
Sign up to save your podcasts
Or


Ngày 22/06/2026, Trung Quốc thông báo loạt trừng phạt mới có hiệu lực ngay lập tức nhắm vào hàng chục công ty Mỹ, chủ yếu trong các lĩnh vực quốc phòng và đất hiếm để đáp trả quyết định của Lầu Năm Góc đưa các tập đoàn như Alibaba và BYD vào danh sách đen. « Ăn miếng, trả miếng », Bắc Kinh kể từ giờ không ngần ngại trừng phạt các công ty nước ngoài, mà còn cấm các doanh nghiệp trong nước tuân thủ các biện pháp ngoài lãnh thổ của những nước khác, đặc biệt là Mỹ.
Để đáp trả nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ, Trung Quốc đang hoàn thiện các công cụ pháp lý của mình. Từ nhiều năm qua, Bắc Kinh triển khai kho vũ khí pháp lý vượt ra ngoài lãnh thổ, mà nạn nhân liên đới đầu tiên là lĩnh vực kinh tế. Trên đài France 24, chuyên gia Mathieu Duchâtel, giám đốc nghiên cứu quốc tế, Viện Montaigne, trước hết giải thích đôi nét về nguyên tắc ngoài lãnh thổ : « Đơn giản đó là việc áp dụng luật pháp quốc gia ở nước ngoài. Có thể là đối với các chủ thể quốc gia hiện diện ở nước ngoài, các cá nhân, các tác nhân kinh tế, nhưng đôi khi là đối với chính các chủ thể nước ngoài. Cách tiếp cận truyền thống là đối với các tội phạm hình sự do công dân của nước mình đang ở nước ngoài gây ra, điều này có thể bao gồm các thỏa thuận dẫn độ hoặc nhiều cách thức khác để xử lý họ. »
Hoa Kỳ : Quốc gia đi đầu về luật ngoài lãnh thổNguyên tắc ngoài lãnh thổ không phải là hiện tượng mới. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên sử dụng cách tiếp cận này như một cơ chế bảo hộ nhằm ngăn chặn tất cả các rủi ro hiện có, bao gồm cả những rủi ro liên quan đến chống hối lộ quan chức nước ngoài, trừng phạt và cấm vận. Giáo sư Mathias Audit, chuyên ngành luật trường đại học Sorbonne, từng giải thích trong một hội thảo: « Luật ngoài lãnh thổ của Mỹ dựa trên hai nguyên tắc : Thứ nhất, nếu một công ty nước ngoài được hưởng lợi từ thị trường của Mỹ thì họ cũng phải tôn trọng các quy tắc của Mỹ. Thứ hai, trên thị trường quốc tế, các công ty Mỹ không được ở thế bất lợi về cạnh tranh, do đó nảy sinh ý tưởng áp đặt các công ty không phải của Mỹ vào cùng những ràng buộc. »
Từ 1976 đến 2019, Mỹ ban hành 7 đạo luật mang tính ngoài lãnh thổ, liên quan đến nhiều lĩnh vực, từ kiểm soát hoạt động buôn bán vũ khí, chống hối lộ, kiểm soát thị trường tài chính, đến chống khủng bố, bảo vệ dữ liệu hay chống doping trong thể thao. Nếu như phần lớn các tập đoàn lớn châu Âu là nạn nhân của luật ngoài lãnh thổ Mỹ, việc sử dụng nguyên tắc này đã gia tăng đáng kể từ khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng năm 2017 nhằm ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận công nghệ phương Tây.
Theo chuyên gia Mathieu Duchâtel, Hoa Kỳ đã áp dụng nguyên tắc này một cách tùy tiện đối với các công ty châu Âu và châu Á để ngăn họ xuất khẩu sang Trung Quốc, mà vụ án Mạnh Vãn Châu là một ví dụ điển hình. Năm 2018, để trả đũa việc Canada quyết định bắt giam nữ giám đốc tài chính, con gái nhà sáng lập Hoa Vi tại Vancouver theo yêu cầu của Mỹ, chính quyền Trung Quốc đã bắt giữ và tống giam hai công dân Canada là Michael Kovrig et Michael Spavor trong vòng hơn 1.000 ngày trong những điều kiện ngặt nghèo. Sự việc đã gây ra khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng giữa Ottawa và Bắc Kinh.
Ba mục tiêuĐối với Trung Quốc, sự phát triển của nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ dường như là một hành động gây hấn nhắm thẳng vào chính quyền Bắc Kinh. Cảm thấy bị đe dọa bởi tất cả các điều khoản về luật ngoài lãnh thổ của Mỹ kể từ khi Hoa Vi bị tuyên bố là mối đe dọa an ninh mạng tiềm tàng vào năm 2009, Trung Quốc thời Tập Cận Bình đã có những thay đổi triệt để về lập trường. Ngay từ năm 2019, ông đã có một tuyên bố rõ ràng, kêu gọi tất cả các thể chế Trung Quốc, Nhà nước, Đảng, xây dựng một đạo luật có hiệu lực ngoài lãnh thổ cho đến thời điểm đó vẫn còn khá hạn chế.
Trả lời France 24, nhà nghiên cứu về Đông Á, Mathieu Duchâtel, giải thích tiếp : « Đó là một loạt các văn bản mang tính chất kinh tế. Tôi nghĩ điều cốt lõi trong tất cả những điều này là ý tưởng về sự trả đũa, được đưa vào trong luật thương mại quốc tế của Trung Quốc. Trước hết, đây là một biện pháp tương tự như cách tiếp cận của Mỹ, nghĩa là lập danh sách các thực thể không đáng tin cậy, các thực thể nước ngoài, cuối cùng định nghĩa chúng một cách rất rộng rãi là các chủ thể kinh tế, hoặc thậm chí, không nhất thiết là các chủ thể kinh tế, mà là các chủ thể mà hành động của họ có thể gây nguy hiểm cho lợi ích của Trung Quốc. Đó là về lợi ích, chứ chưa phải là vấn đề an ninh. »
Trong một bài ghi chú đăng vào tháng 12/2025, Viện Montaigne giải thích luật ngoài lãnh thổ của Trung Quốc theo đuổi ba mục tiêu. Thứ nhất, nguyên tắc ngoài lãnh thổ được thiết kế để giải quyết sự cạnh tranh mang tính hệ thống với Hoa Kỳ. Đây là kho vũ khí phòng thủ của Bắc Kinh nhằm mục đích giảm thiểu tác động của các lệnh trừng phạt kinh tế của Hoa Kỳ và chống lại các hạn chế xuất khẩu của Mỹ, ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận các công nghệ lưỡng dụng.
Thứ hai, Bắc Kinh cũng áp dụng luật lệ của mình ở nước ngoài để tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng toàn cầu bằng cách tuân theo lô-gic thực dụng, tập trung vào việc bành trước sức mạnh và cân bằng quyền lực với Hoa Kỳ. Chính quyền Bắc Kinh cố gắng sử dụng luật pháp Trung Quốc để giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, chẳng hạn như ở Biển Đông, và sử dụng ngôn ngữ pháp lý của mình để hợp pháp hóa các hành động của Trung Quốc.
Cuối cùng, Trung Quốc áp dụng các chính sách an ninh công của mình ra ngoài lãnh thổ để triển khai các biện pháp của Trung Quốc về an ninh nội địa (người nước ngoài, bất đồng chính kiến, các vấn đề liên quan đến Hồng Kông và Đài Loan) trên phạm vi toàn cầu. Bắc Kinh cho thiết lập các đồn cảnh sát phi chính thức ở nước ngoài, và tìm cách cưỡng chế hồi hương một số công dân của mình. Việc đe dọa, răn đe và dẫn độ cưỡng bức công dân Trung Quốc ở nước ngoài đặt ra một thách thức đáng kể đối với các nền dân chủ châu Âu.
Theo quan sát của Mathieu Duchâtel, khi nói đến « lợi ích », Trung Quốc đã đề ra một phạm vi áp dụng nguyên tắc ngoài lãnh thổ rất rộng, vượt ngoài phạm vi an ninh quốc gia. « Điều cần hiểu là mọi biện pháp mà Trung Quốc thực hiện để giảm thiểu tính chất dễ bị tấn công trước nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ đều có thể được sử dụng để tấn công và cưỡng chế. Điểm khác biệt trong cách tiếp cận của Trung Quốc và cụ thể là Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong văn hóa chiến lược của mình, thực sự có ý tưởng về chiến tranh thông qua luật pháp.
Điều này được thể hiện trong các vấn đề không chỉ thuần túy về kinh tế, mà cả trong tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc có cả một chiến lược sử dụng luật pháp để củng cố hay hợp pháp hóa các lập trường của mình. Trên thực tế, Bắc Kinh có một đường hướng chỉ đạo chung, đi từ các vấn đề lãnh thổ đến các hồ sơ kinh tế và địa kinh tế. »
« Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết »Được trang bị cả một kho vũ khí pháp lý, Trung Quốc kể từ giờ không chỉ có thể đáp trả với các biện pháp ngoài lãnh thổ của Mỹ như lập danh sách đen các cá nhân, thực thể hay doanh nghiệp, mà còn có thể kiểm soát điểm đến cuối cùng của nhiều mặt hàng xuất khẩu giống như những gì Washington đã thực hiện từ nhiều thập niên thông qua một số luật, trong đó, đáng chú ý nhất là luật I-TAR, kiểm soát xuất khẩu vũ khí và luồng lưu thông trang thiết bị quân sự Mỹ.
Vị giám đốc nghiên cứu quốc tế Viện Montaigne, trên đài France 24 nhắc lại : « Trung Quốc có luật kiểm soát xuất khẩu từ năm 2021, có hiệu lực từ năm 2025. Nhưng Trung Quốc đã thực hiện kiểm soát xuất khẩu đối với các nguyên vật liệu quan trọng mà họ chiếm ưu thế mà không có lý do pháp lý chính đáng. » Đây là những gì xảy ra đối với đất hiếm, một vũ khí chiến lược lợi hại mà Bắc Kinh giờ không ngần ngại sử dụng để đối đầu với Washington. Danh sách đất hiếm bị cấm xuất khẩu đang liên tục được mở rộng, đặc biệt là đối với gali và germani, những nguyên tố thiết yếu trong lĩnh vực bán dẫn.
Không những có khả năng phòng thủ, tấn công, và Bắc Kinh giờ còn có thể ngăn cấm các doanh nghiệp tuân thủ các trừng phạt của phương Tây. Kể từ năm 2021, Trung Quốc đã củng cố một đạo luật gồm 15 điều khoản để chống lại việc áp dụng các biện pháp ngoài lãnh thổ của Mỹ và Châu Âu trên lãnh thổ Trung Quốc. Tuy nhiên, phải đợi đến ngày 02/05/2026, Bắc Kinh lần đầu tiên sử dụng đến « luật ngăn chặn » hay luật chống trừng phạt nước ngoài, cấm các doanh nghiệp Trung Quốc tuân thủ lệnh trừng phạt do Washington áp đặt vào cuối tháng 4/2026 nhằm vào năm nhà máy lọc dầu Trung Quốc với cáo buộc những hãng này đã mua dầu của Iran đang bị Hoa Kỳ cấm vận.
Trong cuộc đọ sức Mỹ - Trung này, theo ông Mathieu Duchâtel, Châu Âu hiển nhiên rơi một kịch bản tồi tệ, theo đó, « một doanh nghiệp châu Âu vừa phải tuân thủ các quy định ngoài lãnh thổ của Mỹ, nhưng để đáp lại sự tuân thủ này, họ phải đối mặt với các yêu cầu trái ngược từ Trung Quốc. » Cũng theo vị chuyên gia, châu Âu hiện cam kết bảo đảm an ninh kinh tế và gần đây cũng đề ra « luật ngăn chặn ». Nhưng giữa luật ngoài lãnh thổ của Mỹ, và luật ngăn chặn cũng như ngoài lãnh thổ của Trung Quốc, liệu rằng « luật ngăn chặn » của châu Âu có đủ sức để đương đầu với hai ông khổng lồ thương mại ?
Hơn một tuần sau thắng lợi bầu cử của Abelardo de la Espriella tại Colombia (21/06/2026), đến lượt Keiko Fujimori, con gái của nhà độc tài Alberto Fujimori, được loan báo về đầu trong cuộc bầu cử tổng thống Peru ngày 07/06/2026. Chỉ trong vòng 18 tháng, các ứng cử viên liên minh hoặc liên kết với Donald Trump thắng cử tổng thống hay lập pháp tại bảy nước châu Mỹ La-tinh.
Bước đột phá ngoạn mục của phe theo chủ nghĩa dân tộc – dân túy dường như đã mang đến cho Donald Trump một thắng lợi trong chính sách của ông tại khu vực.
Sự dịch chuyển này đã bắt đầu từ năm 2019, với thắng lợi bầu cử của Nayib Bukele tại Salvador, rồi như một hiệu ứng đô-mi-nô, phe cực hữu trong những năm gần đây lần lượt giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử lập pháp và tổng thống tại các nước Achentina, Bolivia, Chilê, Costa Rica, Ecuador, Honduras, Panama và gần đây nhất là Colombia và Peru.
Tình trạng mất an ninh, bài di dân : Những điểm chungSau « làn sóng mầu hồng » trong những năm đầu thập niên 2020, ngoại trừ Uruguay, hầu như toàn bộ các cuộc bầu cử ở khu vực châu Mỹ Latinh những năm gần đây đều có lợi cho cánh hữu hoặc các đảng cánh hữu cực đoan và tự do nhất. Bước đột phá bầu cử này, tuy bắt nguồn từ nhiều vấn đề quốc gia khác nhau nhưng theo quan sát của nhà chính trị học Gaspar Estrada, chuyên gia về Nam Bán Cầu, thuộc London School of Economics, vấn đề an ninh, chống các băng đảng tội phạm, di dân là những điểm chung trong các cuộc bầu cử gần đây.
Trên làn sóng RFI Pháp ngữ, ông giải thích : « Trong những tháng gần đây, vấn đề mất an ninh đã trở thành mối bận tâm hàng đầu ở khu vực châu Mỹ Latinh, và hầu hết các cuộc thăm dò dư luận trong khu vực đều xác nhận xu hướng trên. Điều này trái ngược hoàn toàn với một thập kỷ trước, khi tham nhũng là một chủ đề nổi bật hơn nhiều trong không gian công luận và là chủ đề trọng tâm trong các chiến dịch tranh cử. »
Anthony Pereira, một chuyên gia về nghiên cứu Châu Mỹ Latinh tại đại học Tulane ở Louisiana, chỉ ra rằng yếu tố đã dẫn đến sự sụp đổ của cánh tả tại Nam Mỹ là giá cả nguyên nhiên liệu. Trả lời kênh truyền hình France 24, ông giải thích :
« Khi giá cả cao, người ta có thể thực hiện các chương trình viện trợ, tăng lương và cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục. Số người sống trong nghèo đói giảm, và các phong trào tiến bộ giành được chỗ đứng trong khu vực. Nhưng khi không thể duy trì các chương trình này do giá cả giảm, thì sự lạc quan của những năm 2010 đã nhường chỗ cho sự thất vọng. Đồng thời, tội phạm có tổ chức ngày càng lớn mạnh và kiểm soát được toàn bộ các khu phố, thậm chí cả nhà tù. Và cử tri bắt đầu hưởng ứng nhiệt tình hơn đối với các ứng cử viên tự xưng là người chống lại giới cầm quyền. »
Không chỉ đối với cánh tả, sự trỗi dậy của làn sóng « cánh hữu cứng rắn » còn phản ánh một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong các chính đảng truyền thống mà Colombia là một ví dụ mới nhất, theo như phân tích của Mathilde Allain, chuyên gia về Nam Mỹ, giảng viên trường đại học Sorbonne Nouvelle, với France 24 : « Chúng ta đang chứng kiến sự sụp đổ của cánh hữu truyền thống Colombia, vốn không thể tìm được ứng cử viên nào xứng đáng. Lá phiếu dành cho Abelardo de la Espriella cũng là lá phiếu chống lại các chính đảng, chống lại giới tinh hoa và chống lại giới cầm quyền, như chúng ta đã thấy ở những nơi khác trên lục địa ».
Một trong những chìa khóa thành công của « cánh hữu cứng rắn » nằm ở chiến lược truyền thông. Hoạt động tích cực trên mạng xã hội, những ứng cử viên này phần lớn bỏ qua các kênh chính trị truyền thống bằng cách tập trung vào giao tiếp trực tiếp, được cá nhân hóa và thường mang tính khiêu khích, cực đoan, như ủng hộ xu hướng vãn hồi trật tự bằng vũ lực, thậm chí bằng quân sự để chống các băng đảng tội phạm, chống di dân bất hợp pháp, được cho là nguồn cội làm gia tăng tội phạm, hay bài sinh thái, chống các quyền của giới LGBT…
Donald Trump: Điểm kết nối lớnTuy nhiên, giữa các ứng viên cực hữu này, còn một điểm chung khác quan trọng hơn : Tất cả đều chia sẻ các quan điểm, giá trị với nước Mỹ thời Donald Trump và đều được ông Trump hậu thuẫn ! Đối với nhiều nhà quan sát, thắng lợi bầu cử của Abelardo de la Espriella tại Colombia và bà Keiko Fujimori ở Peru khẳng định xu thế « Trump hóa » ở châu Mỹ, đặc biệt là Nam Mỹ, với một kiểu liên minh quốc tế các đảng cánh hữu cực đoan đang được hình thành để cùng giải quyết một số vấn đề.
Thomas Posado, giảng viên về Văn minh châu Mỹ Latinh đương đại, trường đại học Rouen Normandie, trên trang Huffpost, phân tích : « Donald Trump chắc chắn là một trong những động lực thúc đẩy sự cực đoan hóa này. Đầu tháng 3 năm nay, ông đã triệu tập Liên minh "Lá chắn châu Mỹ", tập hợp tất cả các tổng thống cánh hữu và cực hữu của châu Mỹ Latinh, dẫn đến việc hình thành kiểu liên minh này, một liên minh trông giống như sự phục tùng hơn. Nói cách khác, họ đang cố gắng tận dụng thành công của Donald Trump. Họ đang cố gắng tận dụng triển vọng nhận được tài trợ từ Mỹ. »
Quả thật Nhà Trắng đã có sự can thiệp về ngoại giao chưa từng có vào các cuộc bầu cử ở châu Mỹ Latinh. Ông Donald Trump không ngần ngại khoe khoang rằng những thành công bầu cử đạt được là nhờ sự ủng hộ của ông. Tuy nhiên, theo các nhà quan sát, Donald Trump có xu hướng sử dụng kiểu ngoại giao dọa dẫm, cứng rắn hơn là mềm mỏng với các nước Nam Mỹ. Tại Achentina, ông đặt điều kiện viện trợ của Mỹ phụ thuộc vào chiến thắng của Javier Milei trong cuộc bầu cử lập pháp năm 2025 và đã ký kết thỏa thuận thương mại với đồng cấp Achentina sau thắng lợi bầu cử. Nhưng thỏa thuận này chủ yếu mang lại lợi ích cho nông dân Mỹ tại thị trường Achentina.
Nếu như liên minh này nhằm mục đích chống các băng đảng ma túy như được thể hiện tại kỳ họp thượng đỉnh « Lá chắn châu Mỹ », thì mục tiêu chính của ông Trump là Trung Quốc. Tại khu vực này, Bắc Kinh là đối tác thương mại hàng đầu và do vậy, nguyên thủ Mỹ đang nỗ lực hạn chế tầm ảnh hưởng này của Trung Quốc. Nước Mỹ của Donald Trump muốn giành lại chỗ đứng ở Nam Mỹ, và để đạt mục tiêu này, họ không ngần ngại sử dụng các biện pháp gây áp lực chính trị.
Học thuyết Donroe có duy trì được liên minh ?Theo Thomas Posado, đây chính là điểm hạn chế của liên minh của Hoa Kỳ với các nhà lãnh đạo cực hữu Nam Mỹ. « Ví dụ, vấn đề Trung Quốc ngay từ đầu đã là một cái gai trong mắt phe cực hữu ở châu Mỹ Latinh. Khi vận động tranh cử, những người như Bolsonaro hay Milei đều tuyên bố, "Không bao giờ nữa, đó là chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc, chúng ta sẽ không giao thương với họ."
Nhưng khi lên cầm quyền, họ nhận ra rằng đã tồn tại những mạng lưới thương mại vận hành hiệu quả, các doanh nghiệp cần giao dịch với Trung Quốc và có những cơ hội mà Hoa Kỳ không thể mang lại. Vì vậy, chúng ta sẽ phải chờ xem Hoa Kỳ có thể đảo ngược những động lực quyền lực này hay không. Hiện tại, bất chấp mọi tuyên bố về ý chí chính trị từ các nhà lãnh đạo cực hữu, vẫn chưa có thay đổi đáng kể nào trên mặt trận này. »
Học thuyết Donroe cũng vì thế mà ra đời. Trong nỗ lực giành lại ảnh hưởng, Donald Trump đã dùng lại học thuyết Monroe nhưng theo cách của ông. Học thuyết Monroe được đưa ra dưới thời tổng thống Theodore Roosevelt (1901-1909) nhằm loại trừ ảnh hưởng của châu Âu khỏi khu vực. Nhưng thay vì « giơ cao đánh khẽ » thì Donald Trump lại sử dụng biện pháp « đao to búa lớn » nhằm áp đặt thế bá quyền của Mỹ.
Theo « học thuyết Donroe » mới này, châu Mỹ Latinh phải trở lại là « sân sau » của Mỹ, hiện đang tìm cách chiếm đoạt các nguồn tài nguyên chiến lược như những gì đã diễn ra ở Venezuela. Trả lời trang HuffPost, nhà nghiên cứu về châu Mỹ Latinh, Thomas Posado, lưu ý, chiến lược này của chính quyền Trump là con dao hai lưỡi :
« Chúng ta đang chứng kiến một kiểu can thiệp quân sự được kỳ vọng sẽ bù đắp cho những điểm yếu về kinh tế. Canh bạc của Donald Trump khi quay trở lại một cách cưỡng ép với chủ nghĩa can thiệp của Mỹ có nguy cơ sẽ là một canh bạc tồi về lâu dài và thậm chí làm trầm trọng thêm đà suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong khu vực. Donald Trump rất có thể sử dụng vũ lực để buộc các nước Châu Mỹ Latinh phải giao thương với Mỹ, nhưng đó không phải là một kịch bản chắc chắn sẽ xảy ra ».
Trong trước mắt, Donald Trump đang ghi điểm khi có thêm nhiều đồng minh mới ở châu Mỹ Latinh. Nhưng mối liên kết này với Washington không hẳn là vững chắc như cho thấy. Không những Trung Quốc vẫn tiếp tục mở rộng các hoạt động kinh tế trên lục địa này, mà người dân châu Mỹ Latinh không hẳn đều ủng hộ liên minh đó. Chuyên gia về Nam Mỹ Thomas Posado cảnh báo: Việc phải sống dưới áp lực và đe dọa nhiều hơn là lợi ích kinh tế, về lâu dài, sẽ khiến người dân Nam Mỹ bất mãn, và làm đổ vỡ mối liên minh này.
Cuộc bầu cử tổng thống Brazil vào tháng 10/2026 sẽ là một phép thử quan trọng cho tương lai chính trị khu vực. Giới quan sát dự báo, đó sẽ là một cuộc đối đầu mạnh mẽ giữa một bên được cho là cánh tả đi theo đường lối của tổng thống đương nhiệm Lula Da Silva và bên kia là phe cực hữu, hiện diện đông đảo ở Brazil, ủng hộ cựu tổng thống Bolsonaro được Trump hậu thuẫn !
Ngày 17/06/2026, Trung Quốc thông báo một loạt các biện pháp mới nhằm thúc đẩy quốc tế hóa đồng nhân dân tệ. Bắc Kinh tiến thêm một bước trong một chiến lược lớn hơn hướng tới quốc tế hóa nhân dân tệ để giảm dần sự phụ thuộc vào đô la Mỹ, và xác lập một vị trí trong hệ thống thanh toán tài chính toàn cầu nhằm khẳng định vị thế của một cường quốc kinh tế, công nghệ và quân sự.
Cụ thể, Bắc Kinh cho phép sáu ngân hàng nhà nước, bao gồm cả Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc thực hiện các giao dịch bằng nhân dân tệ với nước ngoài tại vùng đặc quyền kinh tế Thượng Hải. Một kế hoạch hành động với ba thời điểm mốc là 2027, 2030 và 2035 cũng được công bố.
Ngoài ra, theo Reuters, Bắc Kinh loan báo thành lập một cơ chế mới có tên gọi FIMA RMB Repo, nhằm tạo thuận lợi cho các ngân hàng trung ương nước ngoài, các quỹ đầu tư quốc gia và các định chế tài chính quốc tế tiếp cận thanh khoản bằng nhân dân tệ, thông qua việc sử dụng trái phiếu Trung Quốc có xếp hạng tín nhiệm cao làm tài sản thế chấp để vay nhân dân tệ.
Phản đối thế thống trị của đô laGiới quan sát đánh giá đây là một bước tiến mới trong nỗ lực quốc tế hóa nhân dân tệ mà Bắc Kinh thực hiện từ hơn hai thập niên qua với một mục tiêu rất rõ ràng : Củng cố vai trò của đồng nhân dân tệ trong giao thương quốc tế và dự trữ ngoại hối, đồng thời giảm thiểu các rủi ro do sự phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 là một ví dụ điển hình, khiến Trung Quốc đặc biệt lo lắng, do quy mô danh mục đầu tư vào các trái phiếu Mỹ mà nước này nắm giữ.
Chuyên gia về châu Á,và kinh tế Trung Quốc, Philippe Aguigner, hiện giảng dạy tại trường INALCO, trong bài phân tích đăng trên trang mạng của Viện Montaigne, ngày 14/10/2025, lưu ý, từ khi cải cách kinh tế và tiền tệ năm 1979 cho đến khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001 và nhất là trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Trung Quốc « chỉ tập trung vào việc quản lý dòng vốn ra vào mà không tìm cách cạnh tranh với đô la cũng không muốn quốc tế hóa nhân dân tệ ».
Khủng hoảng xảy ra, Bắc Kinh tỏ thái độ không hài lòng đối với hệ thống tiền tệ lấy đô la làm trung tâm, theo như nhận xét của Barry Eichengreen, một nhà nghiên cứu về hệ thống tiền tệ quốc tế với nhật báo kinh tế Les Echos: « Thực ra từ năm 2009, Trung Quốc đã và đang thực hiện các bước nhằm thúc đẩy việc sử dụng rộng rãi hơn đồng tiền của mình trong các giao dịch xuyên biên giới. Trung Quốc nhận thấy những rủi ro của việc phụ thuộc vào đồng tiền của nước khác, cụ thể là phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ - đặc biệt trong bối cảnh chính sách kinh tế và đối ngoại của Mỹ trở nên khó đoán định. »
Cùng với thời gian, việc kinh tế Trung Quốc hội nhập sâu hơn vào thế giới đã làm thay đổi diện mạo. Thâm hụt mậu dịch của Mỹ với Trung Quốc ngày càng lớn, biến Bắc Kinh thành tâm điểm chỉ trích. Washington cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ để kích thích xuất khẩu. Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung đã gia tăng khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng năm 2017 và nhất là trong nhiệm kỳ II (bắt đầu vào năm 2025) với những cuộc chiến thuế quan.
Kiểm soát dòng vốn : Rào cản để quốc tế hóa đồng yuanĐối với Bắc Kinh, việc chính quyền Trump hiện nay hành động ngoài cơ chế đa phương, áp đặt tùy tiện các mức thuế quan, sử dụng các biện pháp trừng phạt tài chính và theo đuổi các chính sách ngân sách thiếu trách nhiệm, minh chứng rõ ràng cho những nguy cơ đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu mà Trung Quốc đã lên án từ lâu nay.
Từ góc nhìn này, Phan Công Thắng (Pan Gongsheng), thống đốc ngân hàng trung ương Trung Quốc, tại Diễn đàn Tài chính châu Á, tổ chức ở Thượng Hải vào tháng 6/2025 đã bày tỏ mong muốn tái cân bằng hệ thống tiền tệ quốc tế và công bố các mục tiêu của Bắc Kinh nhằm « đưa nhân dân tệ trở thành đồng tiền trụ cột chứ không phải thay thế đô la » điều mà dẫu sao « đồng nhân dân tệ hiện cũng chưa có khả năng thực hiện ».
Quan điểm này của Bắc Kinh đã được chủ tịch Tập Cận Bình, một lần nữa tái khẳng định trong bài viết đăng trên tạp chí Cầu Thị (Qiushi), cơ quan lý luận chủ chốt của đảng Cộng sản Trung Quốc, vào cuối tháng 01/2026 : « Điều gì làm nên một cường quốc tài chính ? Trước hết, quốc gia đó phải sở hữu một đồng tiền mạnh, được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế, đầu tư và trên các thị trường ngoại hối, đồng thời giữ vị thế là một đồng tiền dự trữ toàn cầu. »
Tuy nhiên, để đồng yuan có được một thế mạnh trên thế giới, Trung Quốc phải mở rộng cửa thị trường tài chính, cho đến hiện tại vẫn bị kiểm soát chặt chẽ. Nghĩa là, theo như giải thích từ nhà kinh tế học Eric Monnet, chuyên gia về tiền tệ, giáo sư trường Kinh tế Paris, với nhật báo kinh tế Les Echos, « phải là bất kỳ ai, khi nói "bất kỳ ai" tức là cả nhà đầu tư tư nhân lẫn nhà đầu tư công, đặc biệt là các ngân hàng trung ương lớn, đều có thể dễ dàng mua đồng tiền đó vào bất cứ lúc nào. Điều này có nghĩa là đã phải tồn tại các thị trường để thực hiện việc đó. Và bất kỳ nhà đầu tư nào cũng có thể mua đồng tiền đó ở bất kỳ đâu và thông thường cũng có thể bán lại mà không gặp nhiều khó khăn »,
Bài học kinh nghiệm 2015Nói một cách ngắn gọn : Một đồng tiền quốc tế là phải dễ mua, dễ bán và có một thị trường toàn cầu hoạt động liên tục. Đây chính là điểm mạnh của đồng đô la Mỹ, điều mà nhân dân tệ Trung Quốc vẫn thiếu. Bắc Kinh hiểu rõ các hạn chế : Công cụ hiệu quả nhất để đẩy mạnh đồng yuan là phải tự do hóa tài khoản vốn, nhưng nếu mở cửa, nguy cơ tháo chạy vốn là rất cao. Đó là những gì từng diễn ra vào năm 2015 khi Trung Quốc nới lỏng kiểm soát dòng vốn. Biện pháp này đã dẫn đến việc tháo chạy dòng vốn ồ ạt, gây thiệt hại cho Trung Quốc đến gần 1.000 tỷ đô la dự trữ ngoại hối, và cuối cùng phải quay trở lại với chính sách kiểm soát chặt chẽ.
Theo phân tích của nhà kinh tế học Eric Monnet : « Trung Quốc khá do dự khi thực hiện biện pháp này, bởi vì điều đó có nghĩa là các nhà đầu tư có thể mua nhưng cũng có thể bán nợ của Trung Quốc một cách tự do, và do vậy, chúng có thể gây áp lực lên chính phủ cũng như lên các khoản đầu tư tại Trung Quốc. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc phải chấp nhận rằng các quốc gia nước ngoài có thể nắm giữ những phần sở hữu lớn trong các doanh nghiệp, v.v… »
Dù nỗ lực muốn một đồng yuan mạnh và phổ biến trên thế giới, nhưng đối với Bắc Kinh, việc kiểm soát được dòng vốn còn là một lá chủ bài quan trọng cho nền kinh tế, cho phép giữ giá đồng yuan thấp so với các loại ngoại tệ khác, và như vậy, giúp hỗ trợ ngành xuất khẩu của Trung Quốc. Cho đến hiện tại Bắc Kinh tiến hành từng bước quốc tế hóa đồng yuan với các biện pháp có mục tiêu và đặt cược vào mô hình ít tự do hơn, phù hợp với cấu trúc nền kinh tế đất nước, bằng cách thực hiện các khoản vay song phương gắn liền với các giao dịch thương mại.
Nhà kinh tế học Eric Monnet giải thích tiếp : « Nghĩa là Ngân hàng Trung ương Trung Quốc chỉ cho một ngân hàng trung ương khác vay khi quốc gia đó cam kết mua hàng hóa Trung Quốc bằng đồng nhân dân tệ. Thực chất, chúng ta đang quay trở lại một cách nhìn về tiền tệ quốc tế hoàn toàn gắn với thương mại và ít dựa hơn vào sự thống trị của các thị trường tài chính. »
Bước cải cách hệ thống kinh tế - tài chính này được đưa ra vào một thời điểm khá thuận lợi cho Trung Quốc: Vị thế của đồng yuan trên trường quốc tế đang được củng cố. Trung Quốc chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Các nước như Nga, Iran đã bắt đầu giao dịch với Trung Quốc bằng đồng yuan thay vì đô la. Về phần mình, Bắc Kinh mua ngày càng nhiều dầu hỏa Trung Đông bằng nhân dân tệ.
Trung Quốc cũng đã phát triển hệ thống thanh toán quốc tế riêng để cạnh tranh với Swift, và một nền tảng trao đổi tiền kỹ thuật số mang tên M-Bridge. Tất cả nhằm tránh phụ thuộc vào hệ thống tiền tệ và tài chính gắn với đồng đô la. Vậy với chiến lược này, liệu đồng nhân dân tệ có thể thay thế đồng đô la?
Trong tương lai gần, đô la Mỹ vẫn là « vô đối ». Đô la không chỉ mạnh vì Mỹ là một nền kinh tế lớn mà vì cả hệ sinh thái tài chính toàn cầu : Dự trữ ngoại hối của đô la Mỹ chiếm 60% so với euro là 20% và nhân dân tệ chỉ có 2%. Phần lớn các giao dịch thương mại quốc tế được thực hiện bằng đô la Mỹ trong khi đồng yuan chỉ chiếm từ 3-4% trong thị trường thanh toán toàn cầu, dù rằng trong năm 2025, khoảng 30% giao dịch hàng hóa ở Trung Quốc được lập hóa đơn bằng nhân dân tệ theo các số liệu do Goldman Sachs công bố.
Ngoài ra, theo nhận định của chuyên gia châu Á Philippe Aguigner, quá trình quốc tế hóa đồng yuan diễn ra chậm còn vì quán tính của người sử dụng : Họ không có động lực để thay đổi hệ thống hay đồng tiền – trừ khi lợi ích của việc thay đổi là rất lớn. Thế nên, khi nhìn vào thống kê dự trữ ngoại hối, người ta nhận thấy chỉ khoảng một phần tư sự suy giảm của đồng đô la mang lại lợi ích cho nhân dân tệ.
Chuyên gia Philippe Aguigner, cảnh báo : « Hiện tại, vị thế thống trị của đồng đô la trong thương mại và với tư cách là đồng tiền dự trữ vẫn được củng cố vững chắc, và Trung Quốc gần như không có khả năng thay đổi điều đó. Tuy nhiên, chỉ cần Hoa Kỳ mắc một sai lầm chiến lược thì toàn bộ cục diện có thể bị đảo lộn. »
Cái tên Hezbollah một lần nữa trở thành tâm điểm của thời sự quốc tế khi tương lai hòa bình hay chiến tranh giữa Mỹ và Iran được quyết định một phần chủ yếu tại vùng biên giới Liban – Israel, nơi quân đội Israel đối đầu với lực lượng Hezbollah.
Từ eo biển Hormuz Vùng Vịnh đến sông Litani, miền nam LibanĐiều 1 của Thỏa thuận sơ bộ Mỹ - Iran 14 điểm yêu cầu đình chiến tại Liban, bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Liban, cũng có nghĩa là Israel phải rút khỏi các vùng đất đang kiểm soát tại đây. Teheran từng đe dọa đóng cửa trở lại eo biển Hormuz, nếu khu vực miền Nam Liban, cách đó 2.000 km, chưa im tiếng súng.
Cuối năm 2024, sau khi thủ lĩnh tối cao Hassan Nasrallah và hàng loạt lãnh đạo cao cấp của Hezbollah bị Israel hạ sát, lực lượng này tưởng như đang trên đường suy tàn. Cuộc chiến Mỹ - Israel chống Iran rút cuộc đưa Hezbollah trở lại tuyến đầu.
Hezbollah được biết đến vừa như một đảng chính trị của cộng đồng Hồi giáo theo hệ phái Shia tại Liban, nhưng đồng thời cũng là một tổ chức vũ trang, được mệnh danh là « một nhà nước trong nhà nước ». Hezbollah được một số cơ sở nghiên cứu xếp vào « lực lượng vũ trang phi nhà nước » lớn nhất khu vực. Lá cờ của tổ chức này nổi bật với cụm từ « Hezbollah », có nghĩa là « Đảng của Thượng Đế », với một cánh tay cầm khẩu súng trường AK-47, tượng trưng cho chủ trương tranh đấu vũ trang, chống lại các thế lực áp bức (xem thêm What Is Hezbollah?, Viện tư vấn Council on Foreign Policy).
Hezbollah, sản phẩm « made in 1982 » của chế độ Hồi giáo Iran?Hezbollah thường được coi là một tổ chức do chế độ thần quyền Iran lập ra, sau cuộc Cách mạng Hồi giáo 1979, để phục vụ các mục tiêu của Teheran. Tuy nhiên, đối với nhiều chuyên gia, quá trình ra đời của lực lượng này cho thấy mối quan hệ lâu đời giữa các cộng đồng Hồi giáo theo hệ phái Shia ở Liban với Iran. Trả lời RFI tiếng Việt, nhà báo Farid Fatemi, Ban tiếng Persan RFI, nhận định :
« Hezbollah là một sản phẩm, có thể nói là hệ quả trực tiếp của cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran. Vào thời điểm Cách mạng Iran nổ ra, người ta thường nói đến « xuất khẩu cách mạng ». Chế độ Iran đã nhanh chóng tận dụng những mối quan hệ lâu đời giữa giới giáo sĩ theo hệ phái Hồi giáo Shia Iran và cộng đồng Shia ở Liban, đặc biệt là ở miền nam Liban. Chẳng hạn, Iran đã cử các thành viên của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đến miền Nam Liban. Các giáo sĩ Iran cũng đến đó và bắt đầu tổ chức dần dần các nhóm Shia nhỏ lẻ. Cũng đã có những nhóm Shia nhỏ tồn tại từ trước. Họ hỗ trợ và tài trợ cho các nhóm này. Dần dần, những nhóm này hợp nhất lại và Hezbollah ra đời vào đầu thập niên 1980.»
Hai thập niên Israel chiếm đóng miền nam Liban và sự ra đời, lớn mạnh của HezbollahCho dù chế độ Hồi giáo Iran muốn xuất khẩu cách mạng, theo nhiều nhân chứng, Hezbollah sẽ không thể hình thành với hình thức như sau này, nếu không có việc Israel chiếm đóng miền nam Liban với mục tiêu thoạt tiên là để đánh đuổi các lực lượng Palestine lưu vong.
Nhiều thập niên sau, cựu thủ tướng Israel Ehud Barak thừa nhận: « Khi chúng tôi tiến vào Liban, Hezbollah chưa hề tồn tại. Chúng tôi đã được người Hồi giáo dòng Shia ở miền nam chào đón bằng cơm thơm và hoa. Chính sự hiện diện của chúng tôi tại đó đã tạo ra Hezbollah ». Nhận định trên đây được trích dẫn trong một bài viết của Matthew Levitt, chuyên gia chống khủng bố, từng làm việc cho FBI (Le Hezbollah au Liban : Concilier allégeance à l'Iran, militantisme panchiite et politique intérieure).
Hezbollah được thành lập trong thời kỳ hỗn loạn của cuộc Nội chiến Liban (1975–1990), nhưng chính cuộc chiếm đóng kéo dài của Israel tại miền nam Liban là giai đoạn mà Hezbollah nổi lên như một lực lượng chính trị lớn tại Liban, và tổ chức duy nhất được phép duy trì lực lượng vũ trang riêng tại Iran, theo Thỏa thuận Taif năm 1989, chấm dứt nội chiến. Nhà báo Farid Fatemi nhận định:
« Vì miền nam Liban bị Israel chiếm đóng, Hezbollah đã tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao chống lại Israel tại đây. Cuối cùng, sau gần 20 năm chiếm đóng, Israel buộc phải rút quân khỏi miền nam Liban vào năm 2000. Khi Israel rút đi, sự kiện này đã trở thành một chiến thắng vinh quang đối với Hezbollah. Họ tuyên bố: ''Chính chúng tôi đã kháng cự, buộc Israel phải rời đi. Không phải chính phủ Liban, mà là Hezbollah đã kháng cự và đuổi được Israel ra khỏi đất nước.'' Từ đầu những năm 2000, Hezbollah đã xây dựng được uy tín và dần dần trở thành một thể chế ở Liban. Đó không chỉ là một lực lượng quân sự, mà còn là một lực lượng chính trị. »
« Trục kháng chiến » : Sức mạnh quân sự của một thành phần chủ chốtSức mạnh quân sự của Hezbollah không chỉ áp đảo quân đội Liban. Cho đến trước cuộc chiến tranh 2023-2024 với Israel, tổ chức này được coi là sở hữu kho tên lửa từ 100.000 đến 130.000 trái, có thể tấn công mọi vị trí tại Israel, và được xem như có thể tạo ra sức mạnh răn đe đáng kể khiến Israel phải dè chừng (theo nhà nghiên cứu Jean-Loup Samaan). Lực lượng vũ trang của Hezbollah bao gồm khoảng 25.000 tay súng thường trực, cùng với khoảng 20.000 quân dự bị (theo tài liệu tổng hợp của Trường Quân sự Paris, « L’axe de la résistance », l’expansionnisme régional iranien, Trung tâm Tài liệu của Trường Quân sự Paris, 2021).
Trên thực tế, theo nhiều nhà quan sát phương Tây, sức mạnh quân sự chủ yếu của Hezbollah nằm ở chỗ lực lượng này được coi là một bộ phận chủ chốt trong số các lực lượng ủy nhiệm của Iran ở nước ngoài, được đặt dưới sự điều hành trực tiếp của lực lượng al-Qods của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran. Al-Qods với khoảng 15.000 người, là lực lượng điều phối của nhiều nhóm vũ trang từ bờ đông Địa Trung Hải (bao gồm Liban) đến bán đảo Ả Rập, và Afghanistan, Pakistan và khu vực Trung Á, để thực hiện các mục tiêu của Teheran. Đây là liên minh thường được gọi là « Trục Kháng chiến », mà Iran chủ trương để chống lại các tham vọng của Mỹ và Israel.
« Wilāyat al-faqīh » và sự thống trị của Iran trong thế giới Hồi giáo ShiaTrong liên minh dưới sự chỉ đạo của Iran, học thuyết Velayat-e Faqih dành cho giới giáo sĩ tiếng nói quyết định đã là nguyên tắc cho phép khẳng định sự trung thành của Hezbollah với Giáo chủ tối cao Iran, được xem như người có uy tín tuyệt đối với đông đảo tín đồ Hồi giáo Shia tại Liban. Đây được coi là lý do chính khiến Hezbollah là lực lượng đầu tiên tham chiến chống lại Israel, sau khi Mỹ và Israel tiến hành chiến dịch quân sự hạ sát giáo chủ tối cao Khamenei. Nhà báo Farid Fatemi cho biết :
« Học thuyết Velayat-e Faqih đã tái sử dụng khái niệm chống Mỹ và chống « chủ nghĩa Zion », tức chủ nghĩa phục quốc Do Thái, để tăng cường ý thức hệ, đem lại sắc thái tôn giáo cho các tư tưởng này, và giúp các tư tưởng này thâm nhập vào cộng đồng người Shia Liban. Học thuyết này ban đầu mang ý nghĩa thuần túy tôn giáo, nhưng mất dần ý nghĩa tôn giáo sau đó. Để so sánh, điều này cũng tương tự như khái niệm « chuyên chính vô sản », sau đó mất hoàn toàn ý nghĩa và chỉ còn là công cụ để khẳng định chế độ độc tài, như chế độ của Stalin chẳng hạn. Đặc biệt, khi Hiến pháp Iran thêm từ ''tuyệt đối'' vào học thuyết Velayat-e Faqih, điều đó có nghĩa là giáo chủ tối cao có thể làm bất cứ điều gì mà họ muốn. Hezbollah cũng cố gắng làm điều tương tự ở Liban. »
Học thuyết Velayat-e Faqih và các diễn ngôn Hồi giáo Shia của nhánh 12 imam tử đạo đã được Hezbollah sử dụng hiệu quả trong việc xây dựng một cộng đồng xã hội được tổ chức chặt chẽ tại Liban, khiến cho mọi nỗ lực loại trừ lực lượng này từ phía chính quyền trung ương chắc chắn sẽ dẫn đến nội chiến. Nhà báo Farid Fatemi giải thích:
« Hezbollah cũng có một lãnh tụ tôn giáo, người cố gắng trở thành lãnh tụ tối cao. Tuy nhiên, Liban là một quốc gia đa văn hóa với nhiều cộng đồng thiểu số. Vì vậy trên thực tế, Hezbollah chỉ áp dụng học thuyết này trong cộng đồng người Shia ở Liban. Bên ngoài cộng đồng đó, người dân không muốn nghe đến khái niệm kiểu này. Nhưng bên trong cộng đồng Shia, nơi đã có một niềm tin sâu sắc và tâm lý tuân phục đối với giới giáo sĩ, họ đã bổ sung học thuyết này để xác lập một khuôn khổ xã hội mang tính chính trị nhiều hơn, và dĩ nhiên là với mức độ tổ chức cao hơn. Dần dần từ đó mà xây dựng một cấu trúc về mặt hành chính, tài chính và chính trị, sau khi đã khẳng định được sức mạnh về mặt quân sự. Học thuyết Velayat-e Faqih chỉ là một phần của các diễn ngôn của hệ phái Hồi giáo Shia rộng hơn, bao gồm khái niệm về ''thánh chiến'', về ''chiến tranh chống chủ nghĩa Phục quốc Do Thái'', và tinh thần hy sinh tử vì đạo, mà Hezbollah thường xuyên sử dụng. »
An ninh miền nam Liban: Những bài học của nửa thế kỉ quaSự sụp đổ của chế độ Assad tại Syria, một đồng minh quan trọng của Hamas, và đòn chí mạng đối với Hezbollah cuối năm 2024 dường như đẩy lực lượng vũ trang phi nhà nước hùng hậu này vào thế suy yếu, khó gượng dậy. Tuy nhiên can thiệp quân sự Mỹ - Israel chống Iran, và việc chính quyền Trump phải chấp nhận ký kết một thỏa thuận sơ bộ với Iran, được cho là mang lại nhiều lợi thế cho Teheran, cũng đặt Hezbollah trở lại như một thế lực đối trọng với Israel tại miền nam Liban.
An ninh tại vùng biên giới Israel – Liban một lần nữa trở thành yếu tố hàng đầu quyết định sự ổn định tại khu vực Trung Đông. Hiện tại Mỹ và Iran đang đàm phán cho một thỏa thuận hòa bình, nhưng một khi hòa bình chưa trở lại tại miền nam Liban, thì cũng rất khó nói đến hòa bình khu vực. Những đối đầu hiện tại nhắc đến tình hình của nửa thế kỷ trước khi tổ chức Hezbollah hình thành trong bối cảnh Israel chiếm lĩnh miền nam Liban. Những bài học của nửa thế kỉ qua liệu có thể giúp gì cho các giải pháp của ngày hôm nay ?
Ngày 14/06/2026, Hoa Kỳ và Iran thông qua trung gian hòa giải Pakistan sau thông báo đạt đồng thuận chấm dứt chiến tranh Trung Đông. Hôm qua, 17/06, nguyên thủ Mỹ và Iran đã ký văn bản này. Bộ Ngoại Giao Thụy Sĩ hôm nay 18/06, cho biết hai bên sẽ bắt đầu đàm phán việc thực thi thỏa thuận vào ngày mai, 19/06, tại Lucerne, Thụy sĩ.
Trả lời phỏng vấn của RFI Tiếng Việt, ngày 17/06, nhà nghiên cứu Didier Chaudet, chuyên gia địa chính trị về thế giới Ba Tư, Trung – Nam Á cho rằng vòng đàm phán sắp tới sẽ mang tính quyết định liên quan đến nhiều vấn đề. Cuộc chiến hơn 100 ngày chiến tranh giữa liên quân Mỹ - Israel và Iran đang làm chuyển dịch các thế cờ chiến lược ở Trung Đông và Nam Á.
----- ***** -----
RFI Tiếng Việt : Xin chào ông Didier Chaudet. Ông đánh giá như thế nào về thông báo thỏa thuận giữa Mỹ và Iran ? Đó là một thắng lợi của Iran, một sự sỉ nhục cho Mỹ hay một thất bại chiến lược của Israel ?
Didier Chaudet : Người ta nói rằng đó sẽ là một sự sỉ nhục đối với Hoa Kỳ hoặc một chiến thắng lớn cho Iran. Họ thường bỏ qua thực tế rằng, thực ra, Iran đã trải qua một cú sốc—một cú sốc đối với người dân, một cú sốc đối với nền kinh tế. Rồi còn có sự đoàn kết của người dân. Tất nhiên, có một mặt trận thống nhất, nhưng sự đau khổ là có thật, sự suy yếu là có thật.
Quả thật, Hoa Kỳ, bị sỉ nhục trong logic về quyền lực tuyệt đối của mình, có lẽ, hoặc đúng hơn, đã phải đối mặt với một thực tế nhất định. Trên thực tế, Trump đã rơi vào cái bẫy tương tự như W. Bush, tin rằng ông có thể tấn công mà không bị trừng phạt ở bên kia thế giới. Ông nghĩ Iran là Venezuela. Thực tế đã giáng cho ông ta một cú đánh mạnh. Ông ấy nghĩ rằng mình sẽ thắng cuộc rất nhanh chóng, rằng ông sẽ thực hiện một cuộc đảo chính như những gì đã làm với Maduro ở Venezuela.
Nhưng Iran không phải là châu Mỹ Latinh, và họ đã thích nghi cho phù hợp. Bởi vì khi chúng ta nói về sự sỉ nhục, chúng ta muốn nói rằng đó sẽ là một đòn giáng mạnh vào Hoa Kỳ. Điều này tương tự sau chiến tranh Irak, và sau khi Taliban trở lại Afghanistan. Xét cho cùng, chúng ta đang đối phó với một cường quốc có khả năng gây áp lực ở những nơi khác. Nước Mỹ dưới thời Trump dường như ngày càng quan tâm đến Cuba.
Người ta sẽ lại nói về thuế quan, bao gồm cả rượu vang Pháp. Chúng ta có nguy cơ sẽ nghe thêm về lợi ích lãnh thổ của Mỹ ở các khu vực khác, đặc biệt là ở châu Âu. Chúng ta phải cẩn thận không được đánh giá thấp khả năng phục hồi của người Mỹ, ngay cả sau những thất bại. Hơn nữa, chúng ta thực sự không thể nói ai thắng ai thua trong cuộc chiến này. Sau lệnh ngừng bắn 60 ngày, hiện tại, chúng ta hoàn toàn không biết mọi việc sẽ diễn biến như thế nào.
Cuộc chiến hơn 100 ngày giữa Mỹ và Iran đã có tác động ra sao đến vùng Trung Đông ?
Didier Chaudet : Tại khu vực Vịnh Ba Tư nói riêng, chúng ta đang thấy nhiều quốc gia nhận ra rằng năng lực bảo vệ và hỗ trợ từ phía Mỹ về quân sự – kể cả từ các đồng minh như Pháp hay Anh – trên thực tế là rất hạn chế. Nói cách khác, khi đối diện với một mối đe dọa thực sự, không phải Mỹ, Pháp hay Anh sẽ đứng ra bảo vệ Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Qatar, và càng không phải Ả Rập Xê Út.
Vì vậy, việc cho phép các căn cứ quân sự của Mỹ được thiết lập trong khu vực, với kỳ vọng rằng điều đó sẽ mang lại an ninh – đặc biệt là đối với Qatar và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất – ngày nay đã không còn giá trị như trước. Các quốc gia này đang xem xét lại cách thức bảo đảm an ninh của mình. Ả Rập Xê Út đã làm điều đó thông qua một thỏa thuận quốc phòng với Pakistan, một thỏa thuận thực chất, trong đó nếu một bên bị tấn công thì bên kia sẽ hỗ trợ phòng vệ.
Dĩ nhiên, vẫn có một mức độ diễn giải nhất định. Hiện nay, không thấy Ả Rập Xê Út tham chiến với Taliban, dù Pakistan đang xung đột với Taliban Afghanistan. Tuy vậy, các mối liên kết rất chặt chẽ đã được thiết lập, giúp Ả Rập Xê Út tăng cường khả năng tự vệ, đồng thời gửi một thông điệp tới Iran : nếu Iran quá hiếu chiến với Riyad, Pakistan sẽ đóng vai trò hậu thuẫn mạnh mẽ hơn trước. Về phía Qatar và Kuwait, người ta cũng nhận thấy một chính sách đi theo hướng này. Trong khi đó, UAE đã lựa chọn một hướng đi khác, dựa nhiều hơn vào Israel và phần nào vào Ấn Độ.
Nói cách khác, các nước này đang quay sang các tác nhân trong khu vực, đồng thời đa dạng hóa các mối quan hệ hỗ trợ để bảo vệ mình tốt hơn. Có lẽ, về lâu dài, logic chung sẽ là một chính sách đối ngoại đa hướng, thay vì phụ thuộc vào một « người bảo trợ » duy nhất; họ sẽ dựa vào nhiều lực lượng khác nhau trong quan hệ quốc tế.
Tôi cho rằng điểm chung giữa Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Qatar, Kuwait và Ả Rập Xê Út là họ sẽ ngày càng trông đợi vào ảnh hưởng của Trung Quốc trong việc mang lại hòa bình cho khu vực, dù điều này có thể diễn ra một cách kín đáo. Ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ được họ mong muốn, mà không nhất thiết gạt bỏ ảnh hưởng của Mỹ.
Một lần nữa, không nên đánh giá thấp siêu cường Mỹ chỉ vì nước này đã xử lý chưa tốt một số vấn đề trong cuộc chiến vừa qua. Nhưng chúng ta sẽ chứng kiến một dạng cân bằng : một bên là các cường quốc khu vực tham gia nhiều hơn như Pakistan, Israel, Ấn Độ và bên kia là sự hiện diện của các cường quốc lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, có thể thêm một phần từ Nga.
Ngược lại, đối với ảnh hưởng của châu Âu như Anh hay Pháp, thì vẫn còn là một dấu hỏi lớn. Tôi không tin rằng các nước châu Âu sẽ trở nên mạnh hơn trong khu vực này sau cuộc chiến.
Với việc giúp Hoa Kỳ và Iran đạt được thỏa thuận khung để bước vào vòng đàm phán mới, phải chăng Pakistan đã ghi một điểm quan trọng trên mặt trận ngoại giao ?
Didier Chaudet : Tại Nam Á, bên thắng lớn là Pakistan. Bởi vì, nước này đã tham gia vào tiến trình hòa bình, bởi vì họ có khả năng đối thoại với tất cả các bên, và trên thực tế, họ là tác nhân duy nhất có thể nói chuyện với mọi phía. Iran tin tưởng Pakistan và vẫn tiếp tục tin bởi vì Pakistan không có căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ, bởi vì họ tương đối độc lập, bởi vì họ từng có những căng thẳng với Mỹ trong quá khứ, và bởi vì họ là một cường quốc khu vực thực sự, chứ không phải một lực lượng yếu thế so với sức mạnh Mỹ hay các cường quốc phương Tây.
Về phía Mỹ, Washington cũng đặt niềm tin vào Pakistan, bởi vì Islamabad đã biết cách chứng minh, đặc biệt trong nhiệm kỳ thứ hai của chính quyền Trump, rằng Pakistan có thể hữu ích cho chính sách đối ngoại của Mỹ, trong lĩnh vực chống khủng bố, hay trong việc ổn định Trung Đông. Đồng thời, từ phía Islamabad cũng tồn tại một mong muốn thể hiện thiện chí với Nhà Trắng và chứng tỏ vai trò hữu ích của mình đối với sự ổn định của khu vực Trung Đông.
Do đó, Pakistan nổi lên với vị thế được nâng cao về mặt ngoại giao, đồng thời cũng có cơ hội cứu vãn tình hình kinh tế của mình, bởi nước này đã chịu tổn thất nặng nề do việc eo biển Hormuz bị đóng cửa.
Thắng lợi ngoại giao này của Pakistan cũng đã làm bộc lộ những sai lầm chiến lược của Ấn Độ, đối thủ của Islamabad, trong suốt cuộc chiến hơn 100 ngày ở Trung Đông ?
Didier Chaudet : Về phía Ấn Độ, chúng ta đang đối diện với một câu hỏi lớn thực sự, bởi vì Ấn Độ hiện đang ở một bước ngoặt. Trong những năm gần đây, nước này đã chấp nhận xích lại gần Mỹ rất nhiều và đã phải trả giá đáng kể. Đặc biệt, Ấn Độ đã đánh mất phần nào quan hệ thân thiện với Teheran, nhất là khi tiếp tục đứng về phía Mỹ và xích lại gần Israel.
Cần nhớ rằng ngay trước cuộc chiến giữa một bên là Israel và Mỹ, và bên kia là Iran, đã diễn ra chuyến thăm của thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tới Jerusalem, nhằm thể hiện mình như một đồng minh lớn của Israel. Điều này chắc chắn gây khó chịu cho Iran, trong khi nước này là đối tác then chốt của Ấn Độ nếu New Delhi muốn tránh Pakistan mà vẫn duy trì ảnh hưởng tại Nam Á, đến tận Trung Á và không gian hậu Xô Viết.
Do đó, đây là một tình thế khá đặc biệt, khi Ấn Độ bắt đầu nhận ra rằng họ đã liên kết quá chặt với Mỹ, và điều đó đã làm tổn hại đến quan hệ với Iran mà không nhận được lợi ích tương xứng. Ngay trước cuộc chiến, đã xuất hiện một số căng thẳng giữa Ấn Độ và Mỹ, trong đó Washington gây áp lực buộc New Delhi ngừng mua dầu của Nga. Ấn Độ chỉ có thể tiếp tục mua dầu Nga nhờ cuộc chiến tại Iran, nhưng khi cuộc chiến này dần kết thúc, áp lực từ phía Mỹ đối với vấn đề dầu mỏ Nga có nhiều khả năng quay trở lại với Ấn Độ.
Lúc này, Ấn Độ đứng trước một lựa chọn quan trọng : Liệu họ có tiếp tục chính sách liên kết chặt chẽ với Mỹ, hiện đang cho thấy những giới hạn, hay sẽ tìm kiếm một hướng đi khác ? Trong khoảng thời gian 60 ngày này, và có thể ngay sau đó, chúng ta sẽ thấy rõ hơn hướng đi mà Ấn Độ lựa chọn, tùy thuộc vào chính sách mà nước này quyết định theo đuổi.
RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về thế giới Ba Tư, Trung và Nam Á.
Ngày 11/06/2026, giải Vô địch Bóng đá Thế giới lần thứ 23 chính thức khai mạc tại ba nước đồng tổ chức là Canada, Hoa Kỳ và Mêhicô, với trận chung kết diễn ra tại New York ngày 19/07/2026. Giữa những tranh cãi về khâu tổ chức, các chỉ trích về chính sách nhập cư, hạn chế visa nhập cảnh và các căng thẳng địa chính trị, tổng thống Mỹ Donald Trump muốn biến kỳ World Cup 2026 thành một vũ đài, thể hiện quyền lực và tầm nhìn về quan hệ quốc tế của ông.
Đây là lần đầu tiên lễ hội bóng đá lớn nhất hành tinh, diễn ra mỗi bốn năm một lần, được ba nước đồng tổ chức. Sự kiện này khẳng định hơn nữa xu thế đồng tổ chức các cuộc tranh tài thể thao lớn bắt đầu từ mùa Euro 2008 tại Thụy Sĩ và Áo, Euro 2012 tại Ba Lan và Ukraina, và gần đây nhất là mùa Euro 2020, bị dời lại một năm do đại dịch Covid, diễn ra tại ít nhất 11 nước chủ nhà. Vào năm 2030, Cúp Bóng đá Thế giới sẽ diễn ra tại Tây ban Nha, Bồ Đào Nha và Maroc, với ba trận đấu khác ở Achentina, Paraguay và Uruguay.
Đồng tổ chức, đồng chia sẻ chi phí, nhưng cạnh tranh hình ảnh chủ nhàTrong phiên bản 2026, việc chọn Canada, Hoa Kỳ và Mêhicô, được FIFA thông qua vào năm 2018, và theo sáng kiến của cựu tổng thống Mỹ Barack Obama, phản ảnh mong muốn xây dựng một sự kiện bóng đá cấp châu lục quy mô lớn. Theo giải thích của Cyrille Bret, chuyên gia về quan hệ quốc tế, với trang The Conversation, mục tiêu đặt ra là nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh tế, theo đó, ba nước cùng chia sẻ chi phí tổ chức, dùng chung cơ sở hạ tầng và hạn chế việc xây dựng các công trình mới.
« Những khía cạnh này càng thêm quan trọng hơn khi đây sẽ là kỳ World Cup lớn nhất trong lịch sử : Lần đầu tiên có 48 đội tuyển tham gia vòng chung kết, thi đấu tổng cộng 104 trận. Bảy kỳ World Cup trước đó, kể từ kỳ tổ chức ở Pháp năm 1998, đều có 32 đội tham gia, đấu 64 trận. Con số này còn thấp hơn trước đó nữa, khi chỉ có 24 đội từ năm 1982 đến 1994 và chỉ có 16 đội trước giai đoạn này. Sự gia tăng này là đáng kể và có thể là chưa kết thúc, bởi vì FIFA đang xem xét mở rộng lên 64 đội ngay từ năm 2030. »
Tuy diễn ra tại ba nước, nhưng mọi sự chú ý chủ yếu đổ dồn vào Hoa Kỳ, bởi vì 78 trong số 104 trận tranh tài sẽ diễn ra trên lãnh thổ Mỹ, và do vậy Mỹ sẽ là nơi có mật độ phủ sóng truyền thông cao nhất. Trên phương diện xây dựng « thương hiệu quốc gia », đây thực sự là một lợi thế đáng kể. Cyrille Bret lưu ý, « trong vòng một tháng, các hình ảnh được phát sóng ra toàn thế giới chủ yếu sẽ giới thiệu các thành phố lớn của Mỹ. »
Nhưng để có được lợi thế này, nhà địa chính trị học về thể thao, Pascal Boniface, giám đốc Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), trong chương trình truyền hình của France 24, nhắc lại, đích thân Donald Trump, trong nhiệm kỳ I đã can thiệp « một cách thô bạo » trong quá trình bầu chọn ứng viên đăng cai World Cup : « Lần đầu tiên một tổng thống đe dọa trừng phạt những nước nào không bỏ phiếu cho Mỹ. Thông thường một tổng thống, một nguyên thủ quốc gia chỉ làm công tác quan hệ công chúng. Vì mỗi liên đoàn có một lá phiếu, và người ta biết ai bỏ phiếu cho ai, thế nên ông Trump đã đe dọa sẽ trừng phạt những nước nào bỏ phiếu cho Maroc, một ứng viên khác. Đây thực sự là một tiền lệ chưa từng có. »
Dù có ít trận đấu diễn ra trên lãnh thổ, nhưng Canada và Mêhicô cũng sẽ nỗ lực thể hiện tầm cỡ của mình trong việc bảo đảm an ninh, giao thông và cơ sở hạ tầng. Chuyên gia Cyrille Bret cho rằng « hai nước còn lại có thể tạo sự khác biệt thông qua hình ảnh như giới thiệu thành phố chủ nhà, cảnh quang hay di sản của họ, những yếu tố vô cùng quý giá, góp phần xây dựng danh tiếng quốc tế, một thương hiệu quốc gia tiếng tăm ».
Cũng theo vị chuyên gia về quan hệ quốc tế, tuy đồng tổ chức nhưng còn có sự cạnh tranh về lòng hiếu khách. Các cổ động viên trên toàn thế giới sẽ so sánh cách tiếp đón tại mỗi nước. Liệu rằng nước Mỹ của Donald Trump với chủ trương « Nước Mỹ trên hết » có sẽ được đánh giá là nơi tiếp đón nồng nhiệt nhất so với hai quốc gia láng giềng hay không ?
Trump đăng cai World Cup nhưng hạn chế cổ động viên nhập cảnhVề điểm này, Hoa Kỳ có lẽ đang mất lợi thế trước hai đối thủ cạnh tranh là Canada và Mêhicô. Việc đăng cai một sự kiện thể thao lớn cho phép nước chủ nhà nhấn mạnh tầm quan trọng của một quốc gia. nhưng những căng thẳng chính trị nội bộ và các xung đột địa chính trị đang làm dấy lên nỗi lo cho một thảm họa thể thao to lớn.
Chính sách siết chặt nhập cư và hạn chế visa nhập cảnh của chính quyền Trump đang đi ngược lại với tinh thần của World Cup là mở cửa ra thế giới. Theo quan điểm của Cyrille Bret, đây chính là sự mâu thuẫn cốt lõi của chủ nghĩa Trump. Một mặt ông tìm cách thể hiện sự hiện diện toàn cầu của nước Mỹ, và mặt khác, ông chủ trương đóng cửa biên giới nghiêm ngặt, ngăn cản công dân các quốc gia có đủ điều kiện tham dự World Cup đến Mỹ cổ vũ cho đội nhà.
Trong một phóng sự của France 24, Boubacar Seye, chủ tịch hiệp hội Horizon sans Frontières, bảo vệ quyền người di cư Senegal, quốc gia nằm trong danh sách các nước bị hạn chế cấp visa, đã chỉ trích mạnh mẽ chính sách này của chính quyền Trump là khó hiểu : « Lễ hội đã bị phá hỏng rồi. Bởi vì không thể tổ chức World Cup mà không có người hâm mộ. Điều đó là chưa từng có tiền lệ. Senegal cần phản đối bằng con đường ngoại giao. Họ cần liên hệ với FIFA, họ cần liên hệ với các tổ chức nhân quyền. »
Chính sách cứng rắn này của Trump là hữu ích về mặt chính trị. Hình ảnh về sự kiên quyết bảo vệ biên giới vẫn được một bộ phận cử tri của ông ủng hộ. Cách đánh giá này cũng được Kevin Veyssière, chuyên gia địa chính trị thể thao, trả lời France 24 cùng chia sẻ : « Trên bình diện đối nội, ông sử dụng giải đấu để thách thức việc đăng cai các trận đấu của một số thành phố do đảng Dân Chủ điều hành và có bất đồng với chính sách của ông. Điều này là quan trọng bởi vì bầu cử giữa kỳ sẽ diễn ra vài tháng sau kỳ World Cup. Ông hy vọng rằng mùa bóng này sẽ là một lợi thế để giành thắng lợi bầu cử ».
Nước chủ nhà và nước dự giải trong chiến tranhMột ẩn số khác trong kỳ World Cup lần này là sự tham dự của Iran. Lần đầu tiên trong lịch sử bóng đá, nước chủ nhà và nước tham dự giải đấu trong tình trạng chiến tranh từ hơn ba tháng nay. Sự hiện diện của tuyển Iran trở thành một thách thức ngoại giao. Nhà địa chính trị về thể thao Pascal Boniface nhắc lại, trong quá khứ, vào năm 1998, khi Mỹ và Iran vào thời điểm đó cũng trong tình trạng chiến tranh, đã cho thế giới thấy một hình ảnh tích cực : « Vào năm 1998, hai đội đã chụp ảnh chung, và các cầu thủ Iran đã tặng hoa hồng trắng cho các cầu thủ Mỹ. Đó là thời kỳ xích lại gần nhau về mặt ngoại giao giữa Hoa Kỳ dưới thời Bill Clinton và Iran dưới thời Katami. »
Về phần mình, Cyrille Bret lưu ý : « Những cuộc tranh tài thể thao lớn không tạo ra những căng thẳng quốc tế nhưng chúng làm nổi rõ những vấn đề đó. Thể thức tham gia của Iran sẽ phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng quan hệ giữa Washington và Teheran vào thời điểm diễn ra giải đấu – một mối quan hệ biến động gần như hàng ngày.
Vấn đề này có thể trở thành, giống như một số vụ tẩy chay Olympic trong quá khứ, một công cụ để gây áp lực hoặc đàm phán. Người ta đã biết rằng đội tuyển Iran, theo nguyên tắc sẽ thi đấu các trận của họ trên lãnh thổ Hoa Kỳ, cuối cùng đóng trại tại Tijuana, Mêhicô, gần biên giới với Mỹ, và sẽ phải di chuyển đi về trong cùng một ngày. Nhưng World Cup chỉ đơn thuần là sự phản ánh của một động lực quyền lực đã tồn tại từ trước. »
Ở đây một lần nữa chính quyền Trump áp đặt luật chơi đối với một sự kiện thể thao lớn. Trả lời France 24 Kevin Veyssière cho rằng, « trên trường quốc tế, Hoa Kỳ rõ ràng không cần World Cup để củng cố quyền lực mềm. Nhưng Donald Trump muốn giải đấu này mang dấu ấn và tầm nhìn của ông về quan hệ quốc tế. Trong khi Nga vào năm 2018 và Qatar năm 2022 đã thể hiện sự cởi mở để tạo dựng hình ảnh tốt nhất có thể, thì rõ ràng Hoa Kỳ không như vậy. Donald Trump muốn thế giới thích nghi với Hoa Kỳ, chứ không phải ngược lại. »
Là một người cũng ưa thích thể thao, nhưng chủ yếu đam mê của ông là golf, đô vật và MMA, những môn thể thao nam tính và phù hợp với lập trường chính trị và thành phần cử tri của ông, bóng đá tại Mỹ, về mặt lịch sử là một môn thể thao cho nữ giới, nhưng Donald Trump trong các phát biểu, đang tìm cách biến đổi đất nước ông thành một vùng đất của bóng đá, không phải là vì niềm đam mê mà là vì những lợi ích chính trị.
FIFA : Một tổ chức phi chính trị ?Những điều này Trump có thể thực hiện đó là nhờ vào sự tiếp tay của FIFA, đặc biệt là chủ tịch hiện nay Gianni Infantino, người đang bị cáo buộc là có những hành vi tham nhũng. Về điểm này, Kevin Veyssière, có nhận định như sau :
« Nhìn vào lịch sử của giải đấu, từ kỳ World Cup 1934 dưới thời Mussolini đến kỳ World Cup 2022 tại Qatar, FIFA chưa bao giờ đóng vai trò trung gian hòa giải đối với nước chủ nhà. Chưa bao giờ có mối quan hệ phi chính trị giữa cơ quan quản lý và nhà tổ chức, mà chỉ là mối quan hệ đối tác.
Dưới thời Gianni Infantino (chủ tịch FIFA từ năm 2016), chúng ta thậm chí còn chứng kiến những mối quan hệ rất cá nhân phát triển giữa ông và các nguyên thủ quốc gia của các nước chủ nhà. Với Donald Trump, điều này đạt đến đỉnh điểm, lên đến việc trao tặng giải thưởng Hòa bình FIFA đầy phi lý trong lễ bốc thăm vào tháng 12 năm 2025. Một giải thưởng thực sự phi lý, nếu xét đến các chính sách của Trump vào đầu năm, từ vụ bắt cóc Nicolás Maduro ở Venezuela đến các cuộc tấn công chống lại Iran.
Chúng ta thường nói về tình bạn thân thiết giữa Trump và Infantino, nhưng không có chuyện tình cảm lãng mạn. Chủ yếu đó là cuộc đấu tranh quyền lực. Cả hai đều có chung thế giới quan. Infantino phô trương quyền lực : ông đang ở nhiệm kỳ thứ tư, hiện đã tái đắc cử mà không cần bỏ phiếu tán thành, và không có cơ chế kiểm soát hay cân bằng nào tại FIFA. Và ông không bị thách thức vì doanh thu của tổ chức này tiếp tục tăng trưởng. »
Một quan điểm cũng được nhà phân tích quan hệ quốc tế, Cyrille Bret, đồng chia sẻ với trang The Conversation, khi cho rằng điều này là không có gì mới mẻ. « Các tổ chức thể thao lớn luôn vun đắp các mối quan hệ mập mờ với quyền lực chính trị (…) Lập luận của họ trước hết là về kinh tế. Các cuộc tranh tài quốc tế đã trở thành những sản phẩm toàn cầu cho phép tài trợ một phần thể thao chuyên nghiệp ».
Đầu năm 2026, nhiều thúc đẩy từ phía Nga cũng như nội bộ chính giới châu Âu để Liên Âu trực tiếp đối thoại với điện Kremlin nhằm tìm ra giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh Nga – Ukraina, kéo dài từ hơn 4 năm nay.
Đầu tháng 6, trước thềm thượng đỉnh của khối 27 nước ngày 18-19/06/2026, theo một số thông tin báo chí, giới lãnh đạo châu Âu có thể đề nghị với Nga « một thỏa thuận ngừng bắn », như một điều kiện tiên quyết trước khi bước vào đàm phán chính thức.
***
Việc khối 27 nước tìm lập trường thống nhất để đối thoại trực tiếp với Nga là một diễn biến mới, và đáng được khích lệ, trong bối cảnh cho đến nay, « Liên Hiệp Châu Âu gánh vác một phần chủ yếu và ngày càng lớn cái giá về kinh tế, tài chính cũng như về chính trị của cuộc xung đột này, nhưng lại bị gạt ra bên lề trong các cuộc đàm phán quan trọng » (Le Diplomat). Thống nhất lập trường, duy trì áp lực để buộc Nga có giải pháp chấm dứt chiến tranh là điều cần thiết, tuy nhiên, nhiều chuyên gia hàng đầu cảnh báo, một thỏa thuận ngừng bắn vội vàng với Nga là lợi bất cập hại.
« Trên thực tế, một thỏa thuận ngừng bắn vội vàng hoặc được thiết kế kém có thể khiến việc đạt được một giải pháp lâu dài trở nên khó khăn hơn », theo nhận định của chuyên gia Trung tâm tư vấn độc lập Chatham House, thuộc Royal Institute of International Affairs, có trụ sở tại Luân Đôn (bài « Một thỏa thuận ngừng bắn giữa Nga và Ukraina có thể gây nguy hiểm cho an ninh của Ukraine và châu Âu như thế nào? » của ông Simon Smith, đồng tác giả, đồng phụ trách chương trình nghiên cứu về khu vực Á – Âu và Nga).
Nhận định của chuyên gia Chatham House ngụ ý nhắc đến vết xe đổ của hai thỏa thuận ngừng bắn Minsk I và Minsk II, được xác lập hồi 2014-2015, rút cục đã bị nhiều người coi như một « thất bại của ngoại giao châu Âu », tạo điều kiện cho Nga tiếp tục lấn tới bảy năm sau đó, với cuộc xâm lăng trên quy mô lớn, kéo dài cho đến nay.
Thỏa thuận Minsk I và Minsk II cụ thể ra sao ?Các thỏa thuận, được ký kết tại Minsk, thủ đô Belarus, trong hai đợt, tháng 9/2014 (tên chính thức là Nghị định thư Minsk, thường được gọi là Thỏa thuận Minsk I), và tháng 2/2015 (« Gói biện pháp nhằm thực thi các Thỏa thuận Minsk », thường gọi là Thỏa thuận Minsk II), có mục tiêu hướng đến chấm dứt xung đột ở miền đông Ukraina. Ký kết hai thỏa thuận này là các thành viên của nhóm tiếp xúc ba bên, bao gồm các đại diện của Nga và Ukraina, cùng đại diện của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu - OSCE.
Thỏa thuận sau đó được các lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn ký kết. Các thỏa thuận này bao gồm 13 điểm: ngoài lệnh ngừng bắn, là việc rút vũ khí hạng nặng ra xa đường chiến tuyến, trao đổi tù nhân và con tin. Các thỏa thuận cũng quy định cải cách hiến pháp ở Ukraina để ban hành quy chế đặc biệt của hai vùng lãnh thổ, chiếm một phần của hai tỉnh Luhansk và Donetsk, do phe ly khai kiểm soát.
Hai thỏa thuận này là kết quả các vận động ngoại giao của tổng thống Pháp François Hollande và thủ tướng Đức Angela Merkel, phối hợp với tổng thống Nga Vladimir Putin và đương kim tổng thống Ukraina Petro Poroshenko. Sự kết hợp của Bộ Tứ này thường được gọi là « Công thức Normadie », do bắt nguồn từ cuộc gặp không chính thức giữa lãnh đạo bốn nước tại lâu đài Château de Bénouville (Calvados), vùng Normandie - Pháp, bên lề lễ kỷ niệm 70 năm ngày đồng minh đổ bộ trong Thế chiến Hai, vài tháng sau khi chiến tranh bùng nổ ở Donbass.
Ít ngày sau khi Thỏa thuận Minsk II được đúc kết, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã ra một nghị quyết, yêu cầu các bên tôn trọng Thỏa thuận này, nhưng không mang tính cưỡng chế.
Vì sao các thỏa thuận Minsk bị coi là nguy hại cho Ukraina ?Đằng sau các biện pháp có vẻ rất bài bản như trên là một thực tế hoàn toàn khác. Viện Nghiên cứu Chiến tranh ISW, có trụ sở Washington, trong một bài phân tích về « Những bài học rút ra từ Thỏa thuận Minsk » (Lessons of the Minsk Deal), nhận định hệ quả nói chung của các Thỏa thuận Minsk này là đã không mang lại nền hòa bình lâu dài mà chủ yếu giúp Nga có thời gian tái tổ chức lực lượng, tăng cường hậu thuẫn phe ly khai, chấp nhận « đóng băng chiến sự », củng cố nền kinh tế chiến tranh để chuẩn bị cho cuộc tấn công trong tương lai. Chuyên gia Viện Nghiên cứu Chiến tranh Mỹ nhấn mạnh, một thỏa thuận ngừng bắn mới được đưa ra nhanh chóng, vội vã và thiếu bảo đảm có thể lặp lại mô hình của các thỏa thuận Minsk, cho phép Nga phục hồi sức mạnh, thay vì buộc Matxcơva phải thay đổi các tính toán chiến lược.
Chuyên gia chính trị quốc tế Kristian Åtland, người Na Uy, tác giả nhiều khảo cứu về các thỏa thuận Minsk, nhấn mạnh là các thỏa thuận này là hoàn toàn « không hiệu quả », « không công bằng », « không bền vững », Ukraina đã bị buộc phải chấp nhận trong bối cảnh lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn đẩy quân đội Ukraina vào chân tường tại vùng Donbass (« War, diplomacy, and more war: why did the Minsk agreements fail? », Springer, 2024). Vị chuyên gia này cũng là tác giả bài « Đàm phán ngừng bắn Nga-Ukraina: Những bài học từ Tiến trình thất bại của các thỏa thuận Minsk » (2025).
Đàm phán bên họng súng : Hàng nghìn binh sĩ Ukraina bị bao vây, Putin báo động nguy cơ thảm sátHai thỏa thuận được ký kết đúng vào thời điểm hàng nghìn binh sĩ Ukraina bị vây hãm tại Ilovaisk (từ ngày 7/8 đến ngày 2/9/2014) và Debaltseve (từ 14/01 đến 20/02/2015). Nhà ngoại giao Pháp Jacques Audibert, cố vấn của tổng thống Hollande, người có mặt trực tiếp trong các đàm phán dẫn đến hai thỏa thuận nói trên, cho biết cụ thể:
« Tình hình càng trở nên căng thẳng hơn, bởi rõ ràng là ông Putin đã cố tình kích động. Tuyên bố đầu tiên của ông ấy trong cuộc đàm phán này là: ‘‘Tôi xin lỗi, có 8.000 binh sĩ bị mắc kẹt trong vòng vây ở Debaltseve. Bao vây họ là các lực lượng pháo binh của quân ly khai mà tôi không thể kiểm soát được. Tôi không thể làm gì được ! Vì tôi là người Nga mà ! Tất cả những binh sĩ này đều có nguy cơ bị thảm sát, nếu chúng ta không đạt được thỏa thuận tối hôm nay." Đó là bầu không khí mở đầu cuộc đàm phán kéo dài 16 giờ. Rõ ràng khi bạn bị đặt vào trong tình huống căng thẳng và hoàn toàn khác biệt như thế này, khi ai đó nói thẳng với bạn rằng, có thể có hàng ngàn người chết, nếu đàm phán thất bại, bạn sẽ phải ở trong tâm trạng căng thẳng tột độ. Điều này đúng với tất cả mọi người, nhưng đặc biệt là với người Ukraina. »
Nga đã sử dụng việc leo thang quân sự có chủ đích để buộc Kiev chấp nhận các nhượng bộ lớn, trong bối cảnh Kiev cũng chịu áp lực nhiều từ các nước phương Tây ủng hộ tiến trình Minsk, để buộc phải ký kết các thỏa thuận này.
Hàng loạt điều bất khả: Ngôn từ mơ hồ, Kiev không được quyền kiểm soát biên giới…Ngoài chuyện ý đồ và mục tiêu của các bên, chuyên gia Na Uy Kristian Åtland nêu bật diễn đạt mơ hồ trong các thỏa thuận cũng là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc Thỏa thuận trở nên bất khả thi ngay từ đầu (« The vagueness and ambiguity of the language used in the Minsk agreements became an obstacle to the agreements’ implementation »). Các thỏa thuận nói trên không có giá trị pháp lý khi chỉ được ký kết bởi các đại diện cấp thấp, gồm cựu tổng thống Ukraina, Leonid Koutchma, đại sứ Nga tại Ukraina và đại diện của OSCE.
Không chỉ đến sau này, mà ngay vào lúc Thỏa thuận Minsk II được ký kết, truyền thông Pháp đã ghi nhận triển vọng thỏa thuận bất khả thi, đặc biệt với việc Ukraina sẽ chỉ được quyền kiểm soát hơn 400 km đường biên giới Ukraina – Nga, nằm giữa các khu vực ly khai ở Donbass và lãnh thổ Nga, một khi bầu cử địa phương ở các vùng ly khai được tổ chức, mà thời gian lại chưa được ấn định. Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu - OSCE cũng không có thẩm quyền gì với việc giám sát tình hình ở đường biên giới. Trong thời gian đó, không có gì ngăn cản Nga tiếp tục đưa binh sĩ và phương tiện quân sự vào các vùng đất của Ukraina, do phe ly khai kiểm soát.
Niềm tin vào Thỏa thuận Minsk và Putin: Ngay trước thềm cuộc xâm lăng 2022Ngay tại thời điểm đó, và giờ đây nhìn lại, các thỏa thuận Minsk đã được coi như là bình phong, một phương tiện câu giờ đối với cả hai bên. Không chỉ cho Nga có thêm thời gian để chuẩn bị cho cuộc xâm lăng lớn mà phía Ukraina cũng tạm thời tránh được các tổn thất lớn trong bối cảnh lực lượng vũ trang còn rất yếu.
Điều đáng nhấn mạnh là 7 năm sau, trước thềm cuộc xâm lăng quy mô lớn của Nga, ngày 24/02/2022, trong một bộ phận giới ngoại giao, học giả châu Âu, về mặt chính thức, các thỏa thuận Minsk vẫn được xem như là một cánh cửa dẫn đến hòa bình. Ngay cả một nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực này, như Tatiana Kastouéva-Jean, giám đốc Trung tâm Nga thuộc Viện Pháp về Quan hệ Quốc tế - Ifri, hai tuần trước cuộc tấn công của Nga (24/02/2022), vẫn đặt hy vọng vào việc thúc đẩy thực thi thỏa thuận Minsk, trong lúc tổng thống Pháp đang tiếp tục các vận động ngoại giao dồn dập, với hy vọng còn nước còn tát:
« Nước Pháp đang gánh vác một trách nhiệm đặc biệt vào thời điểm này. Thật vậy, Emmanuel Macron đang đưa tiếng nói của châu Âu trở lại vị trí hàng đầu, đặc biệt là về một khía cạnh: các thỏa thuận Minsk. Đây là những thỏa thuận được ký kết vào tháng 2/2015 với mục tiêu giải quyết tình hình ở miền đông Ukraina. Đó là một mảnh ghép trong bức tranh toàn cảnh đối đầu căng thẳng hiện tại, với việc Nga tăng cường quân đội áp sát biên giới, trước khi đưa ra các yêu sách rộng hơn liên quan đến an ninh châu Âu và trật tự của châu Âu nói chung, thời kỳ sau khi Liên Xô sụp đổ ».
Nhà nghiên cứu viện Ifri tin tưởng vào khả năng Nga có thể sẵn sàng cho một giải pháp ngoại giao :
« Chúng ta còn rất xa mới giải quyết được cuộc khủng hoảng. Nhưng với những diễn biến mới nhất này, tôi nghĩ chúng ta có thể mang lại thêm một chút hy vọng cho giải pháp ngoại giao. Tổng thống Putin đã để ngỏ cánh cửa thỏa hiệp. Ông ấy đã dành nhiều lời khen ngợi cho tổng thống Pháp Macron, cảm ơn ông ấy đã trở lại, đã đích thân đến, v.v. Trên thực tế, nếu chúng ta đang ở bên bờ vực chiến tranh, thì đây ắt không phải là kiểu hành vi mà chúng ta thấy ». (« Ukraina/Nga, một thỏa hiệp bất khả? », Tọa đàm với đài Pháp France Info, ngày 09/02/2022).
Kẻ xâm lăng được coi là người hòa giải: Nghệ thuật đàm phán của PutinMinsk I và Minsk II đã được điện Kremlin sử dụng hiệu quả để khẳng định tính chính đáng của Nga trong hồ sơ chiến tranh vùng Donbass của Ukraina. Tại châu Âu, có người còn mong muốn có thêm một Thỏa thuận Minsk III. Điều mà nhiều chuyên gia nhấn mạnh là ảo tưởng hòa bình nhờ có được thiện chí của Nga, đã từng khiến châu Âu mất phương hướng trong một thời gian dài, và có thể sẽ tiếp tục mắc bẫy.
Bà Céline Marangé, chuyên gia về Nga, Ukraina và Belarus, Viện nghiên cứu chiến lược IRSEM thuộc Trường Quân sự - Ecole militaire Paris, lưu ý đến việc tổng thống Nga đã thành công một cách ngoạn mục, khi thể hiện mình là một bên trung gian hòa giải trong các thỏa thuận Minsk :
« Tổng thống Nga coi các thỏa thuận Minsk II là một chiến thắng cá nhân của mình, một dấu hiệu cho thấy kỹ năng đàm phán và giành được những nhượng bộ từ các đối thủ. Trên thực tế, ông ta đã thành công đáng kể trong việc bảo đảm rằng các thỏa thuận không xác định bất kỳ nghĩa vụ rõ ràng nào đối với Matxcơva.
Vì vậy, theo một cách nào đó, Điện Kremlin có thể tự thể hiện mình không phải là một bên tham gia xung đột, như trên thực tế từ đầu đã luôn là như vậy. Nga thể hiện là một bên trung gian hòa giải trong một cuộc xung đột nội bộ ở nước láng giềng, do quản lý kém, giống như một người trung gian hòa giải đối với một cuộc nội chiến. Trong khi đó, trên thực tế, tình hình bất ổn đã được Matxcơva đạo diễn ngay từ đầu, và vũ khí hạng nặng mà phe ly khai có được rõ ràng là đến từ Nga. »
***
Nhiều chuyên gia khẩn thiết nhấn mạnh là, trong các đối thoại có thể diễn ra với điện Kremlin sắp tới, các lãnh đạo châu Âu cần kiên quyết duy trì lập trường, chỉ có thể chấp nhận một thỏa thuận đình chiến khi có được các đảm bảo vững chắc, các cơ chế thực thi rõ ràng, chặt chẽ, cùng với việc hậu thuẫn để Ukraina gia nhập các cấu trúc an ninh của châu Âu, để khiến cho mọi hành động gây hấn của Nga trong tương lai phải trả giá đắt. Chỉ có như vậy, châu Âu mới không bị rơi vào vết xe đổ của các thỏa thuận Minsk.
Tháng 5/2026, bộ Thống Nhất Hàn Quốc, với Sách Trắng Thống nhất, lần đầu tiên đưa ra quan điểm coi quan hệ giữa Seoul và Bình Nhưỡng là « quan hệ giữa hai Nhà nước ». Chính sách trên đây của Seoul được đưa ra trong bối cảnh Bắc Triều Tiên vừa sửa đổi Hiến pháp, từ bỏ mục tiêu thống nhất và phân định rõ lãnh thổ hai miền Nam - Bắc.
Theo nhiều nhà quan sát, Hàn Quốc đang bị đặt trước áp lực phải sửa đổi triệt để Hiến pháp để cải thiện quan hệ với chế độ Bắc Triều Tiên, trong bối cảnh mọi nỗ lực ngoại giao không mang lại kết quả, kể từ thất bại của thượng đỉnh Kim Jong Un – Donald Trump ở Hà Nội năm 2019.
***
Đã hơn bảy thập niên kể từ chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), đối với đông đảo người dân Hàn Quốc, hai miền Nam Bắc tuy thuộc về hai chế độ khác nhau nhưng vẫn là một nước. Chủ trương tái thống nhất hai miền cũng được ghi rõ trong Hiến pháp Đại Hàn Dân Quốc năm 1987. Đối với xã hội Bắc Triều Tiên, lý tưởng tái thống nhất nằm trong học thuyết chính thống của chế độ họ Kim.
Bắc Triều Tiên từ bỏ chủ thuyết tái thống nhất: « Một cuộc cách mạng »Việc chế độ Kim Jong Un chính thức sửa đổi Hiến pháp từ bỏ mục tiêu tái thống nhất, coi Hàn Quốc là một quốc gia nước ngoài, là một thay đổi triệt để, kết thúc chủ trương thống nhất hai miền, được chính quyền hai bên đồng thuận với Tuyên bố Chung Nam - Bắc ngày 04/07 năm 1972 (The July 4 South-North Joint Communiqué).
Theo điều 2 của Hiến pháp Bắc Triều Tiên, được sửa đổi hồi tháng 3/2026, « Lãnh thổ CHDCND Triều Tiên được xác định là vùng đất giáp với CHND Trung Hoa và Liên bang Nga ở phía bắc, và Cộng hòa Triều Tiên ở phía nam, bao gồm lãnh hải và không phận được thiết lập trên cơ sở này ». Mấy dòng chữ ngắn ngủi đang mang lại một đảo lộn. Trả lời trang mạng chuyên về Bắc Triều Tiên NK News, có trụ sở tại Seoul, chuyên gia về bán đảo Triều Tiên Andrei Lankov, Đại học Kookmin, Seoul, và giám đốc nhóm chuyên gia tư vấn về bán đảo Triều Tiên Korea Risk Group, coi đó gần như là « một cuộc cách mạng »:
« Bước đầu tiên là từ tháng 12/2023, Kim Jong-un bắt đầu thay đổi giọng điệu. Ông bắt đầu nói rằng việc thống nhất, ý tưởng về sự thống nhất, là một sai lầm. Tuyên bố này gần như là cách mạng, bởi vì nó làm suy yếu một phần tính chính danh của chính lãnh đạo Bắc Triều Tiên, vốn được thừa hưởng từ cha và ông nội mình, khi nói rằng sứ mệnh của họ đã thất bại, là sai lầm. Về cơ bản, ông nói rằng những gì mà họ từng tin tưởng là sai.
Trong một thời gian dài, lý tưởng thống nhất này được trình bày như một sự kiện hạnh phúc (happy event) sẽ giúp giải quyết mọi vấn đề của đất nước. Như thể đó là mục tiêu cuối cùng của lịch sử. Điều này đúng với ít nhất là ở Bắc Triều Tiên và cả ở Hàn Quốc nữa, dù ở mức độ thấp hơn. Cánh tả triệt để ở Hàn Quốc vốn rất ngưỡng mộ ý tưởng này. Họ thậm chí còn tạo ra một lý thuyết gọi là “hệ thống chia cắt” (theory of the divided system), theo đó mọi vấn đề của xã hội Hàn Quốc về cơ bản đều là các hậu quả của việc đất nước bị chia cắt.
Đột nhiên vào tháng 12/2023, Kim Jong-un tuyên bố rằng điều đó sẽ không xảy ra, rằng đó là một sai lầm. Xin nhấn mạnh rằng điều ấy cũng giống như việc nói với các tín đồ Thiên Chúa giáo rằng họ không nên chờ đợi ngày Chúa tái lâm nữa. »
Xóa sạch các biểu tượng hướng đến tái thống nhất tại Bắc Triều TiênSau tuyên bố tháng 12/2023 của lãnh đạo Bắc Triều Tiên, chế độ Bình Nhưỡng đã thực thi hàng loạt biện pháp nhằm khẳng định đoạn tuyệt với đồng thuận hai miền về tái thống nhất tồn tại từ hơn nửa thế kỷ. Ngày 15/01/2024, Kim Jong Un ra lệnh phá hủy tất cả các biểu tượng thống nhất liên Triều, bao gồm cắt đứt vĩnh viễn các tuyến đường sắt nối hai miền.
Ngày 22–23/1/2024, Cổng Thống nhất, tượng đài 30 mét cao ở Bình Nhưỡng tượng trưng cho nỗ lực thống nhất của hai thế hệ lãnh đạo Bắc Triều Tiên, được xây dựng năm 2001 dưới thời Kim Jong Il, bị phá hủy. Các tượng đài thống nhất khác trên toàn quốc bị phá hủy, các khẩu hiệu liên quan bị xóa bỏ. Kể từ đầu năm 2024, Bình Nhưỡng xóa bỏ các từ như « thống nhất », « hòa giải », « đồng bào » khỏi sách giáo khoa. Tháng 2/2025: Trung tâm đoàn tụ gia đình ở núi Kim Cang (Kumgang), nơi từng tổ chức các cuộc đoàn tụ cho hàng ngàn gia đình bị chia ly kể từ Chiến tranh Triều Tiên, bị phá hủy. Tháng 5/2025: Đại sảnh Thống nhất tại Bàn Môn Điếm (Panmunjom), nơi từng diễn ra các hội nghị thượng đỉnh liên Triều năm 2018, bị đổi tên.
« Tái thống nhất hòa bình » : Ảo ảnh đồng sàng dị mộngTrước khi chế độ Bắc Triều Tiên cắt đứt với chủ trương tái thống nhất, đối với nhiều chuyên gia, lý tưởng này một mặt quá xa rời với thực tế, nhưng mặt khác lại được coi là điều bắt rễ sâu trong cả hai xã hội miền Nam và miền Bắc. Chuyên gia về bán đảo Triều Tiên Andrei Lankov mô tả tình trạng mâu thuẫn cao độ khi tâm lý « tái thống nhất hòa bình » là ảo ảnh đồng sàng dị mộng :
« Bắc Triều Tiên, ngay từ khi thành lập, luôn xem mình là một phần của một quốc gia bị chia cắt. Lập trường chính thức của Bắc Triều Tiên luôn là chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là chính phủ hợp pháp duy nhất trên toàn bộ bán đảo Triều Tiên. Họ xem nhà nước, mà ta thường gọi là Hàn Quốc, chỉ là một phần lãnh thổ của nước Triều Tiên. Trong một thời gian dài, theo quan điểm đó, chính quyền Hàn Quốc không được xem là chính phủ của một nước có chủ quyền, mà chỉ là một tập đoàn phản bội được Mỹ nuôi.
Điều thú vị là lập trường của Hàn Quốc về cơ bản là hình ảnh phản chiếu lập trường của miền Bắc (mirror image). Họ nói rằng CHDCND Triều Tiên thực chất không tồn tại, rằng đó là một thế lực phản quốc và về cơ bản quân đội Bắc Triều Tiên chỉ là một băng nhóm tội phạm và khủng bố, theo quan điểm chính thức. Và sớm hay muộn, Đại Hàn Dân Quốc cũng sẽ tái thống nhất đất nước, lý tưởng nhất là thông qua đàm phán hòa bình, ít nhất trên giấy tờ là như vậy. Thành thật mà nói, điều đó từ trước đến nay chẳng khác gì một ảo ảnh, hay có lẽ chỉ là một màn hỏa mù. Tôi nghĩ rằng bất kỳ một chính trị gia ở Nam hay Bắc mà thực sự tin vào điều đó thì hoặc phải cực kỳ điên rồ, hoặc rất ngây thơ. Nhưng luận điệu đó lại rất hiệu quả đối với công chúng mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa, và chủ nghĩa dân tộc là một sức mạnh cực kỳ lớn ở cả hai miền. Đó là một phần của truyền thống có từ lâu đời. »
Việc chế độ Bình Nhưỡng đoạn tuyệt với chính sách thống nhất hai miền gây phân hóa sâu sắc trong chính giới Hàn Quốc. Bộ trưởng bộ Thống Nhất Hàn Quốc Chung Dong Young là người đứng ở tuyến đầu. Từ mùa hè năm ngoái, bộ trưởng Thống nhất Hàn Quốc liên tục đưa ra các phát biểu cổ vũ cho việc công nhận Bắc Triều Tiên là một quốc gia độc lập, cùng lúc không từ bỏ chủ trương thống nhất, được ghi trong Hiến pháp. Trong một hội thảo hồi tháng 9/2025, bộ trưởng Chung Dong-young nhấn mạnh « hai miền Triều Tiên là hai quốc gia riêng, xét theo luật pháp quốc tế, và chính trị quốc tế », đã gia nhập Liên Hiệp Quốc bằng con đường riêng, và điều quan trọng là « chấm dứt sự thù địch giữa hai bên ».
Dân biểu Ahn Cheol Soo của đảng đối lập cánh hữu PPP cáo buộc bộ trưởng Chung Dong Yong vi phạm Hiến pháp, khi công nhận lập trường về hai nhà nước trên bán đảo Triều Tiên, vì Điều 3 của Hiến pháp Hàn Quốc định nghĩa lãnh thổ Đại Hàn Dân Quốc bao gồm toàn bộ bán đảo. Lãnh đạo nhóm dân biểu đảng PPP, Song Eon Seok, cảnh báo rằng việc công nhận hai nhà nước sẽ làm đảo lộn quy chế pháp lý của những người tị nạn Bắc Triều Tiên đang sống tại Hàn Quốc, bởi việc Hiến pháp quy định lãnh thổ Hàn Quốc bao trùm toàn bộ bán đảo cho phép công nhận mọi người dân tị nạn Bắc Triều Tiên là công dân Hàn Quốc.
Về vấn đề này, bản thân nội bộ chính quyền của tổng thống Lee Jae Myung cũng phân hóa cao độ. Ngoại trưởng Cho Hyun và cố vấn An ninh Quốc gia Wi Sung Lac bác bỏ việc công nhận Bắc Triều Tiên như một nhà nước độc lập, riêng biệt. Tuy nhiên, nhiều áp lực gia tăng buộc chính quyền Hàn Quốc xem xét sửa đổi Hiến pháp, với lý do chính, là chỉ có như vậy mới có thể tái lập được đối thoại thực sự với Bình Nhưỡng.
Sửa Hiến pháp để thừa nhận thực tế, để có thể đối thoại với Bắc Triều TiênTrong một cuộc tọa đàm về chính sách đối ngoại tại Seoul, ngày 03/12/2025, giáo sư Moon Chung-in, nguyên cố vấn an ninh của tổng thống, cho rằng Hàn Quốc cần xem xét sửa đổi điều 3 và điều 4 của Hiến pháp, do việc giảm bớt quy mô cuộc tập trận Hàn–Mỹ không đủ để thay đổi lập trường của Bình Nhưỡng. Ông dự đoán chỉ khi nào Seoul bắt đầu thảo luận công khai khả năng sửa đổi điều khoản về lãnh thổ, Bình Nhưỡng mới có thể quay lại bàn đối thoại.
Hàng loạt nhà nghiên cứu hàng đầu về bán đảo Triều Tiên coi việc xem xét sửa đổi Hiến pháp để công nhận hai nhà nước trên bán đảo Triều Tiên là một hướng đi nghiêm túc, và quyết định nói trên của Bình Nhưỡng không chỉ là một thay đổi về chữ nghĩa hay một thủ đoạn chính trị, mà có những nền tảng xã hội sâu xa.
Chuyên gia Andrei Lankov nói đến việc thu nhập chênh lệch quá lớn giữa hai miền Nam Bắc (gấp đến gần 30 lần), khiến việc thống nhất đe dọa sự tồn vong của chế độ Bắc Triều Tiên (tỉ lệ này ước tính từ 1:2 đến 1:3 giữa hai nước Đức, trước khi tái thống nhất năm 1989). Nhà nghiên cứu Kevin Gray, giáo sư Quan hệ Quốc tế - Đại học Sussex, Anh Quốc, trong công trình công phu « Quan hệ liên Triều và sự kết thúc của chủ trương thống nhất hòa bình: một cách tiếp cận về xung đột xã hội » (tháng 3/2026), nhấn mạnh đến nghịch lý là, sự thù địch giữa hai miền càng trở nên gay gắt chính do bởi niềm tin gượng ép vào một sự thống nhất, một dân tộc chung, mỗi bên xác định bản sắc của mình bằng việc biến bên kia thành ác quỷ (« define their self-identity through demonising the other Korea »).
Những trở lực: Đảng cầm quyền không đủ đa số, vai trò của liên minh Mỹ - HànViệc sửa đổi điều 3 và điều 4 của Hiến pháp Hàn Quốc liên quan đến lãnh thổ và mục tiêu thống nhất đang vấp phải một trở lực lớn do việc đảng cầm quyền không có đủ 2/3 số ghế trong Quốc Hội. Một dự án cải cách Hiến pháp của tổng thống Lee Jae Myung, đưa ra cách nay ít tuần, bất thành do bị đối lập tẩy chay. Đề xuất sửa đổi Hiến pháp công nhận Bắc Triều Tiên, bị đối lập cánh hữu phản đối dữ dội, thậm chí đã không được đưa ra.
Giới chuyên gia về bán đảo Triều Tiên ghi nhận sự đối lập sâu sắc, trong chính giới Hàn Quốc, khó hy vọng có được thỏa hiệp, giữa hai phe - « phe tự lực » (self-reliance camp), coi đối thoại liên Triều là con đường chủ đạo dẫn đến hòa bình, trong khi « phe liên minh » (alliance camp), coi quan hệ đối tác Hàn Quốc-Hoa Kỳ là nền tảng, để đủ sức răn đe Bắc Triều Tiên (bài « Reassessing South Korea’s Foreign Policy Divide Under the Lee Administration » của Lakhvinder Singh, The Diplomat). Nhà nghiên cứu Vũ Khang, Đại học Boston, Mỹ, nhấn mạnh đến vai trò của nhóm làm việc Hàn Quốc-Hoa Kỳ phối hợp về chính sách đối với Bắc Triều Tiên và Bộ Tư lệnh Liên Hiệp Quốc (UNC) tại Hàn Quốc, với nòng cốt là Mỹ, khiến chính quyền Seoul khó chủ động xác lập chính sách về Bắc Triều Tiên (« Những trở ngại trong nước đối với chính sách Triều Tiên của Lee Jae-myung », The Diplomat, tháng 1/2026).
Thế nan giải chiến lược của Hàn Quốc : Bị kẹt trong quan niệm nửa thế kỉ trướcTrong thời gian gần đây, đã diễn ra một thay đổi chưa từng có kể từ hơn nửa thế kỷ nay trong quan hệ giữa hai miền Nam Bắc bán đảo Triều Tiên. Lần đầu tiên, chế độ Bình Nhưỡng sửa đổi Hiến pháp, từ bỏ mục tiêu thống nhất hai miền, khẳng định miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia riêng biệt. Chính giới Hàn Quốc bị đặt trước áp lực phải thay đổi. Trong lúc chính quyền của tổng thống Lee Jae-myung có nhiều nỗ lực hướng đến cải tổ triệt để chính sách với Bắc Triều Tiên, việc thay đổi Hiến pháp, để làm cơ sở pháp lý cho điều chỉnh này, đang là điều bất khả trong hiện tại, đặc biệt do bị coi là khó tương thích với liên minh Mỹ - Hàn. Vấn đề quy chế cho người tị nạn Bắc Triều Tiên cũng là một trở ngại lớn.
Nhiều chuyên gia, chính trị gia, nhà quan sát cảnh báo rằng, nếu tiếp tục để bị kẹt trong đòi hỏi chủ quyền và lý tưởng thống nhất như từ nửa thế kỉ trước, chính quyền Seoul và xã hội Hàn Quốc có nguy cơ rơi vào thế bị động kéo dài trong chiến lược với Bình Nhưỡng. Đây là điều đặc biệt nguy hiểm trong bối cảnh biến động địa - chính trị dữ dội, thế đối đầu giữa các đại cường Mỹ - Trung ngày càng khó lường, xu thế chạy đua vũ trang gia tăng có thể khiến căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên bùng phát thành xung đột, đặc biệt trong bối cảnh chế độ Bình Nhưỡng tăng cường hệ thống vũ khí hạt nhân và hạ ngưỡng sử dụng vũ khí hạt nhân.
Trong vòng chưa đầy một tuần, lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã lần lượt tiếp đón hai nguyên thủ hàng đầu thế giới: Tổng thống Mỹ Donald Trump và nguyên thủ Nga Vladimir Putin. Nhưng trước hai cuộc gặp thượng đỉnh đó, Trung Quốc đã lần lượt trải thảm đỏ đón nhiều nguyên thủ, lãnh đạo chính phủ khác từ Anh, Pháp, Đức, cho đến Canada và sắp tới đây là tổng thống Brazil. Liệu lời mời đến Bắc Kinh có trở thành một tấm vé được săn đón nhất hiện nay ?
Một điều chắc chắn, đó là chính quyền Trung Quốc đã khéo léo dàn dựng hai chuyến thăm thượng đỉnh vừa qua. Chuyến đi của Donald Trump đã được lên kế hoạch từ lâu, chỉ bị hoãn do chiến tranh Iran. Tương tự, tổng thống Nga đã được đồng cấp Trung Quốc mời đến Bắc Kinh từ tháng 02/2026, nhưng lịch trình đã được thúc đẩy sớm hơn dự kiến. Nhưng sự trọng thị và những nghi lễ mà Tập Cận Bình dành cho hai đồng cấp hầu như không có gì khác : Cùng một đội tiếp đón danh dự, một cuộc duyệt binh, và một buổi tiếp đón long trọng tại Đại Lễ đường Nhân dân.
Bộ ba chiến lược Nga-Mỹ-TrungĐây là lần đầu tiên Trung Quốc liên tiếp đón hai nguyên thủ Mỹ và Nga trong cùng một tháng. Một mặt, những cuộc gặp này làm nổi rõ các nỗ lực của Bắc Kinh trong việc xử lý các mối quan hệ với hai cường quốc Nga và Mỹ, đồng thời khẳng định vị thế một cường quốc thiết yếu trong một trật tự thế giới ngày càng bị phân mảnh.
Mặt khác, hai cuộc họp thượng đỉnh này cho thấy có những chuyển động trong tam giác chiến lược Nga-Mỹ-Trung, được cho là một trong những bộ ba năng động nhất, mang yếu tố quyết định cho việc định hình quỹ đạo hệ thống quốc tế đang có những biến đổi. Mối quan hệ giữa Matxcơva và Bắc Kinh những năm gần đây càng ngày càng được thắt chặt, trong khi quan hệ Mỹ - Trung chuyển thành một cuộc đối đầu gay gắt, đặc biệt là kể từ nhiệm kỳ I của Donald Trump.
Tuy nhiên, những phát biểu của Donald Trump trong cuộc họp với Tập Cận Bình hôm 14/05/2026 rằng hai nhà lãnh đạo duy trì một mối quan hệ « tuyệt vời », « lâu nhất » chưa bao giờ có giữa các nguyên thủ của hai nước, đã cho thấy ông Trump đang nhận ra một « thực tế mới », đó là « Trung Quốc có một vị thế quan trọng và Hoa Kỳ không thể đánh bại ».
Và trong mối quan hệ tay ba này, vị trí của ba cường quốc trong tam giác đang có sự thay đổi từ Nga-Mỹ-Trung sang thành Nga-Trung-Mỹ, ở đó « Trung Quốc ngày nay chiếm vị trí trung tâm và giữ một vai trò chủ chốt », theo như nhận định từ nhà nghiên cứu Trịnh Vĩnh Niên (Zheng Yongnian), giáo sư ngành chính sách công, trường đại học Hồng Kông với trang South China Morning Post.
Trung – Mỹ : Đối thủ ngang vai ngang vếCòn theo chuyên gia hàng đầu về chính sách đối ngoại của Trung Quốc, bà Theresa Fallon, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Nga, châu Âu và châu Á, trụ sở tại Bruxelles, trả lời kênh truyền hình Deutsche Welle, cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Tập thể hiện một sự chấp nhận một hình thức G2, nghĩa là một thế giới lưỡng cực mà ở đó Hoa Kỳ nhìn nhận Trung Quốc là một đối thủ « ngang tầm ».
Theo bà, « chính quyền Trump đã cho phép điều đó xảy ra. Dưới thời tổng thống Obama, khi Trung Quốc muốn được coi là đối tác ngang hàng, Mỹ đã phản đối kịch liệt và nói "Không, không, không, đây không phải là thượng đỉnh G2". Vì vậy, giờ đây chúng ta đang chứng kiến một sự chuyển dịch âm thầm, mặc dù điều đó vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng. Người ta thấy Trump tỏ ra rất thân thiện trong khi ông Tập vẫn giữ sự điềm tĩnh và không mấy gì nồng ấm ».
Dù vậy, nhà nghiên cứu về chính sách Trung Quốc cho rằng Donald Trump đã mắc sai lầm, khi trong các cuộc họp tại Bắc Kinh đã gợi ý rằng việc bán vũ khí cho Đài Loan là một con bài mặc cả, điều mà chưa một tổng thống Mỹ nào làm. Bà giải thích : « Bằng cách như thế, Trump đang làm suy yếu dần các thỏa thuận đã được thiết lập và nguyên trạng ở eo biển Đài Loan. Ông đang đưa ra những tín hiệu trái ngược và tất cả các đồng minh trong khu vực đang chăm chú theo dõi. Điều này có ý nghĩa gì cho họ ? Liệu họ có phải thận trọng hơn với Trung Quốc hay không ? Liệu sự cẩn trọng này cuối cùng có sẽ biến thành sự nhượng bộ hay không ? Giờ còn phải chờ xem, do lập trường của Trump là khá bất ổn ».
Chính sự bất nhất này của ông Trump trong hồ sơ Đài Loan và trong chiến lược đối với Trung Quốc đã khiến nhiều nước khác, kể cả các nước đồng minh, cảm thấy bất an. Điều này giải thích vì sao lãnh đạo các nước đó cố gắng tiếp cận Tập Cận Bình và hiện tượng này mang lại cảm giác mọi thứ đang tăng tốc, theo như nhận xét của bà Therese Fallon.
Tập Cận Bình : Nhà đàm phán cứng rắnChỉ có điều như quan sát từ nhiều nhà phân tích, đến Bắc Kinh lần này, cả hai nguyên thủ Nga, Mỹ, đều trong thế yếu, vào lúc cả Nga lẫn Mỹ đều đang bị lún sâu vào những cuộc chiến tranh do chính họ gây ra. Tuy được tiếp đón long trọng, cả hai phái đoàn Nga và Mỹ đều ra về với những thỏa thuận ít ỏi, không như kỳ vọng. Ở đây, một lần nữa, Tập Cận Bình đã thể hiện rõ khả năng làm chủ tình thế, và không phải là người dễ dàng bỏ lỡ cơ hội áp đặt các điều khoản của mình.
Về hồ sơ đường ống dẫn khí « Sức mạnh Siberia 2 » của Nga, ông Tập Cận Bình tiếp tục trì hoãn các cuộc đàm phán, trong khi đồng cấp Nga trước khi đến Bắc Kinh rất kỳ vọng đạt một thỏa thuận vào lúc kinh tế Nga gặp khó khăn do các lệnh cấm vận của phương Tây và những đòn tấn công bằng drone của Ukraina nhắm vào các cơ sở năng lượng. Sự từ chối không phải là dứt khoát, nhưng nó thậm chí còn tệ hơn.
Người phát ngôn điện Kremlin nói rằng cuộc đàm phán có « tiến bộ lớn », đôi bên có « sự hiểu biết chung về các thông số chính » của dự án, trước khi thừa nhận « vẫn cần phải thống nhất một số chi tiết » và nhất là chưa có « thời hạn thực hiện » nào được đề cập. Nói cách khác, Tập Cận Bình chưa chấp thuận dự án. Ông Putin trở về Matxcơva tay không. Bà Theresa Fallon lưu ý, Trung Quốc luôn là một nhà đàm phán cứng rắn, « thực sự hiểu họ đang nắm giữ Nga trong tay và họ sẽ không dễ dàng nhượng bộ Putin ».
Với Trump, cùng một thái độ và sự lạnh lùng mang tính chủ quyền. Tổng thống Mỹ đã đến đề nghị « người bạn lớn » của mình giúp ông mở khóa eo biển Hormuz. Bắc Kinh, một đồng minh của Teheran và là khách hàng lớn của dầu khí Iran, có đủ đòn bẩy cần thiết. Nhưng Tập Cận Bình đã không sử dụng nó. Trump ra về với một số hợp đồng, lời hứa và những lời nói suông. Tại eo biển Hormuz, mọi thứ vẫn không thay đổi. Nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh không vội vàng. Ông có đủ khả năng để chờ đợi – và quan sát đối thủ của mình ngày càng mất kiên nhẫn. Chính điều này cho thấy ông ta đã vươn lên một đẳng cấp khác, theo quan sát của Le Point.
Nga, một cạnh của tam giác, một quân cờ của Trung QuốcNhìn chung, theo quan điểm của chuyên gia Theresa Fallon, Trung Quốc hiện nay là đối thủ cạnh tranh hàng đầu của Mỹ, đặc biệt là trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo. Trong cuộc đua này, ai thắng cuộc sẽ trở thành lãnh đạo thế giới và đây là điều Trung Quốc cũng như Mỹ đang nỗ lực hướng đến.
Dù vậy, vị giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Nga, châu Âu và châu Á, nhìn nhận hiện tại có một tam giác chiến lược giữa Nga, Trung Quốc và Mỹ. « Ít nhất đó là cảm nhận của tôi từ những cuộc gặp này. Nhưng rõ ràng, Nga là phần ngắn nhất của tam giác đó và Trung Quốc sẽ sử dụng Nga để thực sự tiến quân vì Nga chống phương Tây, vì vậy Trung Quốc và Nga cùng nhau có chung mục tiêu chống phương Tây, và điều đó là có lợi cho cả hai bên vì họ có chung đường biên giới dài.
Như một học giả Trung Quốc nói với tôi: "Lý do chúng ta phải tiếp tục ôm Nga là vì chúng ta đang chuẩn bị cho chiến tranh. Vì vậy, chúng ta cần Nga trong trại của mình chứ không phải ở ngoài trại." Vì vậy, bất kể điều gì xảy ra, tôi nghĩ Trung Quốc muốn thấy nước Nga yếu hơn vì khi đó họ có thể nhận được nhiều thứ hơn từ Nga, nhiều công nghệ hơn, nhiều quyền tiếp cận với Bắc Cực, có thể là các thỏa thuận năng lượng tốt hơn. Điều đó phù hợp với mục tiêu của Trung Quốc trong thế giới mà Mỹ đang dồn hết năng lượng, sự chú ý và tên lửa vào Iran ».
Chuyên gia Therese Fallon kết luận, khi tập trung vào các khu vực khác trên thế giới, Trung Quốc đang tiếp tục đà tiến và tỏ ra điềm tĩnh hơn bao giờ hết : « Giờ không phải là lúc Bắc Kinh đến các thủ đô khác. Trung Quốc đã đảo ngược tình thế và việc khiến mọi người đổ xô đến gặp Tập Cận Bình dường như thực sự có lợi cho Trung Quốc ! »
Ngày 14/05/2026, tổng thống Mỹ Donald Trump bắt đầu chuyến thăm Bắc Kinh. Sau những màn đón tiếp long trọng, nguyên thủ Mỹ cùng đồng cấp Trung Quốc Tập Cận Bình bước vào những vòng đàm phán, được dự báo là căng thẳng, về nhiều chủ đề. Tuy nhiên, theo nhận định từ giới quan sát, hồ sơ thương mại chắc chắn là ưu tiên thảo luận hàng đầu giữa hai nguyên thủ. Liệu rằng đôi bên có hóa giải được những căng thẳng, hay lại tiếp tục leo thang đối đầu ?
Điều đầu tiên được hầu hết giới chuyên gia chia sẻ là, khác với cuộc gặp thượng đỉnh năm 2017, ông Donald Trump đến Bắc Kinh lần này trong một vị thế yếu. Cuộc chiến chống Iran do Mỹ và Israel phát động rơi vào bế tắc, trong khi cuộc chiến thuế quan mà tổng thống Trump khởi xướng vào năm 2025 không đem lại kết quả như ông muốn.
Hoa Kỳ không những không chặn được đà tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc bất chấp các nỗ lực của chính quyền Trump, mà còn phải hứng chịu các đòn trả đũa thương mại, công nghệ nặng nề từ Bắc Kinh. Theo nhật báo kinh tế Pháp Les Echos ngày 13/05/2026, hàng Made in China xuất sang Mỹ đã giảm mạnh trong vòng hai năm, từ mức gần 109 tỷ đô la (trong quý I/2024) xuống còn trên 67 tỷ trong quý I/2026.
Nếu tính riêng trong vòng 12 tháng qua, với mức thuế từ 25-30%, nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ đã giảm 38%, một con số to lớn. Tuy nhiên, những con số này làm lu mờ một hiện tượng khác. Khi nhìn kỹ các dòng chảy thương mại, người ta sẽ thấy rằng, trong năm 2025, tỷ trọng hàng nhập khẩu từ Đài Loan vào Mỹ tăng vọt đến 94%, từ Việt Nam là 50%.
Trên báo kinh tế Les Echos, Maxime Darmet, chuyên gia kinh tế tại Allianz Trade, nhận định « điều đó có nghĩa là ngành xuất khẩu Trung Quốc đang sử dụng các kênh gián tiếp. Các nhà công nghiệp Trung Quốc xuất khẩu những bán thành phẩm của họ sang các nước thứ ba, đặc biệt là Đông Nam Á, những nước này sử dụng chúng trong các dây chuyền sản xuất của mình để rồi sau đó bán thành phẩm sang Hoa Kỳ. »
Hiện tượng này phản ảnh rõ năng lực thích ứng với tốc độ kỷ lục của ngành xuất khẩu Trung Quốc. Bất chấp những rào cản thuế quan, hàng hóa của Trung Quốc vẫn đến được tay người tiêu dùng Mỹ. Các số liệu thống kê của Trung Quốc thể hiện rõ nét xu hướng này : Xuất khẩu của Trung Quốc sang Đông Nam Á tăng vọt, gần như tỷ lệ thuận với mức tăng xuất khẩu của Đài Loan hay Việt Nam sang Hoa Kỳ.
Cán cân thương mại vẫn nghiêng về phía Trung Quốc khi mà mức thuế nhập khẩu áp đặt cho hàng hóa của Đài Loan chỉ ở mức 3% và Việt Nam là 12% vào cuối năm 2025, trước khi có phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ cấm các mức thuế quan « đối ứng » do tổng thống Trump ban hành. Hệ quả là trong quý I/2026, Hoa Kỳ ghi nhận mức thâm hụt thương mại là 251 tỷ đô la, so với 274 tỷ cùng kỳ vào năm 2024.
Ba mục tiêu của Donald TrumpLàm thế nào điều chỉnh cán cân thương mại Mỹ - Trung vào lúc lạm phát tại Mỹ tăng cao, uy tín của ông ngày càng suy giảm khi chỉ còn vài tháng nữa là diễn ra cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ ? Trong toàn cảnh này, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Trung Quốc với ba mục tiêu chính, theo đánh giá từ nhà phân tích về chính sách kinh tế, Agatha Kratz, thuộc nhóm tư vấn độc lập Rhodium Group, trong chương trình Affaires Etrangères, đài phát thanh France Culture, ngày 09/05/2026.
Đầu tiên hết, Donald Trump muốn chuyển hướng công luận về cuộc chiến ở Iran và mang về Mỹ một số thành công như các hứa hẹn mua thêm hàng hóa Mỹ như dầu khí, nông sản, máy bay Boeing, hay những tin tốt lành cho chip bán dẫn… từ Trung Quốc.
Khía cạnh thứ hai có một vị trí quan trọng : Hoa Kỳ muốn bảo đảm nguồn cung ứng đất hiếm liên tục từ Trung Quốc.
Trên đài France Culture, chuyên gia kinh tế giải thích : « Rõ ràng Bắc Kinh đang nắm giữ quyền kiểm soát chặt chẽ sản xuất cũng như chế biến đất hiếm và sản xuất nam châm vĩnh cửu, những thứ cực kỳ quan trọng trong tất cả các ngành công nghiệp như công nghiệp ô tô, công nghiệp điện tử, và đặc biệt quan trọng là công nghiệp quân sự, trong bối cảnh Hoa Kỳ đã sử dụng hết một phần lớn kho vũ khí của mình và cần phải xây dựng lại, nên cần các nguyên tố đất hiếm. Do đó, nếu họ muốn chế tạo tên lửa và phục hồi năng lực quân sự và nếu muốn tiếp tục cuộc chiến ở Iran, họ cần Bắc Kinh tiếp tục cung cấp các loại đất hiếm đó. Điều này vô cùng quan trọng, và tôi nghĩ nó sẽ là một phần của cuộc thảo luận. »
Vẫn theo bà Agatha Kratz, điểm thứ ba có liên quan đến cuộc chiến thuế quan của Mỹ và hiện đang vấp phải hai trở ngại :
« Đầu tiên là phán quyết của Tòa án Tối cao liên quan đến thuế quan IEEPA (Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế), phán quyết hồi tháng 2/2026 tuyên bố các loại thuế quan "đối ứng" này là bất hợp pháp. Sau đó, Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ (Court of International Trade - CIT) hôm 07/05, lại tuyên bố các thuế quan mới 10% theo Điều 122, được áp dụng lại sau phán quyết của Tòa án Tối cao, là bất hợp pháp.
Vì vậy, hiện tại thuế quan của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc chỉ ở mức trung bình 11%. Mức thuế này cực kỳ hạn chế nếu so sánh với mức thuế 15% đối với Liên Hiệp Châu Âu theo thỏa thuận song phương, mức thuế 18% đối với Ấn Độ, mức thuế 19% đối với Indonesia, v.v.
Trung Quốc rõ ràng đang ở một vị thế cực kỳ thuận lợi, và điều đó khiến Hoa Kỳ cảm thấy rất khó chịu bởi vì, mục tiêu sau cùng của họ là giảm thiểu rủi ro trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc, cố gắng đưa một số chuỗi giá trị trở lại Hoa Kỳ nếu có thể, hoặc ít nhất là đến các quốc gia thân thiện hơn. Và trong bối cảnh này, nếu thuế quan đối với Trung Quốc quá thấp, điều đó là không thể.
Tôi nghĩ rằng đã có những công tác chuẩn bị và đàm phán sơ bộ cho việc tăng thuế quan đối với Trung Quốc, điều mà Bắc Kinh rõ ràng đã cố gắng chống lại bằng mọi cách. Đặc biệt là với Jamieson Lee Greer, người đang dẫn đầu tất cả các cuộc đàm phán thương mại, Hoa Kỳ đang cố gắng đàm phán và thúc đẩy việc tăng thuế quan hàng hóa Trung Quốc với Bắc Kinh. Tôi không chắc Mỹ sẽ thành công hay không, nhưng dù sao đi nữa, đó cũng là một trong những mục tiêu. »
Bốn đòi hỏi của Tập Cận BìnhTheo báo Pháp Les Echos, thặng dư thương mại Trung Quốc trong năm 2025 đạt mức kỷ lục 1.200 tỷ đô la, tức chiếm 1% GDP của toàn cầu. Theo kinh tế gia Maxime Darmet, hiện tượng này cho thấy « Trung Quốc vẫn đang dư thừa hàng hóa do tiêu thụ chưa đủ, còn Mỹ vẫn thâm hụt do tiêu thụ quá mức. Vì vậy, thuế quan không tác động đến những mất cân bằng lớn trên toàn cầu. Chúng chỉ làm chuyển hướng dòng chảy thương mại. »
Nhưng cuộc chiến tranh chống Iran do Mỹ và Israel tiến hành đang bắt đầu có những tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc. Vốn đã trì trệ một phần do cuộc chiến thuế quan, căng thẳng xung quanh eo biển Hormuz khiến giá năng lượng tăng cao, gây khó khăn cho xuất khẩu của nền kinh tế thứ hai thế giới. Hơn nữa, việc Quốc Hội Mỹ siết chặt các luật lệ kiểm soát xuất khẩu linh kiện bán dẫn gây cản trở cho nhiều lĩnh vực công nghệ chủ chốt của Trung Quốc.
Đối với chuyên gia Agatha Kratz, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có bốn điều muốn đàm phán trong thượng đỉnh lần này :
« Đầu tiên hết là ổn định tình hình Iran. Trong ngắn hạn, tình hình kinh tế Trung Quốc khá tích cực, bởi vì Bắc Kinh có nhiều nguồn lực để kiểm soát lạm phát do giá năng lượng cao. Bởi vì nước này ít phụ thuộc vào dầu mỏ hơn so với nhiều nước châu Á, thậm chí so với cả nhiều nước châu Âu. Vì vậy trong ngắn hạn, tình hình là khá dễ quản lý.
Nhưng trong dài hạn, điều này là đáng lo, bởi vì tình trạng đó có nguy cơ đẩy châu Âu và Đông Nam Á rơi vào suy thoái. Đây là hai thị trường xuất khẩu quan trọng nhất, chiếm đến 50% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc, mà xuất khẩu chiếm đến 50% tăng trưởng kinh tế. Để dễ hình dung, việc ổn định tình hình ở Iran là vô cùng cần thiết.
Thứ hai là vấn đề thuế quan như tôi đã trình bày ở trên : Trung Quốc làm mọi cách để duy trì ở mức thuế 11% hay gần với 11% như hiện tại.
Thứ ba là kiểm soát công nghệ. Trên thực tế, các chu kỳ leo thang căng thẳng khác nhau trong năm 2025 đã được kích hoạt bởi những biện pháp của Mỹ đặc biệt nhắm vào xuất khẩu linh kiện bán dẫn và nhất là các loại vật liệu và thiết bị dùng để sản xuất chất bán dẫn, và Trung Quốc thì áp đặt các hạn chế xuất khẩu đáng kể đối với đất hiếm vào ngày 09/10/2025 để trả đũa các biện pháp của Mỹ.
Vì vậy, tôi nghĩ Bắc Kinh chắc chắn sẽ cố gắng bóp chết ngay từ "trong trứng nước" mọi ý định của Quốc Hội Mỹ nhằm áp đặt các biện pháp xuất khẩu và đây sẽ là một trong số các thông điệp mạnh mẽ nhất. Và Trung Quốc cũng cố gắng vận động sao cho cả Quốc Hội lẫn chính quyền cũng như bộ Thương Mại, cơ quan thực thi kiểm soát xuất khẩu, sẽ không tăng cường kiểm soát đối với chất bán dẫn, vật liệu và thiết bị sản xuất linh kiện bán dẫn ».
Nhiều bình luận trước ngày họp thượng đỉnh Mỹ-Trung cho rằng cả hai bên dường như sẵn sàng có những nhượng bộ. Tuy nhiên, chuyên gia Lizzi Lee, thuộc trung tâm tư vấn Asia Society Policy Institute, trụ sở tại Hoa Kỳ, trả lời phỏng vấn AFP, lưu ý : « Ngay cả khi cuộc họp thượng đỉnh này diễn ra tốt đẹp, điều đó sẽ không làm thay đổi quỹ đạo của Trung Quốc cũng như quyết tâm của nước này đưa nền kinh tế ít phụ thuộc hơn vào Hoa Kỳ ».
From the publisher's feed
Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

1,807 Listeners

42 Listeners

29 Listeners

222 Listeners

15 Listeners

3 Listeners

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

6 Listeners