.
Nhưng chiến tranh xảy ra, cũng đang thúc đẩy các nước láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, Thái Lan,… hướng đến năng lượng tái tạo ?
Didier Chaudet : Hoàn toàn đúng. Điều đó rất cần thiết bởi vì, một lần nữa, với chính sách của Mỹ mà các nước châu Âu đang cho phép, các nước châu Á hoàn toàn phụ thuộc vào dầu khí từ Trung Đông cần phải rút ngắn sự chậm trễ. Và trên thực tế, Trung Quốc đã làm gương vì nước này không phụ thuộc vào dầu khí Trung Đông nhiều như một số nước châu Á khác. Đặc biệt, các nguồn năng lượng tái tạo này đã hoàn toàn thay đổi cuộc chơi đối với Trung Quốc, cả về vấn đề ô nhiễm và tự chủ quốc gia.
Thật vậy, Trung Quốc đã đi tiên phong. Và trên thực tế, trái ngược với những lời lẽ tôi bắt đầu nghe ngay trước chiến tranh, về việc Trung Quốc sẽ áp đặt sự phụ thuộc nhất định vào một số quốc gia vì họ bán các sản phẩm như tấm pin mặt trời, v.v., khi quý vị mua một tấm pin mặt trời, quý vị chỉ mua một lần, quý vị không cần phải thường xuyên mua khí đốt hoặc dầu mỏ. Giữa một bên là khí đốt và dầu mỏ bị Hoa Kỳ kiểm soát, và bên kia, người ta chỉ cần mua một lần và tương đối độc lập, thì thà một lần mua từ phía Trung Quốc và học hỏi hai lần để trở nên độc lập còn hơn là mua dầu mỏ với giá cắt cổ và khí đá phiến khủng khiếp từ Hoa Kỳ.
Cuối cùng, từ góc độ quân sự, như ông có đề cập đến Đài Loan, cuộc chiến chống Iran, Hoa Kỳ đang vét các nguồn dự trữ quân sự của mình tại châu Á – Thái Bình Dương. Liệu đây có là một mối họa cho Đài Loan hay không ? Động thái này của Washington có làm sứt mẻ uy tín của Mỹ đối với các đồng minh châu Á ?
Didier Chaudet 8 : Tất nhiên, Trung Quốc thấy rõ những khó khăn mà Mỹ đang phải đối mặt, nhưng Bắc Kinh cũng thấy rằng sức mạnh tấn công của Washington vẫn còn to lớn. Vì vậy, khi nghĩ rằng Hoa Kỳ đang bị Iran khống chế, và do đó Trung Quốc có thể xâm lược Đài Loan, thực sự quá đơn giản. Trung Quốc hiểu rõ là quân đội đất nước, tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn chưa hoàn hảo.
Nếu có bất kỳ vấn đề nào xảy ra với cuộc xâm lược Đài Loan, đó là việc Trung Quốc có nguy cơ phải đối mặt với một liên minh do Mỹ dẫn đầu ở châu Á, điều này sẽ khiến cuộc sống của họ trở nên rất khó khăn. Nhật Bản có thể trang bị vũ khí hạt nhân cực kỳ nhanh chóng, và ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới, ở đó, chiến tranh giữa các đại cường, một khi đã bắt đầu, có thể leo thang rất nhanh và đi xa hơn. Hơn nữa, chính phủ Trung Quốc có một khế ước với người dân : Chúng ta đã phần nào giúp quý vị thoát khỏi cảnh bần hàn, chúng ta sẽ cố gắng thêm nữa để trả thù một thế kỷ bị sỉ nhục, vươn lên thành một đại cường, và thực sự trở lại là trung tâm thế giới.
Theo tôi, hiện đang có một cuộc tranh luận thực sự ở Bắc Kinh giữa những người muốn ra đòn mạnh hơn, muốn chủ động hơn, và những người nói rằng, trên thực tế, « chúng ta đã chiến thắng phần nào giống như người La Mã chống lại người Carthage, nghĩa là thay vì tấn công Hannibal, chúng ta để đối thủ tự làm suy yếu mình, để họ gặp khó khăn, và cuối cùng chúng ta sẽ chiến thắng bằng một cuộc chiến tiêu hao, hoặc giống như người Nga chống lại Napoleon ».
Tôi hoàn toàn không tin vào việc Trung Quốc có thể tấn công Đài Loan. Đây còn là thông điệp tôi muốn gửi đến quý thính giả Pháp của quý đài, những người dường như hoảng sợ hai hoặc ba lần trong năm, về một cuộc xâm lược Đài Loan của Trung Quốc. Tình hình chưa đến mức đó, và điều đó cũng rất có thể xảy ra, có lẽ là trong cuộc tranh luận hiện đang diễn ra sau cánh cổng khép kín ở Bắc Kinh, mà không một người phương Tây nào có thể tiếp cận. Vì vậy tất cả những người nói về nó như thể họ đã lừa dối người nghe, chúng ta cần phải rất rõ ràng.
Rất có thể sẽ có một cuộc xâm lược, nhưng cá nhân tôi không thực sự tin điều đó. Tôi nghiêng về giả thuyết rằng Trung Quốc đang chờ đợi Hoa Kỳ tự làm suy yếu mình bằng cách gây ra quá nhiều sai lầm ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, đến nỗi cuối cùng, ngay cả từ góc nhìn từ phía Đài Loan, càng ngày sẽ càng nhận ra rằng việc đứng về bên chiến thắng sẽ có lợi hơn.
Có rất đông người Đài Loan làm việc ở Thượng Hải và Bắc Kinh, họ có cuộc sống rất tốt, kết hôn với người địa phương. Tôi không nghĩ những người này sẽ kháng cự như Ukraina, nhất là khi sự kháng cự đối với Ukraina đã bị phóng đại quá mức, nước này đã cầm cự được là nhờ vào vũ khí của phương Tây. Liệu phương Tây ngày nay có đủ khả năng tài chính – vì đây là vấn đề tiền bạc – và năng lực quân sự để hỗ trợ Đài Loan theo cách tương tự, khi biết rằng, một lần nữa, Đài Loan không phải là Ukraina. Tôi thật sự nghi ngờ nghiêm trọng về điều này !
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Nam – Trung Á, đặc biệt là về Ấn Độ, Pakistan và thế giới Himalayen, thuộc Đài Quan sát Tân Á – Âu.
Cuộc bầu cử Quốc Hội Hungary ngày 12/04/2026 thu hút sự chú ý không chỉ tại châu Âu, mà đặc biệt là ở Mỹ, chưa kể đến Nga. Ngay trước thềm bầu cử, phó tổng thống Mỹ J.D. Vance đã đến Budapest, để trực tiếp bày tỏ ủng hộ và vận động cho đảng của thủ tướng Viktor Orban, đang có nguy cơ thất cử, theo một số thăm dò dư luận.
Theo giới quan sát, cuộc bầu cử này là một trắc nghiệm quan trọng đối với mô hình « dân chủ phi tự do », mà thủ tướng Orban được coi là người đã đặc biệt thành công trong việc triển khai, với hơn 16 năm cầm quyền liên tục.
Orban, niềm cảm hứng của các lực lượng cực hữu, từ châu Âu đến Donald TrumpTrả lời RFI tiếng Việt, ông Steven Forti, chuyên gia về chủ nghĩa phát xít và các đảng phái cực hữu châu Âu, giảng viên chuyên ngành lịch sử đương đại, Đại học Tự trị Barcelona - Universitat Autònoma de Barcelona (Tây Ban Nha), cho biết tầm quan trọng của phe cầm quyền tại Hungary đối với thế lực cực hữu Mỹ, được coi là đã góp phần đáng kể vào việc xác lập chính sách đối nội của chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 :
« Trong 10 năm qua đã có nhiều chuyến đi của các trí thức, nhà báo và chính trị gia Mỹ đến nước Hungary của Orban. Không chỉ với việc các thành viên của chính quyền Trump, như ngoại trưởng Rubio hay phó tổng thống Vance đến Hungary gần đây. Đã có những trí thức như Rod Dreher, nhà báo như Tucker Carlson, và nhiều trí thức – nhà hoạt động cực hữu ủng hộ Trump, như Christopher Rufo. Orban đã bổ nhiệm nhiều người Mỹ làm giám đốc, thành viên của các viện của chính phủ Hungary, trong đó có Gladden Pappin làm chủ tịch của Hungarian Institute of International Affairs.
Những người cực hữu trẻ tuổi như Pappin, sau thời gian hoạt động ở Hungary đã trở về Mỹ, xuất bản các bài viết, vận động hành lang, đưa các thành viên khác đến Budapest. Vì vậy, đã có một mối quan hệ rất ổn định, rất mạnh mẽ.
Điều này cũng thể hiện rõ trong mối quan hệ giữa nước Hungary của Orban với viện nghiên cứu mang tính biểu tượng, như Heritage Foundation, một tổ chức rất quan trọng và nổi tiếng, vì đã soạn thảo Project 2025, chương trình hành động năm 2025, mà Trump ít nhiều đã thực hiện trong năm đầu nhiệm kỳ thứ hai.
Có thể kể tên các tổ chức cực hữu Mỹ khác như Viện Nước Mỹ trên hết - America First Institute, viện Claremont Institute, hay các tổ chức như CPAC - Conservative Political Action Conference - Hội nghị Hành động Chính trị Bảo thủ, thường tổ chức các cuộc gặp mặt của cánh hữu và cực hữu của Mỹ và thế giới.
Hội nghị của CPAC đã được tổ chức hàng năm tại Budapest kể từ năm 2022, cũng như tại Brazil năm 2019, sau chiến thắng của ứng viên tổng thống cực hữu Bolsonaro, hay tại Achentina năm 2024, sau chiến thắng của ứng viên tổng thống cực hữu Javier Milei. »
Tháng 7/2024, Viktor Orban lập « Những người yêu nước vì châu Âu » (Patriots for Europe, gọi tắt là PfE hay P4E), một nhóm nghị sĩ cực hữu mới tại Nghị Viện Châu Âu. Nhóm này nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị lớn thứ ba trong Nghị Viện Châu Âu, với 84 nghị sĩ (sau nhóm các đảng cánh hữu Nhân dân Châu Âu EEP, với 185 ghế, và nhóm các đảng cánh tả Xã hội - Dân chủ S&D, với 135 ghế). Đảng phái tham gia gồm FIDESZ của Orban, đảng cực hữu Pháp Mặt trận Dân tộc RN, đảng Liên đoàn Ý của Matteo Salvini, đảng ANO của CH Séc, đảng Tự do Hà Lan (PVV) của Geert Wilders, phong trào Chega của Bồ Đào Nha, đảng Vox của Tây Ban Nha, đảng Nhân dân Đan Mạch và đảng cực hữu Vlaams Belang của vùng Flanders (Bỉ) đòi độc lập. Đảng RN Pháp, với 30 nghị sĩ, là đảng lớn nhất.
Đảng FIDESZ của Orban chính thức bị khai trừ khỏi nhóm cánh hữu châu Âu EEP vào năm 2021. Theo nhà nghiên cứu Steven Forti, mô hình « Dân chủ phi tự do » của Orban đã có nhiều điều kiện thuận lợi để củng cố vị thế tại châu Âu một phần không nhỏ do được nhóm đảng cánh hữu châu Âu EEP bảo trợ trong một thời gian dài.
« Dân chủ phi tự do » tuyên chiến với « dân chủ tự do »...Năm 2014, bốn năm sau khi lên cầm quyền, thủ tướng Orban xây dựng mô hình dân chủ « phi tự do » tại Hungary. Dân chủ phi tự do vốn là một thuật ngữ do nhà chính trị học người Mỹ Fareed Zakaria xác lập trong thập niên 1990, để mô tả một chế độ dựa trên việc tôn trọng kết quả bầu cử dân chủ, nhưng lại bỏ qua các khía cạnh khác của thể chế dân chủ, lợi dụng các công cụ dân chủ cho các mục đích « phi tự do » (như sửa đổi Hiến pháp hoặc kiểm soát việc bổ nhiệm để thâu tóm quyền lực). Công khai khẳng định chủ trương « dân chủ phi tự do », Orban trở thành thế lực đi tiên phong của phe cực hữu, trong cuộc chiến chống lại các định chế dân chủ tự do của Liên Hiệp Châu Âu.
Tháng 2/2025, phát biểu của phó tổng thống JD Vance tại Diễn đàn an ninh Munich (ít tuần sau khi Trump lên nắm quyền nhiệm kỳ 2), đã gây chấn động các đồng minh châu Âu. Ông Vance rời hội trường, bỏ qua bài phát biểu của chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, sau khi đã trực tiếp ủng hộ các thế lực cực hữu tại châu Âu, lên án Bruxelles, khẳng định « không phải Nga, không phải Trung Quốc » là mối đe dọa đối với Châu Âu, mà là việc Châu Âu « từ bỏ các giá trị cơ bản của mình ».
Chiến lược An ninh Quốc gia của Mỹ, công bố đầu tháng 12/2025, chính thức khẳng định chiến lược hậu thuẫn các thế lực cực hữu châu Âu, chia sẻ các giá trị chung với nước Mỹ của Donald Trump, khi nhấn mạnh Châu Âu đang có nguy cơ rơi vào tình cảnh « văn minh suy tàn » trong hai thập niên tới. Ông Sébastien Maillard, cố vấn đặc biệt tại Viện tư vấn Jacques Delors (Paris), nhận định, văn bản này « lấy cảm hứng từ phong trào MAGA (Make America Great Again), khẩu hiệu tranh cử của Donald Trump, đánh dấu sự kết thúc của tình đoàn kết xuyên Đại Tây Dương và xác nhận nguy cơ Mỹ can thiệp chính trị vào châu Âu ».
Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, hoạch định chính sách ở Hungary, được Orban tài trợ và thành lập sau chiến thắng năm 2010, có mối quan hệ rất chặt chẽ, rất mạnh mẽ với các tổ chức cực hữu của Mỹ, và ắt hẳn đã có nhiều đóng góp vào việc định hình chính sách của chính quyền Trump đối với Châu Âu. Nhà nghiên cứu Steven Forti cho biết :
« Ví dụ như Viện Danube, trung tâm Centre for Fundamental Rights, phiên bản Hungary của CPAC, cũng như các tổ chức quan trọng khác như Học viện Matthias Corvinus Collegium. Đây là một cơ sở đại học do Orban kiểm soát, với hơn 7.000 sinh viên mỗi năm và có hơn 25 chi nhánh, không chỉ ở Hungary mà còn ở các nước láng giềng như Rumani và Ukraina, cũng như ở Vienna, Bruxelles, và có thể ở cả Luân Đôn.
Học viện Matthias Corvinus Collegium còn là một viện tư vấn chính sách, cùng với các viện nghiên cứu chính sách khác, như Ordo Iuris của Ba Lan, đã trình bày tại trụ sở của viện tư vấn Heritage Foundation, Washington, một báo cáo về tương lai của Liên Hiệp Châu Âu, hay nói đúng hơn là về sự cáo chung của Liên Hiệp Châu Âu. Sự trao đổi ý tưởng, phối hợp các hoạt động chính trị giữa hai bên đã diễn ra rất mạnh mẽ trong 10 năm qua. »
Sau 16 năm cầm quyền liên tục 4 nhiệm kỳ, thủ tướng Orban xác lập được một ảnh hưởng lớn trong giới cực hữu phương Tây, và đặc biệt là tiếng nói của Orban có vai trò quan trọng trong chính sách của Nhà Trắng với châu Âu thời Donald Trump, tuy nhiên, về đối nội, uy tín của Orban và FIDESZ có xu hướng giảm mạnh. Lạm phát tăng khoảng 50% từ 2020 đến 2025. Hungary trở thành một trong các nước có thu nhập thấp nhất châu Âu, sau khi đã từng là một nền kinh tế ở nhóm khá trong khối Cộng sản Đông Âu trước đây. Khoản tín dụng 18 tỷ euro của Hungary hiện đang bị Liên Âu đóng băng, do chính quyền Orban không tôn trọng pháp quyền.
Từ một năm nay, chính trường Hungary đột ngột thay đổi khí sắc, với sự xuất hiện của một đảng đối lập mới, đảng trung hữu mang tên Tisza (Tôn trọng và Tự do) của Péter Magyar, một luật sư 45 tuổi và là nghị viên Nghị Viện Châu Âu. Theo nhiều thăm dò dư luận, đảng Tsiza có khả năng giành được đa số ghế trong Quốc Hội mới.
Trả lời đài France 24, ông Jacques Rupnik, giáo sư tại Collège d'Europe ở Bruges (Bỉ), giám đốc nghiên cứu danh dự tại Sciences Po Paris, nhận định về một số điểm đáng lưu ý của cuộc bầu cử này:
« Điều thú vị ở đây là ứng cứ viên đối lập cũng xuất thân từ đảng FIDESZ của thủ tướng Orban, đã có 20 năm hoạt động trong đảng này. Lãnh đạo đảng đối lập Tisza tấn công FIDESZ không phải về quá khứ của đảng này, điều đó sẽ khó khăn đối với chính ông ấy, mà là về hệ thống mà đảng này đã thiết lập. Cụ thể là sự kiểm soát của nhà nước đối với tất cả các thể chế, nạn tham nhũng, chủ nghĩa gia đình trị, kiểm soát truyền thông, v.v. Và đó là điều mà thế hệ trẻ mong muốn.
Ta hãy nhớ là Orban khi bước vào chính trường đã lập ra đảng FIDESZ, một chính đảng của một nhóm sinh viên bất đồng chính kiến. Vì vậy, tôi nghĩ rằng việc bị thách thức bởi thế hệ trẻ, những người đồng cảm nhiều hơn với Péter Magyar, chắc hẳn sẽ là đòn đau với ông ấy. Orban tự nhận mình là người theo tư tưởng bảo thủ, nhưng ông ấy cũng thực sự già nua, nếu xét về mặt thế hệ. Tôi tin rằng đây là một điểm gây phân hóa rất mạnh trong cử tri Hungary ».
Orban đả kích Ukraina và Liên Âu, ứng viên đối lập lên án « Nhà nước Mafia »Điều mà nhiều nhà quan sát ghi nhận là các áp phích, khẩu hiệu lên án tổng thống Ukraina, chủ tịch Ủy Ban Châu Âu hiện diện khắp nơi tại Hungary trong thời gian tranh cử, nhưng theo chuyên gia quan hệ quốc tế David Cadier, làm việc trong chương trình « An ninh châu Âu » tại IRSEM (Viện nghiên cứu chiến lược Trường Quân sự Paris), vấn đề chống tham nhũng là quan tâm của đông đảo cử tri, bất mãn với chính quyền Orban (trả lời Radio France) :
« Tạm đồng ý là chính sách đối ngoại có vị trí trọng tâm trong cách thức mà các ứng cử viên công kích lẫn nhau. Tuy nhiên, khó có thể nói liệu vấn đề này sẽ có ý nghĩa như thế nào đối với quyết định lựa chọn của cử tri. Theo tôi, mấu chốt của cuộc bầu cử sẽ là tham nhũng. Và đó chính là điểm mà Péter Magyar đang tấn công vào hệ thống của Orban.
Có nhiều điều mà ứng cử viên đối lập Péter Magyar không chống lại Orban, đặc biệt là những quan điểm mang tính ý thức hệ. Péter Magyar là một người theo phái hữu bảo thủ như Orban, kể cả về vấn đề viện trợ cho Ukraina. Tuy nhiên, ông ấy lên án Nhà nước Mafia, mà Viktor Orban bị cáo buộc đã thiết lập thông qua một hệ thống phòng chống buôn lậu liên quan đến lĩnh vực năng lượng, v.v.. Vì vậy, theo tôi, chính ở điểm này mà sự khác biệt có thể được tạo ra, và có lẽ điều này sẽ có tầm quan trọng lớn hơn nhiều. »
Chế độ chuyên chế dưới vỏ bọc dân chủ hay « Nhà nước Mafia »Trả lời RFI tiếng Việt, nhà kinh tế học Nguyễn Quang A, người quan sát lâu năm xã hội Hungary, nhấn mạnh đến việc tại Hungary, ngày càng có nhiều người coi hệ thống chính quyền của thủ tướng Orban giống với một « Nhà nước Mafia ». Ông giải thích :
« Hungary, Nga và một vài nước thuộc Liên Xô cũ gần với cái chế độ gọi là "chuyên quyền bảo trợ ", có thể gọi một cách dân dã là được đặc trưng bởi Nhà nước Mafia. Nhà nước Mafia (Maffiaállam) là một thuật ngữ do hai ông Magyar Bálint và Madlovics Bálint đặt ra, có một định nghĩa nghiêm túc về mặt học thuật (The Anatomy of Post-Communist Regimes, xuất bản năm 2020). Theo hai học giả này, Nhà nước Mafia là một nhà nước thâu tóm quyền lực về mọi mặt, quyền lực chính trị, quyền lực xã hội, quyền lực kinh tế. Và trong cái phần thâu tóm quyền lực kinh tế này, có một cái khía cạnh là làm giàu cho cá nhân những người nằm trong nhà nước mafia này, mà quan hệ quan trọng nhất là sự trung thành tuyệt đối với ông Trùm.
Nhà nước mafia có thể nói là một tổ chức tội phạm mở, công khai, có vẻ ngoài hợp pháp. Tiếng Hung có hai từ, một từ là ''alvilág'' - thế giới ngầm, thế giới của tội phạm hạ lưu, hoàn toàn là ngoài vòng pháp luật như là mafia Ý chẳng hạn. Còn có một từ khác trong tiếng Hung gọi là ''felviág''. ''Felviág'' không phải là ngầm ở bên dưới, bất hợp pháp, mà là nổi lên bên trên, trong giới thượng lưu, với mục tiêu tập trung quyền lực, để thay đổi Hiến pháp, thay đổi các quy định của nhà nước pháp quyền. Cũng là viện công tố, cũng là cơ quan điều tra, cũng là tòa án Hiến pháp, và người bên ngoài, nếu mà quen với các thuật ngữ của phương Tây, thì tưởng rằng cũng hoạt động giống như ở bên Pháp hoặc Đức hoặc các nước Bắc Âu. Nhưng trong các chế độ ''chuyên quyền bảo trợ'', hay là trong ''Nhà nước Mafia'' này, thì thực sự chúng hoạt động hoàn toàn khác. »
Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang A cho biết thêm, khái niệm Bạch tuộc Hungary lần đầu tiên được Magyar Bálint, cựu bộ trưởng Giáo Dục Hungary (1996 - 1998 và 2002-2006), phát triển trong một bài báo năm 2001 (« Magyar polip – a szervezett felvilág / Bạch tuộc Hungary, một tiểu thế giới có tổ chức », Magyar Hírlap). Magyar Bálint cũng là đồng chủ biên cuốn « Bạch tuộc Hungary – Nhà nước Mafia hậu cộng sản » bằng tiếng Hungary (A Magyar polip – A posztkommunista maffiaállam), xuất bản năm 2013.
Cuối thập niên 1990 đầu 2000, Hungary từng được coi là một ví dụ điển hình về quá trình chuyển đổi dân chủ thành công. Tuy nhiên, những sai lầm trầm trọng của các chính phủ tiền nhiệm, đặc biệt là cánh tả, dẫn đến lạm phát nặng nề, thất nghiệp phổ biến, nợ nần công và tư chồng chất, nhiều bê bối tham nhũng… đã góp phần vào chiến thắng của Orban năm 2010 (giới thiệu về cuốn sách Bạch tuộc Hungary – Nhà nước Mafia hậu cộng sản của Collège de France, năm 2014).
Cuốn « A Concise Field Guide to POST-COMMUNIST REGIMES », của Magyar Bálint và Maldovics Bálint (Nxb Đại học Trung Âu 2022), đã được ông Nguyễn Quang A dịch sang tiếng Việt với nhan đề « Một tóm tắt cô đọng về CÁC CHẾ ĐỘ HẬU-CỘNG SẢN ». Đây là tóm tắt của cuốn « Giải phẫu các Chế độ Hậu-Cộng sản » (The Anatomy of Post-Communist Regimes, dài gần 900 trang) đã giới thiệu ở trên.
Orban thao túng bộ máy, nắm gần trọn truyền thông: Nguy cơ bầu cử « bị tước đoạt »Về triển vọng bầu cử Hungary, cho dù không ít người đặt hy vọng vào việc chế độ Orban cáo chung với chiến thắng của đối lập, chuyên gia Steven Forti cảnh báo :
« Đúng là các cuộc thăm dò dư luận cho thấy khả năng đảng đối lập Tisza thắng cử là rất cao. Nhưng chúng ta xem xét trước hết rằng Hungary là một ''chế độ chuyên chế về thông tin'', như nhận định của Peter Kreko, một nhà nghiên cứu chuyên về chính quyền Orban. Truyền thông hoàn toàn bị Orban kiểm soát. Sau đó, nếu chúng ta xem xét rằng các quy tắc của cuộc chơi – về luật bầu cử, hệ thống bầu cử, và nhiều chi tiết nhỏ khác liên quan đến hệ thống bầu cử - đều bị kiểm soát, chẳng hạn như ‘‘gerrymandering’’, tức việc các khu vực bầu cử bị chính phủ thay đổi nhiều lần để đảm bảo cho Orban thắng cử. Cá nhân tôi rất hoài nghi, và không cho rằng đảng Tisza có cơ hội chiến thắng trong cuộc bầu cử này. »
Trong một bài viết trên Le Monde, nhà nghiên cứu người Hungary Tibor Dessewffy cảnh báo : « Cấu trúc thể chế của Hungary hiện nay cung cấp nhiều công cụ để thực hiện các chiến lược như vậy: một Tòa án Hiến pháp ngoan ngoãn với Orban, đặt những người trung thành ở các vị trí chủ chốt và một hệ thống pháp luật được thiết kế với nhiều cạm bẫy ».
Trả lời TV5 Monde về việc liệu thủ tướng Orban có phủ nhận hay không thất bại bầu cử, nếu kịch bản này xảy ra, nhà nghiên cứu David Cadier nhận định :
« Có lẽ không trực tiếp, nhưng thay vì phá vỡ các quy tắc, ông ta có thể bẻ cong chúng để phục vụ mục đích riêng của mình. Thủ tướng Orban đã cài cắm nhiều cộng sự thân cận vào ngành tư pháp và truyền thông, vì vậy nhà lãnh đạo Hungary có thể làm chậm lại hoặc phản bác… Nhưng rất khó để dự đoán điều này. Có điều chắc chắn là những cải cách mà Orban đã thực hiện trong 16 năm cầm quyền sẽ rất khó bị đảo ngược trong thời gian ngắn ».
Xung đột giữa Iran và liên quân Mỹ - Israel nay đã kéo dài sang tháng thứ hai, gây bất ổn cho nguồn cung năng lượng và kinh tế toàn cầu. Trong tình cảnh này, Pakistan, một tác nhân mới, đã bất ngờ xuất hiện và được cho là có tiềm năng hòa giải giữa Mỹ và Iran.
Ngày 31/03/2026, Trung Quốc và Pakistan đề xuất thỏa thuận gồm 5 điểm nhằm chấm dứt chiến tranh giữa Iran và liên minh Mỹ - Israel. Trước đó, ngày Chủ Nhật, 29/03, Islamabad tuyên bố sẵn sàng tiếp đón các cuộc đàm phán giữa Washington và Tehran sau nhiều ngày làm sứ giả giữa hai bên. Vì sao lại chọn Pakistan ? Đâu là những lợi thế và những rủi ro cho quốc gia Nam Á này trong vai trò trung gian hòa giải ? Trung Quốc và Ấn Độ có vị thế ra sao trong ván cờ ngoại giao này ?
RFI Tiếng Việt có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu địa chính trị về thế giới Ba Tư, Trung Á và Nam Á, Didier Chaudet, chuyên gia về Pakistan, Ấn Độ, thuộc Đài Quan Sát Tân Á-Âu.
----- ***** -----
RFI Tiếng Việt : Đây dường như không phải là lần đầu tiên Islamabad được Washington đề nghị làm trung gian hòa giải ?
Didier Chaudet : Đúng vậy. Trên thực tế, vai trò trung gian của Pakistan có lịch sử lâu dài. Nước này đã từng giữ vai trò cầu nối giữa Mỹ và Trung Quốc trong những năm 1970. Sự xích lại gần giữa hai nước để chống Liên Xô một phần là nhờ sự hỗ trợ của Islamabad. Sau đó, chính là thông qua Pakistan mà Hoa Kỳ đã có thể thực hiện chính sách của họ ở Afghanistan vào những năm 1980. Và gần đây hơn là tiến trình hòa bình với phe Taliban ở Afghanistan, vốn dĩ đã được khởi động ngay từ thời chính quyền Trump đầu tiên, và một lần nữa, trong hồ sơ này, Pakistan đã rất tích cực tham gia.
Lần này, trong cuộc xung đột vũ trang giữa Iran và liên minh Mỹ - Israel, vì sao Pakistan lại được chọn để làm trung gian hòa giải giữa Washington và Teheran ?
Didier Chaudet : Bởi vì Pakistan là một trong số ít các quốc gia có nhiều đòn bẩy đáng kể đối với chính quyền Trump và chế độ hiện tại ở Iran. Một mặt, Pakistan là quốc gia có số người Hồi giáo theo hệ phái Shia đông thứ hai thế giới, chỉ sau Iran. Mặt khác, Pakistan đã vun đắp mối quan hệ mạnh mẽ với chính quyền Trump, vốn dĩ rất biết ơn quốc gia Nam Á này vì hai thắng lợi quan trọng : Thứ nhất, Pakistan đã bắt giữ một phần tử thánh chiến thực hiện cuộc tấn công khủng bố nhắm vào tòa đại sứ Mỹ ở Afghanistan trong thời gian triệt thoái quân Mỹ. Thứ hai là Pakistan đã biết cách nhấn mạnh tầm quan trọng hành động can thiệp của Washington trong việc giảm căng thẳng giữa New Dehli và Islamabad vào năm 2025.
Thực tế là, mỗi lần như vậy, Pakistan đều tự xác định vị thế của mình theo cách có thể hài lòng chính quyền Trump, nhưng đồng thời nước này cũng có các mối quan hệ lịch sử, những kết nối nhân văn với Iran, thông qua cộng đồng người Hồi giáo hệ phái Shia. Bên cạnh đó, Pakistan không bị coi là một quốc gia liên minh với Mỹ và càng không phải với Israel, bởi vì Islamabad không công nhận Israel. Vì vậy, Teheran có thể cảm thấy phần nào tin tưởng vào Pakistan.
Ngoài ra, không giống như các quốc gia Vùng Vịnh, Pakistan không có căn cứ quân sự nào của Mỹ. Phía Teheran vì vậy có thể dễ dàng liên lạc với Islamabad. Chính quyền Trump cũng cảm thấy thoải mái trong mối quan hệ với Pakistan, đặc biệt là với quân đội nước này. Nhìn chung, quốc gia Nam Á này có thể kết nối dễ dàng và suôn sẻ giữa Teheran và Washington.
Theo ông, đâu là lợi ích và rủi ro tiềm tàng cho Pakistan khi chấp nhận đóng vai trò trung gian hòa giải cho Mỹ và Iran ?
Didier Chaudet : Tôi nghĩ rằng Pakistan rất muốn can thiệp vào hồ sơ này. Là một nước láng giềng, Pakistan có chung đường biên giới với Iran dài gần 900 km. Hai nước này còn có chung một vấn đề : Đó là chủ nghĩa dân tộc ly khai người Baloch, một cộng đồng sắc tộc sinh sống chủ yếu tại Iran, Afghanistan và Pakistan. Những phong trào ly khai này thường xuyên vượt biên giới và đã gây ra nhiều rắc rối giữa Iran và Pakistan trong quá khứ. Vì vậy, nếu chẳng may Iran sụp đổ, Pakistan có nguy cơ nhìn thấy sự ra đời một nhà nước Balochistan độc lập, hay tệ hơn nữa là hỗn loạn bùng phát ở biên giới.
Ngoài ra, Pakistan còn phụ thuộc vào nguồn năng lượng đến từ eo biển Hormuz. Quốc gia này rất cần tình hình ở Vịnh Ba Tư nhanh chóng được ổn định. Ít nhất là từ hai tuần nay, giá dầu diesel ở Pakistan đã tăng khoảng 20%. Những người làm việc trong lĩnh vực công ở Pakistan nay được yêu cầu chỉ làm việc 4 ngày trong tuần để tiết kiệm năng lượng và nhiên liệu. Vì vậy, có thể nói là Pakistan không muốn có hỗn loạn ở biên giới và muốn tình hình trở lại bình thường cho nhu cầu năng lượng của chính mình.
Về phần rủi ro, kịch bản xấu nhất có thể là hoạt động ngoại giao đó của Pakistan không cho kết quả và nước này gặp thất bại trong việc gây ảnh hưởng để tái lập ổn định hay hòa bình, nhưng trên thực tế đó là một rủi ro tương đối hạn chế. Người ta không thể đổ lỗi cho Pakistan vì đã không xoa dịu được căng thẳng giữa Mỹ và Iran, nhất là Islamabad có thể dễ dàng biện minh rằng « còn có một con át chủ bài mà chúng tôi không kiểm soát được và cũng không ai kiểm soát được, đó là Israel, quốc gia có những lợi ích riêng của họ trong cuộc chiến chống Iran và về vấn đề này, chỉ có Hoa Kỳ mới có thể gây áp lực với đồng minh của họ. Nếu Trump không làm được, chúng ta cũng chẳng sẽ làm được gì ».
Truyền thông Mỹ có nhắc đến tên của tướng Asim Munir, tổng tư lệnh quân đội Pakistan, như là một nhà trung gian kín tiếng giữa Trump và Iran. Trong ván cờ ngoại giao này, tướng Munir có vai trò cụ thể gì ?
Didier Chaudet : Từ khi bắt giam Imran Khan, nhà lãnh đạo theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, muốn thay đổi diện mạo đất nước và loại trừ dần dần tầm ảnh hưởng của quân đội Pakistan, tướng Munir là hiện thân cho quyền lực thực sự ở Pakistan, cho sức mạnh của sự ổn định, tiếng nói ngoại giao trong nhiều chủ đề then chốt và quả thực, ông đã tạo được một mối liên hệ đặc biệt với chính quyền Trump.
Dường như cách tiếp cận của ông trong việc chỉ huy cuộc chiến chống Ấn Độ, quốc gia được cho là có ưu thế quân sự vượt trội và quả thực, Ấn Độ có nhiều nguồn lực quân sự hơn Pakistan, và bất chấp những điều đó, trong suốt giai đoạn căng thẳng 2025, Pakistan đã kháng cự mạnh mẽ và điều này đã được ghi nhận ở Washington. Mối liên hệ trực tiếp giữa Munir và Trump từ đó đã được thiết lập mà không có một sự đắn đo nào.
Đó là vì chúng ta cũng đang đối diện với một chính quyền mà mối quan hệ cá nhân đóng vai trò quan trọng. Chính quyền Trump có xu hướng ủng hộ những nhà lãnh đạo mạnh mẽ và trước một Munir, họ đang đối mặt với một thế lực thực sự. Họ hiểu rằng nói chuyện với quân đội đồng nghĩa với việc nói chuyện với những thế lực ngầm đang tổ chức và kiểm soát Pakistan. Đây cũng chính là điều thu hút chính quyền Trump, đang tìm kiếm những nguồn quyền lực đích thực.
Pakistan còn là một đồng minh rất gần gũi với Trung Quốc cả trên phương diện kinh tế lẫn quân sự. Liệu Trung Quốc có nắm giữ một vai trò ngầm nào trong ván cờ ngoại giao này hay không ?
Didier Chaudet : Tôi có lẽ không coi đó là một vai trò bí mật, nhưng trên thực tế, các ngoại trưởng Pakistan, Ai Cập, Ả Rập Xê Út và Thổ Nhĩ Kỳ đã có cuộc gặp tại Islamabad, và một phái đoàn Pakistan cũng đã đến Bắc Kinh, rõ ràng là để giải thích và ít nhất là thông báo cho Trung Quốc biết các cuộc thảo luận đó đã đi đến đâu. Do vậy, tôi không cho đó là một kế hoạch bí mật, nhưng điều đó cho thấy một thế mạnh khác của Pakistan trong mối quan hệ với Iran và với Mỹ. Họ có thể đối thoại với Trung Quốc và có thể được Trung Quốc lắng nghe.
Sớm hay muộn Trung Quốc rất có thể sẽ can dự để hỗ trợ thêm cho tiến trình hòa bình, bởi vì nếu chỉ có Mỹ và Iran mặt đối mặt, thì phía Iran sẽ không có chút niềm tin nào. Họ sẽ tự nhủ, « chúng ta đã hai lần đàm phán với chính quyền Trump và cả hai lần chúng ta đều bị phản bội vào năm 2025 và 2026 ». Bên cạnh đó là con át chủ bài Israel, hiện đang tiến hành cuộc chiến riêng và chính quyền Trump thì dường như không có khả năng kiểm soát đồng minh của mình. Xin nhắc lại là chính quyền Trump nhiệm kỳ I là bên đầu tiên đã xé bỏ Hiệp ước Hạt nhân Iran được ký kết dưới thời chính quyền Obama.
Thế nên, từ góc nhìn Teheran, họ cảm thấy rất cần sự tham gia thực tế từ những bên khác ngoài Hoa Kỳ để có thể tin rằng hòa bình là điều khả thi. Về điểm này, ảnh hưởng kín đáo của Trung Quốc cho kết cục cuộc chiến là rất có thể, nhưng hiện tại người ta chưa đi đến giai đoạn đó, và vẫn đang trong quá trình thảo luận. Một lần nữa, theo ý tôi, Pakistan chỉ đang vận động hành lang và chuyển tin tức từ nước này sang nước khác.
Ấn Độ, nước láng giềng và có mối quan hệ căng thẳng với Pakistan, phản ứng ra sao về việc Islamabad được chọn làm trung gian hòa giải giữa Mỹ và Iran ? Đâu là những rủi ro cho New Dehli ?
Didier Chaudet : Thực tế là, tuy có mối quan hệ khó khăn với chính quyền Trump, Ấn Độ dường như đã chọn duy trì liên minh với Mỹ. Trước đây, Iran và Ấn Độ có một mối hữu nghị lâu đời, nhưng tình bạn đó đã phai nhạt dần. Từ năm 2021, Iran thường xuyên lưu ý rằng Ấn Độ là một bằng hữu gây thất vọng, rằng Ấn Độ đã quyết định chọn Washington thay vì Teheran. Chuyến công du gần đây của thủ tướng Narendra Modi đến Israel, nhằm khẳng định rằng Ấn Độ ngả theo và hoàn toàn ủng hộ Israel, khiến Iran có cảm giác quốc gia bằng hữu truyền thống đó không còn là bạn nữa.
Liệu rằng Ấn Độ có thể làm khác đi hay không ? Điều này khá khó khăn bởi vì Ấn Độ không những rất cần mối quan hệ mạnh mẽ với Israel, mà còn cần cả mối liên kết chặt chẽ cả về kinh tế và ngoại giao với các nước Vùng Vịnh, đang hứng chịu tên lửa của Iran. Như vậy, Ấn Độ dường như đã chọn Israel và các quốc gia vùng Vịnh thay vì Iran, do đó từ bỏ các lợi ích đáng kể ở Iran. Giấc mơ ban đầu của Ấn Độ là có thể dựa vào Iran để bỏ qua Pakistan trong việc kết nối với Trung Á và Nga. Nhưng trong tình hình hiện tại, điều này không còn khả thi nữa.
Nhưng khi đưa ra lựa chọn này, New Dehli đã phần nào tự gạt mình ra khỏi chơi trong việc giải quyết xung đột. New Dehli hiện trong một tình huống khá đặc biệt, hiện đang chịu một áp lực to lớn từ chính quyền Trump để cắt đứt quan hệ với Nga, nhất là trong lĩnh vực dầu hỏa. Ấn Độ dường như đã tuân thủ trong vấn đề Iran.
Tuy nhiên, theo tôi, ở New Dehli đang có một cuộc tranh luận nhưng chưa được giải quyết triệt để: Đi theo Mỹ bằng cách này có là một ý tưởng tốt, hay Ấn Độ nên xem xét một chính sách cân bằng hơn ? Quả thật, hiện nay Ấn Độ đang ở trong một tình huống khá nghịch lý là tại Nam Á, có tầm quan trọng trong cuộc chiến tại Iran không phải là Ấn Độ, vốn dĩ là một cường quốc tiềm năng, mà là Pakistan, kẻ thù của New Dehli.
Tóm lại, tình hình hiện tại cho Ấn Độ là khá ảm đạm do phải đối mặt với một tình huống là New Dehli thực sự không có chút ảnh hưởng nào trong hồ sơ này !
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Didier Chaudet, chuyên gia địa chính trị về thế giới Ba Tư, Trung Á, Nam Á, đặc biệt là Pakistan, thuộc Đài Quan Sát Tân Á-Âu.
Chiến tranh của Mỹ và Israel chống Iran bùng lên ngày 28/02/2026. Eo biển Hormuz, một tuyến đường huyết mạch với vận tải dầu khí toàn cầu ngay lập tức gần như bị phong tỏa. Ngày 18/03, cơ sở sản xuất dầu khí Ras Laffan của Qatar, lớn nhất thế giới, bị tấn công. Hàng chục cơ sở hạ tầng dầu khí khác tại Vùng Vịnh bị oanh kích. Nhiều nhà quan sát so sánh cuộc khủng hoảng hiện nay với hai cú sốc dầu lửa trong thập niên 70, làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu.
« Cú sốc dầu mỏ » là từ mà bộ trưởng Kinh Tế Pháp Roland Lescure sử dụng để nói về cuộc khủng hoảng hiện nay trong phát biểu trước Ủy ban Tài chính Quốc Hội, mà theo ông, trong vòng nửa thế kỷ nay chỉ có khoảng mươi cú sốc như vậy. Một ngày trước đó, giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), ông Fatih Birol, đã cảnh báo rằng thế giới có thể đang bước vào cuộc khủng hoảng năng lượng tồi tệ nhất từ nhiều thập kỷ nay.
« Ba tuần im lặng » và lời cảnh báo của giám đốc IEAGiám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhấn mạnh : « Tôi đã quyết định không nói chuyện với báo chí trong vòng ba tuần. Nhưng cho đến thứ Sáu tuần trước (18/03), tôi cảm thấy mình phải có vài lời. Bởi vì tôi có ấn tượng rằng tầm mức nghiêm trọng của vấn đề chưa được các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới hiểu rõ. »
Lãnh đạo cơ quan Năng lượng Quốc tế giải thích : « Cho đến nay, chúng ta đã mất 11 triệu thùng dầu mỗi ngày, nhiều hơn tổng lượng dầu mất trong hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ lớn 1973 – 1979 cộng lại », « vào thời điểm đó, trong mỗi cuộc khủng hoảng này, thế giới đã mất khoảng 5 triệu thùng dầu mỗi ngày, vì vậy, cộng hai cuộc khủng hoảng lại, tổng cộng là 10 triệu thùng dầu mỗi ngày », chưa kể đến « sự sụp đổ của thị trường khí đốt ».
Bóng ma đại khủng hoảng 1973 : Chấm dứt ba thập niên thịnh vượng phương TâyChiến tranh Trung Đông và khủng hoảng dầu khí đang diễn ra khiến hồi ức đầy ám ảnh về cuộc đại khủng hoảng dầu mỏ 1973 trở lại. Diễn biến trực tiếp kích phát cuộc đại khủng hoảng này là cuộc chiến tại Trung Đông, thường được gọi là cuộc chiến Yom Kippur, tên một ngày lễ lớn của người Do Thái. Ngày 06/10/1973, để chống lại chính sách thôn tính lãnh thổ Palestine của chính quyền Tel Aviv, liên quân Syria và Ai Cập bất ngờ tấn công Israel đúng vào ngày đầu tiên của lễ Yom Kippur. Quân đội Israel được sự hỗ trợ của Mỹ đã giành lại được ưu thế.
Chính trong bối cảnh đó, ngày 16 và 17/10, mười quốc gia xuất khẩu dầu mỏ Ả Rập, họp tại thành phố Kuwait, đã quyết định tăng giá dầu và giảm xuất khẩu sang các nước ủng hộ Israel, để trừng phạt Mỹ và các đồng minh. Chỉ trong vài tuần, giá một thùng dầu tăng gấp bốn lần. Giá xăng, giá điện tăng vọt. Và giá điện cũng vậy.
Cú sốc dầu mỏ năm 1973 được nhiều nhà quan sát ghi nhận là một chấn động chưa từng có với các nước phương Tây, chấm dứt 30 năm thịnh vượng với nguồn cung năng lượng giá rẻ. Đây là lần đầu tiên các nước sản xuất dầu mỏ, ngoài phương Tây, sử dụng vũ khí tài nguyên này để chống lại phương Tây. Cấm vận dầu mỏ của khối OPEC (từ tháng 10/1973 đến tháng 3/1974), đã đẩy hầu hết các nước phương Tây vào suy thoái (GDP Mỹ sụt giảm 0,6%, các nước châu Âu giảm 1%). Lạm phát tăng vọt (25% với Nhật Bản). Tỉ lệ thất nghiệp tăng từ 2 đến 3% ở hầu hết các nước phương Tây (Đức tăng từ 1 lên 4,7%). Các hậu quả kéo dài trong nhiều năm.
Khủng hoảng hiện tại chưa thấm gì so với các cú sốc thập niên 70Nhiều nhà quan sát không thừa nhận cuộc khủng hoảng dầu khí hiện nay có thể so sánh với tầm mức cuộc đại khủng hoảng dầu lửa kinh hoàng của thập niên 70, khi dầu lửa chiếm đến gần một nửa nguồn năng lượng của thế giới, và sản xuất dầu mỏ tập trung chủ yếu tại Trung Đông. Trên CNews, ngày 26/03/2026, nhà báo Éric de Riedmatten nhận định:
« Chúng ta hiện không còn phụ thuộc vào dầu mỏ vùng Vịnh như trước đây nữa; chúng ta mua dầu từ Hoa Kỳ và Nigeria. Tất cả các nhà máy điện đều là điện hạt nhân, và để vận hành chúng, khí đốt chỉ chiếm có 5%. Đừng quên rằng cú sốc dầu mỏ năm 1973 xảy ra sau Chiến tranh Yom Kippur, khiến giá một thùng dầu tăng gấp 4 lần chỉ trong 6 tháng. Thế giới đã thay đổi sau đó; giá cả tăng vọt. Chúng ta đã có lạm phát 15,2% vào năm 1974.
Thực sự đã có hai cú sốc dầu mỏ. Nhưng chỉ có hai thôi, nhưng cả hai đều rất nghiêm trọng. Cú sốc thứ hai là vào năm 1979 với cuộc cách mạng ở Iran, Chiến tranh Iran-Irak, và giá một thùng dầu đã tăng gấp ba lần, từ 10 đô la lên 30 đô la. Đó mới thực sự là một cú sốc dầu mỏ. Rồi đến năm 2008, tình trạng tiêu thụ quá mức toàn cầu đã khiến giá dầu tăng vọt, đạt mức 150 đô la một thùng.
Nếu nhìn vào tình hình hiện tại, đúng là không dễ dàng, và nếu tiếp tục, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, nhưng trên thực tế, nó sẽ gây ra cú sốc tài chính lớn, hơn là cú sốc dầu mỏ vì những lý do như tôi đã giải thích, và chúng ta có thể kết luận rằng: Có lẽ chúng ta sử dụng ngôn từ quá dễ dãi, như diễn đạt của bộ trưởng Kinh Tế Roland Lescure. Diễn đạt kiểu này gây ra một cú sốc do hùng biện thì đúng hơn ! »
Ba tiêu chí xác định « cú sốc » : Mức tăng giá, tốc độ tăng giá và thời lượngĐể xác định tầm mức của cuộc khủng hoảng hiện nay, trong cuộc tọa đàm do Đài France 24 tổ chức hôm 19/03, chuyên gia về năng lượng Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược IRIS, Nghiên cứu viên cộng tác tại Policy Center for the New South (Rabat), nêu bật ba tiêu chí cho phép xác định cuộc khủng hoảng đang diễn ra có phải là một cú sốc lớn với nền kinh tế thế giới hay không, bao gồm mức tăng giá, tốc độ tăng và thời lượng:
« Chúng ta định nghĩa thế nào là cú sốc ? Theo tôi, có ba yếu tố trong định nghĩa này. Trước tiên là giá cả tăng mạnh. So với ngày 27/2, tức một ngày trước khi cuộc xung đột bắt đầu, chúng ta đã chứng kiến giá dầu tăng khoảng 50% và giá xăng tăng khoảng 90%. Đó là một con số khá lớn. Thật sự rất lớn ! Yếu tố thứ hai của định nghĩa về cú sốc, đó là giá cả tăng mạnh trong một khoảng thời gian ngắn. Thực tế diễn ra tương ứng với tiêu chí thứ hai.
Tiêu chí thứ ba là giá cả sẽ duy trì ở mức cao trong vòng bao lâu? Vào lúc chúng ta bắt đầu chương trình truyền hình này, giá dầu đã giảm một chút. Hiện tại là khoảng 108 đô la một thùng dầu thô Biển Bắc. Giả sử giá dầu duy trì ở mức 100-110 đô la một thùng trong vòng 15 ngày. Điều đó sẽ không gây sốc ! Nếu duy trì như vậy trong sáu tháng, thì rõ ràng là đáp ứng tiêu chí thứ ba của định nghĩa về cú sốc năng lượng.
Chúng ta cần theo dõi tiêu chí thứ ba này bởi vì chúng ta đang trong một cuộc chiến, một cuộc chiến diễn ra trước mắt, mà mình gần như bất lực. Vì vậy, tôi cho rằng với việc hai trong ba tiêu chí trên được đáp ứng, chắc chắn có nguy cơ xảy ra một cú sốc dầu khí. »
Sẽ là đại khủng hoảng, nếu giá tăng cao liên tục trong nhiều thángCú sốc năng lượng làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu, mang tầm vóc như của đại khủng hoảng 1973, rõ ràng chưa xảy ra. Tuy nhiên, chuyên gia Francis Perrin, Giám đốc nghiên cứu tại IRIS, nhấn mạnh cần theo dõi sát :
« Nhưng hãy trở lại năm 2022, vào lúc chiến tranh Ukraina bùng nổ. Hãy nhớ rằng giá dầu thô Brent đã tăng lên gần 140 đô la một thùng vào đầu tháng 3/2022. Giá trung bình cho cả năm đó là 100 đô la một thùng. Hiện giờ chúng ta chưa đạt đến mức đó !
Còn giá khí đốt ở châu Âu vào thời điểm đó, trong mùa hè năm 2022, đã đạt mức 345 euro cho mỗi megawatt-giờ. Hiện tại, giá chỉ ở mức 61 euro mỗi megawatt-giờ. So sánh như vậy để thấy, đã có sự tăng mạnh và tăng đột ngột về giá, nhưng không đáng kể như năm 2022. Câu hỏi đặt ra là, mức cao này sẽ duy trì trong bao lâu? Nếu tình trạng này kéo dài vài tháng, chúng ta có thể nói đến một cú sốc mới. »
Về phần mình, ông Damien Ernst, chuyên gia năng lượng và giáo sư tại Đại học Liège, Bỉ, nói đến nguy cơ giá dầu có thể lên đến mức 200-250 đô la một thùng (hơn gấp đôi so với hiện nay, gấp từ 7 đến 8 lần so với đầu năm): « Một cuộc khủng hoảng dầu mỏ trầm trọng hơn, và đi kèm với khủng hoảng khí đốt nữa, với việc giá khí đốt cho mùa đông năm 2026-2027 sẽ không bao giờ trở lại mức như hồi tháng 1-tháng 2 năm nay, tức mức giá trước khủng hoảng. »
Những phản ứng « câu giờ », trấn an và viễn cảnh đầy bất địnhTheo giới chuyên gia, việc giải phóng một lượng dầu dự trữ chiến lược lên tới 400 triệu thùng, tương đương với khoảng « 20 ngày sử dụng », tạm thời giúp ngăn chặn giá dầu Brent và giá xăng tăng vọt. Theo giáo sư kinh tế Patrice Geoffron, « đây là một khối lượng khổng lồ, chắc chắn như vậy, nhưng không đủ để xoa dịu nỗi lo lắng của các nhà kinh doanh trên thị trường dầu mỏ. »
Các tuyên bố mà tổng thống Mỹ và thủ tướng Israel liên tục đưa ra về một cuộc chiến sắp kết thúc có tác động kìm giá rõ rệt. Chẳng hạn như giá dầu giảm mạnh hôm 10/03, khi ông Trump tuyên bố cuộc chiến « gần như kết thúc », tuyên bố được đưa ra ngay sau khi Israel lần đầu tiên tấn công nhiều kho dầu của Iran, khiến lo ngại về một cuộc chiến tàn khốc chống lại cơ sở hạ tầng năng lượng tăng vọt.
Tuy nhiên tất cả những phản ứng hạ hỏa đó đều chỉ mang tính tình thế, mà một số nhà quan sát gọi đó là để « câu giờ ». Khủng hoảng dầu khí toàn cầu nặng nề đến mức nào phụ thuộc vào viễn cảnh chiến tranh tại Trung Đông sẽ kéo dài đến khi nào và mức độ khốc liệt đến đâu.
Cuộc chiến Trung Đông và khủng hoảng dầu khí: Thách thức kép với nhân loạiTheo nhiều chuyên gia về năng lượng, một điểm khác biệt nổi bật của cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay so với thập niên 70 là việc thế giới đang bước vào một chuyển đổi lớn về mô hình năng lượng, dần dần giảm bớt sự phụ thuộc vào các năng lượng hóa thạch để chuyển sang năng lượng tái tạo.
Đại khủng hoảng dầu mỏ 1973, bên cạnh những hậu quả nặng nề đối với các nền kinh tế phương Tây, đã buộc phương Tây phải tiến hành nhiều thay đổi triệt để, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng, với sự ra đời của Cơ quan Năng lượng Quốc tế - IEA, tìm cách giảm phụ thuộc vào dầu mỏ Trung Đông, mở ra con đường đa dạng hóa các nguồn năng lượng, trong đó có năng lượng hạt nhân, và thúc đẩy việc phối hợp dự trữ năng lượng quy mô lớn. Hay việc sử dụng năng lượng tiết kiệm hơn, hiệu quả hơn.
Cuộc chiến Trung Đông và khủng hoảng dầu khí hiện nay được xem mang lại một thách thức kép. Nhân loại có thể nhân cuộc khủng hoảng này, đẩy nhanh việc chuyển sang các năng lượng tái tạo để cùng lúc bảo đảm an ninh về năng lượng và cắt giảm mạnh năng lượng hóa thạch hãm đà biến đổi khí hậu, hay xung đột và cuộc khủng hoảng năng lượng tạo một lực cản lớn, ngăn chặn công cuộc chuyển đổi có ý nghĩa sống còn này ? Cuộc cạnh tranh giữa các đại cường, với Trung Đông là tâm điểm, đóng vai trò gì ?
Ngày 28/02/2026, khi mở chiến dịch không kích ồ ạt chưa từng có « Epic Furry » chống Iran và giết chết nhiều lãnh đạo cao cấp hàng đầu của nước này, Hoa Kỳ và Israel đặt ra mục tiêu rất rõ ràng : Lật đổ chế độ thần quyền có từ năm 1979.
Tuy nhiên, từ sau Thế chiến thứ II đến cuộc chiến Irak năm 2003 và gần đây nhất là chiến tranh Ukraina, lịch sử đã chứng minh rằng các cuộc không chiến không nhất thiết hiệu quả trong việc làm suy yếu một chế độ và bẻ gãy sự hậu thuẫn mà người dân dành cho chế độ đó.
Hầu hết giới chuyên gia có chung một nhận xét: Hoa Kỳ và Israel tiến hành chiến dịch không kích quy mô lớn, ngoài mục tiêu phá hủy các cơ sở hạt nhân và quân sự của Iran, còn nhằm dẫn đến việc thay đổi chế độ. Nhưng đằng sau chiến lược quân sự này là một học thuyết từ lâu đã bị bác bỏ nhưng giờ đây đang được các nhóm tân bảo thủ ở Washington hồi sinh : Huyền thoại về việc « thay đổi chế độ » bằng « ưu thế trên không », đã được vị tướng người Ý Giulio Douhet (1869 – 1930) phát triển trong những năm 1920.
Huyền thoại sáng lập : Douhet và « cuộc chiến trên không »Tuần báo Pháp L’Express nhắc lại, vào năm 1921, trong tác phẩm nổi tiếng « Thế thống trị trên không » (Il dominio dell’aria), nhà lý luận người Ý này đã viết : « Giành được ưu thế trên không có nghĩa là chiến thắng, bị đánh bại trên không là thất bại ». Theo ông, không một loại vũ khí nào – cả phòng không lẫn chiến đấu cơ – có thể ngăn chặn một cuộc chiến trên không quy mô lớn.
Những cuộc không kích này cho phép giành chiến thắng bằng cách ném bom vào hậu phương và các trung tâm kinh tế (công nghiệp, kho hàng, đường sắt) và quân sự (kho đạn, sở chỉ huy), tóm lại là những cơ sở trọng yếu của đối phương, cũng như là bằng cách ném bom thường dân để bẻ gãy tinh thần của họ.
Các quốc gia đối địch sẽ buộc phải khuất phục, hay trong trường hợp của Iran, khi dự báo một sự nổi dậy của người dân để ngăn chặn các cuộc oanh kích và đi đến một sự thay đổi chế độ. Theo giải thích từ nhà nghiên cứu Nicolas Minvielle, chuyên gia về đổi mới và quốc phòng (Audencia) trên trang The Conversation, nhìn chung, tầm nhìn này của Douhet được dựa trên một giả thuyết đơn giản : « Nỗi sợ hãi hủy diệt ý chí tập thể ». Nhưng thực tế thì sao ?
Học thuyết hiện đại về cưỡng chế trên khôngNghiên cứu của nhà chính trị học người Mỹ, Robert A. Pape, về các chiến dịch không kích trong thế kỷ XX (Bombing to Win. Air Power and Coercion in War, 1996) cho thấy tiến triển mới của huyền thoại « thắng cuộc bằng không chiến », được thể hiện qua ba chiến lược khác nhau. Ý tưởng ở đây là xác định xem trong thời gian đầu, mục tiêu thực sự đằng sau việc sử dụng vũ khí không quân là gì, để có thể đánh giá các hiệu quả.
Trong lô-gic này, Pape đề xuất ba chọn lựa : Thứ nhất là « trừng phạt », bằng cách tấn công thường dân nhằm giáng những nỗi đau khổ và gây ra các áp lực chính trị nội bộ. Đây là phiên bản đương đại của mô hình Douhet. Thứ hai là « mạo hiểm » (leo thang dần dần). Đe dọa tăng dần các cuộc không kích nhằm tạo ra một sự bất định và nỗi lo sợ hủy diệt hoàn toàn. Và sau cùng là « tước mất », nghĩa là phá hủy các năng lực quân sự, hậu cần và chiến lược, ngăn chặn đối phương đạt được các mục tiêu của mình.
Phần lớn các nghiên cứu của Pape về những chiến dịch oanh tạc đã chỉ ra rằng những hoạt động quân sự trên không dựa vào ý tưởng trừng phạt dân sự gần như luôn thất bại và những chiến dịch nào nhằm mục tiêu ngăn chặn các hành động quân sự của đối phương đều cho thấy hiệu quả. Nói cách khác, sự cưỡng chế có hiệu quả khi nhằm làm thay đổi một tính toán chiến lược, chứ không phải khi nhằm bẻ gãy tinh thần. Sự khác biệt này là cơ bản, bởi vì nếu mục tiêu bị nhầm, hiệu quả như mong đợi sẽ không có.
Điều này được thấy rõ trong nhiều cuộc chiến suốt thế kỷ XX từ chiến dịch « Rolling Thunder » của Mỹ ở Việt Nam (1965 – 1968), các đợt thả bom của Mỹ trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991, chiến dịch của NATO ở Kosovo, hay chiến tranh xâm lược Ukraina do Nga phát động năm 2022 và gần đây nhất là cuộc chiến Iran do Mỹ và Israel tiến hành.
« Ưu thế trên không » và « Cấu trúc tinh thần »Vì sao chiến lược « ưu thế trên không » lại không mấy hiệu quả ? Nhà nghiên cứu Nicolas Minvielle cho rằng cần phải xem lại tác phẩm « The Structure of Morale », tạm dịch là Cấu trúc tinh thần, xuất bản năm 1943 của nhà phân tâm học J.T. MacCurdy. Khi phân tích phản ứng của người dân Anh trong suốt chiến dịch dội bom nổi tiếng Blitz (1940-1941) của không quân Đức chống Vương quốc Anh, ông phân biệt ba nhóm người sau một vụ nổ : Người chết (misses), Người suýt chết (near misses) và Người không bị ảnh hưởng (remote misses).
Theo MacCurdy, các cuộc oanh kích tạo ra nhiều người sống sót hơn là nạn nhân, và sau nỗi sợ hãi ban đầu, quá trình thích nghi nhanh chóng hình thành. Người sống sót phát triển nhiều phản ứng khác nhau, từ cam chịu đến cảm giác bất khả xâm phạm. Họ học hỏi được nhiều điều và quen dần với tình huống : Nỗi sợ hãi dữ dội của cú sốc ban đầu giảm đi, nếu nỗi sợ đó không liên tục gắn liền với sự hủy diệt cá nhân. Vượt quá một ngưỡng nhất định, sự tàn phá tiếp theo sẽ mang lại hiệu quả giảm dần. Tinh thần người dân có xu hướng tiến triển theo hướng thờ ơ hoặc chịu đựng, nhưng không phải là đầu hàng hay nổi dậy chống chế độ như lịch sử đã cho thấy.
Thậm chí, theo Nicolas Minvielle, các chiến dịch dội bom ồ ạt còn phản tác dụng. Trong Chiến tranh Việt Nam, nghiên cứu của M.A. Kocher và các đồng nghiệp đã chứng minh rằng việc đánh bom làng mạc đã làm dịch chuyển quyền kiểm soát lãnh thổ sang Việt Cộng. Thiệt hại thường dân đã làm mất tính chính đáng của chính quyền Nam Việt Nam và củng cố lực lượng nổi dậy. Nỗi khiếp hãi tiếp thêm sức mạnh của đối phương. Đó cũng là những gì đã diễn ra tại Irak (2014) và Syria (2011) : Các cuộc không kích đã không mang lại hiệu quả như mong đợi mà có nguy cơ làm gia tăng sự đoàn kết với quân nổi dậy khi dân thường bị trúng bom. Và nhất là bạo lực trên không hiếm khi làm thay đổi lòng trung thành theo hướng mong muốn.
Bất chấp một thế kỷ nghiên cứu thực nghiệm, chứng minh sự hủy diệt vật chất hiếm khi tự nó dẫn đến sự sụp đổ chế độ, ý tưởng cho rằng áp lực quân sự bên ngoài có tác động chính trị quyết định vẫn tồn tại. Nếu như giới lãnh đạo đương đại không còn nói đến « bẻ gãy tinh thần một dân tộc » nữa, và thường nói rằng làm suy giảm năng lực hay dồn dập gia tăng áp lực có thể làm suy yếu vĩnh viễn một cấu trúc quyền lực hiện có, đó là vì họ tin vào sức mạnh công nghệ, sức mạnh hữu hình và độ chính xác của vũ khí không quân và nhất là họ nhầm lẫn giữa cú sốc ban đầu với hiệu quả lâu dài.
Cú sốc và hiệu quả lâu dài : Iran, ví dụ mới nhấtCú sốc và nỗi kinh hoàng tạo ra một tác động ngoạn mục nhưng không nhất thiết đi đến đầu hàng chính trị. Theo nhà nghiên cứu Nicolas Minveille, hiệu quả của chiến lược oanh kích không chỉ phụ thuộc vào năng lực hủy diệt, mà còn vào bản chất của đối phương : Chế độ chuyên chế hay dân chủ ; chiến tranh thông thường hay nổi dậy, xã hội phân mảnh hay gắn kết cao. Cùng một chiến dịch có thể tạo ra những hiệu quả hoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh xung đột.
Đây là những gì đang áp dụng cho cuộc chiến tại Iran. Daniel Block, biên tập viên cấp cao của tạp chí Đối ngoại, trên kênh truyền hình CBC News nhận định rằng, xét về mặt lịch sử, xác suất chế độ thần quyền bị sụp đổ vì « mưa bom » là rất thấp. Ông nêu ra ba lý do:
« Đầu tiên, đơn giản là cho dù quý vị có ghét lãnh đạo của mình đến mức nào, nếu đất nước quý vị bị ném bom, các cuộc oanh kích chỉ sẽ làm suy yếu phe đối lập, bởi vì họ thực sự không muốn bị coi là đứng về phía những người đang tấn công đất nước mình. Tất nhiên, cũng có những ngoại lệ. Nếu lãnh đạo của quý vị đặc biệt bị khinh ghét, thì có một số người không cảm thấy áy náy khi đứng về phía thế lực tấn công. Và chắc chắn có những người như vậy ở Iran, những người quá tuyệt vọng và quá chán ngán với sự lãnh đạo của Khamenei đến nỗi họ chấp nhận điều này hoặc thậm chí hoan nghênh nữa.
Nhưng lý do khác là việc ném bom để xóa sổ hoàn toàn năng lực đàn áp của một quốc gia là vô cùng khó khăn. Quý vị thực sự cần phải có quân đội trên bộ để loại bỏ vũ khí nhỏ, loại bỏ tất cả các loại bom, những thứ mà quý vị cần hủy diệt để dập tắt khả năng của chính quyền đàn áp biểu tình. Iran của có một năng lực đàn áp đáng kể.
Điều cuối cùng, tôi nghĩ đáng chú ý trong trường hợp của Iran, đó là phe đối lập của nước này rất yếu. Họ bị chia rẽ. Chính quyền, một lần nữa, bởi vì họ có năng lực đàn áp mạnh mẽ nên đã rất hiệu quả trong việc dập tắt phản kháng và bỏ tù những người đối lập. Và nhất là những người chống chế độ, họ thực sự không hòa thuận với nhau. »
Iran và Chiến lược « mở rộng rủi ro »Bất chấp những bài học lịch sử, chiến lược « ưu thế trên không » vẫn có sức hấp dẫn chính trị, hứa hẹn mang lại kết quả mà không cần đưa quân ồ ạt trên bộ, và do vậy không có những tổn thất. Nhưng đó chỉ là một sự ảo tưởng về sự cưỡng chế từ xa. Các cuộc tấn công của Mỹ vào những mục tiêu của Iran được chính thức coi là một phần của chiến lược làm suy yếu năng lực. Mỹ và Israel oanh tạc các cơ sở hạ tầng, năng lực quân sự, làm tê liệt nền kinh tế và thay đổi cán cân sức mạnh quân sự.
Nhưng trong trường hợp của Iran, nhà chính trị học người Mỹ Robert A. Pape, trong một bài phân tích mới nhất đăng trên trang Foreign Affairs ngày 09/03/2026, lưu ý thêm rằng các đợt oanh kích « tiêu diệt » của Mỹ và Israel chẳng những không làm chế độ sụp đổ mà còn thúc đẩy nước này leo thang xung đột theo chiều ngang, với mục tiêu gia tăng ảnh hưởng chính trị.
Theo đó, Iran trước hết chứng tỏ sức kháng cự bằng các cuộc không kích trả đũa ồ ạt, khẳng định tính chất liên tục của bộ chỉ huy và năng lực tác chiến cho dù nhiều lãnh đạo cao cấp hàng đầu bị triệt hạ. Sau đó, Iran mở rộng xung đột ra ngoài phạm vi lãnh thổ, tạo ra điều mà nhiều chuyên gia gọi là « gia tăng rủi ro », không chỉ oanh kích trả đũa Israel mà còn tấn công các nước láng giềng.
Tiếp đến, Teheran chính trị hóa xung đột bằng các cuộc oanh kích dẫn đến việc đóng cửa các sân bay, thiêu đốt hàng hóa thương mại, gây thiệt hại tính mạng người lao động nước ngoài và gây xáo trộn thị trường năng lượng cũng như ngành bảo hiểm. Tại Mỹ, quy mô xung đột càng ngày càng lớn khiến nhiều thành viên Quốc Hội lo lắng. Và nhất là chiến sự lan rộng có nguy cơ lôi kéo nhiều tác nhân khác lao vào cuộc chiến vì những lợi ích khác nhau mà không có sự điều phối, có thể làm thay đổi dòng chảy xung đột, vượt ngoài tầm kiểm soát của Wahsington.
Vế cuối cùng trong chiến lược của Iran là yếu tố thời gian. Áp lực đối với nhiều nước càng gia tăng, căng thẳng chính trị cả trong nội bộ các nước cũng như giữa các nước trong khu vực càng lớn, có nguy cơ làm trầm trọng thêm cuộc xung đột. Trong bối cảnh này, nhà chính trị học người Mỹ kết luận, khi phớt lờ những bài học lịch sử, Mỹ và Israel có nguy cơ gặp rắc rối to !
Cuộc chiến của Mỹ và Israel chống Iran bùng nổ ngày 28/02/2026. Ngay trong loạt tấn công đầu tiên, giáo chủ Iran và hàng chục chỉ huy cấp cao đã tử vong, trong đó có tổng tham mưu trưởng Quân đội, chỉ huy Lực lượng Vệ binh Cách mạng, bộ trưởng Quốc Phòng. Tổng thống Mỹ tuyên bố đã xóa sổ một phần lớn các phương tiện quân sự của Iran, dọa xóa sổ chế độ. Tuy nhiên, chiến tranh không có dấu hiệu ngừng nghỉ. Chế độ Iran « mất đầu », nhưng không có biểu hiện tan rã.
Vì sao hệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran có khả năng kháng cự cao ?
Hệ thống quyền lực đa trung tâmTruyền thông Pháp chú ý đến nhận định của chuyên gia Ali Hashem, Trung tâm nghiên cứu Hồi giáo và Tây Á, Đại học Royal Holloway (Luân Đôn), về « cấu trúc quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran được thiết kế để trở nên cấu kết chặt chẽ trước các áp lực, hơn là để bị sụp đổ » (bài « Iran Is Built to Withstand the Ayatollah’s Assassination /Chế độ Iran được thiết kế để trụ được ngay cả khi giáo chủ tối cao bị hạ sát »). Bernard Hourcade, chuyên gia về Iran, Trung tâm Khoa học Quốc gia Pháp – CNRS ví cái chết của lãnh tụ tối cao với hình ảnh « phá vỡ một rào cản lớn, nhưng vẫn còn đến 500 rào cản khác ».
Về mặt chính thức, lãnh đạo tối cao Iran đứng đầu một mạng lưới của một loạt định chế, trong đó có Hội đồng bảo vệ Hiến pháp, Hội đồng Chuyên gia (bầu lãnh đạo tối cao), Lực lượng Vệ binh Cách mạng, nhưng hệ thống quyền lực trên thực tế không hẳn như vậy. Trả lời RFI tiếng Việt, Théo Nencini, chuyên gia về Iran, giảng viên Đại học Sciences Po ở Grenoble, đưa ra một giải thích chung về tính chất « đa trung tâm » của hệ thống quyền lực Iran:
« Hệ thống chính trị Iran hoàn toàn không phải là một hệ thống tập trung hóa cao độ, theo nghĩa cổ điển, kiểu hình kim tự tháp. Đó là cái mà tôi gọi là một hệ thống quản trị dựa trên "mạng lưới quyền lực đa trung tâm và liên kết chặt chẽ" (réseau oligarchique multicentré et interconnecté). Về cơ bản, ta có thể hình dung một cấu trúc trong không gian ba chiều, giống như một kim tự tháp, nhưng hơi bị dẹt ở đỉnh.
Trong cấu trúc này, có một số trung tâm quyền lực, ví dụ như Lãnh tụ tối cao và "Văn phòng của Lãnh tụ tối cao", như người ta thường gọi. Sau đó là Lực lượng Vệ binh Cách mạng. Tiếp theo là cấu trúc của một chế độ cộng hòa cổ điển, với các đại điện được bầu lên bằng phổ thông đầu phiếu, về cơ bản là chính phủ, Quốc Hội, v.v.
Bên cạnh đó, ta có một tầng lớp tư sản kinh tế, mà về bề ngoài không trực tiếp liên kết với các trung tâm quyền lực nói trên. Xung quanh mỗi cực này, có các mạng lưới quyền lực, mạng lưới các nhóm lợi ích xoay quanh các cực này, có liên kết với nhau. Điều đó có nghĩa là có thể có mối liên hệ giữa những người từ "Văn phòng Lãnh tụ tối cao" và Vệ binh Cách mạng, cũng như giữa chính phủ và tầng lớp tư sản kinh tế. Một hệ thống cấu trúc như vậy không thể bị chặt đầu. »
Nhà nghiên cứu Theo Nencini giải thích rõ hơn về mối quan hệ giữa Lãnh tụ tối cao và Lực lượng Vệ binh Cách mạng : « Có thể nói, Vệ binh Cách mạng là thực thể cho phép Lãnh tụ tối cao có phương tiện để vượt qua vô số rào cản của Hiến pháp và pháp lý trong chế độ Iran. Bằng cách vượt qua những rào cản này, Lãnh tụ tối cao, ta có thể nói một cách đơn giản, có thể trực tiếp phổ biến quan điểm của mình tới hệ thống hành chính. Nhưng điều quan trọng cần nhớ là Vệ binh Cách mạng, về một mặt nhất định là một thực thể tự chủ so với Văn phòng Lãnh tụ tối cao. Nghĩa là, tuy họ có tuyên thệ trung thành với nhà lãnh đạo này, nhưng họ có thể có đường lối chính trị riêng, tầm nhìn chiến lược riêng, không nhất thiết phải giống với tầm nhìn của Lãnh tụ tối cao. Và đây chính là điểm mà chúng ta có thể liên hệ với tình hình hiện tại. »
Chuyển mạnh sang cơ chế tản quyền trong bối cảnh chiến tranh khốc liệtSau cuộc chiến 12 ngày hồi năm ngoái của Mỹ và Israel, lực lượng vũ trang Iran nói chung và Vệ binh Cách mạng nói riêng đã thay đổi cấu trúc của hệ thống chỉ huy, để có thể nhanh chóng thay thế lãnh đạo. Theo chuyên gia Thierry Covilly, Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp IRIS, nhìn chung chế độ sẵn sàng cho việc bất cứ chỉ huy nào bị hạ sát sẽ đều có người thay thế. Bộ máy an ninh, phòng thủ của Iran được tái cấu trúc thành khoảng 30 bộ chỉ huy cấp tỉnh, có thể đưa ra quyết định độc lập, trong trường hợp đầu não trung ương bị hủy diệt.
Riêng về Lực lượng Vệ binh Cách mạng, chuyên gia Théo Nencini cho biết cụ thể: « Lực lượng Vệ binh Cách mạng đã bị chặt đầu một phần hồi tháng Sáu. Lực lượng này, dĩ nhiên, sau những gì đã xảy ra trong cuộc chiến 12 ngày tháng 6/2025, đã chuẩn bị để đối phó với việc Israel và Mỹ hành động theo cách này. Vì vậy, họ đã hạ thấp chuỗi chỉ huy xuống thấp hơn nhiều, đến cấp N-6 hoặc thậm chí N-7. Cụ thể là, trong quân đội, thông thường ta có một tổng tham mưu trưởng, và ở cấp N-1 là sĩ quan cấp dưới, N-2 ở cấp thấp hơn nữa, và cứ thế tiếp tục. Vì vậy, xuống đến cấp N-6 hoặc N-7 có nghĩa là có một cấu trúc chỉ huy có quyền tự quyết định hành động ở các bậc thấp, trải rộng ra trên toàn quốc. »
Vệ binh Cách mạng với bộ máy trấn áp khổng lồ, bám rễ vào xã hộiNói đến sức mạnh của hệ thống quyền lực Iran trước hết phải nói về vai trò của Lực lượng Vệ binh Cách mạng (IRGC), Pasdaran trong tiếng Farsi, được thành lập từ năm 1979, ngay từ đầu cuộc Cách mạng Hồi giáo. Vệ binh Cách mạng có nhiệm vụ bảo vệ hệ tư tưởng Hồi giáo Shia và chế độ Cộng hòa Hồi giáo, cả trong nước và quốc tế. Khác với quân đội chính quy, Vệ binh Cách mạng trực thuộc Lãnh tụ tối cao, cho nên có quyền lực độc nhất vô nhị ở Iran.
Vệ binh Cách mạng có các binh chủng riêng (lục quân, không quân, hải quân) và Lực lượng Qods, chuyên về các hoạt động ở nước ngoài, đặc biệt tại khu vực Trung Đông. Về kinh tế, họ kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế Iran, như dầu khí, xây dựng, viễn thông, với hàng trăm tỉ đô la. Vệ binh Cách mạng Iran thường được nói đến như một « Nhà nước trong một Nhà nước » là vì vậy.
Trả lời RFI Việt ngữ, nhà chính trị học Azadeh Kian, giáo sư danh dự Đại học Paris – Cité, nhấn mạnh đến việc Vệ binh Cách mạng điều hành cả một lực lượng dân sự quy mô lớn, được giao phó nhiệm vụ kiểm soát xã hội : « Basij là một lực lượng dân quân với khoảng một triệu thành viên, một lực lượng mang đậm tính ý thức hệ, tồn tại và hoạt động dưới quyền của Vệ binh Cách mạng. Basij hiện nay là một lực lượng vũ trang, lực lượng được Vệ binh Cách mạng huấn luyện và giáo dục để đàn áp mọi phe đối lập trong nước. Với mọi cuộc biểu tình, trước hết chế độ sử dụng các lực lượng này để trấn áp. »
Nhà báo Iran Mohsen Sazegara, một trong những người sáng lập Vệ binh Cách mạng, sau này trở thành người chống lại chế độ Hồi giáo, trả lời tuần báo Pháp L'Express, cho biết thêm là ngoài dân quân Basij, chế độ của cố giáo chủ Ali Khamenei còn sử dụng các lực lượng lính đánh thuê nước ngoài (từ Afghanistan, Pakistan…), với số lượng lên đến 30.000 người, và hàng chục tổ chức Irak, trong đó có nhiều tổ chức có quan hệ với Lực lượng Qods của Vệ binh Cách mạng, để đàn áp mọi dấu hiệu phản kháng trong nước.
Đức tin tử vì đạo và nước Cộng hòa Hồi giáo bị cô lậpTheo nhiều nhà quan sát, chế độ Hồi giáo Iran đã sẵn sàng chuẩn bị cho một cuộc xung đột kéo dài với Mỹ và các đồng minh, với « cường độ thấp », « bất chấp cái giá rất lớn mà người dân thường Iran phải gánh chịu » (Bernard Hourcade).
Cuộc chiến chống Mỹ và Israel hiện nay của chế độ thần quyền Hồi giáo Iran được nhiều người trong hệ thống nhìn nhận như sự tiếp nối của truyền thống độc lập, sẵn sàng đương đầu tất cả các đại cường ngay từ ngày đầu chế độ. Ông Hossein Kanani Mogahddam, thành viên Hội đồng lãnh đạo Vệ binh Cách mạng (1980-1988) (trong bộ phim tài liệu « Vệ binh Cách mạng, chủ nhân của Iran », của Arte), kể lại :
« Tất cả các cường quốc đều hậu thuẫn chế độ Saddam Hussein, Mỹ, Liên Xô, Pháp…, và còn nhiều nước khác. Trong giai đoạn này, chúng tôi hoàn toàn không có vũ khí, trang bị gì cả. Không có pháo, không có xe tăng, máy bay... Chúng tôi không có phương tiện để tiến hành một cuộc chiến tranh. Chính đức tin đã cứu giúp chúng tôi. Chúng tôi không có thực phẩm, không có cả đồ hộp cho binh sĩ ! »
Chuyên gia Théo Nencini, Sciences Po Grenoble, nhấn mạnh đến đức tin vào huyền thoại Karbala, huyền thoại sáng lập hệ phái Hồi giáo Shia, hiện vẫn còn là nguồn động lực tinh thần của hàng triệu người trung thành với chế độ :
« Hệ thống của chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran dựa trên một huyền thoại làm nền tảng cho chế độ. Đó là cái mà ta gọi là huyền thoại Karbala, huyền thoại sáng lập của Hồi giáo Shia, một trong những nhánh chính của Hồi giáo, bên cạnh hệ phái Sunni. Huyền thoại sáng lập của Hồi giáo Shia là ‘‘Karbala’’, là sự tử đạo của Imam Hussein. Huyền thoại này tôn vinh cái chết tử vì đạo, sự hy sinh vì một chính nghĩa.
Ở đây chúng ta cũng có thể thấy sự tương đồng với tình hình chiến lược và khủng khoảng hiện tại. Iran, hay đúng hơn là chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran hiện nay, có thể nghĩ rằng họ đã chiến thắng, ngay cả khi chỉ có thể sống sót được, kháng cự được. Nói cách khác, đối với họ, chiến thắng không phải là tiêu diệt được đối thủ, đánh bại được đối thủ. Đối với họ, chiến thắng là khi trụ vững trước một cuộc xâm lược phi nghĩa.
Điều này đã được thử thách trong cuộc chiến chống Irak trong những năm 1980. Nhưng quả thực, người Iran có xu hướng liên tục tái hiện huyền thoại tôn vinh cái chết tử vì đạo, hy sinh vì một chính nghĩa. Và điều này giúp họ trở nên kiên cường, giúp hàng chục triệu người Iran chống chọi với tình trạng kinh tế khó khăn hàng chục năm qua. Giờ đây, một lần nữa họ lại bị tấn công từ bên ngoài. Từ góc nhìn của họ, họ đã bị phản bội, khi đang có một quá trình đàm phán thứ hai với đối thủ, và họ bị đâm sau lưng. Cuộc tấn công nổ ra đúng vào lúc đàm phán đang diễn ra. Đây là sự thực ! Thực tế này đã giúp hợp thức hóa một lập trường tư tưởng như vậy.
Tôi nghĩ chúng ta không thể giải thích mọi thứ bằng tôn giáo hay ý thức hệ của giáo chủ Khomenei, nhưng tôi tin chắc rằng vai trò này là có thật. Vai trò của lập trường tư tưởng này, theo một cách nào đó, tôn vinh sự đau khổ và hy sinh vì một lý tưởng cao cả hơn, vẫn tiếp tục khiến nhiều người trong xã hội Iran, trong nhóm trung thành với chế độ ước tính từ 6 triệu cho đến 15 triệu trong tổng số 90 triệu dân, tin tưởng rằng đối với Iran, chế độ này là công bằng nhất mà người ta có thể hy vọng. »
Trừng phạt kinh tế giúp Vệ binh Cách mạng phát triểnMột nghịch lý còn rất ít được chú ý, đó là trừng phạt kinh tế của phương Tây thay vì làm suy yếu chế độ lại củng cố sức mạnh của chính hệ thống quyền lực Iran, của thế lực bảo thủ, trong một xã hội, mà một bộ phận đông đảo dân chúng có trình độ giáo dục cao, vốn kết nối mạnh với thế giới bên ngoài. Ông Ali Vaez, thuộc nhóm International Crisis Group (trích phim Vệ binh Cách mạng, chủ nhân của Iran), nhận định :
« Các trừng phạt kinh tế rất có lợi cho Vệ binh Cách mạng. Các doanh nghiệp của lực lượng này giống như loài nấm, chúng phát triển mạnh trong bóng tối, trong sự cô lập. Tổ chức International Crisis Group, mà tôi là thành viên, có sứ mạng ngăn ngừa xung đột. International Crisis Group có trách nhiệm đối thoại với tất cả các bên. Trước đây, chúng tôi đã từng đối thoại với Vệ binh Cách mạng. Nếu Iran kết nối với thế giới, với hệ thống tài chính thế giới, thì điều này đòi hỏi phải có sự minh bạch nhất định. Ngược lại, khi Iran bị cô lập, Vệ binh Cách mạng có thể độc quyền nhiều lĩnh vực, loại bỏ cạnh tranh, tham nhũng thả cửa. Khi không có cạnh tranh phương Tây, lực lượng này kiểm soát toàn bộ lĩnh vực lớn của nền kinh tế Iran ».
Xu thế « quân sự hóa » của chế độHệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran sẽ biến chuyển ra sao nếu chiến tranh và xung đột kéo dài? Nhà chính trị học Azadeh Kian ghi nhận xu thế « quân sự hóa » chế độ chính trị đang diễn ra, với vai trò ngày càng mờ nhạt của đạo Hồi. Chiến tranh khiến các thế lực cứng rắn, chống phương Tây đến cùng tại Iran trở nên mạnh hơn:
« Không cần phải tiến hành đảo chính, tôi nghĩ là chúng ta đang hướng tới một chế độ ngày càng quân sự hóa, thậm chí có thể giống như Pakistan trong tương lai, nơi quân đội có tiếng nói cuối cùng, nhưng vẫn có sự hỗ trợ ví dụ như của một lãnh đạo tôn giáo, hoặc một tổng thống bên cạnh. Một trong những tác động đáng kể nhất của cuộc chiến hiện tại là nếu chế độ này vẫn nắm quyền, nó sẽ trở thành một chế độ ngày càng quân sự hóa, trong đó thể chế giáo sĩ sẽ có ít ảnh hưởng hơn. Ngay cả khi chiến tranh kết thúc, tôi không tin rằng các chế độ quân chủ Ả Rập vùng Vịnh Ba Tư sẽ nối lại quan hệ hữu nghị với Iran.
Vì vậy, để tự bảo vệ mình, Iran sẽ ngày càng quân sự hóa. Do đó, tình trạng chiến tranh không có lợi cho các phần tử ôn hòa trong khu vực, mà lại có lợi cho các phần tử cực đoan. Và đối với Iran, điều đó có nghĩa là xu thế quân sự hóa sẽ ngày càng mạnh. Chiến tranh cũng có thể là một yếu tố củng cố chế độ từ bên trong đối diện với chính người dân của mình, như chúng ta thấy hiện nay. »
Chế độ Hồi giáo suy yếu nặng nề, nhưng chiến tranh giúp hồi sứcTuy nhiên, giáo sư Azadeh Kian mặt khác cũng lưu ý đến việc chế độ thần quyền Hồi giáo Iran trên thực tế đã « rất suy yếu » trong nước và trong khu vực. Hàng loạt phong trào phản kháng gần đây cho thấy điều đó, trong đó có phong trào bùng lên sau cái chết của một phụ nữ mang khăn trùm không đúng cách, bị cảnh sát đạo đức của chế độ bắt giữ, hay phong trào bất mãn vì kinh tế khó khăn, bị đàn áp trong máu, đã gây ra bất bình lớn trong nội bộ chế độ. Còn tại khu vực Trung Cận Đông, các lực lượng ủy nhiệm do Vệ binh Cách mạng chỉ đạo đã bị triệt hạ một phần đáng kể.
Theo nhiều nhà quan sát, nhìn chung chỉ còn khoảng từ 10% đến 15% người Iran thực sự ủng hộ chế độ, vì lý do ý thức hệ hay vì quyền lợi. Số người sẵn sàng phản kháng có thể đông hơn, nhưng đại đa số dân chúng trong tư thế chờ đợi. Vấn đề được nhiều chuyên gia, nhà hoạt động xã hội Iran, trong đó có nhà chính trị học Azadeh Kian cảnh báo là : nếu chiến tranh kéo dài, thay vì khiến cho chế độ độc đoán tại Iran suy yếu, thì ngược lại, chỉ giúp củng cố thêm một chế độ đang bị áp lực thay đổi triệt để mới có thể tiếp tục tồn tại (« Cộng hòa Hồi giáo Iran như chúng ta đã biết trong gần nửa thế kỷ qua sẽ không thể tồn tại », phỏng vấn chuyên gia Bernard Hourcade, Le Nouvel Obs, 11/03/2026).
Năm 2026, chiến tranh Ukraina bước sang năm thứ năm. Bất chấp các trừng phạt của phương Tây, kinh tế Nga vẫn chưa sụp đổ như phát biểu của nhiều nhà lãnh đạo châu Âu trước đây. Dù vậy, tổng thống Nga Vladimir Putin hôm 04/02/2026, trong một cuộc họp về các vấn đề kinh tế, thừa nhận tăng trưởng kinh tế năm 2025 chỉ ở mức 1%, thấp hơn nhiều so với những năm đầu cuộc chiến. Phải chăng các lệnh trừng phạt của phương Tây giờ bắt đầu có hiệu quả ?
Nga hiện là quốc gia bị phương Tây trừng phạt nặng nề nhất, hơn cả Iran và Bắc Triều Tiên. Riêng Liên Hiệp Châu Âu đã ban hành 19 gói trừng phạt nhắm vào Nga. Có hai loại đối tượng bị trừng phạt: Thứ nhất là các cá nhân như tổng thống Nga, các chỉ huy nhóm Wagner hay nhà tỷ phú Roman Abramovic ; thứ hai là các thực thể như ngân hàng, các chính đảng, hãng truyền thông và nhất là các doanh nghiệp.
Để hiểu được hiệu quả của trừng phạt của phương Tây, các nhà phân tích tập trung vào nhóm đối tượng thứ hai do vai trò vĩ mô kinh tế của chúng, ở ba khía cạnh của các lệnh trừng phạt : Tài chính, Công nghệ - thương mại và Năng lượng.
Trừng phạt tài chínhVào thời điểm Nga phát động "chiến dịch quân sự đặc biệt" xâm lược Ukraina tháng 02/2022, các hoạt động kinh tế Nga có một giai đoạn bị đóng băng. Trả lời Les Echos, nhà kinh tế học Julien Vercueil, chuyên gia về Nga, Viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông Quốc gia (INALCO), nhận định hiện tượng này không hẳn là do các lệnh trừng phạt mà là do cú sốc và sự bất ổn đi kèm với biến cố địa chính trị quy mô lớn : « Trong tình huống này, phản xạ đầu tiên của các tác nhân kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình, các nhà đầu tư nước ngoài hay trong nước, … là bảo vệ tiền tiết kiệm của mình. Và do vậy, chúng phải được đưa ra ngoài lãnh thổ Nga. Đây là những gì họ làm ngay từ tháng 01/2022, trước khi có chiến tranh. Người ta đã chứng kiến trong quý I/2022 hiện tượng rút vốn ồ ạt lớn chưa từng có ở Nga trước đây. »
Quá trình tháo chạy vốn tăng nhanh sau khi những trừng phạt tài chính đầu tiên được thực thi : Hạn chế khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế của Nga, loại các ngân hàng Nga khỏi hệ thống SWIFT (Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn cầu) và phong tỏa 210 tỷ đô la tài sản Nga ở châu Âu. Tuy nhiên, chính quyền Nga cũng đã có những phản ứng nhanh chóng, ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính, chẳng hạn như ra lệnh đóng cửa sàn chứng khoán Matxcơva và áp đặt kiểm soát ngoại hối nghiêm ngặt, có nghĩa là người dân Nga không thể đổi rúp sang đô la.
Kết quả là Nga đã nhanh chóng hồi hương vốn, giúp cân bằng và giảm bớt sự dịch chuyển, « tháo chạy vốn tự phát », theo như nhận định của Julien Vercueil. Phản ứng cứng rắn này của chính quyền Nga đã giảm tác động các trừng phạt, cứu hệ thống tài chính Nga khỏi sự sụp đổ. Giai đoạn bất ổn và trừng phạt ban đầu này, tất nhiên, đã làm chậm lại nền kinh tế Nga vào năm 2022. Nhưng ngay từ năm 2023, tăng trưởng phục hồi nhờ hiệu ứng kết hợp giá dầu thế giới tăng và sự chuyển đổi sang nền kinh tế chiến tranh, thúc đẩy chi tiêu công đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng.
Trừng phạt thương mạiLoại trừng phạt thứ hai là cấm xuất khẩu sang Nga các sản phẩm trong những lĩnh vực trọng yếu như vận tải, hàng không, hàng xa xỉ hay công nghiệp quốc phòng. Mục đích là kềm chế năng lực công nghiệp và làm suy yếu Nga nhiều hơn. Theo Ủy Ban Châu Âu, kể từ tháng 02/2022, Liên Hiệp Châu Âu đã cấm xuất khẩu hàng hóa và công nghệ sang Nga với tổng giá trị ước tính là hơn 48 tỷ euro, tức chiếm khoảng hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Liên Âu trước chiến tranh.
Qua phân tích các dữ liệu của Global Trade Tracker liên quan đến các hoạt động xuất – nhập khẩu của Nga, hai nhà kinh tế học Kevin Lefèvre và Charlotte Emlinger tại Trung tâm Nghiên cứu Triển vọng và Thông tin Quốc tế (CEPII) cùng kết luận là « khoảng một phần ba các sản phẩm bị trừng phạt đã được bù đắp từ các quốc gia không áp dụng trừng phạt ».
Đặc biệt, các nhà nghiên cứu còn nhận thấy « khoảng 2/3 trong số 50 sản phẩm bị trừng phạt bởi một liên minh lớn các nước, bao gồm cả Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ, đã được bù đắp từ nhiều nước khác. »
Để có được những mặt hàng bị cấm đó, Nga thực hiện hai phương pháp : Hoặc tìm nhà cung cấp ở các quốc gia không áp dụng lệnh trừng phạt như Trung Quốc, đã trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Nga từ đầu cuộc chiến. Hoặc những hàng hóa này được xuất khẩu từ những nước thực thi lệnh trừng phạt sang các quốc gia trung gian, gần với Nga như Thổ Nhĩ Kỳ hay Armenia, những nước không áp đặt lệnh trừng phạt, và sau đó chúng được tái xuất khẩu sang Nga.
Sự lách luật này của Nga không có nghĩa là các đòn trừng phạt không có hiệu quả. Trên thực tế, Matxcơva không nhất thiết tìm được những sản phẩm có chất lượng tương đương ở các nhà cung cấp mới. Và nhất là họ phải mua đắt hơn những sản phẩm nhập khẩu đó, kể cả những mặt hàng không bị trừng phạt.
Theo khảo sát, kể từ khi nổ ra chiến tranh, giá nhập khẩu của Nga tăng trung bình 13% so với giá nhập khẩu của phần còn lại của thế giới, và tăng 22% đối với hàng nhập khẩu từ các nước không trừng phạt Nga. Mức tăng này có thể lên đến hơn 120% đối với những mặt hàng chiến lược được dùng trên chiến trường Ukraina.
Như vậy, các trừng phạt này có tác động trực tiếp đến chi phí chiến tranh của Nga, và chúng còn có một chi phí tiềm ẩn : Sự phụ thuộc của Nga vào một số đối tác mới khi Nga muốn bán hàng hóa của mình ra thế giới. Đây chính là những gì diễn ra đối với dầu hỏa của Nga.
Trừng phạt năng lượngTrước chiến tranh, năm 2021, dầu khí của Nga chiếm gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga (46%). Chiến tranh bùng nổ, Liên Hiệp Châu Âu ban hành một số biện pháp cứng rắn : Cấm nhập khẩu dầu thô và các sản phẩm chế biến từ dầu Nga qua đường hàng hải, cấm nhập khẩu khí đốt hóa lỏng kể từ năm 2027, và áp đặt mức giá trần đối với các doanh nghiệp bán dầu hỏa Nga là 44,10 đô la/thùng, có hiệu lực từ ngày 01/02/2026.
Hệ quả là, theo chuyên gia kinh tế Kevin Lefèvre, « Nga không còn có thể xuất khẩu tất cả các mặt hàng của mình, nhất là các sản phẩm năng lượng sang Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ, và do vậy nước này, phải chuyển hướng xuất khẩu sang các nước khác, vốn yêu cầu một mức giá thấp hơn nhiều để có thể mua tất cả các sản phẩm tái xuất khẩu này. Điều này có nghĩa là nguồn thu cho nền kinh tế Nga ít hơn trước. Hơn nữa, tác động này còn trầm trọng hơn do các lệnh trừng phạt của châu Âu, yêu cầu các công ty vận tải dầu hỏa phải giữ giá dầu ở mức thấp hơn khoảng 15% so với giá thị trường, làm giảm thêm doanh thu cho nền kinh tế Nga ».
Chỉ có điều tuy những trừng phạt này ảnh hưởng trực tiếp đến cốt lõi mô hình kinh tế Nga, nhưng trong hai năm 2023 và 2024, giá dầu thế giới cao đã bù đắp cho mức sụt giảm xuất khẩu vì các lệnh trừng phạt. Chuyên gia về Nga, ông Julien Vercueil cho rằng, « tác động của giá cả chiếm ưu thế hơn so với tác động về số lượng. Và do vậy, Nga được hưởng lợi rất nhiều từ thặng dư thương mại và thặng dư tài khoản vãng lai, giúp nước này phục hồi khá nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng trên 4% ».
Ngoài ra, Nga còn thực hiện nhiều chiến thuật để né tránh các lệnh trừng phạt và bán dầu hỏa của mình thông qua các công ty ảo và đội tầu ma nổi tiếng. Nhưng tình hình đã trên nên khó khăn hơn vào năm 2025 khi giá dầu thế giới giảm, đồng rúp tăng giá, và nhất là Mỹ ban hành trừng phạt nhắm vào hãng dầu chính của Nga là Rosneft và Lukoil, khiến nguồn thu từ dầu khí của Nga sụt giảm mất 25% so với năm 2024.
Theo nhận xét của Julien Vercueil, « đặc điểm chính của các lệnh trừng phạt Mỹ là được thực thi khá nhanh chóng. Và đó là điểm khiến những biện pháp này trở nên khó khăn hơn nhiều cho những bên muốn né tránh chúng. Vì vậy, đây là một mối đe dọa có thể nói là đáng lo hơn một chút so với một số mối đe dọa hoặc tuyên bố được nhiều quốc gia khác đưa ra ».
Ấn Độ là một ví dụ điển hình. Từ lâu là một khách hàng lớn nhất của Nga, sau Trung Quốc, nhưng quốc gia Nam Á này đang dần chuyển hướng khỏi Nga để tránh các mức thuế cao của Mỹ. Nhìn vào tầm mức quan trọng doanh thu từ dầu khí của Nga, các lệnh trừng phạt gần đây cuối cùng dường như đã có tác động lớn hơn so với những năm đầu do giá cả thị trường thế giới giảm. Theo Financial Times, những đòn trừng phạt mới đã làm giảm tỷ trọng thu nhập năng lượng trong ngân sách Nga từ 50% xuống còn 24%, mức thấp nhất trong 10 năm. Để bù đắp, điện Kremlin đã phải tăng thuế TVA và các loại thuế khác đối với các doanh nghiệp nhỏ.
Kinh tế Nga trì trệDù vậy, nhiều nhà quan sát cũng nhìn nhận là khó có thể khẳng định các biện pháp trừng phạt kinh tế có hiệu quả đối với Nga hay không. Giới chuyên gia cho rằng các lệnh trừng phạt đã bị luồn lách, nhưng điều đó cũng đang gây thiệt hại nặng nề cho Nga. Sau bốn năm chiến tranh, kinh tế Nga đang bị suy giảm đáng kể. Tăng trưởng rớt xuống chỉ còn 1% trong năm 2025, trong khi lạm phát tăng vọt và ngân sách Nhà nước bị thâm hụt.
Tại Nga, ngày càng có nhiều nhà kinh tế bắt đầu thảo luận về vai trò của các lệnh trừng phạt trong những khó khăn kinh tế hiện nay. Một điều chắc chắn là tổng chi phí của các biện pháp trừng phạt và chiến tranh ngày càng thể hiện rõ đối với nền kinh tế Nga. Có thể nói, « chiến tranh cộng với các lệnh trừng phạt đã khiến Nga mất đi hai năm tăng trưởng ».
Đúng là nền kinh tế Nga đang dần bị xói mòn, nhưng người ta chỉ có thể đánh giá hiệu quả của các trừng phạt trong dài hạn. Do vậy, chuyên gia kinh tế Kevin Lefèvre đưa ra kết luận : « Nếu mục tiêu là chấm dứt chiến tranh, thì đúng là những biện pháp trừng phạt đó không hiệu quả. Nếu mục tiêu là làm sụp đổ nền kinh tế Nga, thì chúng cũng không vận hành. Nhưng nếu mục tiêu là làm tăng chi phí chiến tranh cho Nga, thì đúng là chúng ta có bằng chứng cho thấy giá cả hàng nhập khẩu sẽ tăng, chất lượng hàng nhập khẩu sẽ giảm, và đặc biệt là sự phụ thuộc lớn hơn vào các đối tác khác. Vì vậy, tôi nghĩ rằng các biện pháp trừng phạt đối với Nga không hẳn là một thất bại thảm hại, nhưng cũng không phải là phương thuốc thần kỳ. »
Vàng : 300 ngàn ounce được bán ra với giá kỷ lụcTheo trang La Tribune, Ngân hàng Trung ương Nga vào tháng 01/2026 đã bán một phần vàng dự trữ, tận dụng giá vàng cao kỷ lục trên thị trường thế giới để giải quyết thâm hụt ngân sách ngày càng lớn do doanh thủ dầu khí sụt giảm. Dữ liệu do Ngân hàng Trung ương Nga công bố gần đây cho thấy, vàng dự trữ của Nga đã giảm mất 300 ngàn ounce, xuống còn 74,5 triệu ounce, đánh dấu lần giảm dự trữ vàng thật đầu tiên kể từ tháng 10/2025.
Với giá vàng trung bình khoảng 4.700 đô la một ounce trong tháng Một, việc bán vàng sẽ mang lại khoảng 1,4 tỷ đô la cho ngân sách liên bang theo giá thị trường. Mặc dù Nga đã giảm lượng dự trữ vàng khối, giá trị tiền tệ của dự trữ vàng của nước này đã tăng 23%, lên mức kỷ lục 402,7 tỷ đô la - lần đầu tiên vượt quá 400 tỷ đô la - do vậy, việc bán vàng trở nên sinh lợi.
From the publisher's feed
Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

1,807 Listeners

42 Listeners

29 Listeners

222 Listeners

15 Listeners

3 Listeners

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

6 Listeners