
Sign up to save your podcasts
Or


Sau hai quyển truyện « Ba chàng lính ngự lâm » và « Bá tước Monte Cristo » của Alexandre Dumas, đến phiên tiểu thuyết đồ sộ « Les Misérables » (Những người khốn khổ) của Victor Hugo được đạo diễn Fred Cavayé chuyển thể lên màn ảnh lớn. Bộ phim có kinh phí cao (gần 40 triệu euro) quy tụ một dàn diễn viên gạo cội, trong đó có Vincent Lindon vào vai tội phạm Jean Valjean. Còn Tahar Rahim vào vai kẻ thù không đội trời chung của ông là viên thanh tra Javert.
Từ khi được xuất bản vào năm 1862, « Những người khốn khổ » đã được chuyển thể rất nhiều lần, thành nhiều thể loại khác nhau : phim ảnh, nhạc kịch, truyện tranh, sách thiếu nhi … Do vậy, cuốn tiểu thuyết đồ sộ của Victor Hugo đã trở nên khá quen thuộc với công chúng. Ngay cả những người chưa từng đọc tiểu thuyết cũng đã từng nghe nhắc đến câu chuyện này. Vậy thì phiên bản điện ảnh 2026 có gì mới so với hàng chục phiên bản trước.
Về nội dung, bộ phim mới được công chiếu, khá trung thành với tiểu thuyết gốc, bối cảnh phim là giai đoạn đầy biến động của các cuộc nổi dậy tại Pháp vào những năm 1830. Phe Cộng hòa đấu tranh đòi lật đổ nền quân chủ. Bộ phim kể lại câu chuyện của Jean Valjean, bị kết án 19 năm tù chỉ vì ăn cắp một ổ bánh mì, vì cũng như ông nói : bần cùng sinh đạo tặc. Sau khi mãn hạn tù, ông được cấp « thẻ vàng », một loại giấy tờ tùy thân dành cho những kẻ phạm tội, đi đâu cũng bị phân biệt đối xử. Kẻ đã trả nợ xã hội rốt cuộc vẫn bị « đánh cùng đuổi tận », không còn nơi nào để dung thân.
Cho đến ngày Jean Valjean gặp đức cha Bienvenu. Vị giám mục này là người duy nhất mở rộng vòng tay đón tiếp kẻ từng phạm tội. Khi Jean Valjean bị cảnh sát bắt giữ vì tội ăn cắp đồ đạc trong nhà giám mục, đức cha Bienvenu chẳng những nói đó là một món quà mà còn tặng thêm cho Jean Valjean hai chân nến bằng bạc. Hành động tha thứ này đã giúp Jean Valjean thay đổi hẳn tâm tính, từ bỏ quá khứ tù tội để trở thành một con người tốt hơn, luôn làm việc thiện để tìm cách chuộc lỗi.
Tuy nhiên, Jean Valjean luôn bị thanh tra Javert truy lùng theo đuổi. Cuộc chạm trán giữa cựu tù nhân Valjean và viên cảnh sát Javert quyết đoán, người luôn coi luật pháp là điều quan trọng nhất và quyết tâm bắt giữ kẻ đã từng vượt ngục trong quá khứ. Cuộc đối đầu giữa hai nhân vật này được lồng vào đỉnh điểm phong trào nổi dậy, phe Cộng hòa lập chiến lũy chống lại quân đội hoàng gia. Đôi khi, vì muốn trật tự xã hội bằng mọi giá, nào ngờ lại tạo ra bạo động hỗn loạn.
Trong bức tranh xã hội Pháp đầy áp bức và bất công, hành trinh của Jean Valjean gắn liền với nhiều số phận bất hạnh khác. Bản phóng tác điện ảnh của Fred Cavayé dùng ngoại cảnh đầy biến động để soi chiếu xung đột nội tâm : người nhất quyết thi hành công lý bất kể giá nào, kẻ hướng thiện lại không có cơ hội thứ nhì để chuộc lỗi. Yếu tố mạnh mẽ nhất trong phiên bản lần này chính là ống kính của nhà đạo diễn, ông nghiêng nhiều về tâm lý của nhân vật phản diện, hầu như biến Jalvert thành nhân vật chính.
Mẹ của viên thanh tra Javert là một thầy bói toán, từng có quan hệ với một người đàn ông bị kết án tù khổ sai. Bản thân Javert được sinh ra ở trong tù, do vậy ông ghét cay ghét đắng những kẻ phạm tội. Điều đó giải thích vì sao, một cách mù quáng, Javert truy đuổi tận cùng Jean Valjean, vì thành phần bị cho là « cặn bã xã hội' » lại nhắc nhở lý lịch cũng như quá khứ không mấy tốt đẹp của chính gia đình ông. Cuộc đối đầu gay cấn giữa hai nhân vật Javert/Valjean tạo được điểm nhấn hấp dẫn, cho dù các tuyến truyện khác không sâu sắc bằng hai phiên bản điện ảnh trước với Jean Gabin/Bernard Blier (1958) và Lino Ventura/Michel Bouquet (1982) trong vai chính.
Sức sống mãnh liệt của các tác phẩm kinh điểnHơn 150 năm sau ngày ra đời, tiểu thuyết « Những người khốn khổ » của Victor Hugo vẫn tạo nguồn cảm hứng phóng tác cho nhiều nhà biên kịch, đạo diễn cũng như giới giảng dạy nghiên cứu. Gần đây, nhà xuất bản Seuil đã phát hành quyển tiểu luận « Toutes sortes de Misérables » (hiểu theo nghĩa Đủ loại (văn bản) Những người khốn khổ). Trả lời phỏng vấn của RFI ban tiếng Pháp, tác giả quyển tiểu luận Typhaine Samoyault, hiện là giám đốc nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Khoa học Xã hội (EHESS) cho biết tầm ảnh hưởng của tác phẩm « Les Misérables ».
Vâng, có lẽ bạn đọc sẽ mất nhiều tuần lễ nếu muốn đọc tiểu thuyết đầy đủ bản vì gốc có ít nhất là 2.000 trang, theo tôi đó không phải là thời gian phí lãng, vì bạn sẽ đọc một cách say sưa 2.000 trang sách này. Được xuất bản lần đầu vào năm 1862, tiểu thuyết « Những người khốn khổ » của Victor Hugo là một tác phẩm đồ sộ, mang tính xã hội, lịch sử, chính trị, triết học …. Cho đến nay, đã có rất nhiều bản phóng tác, phiên bản chuyển thể thường ngắn hơn vì đã được rút gọn lại, chỉ có bộ sưu tập La Pléiade mới phát hành ấn bản tiểu thuyết một cách đầy đủ.
Trong tiểu thuyết « Những người khốn khổ », có nhiều nhân vật đã trở thành biểu tượng trong dòng văn hóa đại chúng. Các nhân vật hư cấu Cosette, Gavroche, Jean Valjean, Javert hay Fantine đã trở nên quen thuộc với rất nhiều độc giả, như thể họ là những con người có thật ở ngoài đời chứ không còn thuộc về sách vở nữa. Tôi nghĩ đó cũng là sức mạnh của những tác phẩm vĩ đại, khi các nhân vật sống động như người thật, thoát khỏi văn bản, thoát khỏi tầm kiểm soát của tác giả. Một cách tương tự, chúng ta có cảm tưởng biết nhiều về nhân vật Ulysse hơn là tác giả Homère. Do vậy, chính những nhân vật hư cấu này (một khi trở nên sống động và quen thuộc với độc giả) giúp định hình tác phẩm kinh điển.
Những người khốn khổ có lẽ là tác phẩm thành công nhất của Victor Hugo. Và hơn một thế kỷ sau ngày ông qua đời, quyển tiểu thuyết này có sức sống phi thường : mỗi bản phóng tác thử đem lại một góc nhìn mới cho tác phẩm. Nhiều nhân vật tiểu thuyết đã đi vào dòng văn hóa đại chúng từ lúc nào không hay. Nhà nghiên cứu Tiphaine Samoyault nhận xét :
Đúng vậy. Nhiều tên nhân vật đã đi vào ngôn ngữ đời sống hàng ngày. Khi người Pháp nói cô ấy giống như Cosette, thực chất tư này được lấy trực tiếp từ Những người khốn khổ của Victor Hugo. Nhân vật Cosette là biểu tượng của trẻ em bị bạc đãi. Trong tiểu thuyết gốc, Cosette khi lớn lên là một phụ nữ có bản lĩnh, muốn vượt ra ngoài quy tắc xã hội, nhưng dòng văn hóa đại chúng lại thu hẹp hình ảnh của Cosette, biến cô thành biểu tượng của những đứa bé bị ngược đãi. Còn nhân vật Thénardier đồng nghĩa với một con người xảo quyệt tham lam, chuyên bóc lột trẻ em, vì lòng ham của mà mưu toan hảm hại người khác. Những từ này trở nên phổ biến trong cách diễn đạt tiếng Pháp.
Theo tác giả Tiphaine Samoyault, ngoài giá trị văn học của tác phẩm, « Những người khốn khổ » của Victor Hugo còn trở thành một tiểu thuyết kinh điển, một phần cũng nhờ vào các phiên bản phóng tác. Nói cách khác, các bản chuyển thể, dưới hình dạng nào đi chăng nữa, giúp củng cố uy tín và làm tăng thêm sức sống mãnh liệt của tác phẩm :
Một tác phẩm « kinh điển » thường là một tác phẩm liên tục được nhắc đến qua các bản biên dịch, chuyển thể và thậm chí viết lại. Có những tác phẩm được coi là kinh điển khi đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ, tạo cơ hội cho bản đầu tiên trở nên phổ biến. Nói cách khác, thông qua các bản dịch thuật, cũng như các bản chuyển thể thành truyện tranh, phim ảnh hay nhạc kịch, tác phẩm sẽ có thêm nhiều khán thính giả ngoài thành phần bạn đọc. Về điểm này, « Những người khốn khổ » là một ví dụ điển hình về việc phóng tác theo đủ mọi kiểu.
Ngoài chất văn học, « Những người khốn khổ » với thời gian đã có thêm nhiều giá trị khác. Vai trò đầu tiên của một tác phẩm kinh điển chính là giáo dục, tiểu thuyết không phải là sách giáo khoa những vẫn có thể được dùng để giáo dục tuổi trẻ, không những về kiến thức văn hóa, mà đôi khi còn là giáo dục đạo đức, công dân. Tác phẩm này vẫn gây được tiếng vang lớn thời nay : những điều bất công trong xã hội, hoàn cảnh và thân phận con người, cách đối xử giữa các cá nhân với nhau, những điều này dường như ở thời nào cũng có.
Trong trường hợp của « Những người khốn khổ », chúng ta nên nhớ rằng, văn hào Victor Hugo đã muốn phản ánh toàn bộ xã hội vào cái thời ông đang sống. Ngoài các tầng lớp giàu có, thượng lưu, tiểu thuyết này còn mô tả thành phần dân nghèo và người lao động thông qua rất nhiều nhân vật. « Những người khốn khổ » không chỉ đơn thuần là một tác phẩm văn học với văn phong đẹp đẽ, từ ngữ trang trọng. Cuốn tiểu thuyết này còn bao gồm rất nhiều tiếng lóng, cách ăn nói của giới thợ thuyền, của nhiều nghề chân tay. Nói chung, tất cả những ngôn ngữ ấy, nôm na hay trau chuốt , đều giúp phác họa một xã hội trong thời đại của Victor Hugo. Bản thân tôi đã khám phá « Những người khốn khổ » từ khi tôi còn nhỏ, qua một phiên bản rút gọn dành cho tủ sách thiếu nhi. Về sau này, tôi vẫn thích thú khi có dịp đọc lại nhiều lần bản gốc, nhưng rõ ràng là bản phóng tác dành cho độc giả nhỏ tuổi, đã gieo vào hồn tôi niềm đam mê đọc sách, từ thuở thiếu thời.
Năm 2026 đánh dấu 100 năm ngày thành lập hiệu nước hoa Pháp Fragonard. Sau một thế kỷ tồn tại, công ty này cho đến này vẫn được điều hành bởi các thành viên trong cùng một gia đình. Trung thành với tinh thần của nhà sáng lập, ban điều hành tìm cách bảo tồn di sản của gia đình nhưng đồng thời luôn hướng nhìn về tương lai.
Nhắc tới hiệu Fragonard, người Pháp thường nghĩ tới một trong những hãng nước hoa lâu đời nhất tại thành phố Grasse, ở miền duyên hải phía nam nước Pháp, mà người Mỹ thường gọi là vùng « French Riviera ». Ngược dòng thời gian, lùi về đầu thế kỷ XX, cửa hàng nước hoa Fragonard ra đời vào năm 1926. Nhà sáng lập hiệu mỹ phẩm này là ông Eugène Fuchs, một cựu công chứng viên làm việc tại Paris. Ông Eugène Fuchs chọn tên Fragonard để vinh danh họa sĩ nổi tiếng thời bấy giờ là Jean-Honoré Fragonard (1732-1806). Sinh trưởng tại Grasse, nhờ tài vẽ tranh, Jean-Honoré Fragonard đã nhanh chóng trở thành một họa sĩ thời thượng tại Paris, dưới thời vua Louis XV.
Về phía công ty Fragonard, sau khi thành công với hai loại nước hoa sản xuất ở miền nam, gia đình này khai trương cửa hàng bán nước hoa đầu tiên nằm trên đường Scribe ở quận 9 Paris vào năm 1936. Trong số những kiểu chai nước hoa nổi tiếng do Fragonard sản xuất, có « Belle de Nuit » - Giai nhân về đêm (1946) « Eau de Hongrie » - Nước hoa Hungary (1979) hay « Soleil » - Mặt trời (1995) …. Cửa hàng tại Paris sau đó được chuyển đổi thành Bảo tàng Nước hoa (Musée du Parfum), chuyên trưng bày những hiện vật nói về lịch sử của ngành sản xuất mỹ phẩm tại Pháp từ xưa đến nay. Một thế kỷ sau ngày ra đời, công ty Fragonard vẫn nằm trong tay của gia đình nhà sáng lập. Trong ban giám đốc điều hành, có hai cô Françoise Fabre và Agnès Webster luôn cố gắng bảo tồn công ty gia đình, di sản này đã được lưu truyền sang đời thứ tư.
Sinh trưởng tại thành phố Cannes, cô Agnès Webster từ nhỏ đã thấm nhuần tư tưởng thẩm mỹ của một gia đình chuyên làm nước hoa. Nhưng thời sinh viên, cô không có ý định nối nghiệp gia đình mà lại muốn khám phá những chân trời khác. Sau khi tốt nghiệp ngành luật, cô bắt đầu làm việc cho một công ty quảng cáo tại Paris. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, cô Agnès Webster, hiện là giám đốc điều hành Fragonard, cho biết trong hoàn cảnh nào cô đã trở lại làm việc cho công ty gia đình :
« Bố tôi, thuộc thế hệ thứ ba trong gia đình, đã điều hành công ty Fragonard trong vòng nhiều năm liền. Chính ông đã lên tìm gặp tôi ở Paris. Ông nói với tôi rằng bố biết con đang làm việc cho một công ty khác, nhưng dù sao đi nữa, Fragonard vẫn có ý nghĩa hơn vì là công ty của gia đình. Ông đề nghị nếu được thì con thử về làm việc ở Grasse một thời gian, nếu không hợp thì lúc ấy con vẫn có thể trở lại Paris vẫn chưa muộn.
Lúc đầu tôi nghĩ mình nên cố gắng làm thử vài tháng, rốt cuộc tôi đã ở lại Grasse cho đến tận bây giờ, vì tôi khám phá rằng ngành sản xuất nước hoa bao gồm rất nhiều lãnh vực khác nhau. Và tôi không đủ can đảm để rời bỏ một công ty có nhiều tiềm năng, thử thách đến từ việc phải chịu khó học hỏi, có nhiều việc cần phải làm để phát triển đúng hướng. Thời tôi mới vào làm việc cho công ty Fragonard, ngành sản xuất nước hoa vẫn còn khép kín đối với phụ nữ. Đó là thời điểm mà phụ nữ ít có cơ hội thăng tiến trong công ty. Tôi bắt đầu làm việc ở cấp thấp nhất, rồi từ từ, với kinh nghiệm, tôi mới đạt được một vị trí cao hơn.
Đối với tôi, nước hoa không đơn thuần là một mùi hương, mà thật ra cần được nuôi dưỡng bởi rất nhiều lãnh vực khác. Có lẽ cũng vì thế gia đình chúng tôi luôn chú trọng đến việc xây dựng cả một không gian xung quanh chủ đề nước hoa. Các dự án sáng tạo của Fragonard luôn được gắn liền với di sản.
Trong thế giới của Fragonard, ngoài mỹ phẩm và nước hoa còn có các bộ sưu tập bảo tàng, các kiểu chai pha lê hay thủy tinh có từ lâu đời, các bức tranh vẽ, cũng như sách minh họa và nhất là các kiểu trang phục truyền thống lung linh ánh sáng, rực rỡ màu sắc của vùng Provence. Trong thế giới của Fragonard, các mùi hương có thể được kết hợp với không gian thu nhỏ, yên ắng, tao nhã của ngành thiết kế nội thất, nhưng nước hoa cũng có thể tạo điểm nhấn trong một không gian thông thoáng rộng mở nhân một chuyến du lịch khám phá, đầy sức quyên rũ của những chân trời xa lạ ».
Về phần mình, ông Éric Fabre là trưởng ban nuôi trồng thực vật, chuyên sưu tầm các giống hoa để tạo hương liệu cho công ty gia đình. Ông cho biết cảm nhận của mình nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập thương hiệu Fragonard :
« Chúng tôi rất tự hào khi thấy Fragonard cho đến tận bây giờ vẫn là một công ty gia đình 100%, được các thành viên duy trì, gìn giữ như một món trang sức gia truyền. Fragonard đã phát triển đáng kể trong hai thập niên qua, từ một xưởng chế biến nước hoa ban đầu thành một thương hiệu hàng đầu. Còn tôi được giao nhiệm vụ điều hành khâu trồng hoa và phát triển hương liệu. Bản thân tôi không phải là một nhà sáng tạo, nhưng tôi rất thích các ngành nghề thủ công. Sau khi tốt nghiệp khoa kinh tế tại đại học Aix-en-Provence, tôi đến lập nghiệp ở thành phố Grasse và chính tai nơi này, tôi khám phá các truyền thống chế biến cũng như chiết xuất hương liệu.
Trong thời đại dịch Covid, khi ngành hoạt động kinh doanh đang bị chậm hẳn lại, có thêm thời gian nhàn rỗi nên tôi quyết định bắt tay vào việc nuôi trồng các giống hoa thơm. Nhờ vào sự hướng dẫn của các gia đình nông dân ở Montauroux, phía tây thành phố Grasse, tôi bắt đầu trồng ba loài hoa « biểu tượng » nổi tiếng nhất của Grasse là hoa hồng trăm cánh centifolia, hoa lài grandiflorum và hoa huệ trắng tubéreuse. Tôi muốn tìm lại những kỹ thuật lâu đời được các thợ thủ công có tay nghề truyền lại, những kiến thức cũng như cách làm có từ thế kỷ XIX không thể học ở trường, mà chỉ có thể học qua các lớp thực hành ở ngoài trời.
Công việc trồng hoa thơm để lấy hương liệu đòi hỏi nhiều thời gian và sự kiên nhẫn. Sau vài năm thu hoạch khiêm tốn, cuối cùng Fragonard đã trồng được hoa hồng centifolia, đưa tới nhà máy Robertet để chế biến thành loại tinh dầu nguyên chất (absolu). Một số ấn bản đặc biệt của Fragonard đều có sử dụng hương liệu do chính công ty này tự tay chế biến ».
Cho dù Fragonard bắt đầu trồng một số loài hoa thơm để tự chiết xuất hương liệu, dĩ nhiên sản lượng vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu rất lớn trên thị trường người tiêu dùng. Công ty Fragonard, cũng như nhiều doanh nghiệp mỹ phẩm khác, phải tìm mua các hương liệu tốt nhất trên thị trường quốc tế và đó là vai trò của cô Céline Principiano, trưởng ban quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng. Cô cho biết đôi nét về công việc của mình trong công ty Fragonard :
« Đối với tôi, thành phố Grasse có một ưu thế rất lớn. Grasse thường được mệnh danh là thủ đô của nước hoa, vì thời xưa, nơi này chẳng những trồng nhiều loại hoa thơm mà còn là trung tâm mua bán nhiều nguyên liệu thô quan trọng cho ngành chế biến nước hoa. Các nông trại ở trong vùng chuyên trồng các loài thảo mộc và hoa thơm để cung cấp cho các xưởng chiết xuất tinh dầu. Vai trò của Fragonard sau đó là tìm cách kết hợp sao cho khéo léo tài tình nhất những nguyên liệu tuyệt vời này. Nói theo thuật ngữ chuyên ngành là làm thế nào để biến một nhánh hoa thơm thành một cảm xúc trong tâm hồn.
Bản thân tôi không phải là một nhà « sáng tạo » nước hoa, tôi từng được đào tạo trong ngành dược lý và hóa sinh. Khi mới tốt nghiệp, tôi nghĩ rằng mình sẽ đi theo ngành xem xét thủ tục và cấp giấy phép lưu hành dược phẩm. Cách đây 20 năm, tôi vào làm việc cho bộ phận kỹ thuật trong công ty Fragonard một cách khá tình cờ.
Trong 8 năm gần đây, tôi có nhiệm vụ điều hành một bộ phận quan trọng hơn : quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng, từ việc mua hàng, vật liệu đóng gói, theo dõi các khâu sản xuất, giám sát hậu cần và kiểm tra chất lượng đúng theo quy định. Sau khi được hoàn tất, sản phẩm sẽ được chuyển đến bộ phận giao hàng, phân phối đến tất cả các điểm bán hàng của công ty Fragonard ».
Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập thương hiệu Fragonard, công ty này đã muốn đề cao di sản truyền thống thông qua các dự án sáng tạo. Một kiểu chai nước hoa đặc biệt được đặt tên « L’Air de Grasse », có nghĩa là mùi hương hoặc giai điệu của Grasse, do ngành chế biến nước hoa Pháp thường dùng từ vựng của âm nhạc để diễn tả mùi hương. « L’Air de Grasse » không tôn vinh một mùi hương duy nhất, mà đề cao cùng lúc nhiều loài hoa với nhau, như thể hoa được cột chặt lại thành một bó.
Một thế kỷ sau ngày ra đời, Fragonard như thể đang thực hiện hành trình tìm về cội nguồn qua việc hòa quyện nhiều mùi hương thành một thực thể duy nhất : nhẹ nhàng như hoa hồng tháng Năm (rose de mai), dịu dàng như hoa nhài hoàng gia (jasmin grandiflorum), cao sang như hoa hồng muôn cánh (centifolia). « L'Air de Grasse » không đơn thuần là một mùi hương, mà lại trở thành một bản giao hưởng.
In ấn, xuất bản và minh họa đã phát triển như thế nào tại Việt Nam trong giai đoạn 1860-1945? Triển lãm tại Thư viện Đại học Ngôn ngữ và Văn minh BULAC Paris (17/08-31/10/2026) giới thiệu gần một thế kỷ chuyển biến, từ in mộc bản truyền thống đến ngành in hiện đại du nhập từ Pháp, sự kết hợp giữa hội họa và xuất bản. Trong quá trình này, in ấn trở thành công cụ quan trọng phố biến Quốc ngữ, gắn liền với sự phát triển của văn học, báo chí, đồ họa, xuất bản Việt Nam.
In mộc bản và khởi đầu của in ấn hiện đại tại Việt NamTriển lãm này tiếp nối triển lãm về chữ Quốc ngữ do BULAC tổ chức năm 2023. Trả lời RFI Tiếng Việt, chị Nguyễn Thị Hải, phụ trách phông tiếng Việt tại BULAC và đồng tổ chức triển lãm, cho rằng để hiểu được những tiến bộ vượt bậc trong ngành in, có lẽ nên bắt đầu từ kỹ thuật in mộc bản, được giới thiệu trong phần đầu triển lãm.
“Mộc bản ở Việt Nam đã xuất hiện từ khá sớm. Thời kỳ đầu, hầu như chỉ dùng để xuất bản các văn bản về Phật giáo, sau đó là những văn bản mang tính chất chính thống của triều đình. Nhưng việc xuất bản bằng mộc bản rất đắt đỏ cho nên không thực sự phát triển ở Việt Nam. Phải đến cuối thế kỷ XIX mới thấy các sách xuất bản bằng mộc bản ở Việt Nam xuất hiện nhiều hơn, nhưng chỉ phát triển chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung.
Ở miền Nam có một cộng đồng người Hoa sinh sống rất là lớn. Để tiếp tục học và phát triển tiếng Trung, họ chủ yếu mua sách từ Trung Quốc và bán cho cộng đồng. BULAC có một bộ sách chứng minh cho quá trình di chuyển các tác phẩm văn học Việt Nam bởi các trí thức miền Nam viết tay và chép lại, sau đó gửi sang in ấn ở Phật Sơn, Quảng Đông, Trung Quốc và sau đó gửi về bán tại Sài Gòn”.
Những nhà in đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện vào thế kỷ XIX, do các nhà truyền giáo thành lập, chủ yếu để in kinh sách bằng chữ Hán và chữ Nôm. Phần lớn sách Quốc ngữ vẫn phải in ở nước ngoài, như Roma, Ấn Độ, Bangkok và Hồng Kông. Chị Nguyễn Thị Hải cho biết BULAC hiện lưu giữ nhiều ấn phẩm chữ Quốc ngữ được in tại Bangkok giai đoạn 1840-1860, trước khi Pháp thiết lập chế độ thuộc địa.
“Khi này chính quyền Nam Kỳ quyết định lập nhà in Imprimerie Nationale, vẫn gọi là Bản in Nhà nước. Lúc đầu họ chủ yếu in bằng tiếng Pháp. Phải đến những năm 1860-1865, chúng ta thấy có một số bản in bằng chữ Quốc ngữ, đặc biệt là những cuốn sách được xuất bản bởi Trương Vĩnh Ký hoặc là Gia Định báo, tờ báo Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam được in tại Sài Gòn. Thời kỳ này, các bản in rất là hạn chế bởi vì chỉ có nhà in của nhà nước.
Sau đó dần dần ở Nam Kỳ xuất hiện một số nhà in do người Pháp lập ra. Và thời kỳ này có hai luồng xuất bản. Thứ nhất là sách bằng chữ Quốc ngữ được in ấn, xuất bản bởi nhóm của Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của và các bản tiếng Pháp khác. Cùng thời điểm đó, cộng đồng người Hoa bắt đầu in bằng chữ Quốc ngữ. Nhưng các bản in thời kỳ này chủ yếu là chữ và việc minh họa rất là hạn chế”.
Trong thập niên 1920-1930, hoạt động in ấn phát triển mạnh ở miền Nam cùng với sự phát triển của chữ Quốc ngữ. Các nhà in lớn tập trung tại khu vực trung tâm Sài Gòn, các cơ sở nhỏ hoạt động quanh Chợ Lớn, chuyên in các ấn phẩm nhỏ như thơ, văn, tài liệu phổ biến thông tin. Các nhà in còn chủ động quảng bá hoạt động, ví dụ nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết thậm chí sáng tác thơ để quảng cáo, cảm ơn độc giả và kêu gọi mua sách.
In truyện dài kỳ để phổ biến chữ Quốc ngữCuối thế kỷ XIX, miền Bắc Việt Nam vẫn chủ yếu sử dụng kỹ thuật in mộc bản. Đầu thế kỷ XX, in ấn chữ Quốc ngữ bắt đầu phát triển với sự tham gia của Nguyễn Văn Vĩnh. Cùng với Dufour, một người Pháp, ông thành lập nhà in, xuất bản nhiều ấn phẩm nhằm phổ biến chữ Quốc ngữ, tiêu biểu là Tam Quốc chí diễn nghĩa, bản in đầu tiên tại Bắc Kỳ, theo giải thích của chị Nguyễn Thị Hải :
“Điều rất hay, đó là Nguyễn Văn Vĩnh quyết định dịch từng phần và xuất mỗi tuần một ấn bản nhỏ bằng chữ Quốc ngữ và sau đó gửi bán rộng rãi ở khắp nơi, không chỉ ở Hà Nội mà còn ở Trung Kỳ, Nam Kỳ. Điều này cho thấy hoạt động buôn bán, phát hành sách đã mở rộng vào đầu thế kỷ XX. Bộ Tam Quốc chí diễn nghĩa được xuất bản vào năm 1909-1910, gồm gần 100 ấn bản, mỗi tuần ra một số. Điều đặc biệt là để phát triển chữ Quốc ngữ, ngoài việc xuất bản bằng chữ Quốc ngữ, ông còn tổ chức biểu diễn kịch Tam Quốc chí diễn nghĩa bằng tiếng Việt, tương ứng với nội dung ông dịch”.
Nguyễn Văn Vĩnh tiếp tục phổ biến chữ Quốc ngữ thông qua các tạp chí và hoạt động xuất bản. Trong Notre Revue (Tạp chí Ta, khi chưa được phép xuất bản báo chí bằng chữ Quốc ngữ), ông “in lén” bản dịch Ba chàng ngự lâm pháo thủ trong 12 số báo năm 1910, sau này được nhà xuất bản Trung Bắc Tân Văn của ông phát hành thành 20 tập sách nhỏ năm 1927. Ông tiếp tục thúc đẩy chữ Quốc ngữ và phổ biến giáo dục thông qua Đông Dương tạp chí và Học báo.
Theo chị Nguyễn Thị Hải, Trung Bắc Tân Văn góp phần phát triển xuất bản ở miền Bắc nhưng đến những năm 1920, sách báo vẫn sử dụng song song chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Đến thập niên 1930, các nhà xuất bản Tân Dân, Hàn Thuyên, Mai Lĩnh, nhóm Tự Lực Văn Đoàn cùng nhà xuất bản Đời Nay và các báo Phong hóa, Ngày nay đã góp phần làm thay đổi diện mạo in ấn, xuất bản và minh họa. Đặc biệt, các ấn phẩm được đầu tư công phu về hình thức, nhất là phần bìa và minh họa.
Những thay đổi đầu tiên trong tư duy xuất bảnNgoài những tiến bộ kỹ thuật, sự thay đổi trong ý thức của nghề in và xuất bản được minh họa rất rõ trong những tấm pano tại triển lãm. Trước tiên là về tên tác giả và bản quyền, theo chị Nguyễn Thị Hải :
“Ngày xưa, văn học của Việt Nam chủ yếu là văn học khuyết danh, tức là tên tác giả không được coi trọng. Nhưng bắt đầu từ những năm 1920, quy định của chính quyền Đông Dương xác định trên bìa sách phải có đầy đủ thông tin. Điều này cũng làm thay đổi tư duy của những người in ấn và xuất bản, đó là tư duy về bản quyền.
Có thể thấy một số bìa sách, họ không chỉ viết khẳng định bản quyền bằng tiếng Pháp “Tous droits reservés”, mà còn giải thích bằng chữ Quốc ngữ. Vì thời điểm này, người Việt chưa có tư duy về bản quyền, cho nên việc dịch sang tiếng Việt của mỗi một nhà xuất bản là khác nhau. Ví dụ “cấm in bài trong sách nầy”, “cấm in trùng bản này”. Vào thời kỳ này, do ảnh hưởng của tư duy xuất bản ở phương Tây, các nhà xuất bản bắt đầu xuất bản những bản catalogue để quảng cáo sách họ bán”.
Để thu hút độc giả hơn, các nhà xuất bản cũng quảng cáo chương trình giảm giá, chân dung những người tham gia xuất bản. Các bản in đặc biệt, sử dụng nhiều loại giấy quý như Hoàng Yến, Phụng Hoàng, giấy nhiễu, lụa hồng xuất hiện tại Bắc Kỳ trong những năm 1940. Một điểm đặc biệt khác là màu sắc in ấn, theo giải thích của chị Nguyễn Thị Hải :
“Chúng ta biết là tất cả các bìa tạp chí, bìa sách đều được in màu rất chuyên nghiệp và được đầu tư. Vậy in màu như thế nào để các lớp màu phải khác nhau ? Lấy ví dụ một bìa báo của Phong Hóa và số Tết, trên nghiên cứu cơ sở giấy thì nhận thấy rằng nhà xuất bản Đời Nay đã chọn nền giấy màu cam, sau đó in các lớp màu khác nhau, lớp màu trắng, rồi đến màu cam đỏ, rồi mới đến màu xanh.
Dựa trên quy tắc màu trong ngành in, chúng tôi thử tách lớp ra để khách tham quan hiểu rõ hơn về kỹ thuật in màu thời kỳ đó. Nhờ vào Khải, một trong những thành viên ban tổ chức, Khải đã phân tách các lớp màu khác nhau và đưa ra thứ tự in màu. Chúng tôi chưa có nhiều thông tin về cách thức in, tức là các ván in kiểu gì. Có lẽ thời kỳ đó sẽ chủ yếu dùng bản in thiếc là chính để tạo cho màu nó được sinh động hơn, tranh được sinh động hơn”.
Minh họa : Tác phẩm mỹ thuậtMinh họa ở Việt Nam đã xuất hiện từ thời in mộc bản, qua các dòng tranh Đông Hồ, Kim Hoàng, nhưng việc đưa tranh vào sách còn hạn chế. Thời kỳ đầu in chữ Quốc ngữ, kỹ thuật sắp chữ nhiều dấu khiến việc minh họa thêm phức tạp. Theo chị Nguyễn Thị Hải, đến những năm 1930, minh họa trong xuất bản mới thực sự phát triển, đạt trình độ chuyên nghiệp, thể hiện rõ qua Phong hóa, Ngày nay, Nam Kỳ tuần báo…
“Một điều đáng chú ý là thời kỳ này, bìa chủ yếu được minh họa bởi các họa sĩ lớn có tên tuổi và xuất thân từ Trường Mỹ thuật Đông Dương. Việc in chủ yếu là in thông qua kỹ thuật in lito. Một số nhà in mộc bản vào thời kỳ này được chuyển dần thành những cơ sở chuyên phục vụ in minh họa cho các tờ báo. Ví dụ như báo Phong hóa, trong phần quảng cáo, nói rất rõ là họ làm việc với hiệu Ích Cát.
Tờ báo Tri tân là một trong những ví dụ điển hình của sự năng động trong việc in ấn xuất bản và minh họa. Việc đầu tư và minh họa trang bìa được nhà xuất bản rất chú trọng. Đặc biệt các kiểu chữ trên bìa Tri tân, với mỗi giai đoạn, họ sẽ chọn một kiểu chữ khác nhau, chủ yếu được viết bằng tay tức là in lito, chứ không phải dùng các hoạt chữ được bán sẵn bởi các công ty của Pháp. Vì vậy chữ và minh họa rất sinh động và rất đẹp. Ví dụ các hình dáng khác nhau khi tập thể dục nhưng được ghép vào với nhau để tạo thành tiêu đề “Thanh niên với thể thao”, chữ “Chúc mừng Năm mới” được minh họa với những dáng người khác nhau. Phải nói rằng tư duy về cái đẹp, sự đổi mới và sáng tạo thời kỳ này thực sự rất phát triển”.
Từ thập niên 1930, hình ảnh ngày càng phổ biến trên báo chí với nhiều cách bố trí như hình tròn, vuông, chữ nhật và chồng lớp. Hình minh họa được tạo trên bản thiếc hoặc bản gỗ rồi in vào trang báo, tạo nên những ấn bản sinh động, hấp dẫn. Đặc biệt, trong thời gian này xuất hiện phóng sự bằng hình ảnh, không cần lời nhưng vẫn truyền tải rõ thông điệp đến độc giả. Bìa sách cũng trở thành một tác phẩm nghệ thuật, nét riêng của mỗi nhà xuất bản, như Tân Dân, Đời Nay, Hàn Thuyên, Tín Đức Thư Xã…
“Mỗi nhà xuất bản, với bộ sưu tập, bộ sách, chọn cho mình một cách trình bày bìa khác nhau. Nó giống như một cách để định danh cho nhà xuất bản. Khi độc giả nhìn vào bìa thì hoàn toàn có thể biết ngay đó là sách của nhà xuất bản nào. Đây là một tư duy hoàn toàn mới so với thời điểm đó. Tín Đức Thư Xã chẳng hạn, bộ sách bìa gần giống với bộ sách của nhà xuất bản Gallimard ở Pháp”.
Độc giả thiếu nhi cũng được chú trọng trong thời kỳ này với những tạp chí kèm nhiều trò chơi, giải đố hoặc những bộ sách dành cho trẻ em như Hoa Xuân, Sách Hồng của Đời Nay. Bên cạnh dịch các tác phẩm văn học nước ngoài, các tác giả còn sáng tác, chuyển thể và viết lại văn học dân gian dành cho thiếu nhi.
“Đây là một sự thay đổi nhận thức rất là lớn. Các nhà văn hóa thời kỳ này đã nhận thấy rằng để cho văn hóa Việt Nam được phát triển, để nền văn học Việt Nam được phát triển thì phải đào tạo một thế hệ độc giả mới, trong đó là các bạn trẻ”.
Trong gần một thế kỷ (1860-1945), cuộc cách tân trong in ấn Việt Nam không chỉ dừng ở chữ và hình mà còn làm thay đổi tư duy về xuất bản và tiếp nhận văn hóa. Một phần quá trình này được lưu giữ tại thư viện BULAC ở Paris.
Vào lúc nước Pháp liên tục ghi nhận lượng du khách ở mức cao, tranh luận về hiện tượng “du lịch quá tải” (surtourisme) và quản lý các dòng khách tại những điểm đến nổi tiếng ngày càng trở nên rõ nét. Một số nơi như bảo tàng Louvre hay di sản lịch sử Mont-Saint-Michel thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm, trong khi nhiều khu vực khác lại đối mặt với sự phân bổ du khách không đồng đều.
Theo chuyên gia Jean-René Morice, giáo sư địa lý tại Đại học Angers và chủ tịch INNTO France, mạng lưới các viện và trường đại học tại Pháp chuyên đào tạo và nghiên cứu về du lịch, vấn đề không nằm ở tình trạng quá tải trên toàn hệ thống mà ở khả năng quản lý dòng khách tại các điểm nóng. Ông nhấn mạnh rằng hiện tượng quá tải du lịch, nếu có, chủ yếu mang tính cục bộ và theo thời điểm, và có thể được kiểm soát thông qua các biện pháp điều tiết, tổ chức và chuyên nghiệp hóa hoạt động du lịch.
RFI : Nhiều ý kiến cho rằng điều quan trọng không phải là số lượng du khách mà là chất lượng và những lợi ích kinh tế mà du lịch mang lại. Việc Paris luôn tự hào và quảng bá Pháp là quốc gia đón nhiều khách du lịch nhất thế giới liệu có thể khiến một số du khách e ngại, hoặc làm gia tăng những tranh luận trong nước về tình trạng quá tải du lịch ?
Jean-René Morice : Trước hết, vấn đề "du lịch quá tải" (surtourisme) đúng là có tồn tại ở một số nơi, đặc biệt là tại các thị trấn nhỏ có giá trị di sản hoặc những điểm du lịch nổi tiếng vốn đã rất đông khách.
Pháp sở hữu rất nhiều điểm đến đặc biệt, vì vậy cũng không thể nói rằng mọi thứ đều đang diễn biến theo chiều hướng xấu. Theo tôi, ở Pháp hiện nay đang có một sự suy nghĩ lại về mô hình phát triển du lịch. Mọi người đều thừa nhận du lịch là một lĩnh vực rất quan trọng, nhưng đồng thời cũng thường xuyên chỉ trích nó và xem đây là một vấn đề.
Dĩ nhiên, ở một số nơi vẫn tồn tại những khó khăn. Nhưng trong nhiều năm, chúng ta chưa thực sự đầu tư đủ để tiếp tục cải thiện các điểm tham quan, để đón tiếp du khách theo cách tốt nhất có thể. Khi mời một người đến nhà mình, ai cũng muốn người khách ấy được tiếp đón chu đáo nhất. Các điểm du lịch cũng phải như vậy.
Ví dụ Louvre, bảo tàng này đã xây dựng những chiến lược mới. Xin nhắc lại, riêng bảo tàng Louvre đón khoảng 10 triệu lượt khách mỗi năm. Đây là bảo tàng đông khách nhất thế giới. Trong một thời gian dài, bảo tàng chỉ có một lối vào duy nhất. Vì thế, việc thường xuyên xảy ra cảnh xếp hàng rất dài là điều không có gì đáng ngạc nhiên. Hiện nay, Louvre đang có một sự thay đổi thực sự trong cách tổ chức, với ý tưởng mở thêm nhiều lối tiếp cận và nhiều cửa vào hơn. Điều đó đồng nghĩa với việc phải cải tạo, điều chỉnh lại cách vận hành của địa điểm này.
Louvre hiện cũng áp dụng các biện pháp điều tiết lượng khách một cách hợp lý, giới hạn ở mức khoảng 30.000 lượt khách mỗi ngày. Trên thực tế, cung điện Alhambra ở thành phố Granada của Tây Ban Nha đã áp dụng mô hình này từ hơn 20 năm nay.
Một ví dụ khác, muốn lên đỉnh Pic du Midi ở dãy Pyrénées, quý vị hầu như không thể quyết định đi ngay trong ngày, bởi rất có thể đã đạt tới lượng khách tối đa trong ngày.
RFI : Điều này có nghĩa là Pháp cần phải thay đổi chiến lược ?
Jean-René Morice : Pháp cần phải xây dựng các chiến lược điều tiết, quản lý dòng khách, đặc biệt là phân bổ lượng khách theo thời gian. Trước đây, mọi người đều phàn nàn, nhưng chưa có nhiều biện pháp cụ thể nhằm chuyên nghiệp hóa lĩnh vực này. Trong khi đó, du lịch là một ngành kinh tế thực thụ, cần được quản lý một cách chuyên nghiệp, chứ không phải chỉ cần mở cửa là một địa điểm sẽ tự nhiên trở thành điểm đến du lịch.
Pháp còn rất nhiều việc phải làm. Tại các trường đại học Pháp, ở 5 Viện Du lịch Quốc gia, sinh viên của chúng tôi cùng các giảng viên, nhà nghiên cứu đang tìm hiểu về những vấn đề này : nghiên cứu các phương thức hoạt động, những cách vận hành tốt nhất và phương cách cải thiện việc quản lý các điểm du lịch.
Một trong những hướng đi là tìm cách phân bổ lượng khách theo thời gian tại những nơi quá đông. Lấy ví dụ như di tích lịch sử Mont-Saint-Michel : nếu đến đây ngoài tháng Bảy hoặc tháng Tám, lượng khách sẽ không đông. Có thể thấy tình trạng tập trung khách rất đông chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn. Khi chúng tôi trao đổi với ban quản lý Mont-Saint-Michel, họ cũng cho biết cái gọi là "du lịch quá tải" thực chất chỉ xảy ra trong khoảng 3-4-5-6 ngày mỗi năm. Còn trong phần lớn thời gian còn lại, nơi đây hoàn toàn không gặp vấn đề quá đông khách.
Đồng thời, cũng cần nhắc lại rằng 10 điểm du lịch đông khách nhất nước Pháp hiện nay hầu như đều tập trung ở Paris. Điều đó cho thấy Paris đang thu hút một lượng khách rất lớn, trong khi nhiều địa điểm khác ngoài thủ đô lại rơi vào tình trạng đón chưa đủ khách hơn là quá tải. Đó chính là công việc cần được tiếp tục triển khai.
RFI : Du lịch là một ngành kinh tế lớn và có vai trò hết sức quan trọng đối với nước Pháp. Theo ông, đâu là những điểm yếu, hay những mặt cần được cải thiện của ngành du lịch Pháp?
Jean-René Morice : Theo tôi, vấn đề hiện nay không hẳn là những điểm yếu, mà là cách quản trị ngành du lịch ở Pháp. Tôi trước hết là một nhà địa lý học, nhưng tôi quan tâm đến du lịch và tìm hiểu về du lịch như một đối tượng nghiên cứu. Bản thân du lịch không phải là một ngành học độc lập trong trường đại học. Đó là một lĩnh vực nghiên cứu, một đối tượng nghiên cứu và cũng là một ngành hoạt động kinh tế mà giới học thuật tìm hiểu và phân tích.
Hiện nay, lấy một ví dụ cụ thể, thông qua mạng lưới các Viện Du lịch Quốc gia, chúng tôi đang triển khai một chiến lược trong các trường đại học Pháp nhằm đưa du lịch trở thành một lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo và đào tạo bậc thạc sĩ, ngang hàng với các lĩnh vực khác như luật, quản trị, tài chính - ngân hàng ...
Có thể thấy rằng việc đưa du lịch vào hệ thống đại học là một viên gạch đầu tiên để sau này các chuyên gia trong ngành được đào tạo tốt hơn, các thế hệ làm du lịch tương lai được chuẩn bị bài bản hơn. Điều diễn ra trong các trường đại học cũng cần được triển khai ở mọi cấp. Tại Pháp, gần đây đã diễn ra cuộc bầu cử địa phương. Điều đáng nói là khi theo dõi các cuộc tranh luận, có thể thấy vị trí của du lịch trong các chương trình của các ứng cử viên, đặc biệt ở cấp chính quyền thành phố, vẫn còn khá mờ nhạt. Người ta nhắc đến du lịch không nhiều.
Trong khi đó, ai cũng thừa nhận du lịch là một lĩnh vực quan trọng. Hiện nay, hơn 64% người Pháp đi nghỉ ít nhất một tuần mỗi năm, có nghĩa là du lịch đã trở thành một hoạt động hoàn toàn phổ biến trong xã hội. Thế nhưng, dường như nhiều người vẫn cho rằng lĩnh vực này có thể tự vận hành mà không cần phải được quan tâm nhiều.
Đối với nước Pháp, một câu hỏi lớn được đặt ra là liệu trong tương lai chúng ta có một vị bộ trưởng chuyên trách về du lịch hay không, hay lĩnh vực này sẽ tiếp tục được đặt chung với các lĩnh vực khác, ví dụ như văn hóa. Tôi không chắc, nhưng chỉ cần nhìn sang Tây Ban Nha là có thể thấy sự khác biệt. Tây Ban Nha có một bộ trưởng phụ trách du lịch và có một chính sách, cũng như chiến lược rất rõ ràng, rất quyết liệt đối với lĩnh vực này. Trong khi đó, ở Pháp, du lịch được thừa nhận là quan trọng, nhưng không phải lúc nào cũng nằm trong nhóm ưu tiên hàng đầu.
RFI : Ông là chủ tịch INNTO France, mạng lưới các các viện và trường đại học tại Pháp chuyên đào tạo và nghiên cứu về du lịch. Theo ông, ngành du lịch Pháp sẽ có diện mạo như thế nào trong những năm tới ?
Jean-René Morice : Theo tôi, du lịch tại Pháp sẽ tiếp tục tăng trưởng. Ở quy mô toàn cầu, đặc biệt kể từ sau đại dịch Covid-19, có thể thấy nhu cầu dành thời gian cho nghỉ ngơi và du lịch ngày càng lớn.
Quan sát thế hệ sinh viên hiện nay, chúng tôi cũng nhận thấy mối liên hệ giữa họ với công việc đã khác trước. Họ không còn nhìn nhận cuộc sống giống các thế hệ đi trước. Nhiều người lựa chọn những năm "gap year", dành thời gian để trải nghiệm, khám phá nhiều nơi hơn. Có thể thấy việc đi nghỉ đang dần trở thành một nhu cầu gần như không thể thiếu. Điều này khác hẳn cách đây 20 hay 30 năm, khi nhiều người chỉ đi nghỉ nếu điều kiện cho phép.
Tất nhiên, không phải ai cũng có đủ khả năng tài chính để đi du lịch, nhưng xu hướng du lịch ngày càng được trông thấy rõ, kể cả với những chuyến đi rất ngắn. Du lịch ngày nay cũng không còn vận hành theo mô hình cũ, khi người Pháp chỉ chia thành những người đi nghỉ vào tháng Bảy và những người đi nghỉ vào tháng Tám. Cách đó đã thuộc về quá khứ. Các kỳ nghỉ hiện được chia nhỏ trong suốt cả năm, từ những chuyến đi ngắn đến các kỳ nghỉ dài hơn. Việc di chuyển thì có thể bằng máy bay hoặc bằng những phương tiện khác. Dù dưới hình thức nào, du lịch vẫn sẽ tiếp tục là một phần của cuộc sống.
Sau đại dịch Covid-19, từng có ý kiến cho rằng du lịch sẽ chấm dứt, mọi người sẽ không còn đi lại xa hay bằng máy bay nữa. Nhưng thực tế cho thấy điều đó đã không xảy ra. Theo tôi, đây là một tín hiệu tích cực. Tôi không cổ vũ việc đi máy bay bằng mọi giá, nhưng việc con người tiếp tục di chuyển là điều đáng mừng, vì đó cũng là cơ hội để gặp gỡ, khám phá và hiểu biết lẫn nhau ở quy mô toàn cầu, thay vì khép mình trong không gian riêng.
Xu hướng này sẽ còn tiếp tục trên toàn thế giới. Chúng ta mới chỉ ở giai đoạn đầu. Hiện nay người ta vẫn còn ít nhắc đến Ấn Độ, cho đến nay về châu Á, sự chú ý tập trung đặc biệt là Trung Quốc, với sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp những người dân bắt đầu đi du lịch. Dù Trung Quốc hiện cũng đang khuyến khích người dân nghỉ dưỡng trong nước, nhằm giữ khách ở lại trong nước nhiều hơn, thì nhìn chung, sự phát triển của du lịch vẫn là một xu thế toàn cầu và sẽ còn tiếp tục trong những năm tới.
Đây không phải là chuyện đoán mò tương lai. Những xu hướng này đã thể hiện rất rõ qua sự thay đổi của xã hội. Dĩ nhiên, vẫn luôn có những yếu tố có thể làm chậm đà phát triển, như xung đột, khủng hoảng hay căng thẳng quốc tế. Đại dịch Covid-19 là một ví dụ. Nhưng điều khiến nhiều người ngạc nhiên là ngành du lịch đã phục hồi rất nhanh.
Chúng tôi đã gặp gỡ nhiều chuyên gia và doanh nghiệp trong khuôn khổ sự kiện Printemps du tourisme - Mùa xuân của ngành du lịch (một chương trình xúc tiến du lịch), được tổ chức tại thành phố Angers, thuộc Anjou. Khi trao đổi với họ về vấn đề tuyển dụng, hầu hết đều cho biết tình hình hiện nay đã cải thiện đáng kể so với 2 năm trước. Điều đó cho thấy ngành du lịch đang thực sự hồi phục. Ngay tại các trường đại học cũng vậy. Trong các chương trình cử nhân và thạc sĩ mà chúng tôi phụ trách, số lượng hồ sơ của các bạn trẻ muốn theo học để làm việc trong ngành du lịch hiện là rất lớn.
RFI : Tại Pháp, có những chính sách nhằm phát triển du lịch ở những địa phương ít được biết đến hơn so với các điểm du lịch nổi tiếng không ?
Jean-René Morice : Có. Và hiện nay, đây cũng chính vấn đề đang được quan tâm. Chúng tôi đã có dịp làm việc với Anjou-Tourisme (tổ chức xúc tiến và phát triển du lịch của vùng Anjou, chủ yếu tương ứng với tỉnh Maine-et-Loire hiện nay), và ông Philippe Chalopin, chủ tịch Anjou-Tourisme - thuộc Hội đồng tỉnh Anjou. Đây là một cuộc gặp nhằm trao đổi về những công việc đang được triển khai, đặc biệt là sự phối hợp giữa trường đại học và các chủ thể tại địa phương.
Cụ thể, Anjou-Tourisme là cơ quan phụ trách phát triển du lịch của địa phương. Hiện nay, đơn vị này có hơn 20 nhân viên làm việc ở cấp vùng để hỗ trợ các doanh nghiệp, những người làm du lịch trong việc xây dựng sản phẩm du lịch và chuyên nghiệp hóa hoạt động của mình. Ở quy mô thành phố, chẳng hạn như Angers, nơi chúng tôi đang sống, cũng có Destination Angers, một tổ chức bao gồm cơ quan xúc tiến du lịch, trung tâm hội nghị và khu triển lãm.
Có thể thấy rằng ở cấp địa phương, dù là ở cấp vùng - với các cơ quan du lịch cấp vùng (trước đây gọi là các ủy ban du lịch vùng), hay ở cấp tỉnh, hoặc các văn phòng du lịch tại các thành phố, thị trấn, thì đều tồn tại một mạng lưới các tổ chức phối hợp với Atout France (Cơ quan Phát triển Du lịch của Pháp, có nhiệm vụ nâng cao sức hấp dẫn và quảng bá điểm đến Pháp đối với thị trường quốc tế).
Mục tiêu không chỉ là quảng bá điểm đến nước Pháp nói chung, mà còn tiếp tục nâng cao chất lượng, phát triển mạnh hơn các địa phương, giúp những vùng ít được biết đến cũng có thể phát huy tiềm năng du lịch. Ngày nay, ngay cả những địa phương nhỏ cũng đang tham gia vào quá trình này.
Ví dụ tỉnh Mayenne, gần Angers, địa phương này cũng đang quảng bá hình ảnh của mình, nhưng không hẳn là nhằm thu hút thật nhiều du khách phương xa, du khách quốc tế. Thay vào đó, họ hướng đến một hình thức du lịch gần, du lịch trải nghiệm tại chỗ, nhằm thu hút người dân từ các tỉnh lân cận đến tham quan hoặc lưu trú. Bởi vì đôi khi, như các nhà làm du lịch địa phương vẫn nói, những điều bất ngờ và thú vị lại nằm ngay gần chúng ta : có thể ở ngay góc phố, trong một ngôi làng gần đó, hay giữa một khu rừng ngay bên cạnh.
Ở Pháp, đặc biệt kể từ quá trình phân quyền vào những năm 1980, với đạo luật phân cấp đầu tiên được ban hành năm 1982, có thể thấy hoạt động phát triển du lịch được thực hiện rất mạnh mẽ ở cấp địa phương. Đây có lẽ cũng là một trong những nét đặc trưng của mô hình Pháp : chính sách du lịch được triển khai theo hướng rất phân quyền. Nói cách khác, chính các địa phương là những nơi chủ động nắm bắt các hoạt động du lịch và xây dựng, phát triển điểm đến của mình.
Tuy nhiên, hiện nay mô hình này cũng đang đối mặt với một điểm yếu. Các địa phương gặp khó khăn về tài chính, về nguồn lực, và phải đưa ra những lựa chọn trong bối cảnh ngân sách hạn chế. Một số nơi có thể sẽ phải cân nhắc việc duy trì hay không duy trì những cơ quan, đơn vị vốn đang đảm nhiệm việc phát triển du lịch trên địa bàn.
Đây là một vấn đề cần được theo dõi. Bởi mô hình phát triển du lịch của Pháp đã được xây dựng từ lâu, thậm chí từ trước những năm 1980, với khái niệm "vùng lãnh thổ" và mong muốn phát triển du lịch dựa trên những hoạt động, tập quán của khu vực nông thôn.
Chẳng hạn, nhiều sáng kiến đã được triển khai tại những nơi vốn không phải là điểm du lịch truyền thống, như lĩnh vực nông nghiệp. Có thể kể đến các hoạt động với hệ thống Gîtes de France từ những năm 1950, hay sự phát triển của nhiều chuỗi cơ sở lưu trú tại các vùng nông thôn. Điều đó cho thấy phát triển du lịch là một quá trình lâu dài.
RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn ông Jean-René Morice, đại học Angers, chủ tịch INNTO France, mạng lưới các viện và trường đại học tại Pháp chuyên đào tạo và nghiên cứu về du lịch !
Nhạc phẩm "Tsugunai" (hiểu theo nghĩa chuộc lỗi) là ca khúc chủ đề album phòng thu tiếng Nhật thứ 13 của Đặng Lệ Quân. Được phát hành vào đầu năm 1984, album này đánh dấu ngày diva Đài Loan xuất hiện trở lại trên thị trường Nhật Bản sau một thời gian vắng bóng. Trong tiếng Việt Tsugunai từng được đặt lời thành nhạc phẩm "Ước hẹn".
Có thể nói, album Tsugunai đã mở ra giai đoạn thành công thứ nhì của Đặng Lệ Quân tại xứ hoa anh đào. Cho dù khi mới được phát hành vào đầu năm 1984, đĩa hát này không nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của công chúng, nhưng nhờ được quảng bá rộng rãi trên làn sóng phát thanh và truyền hình, cho nên đến cuối năm 1984, đĩa hát này đạt kỷ lục doanh thu, bán được hơn một triệu bản.
Ca khúc chủ đề album giành lấy hạng nhất nhân kỳ trao Giải thưởng Truyền hình cáp Nhật Bản (Japan Cable Award) , trong khi diva người Đài Loan nhận danh hiệu Ca sĩ xuất sắc nhất trong năm. Nhờ vậy, Tsugunai đã trụ vững trên bảng xếp hạng Oricon của thị trường Nhật Bản (tương đương với Billboard của Mỹ) trong gần một năm. Ngoài bản phóng tác "Ước hẹn" của tác giả Lữ Liên, giai điệu này còn được tác giả Khúc Lan chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tình chỉ là giấc mơ" (Tình như giấc mơ).
Trên đà thành công, Đặng Lệ Quân cho ra mắt vào đầu năm 1985 album phòng thu kế tiếp với tựa đề "Aijin" (Người tình) cũng được tác giả Lữ Liên chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tan tác". Ca khúc chủ đề album cùng tên giành lấy hạng nhất bảng xếp hạng Oricon ngay trong tuần lễ đầu tiên phát hành. Bài hát sau đó giữ vị trí quán quân trong 14 tuần liên tục và bán được hơn 1,5 triệu bản. Với nhạc phẩm "Aijin" (Tan tác), Đặng Lệ Quân đã giành được danh hiệu Ca sĩ xuất sắc nhất trong năm lần thứ nhì.
Đặng Lệ Quân trở thành nghệ sĩ đầu tiên giành được ba lần liên tiếp Giải thưởng Truyền hình cáp Nhật Bản và cũng là nghệ sĩ nước ngoài duy nhất được mời biểu diễn nhiều lần trong show truyền hình đón năm mới Kōhaku Uta Gassen, một vinh dự cao quý chỉ dành cho những nghệ sĩ tài ba hàng đầu trong làng nhạc Nhật Bản. Thành công nói trên giúp phá vỡ mọi kỷ lục do chính Đặng Lệ Quân lập ra trong giai đoạn đầu sự nghiệp tại Nhật Bản (1974-1979).
Ngoài chất giọng đầy ma lực quyến rũ, nhẹ như tiếng khóc thầm nhưng làm phiêu hồn người nghe, Đặng Lệ Quân còn thành công nhờ hợp tác với các nhà soạn nhạc hàng đầu. Cặp bài trùng Miki Takashi và Akari Toyohisa đã đồng sáng tác những giai điệu đo ni đóng giày, giúp Đặng Lệ Quân chinh phục bảng xếp hạng thị trường Nhật Bản rồi sau đó nữa thành công tại các nước châu Á. Trong số các tác phẩm nổi tiếng của hai tác giả này có Toki no Nagare niMio Makase trong nguyên tác tiếng Nhật có nghĩa là "Xuôi theo dòng thời gian" còn trong tiếng Việt là giai điệu "Đời như một dòng sông" (ca sĩ Hồng Hạnh đặt lời và ghi âm). Ngoài ra, trong thời kỳ huy hoàng những năm 1980 của Đặng Lệ Quân còn có hai nhạc phẩm để đời Aijin (Tan tác) và nhất là Tsugunai (Ước hẹn).
Căn phòng còn vương vấn, nụ hôn đầy hơi ấm, nghe hôn gọi trống vắng, tên người lặng dư âm.
Giữ điếu thuốc trong tay, sao khói thuốc không bay, quá khứ nào thức dậy, cho đắm chìm men say.
Đừng tưởng ở bên nhau, sẽ bù đắp thương đau, nợ tình chưa hiểu thấu, trói buộc nhau từ đầu.
Mai này rồi đôi ta, trở thành người xa lạ, kiếp này xin hoàn trả, đền nợ tình xót xa.
Sau 2 thập niên hoạt động, với khoảng 25 triệu lượt khách, tổ chức 161 cuộc triển lãm và sở hữu một bộ sưu tập hơn 360.000 tác phẩm, bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac đã trở thành một địa chỉ văn hóa đặc biệt tại « kinh đô ánh sáng » Paris, chuyên giới thiệu và tôn vinh sự đa dạng của các nền văn hóa ngoài châu Âu.
Nhưng vai trò của bảo tàng Quai Branly không chỉ dừng ở việc bảo tồn và trưng bày các di sản văn hóa. Hai thập niên qua cũng đặt bảo tàng vào vị trí trung tâm của những cuộc thảo luận về lịch sử thuộc địa, việc hoàn trả các hiện vật và cách thức đối thoại giữa các nền văn hóa.
Nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập bảo tàng, RFI tiếng Việt đã phỏng vấn ông Emmanuel Kasarhérou, chủ tịch bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac, về những dấu ấn của bảo tàng trong 20 năm qua, vị trí của Việt Nam trong các bộ sưu tập và hoạt động hợp tác của bảo tàng, cũng như những thách thức phía trước trong một thế giới đang có nhiều biến động.
RFI : Năm nay - 2026 - là tròn 20 năm kể từ khi bảo tàng được thành lập. Điều gì tạo nên sự khác biệt cho Quai Branly - Jacques Chirac so với các bảo tàng lớn khác ở Paris, ở Pháp và trên thế giới ?
Emmanuel Kasarhérou : Điểm khác biệt nằm ở chính nội dung văn hóa của bảo tàng. Đó là giới thiệu các nền văn hóa, sự đa dạng của các nền văn hóa nhân loại đến từ bốn châu lục bên ngoài châu Âu. Đây là một nét rất đặc biệt, bởi chúng tôi là một trong số ít bảo tàng ở Paris thực hiện công việc này với quy mô rộng lớn đến như vậy. Có thể kể đến bảo tàng quốc gia về nghệ thuật châu Á Guimet, nhưng bảo tàng này thì tập trung vào châu Á.
RFI : Vậy theo ông, đóng góp quan trọng nhất của bảo tàng là gì ? Ông nhìn nhận thế nào về chặng đường 20 năm mà bảo tàng đã trải qua ?
Emmanuel Kasarhérou : Theo tôi, đóng góp của bảo tàng này là tạo điều kiện để khách tham quan khi có cơ hội đến đây có thể bước vào những cách nhìn khác về thế giới, những cách cảm nhận khác về thế giới, và khám phá những thế giới thẩm mỹ và tinh thần, đôi khi rất khác với những gì mà người châu Âu, và đặc biệt là người Pháp, vốn quen thuộc.
Qua đó, chúng ta thử nhìn nhận thế giới theo một cách khác, và bằng cách ấy, có thể bắt đầu hiểu hơn về sự đa dạng văn hóa của nhân loại, đồng thời thiết lập một mối quan hệ với sự đa dạng ấy.
Bảo tàng này thực sự được tổng thống Pháp, khi đó là Jacques Chirac, quyết định cho xây dựng, với mong muốn góp phần giúp con người hiểu về sự đa dạng văn hóa của nhân loại. Không phải coi đó là một điều cần phải xóa bỏ hay đồng nhất hóa, mà ngược lại, coi đó là một trong những động lực thiết yếu của lịch sử văn hóa nhân loại, kể từ thuở sơ khai của lịch sử nhân loại.
RFI : Bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac được xây dựng như một không gian đối thoại giữa các nền văn hóa. Sứ mệnh này đã được thể hiện cụ thể như thế nào trong 20 năm qua ?
Emmanuel Kasarhérou : Đối thoại giữa các nền văn hóa không phải là điều có thể được áp đặt hay quyết định bằng một mệnh lệnh. Đó là điều phải được thực hiện và trải nghiệm thông qua nhiều hình thức khác nhau. Và điều đầu tiên, trước hết, là phải biết lắng nghe.
Và để lắng nghe những nền văn hóa khác nhau, chúng tôi đã cố gắng thiết lập mối liên hệ với các cộng đồng, các quốc gia, các nhóm văn hóa được đại diện trong những bộ sưu tập của bảo tàng.
Tất nhiên, chúng tôi không thể làm điều đó với tất cả mọi người cùng một lúc, nhưng chúng tôi thực hiện từng bước, theo thời gian. Mục đích là vừa thu thập thêm thông tin, vừa tạo ra một cuộc đối thoại : cùng nhau nhìn lại một di sản đang được lưu giữ tại đây, với những tác phẩm có từ quá khứ ; đồng thời có được góc nhìn lịch sử mà chúng tôi có được từ những tư liệu đã đi cùng với các tác phẩm đó trong suốt quá trình tồn tại của chúng tại các bảo tàng của Pháp.
Nhưng đồng thời, điều quan trọng là phải có được cách nhìn, cảm nhận và góc nhìn của những người kế thừa các nền văn hóa ấy : ngày nay họ nhìn nhận những nền văn hóa đó như thế nào, họ muốn chúng ta nói về những nền văn hóa đó ra sao, và chúng ta phải làm sao để có thể lắng nghe, thấu hiểu cách nhìn nhận của họ.
Vì vậy, mục đích không phải là thay thế một cách nhìn này bằng một cách nhìn khác, mà là tạo ra một sự qua lại - tức là một cuộc đối thoại giữa việc lắng nghe, những lời trao đổi, và sau đó là những thông tin được truyền tải tới công chúng.
RFI : Vậy bảo tàng đóng góp như thế nào để giúp công chúng Pháp và quốc tế biết đến sự phong phú và đa dạng của văn hóa Việt Nam ? Trong những năm gần đây, bảo tàng có những cuộc triển lãm, các mối quan hệ hợp tác hoặc dự án nghiên cứu đặc biệt nào đáng chú ý và liên quan đến Việt Nam ?
Emmanuel Kasarhérou : Chúng tôi có may mắn được thừa hưởng những bộ sưu tập, đặc biệt là các bộ sưu tập dân tộc học, được hình thành trong hơn một thế kỷ qua tại khu vực này trên thế giới, và đặc biệt là ở Việt Nam.
Một trong những cuộc triển lãm đầu tiên được tổ chức tại bảo tàng có tên “Chúng tôi đã ăn rừng – Georges Condominas ở Việt Nam” (Nous avons mangé la forêt – Georges Condominas au Vietnam).
“Chúng tôi đã ăn rừng” là tựa đề một trong những cuốn sách của Georges Condominas, một nhà nhân học nổi tiếng, người Pháp gốc Việt. Ông đã nghiên cứu các vùng cao nguyên, đặc biệt là các cộng đồng ở các làng Sar Luk. Cuộc triển lãm này được tổ chức tại bảo tàng vào năm 2007-2008.
Sau đó, chúng tôi có một người cũng đã làm việc rất nhiều với phía Việt Nam, đó là Christine Hemmet, một chuyên gia về Việt Nam và từng phụ trách các bộ sưu tập châu Á của bảo tàng. Năm 2014, bà đã đề xuất một cuộc triển lãm mang tên “Cổ động - Phụ nữ trong cách mạng” (Propaganda – Les femmes dans la révolution).
Đó là một loạt áp-phích rất nhiều màu sắc, rất bắt mắt, có tính thẩm mỹ cao, phong cách hiện đại, có thể nói là rất đẹp và hấp dẫn. Những áp-phích này được giới thiệu trong một cuộc triển lãm tại bảo tàng, với sự hỗ trợ của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, bởi vì Christine Hemmet đã có nhiều năm làm việc với bảo tàng này của Việt Nam.
Tiếp theo, vào năm 2022, chúng tôi tổ chức một cuộc triển lãm của nghệ sĩ Dinh Q. Lê (tức Lê Quang Đỉnh). Ông là một nghệ sĩ Mỹ gốc Việt. Ông trải qua thời thơ ấu ở Việt Nam, sau đó sinh sống tại Hoa Kỳ. Triển lãm có tên gọi "Sợi đan ký ức" và nhiều bức ảnh khác. Ông là một nghệ sĩ đặc biệt quan tâm đến ký ức, nhất là những ký ức đôi khi rất đau đớn mà Cam Bốt, và đặc biệt là Việt Nam, đã trải qua trong các cuộc chiến tranh giải phóng.
Đó là một công trình thực sự rất đáng chú ý. Trong các tác phẩm của mình, ông đã sử dụng kỹ thuật đan, kết hợp những bức ảnh cũ với những bức ảnh gần đây, qua đó cho thấy cách chúng ta nhìn thế giới ngày nay vẫn mang dấu ấn của một dạng “lưu ảnh” trên võng mạc, của những ký ức về những gì từng xảy ra trong quá khứ. Đó là một triển lãm rất đẹp.
Đáng tiếc là nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh đã qua đời cách nay không lâu, và tôi chỉ có thể bày tỏ lòng tri ân đối với công trình tuyệt vời của ông.
Và gần đây nhất, vào tháng 04 năm 2026, chúng tôi rất vui mừng vì bảo tàng đã ký được một thỏa thuận hợp tác với tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TP.Huế). Thỏa thuận này nhằm cung cấp cho phía Việt Nam khoảng 100 bức ảnh về Hoàng thành Huế trước khi bị tàn phá nặng nề vào năm 1947, cùng khoảng 40 bản khắc và tranh vẽ về chính quần thể cung điện này.
Mục đích là hỗ trợ dự án do tỉnh và thành phố thực hiện, nhằm phục dựng toàn bộ hoặc một phần quần thể kiến trúc tuyệt đẹp này, đáng tiếc đã bị tàn phá trong các cuộc chiến.
Đó là những hoạt động mà chúng tôi đã thực hiện với Việt Nam, và chúng tôi rất mong muốn tiếp tục cuộc đối thoại văn hóa này.
Dù thế nào thì chúng tôi cũng đặc biệt vui mừng với dự án hợp tác gần đây, bởi những gì được lưu giữ tại bảo tàng như một ký ức bằng hình ảnh giờ đây có thể một lần nữa được sử dụng để phục dựng hoặc tái tạo một trong những kiệt tác kiến trúc của Việt Nam, những công trình đáng tiếc là đã bị tàn phá.
RFI : Emmanuel Kasarhérou, ông là chủ tịch bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac từ nhiều năm nay. Theo ông, ngày nay, điều gì giúp bảo tàng tiếp tục thu hút công chúng, trong bối cảnh việc tiếp cận văn hóa ngày càng được thực hiện thông qua kỹ thuật số và các công nghệ mới ?
Emmanuel Kasarhérou : Theo một nghĩa nào đó, bảo tàng này cũng là một bảo tàng kỹ thuật số, bởi đây là một trong số ít bảo tàng mang tính phổ quát, hay có thể nói là có tầm vóc toàn cầu, đưa toàn bộ các bộ sưu tập của mình lên Internet để mọi người có thể tiếp cận.
Bất kỳ ai ở Việt Nam hay ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới đều có thể tiếp cận toàn bộ 360.000 tác phẩm trong bộ sưu tập của chúng tôi. Đó là một cách để phổ biến, quảng bá và phát huy giá trị của những tác phẩm mà chúng tôi có trách nhiệm bảo tồn.
Một cách khác để phát huy giá trị của chúng là tổ chức các cuộc triển lãm. Mỗi năm, chúng tôi tổ chức khoảng 10 cuộc triển lãm, trong đó có một số triển lãm được đưa đi trưng bày tại nhiều quốc gia khác nhau. Hiện nay, chẳng hạn, chúng tôi có một cuộc triển lãm ở Hà Lan, và một cuộc triển lãm ở Trung Quốc, tại Thâm Quyến.
Có một số triển lãm như vậy được đưa đi khắp thế giới, qua đó chúng tôi giới thiệu và làm nổi bật những khía cạnh nhất định của các nền văn hóa. Thông thường, những cuộc triển lãm này cũng được thực hiện với sự hợp tác của các quốc gia đăng cai, nhằm bảo đảm rằng những nội dung văn hóa được giới thiệu phù hợp với đặc điểm, cách tiếp nhận và vốn hiểu biết đã có sẵn tại những nơi mà triển lãm được tổ chức.
RFI : Theo ông, những thách thức và ưu tiên chính của bảo tàng trong những năm tới sẽ là gì ?
Emmanuel Kasarhérou : Đó là tiếp tục nuôi dưỡng cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa trong một thế giới đôi khi có xu hướng khép mình lại. Tôi nghĩ đây là một thách thức đối với rất nhiều bảo tàng muốn, thông qua di sản văn hóa, tạo ra những hình thức hợp tác và đối thoại.
Vì vậy, chúng tôi hy vọng có thể tiếp tục duy trì khả năng đối thoại thông qua văn hóa, bất chấp những diễn biến địa chính trị phức tạp, để văn hóa trở thành một sứ giả, ngay cả khi các mối quan hệ kinh tế hoặc chính trị rơi vào những tình thế tương đối bế tắc.
RFI chân thành cảm ơn ông Emmanuel Kasarhérou, chủ tịch bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac, đã trả lời phỏng vấn !
Ravioli là món ăn truyền thống nổi tiếng của Ý, làm bằng bột mì cán mỏng có nhân bánh đa dạng như thịt, nấm, phô mai, tôm cá, rau củ thái nhỏ. Về hình dáng và cách làm, Ravioli rất giống bánh tai, bánh gối, hoành thánh hay sủi cảo của châu Á.
Cùng với mì sợi, ravioli là món ăn khá phổ biến ở khắp nơi, khác hay chăng là thành phần chế biến và cách dùng tên gọi. Trong vòng nhiều năm, nhà báo người Pháp Emmanuel Guillemain d'Echon đã đến nhiều nước trên thế giới, để sưu tầm và ghi chép công thức của mỗi kiểu ravioli của từng nơi. Kết quả là một quyển sách dạy nấu ăn dày gần 600 trang mang tựa đề « RavioLivre, le tour du monde d'un fou du ravioli » (Chuyến du lịch vòng quanh thế giới của một người ghiền Ravioli) do nhà xuất bản Keribus phát hành.
Cuốn sách này không phải là một quyển bách khoa toàn thư về Ravioli, mà lại giống như một sổ tay hành trình kết hợp với khám phá ẩm thực, vì tác giả kể lại những cuộc gặp gỡ với các gia đình người dân bản xứ, nghe họ kể lại những truyền thuyết, phong tục cũng như ghi chép lại bí quyết nấu ăn gia truyền.
Hành trình viết sách đã đưa tác giả Pháp đi đến hơn 20 nước trên thế giới : từ món Plottes của vùng Québec Canada, bánh Pierogi của Ba Lan, Klepe của vùng Balkans dùng với xốt bơ trắng trộn tỏi chứ không dùng xốt cà chua, loại Kasnudeln và Knodel của Áo, Manti ở Thổ Nhĩ Kỳ, Pelmeni của Nga, Mandu của Hàn Quốc, Gyoza Nhật Bản, Boudz của Mông Cổ, Jiaozi và Wonton của Trung Quốc …
Ngoài ra, chương cuối quyển sách dành cho những lộ trình khám phá bên lề, có thể là đề tài trong một quyển sách kế tiếp. Trả lời phỏng vấn đài RFI ban tiếng Pháp, Emmanuel Guillemain d'Echon trước hết cho biết ông thích nhất món raviolis của những nước nào :
Trên thế giới, có hàng ngàn kiểu bánh hấp có nhân đa dạng, nhưng tôi vẫn thích nhất loại bánh hấp Modak của Ấn Độ, Tiểu Long bao của Trung Quốc và Khinkali của Gruzia. Đây là một cảm nhận rất chủ quan và hẳn chắc là mỗi độc giả sẽ có một cái nhìn khác. Nhìn chung, tôi thích nét tinh tế trong cách làm cũng như trong hương vị của các loại bánh này. Bánh Modak của Ấn Độ được chế biến như một món ngọt để cúng thần đầu voi Ganesh. Trong khi bánh bao hấp Khinkali của Gruzia lại giống như Tiểu Long Bao (Xiao Long Bao) ở Thượng Hải, đó là loại bánh hấp khá công phu, vì ngoài nhân thịt còn có thêm một chút nước dùng ở bên trong lớp vỏ bột thật mỏng. Nước dùng tạo thêm nhiều hương vị và giữ cho nhân bánh được nóng lâu.
Đây là một sự kết hợp khá độc đáo mà người Ý ở vùng Bologna chưa hề nghĩ tới. Lần đầu tiên ăn bánh Khinkali, bạn sẽ khá ngạc nhiên : loại ravioli này nên được ăn nguyên chứ đừng nên cắn từng miếng, vì nếu không khéo, nước dùng sẽ đổ lên áo của bạn. Đây là món ăn quốc hồn quốc túy của Gruzia (dù chưa được công nhận chính thức). Người dân miền núi Khevsur hay Pshav đã nâng cách làm Khinkali lên hàng nghệ thuật. Bánh có vị nhẹ nhàng, cay cay, nhân thịt được trộn với rau thơm và một số thảo mộc đặc biệt của vùng núi Tushetia. Chẳng hạn như hạt thì là của miền núi có hương thơm khác lạ hơn so với loại thì là Ai Cập.
Làm thế nào để ghi chép được hết hàng ngàn loại ravioli trên khắp thế giới. Khi bắt tay viết một quyển sách « RavioLivre » với chủ đề phổ quát như vậy, tác giả Emmanuel Guillemain d'Echon cho biết ông đã tự đặt ra một số tiêu chuẩn nhằm hạn chế phạm vi tìm kiếm của mình :
Vâng, tôi phải tự giới hạn mình, loại trừ những món bánh chiên hoặc bánh nướng. Bằng không, quyển sách sẽ có đến hàng ngàn trang và cần có thêm nhiều tập.
Tại nhiều nước châu Á, các loại bánh bao nhỏ có thể được chiên hay hấp. Thổ Nhĩ Kỳ có loại bánh Manti, người Nhật Bản thường làm bánh Gyoza, bánh được luộc rồi chiên áp chảo. Ở Bắc Phi, cũng có loại bánh brik, bánh pastel ở Senegal, sambosa ở Madagascar, nhưng các loại này gần giống với bánh chiên samossa của Trung Á và Ấn Độ.
Vì thế cho nên tôi đưa ra một số tiêu chí rõ ràng : thứ nhất, khổ bánh vừa vặn có thể ăn nguyên miếng, thứ nhì bột bánh và nhân bánh cần được hấp hay luộc chín cùng một lúc. Bánh không được chiên dầu, nướng trong lò hay trên than củi, cũng như bánh không được gói bằng lá hay bằng giấy. Vì vậy, bất cứ món ăn nào gì được gói trong lá đều không được chấp nhận như zongzi của Trung Quốc, bánh lá của Việt Nam, hay bánh gói lá ngô tamales của Mexico, binaki của Philippines...
Tuy nhiên, để tránh làm phật lòng nhiều bạn đọc gắn bó với di sản ẩm thực của nước họ, tôi có dành một chương cuối để nhắc đến các loại bánh quan trọng, nên để dành cho những kỳ tới. Chỉ cần nhắc đến chữ « ravioli », người ta lập tức nghĩ ngay đến nước Ý. Nhưng món ravioli kiểu Ý chỉ xuất hiện vào thời Trung Cổ, trong khi các loại bánh hấp có nhân thịt xuất phát từ châu Á từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên, không ai biết rõ nguồn gốc cũng như người đã phát minh ra món này, theo các chuyên gia, đó là sự hình thành của hàng chục nghìn năm tiến hóa ẩm thực.
Từ đâu lại xuất phát ý tưởng viết về muôn kiểu ravioli trên thế giới ? Tác giả người Pháp Guillemain d'Echon cho biết hành trình tìm kiếm các công thức chế biến món này xuất phát từ những kỷ niệm thời thơ ấu của ông :
Vâng, chiếc ravioli đầu tiên mà tôi từng được ăn hồi còn nhỏ là của bà ngoại tôi. Ông cố tôi là người gốc Pháp từng đến lập nghiệp tại Trung Quốc vào đầu thế kỷ XX và bà ngoại tôi được sinh ra ở Thiên Tân. Do từ thời còn nhỏ, bà ngoại tôi được nuôi nấng bởi một bà vú nuôi người Hoa, cho nên khi lớn lên bà biết nói tiếng Hoa cũng như biết nấu một số món ăn Trung Quốc. Khi trở về Pháp, bà thường nấu cho gia đình các món canh thịt, bắp cải xào và thỉnh thoảng có cả món « jiaozi » (giáo tử) một loại bánh bột hấp nhân thịt, giống như sủi cảo miền bắc Trung Quốc (tiếng Hán là thủy giáo) hay bánh gyoza của Nhật Bản, còn thường được gọi là « bánh tai ».
Tôi đã được dịp thưởng thức những chiếc bánh jiaozi này khi đến Trung Quốc lần đầu tiên vào năm 2011, để tìm lại dấu vết của bà ngoại tôi ở Thiên Tân, nơi bà từng sống thời thơ ấu, cũng như tìm lại được hương vị thơm ngon của những chiếc bánh (cả hấp lẫn chiên) trong các quán ăn gia đình nho nhỏ. Còn về công thức món ăn, tôi đã trở lại Trung Quốc sống vài ngày trong một gia đình người Hoa nhân dịp Tết Nguyên đán, vì đó chính là thời điểm các gia đình thường làm bánh « jiaozi ». Các chuyến đi làm cho tôi cảm thấy xúc động bồi hồi mỗi lần nhớ lại những kỷ niệm hay những món ăn của bà ngoại.
Trong các cuộc hành trình nhằm thu thập công thức và khám phá hàng trăm biến thể của ravioli trên các châu lục, loại bánh hấp nào đã khiến tác giả cảm thấy thích thú ngạc nhiên nhất sau những chuyến đi xa. Ông Emmanuel Guillemain d'Echon cho biết :
Đối với tôi, một trong những loại ravioli đẹp mắt tuyệt vời là loại « bánh hấp thạch tím » được làm từ khoai mỡ ở Trung Quốc. Lúc đầu tôi nghĩ có lẽ sẽ tìm thấy loại bánh hấp màu tím ở Châu Phi, Nam Mỹ, hoặc Philippines, nơi chuyên trồng các loại khoai môn hay khoai mỡ, có màu tím rực rỡ.
Trong những chuyến đi xa nhằm mục đích viết sách, tôi ít bao giờ tìm thấy những điều mình đã nghĩ từ lâu ở trong đầu, nhưng lại bắt gặp rất nhiều thứ khác tuyệt vời không kém. Khi đến Trung Quốc, trong lúc tôi đang tìm kiếm một loại há cảo kiểu Quảng Đông, có lớp vỏ thật mỏng trong suốt như pha lê, tôi lại tìm thấy nhiều loại bánh hấp khác với nhiều màu, nhưng màu sắc đập mắt nhất chính là loại bánh hấp được làm từ bột khoai mỡ.
Tuy đi xa với mục đích sưu tầm công thức nấu ăn để viết sách, tác giả không gặp đầu bếp hay chủ quán ăn mà lại tìm đến những gia đình dân thường, vì ông tin rằng các món ngon được phổ biến trong dân gian thường là những món ăn gia đình từ đời này sang đời nọ. Chính các bà nội trợ nắm trong tay bí quyết gia truyền. Họ nấu ravioli trong nhà hoặc cùng với các nhóm nhỏ, theo truyền thống và công thức riêng của mỗi gia đình. Theo tác giả, có thể nói là dự án viết sách chính là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa của nhiều gia đình mà lẽ ra thường hay bị khép kín.
Điều này hoàn toàn đúng, nhất là trong một số trường hợp, tôi thực sự đã đến gõ cửa tận nhà, để xin phép ghi chép lại các công thức gia truyền làm ravioli tại những vùng nông thôn ở Áo hay ở Đức. Mỗi lần tôi đến những vùng sâu vùng xa này, tôi đề nghị trao đổi, phụ giúp một số công việc như quét dọn hay sửa nhà. Đổi lại, các bà nội trợ chỉ cho tôi cách làm ravioli của họ. Đây thực sự là một món quà bởi vì công thức chế biến món ăn đòi hỏi thời gian, tay nghề và lòng hiếu khách. Thông qua cuốn sách này, tôi muốn kể lại những câu chuyện gia đình, có nhiều điều quan trọng mà chúng ta có thể truyền đạt chia sẻ qua thức ăn. Có nhiều món ăn ta có thể tự làm một mình, nhưng khi làm ravioli, để cho nhanh hơn thì các bà nội trợ thường cần đến sự phụ giúp của gia đình, hoặc là tụ họp thành những nhóm nhỏ với bạn bè, hàng xóm, để nấu ăn theo tinh thần cộng đồng. Tôi đã từng quan sát điều này tại Thổ Nhĩ Kỳ, tại Bosnia trong cộng đồng người tỵ nạn sau chiến tranh vùng Balkans, tại vùng núi Tusheti ở Gruzia hay ở miền bắc nước Ý.
Các phụ nữ vùng nông thôn thường hẹn gặp nhau để làm ravioli, họ dành thời gian để trò chuyện, hỏi thăm nhau về cuộc sống gia đình, những đứa cháu mới sinh. Điều này lại càng hiển nhiên tại Ý, nơi có nhiều tên gọi khác nhau cho ravioli tùy theo kích thước và hình dạng. Đồng thời, cách làm món ravioli ở nhà cũng được xem như một sinh hoạt cộng đồng, gắn kết nhiều gia đình lại với nhau. Điều này không chỉ hiển nhiên ở vùng phương bắc Emila Romagna, với thủ phủ là Bologna (nơi khai sinh loại mì nhồi thịt tortellini) mà còn khá phổ biến ở các vùng miền nam nước Ý như Sicily hay Sardinia. Cách chế biến mang tính cộng đồng vì nó thực sự gắn liền với những lễ hội tôn giáo như mùa Giáng Sinh hoặc mùa lễ Phục Sinh, khi các gia đình thường quây quần bên nhau.
Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, theo ông Guillemain d'Echon, là từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, ta có thể nhìn thấy những động tác cử chỉ làm bánh được lưu truyền từ đời này sang đời nọ. Cách làm giống nhau có thể là do làn sóng di dân. Nhiều gia đình ở Achentina có cách chế biến món ravioli gần giống với người Ý, một điều khá dễ hiểu vì cộng đồng người Ý nhập cư đã đem công thức này vào Achentina. Nhưng cũng có trường hợp nhiều gia đình ở vùng Bắc Á, ở dãy núi Ural, ở vùng Balkans hay ở miền nam nước Ý có cách làm như nhau, cho dù chẳng có liên hệ gì với chuyện di dân.
Ở những phương trời xa xôi, cách biệt đến vạn dặm, các bà mẹ tuy không cần vấn ý nhau, nhưng vẫn có thể thắt cho con mình những bím tóc giống nhau, vì có lẽ đó là cách làm hiển nhiên, thuận tay nhất. Điều đó giải thích phần nào vì sao cách nhồi bột cán mỏng, để rồi cho thêm nhân bắt bánh, lại trở nên phổ biến trên khắp thế giới.
Một mái tóc bồng bềnh vàng óng ánh như lúa mì trong nắng, làn son môi lúc nào cũng đỏ chói cho nụ cười thêm tươi rói. Vóc dáng của Dolly Parton càng trở nên quen thuộc với công chúng nhờ những bộ trang phục tươi sáng, lấp lánh. Gương mặt khả ái ấy giờ đây không còn nữa. Danh ca Dolly Parton đã qua đời vì bệnh ung thư hôm 25/08/2026 vừa qua tại Nashville, hưởng thọ 80 tuổi.
Được mệnh danh là nữ hoàng dòng nhạc đồng quê, Dolly Parton (1946-2026) sinh trưởng trong một gia đình đông con tại bang Tennessee, Hoa Kỳ. Từ năm lên 10, bà đã di biểu diễn trong các chương trình truyền hình và thường xuyên hát trên đài phát thanh địa phương ở Knoxville, Tennessee. Nhân một buổi biểu diễn, bà đã có cơ hội gặp ca sĩ kiêm tác giả nổi tiếng Johnny Cash. Chính ông là người đã khuyến khích Dolly, lúc bấy giờ mới 13 tuổi, nên đeo đuổi con đường âm nhạc.
Năm 21 tuổi, DollyParton thu hút sự chú ý khi phát hành album đầu tay "Hello, I'm Dolly" (1967) do chính bà sáng tác và ghi âm. Đến đầu thập niên 1970, sự nghiệp ca hát của Dolly thực sự cất cánh với nhiều bài hát ăn khách như "Jolene, Here you come again, 9 to 5, Coat of Many Colors" và nhất là "I will always love you", được viết hầu như cùng lúc với bài "Jolene".
Ca khúc nhạc đồng quê kinh điển này được Dolly Parton thu âm lần đầu tiên vào năm 1974. Gần hai thập niên sau đó (1992), Whitney Houston thể hiện lại theo phong cách nhạc pop trữ tình cho bộ phim "The Bodyguard". Nhờ vậy, Dolly Parton trở thành tác giả của một trong những bài hát bán chạy nhất mọi thời đại.
Trong vòng 60 năm sự nghiệp, Dolly Parton đã phát hành hơn 60 album phòng thu và sáng tác hơn 3.000 bài hát, trong đó có khoảng một phần ba đã được ghi âm, vì ngoài những bản nhạc ăn khách của mình, Dolly Parton còn sáng tác nhạc cho nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác (Merle Haggard, Kenny Rogers, Hank Williams Jr, Emmylou Harris hay Skeeter Davis .....)
Với thời gian, Dolly Parton trở thành một trong những nghệ sĩ thành công nhất trong lịch sử dòng nhạc country với hơn 100 triệu đĩa hát được bán trên thị trường, 26 đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng Billboard của Mỹ và 11 giải Grammy, nhưng bà vẫn là một gương mặt hiếm hoi, từ lúc còn sống, đã được đưa vào Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Đồng quê (1999) cũng như Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll (2022) cho dù lúc đầu, Dolly Parton đã từ chối đề cử này vì bà nghĩ rằng mình không xứng đáng với một giải thưởng nhạc rock.
Album cuối cùng của Dolly Parton phát hành cuối năm 2023 mang tựa đề "Rockstar" (Ngôi sao nhạc rock) đánh dấu sự hợp tác của bà với những tên tuổi lẫy lừng nhất làng nhạc rock như Paul McCartney, Ringo Starr, Sting, Elton John, Stevie Nicks, Sheryl Crow hay Miley Cyrus ....
Tầm ảnh hưởng của Dolly Parton không chỉ dừng lại ở âm nhạc, vì ngoài ca hát bà còn từng đóng phim, sản xuất show truyền hình. Nhờ tài kinh doanh, bà làm ăn thành đạt trong nhiều lãnh vực khác, nhưng quan trọng hơn nữa, bà là một nghệ sĩ có tam lòng nhân hậu. Dolly Parton thường hay tặng tiền cũng như vận động quyên góp nhằm giúp đỡ các gia đình nghèo ở Mỹ, giúp họ vượt qua khó khăn, hoạn nạn hay bị trắng tay sau những đợt thiên tai, đồng thời bà luôn hỗ trợ giáo dục thông qua chương trình "Imagination Library" tặng sách cho trẻ em trên thế giới.
Có lẽ cũng vì thế trong mắt công chúng Mỹ, nữ hoàng dòng nhạc country không chỉ đơn thuần là một biểu tượng của làng giải trí. Dolly Parton còn là môt tâm hồn độc đáo, vĩ đại hơn cả đời thường, nhưng không bao giờ làm cho những người xung quanh mình cảm thấy nhỏ bé, đáng thương. Một con người vui tính, tốt bụng, đa tài mà vẫn khiêm tốn. Dù nay đã ra đi, nhưng Dolly vẫn để lại cho nước Mỹ một nguồn ánh sáng tưởng chừng bé tí, nào ngờ đâu vĩ đại, diệu kỳ.
Mỗi lần nhắc tới truyện trinh thám, hầu như mọi người đều nghĩ tới Agatha Christie. Với hơn 2 tỷ quyển sách được bán trong một thế kỷ qua, Agatha Christie là nhà văn được đọc nhiều nhất trên thế giới, chỉ sau văn hào Shakespeare. Tuy vậy, tác giả người Anh này không phải là phụ nữ đầu tiên thành danh nhờ sáng tác tiểu thuyết về các vụ án mạng bí ẩn, ly kỳ.
Trong làng văn học, ngòi bút đầu tiên được cho là đã khai sinh thể loại trinh thám chính là Edgar Allan Poe. Vào đầu những năm 1840, nhà văn người Mỹ đã đặt nền móng cho phương pháp điều tra hiện đại và lối suy luận logic thông qua ba tập truyện ngắn với nhân vật hiệp sĩ Auguste Dupin. Khoảng hai thập niên sau (1860), nhà văn người Pháp Émile Gaboriau gợi hứng từ cách viết của Poe để sáng tác truyện dài với vào năm 1866 viên thanh tra Lecoq trong tác phẩm « L'Affaire Lerouge » (Vụ án goá phụ Lerouge), ông trở thành cha đẻ của tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp. Chính viên thanh tra Lecoq đã gợi hứng cho bác sĩ Arthur Conan Doyle sáng chế ra thám tử Sherlock Holmes và nhân vật này đã giúp cho truyện trinh thám trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới, từ cuối những năm 1880.
Về phía các nhà văn nữ, Agatha Christie đã cho ra mắt độc giả quyển tiểu thuyết đầu tiên (Vụ án bí ẩn ở Styles) vào năm 1920. Có thể nói là cả hai nhân vật hư cấu Hercule Poirot và Miss Marple đều đã ra đời nhiều thập niên sau hai thám tử Lecoq cũng như Sherlock Holmes. Thật ra, hầu như vào cùng một thời với Conan Doyle, đã có một số nhà văn nữ nổi tiếng nhờ viết truyện trinh thám, chỉ có điều là tên tuổi của họ không được lưu truyền cho đến tận ngày nay. Hơn nữa, Agatha Christie tựa như một cây đại thụ trong làng văn học, cái bóng quá lớn của bà che khuất hẳn tác phẩm của những ngòi bút nữ đi trước.
Có lẽ để bù đắp phần nào thiếu sót này, tác giả người Pháp François Rivière gần đây đã cho phát hành quyển tiểu luận « De l'Assassinat considéré comme une affaire de Femmes », tạm dịch « Khi phụ nữ quan tâm đến các vụ án mạng », nhà xuất bản Calmann-Lévy. Cách đây vài năm, ông François Rivière đã viết một quyển tiểu sử khá đầy đủ về nữ hoàng trinh thám Agatha Christie. Lần này, quyển tiểu luận dành cho các nhà văn nữ (chủ yếu là các tác giả Anh-Mỹ) từng đóng góp khá nhiều cho thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết trinh thám kể từ giữa thế kỷ XIX. Những ngòi bút tiên phong này đã mở đường sau đó cho nhiều văn nữ khác thành công trong thể loại hồi hộp trinh thám cũng như điều tra hình sự.
Trong số này, phải kể đến các tác giả người Mỹ như Patricia Highsmith tác giả của các tập truyện xung quanh nhân vật Mr. Ripley (1950) hay Patricia Cornwell (1990). Về phía Anh, có các ngòi bút như P.D James (1960) hay Ruth Rendell (1970). Còn tại Pháp, có các nhà văn nữ như Danielle Thiéry, Karine Giebel, Céline Denjean và nhất là Fred Vargas, nổi tiếng từ những năm 1990 trở đi.
Được xem như cánh chim đầu đàn dòng truyện trinh thám của Pháp, nhà văn Fred Vargas nổi bật nhờ lối viết đậm chất văn chương, cuộc điều tra vận dụng nhiều suy nghĩ và thường không có cảnh máu me, chết chóc. Xây dựng xung quanh viên thanh tra Adamsberg, tiểu thuyết của Fred Vargas đã nhiều lần được chuyển thể thành phim truyền hình. Nội dung tác phẩm ít tập trung vào các màn săn lùng hồi hộp, rượt đuổi nghẹt thở mà lại tạo ra một bầu không khí bí ẩn bao trùm, kết nối những chi tiết tầm thường, tưởng chừng nhỏ nhặt rời rạc để rồi dẫn đến cái kết thú vị bất ngờ.
Về phần các nữ tác giả tiên phong trong việc viết truyện trinh thám vào giữa thế kỷ XIX, tác giả quyển tiểu luận François Rivière, nhân dịp trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, cho biết đã có khá nhiều ngòi bút nữ từ giai đoạn khai sinh tiểu thuyết, nhưng sau đó họ lại bị lãng quên dần dần, tác phẩm ít còn được tái bản :
« Một trong những gương mặt đã khai sinh dòng tiểu thuyết trinh thám ở Mỹ chính là nhà văn Anna Katharine Green. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, thân phụ là một luật sư chuyên về các vụ án hình sự ở New York, cho nên từ thời thơ ấu, nhà văn này đã chịu nhiều ảnh hưởng từ phía gia đình, hay ít ra cô được nghe ở trong nhà mỗi lần bố cô bàn về công việc. Cô Anna Katharine Green đã có ý tưởng khởi nghiệp văn học bằng cách viết những cuốn tiểu thuyết kết hợp điều tra vụ án và phiên toà xét xử. Nhân vật chính không phải là thám tử tư, mà lại là một cảnh sát thực thụ ở thành phố New York, dựa vào điều tra để lần tìm manh mối nhằm giải quyết các vụ án hình sự.
Được mệnh danh là người đã khai sinh tiểu thuyết trinh thám Mỹ, nhà văn này đã viết hơn 40 cuốn tiểu thuyết từ năm 1878 đến năm 1916. Khoảng một thập niên trước Anna Katharine, đã có một nhà văn nữ người Mỹ khác là Metta Victor (tên thật là Victoria Fuller), từng cho đăng nhiều kỳ trên báo các tác phẩm trinh thám trong đó có "The Dead Letter" (Lá thư gây chết chóc). Đây là một trong những tác phẩm trinh thám sớm nhất trong lịch sử văn học hiện đại. Cho nên cả hai gương mặt này đều được công nhận là những phụ nữ đầu tiên viết tiểu thuyết thuộc thể loại này. Cách dựng truyện của họ đều đã ảnh hưởng đến các ngòi bút nữ thế hệ sau, kể cả Agatha Christie. Mãi đến hơn bốn thập niên sau, Agatha Christie mới được đăng quang thành Nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám nhờ xuất bản những cuốn sách ăn khách trên toàn cầu ».
So với dòng tiểu thuyết tại Pháp, truyện trinh thám đã phát triển khá sớm và khá nhanh tại vương quốc Anh. Từ văn phong cho đến nội dung cốt truyện, mỗi nữ tác giả đều có một nét riêng. Vậy thì đâu là điểm chung giữa các ngòi bút nữ nổi tiếng như Agatha Christie, Ruth Rendell hay P.D James ? Ông François Rivière nhận xét :
«Trước hết, những phụ nữ này không có một cuộc sống dễ dàng trước khi họ trở thành những tác giả ăn khách, thành công trên văn đàn. Agatha Christie từng gặp khá nhiều vấn đề trong gia đình, cuộc sống vợ chồng thiếu hạnh phúc, nhưng có lẽ cũng vì thế mà tìm lối thoát qua chuyện sáng tác viết văn. Về phần mình, Ruth Rendell xuất thân từ một gia đình nghèo khó, không phải lúc nào cũng dư dã đủ ănd và nhà văn này đã phải chịu khó làm đủ mọi việc trong một thời gian dài để kiếm sống, trước khi thành công nhờ xuất bản những cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Còn P.D James cũng đă trải qua nhiều năm tháng để chăm sóc người chồng, do ông bị mắc bệnh tâm thần.
Có thể nói là đối với các ngòi bút này, sáng tác là một cách để « thoát ly » trong tâm trí, để quên đi phần nào gia cảnh khó khăn. Ít ra đó phần nào là động lực thúc đẩy các ngòi bút này sáng tác đều đặn và dồi dào như vậy. Một điểm chung khác là các ngòi bút này thường xuyên quan tâm đến những vụ án có thật và những phiên tòa gây chấn động dư luận. Họ luôn nhìn vụ việc từ góc độ của một người phụ nữ, và thường tự đặt mình vào tư thế của kẻ bị tình nghi hay bị cho là đã phạm tội. Tiểu thuyết của các ngòi bút này thường phản ánh bối cảnh xã hội và đồng thời phân tích khá sâu sắc về tâm lý con người ».
Trong quyển tiểu luận của mình, ngoài việc đề cập đến các ngòi bút nữ có sự nghiệp sáng tác nhiều năm trước Agatha Christie, tác giả François Rivière còn dành một chương quan trọng cho ngòi bút Ruth Rendell, mà ông cho là một trong những gương mặt đáng chú ý nhất dòng tiểu thuyết trinh thám thế kỷ XX :
« Đúng vậy, Ruth Rendell là một ngòi bút sáng tác khá sung túc đều đặn, với hơn 60 quyển truyện, kể cả tác phẩm đăng với tên thật hay đăng với bút danh. Phải nói rằng bà bắt đầu sự nghiệp sáng tác (vào năm 1964) một cách khá ngẫu nhiên, qua việc tạo ra nhân vật Wexford, một viên cảnh sát vùng tỉnh lẻ chuyên điều tra về các vụ án. Nhân vật này có đôi nét khác biệt so với các viên thanh tra nổi tiếng, các thám tử kinh điển. Một thập niên sau ngày xuất bản cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tay, bà lại cho ra mắt độc giả cuốn tiểu thuyết với tựa đề « Vera va mourir » (Vera sẽ chết), tựa đề tiếng Anh là « A Dark-Adapted Eye »
kể lại câu chuyện có thật của người phụ nữ cuối cùng thọ án tử hình, bị treo cổ ở vương quốc Anh. Tuy được gọi là truyện trinh thám, nhưng thật ra đây lại là một tác phẩm nghiên cứu mổ xẻ tâm lý tội phạm một cách tuyệt vời, bên cạnh đó tiểu thuyết còn có một dàn nhân vật đa dạng, khá bí ẩn và phức tạp về mặt nội tâm.
Đây là cuốn đầu tiên trong loạt tác phẩm xuất sắc của Ruth Rendell, được đăng dưới bút danh Barbara Vine, giúp ngòi bút này giành được nhiều giải thưởng văn học lớn, tiêu biểu nhất là giải Edgar Allan Poe Award của Hiệp hội các tác giả trinh thám ở Hoa Kỳ và giải Gold Dagger của Hiệp hội các nhà văn trinh thám vương quốc Anh, qua việc xây dựng những cốt truyện cực kỳ mạnh mẽ mà lại không giống như các quyển tiểu thuyết trinh thám thường tình. Dù gì đi nữa, những cuốn sách của Ruth Rendell đều mang dấu ấn cá nhân sâu sắc, bởi vì nhìn chung tác giả đã chấp bút sáng tác với rất nhiều tâm huyết. Có thể nói, Ruth Rendell đã nối bước bậc tiền bối Agatha Christie qua việc nâng thể loại truyện trinh thám lên hàng tác phẩm văn học thực thụ ».
Thập niên 1980 được xem là thời kỳ hoàng kim của các thần tượng nhạc pop Nhật Bản. Trong số này, có ca sĩ kiêm diễn viên, Masahiko Kondō đồng thời ông là một tay đua xe chuyên nghiệp nổi tiếng. Bài hát gắn liền với tên tuổi của ông chính là « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà), còn được gọi là « Thiên thiên khuyết ca ». Trong chương trình tuần này, có liên khúc Tịch dương chi ca với nhạc phẩm Hạnh phúc nơi nào.
Thập niên 1980 được xem là thời kỳ hoàng kim của các thần tượng nhạc pop Nhật Bản. Trong số này, có ca sĩ kiêm diễn viên, Masahiko Kondō đồng thời ông là một tay đua xe chuyên nghiệp nổi tiếng. Bài hát gắn liền với tên tuổi của ông chính là « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà), còn được gọi là « Thiên thiên khuyết ca ». Trong chương trình tuần này, có liên khúc Tịch dương chi ca với nhạc phẩm Hạnh phúc nơi nào.
Sinh trưởng (1964) tại Yokohama, tỉnh Kanagawa, Masahiko Kondō khởi đầu sự nghiệp ca hát và diễn xuất vào cuối thập niên 1970, thời ông gia nhập công ty Johnny & Associates, một trong những tập đoàn giải trí quan trọng của Nhật Bản.
Thời niên thiếu, ông là thành viên của bộ ba Tanokin Trio (cùng với hai ngôi sao khác là Toshihiko Tahara và Yoshio Nomura). Nhóm này đã gặt hái được khá nhiều thành công nhờ phim truyền hình và show ca nhạc. Vào năm 17 tuổi, Masahiko Kondō rời khỏi nhóm và chính thức ra mắt đĩa đơn solo đầu tiên (Sneaker Blues). Ca khúc này ngay lập tức đứng đầu bảng xếp hạng Oricon, ông trở thành nghệ sĩ trẻ tuổi nhất giành lấy vị trí quán quân ngay từ khi ra mắt đĩa hát đầu tay.
Trong suốt thập niên 1980, Masahiko Kondō ghi âm hàng loạt bản hit đình đám như « Gingiragin ni Kuchiganai » và « Foolish ». Nhưng khi nhắc đến những giai điệu ăn khách của giọng ca này từng được chuyển sang lời Việt, tác phẩm nổi tiếng và có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất chính là ca khúc « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà) do Koji Makaino và Akira Otsu sáng tác vào năm 1989.
Ngoài xứ hoa anh đào, giai điệu « Yūyake no Uta » còn thành công trên thị trường châu Á nhờ được phóng tác nhiều lần sang tiếng Hoa, lập kỷ lục số bán qua hai phiên bản nhạc pop tiếng Quảng Đông tại Hồng Kông (Cantopop). Đầu tiên là nhạc phẩm « Thiên thiên khuyết ca » của Trần Tuệ Nhàn và kế đến nữa là « Tịch dương chi ca » của Mai Diễm Phương.
Năm 1988, vào lúc Trần Tuệ Nhàn chuẩn bị giã từ làng nhạc, hãngđĩa PolyGram đã cho phát hành một số ca khúc « chia tay » người hâm mộ, trong đó có nhạc phẩm « Thiên thiên khuyết ca » (Muôn ngàn bài hát) do tác giả Lâm Chấn Cường đặt lời tiếng Quảng Đông và hoàn chỉnh vào đầu năm 1989. Cảm xúc trầm lắng u buồn, cùng giai điệu từ biệt vấn vương đã giúp bài hát này thành công nhanh chóng trên thị trường.
Còn trong trường hợp của Mai Diễm Phương, vào thời ấy, cô đang quay tập ba của bộ phim « Bản sắc anh hùng » (A better tomorrow III) và do Mai Diễm Phương lúc bấy giờ có quan hệ tình cảm với nam danh ca Nhật Bản Masahiko Kondō (người ghi âm bản nhạc gốc), cho nên cô mới đề nghị lấy bài hát này làm ca khúc chủ đề cho bộ phim. Tác giả Trần Thiếu Kỳ đã viết lại thành nhạc phẩm « Tịch dương chi ca » (Bài ca hoàng hôn) và chỉnh sửa lời bài hát sao cho phù hợp với cốt truyện.
Dù có cùng một giai điệu gốc và được phát hành hầu như vào cùng một thời điểm, nhưng cả hai bản cover « Thiên thiên khuyết ca » của Trần Tuệ Nhàn (Priscilla Chan) và « Tịch dương chi ca » của Mai Diễm Phương (Anita Mui) đều trở thành những nhạc phẩm kinh điển của dòng nhạc pop tiếng Quảng Đông.
Một chi tiết thú vị khác là nam ca sĩ Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung) cũng từng hát lại bài này, cho dù anh không xuất hiện trong tập phim thứ 3 của « Bản sắc anh hùng », bên cạnh Mai Diễm Phương, Châu Nhuận Phát và Lương Gia Huy.
Khi du nhập vào Việt Nam vào đầu thập niên 1990, ca khúc đã được đặt thêm nhiều lời Việt khác nhau. Bài đầu tiên có tựa đề « Tan vỡ » là của tác giả Minh Tâm do Cẩm Ly & Tài Linh thể hiện.
Lời thứ nhì « Chuyện tình ta tan vỡ » là của tác giả Nhật Ngân. Đây là phiên bản lời Việt quen thuộc nhất với người hâm mộ, từng được nhiều giọng ca nổi tiếng như Mỹ Tâm, Quang Hà, Mai Tiến Dũng và gần đây hơn nữa là Hà Nhi và Quốc Thiên đều có hát lại.
Phiên bản thứ ba « Chỉ có em trong tim » là của tác giả Khúc Lan, qua phần trình bày của Ý Nhi và Kenny Thái, dựa theo phiên bản tiếng Anh « There's only you in my heart ».
Trong bản gốc, Masahiko Kondō nhìn lại những mối tình sâu đậm đã qua cũng như những thăng trầm trong cuộc đời. Cảnh vật trong ánh tịch dương năm nào vẫn chưa thay đổi, chỉ có tâm hồn khi vắng một người, mới càng cảm thấy đơn côi.
Hoàng hôn vắng, tình đã xa
Bốn mùa thu đông xuân hạ
Khi xưa mát dịu chiều tà
Nay sao rát bỏng làn da
Tưởng chừng nắng còn trên má
Ngờ đâu ướt đẫm lệ nhòa
From the publisher's feed
Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

2 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners