Tạp chí văn hóa

Tạp chí văn hóa

By RFI Tiếng ViệtArts
Download on the App Store

Tạp chí văn hóa episodes

  • Nhạc Nhật lời Việt : Marcia và nhạc phẩm  "Khi thành phố vắng anh"

    Đất nước Brazil là nơi có đông đảo người Nhật định cư. Xuất thân từ cộng đồng hải ngoại, nhiều nghệ sĩ gốc Nhật đã thành danh nhờ tài nghệ sáng tác hay biểu diễn trên sân khấu. Đó là trường hợp của tay đàn ghi ta Mateus Asato, nhạc trưởng Naomi Munakata, tác giả Lisa Ono, ca sĩ Carlos Toshiki thành viên sáng lập nhóm Omega Tribe và nhất là Marcia, một trong những ngôi sao nhạc trẻ những năm 1990.

    Sinh trưởng tại thành phố São Paolo, Marcia xuất thân từ một gia đình người Nhật định cư tại Brazil từ nhiều đời qua. Vào năm 16 tuổi, cô bắt đầu sự nghiệp trong làng giải trí sau khi về hạng nhì nhân một cuộc thi tuyển lựa tài năng mới năm 1985 (Kayou Senshuken) với sự tài trợ của đài truyền hình TBS, thuộc tập đoàn truyền thông Tokyo Broadcasting System ở vùng Kantō. 

    Do chưa đến tuổi trưởng thành, nên Marcia được ông nội đưa từ Brazil sang Nhật Bản học tập.Thời gian đầu, cô học hát dưới sự hướng dẫn của nhà soạn nhạc kỳ cựu Kosho Inomata và học lớp diễn xuất với thầy Sakamoto Fuyumi. 

    Đầu năm 1989, Marcia vừa tròn 20  tuổi cho ra mắt đĩa hát đầu tay với tựa đề "Furimukeba Yokohama" (Nhìn lại Yokohama). Do hai tác giả đồng sáng tác : Kosho Inomata (nhạc) Eiji Takino (lời), đĩa đơn này đã mang về cho Marcia nhiều giải thưởng quan trọng, trong đó có giải dành cho Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất trong năm (Nihon Record Taishou). Trong tiếng Việt, giai điệu này từng được tác giả Khúc Lan đặt lời thành nhạc phẩm "Mộng sầu cô đơn".

    Từ những năm 1990 trở đi, Marcia ngày càng trở nên nổi tiếng. Tên tuổi của cô được biết đến rộng rãi không những qua đĩa hát mà còn qua phim ảnh, show truyền hình, chương trình tạp kỹ hay các vở nhạc kịch. Còn trên phương diện âm nhạc, Marcia thành công với khá nhiều bài hát trích từ 12 album phòng thu thực hiện trong vòng hai thập niên liền (1989-2009).

    Trong số những bài hát ăn khách nhất của Marcia, ngoài nhạc phẩm "Mộng sầu cô đơn", còn có "My love goodbye" (Tạm biệt người tình) và nhất là "Dakishimete" (trong tiếng Nhật có nghĩa là Hãy ôm em). Bài này từng được chuyển sang tiếng Việt thành nhạc phẩm "Khi thành phố vắng anh".

    Một số nhà phê bình cho rằng lối thể hiện của Marcia mang nhiều ảnh hưởng của diva Đài Loan Đặng Lệ Quân, trong  cách nhả chữ thanh thoát nhẹ nhàng, tao nhã tơ vương. Nhưng thật ra, Marcia lại chịu ảnh hưởng của thế hệ trước đó nữa, qua giọng ca thần tượng Hibari Misora, người mà Đặng Lệ Quân thường hay nghe thời niên thiếu. 

    Một chi tiết thú vị là tên thật của danh ca Hibari Misora là Kazue Kato. Gia đình Marcia rất hâm mộ giọng ca này cho nên đã chọn tên thật của thần tượng để đặt cho cô con gái. Tên gọi đầy đủ của Marcia chính là Marcia Kazue Nishiie.

    Chi tiết thú vị thứ nhì là Marcia đã ra đời vào ngày 14 tháng Hai năm 1969. Do sinh nhật của cô trùng với ngày Lễ Tình nhân, cho nên Marcia thường hay nói đùa rằng không hiểu vì sao từ khi còn nhỏ, cô chỉ thích nghe và thích hát nhạc tình : 

    Ngước mắt nhìn hoàng hôn 

    Mà nghe tim chợt buồn 

    Tình chẳng còn ham muốn 

    Cho hồn càng buồn hơn 

     

    Nhìn những hạt mưa tuôn 

    Trên khung cửa mù sương

    Tương lai nhoà vết xoá 

    Mờ chân trời yêu thương

     

    Nhịp mưa khúc nhạc buồn 

    Điệu bossa phiền muộn 

    Hãy cho nhau lần cuối

    Đắm đuối ngàn nụ hôn

    10 min
  • Pháp: Những giai thoại thú vị của Guillaume Gomez, đầu bếp Điện Elysée

    Hiếm có đầu bếp Pháp nào lại có nhiều chuyện thú vị để kể như ông Guillaume Gomez. Vào năm 25 tuổi, ông trở thành gương mặt trẻ nhất được trao tặng danh hiệu « Nghệ nhân xuất sắc nhất nước Pháp » (Meilleur Ouvrier de France). Vài năm sau khi được chính thức tuyển dụng vào Điện Élysée ( phủ tổng thống Pháp ), ông trở thành bếp trưởng, phục vụ bốn đời tổng thống Pháp Chirac, Sarkozy, Hollande và Macron.

    Do làm việc 24 năm liên tục, từ năm 1997 đến năm 2021, trong nhà bếp Điện Élysée, ông Guillaume Gomez biết rõ hậu trường cũng như cách vận hành của phủ tổng thống. Tuy đã từng phục vụ một số nhân vật nổi tiếng hàng đầu thế giới, trong đó có nữ hoàng Anh Elizabeth Đệ Nhị và tổng thống Mỹ Donald Trump, nhưng vẫn luôn giữ thái độ kín đáo, khiêm nhường. Sau khi rời Phủ tổng thống vào năm 2021, ông tiếp tục « nhiệm vụ » truyền đạt kiến thức cho các thế hệ sau. Hiện giờ, ông tiếp tục bảo trợ các trường dạy nghề ẩm thực tại Madagascar, Cameroun hay Đảo Mauritius, nhằm tạo cơ hội cho giới trẻ khởi nghiệp hoặc tìm việc làm. Nhân dịp ra mắt quyển sách « À la table du destin, du rêve d'enfant au Palais de l'Élysée » (Tại bàn ăn định mệnh : Từ giấc mơ thời thơ ấu đến Điện Élysée) nhà xuất bản Hors Cadre, Guillaume Gomez đã nhận trả lời phỏng vấn ban Pháp ngữ RFI.

    Ông cho biết lần đầu tiên ông gia nhập đội ngũ đầu bếp tại Điện Élysée là vào năm 19 tuổi (1997), dưới thời tổng thống Chirac. Thế nhưng, theo Guillaume Gomez, đam mê nấu ăn đã có từ lâu :

    Tôi luôn muốn trở thành đầu bếp, ngay từ khi còn rất nhỏ. Trong gia đình, ông cố tôi là một đầu bếp, từng học nghề và làm việc với bậc thầy Auguste Escoffier. Có lẽ tôi đã thừa hưởng cái khiếu nấu ăn từ phía gia đình bên ngoại. Mẹ tôi vẫn còn giữ một bức ảnh khi tôi còn học lớp mẫu giáo. Nhân một kỳ liên hoan nhà trường, trong khi các bé gái thích hóa trang thành nàng tiên hay công chúa, còn các cậu bé trai cùng lứa tuổi thích trở thành cảnh sát hay cao bồi, thì trong bức ảnh chụp tôi lại hóa trang thành một đầu bếp.

    Khi lớn lên, tôi bắt đầu sưu tầm các quyển sách dạy nấu ăn. Tôi còn nhớ quyển đầu tiên là quyển sách « La cuisine du Marché » (hiểu theo nghĩa nấu ăn với các món mua ngoài chợ trong ngày) của bậc thầy Paul Bocuse. Cha mẹ tôi kiếm sống nhờ nghề buôn bán đồ cũ. Vào thời ấy, bố mẹ tôi còn nghèo, cho nên dù đam mê nấu ăn nhưng chưa bao giờ tôi được đi ăn nhà hàng. Biết rằng tôi bắt đầu sưu tầm sách dạy nấu ăn, mẹ tôi thường để dành cho tôi một số cuốn sách mà bà tìm thấy. Một số quyển sách cũ đến nổi cho dù muốn bán thì cũng chẳng có ai mua.

    Sinh trưởng tại vùng ngoại ô nghèo của Paris (Seine Saint - Denis), ông bắt đầu học nghề nấu ăn từ năm 14 tuổi. Trong những bước đầu « tầm sư học đạo », Guillaume Gomez cho biết ông đã gặp được nhiều người tốt. Những vị ân nhân ấy đã tạo cơ hội cho ông gõ đúng cửa, tìm đúng việc hợp với sở thích của mình. Đầu bếp người Pháp nhận xét :

    Vâng, tôi rất may mắn vì nhiều lý do. Đầu tiên hết là từ khi còn nhỏ tôi đã biết mình muốn làm gì khi trưởng thành, cho nên đỡ phải mất thời gian để định hướng nghề nghiệp. Hơn nữa, tôi luôn được bố mẹ ủng hộ, bất chấp sự bất đồng của thầy cô trong trường, cho rằng cho tôi đi học nghề chẳng khác gì lãng phí khả năng học chữ của tôi. Cuối cùng, khi mới vào đời, tôi đã may mắn gặp thầy tôi là ông Johnny Benaria, mà tôi xem như một người cha thứ nhì. Chính ông Benaria cùng với Jacques Le Divellec đã giới thiệu tôi với đầu bếp Joël Normand, nhờ vậy tôi mới chính thức được tuyển vào làm việc cho Điện Élysée vào năm 1997, ngay sau khi tôi thi hành nghĩa vụ quân sự. Trong thời gian thử việc, bếp trưởng Joël Normand đã chỉ dẫn tôi một cách tận tình, quả thật là tôi rất may mắn khi gặp được những người thầy tốt đến như vậy.

    Học thầy không tầy học bạn. Trong mắt đầu bếp người Pháp, khoảng thời gian làm việc trong nhà bếp của Điện Élysée đã đem lại cho ông nhiều kinh nghiệm hữu ích, có giá trị tương đương với thời gian học tập tại 10 trường dạy nấu ăn. Ông Guillaume Gomez giải thích :

    Đúng vậy, bởi vì trong êkíp của chúng tôi, có rất nhiều đầu bếp trẻ tuổi từng thực tập hay làm việc cho các nhà hàng ba sao nổi tiếng nhất của Pháp. Qua công việc thường ngày, chúng tôi trao đổi kỹ thuật chế biến, bí quyết tay nghề cũng như các công thức nấu ăn. Có thể nói là nhà bếp của Điện Élysée giống như một lớp đào tạo tập hợp về cùng một chỗ những thực tập sinh đến từ nhiều trường phái khác nhau như Bocuse, Ducasse hoặc Robuchon. Thú vị hơn nữa là chúng tôi có thói quen khuyến khích nhau để cùng học hỏi tiến tới, chứ không phải học tập để lấy bằng điểm.

    Làm thế nào để nấu một bữa tiệc thịnh soạn để chiêu đãi thượng khách, nhưng đồng thời tránh làm phật lòng một nguyên thủ quốc gia như trường hợp của tổng thống Mỹ Donald Trump, nổi tiếng là thích ăn burger và pizza. Việc tiếp đón tổng thống Hoa Kỳ (với tất cả những ràng buộc vê mặt nghi thức lễ tân) đã để lại cho đầu bếp người Pháp nhiều giai thoại thú vị. Ông Quillaume Gomez cho biết thêm về khái niệm « ngoại giao bàn ăn ».

    Nhân chuyến công du nước Pháp đầu tiên của tổng thống Trump, chúng tôi được giao nhiệm vụ nấu một bữa ăn trưa cho hai nguyên thủ quốc gia Mỹ và Pháp. Thế nhưng, việc đưa vào thực đơn Điện Élysée các món ăn như burger hay pizza là điều không thể tưởng tượng nổi. Cũng may là chúng tôi có sự giúp đỡ của Câu lạc bộ các bếp trưởng hàng đầu (gọi tắt là Câu lạc bộ 3C). Do đầu bếp Pháp Gilles Bragard thành lập vào năm 1977, câu lạc bộ này gồm nhiều thành viên chuyên làm việc tại Phủ tổng thống hay Phủ thủ tướng. Nhờ câu lạc bộ 3C, tôi mới có dịp liên lạc trực tiếp với bà bếp trưởng tại Nhà Trắng, chính bà đã gợi ý cho tôi làm món sườn heo nướng xốt barbecue. Gợi hứng từ công thức này, tôi nấu món thịt thăn lợn với một chút xương. Đây là giống lợn đen nuôi ở vùng Bigorre, thịt mềm mà vẫn không nhiều mở, tẩm gia vị thơm ngon, dùng kèm với khoai tây thái thật mỏng thành nhiều que thon chiên giòn, nên được gọi là khoai tây « rơm », tiếng Pháp gọi là pomme paille. Rốt cuộc, tổng thống Trump rất hài lòng về bữa ăn này, mà chúng tôi cũng tuân thủ đươc nghi thức lễ tân.

    Có thể nói, ẩm thực cũng như nghệ thuật bàn ăn là phản ánh hình ảnh và uy tín của nước Pháp. Đó là một phần quan trọng trong văn hóa Pháp, nhưng đồng thời mang tính ngoại giao, bởi vì thông qua bàn ăn, chúng ta tạo được hình ảnh đẹp, thu hút sự chú ý cũng như chinh phục cảm tình của người nước ngoài. Tôi đã từng phục vụ bốn đời tổng thống, mỗi vị nguyên thủ có một phong cách riêng, nhưng nhìn chung họ ý thức về tầm quan trọng của nghệ thuật ẩm thực, do vậy họ đều muốn đề cao các đặc sản của Pháp thông qua các bữa ăn thường ngày, cũng như qua các buổi lễ tân tại Điện Élysée.

    Đầu bếp Guillaume Gomez gặp Emmanuel Macron lần đầu tiên khi ông ấy mới 35 tuổi, chưa được bầu làm tổng thống. Nhiều năm sau khi đắc cử, tổng thống Macron mới bổ nhiệm đầu bếp Guillaume Gomez làm đại sứ nhằm quảng bá ẩm thực Pháp ở nước ngoài. Lý do gì khiến ông Gomez rời bỏ chức vụ bếp trưởng Điện Élysée cho dù về mặt sự nghiệp, ông đã thành công trong gần 25 năm qua?

    Tôi không phải là một công chức và hành trình của tôi tại Phủ tổng thống (Điện Élysée) đã đến hồi kết. Phải chăng tôi đã ngủ quên trên một chiếc "ghế ngồi" quá thoải mái, hay là tôi tò mò muốn xem chương sách tiếp theo là gì ? Việc tôi rời một chức vụ không có nghĩa là tôi từ bỏ nhiệm vụ. Khi được bổ nhiệm làm đại sứ ẩm thực, nhiệm vụ của tôi không chỉ là quảng bá ẩm thực Pháp ở nước ngoài mà còn là cải thiện dinh dưỡng, khuyến khích giới trẻ ở Pháp ăn uống lành mạnh.

    Một chế độ ăn uống kém, gồm nhiều thức ăn nhanh, cũng như dùng quá nhiều thực phẩm chế biến thường dẫn tới các chứng bệnh béo phì, tiểu đường, huyết áp cao …. Mỗi năm, các chứng bệnh này gây thiệt hại hàng chục tỷ euro, thậm chí còn cao hơn nhiều lần mức thâm hụt ngân sách quỹ an sinh xã hội (hiện thời là 23 tỷ euro). Trong vài năm tới, chúng ta sẽ gặp rất nhiều vấn đề y tế công cộng nếu chúng ta vẫn ít coi trọng giáo dục dinh dưỡng, nhất là đối với giới trẻ thời nay. Theo tôi nghĩ, chúng ta đừng chờ, mà nên tìm cách đối phó ngay từ bây giờ.

    10 min
  • 200 năm ngày khai sinh bảng chữ nổi của Louis Braille

    Cách đây 200 năm, một thiếu niên người Pháp bị mù do tai nạn, đã phát minh một bảng chữ nổi, giúp hàng triệu người khiếm thị trên khắp thế giới có thể đọc chữ bằng đầu ngón tay.

    Gợi hứng từ cách « viết chữ trong bóng tối » (code Barbier) để sĩ quan Pháp đọc mật mã tin nhắn vào ban đêm, Louis Braille, lúc bấy giờ mới 16 tuổi, đã hoàn chỉnh bộ chữ cái La tinh viết bằng các dấu chấm nổi. Cũng từ năm 1825 trở đi, bảng chữ nổi còn được gọi là chữ Braille.

    Hai thế kỷ sau ngày ra đời, bảng chữ Braille được phổ biến tại 140 quốc gia trên thế giới, do có thể ứng dụng cho bất kỳ ngôn ngữ nào có dùng ký tự La tinh. Nhưng trước khi học cách dùng chữ Braille, người khiếm thị phải biết đọc và biết viết tiếng mẹ đẻ của mình, rồi sau đó mới học chữ Braille. Cũng như người thường đọc chữ bằng mắt, người khiếm thị đọc chữ bằng đầu ngón tay, nhưng nếu không luyện tập trong một thời gian dài, người khiếm thị có thể quên cách đoc bảng chữ Braille. Trong xã hội công nghệ thời đại, có rất nhiều ứng dụng dùng âm thanh để hỗ trợ người khiếm thị. Có lẽ cũng vì thế, nạn mù chữ Braille ngày càng gia tăng, do giới trẻ thời nay ít còn quan tâm đến việc học chữ nổi.

    Tại Pháp, trong số các tổ chức trợ giúp người khiếm thị, có Trung tâm Phiên âm và Xuất bản chữ Braille (gọi tắt là CTEB) ở Toulouse. Mục tiêu của hiệp hội này là tạo điều kiện cho người khiếm thị tiếp cận dễ dàng hơn sách giáo khoa hay sách đọc in bằng chữ nổi. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Denis Guérin, trưởng ban điều hành trung tâm CTEB, cho biết vì sao việc duy trì sách in chữ Braille là điều cần thiết :

    « Chúng ta nên hiểu rằng, sách chữ nổi nói riêng và sách dành cho người khuyết tật nói chung ít khi nào được chính phủ tài trợ. Sách chữ nổi không dành cho số đông, ấn bản thường bị giới hạn, cho nên giá sách chữ nổi thường rất là cao, khoảng 700 euro một bộ. Vì vậy, có hai trở ngại lớn : Nhiều gia đình không đủ khả năng để mua những cuốn sách đắt tiền như vậy và hơn nữa, dù có muốn đọc sách, người khiếm thị cũng không có nhiều sự lựa chọn. Bởi vì trên thế giới hiện giờ, chỉ có 4% sách in được biên soạn lại bằng chữ nổi dành cho người khiếm thị. Mỗi năm, hiệp hội chúng tôi xuất bản 200 đầu sách mới, được biên soạn cho người hoàn toàn khiếm thị hoặc có thị lực kém. Nhưng nhìn chung, độc giả khiếm thị vẫn không có nhiều sách để đọc.

    Chẳng hạn như trong loạt truyện Harry Potter mỗi cuốn sách bỏ túi dày khoảng 400 trang, được bán với giá 10 euro. Để biên soạn lại theo chữ nổi Braille đọc bằng đầu ngón tay, quyển sách 400 trang này sẽ có đến 18 tập khổ A4, mỗi tập tương đương với một chương sách thường. Từ giá 10 euro ban đầu của một quyển sách thường, giá thành của một bộ sách chữ Braille 18 tập là khoảng 700 euro, chủ yếu vì khâu biên soạn đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Mỗi đầu sách mới bằng chữ nổi, chỉ được in thành vài phiên bản mà thôi ».

    Tuy phát hành mỗi năm 200 đầu sách mới, ban điều hành ngành xuất bản chữ nổi còn nhận thấy rằng trong thời gian gần đây, lại xuất hiện thêm một vấn đề khác. Đó là số người biết đọc chữ Braille ngày càng ít đi. Ông Denis Guérin, thuộc Trung tâm Xuất bản chữ Braille (CTEB), cho biết vì sao :

    « Vâng, chúng tôi không có số liệu thống kê chính thức, nhưng theo các chuyên gia, số người biết đọc chữ nổi tại Pháp là khoảng từ 15% đến 20% trong cộng đồng người khiếm thị, tức là cứ trên 5 người khiếm thị, chỉ có một người biết đọc chữ nổi. Sở dĩ có tình trạng này là vì chúng ta thiếu giáo viên, thiếu trường chuyên biệt, thiếu tài liệu giảng dạy hay sách đọc để giải trí. Đó là lý do vì sao chúng ta nên duy trì việc xuất bản sách, không chỉ  tiểu thuyết văn học, mà nhiều sách giáo khoa cũng cần được chuyển thể sang chữ Braille.

    Hiện giờ, hệ thống chữ nổi đã xuất hiện tại nhiều nơi công cộng, trong bảo tàng thư viện, trong thang máy dẫn đến bến tàu sân ga, có thể nói là hệ thống chỉ dẫn người mù ngày càng được phổ biến ở Pháp, nhưng ngược lại, vẫn thiếu nguồn lực dành cho văn hóa và giáo dục : vẫn chưa có nhiều đầu tư vào việc đào tạo giáo viên hay tài trợ sách giáo khoa để tạo cơ hội cho người khiếm thị có thêm sách để học, có thêm truyện để đọc ».

    Thời đại công nghệ số phải chăng tạo thêm nhiều khó khăn khác cho người khiếm thị. Hệ thống chữ Braille có thật sự khó học hơn so với các ngoại ngữ thông dụng, Ông Denis Guérin cho biết :

    « Nếu không có đủ trường học để dạy cách đọc chữ nổi, dĩ nhiên chúng ta có thể thay thế bằng công nghệ âm thanh cùng với điện thoại thông minh. Có thể nói, chúng ta chọn một con đường dễ dàng hơn.

    Nhưng cũng nên nhắc nhở tầm quan trọng của chữ nổi đối với người khiếm thị, kể cả những người kém thị lực và những người hoàn toàn bị mù. Người có thị lực kém, nhưng vẫn còn một chút khả năng nhìn, vẫn có thể đọc sách bằng cách phóng đại, điều chỉnh cỡ chữ lớn hơn. Còn những người mù thì lại cần viết và đọc hệ thống chữ nổi. Chẳng hạn như một thanh niên trẻ tuổi, tuy có thị lực bình thường, nhưng lại không thích đọc sách, chỉ thích xem phim (hình ảnh) và nghe nhạc (âm thanh) thì với thời gian, bạn trẻ này sẽ mất dần kỹ năng đánh vần, nhận diện mặt chữ và dễ viết sai chính tả. Do vậy, bất kể bạn đọc bằng mắt hay đọc bằng đầu ngón tay, thì lợi ích của việc đọc vẫn là nắm vững nội dung qua hệ thống chữ viết hay chữ nổi. Việc đọc khác với nghe nhìn, mặc dù những ứng dụng âm thanh đã giúp đỡ rất nhiều các cộng đồng người khiếm thị trên khắp thế giới trong 20 năm qua.

    Về chuyện học chữ nổi, tôi không nghĩ là chữ Braille khó học so với các ngoại ngữ như tiếng Đức chẳng hạn. Theo kinh nghiệm của tôi, khi bạn tập đọc, tập viết từ khi còn nhỏ, đâu đó bạn đã rèn luyện cho bộ não của mình làm quen với một hệ thống mới. Rồi sau đó, thầy cô ở trường, phương pháp giảng dạy và sách vở giáo khoa giúp cho bạn xây dựng năng lực học tập. Theo tôi, chữ Braille không khó hơn bất kỳ ngôn ngữ nào khác. Và quá trình thức học tập lúc nào cũng đòi hỏi thời gian ».

    Học chữ Braille khó hay dễ? Trả lời câu hỏi này, Michelle, một phụ nữ cao tuổi, cho biết bà đã quyết định học chữ Braille ở tuổi 69, sau khi bị mất thị lực do một chứng bệnh về mắt :

    « Tôi đã học chữ Braille ban đầu là vì nhu cầu trong đời sống thường nhật. Nếu mù chữ nổi, tôi không thể nào nhận ra những hộp thuốc mà tôi cần dùng hàng ngày. Sau đó, tôi học chữ nổi là vì sở thích, bởi vì thông qua chữ Braille, tôi đã khám phá lại rất nhiều điều : Đầu tiên là niềm vui đọc sách, thả trí tưởng tượng qua câu chữ ngôn từ, kế đến nữa là tôi luyện trí nhớ, nhất là trong tiếng Pháp bạn hơi phân vân về mặt chính tả, khi bạn ngừng đọc sách. Bạn không thật sự ý thức được điều đó, chừng nào bạn chưa đánh mất nó. Khi bắt đầu học chữ Braille, tôi đã học bảng chữ cái khá nhanh. Xúc giác ở đây rất quan trọng và tôi dùng ngón trỏ để thực hiện mọi thao tác. Công việc đọc sách đến sau khi học thuộc lòng bảng chữ cái. Tôi thấy việc học chữ Braille chẳng khác gì học một ngoại ngữ. Khác biệt duy nhất là chữ Braille đồng nghĩa với khiếm thị, trong khi ngôn ngữ nước ngoài không có liên quan gì tới khuyết tật ».

    Thế giới đã bước vào thời kỳ của trí tuệ nhân tạo, của các ứng dụng trên điện thoại thông minh cũng như máy móc có thể được điều khiển bằng giọng nói. Thế nhưng, các công cụ hiện đại này có giúp phát triển chữ Braille, hay ngược lại tạo thêm trở ngại cho việc học chữ nổi? Về điểm này, các chuyên gia trong ngành cho rằng những công cụ này bổ sung cho nhau:

    « Vào thời công nghệ số, cho dù đang học cách sử dụng các công cụ hiện đại, người khiếm thị có nhiều lúc vẫn cần đến chữ nổi Braille. Theo các chuyên gia, nhiều người mắc sai lầm khi cho rằng hệ thống chữ nổi Braille và ứng dụng điện thoại thường đối đầu với nhau, thậm chí công nghệ hiện đại có thể thay thế cho chữ Braille. Thật ra, mỗi hệ thống đều có lợi ích riêng và giới chuyên gia khuyên người khiếm thị nên học cả hai. Riêng chữ Braille nên được học càng sớm càng tốt. Ngay khi một ai đó bị mất thị lực, hay một đứa trẻ sơ sinh được phát hiện có khiếm khuyết về thị giác, điều quan trọng là nên làm quen ngay với công nghệ số cũng như hệ thống chữ Braille, vì cả hai đều có cùng một mục đích : tạo cho người khiếm thị cơ hội hòa nhập, trở nên tự lập thay vì gạt họ ra bên lề xã hội ».

    10 min
  • Sức quyến rũ của Liên hoan Avignon Off vừa tròn 60 tuổi

    Dưới ánh mặt trời chói chang miền nam nước Pháp, đang diễn ra liên hoan nghệ thuật biểu diễn quốc tế Avignon ( 04-25/07/2026 ). Bên cạnh chương trình Festival In, với khoảng 50 vở diễn, là Festival Off, với hơn 1.700 buổi diễn năm nay. Vẻ đẹp và sự phong phú của tại Festival Off Avignon quả là một thách thức lớn với giới truyền thông.

    Điều gì đã làm nên sức quyến rũ đặc biệt của Liên hoan Avignon Off, vừa tròn 60 tuổi, thường được coi là một trong những Festival sân khấu độc lập lớn nhất thế giới ?

    ***

    Julie : Khi Avignon làm thay đổi một cuộc đời

    Chúng tôi may mắn được làm quen với Julie, người đã 7, 8 năm liên tục có mặt tại Liên hoan Avignon. Những năm đầu tiên, Julie đến Avignon với tư cách là khán giả và hoàn toàn chỉ đến để coi các vở diễn của Festival Off. Avignon đã quyến rũ cô đến nỗi mà cách nay hai năm Julie quyết định từ bỏ một công việc lương cao để dấn thân vì nghệ thuật. Cô tâm sự :

    « Với tư cách là một khán giả, tôi đã xem rất nhiều vở kịch trong đời và thấy thật tuyệt vời khi chứng kiến sự đa dạng, tài năng và các sáng tạo được trình diễn dồn dập trong một tháng tại Liên hoan Avignon. Tôi muốn tham gia vào sự sôi động này, hợp tác với các nghệ sĩ, quảng bá tác phẩm của họ. Vì trước đây tôi từng là kỹ sư kinh doanh (ingénieur d'affaires), tôi thấy rằng khả năng tốt nhất của mình là giao tiếp và đàm phán. Vì vậy, với sở trường của mình, tôi quyết định chuyển hướng để hỗ trợ các đoàn kịch. »

    ACME Production, nơi Julie làm việc, là công ty chuyên hỗ trợ phát triển và quảng bá các sáng tác sân khấu, được sáng lập bởi diễn viên, tác giả, đạo diễn kịch tài ba Alexis Michalik, một người trưởng thành từ chính Liên hoan Off Avignon. Alexis Michalik – nhiều lần đoạt giải Molière - nổi tiếng với vở Edmond, thu hút hơn một triệu khán giả với khoảng 2.000 lượt trình diễn. Năm nay, công ty ACME Production hỗ trợ quảng bá 9 tác phẩm sân khấu tại Liên hoan Off Avignon, trong đó có vở Où vont les larmes quand elles sèchent ? (tạm dịch là Nước mắt ở đâu khi người ta không thể khóc ?), chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết best-seller cùng tên của nhà văn Pháp Baptiste Beaulieu, cũng là một bác sĩ, nơi trang viết và cuộc đời đập cùng một nhịp.

    Olympe: Nhà nữ quyền tiên phong và thời kỳ đen tối trong Cách mạng

    Où vont les larmes quand elles sèchent ? của nhà văn - bác sĩ Baptiste Beaulieu gây nhiều xúc động với Julie, nhưng tác phẩm gây chấn động mạnh nhất với cô tại Festival năm nay có lẽ là vở Olympe :

    « Tôi đã xem một vở kịch tên là Olympe, kể về Olympe de Gouges, một phụ nữ tuyệt vời trong thời kỳ Cách mạng Pháp. Bà đã đấu tranh khi bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền chỉ đề cập đến nam giới, loại bỏ quyền của phụ nữ. Đó là thời kỳ mà Quốc Hội cấm phụ nữ tụ tập, tham gia các cuộc họp chính trị. Thật vô cùng phi lý khi bà không bao giờ được nhắc đến trong sách giáo khoa (*). Tôi rất xúc động khi khám phá nhân vật này qua tác phẩm của Raphaël Arditti, vở diễn kết hợp rất sáng tạo giữa kịch bản và âm nhạc. Tác phẩm gây xúc động rất mạnh vì đó cũng là một con người có thực ».

    (*) Cho đến cách nay hơn mười năm, « Các sách giáo khoa đề cập đến vấn đề quyền bầu cử của phụ nữ thường chỉ dành một phần phụ lục để trình bày tiểu sử của Jeanne Deroin hoặc Olympe de Gouges (...). Điều này góp phần đẩy họ ra bên lề. » (Bài về Vị trí của phụ nữ trong sách giáo khoa, theo Đài Quan sát về tình trạng bất bình đẳng – Observatoire des inégalités - 2013).

    Cơ hội lớn được trao đổi, được lắng nghe

    Được trao đổi dễ dàng các cảm nhận về tác phẩm sân khấu với khán giả, với diễn viên, đạo diễn, là điều « đọng lại sâu đậm nhất » với Julie trong những dịp Liên hoan Off:  

    « Có thể tôi cực kỳ yêu thích một tác phẩm nào đó trong khi người khác lại có cảm nhận trái chiều, hoặc chưa thực sự được thuyết phục. Ngược lại, có những tác phẩm tuy không khiến tôi xúc động nhiều, nhưng lại lay động sâu sắc tâm hồn người khác. Nhưng thực sự là, chính những trao đổi ấy - sự gặp gỡ được tạo ra từ đó, về những điểm khác biệt hay về những gì đồng cảm - mới là điều đọng lại sâu đậm nhất trong tôi, bởi suy cho cùng, liên hoan là sự kết hợp đa dạng của vô vàn sáng tạo và tác phẩm khác nhau, từ những tác phẩm mang tính chính trị, hài hước, đến những vở nhạc kịch. (…) Sau buổi diễn, bạn có thể đợi để trò chuyện với đạo diễn hoặc diễn viên. Nghệ sĩ giải thích quan điểm của mình, thể hiện điều họ muốn, trao đổi về quá trình sáng tạo, động lực của họ và cách họ thực hiện tác phẩm. Tôi rất thích điều này ở Festival Off.  »  

    Tang tóc, sự trào lộng và những dòng thư gởi người thân đã khuất

    Festival Avignon không chỉ là một cơ hội lớn cho những trao đổi với khán giả, với giới nghệ sĩ, mà còn là nơi thể nghiệm những hình thức sáng tạo mới khi đời thường, đời thực ùa vào sân khấu. Tại quảng trường Saint Didier, trước cửa quán cà phê xưa nhất thành phố Le Grand Cafe Baretta, dưới bóng cây Judée rợp mát trong ngày hè oi ả, chúng tôi may mắn gặp được Nathalie Lovighi, diễn viên trong « Meurt de Rire » (Cười đến chết), vở diễn có một vai duy nhất.

    « Meurt de Rire » là câu chuyện về Francine, một người phụ nữ bình thường có tấm lòng nhân hậu. Francine nhận được cuộc gọi từ Catherine, người bạn vừa mất cha. Từng trải qua mất mát, Francine đến với Catherine, cùng bạn vượt qua nỗi đau. Câu chuyện xoay quanh chủ đề cái chết, nhưng đan xen là những nụ cười tinh tế. Trong vở kịch có những khoảnh khắc lắng đọng, khi khán giả được mời suy ngẫm về những người đã khuất khi đọc những lá thư của khách qua đường gởi người thân qua đời.

    Nữ diễn viên Nathalie Lovighi kể : « Có một khoảnh khắc tôi hỏi khán giả : ‘‘Vậy, bạn nhận được lá thư nào?’’, vì trên những chiếc ghế (trong rạp hát) có đặt sẵn các lá thư. ‘‘Ồ, một lá thư gửi mẹ’’. ‘‘Bạn có thể đọc giúp tôi được không?’’.  Thế là họ đọc những lá thư ấy — ‘‘Thư gửi Jeannot’’, ‘‘Thư gửi bà Lulu’’…. Thực ra, đây là những lá thư do những người qua đường ngẫu nhiên viết cho một người thân đã khuất, và để lại chỗ tôi. Đó là những lá thư có thật. Khoảnh khắc đó luôn rất xúc động, vì nó khiến mọi người suy ngẫm về cái chết và về những người không còn ở bên ta nữa. Tôi hỏi họ: ‘‘Tại sao chúng ta cứ phải đợi đến khi người thân ta qua đời mới nói lời yêu thương?’’, ai cũng gật gù: ‘‘Đúng vậy, quả đúng là như thế’’. Việc này thật hay, nó khơi gợi suy nghĩ. Đó là một khoảnh khắc tinh tế trong chương trình. Phần này rất ngắn thôi, chỉ kéo dài vài phút. Sau đó, chúng tôi trở lại ngay với câu chuyện của Francine và cô bạn Catherine, và tiếng cười lại rộn rã cho đến tận phút cuối ».

    Vở « Meurt de Rire » đến với Avignon, của đôi bạn Myriam Donasis và Nathalie Lovighi, được tòa thị chính thành phố cảng Le Havre, miền tây bắc nước Pháp, hỗ trợ.

    « Nos Assemblées » : Bánh pizza và trải nghiệm xây dựng dân chủ

    Tại Festival Off Avignon, không gì ngăn cách nghệ thuật và đời thường. Vở « Nos Assemblées » (Các Hội đồng của chúng ta), do Élise Chatauret đạo diễn, là một trong những tác phẩm nối kết mật thiết nghệ thuật với cuộc sống. Nos Assemblées là một trong 6 vở diễn, trong số hơn 200 vở dự thi, được vùng Ile-de-France tuyển chọn để đại diện cho vùng tham gia Liên hoan Avignon. Trả lời nhà báo Muriel Maalouf, chuyên về mảng văn hóa của đài RFI, đạo diễn vở Nos Assemblées chia sẻ :

    « Mọi chuyện bắt đầu từ lời mời của Nhà hát Théâtre de la Poudrerie ở Sevran, đề nghị chúng tôi dàn dựng một vở có thể trình diễn ngay tại nhà của người dân — đặc biệt là dành cho những khán giả hiếm khi đến nhà hát. Xuất phát từ ý tưởng đó, chúng tôi nhận ra rằng chủ đề mình mong muốn mang đến với mọi người — nhất là những ai không xem kịch hay không lui tới các thiết chế văn hóa — chính là chính trị. Cụ thể hơn, chúng tôi muốn khơi dậy trở lại mối quan tâm đối với chính trị, chúng tôi nhận thấy rằng công chúng đã mất niềm tin và không còn muốn tham gia vào lĩnh vực này nữa, vì họ cảm thấy nó chẳng liên quan gì đến bản thân. »

    Để đưa được sân khấu đến với mọi nhà, đáp ứng được nhu cầu của đông đảo, nhà đạo diễn tìm đến học hỏi từ chính người dân. Kinh nghiệm dân chủ tự quản của một nhóm công dân mang tên « L’Oseille Sauvage » (Cây Chút chít), ở một vùng thôn hẻo lánh, thu nhập rất bấp bênh, đã mang lại nhiều cảm hứng cho người sáng tác.  

    « … Nhóm của chúng ta có đồng ý làm một chiếc bánh pizza có phần ‘‘đế bánh’’ không? Có ai phản đối không? Không ! (tiếng cười rộ lên) Đề xuất được chấp thuận ! Có người đề xuất dùng sốt cà chua. Có ai phản đối việc dùng sốt cà chua cho chiếc bánh pizza của chúng ta không? Không ! Đề xuất được chấp thuận… ». Trên đây là một đoạn hội thoại trong vở « Nos Assemblées », trình diễn tại Théâtre du Train Bleu.

    Nos Assemblées là một vở diễn khơi dậy khát vọng thực hành dân chủ, mà khán giả nhập cuộc cùng các diễn viên. Đạo diễn Élise Chatauret chia sẻ : "Chúng tôi bỏ phiếu chọn phần đế bánh, nước sốt và các loại nhân. Đôi khi xảy ra bế tắc: người thì muốn có thịt, người lại không. Nhưng cũng giống như trong một nền dân chủ thực thụ, bạn phải biết lắng nghe, thương lượng, để tìm ra giải pháp." 

    Hành động « nổi loạn » của André Benedetto : Thời khắc khai sinh Festival Off

    Nhiều người tin rằng Festival In là Liên hoan chính thức và Liên hoan Off là không chính thức - hay các hoạt động bổ trợ, bên lề của Liên hoan chính thức. Trên thực tế, Festival Off Avignon là một liên hoan sân khấu độc lập, có tổ chức riêng, có lịch sử riêng. Tại Avignon vào dịp Festival Off tròn 60 tuổi, nhiều người ắt hẳn rất nhớ về hành động « nổi loạn » năm nào của diễn viên, nhà soạn kịch André Benedetto, thường được coi là thời khắc khai sinh Festival độc lập Avignon.

    Vở kịch « Statues » (Những bức tượng) của ông, từng bị nguyền rủa, vì diễn ra ngoài khuôn khổ Festival chính thức năm 1966. 1966 cũng là năm mà André Benedetto tung ra bản Tuyên ngôn, lên án nền sân khấu thời bấy giờ như « một thứ không khí độc hại, phương tiện chọc cười, làm tê liệt và ngạt thở... Chỉ đóng vai trò như một món đồ uống giúp ngon miệng, một liều thuốc tẩy, thuốc an thần... Ru ngủ lương tri... Bứt nốt những sợi dây tinh thần cách mạng cuối cùng trong trái tim người công dân, mà bằng cách nào đó vẫn còn sót lại sau sự bào mòn tư duy của hệ thống giáo dục.... » ( « Avignon, 1966 : avec la danse, une double déflagration dans la Cité », Le Monde) ». Tuyên ngôn của người mở đường cho Festival Off được ghi nhận đã « gây chấn động mạnh », phá vỡ nhiều húy kị, mở đường cho các đột phá nghệ thuật.

    Tinh thần Avignon thao thức cùng xã hội 

    Liên hoan Off và Liên hoan In từ chỗ là đối thủ đã ngày càng hướng đến hợp tác. Đạo diễn, diễn viên Olivier Py, giám đốc Liên hoan Avignon In, từ 2014 đến 2022, từng khởi nghiệp tại thành phố của các Giáo hoàng trong khuôn khổ Festival Off. Olivier Py đã đóng vai trò lớn để « Off » và « In » xích lại gần nhau. Năm 2023, Festival In và Hiệp hội Avignon Festival & Compagnies (AF&C), cơ sở phụ trách tổ chức Festival Off, thiết lập quan hệ đối tác chính thức, thừa nhận « hai Festival, nhưng cùng một công chúng ». Hai Festival khai mạc và kết thúc cùng ngày. 

    Festival Avignon Off không chỉ là một hội chợ sân khấu sôi động, mà còn là nơi mà nghệ sĩ và khán giả có nhiều cơ hội giao lưu, lắng tâm, trò chuyện. Nơi nghệ thuật chữa lành, kết nối lòng người và khơi gợi suy tư. Nơi khán giả khóc khi đọc thư của một người xa lạ gửi đến người thân đã mất (« Meurt de Rire »). Nơi một nhà nữ quyền bị quên lãng được hồi sinh (« Olympe »). Nơi chiếc bánh pizza trở thành biểu tượng cho một nền dân chủ cần được tái tạo (« Nos Assemblées »). Nơi cuộc sống đương đại ùa vào sân khấu. Nơi ươm mầm cho những niềm tin vào một tương lai.

    10 min
  • Ký ức những gia đình Việt-Nhật thời Thế chiến thứ hai qua tác phẩm Re/cover của Phan Quang

    Liên hoan Nhiếp ảnh Quốc tế tại  thành phố Arles miền nam nước Pháp ( Les Rencontres de la photographie d’Arles ) năm 2026 vừa khai mạc ngày 06/07 vừa qua. Qua sự giới thiệu của Galerie Bao tại Paris, loạt tác phẩm mang tên Re/cover của nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam Phan Quang đã được tuyển chọn để tham gia cuộc triển lãm The Best Possible Way to Tell the Truth, trong khuôn khổ giải thưởng Prix Découverte Louis Roederer tại Liên hoan.

    Dựa trên quá trình nghiên cứu kéo dài nhiều năm, Re/cover khai thác một chương ít được biết đến trong lịch sử Việt Nam, đó là câu chuyện của những người phụ nữ có gia đình với binh lính Nhật đã ở lại Việt Nam sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

    Trả lời RFI Việt ngữ, Lê Thiên Bảo, người sáng lập và hiện điều hành Galerie Bao, cho biết:

    "Tôi biết Arles là kinh đô của nhiếp ảnh thế giới và đã theo dõi các chương trình của Liên hoan Arles từ lâu, đặc biệt là giải Decouverte Louis Roederer, một giải thưởng uy tín được thành lập từ năm 2018 để giới thiệu các sáng tác của các nghệ sĩ mới đến với công chúng Châu Âu.

    Tôi cũng biết serie Re/cover của Phan Quang từ rất lâu rồi, khi còn ở Việt Nam và thấy serie này sẽ rất thích hợp với giải thưởng nên đã soạn kỹ một đề xuất hoàn chỉnh và nộp cho Liên hoan Arles. Rất vui là tác phẩm của nghệ sĩ đã được ban giám khảo và giám tuyển của Liên hoan Arles đánh giá rất cao về chất lượng."

    Đối với Lê Thiên Bảo, “hơn mười năm sau khi ra đời, tác phẩm Re/cover vẫn giữ nguyên sức mạnh của một tác phẩm thể hiện khả năng của nhiếp ảnh trong việc lưu giữ, khơi lại và tái kiến tạo lịch sử.”

    Về phần mình, giám tuyển Nadine Hounkpatin của giải thưởng Découverte Louis Roederer ghi nhận những nét độc đáo trong tác phẩm Re/cover của Phan Quang: " Mỗi bức ảnh khắc họa nhân vật trong không gian sống thường nhật, khoác trên mình chiếc khăn voan cô dâu màu trắng truyền thống. Chiếc khăn này trở thành một biểu tượng đa tầng nghĩa: vừa gợi nhắc về những mối lương duyên dang dở và những người cha vắng mặt, vừa đóng vai trò như tấm màn che chở ngăn cách ánh nhìn của người xem với sự riêng tư đầy mong manh. Nó vừa là tấm khăn liệm cho quá khứ, vừa là cử chỉ của sự kín đáo. Thông qua cách dàn dựng mang tính điêu khắc đầy chủ đích này, Phan Quang làm nổi bật sự hiện diện bền bỉ nhưng thầm lặng của những câu chuyện ấy ( ... ). Như vậy, một thập kỷ sau khi ra đời, *Re/cover* vẫn là một suy ngẫm đầy sức thuyết phục về khả năng kiến ​​tạo ý nghĩa thế giới của nhiếp ảnh, vượt xa khỏi vai trò đơn thuần là ghi lại thực tại."

    Sinh năm 1976 tại Bình Định, Phan Quang nguyên là một phóng viên nhiếp ảnh, hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt. Tác phẩm của anh nằm trong các bộ sưu tập của The Museum of Contemporary Art, Los Angeles, CA, Hoa Kỳ; Asia Society Museum, New York, NY, Hoa Kỳ; Fukuoka Art Museum, Fukuoka, Nhật Bản; và Singapore Art Museum, Singapore.

    Các triển lãm tiêu biểu của Phan Quang bao gồm The Next Step, Sàn Art, TP. HCM, 2022; RE/COVER, Blanc Art Space, TP. HCM, 2016; Space/Limit, Sàn Art, TP. HCM, 2013; The City in the Blue, Dakar Biennale lần thứ 12, Dakar, Senegal, 2016; và And That Which Was Always Known, Yavuz Gallery, Singapore, Singapore, 2015.

    RFI Việt ngữ đã có dịp gặp Phan Quang tại Paris ngày 07/07/2026 trước khi anh đến thành phố Arles để dự triển lãm:

    RFI: RFI Việt ngữ hôm nay rất vui được tiếp chuyện với nghệ sĩ Phan Quang tại Paris. Theo chúng tôi biết thì ban đầu anh là một nhiếp ảnh gia cho ngành báo chí. Thế thì vì sao anh đã quyết định chuyển sang con đường nhiếp ảnh nghệ thuật?

    Phan Quang: Nhiếp ảnh nghệ thuật là một cách thể hiện khác về nhiếp ảnh. Nó đã thôi thúc tôi trong rất nhiều năm, thì có một cơ duyên từ năm 2009, sự thôi thúc đó đẩy tôi ra bên ngoài và tiếp cận với nền nhiếp ảnh gọi là nghệ thuật đương đại. Đó là một trong những phương pháp thể hiện khác với lối nhiếp ảnh trong nước đang vận hành. Lối nhiếp ảnh đấy đeo đuổi tôi tới bây giờ. Từ 2009, tác phẩm của Quang nằm trải dài ở rất nhiều cuộc triển lãm ở Việt Nam cũng như quốc tế, nhưng hầu như nhiều người ở Việt Nam cũng chưa quen lắm, cho nên cách mình thể hiện cũng lẳng lặng và việc mình thực hành thì đi sâu vào trong các giá trị cốt lõi. Phải nghiên cứu rất là kỹ. Phải đọc rất là nhiều.

    RFI: Khi ta nói về nghệ thuật đương đại và nhiếp ảnh nghệ thuật thì có nghĩa là không chỉ có nhiếp ảnh, mà đôi khi tùy theo chủ đề chúng ta có thể kết hợp với các bộ môn nghệ thuật khác để thể hiện đúng ý đồ của mình?

    Phan Quang: Thực ra thì nó không có giới hạn. Do Quang “thuận tay” với nhiếp ảnh nên đi hẳn về nhiếp ảnh. Chứ còn Quang có làm phim, làm điêu khắc rất nhiều, vẽ cả tranh và bản thân trong nhiếp ảnh của Quang cũng là một performance rồi. Nên là nó không có giới hạn trong các môn thực hành. Còn đối với Quang, nhiếp ảnh là một môn mà mình giỏi nhất, thì mình thường dùng phương tiện ấy để thể hiện ý tưởng của một serie tác phẩm hoặc một tác phẩm. 

    RFI: Trong quá trình tìm tòi đó thì anh đã hoàn tất một công trình nghệ thuật mang tên là Re/cover vào năm 2016, đã được giới thiệu ở nhiều triển lãm quốc tế. Nay thì tác phẩm này được giới thiệu tại triển lãm ảnh nghệ thuật ở Arles. Trước hết anh có thể cho biết vì sao anh đã chọn đề tài gia đình của những phụ nữ đã lấy lính Nhật ở lại sau Thế chiến Thứ hai?

    Phan Quang: Thực ra Re/cover là một trong khoảng 10 serie mà trong quá trình thực hiện của Quang được show ( giới thiệu ) ra bên ngoài. Re/cover một đề tài thuộc loại “rơi tỏm” ra ngoài khỏi sự quan tâm của giới nghệ sĩ, cũng như xã hội ở Việt Nam. Tôi may mắn được tiếp cận một cách tình cờ trong quá trình chuẩn bị, vì tôi đã chọn văn hóa Nhật Bản để làm đối trọng, nên khi đó mới chú tâm tới những gì liên quan đến Nhật Bản và đã phát hiện ra manh mối rất là nhiều thứ về việc đấy.

    Cũng nhờ kỹ năng làm báo một phần để tìm tòi ra những mắt xích rồi, sâu chuỗi nó lại, làm cái dự án trong vòng 6 năm. Bản thân tôi tới bây giờ vẫn vậy: làm tác phẩm không lo. Bản thân tác phẩm hay thì nó sẽ tự có đời sống của nó, không có lúc này thì lúc khác. Nên thật ra đối với tôi, tôi cứ làm. Không biết nó sẽ đi tới đâu ở trong đời sống của tác phẩm ấy. 

    RFI: Nhưng cơ duyên nào đã đẩy Phan Quang tới với những gia đình đó?

    Phan Quang: Thực ra nó cũng là một cái duyên. Lúc đầu tôi dùng văn hóa Nhật Bản để đối trọng với một số nền văn hóa của châu Á. Thì tôi thấy lạ lùng vì có những người rất giống người Nhật! Rồi tôi đào sâu, đào sâu mãi và tôi ngồi với những gia đình đấy trong vòng 6 năm, trở thành giống như người thân, người anh, người em trong gia đình, thì mới triển khai được dự án này. 

    RFI: Như vậy thì 6 năm chắc là đủ để có được sự tin cậy của những gia đình đó để Phan Quang có thể chụp những bức ảnh theo đúng ý đồ nghệ thuật của mình. Trong những bức ảnh đó, có những người ngồi giống như bức tượng và phủ trên họ là một tấm voan ( voile ) khá là trong suốt. Vì sao anh lại có cái dụng ý đó?

    Phan Quang: Thật ra là năm 2013, tôi có may mắn được lưu trú ở bên Nhật, ở Yokohama, tôi mới đi tìm hiểu, mới đọc được một tài liệu về năm 1955, năm mà tất cả những người lính Nhật buộc phải về nước. Thì cũng chính năm đấy thì ở thành phố Kyoto có một cái nhà máy sản xuất vải voan. Đúng thời điểm đấy luôn thì mình may mắn tìm ra được nhà máy đó và mua vải voan đấy, vì voan đối với Việt Nam là một loại vải tượng trưng cho đám cưới. Còn ở Nhật nó cũng được dùng để may kimono, nên cũng là đại diện cho tình yêu.

    Năm mà những người lính Nhật phải về nước thì cuộc sống những gia đình đấy ở Việt Nam giống như bị đóng băng toàn bộ, bị bao phủ lên một lớp màn. Họ là con của những người phát xít, nên nói chung vào thời điểm đó rất mà khó phát triển ở Việt Nam. Bên Nhật thì họ cũng không có liên quan gì tới cái đấy hết. Bởi vì đối với lính Nhật, họ không đồng ý cho cưới một phụ nữ ở xứ An Nam. Cái thời điểm đấy nó khác, văn hóa khác. Giống như những cuộc sống gia đình của họ rơi ra khỏi vòng xoáy phát triển của xã hội. Khi đó mình mới giải quyết được câu chuyện chụp hình, thì mình mới mua vải voan ở bên Nhật về phủ lên hết các gia đình đó. Gia đình Việt Nam mà phủ vải trắng lên là tương đương với tang chế, nên phải đủ thân thì họ mới cho phủ lên như vậy. 

    RFI: Chắc họ sẵn lòng để cho phủ lên tấm voan đó bởi vì họ hiểu rằng tấm voan tượng trưng cho sự ngưng động của thời gian, tức là kể từ đó cuộc sống của họ coi như cắt đứt liên lạc với những người mà họ đã từng chung sống?

    Phan Quang: Đúng rồi, họ vẫn mong người cha, người chồng của họ, nhưng mà vô vọng. Có một chi tiết làm tôi vẫn khóc hoài, đó là lúc mà tôi ở Nhật thì những người con đó muốn xin một nắm đất từ bên Nhật về bỏ vô lư hương để thắp hương hằng ngày, để họ nhớ về quê cha đất tổ, thì tôi đã phải dùng một "thủ thuật" để mang được đất về cho họ, chứ còn Nhật đâu có cho mang vô, mà chính phủ Việt Nam cũng không cho mang vô. Mang nắm đất tượng trưng về để họ bỏ vô lư hương, họ thắp hương thì ai cũng khóc, tôi cũng khóc luôn!

    RFI: Như vậy thì mấy chục năm sau tâm trạng của những người con, người cháu trong những gia đình đó như thế nào. Họ có còn hoài niệm về thời đó hay không? Hay là đối với họ bây giờ đã trở thành quá khứ rồi? 

    Phan Quang: Người Việt mình mà, anh ở đâu đi nữa, anh cũng cần về quê cha đất tổ. Đối với những người đó, họ mong mỏi được qua Nhật, được sống với tinh thần hào khí của Nhật Bản, vì trên ID ( căn cước ) của họ vẫn là nguyên quán Nhật Bản mà.

    RFI: Trong quá trình tái lập công lý cho những gia đình đó, để gây sự chú ý của nhà chức trách Nhật, anh đã có những hành động gì và chính phủ Nhật có đáp ứng hay không? 

    Phan Quang: Khi tìm hiểu các dữ liệu ở Việt Nam, khi tôi làm gần xong, đọc lại toàn bộ lịch sử thì thấy tất cả châu Á đều ảnh hưởng gần giống nhau. Khi lính Nhật tràn vô thì tất nhiên phải có liên quan với phụ nữ.

    Khi ấy tôi đã viết gần khoảng 270 lá thư bằng tiếng Anh gửi đi tất cả các lãnh sự quán, cũng như tất cả những nơi có liên quan đang tới Nhật Bản. Tôi tin họ có một dữ liệu cụ thể nào đấy để có thể cung cấp đầu mối, vì ở Việt Nam đi tìm rất khó. Trong vòng cả năm trời gửi đi, rồi hy vọng, nhưng  không có một phản hồi nào.

    Sau đấy thì tôi phải tự đi tìm mua những tài liệu và xâu chuỗi từng nấc một, từng nấc một, để tìm ra những người Thái Lan, người Malaysia, người Philippines, người Hàn Quốc. Mỗi nơi sẽ có những trường hợp khác nhau, những vấn đề khác nhau và tôi phải tự đi làm hết. Thật ra Nhật Bản không support dự án này vì họ coi là không có liên quan.

    Nhưng có một điều đặc biệt là khi Nhật Hoàng qua thăm Việt Nam ( năm 2017 ) thì đài NHK mới phỏng vấn và đưa ra những nhận định đây là một mối liên kết. Sau đấy thì Nhật Hoàng có tới thăm bà Xuân ( một gia đình cựu binh Nhật ). Rồi mình không đi sâu vào vấn đề đấy nữa. Nhưng khi NHK bay vô Sài Gòn phỏng vấn tôi, thì tất nhiên dự án này trước đó họ đã biết rồi. Nhưng mà tôi gửi mail thì họ không trả lời, không đả động gì hết!

    10 min
  • Ca nhạc sĩ Bob Dylan : Tình yêu và nước Pháp

    Nếu có một nhịp cầu giữa huyền thoại Bob Dylan với quê hương của Victor Hugo chắc chắn cây cầu đó phải là nhạc sĩ người Pháp Hugues Aufray. Văn chương, thi ca, điện ảnh, phong cách của người dân Pháp đều có sức thu hút rất lớn và Bob Dylan còn bị tiếng hát của tác giả Tous les garcons et les filles làm mê hoặc.

    Đầu thập niên 1960 tình cờ trên đường phố New York, chính xác hơn là tại khu Greenwich Village, Aufray đã trông thấy một nhạc sĩ gầy gò với cây đàn ghi ta, trong một quán bar. Hàng thập niên sau danh ca người Pháp này kể lại :

    « Người ta thường nói tiếng sét ái tình mà quên mất rằng trong tình bạn cũng có thể những cú sét đó. Chỉ lướt qua nhau tôi đã trông thấy một nghệ sĩ tài hoa. Lần đầu hội ngộ tôi ngỡ đã gặp được thi sĩ Rimbaud ».

    Ngôn ngữ của văn thơ và sự đồng điệu

    Điều kỳ diệu là Dylan và Aufrey đã vượt lên được những rào cản về ngôn ngữ, họ « kể chuyện cho nhau nghe » bởi có lẽ cả hai cùng nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của thơ, của nhạc và của tâm hồn … Aufray một nhà soạn nhạc, được biết đến nhiều với những ca khúc như Santiano và Céline. Ông cũng là người sau này đã dịch sang ngôn ngữ của Molière biết bao tác phẩm của Bob Dylan … Hugues từ hơn 6 thập niên qua luôn là nhịp cầu đưa những ca khúc của danh ca người Mỹ này đến với công chúng Pháp qua phần trình bảy của rất nhiều thế hệ ca sĩ Pháp như Francis Cabrel, Johhny Hallyday … hay Alain Bashung

    Vào năm 1961, Robert Zimmerman chân ướt chân ráo đến New York lập nghiệp, trước khi tìm được cho mình một nghệ danh ưng ý. Khi biết người bạn mới quen từ Kinh Đô Ánh Sáng đổ bộ lên đất tự do Hoa Kỳ, Zimmerman như thể « buồn ngủ mà gặp chiếu manh », vồ vập hỏi thăm về những Apolinaire, Mallarmé…, về Nhà Thờ Đức Bà Paris. Anh muốn tận tai nghe một người Pháp nói về Les Misérables của Victor Hugo … Trước khi trở thành huyền thoại Bob Dylan, Zimmerman đã lấy nguồn cảm hứng từ những áng thơ của Baudelaire, từ những lý tưởng về một xã hội công bằng và bác ái qua nhân vật Jean Valjean, từ những suy ngẫm về cuộc đời chắt lọc từ tuyển tập thơ Les Contemplations .. 

    Hugues Aufray là nhạc sĩ Pháp tận mắt trông thấy sự hình thành của huyền thoại Dylan. Những năm đầu, Dylan mỗi lần đến Paris, không một đồng xu dính túi, đều tá túc trong căn hộ của « Hug’ » đường Saint Médard, ở quận 5. Họ thức trắng đêm để nói chuyện văn, thơ... 

    Năm 1963, nhạc sĩ người Mỹ cùng Hugues Aufray khám phá Paris, lần theo dấu chân của những Rimbaud và Verlaine, để đưa những tên tuổi ấy vào chính những tác phẩm của mình sau này. Ca khúc You’re Gonna Make Me Lonesome When You Go phảng phất câu thơ của Paul Verlaine « Il pleure dans mon cœur comme il pleut sur la ville – Nước mắt trong lòng, như mưa trên phố » và ý tưởng chỉ cần « thiếu vắng một người, cả thế giới trở nên vô nghĩa » từng được Lamartine đưa vào thi ca …

    Like a Rolling Stone 

    Đâu chỉ có Bob Dylan ngưỡng mộ văn chương Pháp. Một trong những cây bút nổi tiếng nhất trên văn đàn Pháp, nữ sĩ Marguerite Yourcenar (1903-1987) trong một cuộc trả lời phỏng vấn trên đài truyền hình đã hết lời khen ngợi Bob Dylan. Bà nói « Bob Dylan là đỉnh cao trong thi ca, ý thơ của anh là hơi thở của thời đại. Những lời thơ của anh luôn ẩn chứa những phẩm giá cao quý. Dylan có cách diễn đạt tinh tế và giọng hát thiên thần ».

    Không chỉ yêu văn chương và thi ca của Pháp, ông còn bị choán ngợp bởi tinh thần dấn thân trước thời đại của các đại văn hào của Pháp từ thế kỷ 17- cho đến tận ngày hôm nay… Tác giả của những The Time They Are A Changin’ hay Like a Rolling Stone còn rất say mê điện ảnh Pháp. 

    Một trong những bộ phim có giá trị nhất trong mắt ông là Les Enfants du Paradis - Những đứa trẻ trên thiên đường của Marcel Carné. Kịch bản và lời thoại trong bộ phim đen trắng ra mắt công chúng năm 1945 này do nhà thơ Jacques Prévert biên soạn…  

    Les Enfants du Paradis đã thôi thúc nhạc sĩ Dylan bước vào nghệ thuật thứ Bảy. Ông cùng biên soạn kịch bản và tham gia bộ phim Renaldo và Sarah… mà trong đó, nhân vật ông thủ vai giống Bob Dylan ở ngoài đời như hai giọt nước.

    Tình yêu một chiều  

    Văn chương, thi ca, điện ảnh, phong cách của người dân Pháp ...đều có sức thu hút rất lớn đối với nhạc sĩ Bob Dylan. Sự nghiệp của Bob Dylan bắt đầu cất cánh. Những năm 1961-1965 được xem là giai đoạn mà hầu hết mỗi sáng tác của ông đều là « một tượng đài » trong âm nhạc.

    Bắt đầu nổi tiếng trên thế giới « Bob » vẫn trung thành với nước Pháp và gắn bó với người bạn thuở ban đầu là Aufray…   danh ca người Mỹ này rất thường xuyên sang Pháp. Lúc thì ở Paris, khi thì tìm đến nắng ấm của đảo Corse, liếc mắt đưa tình với những cô gái nhỏ ở thị trấn Saintes Marie de la Mer, vùng Camargue, miền nam nước Pháp… để rồi bị một tiếng hát thôi miên, một đôi gò má cao và gương mặt hơi « xương xẩu » xương xẩu của Françoise Hardy làm mê hoặc.

    Bob Dylan đã viết hàng chục bức thư tình nhưng chẳng bao giờ dám gửi đến tác giả ca khúc Tous les garçons et les filles …. Mãi đến vòng lưu diễn ở Paris, năm 1966, tại rạp hát Olympia, tình cảm dành cho Françoise Hardy dâng cao như thủy triều … Đêm biểu diễn hôm đó, giữa chừng Bob Dylan thực sự « phát điên ». Anh  đòi phải mời cho bằng được Françoise Hardy đến gặp mình.

    Gặp được người trong mộng, trong phòng nghỉ, nghệ sĩ người Mỹ này chỉ cầm lấy cây đàn ghi tả và hát cho cô nghe hai ca khúc Juste Like a Woman và I want You …

    Nhiều năm sau khi tóc đã nhuộn màu  thời gian, Françoise Hardy tâm sự : « Lần đó là cuộc hội ngộ duy nhất ». Bob Dylan « gầy như que củi, xấu xí, tóc tai bù xù, móng tay để dài như phù thủy ... ».

    Françoise Hardy khi đó không hào hứng với lời tỏ tình của Dylan … Bà thú nhận, từng « ngây thơ đến dại khờ » chẳng hiểu vì sao Bob Dylan lại chọn hai nhạc phẩm nói trên để hát tặng mình. Mãi sau này Françoise Hardy mới hiểu thêm một chút về Bob Dylan : « Thật đau lòng khi anh ấy đề cập đến mối tình nghìn trùng xa cách giữa hai người yêu nhau, không thể ngờ rằng tình yêu có thể nảy sinh từ một bức ảnh, và chỉ một bức ảnh là đủ để anh ấy hiểu thật nhiều về tôi  ».  Mãi sau này Françoise Hardy mới đọc được những bài thơ Bob Dylan đã sáng tác để tặng riêng cho bà. 

    10 min
  • Nhạc Nhật lời Việt : Mayumi Itsuwa, trời còn mưa mãi

    Trong số các nhạc sĩ nổi tiếng ở Nhật Bản, Mayumi Itsuwa có lẽ là một trong những tác giả được dịch nhiều nhất sang tiếng Việt. Nhắc tới các bản phóng tác với nhiều lời khác nhau, được nhiều thế hệ nghệ sĩ ghi âm lại, phải kể đến hai bản nhạc nổi tiếng nhất là "Người yêu dấu ơi" và "Trời còn mưa mãi".

    Sinh trưởng tại quận Nakano, Tokyo, Mayumi Itsuwa là một trong những phụ nữ đầu tiên theo đuổi sự nghiệp ca hát nhưng đồng thời muốn trở thành một tác giả thực thụ. Thời còn nhỏ, Mayumi Itsuwa đã có nhiều năng khiếu âm nhạc. Bắt chước thân phụ, Mayumi tự học chơi đàn ghi ta những bản nhạc cô hằng yêu thích. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Mayumi bắt đầu đi hát trong các quán cà phê gần nhà, đồng thời sáng tác những bài hát đầu tay.

    Vào năm 1972, ở tuổi 21, Mayumi ký hợp đồng ghi âm và cho ra mắt album đầu tay mang tựa đề "Shōjo" (Thiếu nữ). Tuy album phòng thu đầu tiên của cô được thực hiện tại Los Angeles, với sự tham gia của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như nhà hoà âm Canada David Campbell và tác giả người Mỹ Carole King, nhưng có lẽ cũng vì trong thời gian khởi nghiệp, cô theo đuổi dòng nhạc folk, lối sáng tác mộc theo phong cách dân ca, cho nên giọng ca này lại ít được công chúng Nhật Bản quan tâm đến.

    Mayumi trau dồi sáng tác và tự ghi âm các bản nhạc của mình. Mãi đến năm 1980 (8 năm sau khi khởi nghiệp) cô mới lập kỷ lục số bán với album phòng thu thứ 9. Đĩa đơn "Koibito yo" (Người yêu dấu ơi) được xem là giai điệu làm nên tên tuổi của Mayumi, nâng sự nghiệp của tác giả này lên một tầm cao mới. Bài hát đứng đầu bảng xếp hạng thị trường Nhật Bản trong nhiều tuần liên tục và giành được giải nhất của hiệp hội các nhà sáng tác Nhật Bản. Bài hát này cũng đã được nhiều giọng ca huyền thoại xứ Phù Tang như Hibari Misora, Noriko Awaya hay Akira Fuse ghi âm lại trong những năm sau đó, trở thành giai điệu gắn liền với tên tuổi của tác giả Mayumi Itsuwa.

    Trên album này, còn có một bài hát khác đáng chú ý : nhạc phẩm "Ai no sinkirou" có nghĩa là lâu đài cát, một bài hát ban đầu được viết cho Nana Kinomi vào năm 1980, sau đó được Mayumi thu âm một phiên bản thứ nhì. Bài này từng được đặt lời Việt thành nhạc phẩm "Sa mạc tình yêu".

    Vào năm 1981, Mayumi vừa tròn 30 tuổi, khẳng định tài nghệ sáng tác của mình với nhạc phẩm "Ribaibaru" (Revival / Hồi sinh) mở đường cho cô chinh phuc các thi trường ngoài Nhật Bản. Nhờ các bản phóng tác, Mayumi thành công tại nhiều nước châu Á, kể cả Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Philippines hay Indonesia.

    Riêng ở Việt Nam, giới yêu nhạc rất quen thuộc với những giai điệu phóng tác sang lời Việt. "Koibito yo" trở thành "Hận tình trong mưa" theo cách đặt lời của nhạc sĩ Phạm Duy. "Người yêu dấu ơi" theo tác giả Nhật Ngân. Nhạc phẩm "Ribaibaru" theo tác giả Nguyễn Duy là "Tiễn anh trong mưa", còn theo tác giả Nhật Ngân là "Trời còn mưa mãi". Nhiều giai điệu khác của Mayumi cũng được nhiều lần chuyển sang lời Việt : Kokoro no Tomo trở thành "Khi cô đơn em gọi tên anh", Nokoribi là "Tàn tro", Aikagi là "Chìa khóa tình yêu", Dakishimete" là Ngàn năm vẫn đợi. 

    Nổi tiếng nhờ chất giọng mượt trầm truyền cảm, Mayumi Itsuwa còn được nhiều người yêu mến nhờ biết sáng tác những giai điệu trữ tình, trau chuốt trong sáng. Nhờ những sáng tác mang tính nội tâm, Mayumi Itsuwa trở thành cánh chim đầu đàn cho phong trào tác giả "trẻ" khác với dòng nhạc enka (diễn ca). Trào lưu này bao gồm những ca sĩ kiêm tác giả như Yumi Matsutouya, Miyuki Nakajima hay Mariya Takeuchi vừa có khả năng diễn đạt, vừa có tài sáng tác những ca khúc có chiều sâu trong hai thập niên 1970 và 1980. Mayumi Itsuwa còn thường được mệnh danh là "Carole King của Nhật Bản", chuyện sáng tác những giai điệu sâu lắng nội tâm, phản ánh những trăn trở suy ngẫm, khi trong tim mối tình chỉ còn bao kỷ niệm vương vấn.

    ***

    Trong cơn mưa rào xối xả

    Bước chân qua đường hối hả

    Kỷ niệm tia chớp đầu hạ

    In hằn hình bóng ngày qua

     

    Biết bao truyền thuyết quá khứ

    Cũng chỉ còn trong giai thoại 

    Dù có bao lần lặp lại 

    Nhưng hồn quên vội ngày mai

     

    Còn đâu chuyện tình đôi ta 

    Cháy bùng những chặng đời qua

    Dưới mưa, trái tim câm nín

    Mong thành đá lửa hồi sinh

    10 min
  • Mì ăn liền Hàn Quốc chinh phục nước Pháp

    Trên các quầy siêu thị tại Pháp chuyên bán mì ăn liền, người tiêu dùng có thể tìm thấy các loại mì gói của Nhật Bản (ramen), Thái Lan (mà-ma), Indonesia (mi goreng) ….. nhưng loại bán chạy nhất trong thời gian gần đây vẫn là mì ăn liền (ramyun) của Hàn Quốc. Trong số các hiệu phổ biến nhất có NongShim, SamYang và gần đây hơn nữa là Choi's Company, do công ty này vừa khánh thành cách đây 6 tháng một nhà máy sản xuất mì gói tại vùng Alsace, miền đông nước Pháp.

    Sau phim ảnh, âm nhạc hay mỹ phẩm, ẩm thực Hàn Quốc (K-Food) là dấu hiệu gần đây nhất cho thấy làn sóng văn hóa Hàn Quốc (hallyu) đang chinh phục toàn cầu. Riêng tại Pháp, giới trẻ thích ăn loại mì cay hiệu NongShim. Tập đoàn mì gói số một của Hàn Quốc, trụ sở tại Seoul, đã thành công trong việc xuất khẩu ra khắp thế giới hơn 40 hiệu mì ăn liền khác nhau nhờ mô hình sản xuất và chế biến hiệu quả.

    Tại thủ đô Seoul, có hẳn một cửa hàng tên là Ramyun Library chỉ chuyên bán mì ăn liền. « Thư viện mì gói » này có đến hàng trăm hiệu mì khác nhau, khách tham quan có thể đun nước sôi để dùng thử mì gói ngay tại chỗ và nếu thích có thể mua đem về nhà. Được khai trương vào cuối năm 2023, cửa hàng mì gói này đã thu hút sự tò mò của khá nhiều khách nước ngoài, trong đó có cô Amy, một du khách người Mỹ :

    Tôi thật thích thú ngạc nhiên vì không ngờ rằng ở đây có nhiều loại mì đến như vậy. Dùng thử mì gói ngay tại Seoul thực sự là một trải nghiệm độc đáo khác thường. Trước đây, tôi đã từng nghe nói tới mì ăn liền qua các chương trình truyền hình hay qua phim ảnh. Trong phim thường có cảnh nhân vật đang ăn mì gói, cho thấy đó là một thói quen trong đời sống thường ngày tại Hàn Quốc. Nhưng vì tôi sinh sống tại một thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ, cho nên tôi không dễ tìm mua mì gói trong siêu thị. Có lẽ cũng vì thế tôi thực sự cảm thấy thích thú khi có cơ hội khám phá tại chỗ những gì mình đã từng xem trên tivi.

    Để hiểu rõ hơn về sự thành công của mì ăn liền Hàn Quốc trên thị trường quốc tế, ta nên ghé thăm thành phố Gumi, cách thủ đô Seoul khoảng 200 cây số. Mỗi ngày, 6 triệu rưỡi gói mì được sản xuất tại nhà máy NongShim, công ty hàng đầu chuyên về mì ăn liền tại Hàn Quốc. Trên một diện tích rộng 62.000 mét vuông, nhà máy NongShim tuyển dụng 600 nhân viên để giám sát hệ thống sản xuất dây chuyền khổng lồ, trong xưởng máy có đến 95% đã được tự động hóa. Để đẩy mạnh doanh thu trên thị trường quốc tế, hiệu mì gói NongShim tận dụng « Hàn lưu », làn sóng văn hóa từ Hàn Quốc đang chinh phục thế giới. Trả lời phỏng vấn ban Pháp ngữ RFI ông Choi Youngkab, giám đốc tiếp thị của công ty NongShim, giải thích:

    Chiến lược toàn cầu của Nongshim chủ yếu dựa vào việc cài đặt sản phẩm vào phim ảnh. Lối tiếp cận này giúp thương hiệu trở nên hấp dẫn hơn, nhất là trong mắt những bạn trẻ nào rất yêu thích các sản phẩm văn hóa phổ thông đến từ Hàn Quốc. Trường hợp gần đây nhất là qua bộ phim « Kpop Demon Hunters » (Thợ săn quỷ Kpop), bộ phim này đã đẩy mạnh doanh thu, giúp phổ biến thương hiệu của chúng tôi, vì trong phim các nhân vật chính thường ăn mì hiệu NongShim. Công ty chúng tôi sẽ duy trì chiến lược này và trong tương lai sẽ có những quan hệ hợp tác tương tự qua việc cài đặt sản phẩm quảng cáo vào trong phim ảnh hay video clip ca nhạc. Chiến lược này đang đem lại nhiều thành quả , hơn 40% doanh thu hàng năm của NongShim đến từ thị trường quốc tế. Vì vậy, ban lãnh đạo công ty tin rằng cần phải khai thác nhiều hơn nữa đà thành công của Hàn lưu.

    Pháp : 150 triệu gói mì được tiêu thụ hàng năm

    Chỉ cần mở một gói mì khô, đổ gói bột gia vị rồi cho thêm vào nước sôi, vài phút sau là đã có sẵn một tô mì nóng hổi. Công thức vô cùng đơn giản này, không đòi hỏi thời gian chế biến, khiến mì ăn liền trở thành một món ăn không thể thiếu trong ngăn tủ nhà bếp. Riêng tại Pháp, lượng tiêu thụ mì gói đã phát triển nhanh chóng trong thời hậu Covid, nhờ vào chế độ làm việc từ xa. Cô Marianne, một nhân viên văn phòng ở Paris, cho biết :

    Đối với tôi, không gì đơn giản hơn là ăn mì gói, chỉ cần đổ nước sôi vào là có ngay. Tôi luôn có sẵn các gói mì ăn liền ở trong bếp, chủ yếu dành cho những ngày tôi làm việc ở nhà, chứ không cần vào cơ quan và thường là một hoặc hai ngày trong tuần. Mì ăn liền chẳng những rất rẻ, chưa đầy một euro một gói, nhưng lại còn giúp tôi tiết kiệm thời gian, đỡ phải nấu nướng nhiều ở nhà. Điều tôi thích nhất là các gói gia vị nho nhỏ, để tạo ra các mùi vị khác nhau. Chính các gói gia vị tạo nên sự khác biệt giữa hàng loạt nhãn hiệu được bán trong siêu thị. Mì ăn liền đối với tôi có hương vị khá đậm đà, tôi thích dùng loại mì có độ dai và hơi cay cay, và tôi thấy mì gói dễ ăn và ngon hơn nhiều so với mì luộc spaghetti trộn xốt cà chua theo kiểu Ý.

    Trên thị trường Pháp, doanh thu thường niên mì ăn liền đạt mức 140 triệu euro, tăng đều đặn 3% mỗi năm tính từ năm 2022. Trong số các công ty Hàn Quốc muốn mở rộng thêm thị trường châu Âu, có tập đoàn thực phẩm SIAS vừa khánh thành hồi đầu năm 2026 một nhà máy sản xuất mì ăn liền đầu tiên tại châu Âu. Với mức đầu tư 28 triệu euro, xưởng sản xuất  này nằm tại Wisches, một thị trấn nhỏ thuộc vùng Alsace, cách thành phố Strasbourg một giờ lái xe. Theo giám đốc điều hành Patrick Hennion, nhà máy hiện tuyển dụng 50 nhân viên và có khả năng sản xuất hơn 100.000 gói mì mỗi ngày tức 200 gói mỗi phút.

    Tập đoàn SIAS sản xuất mì gói hiệu « Choi's Company » thường được gói trong tô nhựa, mỗi phần có giá 2,50 euro, tức cao hơn những gói mì thông thường, một phần vì mỗi tô mì có khẩu phần lớn hơn. Cách đóng gói cũng như màu sắc logo đặc biệt nhắm vào giới trẻ, vốn có sức ăn mạnh hơn : khi dùng mì gói thông thường, mỗi lần các bạn trẻ thường phải ăn hai gói.

    Việc khai trương nhà máy sản xuất mì ăn liền đầu tiên tại Pháp cho thấy châu Âu đang trở thành một thị trường quan trọng đối với các tập đoàn Hàn Quốc. Hiệu Choi's Company đã hoàn chỉnh một công thức mì ăn liền dành riêng cho thị trường châu Âu, mì có độ dai hợp với khẩu vị của thực khách Pháp, những gói tạo mùi được sản xuất tại vùng Alsace kết với 15 loại gia vị khác nhau, trong đó có các gói màu xanh dành cho những người thích ăn mì với vị truyền thống, hoặc gói màu đỏ dành cho những người thích ăn cay hơn.

    Trong năm qua, hơn 160 triệu gói mì đã được bán tại Pháp. Khai thác đà thành công này, hiệu Choi's Company tung ra 6 hương vị mì ăn liền khác nhau, có cả mì gà, mì bò và mì trộn xốt carbonara. Các sản phẩm này có thể được tìm thấy tại các siêu thị vùng Alsace trước khi được mở rộng ra khắp nước Pháp. Sự phát triển nhanh chóng của mì ăn liền tại Pháp khiến một số chuyên gia y tế lo ngại. Mỗi gói mì có gần 1 gram muối, chưa kể đến việc sợi mì ăn liền thường được tẩm thêm nhiều chất phụ gia, cho nên các nhà dinh dưỡng học khuyên người tiêu dùng chỉ nên ăn tối đa hai hoặc ba tô mì gói mỗi tuần.

    9 min
  • K-Beauty : Vẻ đẹp Hàn đến Pháp

    K-Pop, K-Beauty, K-Dramas, ẩm thực Hàn, cuối cùng làn sóng Hàn Lưu (Hallyu) cũng làm mưa làm gió tại Pháp. Tại sao Hallyu vẫn là trào lưu từ nhiều năm nay? Thế nào thì được coi là đẹp ở Hàn Quốc? Bí mật là gì? Triển lãm K-Beauty. Vẻ đẹp Hàn Quốc, lịch sử của một hiện tượng tại Bảo tàng Guimet, Paris đưa khán giả xuyên suốt 300 năm lịch sử của trào lưu này thông qua lịch sử nghệ thuật, lịch sử thời trang, nghiên cứu văn hóa, khía cạnh xã hội học về vẻ đẹp ở xứ Hàn.

    Sau gần hai năm chuẩn bị, triển lãm (từ ngày 18/03 đến 06/07/2026) được tổ chức đúng Năm Hàn Quốc tại Pháp nhân kỉ niệm 140 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương. Vẻ đẹp Hàn được định nghĩa như thế nào ? Được dựa theo những tiêu chí nào ? Bà Claire Bettinelli, đồng giám tuyển của triển lãm, lần lượt giải thích với RFI Tiếng Việt từng giai đoạn lịch sử của Hàn Quốc từ cuối triều đại Joseon (1392-1910) cho đến ngày nay để hiểu được khái niệm về vẻ đẹp đã được thay đổi như thế nào tại Hàn Quốc.

    Đẹp từ phong thái

    Trong xã hội bị ảnh hưởng bởi Tân Nho giáo, “nam nữ thụ thụ bất thân”, nét đẹp của người phụ nữ được dựa trên đức hạnh thể hiện qua trang sức và trang phục. Trang phục thướt tha, làn da trắng mịn, trang điểm nhẹ nhàng và kiểu tóc tinh tế phản ánh cho vẻ đẹp bên trong và nghệ thuật chăm sóc bản thân. Nét đẹp này được thể hiện rất rõ trong bức bình phong - được trưng bày ngay gian đầu tiên của triển lãm - gồm 8 bức tranh của Kim Hong Do (1745-1815) khắc họa tinh tế những cảnh sinh hoạt thường nhật của giới quý tộc thời Joseon, cũng như những tác phẩm hội họa của Shin Yun Bok, theo giải thích của Claire Bettinelli :

    “Shin Yun Bok (1758-sau 1813) tập trung vào vẻ đẹp thời Joseon. Vẻ đẹp này có những đặc điểm gì ? Một khuôn mặt trái xoan hoàn hảo, theo quy tắc ba màu : tóc đen, lông mày đen, con ngươi đen, làn da trắng, bọng mắt trắng, răng trắng, còn má, môi và móng tay hơi hồng. Đây là ba màu sắc mà chúng tôi tìm thấy trong hình ảnh đại diện cho phụ nữ của Shin Yun Bok. Đó là những “kisaeng” - kỹ nữ, là những nguyên mẫu của cái đẹp.

    Sang thế kỷ 20, Hàn Quốc bị Nhật Bản chiếm đóng, sau đó Mỹ xuất hiện mạnh mẽ kể từ năm 1953. Điều này thực sự ảnh hưởng đến cách người Hàn Quốc thể hiện bản thân, khuôn mặt, thể hiện cái đẹp, trang phục và tìm tòi trong những nguyên mẫu của cái đẹp. Nét đẹp này cũng được thể hiện qua những trang phục hanbok được may theo mẫu vẽ của họa sĩ Sin Yun Bok, đặc biệt là của nhà tạo mẫu Lee Young Hee (1936-2018) và được giới thiệu tại triển lãm. Trong những năm 2010, nhiều nhiếp ảnh gia thời trang, trong đó có Kim Jung Man, lấy cảm hứng từ hanbok và vẻ đẹp từ những tác phẩm của Sin Yun Bok. Có thể thấy rằng vẻ đẹp đó vẫn tồn tại đến ngày nay và vẫn dựa vào những tiêu chuẩn khá cổ điển về vẻ đẹp Hàn Quốc”.

    Đẹp nhờ mỹ phẩm tự nhiên

    “Đẹp tự nhiên nhưng không tự nhiên mà đẹp”, đó là cả một bí quyết, một hành trình chăm sóc tỉ mỉ, qua nhiều công đoạn rất nổi tiếng trong K-Beauty. Bảo tàng Guimet đã kết hợp nhiều bảo tàng tại Hàn Quốc (Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc, Bảo tàng Mỹ phẩm Hàn Quốc, Bảo tàng Cung điện Quốc gia Hàn Quốc, Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia hiện đại và đương đại Seoul) để giới thiệu với công chúng những dụng cụ làm đẹp có từ thế kỷ 18 và 19, nghi lễ làm đẹp thường nhật và những loại mỹ phẩm giúp Hàn Quốc nổi danh. Bà Claire Bettinelli giải thích :

    “Mỹ phẩm được làm thủ công từ các loại thảo dược tự nhiên, dựa trên công thức được ghi trong các cẩm nang về sức khỏe và y học.

    Theo quan niệm truyền thống, vẻ đẹp bên ngoài phản ánh thể trạng và sự hài hòa bên trong cơ thể. Nhiều thành phần được sử dụng trong cả thực phẩm và mỹ phẩm, ví dụ đậu đỏ, mầm gạo và cả nhân sâm.

    Từ lâu ở châu Á, nhân sâm không những được dùng để bồi bổ cơ thể mà còn được tin là giúp cải thiện và làm săn chắc làn da. Tư tưởng này tiếp tục được kế thừa trong K-Beauty ngày nay. Các thương hiệu thường nhấn mạnh đến nguồn gốc truyền thống của các công thức làm đẹp được lưu truyền hàng nghìn năm và hiệu quả đã được kiểm chứng theo thời gian. Đó chính là một trong những giá trị cốt lõi mà K-Beauty đang đề cao. Ví dụ hình ảnh nhân sâm được sử dụng để làm nổi bật thành phần của một loại nước hoa hồng.

    Bên cạnh đó, bao bì của các sản phẩm K-Beauty ngày nay cũng lấy cảm hứng từ lịch sử nghệ thuật, đặc biệt là từ họa sĩ Shin Yun Bok, và hiện vật truyền thống. Cách làm này tạo nên sự kết nối giữa mỹ phẩm đương đại với di sản văn hóa Hàn Quốc”.

    K-Beauty thành tiêu chuẩn trên thế giới

    K-Beauty là thuật ngữ miêu tả toàn bộ hệ sinh thái làm đẹp chuẩn Hàn, từ quy trình dưỡng da phức tạp, sản phẩm mỹ phẩm đa dạng đến các dịch vụ làm đẹp công nghệ cao và phẫu thuật thẩm mỹ tiên tiến. Bà Claire Bettinelli cho biết đã nghe nhiều YouTuber nói đến quy trình làm đẹp nhiều bước, lấy cảm hứng từ mỹ phẩm Hàn Quốc, khi quảng cáo cho một số thương hiệu mỹ phẩm Hoa Kỳ ngay những năm 2008-2010.

    “K-Beauty là một thành phần của làn sóng quyền lực mềm trong Hallyu. Hàn Quốc đăng cai Thế vận hội năm 1988 và sự kiện này đã tác động rất lớn đến việc Hàn Quốc mở cửa ra thế giới. Họ có cả một chiến lược quyền lực mềm nhằm mở rộng sự hiện diện trên trường quốc tế, trước sự cạnh tranh từ Bắc Triều Tiên. Họ cố gắng bảo tồn và xuất khẩu văn hóa truyền thống. Ban đầu, việc này được thực hiện thông qua các sản phẩm phi vật thể, ví dụ xuất khẩu âm nhạc K-Pop, điện ảnh, phim truyền hình… Những nội dung này được tiếp cận dễ dàng hơn từ những năm 2010 nhờ các nền tảng trực tuyến. Tìm K-Pop hoặc phim truyền hình Hàn Quốc dễ hơn là tìm J-Pop (nhạc Nhật Bản) hoặc phim truyền hình Nhật Bản. Các mạng xã hội như YouTube, Instagram, TikTok, X đều nói về K-Beauty và hình ảnh Hàn Quốc.

    Nhưng phải nói rằng trước khi những sản phẩm phi vật thể này trở nên phổ biến thì đã xuất hiện hình ảnh của những người nổi tiếng, với làn da và khuôn mặt hoàn hảo. Và người ta muốn giống họ, hoặc ít nhất là có công thức thần kỳ cho làn da hoàn hảo đó, mái tóc mềm mượt và óng ả đó. Và đó là cách K-Beauty đến phương Tây.

    Vẻ đẹp Hàn trong thời trang cao cấp

    Vẻ đẹp Hàn Quốc trở thành hiện tượng K-Beauty được thể hiện trong phần cuối của triển lãm. Ngay những năm 2010, chữ “K” được gắn với những xuất khẩu văn hóa của Hàn Quốc : K-Pop, K-Dramas, K-Beauty… Những bộ hanbok truyền thống trở thành nguồn cảm hứng cho nhà tạo mẫu nổi tiếng Karl Lagerfeld của Chanel để thiết kế những chiếc áo khoác có tay áo rộng, vai tròn, có hai hàng cúc hoặc xẻ. “Phiên bản Hàn Quốc của áo khoác Chanel” được giới thiệu trong bộ sưu tập Croisière 2015/16 tại trung tâm Dongdaemun Design Plaza ở Seoul ngày 04/05/2015. Theo bà Claire Bettinelli, đây là đầu tiên một bộ sưu tập Croisère được giới thiệu ở nước ngoài và cho thấy chuyên môn nghề dệt may Hàn Quốc :

    “Các bộ trang phục sử dụng kỹ thuật patchwork, ghép những mảnh vải nhỏ với nhau, kết hợp hình dáng của hanbok và đặc biệt là những điểm đặc trưng của Chanel, ví dụ chiếc nơ nhung đen lớn là một đặc trưng của Chanel hoặc phần cổ áo cũng là kiểu may đo đặc trưng của Chanel, nhưng kiểu dáng của chiếc váy lại là hanbok. Có thể thấy rằng thời trang cao cấp có sự quan tâm đặc biệt ở ngoài khu vực phương Tây và quan tâm đến thời trang Hàn Quốc. Đây là điều vô cùng thú vị”.

    Những thần tượng K-Pop (BTS, Blackpink…) trở thành sứ giả của vẻ đẹp được chuẩn hóa và dễ nhận biết. Có thể thấy rõ ảnh hưởng của làn sóng Hàn tại Pháp trong phần đương đại ở gian triển lãm cuối, gồm rất nhiều kỷ vật cá nhân, dụng cụ liên quan đến K-Beauty. Bà Claire Bettinelli cho biết ban tổ chức đã kêu gọi công chúng tham gia “và chiến dịch thành công ngoài mong đợi” :

    “Chúng tôi dựng một bức tường, được gọi là “Bức tường Ký ức” về vẻ đẹp ở Hàn Quốc, với những tấm thiệp được người hâm mộ K-Pop sưu tầm và mỹ phẩm có từ những năm 2000 của những người đam mê mỹ phẩm và sở hữu nhiều sản phẩm làm đẹp Hàn Quốc hoặc những người có sản phẩm Hàn Quốc đầu tiên được bán ở Pháp, hoặc những người đến tận Hàn Quốc để mua vào thời điểm đó”.

    K-Beauty vẫn lan rộng không ngừng tại Pháp nhờ mạng xã hội và những cửa hàng mỹ phẩm Hàn Quốc liên tục mọc lên tại Paris và các thành phố lớn. Làm thế nào để giải thích sự thành công của mỹ phẩm Hàn Quốc ? Trước tiên, chắc chắn phải nói đến giá cả-chất lượng, rẻ hơn so với nhiều thương hiệu mỹ phẩm phương Tây. Theo một phóng sự của đài truyền hình TF1, ngành công nghiệp mỹ phẩm Hàn Quốc còn đi đầu trong việc khai thác những thành phần chưa từng được nghe đến ở châu Âu và sử dụng công nghệ cao, kể cả trí tuệ nhân tạo, để phân tích da, pha chế mỹ phẩm theo đặc trưng da của mỗi khách hàng, sáng tạo những xu hướng mới, như “glass skin” (làn da thủy tinh) trong veo như phủ sương…

    Đằng sau thành công này là cả một kế hoạch được Seoul công bố năm 2024. Hàng nghìn công ty mỹ phẩm được tập trung tại các khu công nghiệp ở tỉnh Gyeonggi và Bắc Chungcheong. Về quảng bá ở nước ngoài, Cơ quan Xúc tiến Đầu tư và Thương mại Hàn Quốc (KTO) hỗ trợ nhà sản xuất và đại diện tham gia các triển lãm thương mại lớn của ngành công nghiệp làm đẹp. Phương pháp này đã mang lại hiệu quả. Từ vị trí thứ 4 toàn cầu (sau Pháp, Mỹ và Đức) vào năm 2022, Hàn Quốc đã vươn lên vị trí thứ hai, chỉ sau Pháp, sau khi vượt mốc xuất khẩu 10 tỷ euro (tăng 20%) vào năm 2024.

    11 min
  • Phô mai Comté, truyền thống Pháp cả ngàn năm tuổi

    Dãy núi Jura, nằm giữa những khu rừng thông và đồng cỏ mênh mông, là nơi khai sinh ra Comté, một trong những loại phô mai lâu đời của Pháp. Văn bản xưa nhất có từ thế kỷ XII là một hợp đồng mua bán bò sữa để làm phô mai tại làng Poligny, nằm cách hai thành phố Dole và Besançon khoảng 50 cây số. Với thời gian, phô mai Comté cũng như Morbier trở thành đặc sản nổi tiếng hàng đầu của vùng Bourgogne Franche-Comté.

    Vào thời Trung cổ, nhiều gia đình nông dân đã hợp sức với nhau trong quá trình sản xuất. Sữa tươi khó giữ được lâu, sản lượng của mỗi gia đình cũng không được nhiều, nhưng khi thu gom lại thì vẫn đủ sữa để sản xuất một loại phô mai có thể giữ được lâu (gọi là fromage de garde). Mô hình sản xuất theo kiểu gom góp này đã khai sinh các hợp tác xã phô mai đầu tiên ở miền trung nước Pháp (thuật ngữ địa phương gọi là fruitière). Có thể nói Comté phản ánh tình đoàn kết trong giới nông dân thời xa xưa, nhiều thế kỷ trước khi các loại máy móc cũng như khái niệm sản xuất công nghiệp ra đời.

    Theo đầu bếp Pháp Emmanuel Perrodin, tác giả của quyển sách « Le Comté, 10 façons de le préparer » (Mười cách chế biến món ăn với Comté) thực khách Pháp yêu chuộng loại phô mai này trước hết là vì Comté có hương vị đa dạng, phong phú. Phô mai Comté cũng nhẹ nhàng,dễ ăn hơn  nhiều so với các loại phô mai đậm mùi hơn như Camembert, Maroilles, Roquefort hay Morbier :

    Trên thực tế, điều làm nên nét độc đáo của Comté nằm trong sữa tươi, thành phần quan trọng đầu tiên để chế biến phô mai. Hương vị tinh tế và phong phú của phô mai Comté tùy thuộc vào khí hậu, môi trường tự nhiên cũng như thời điểm thu gom sữa tươi. Các đàn bò sữa (giống bò Montbéliarde) được thả ở ngoài đồng, vào mùa xuân nhều mưa được ăn nhánh cỏ xanh non, vào mùa hè nhiều nắng được ăn thêm nhiều luống hoa dại, vào mùa đông đàn bò sữa chủ yếu ăn cỏ khô. Các loại thức ăn này đều ảnh hưởng tới sữa : do vậy, phô mai Comté (làm với sữa bò) mùa đông không giống với phô mai mùa hè, phô mai được sản xuất với sữa bò ở vùng đồng bằng thung lũng cũng sẽ khác với vùng cao nguyên Haut-Jura. Ngoài hương vị, phô mai Comté còn phản ánh một mô hình sản xuất lâu dài về mặt truyền thống và « bền vững » nhờ tình đoàn kết. Các yếu tố này làm cho phô mai Comté trở nên độc đáo, khiến người dân địa phương cảm thấy tự hào.

    Với hơn 60.000 tấn được bán ra hàng năm, Comté thuộc vào hàng phô mai được người tiêu dùng yêu chuộng nhất. Được chế biến từ sữa tươi, ép chắc và nấu chín, Comté là một trong những loại phô mai đầu tiên của Pháp được chứng nhận vào năm 1958 về nguồn gốc, xuất xứ cũng như quy trình chế biến. Để mang nhãn hiệu cầu chứng Comté, phô mai phải được sản xuất trong các vùng xung quanh dãy núi Jura (Ain, Doubs và Jura). Anh Sébastien Ozérée, nhà sản xuất phô mai Comté thuộc hợp tác xã Plasne-Barretaine cho biết :

    Hợp tác xã của chúng tôi gồm 21 nhà sản xuất, trong đó có 7 nhà sản xuất hữu cơ (bio) và 14 nhà sản xuất theo phương pháp thông thường. Chúng tôi sở hữu toàn bộ các cơ sở và thiết bị để chế biến gần 7 triệu rưỡi lít sữa tươi mỗi năm. Chúng tôi có một chiếc xe tải riêng với dung lượng 15.000 lít, để thu gom sữa tươi từ các nông trại thành viên của hợp tác xã. Mỗi ngày, sữa tươi được thu gom từ các nông trại gần kề, trong bán kính không quá 25 cây số. Từ xe bồn, sữa tươi thu gom được chuyển trực tiếp vào các thùng lớn bằng đồng, để được chế biến ngay trong vòng 24 tiếng.

    Tùy theo mỗi mùa, đúng là hương vị của Comté đều có sự thay đổi. Chế độ ăn uống của đàn bò sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của phô mai : kết cấu, màu sắc hay hương vị sẽ không giống nhau. Chẳng hạn như, vào mùa xuân khi hoa bồ công anh nở đầy trên các cánh đồng cỏ, ta có cảm tưởng chân núi vùng Jura được trải thảm vàng. Khi được thả ở ngoài đồng, đàn bò tha hồ mà ăn cỏ thơm hoa dại, điều đó rất tốt cho sữa, và ta có thể thấy ngay sự thay đổi này : màu sắc của sữa chuyển sang trắng ngà đậm chất hơn, chứ không hoàn toàn trắng bạch như trước. Chính những yếu tố này giúp nâng cao chất lượng của Comté và loại phô mai còn theo truyền thống lâu đời này rất khác so với các loại pho mát sản xuất theo kiểu công nghiệp.

    Phô mai Comté cần được ủ tối thiểu trong bốn tháng (120 ngày), loại rất ngon có thể được giữ lâu hơn nữa. Nếu muốn ăn Comté có nhiều mùi hương « hoa đồng cỏ nội », thì nên mua vào tháng 7 hoặc tháng 8, nhưng cũng có người thích ăn Comté chế biến với sữa mùa đông. Nhìn chung, ngànhsản xuất Comté có đến gần 2400 nông trại trong 150 hợp tác xã (fruitières) và mỗi hợp tác xã đều mang đến một nét riêng trong cách chế biến phô mai.

    Theo bộ Nông Nghiệp Pháp, hàng năm có tới hơn một triệu rưỡi ổ phô mai Comté được sản xuất (mỗi ổ nặng 40 kí lô), tương đương với 61.000 tấn. Thời gian trung bình ủ phô mai Comté là 8 tháng (mức quy định tối thiểu là 4 tháng) nhưng có thể kéo dài đến 12, 15, 18 hoặc thậm chí 24 tháng. Để làm ra một ổ phô mai với 60 cm bề ngang và 10 cm bề dày, các nhà sản xuất cần hơn 400 lít sữa bò Montbéliarde. Anh Sébastien Ozérée cho biết những công đoạn chính trong quá trình chế biến phô mai Comté.

    Trong bước đầu, sữa được đổ vào các thùng đồng, rồi cho thêm men lactic để làm đông sữa. Vài giờ sau khi sữa tụ đặc lại thành một khối, đông, người ta dùng máy để cắt sữa đông thành muôn vàn hạt sữa có kích thước nhỏ hơn. Bước kế tiếp là quá trình đun nóng sữa đông không quá 56°C. Hỗn hợp này sau đó được cho vào khuôn, rồi sau đó được ép chặt bằng ván gỗ trong 20 giờ. Đến ngày hôm sau, phô mai ép được lấy ra khỏi khuôn, rồi được ướp muối, để giúp cho phô mai nấu chín được giữ lâu một cách tự nhiên.

    Ở giai đoạn này, Comté còn là một loại phô mai non, chưa dậy mùi. Pho mai được cất giữ trong hầm hợp tác xã khoảng ba tuần trước khi được gửi đến xưởng ủ phô mai trong thời gian tối thiểu là 120 ngày (bốn tháng). Quá trình ủ phô mai được tiến hành trên những tấm ván bằng gỗ thông miền núi Jura. Đây là một loại gỗ địa phương, có lợi thế là gỗ thông không có chất tannin, nên không tác động đến quá trình tạo mùi cho Comté.

    Ba tuần một lần, bề mặt của phô mai được xoa bằng nước muối có trộn với men vi sinh, điều này giúp cho vỏ phô mai có được một lớp vỏ dày tự nhiên. Phô mai còn non thường có màu lợt nhưng sau đó, nó sẽ chuyển sang màu ngà, màu vàng, màu cam và cuối cùng là màu nâu đối với những ổ pho mai nhiều tuổi nhất. Nhiều người không thích lớp vỏ dày của Comté, nhưng ta hoàn toàn có thể ăn được. Theo tôi nghĩ, đó chỉ là một vấn đề về sở thích hay khẩu vị : lớp vỏ cứng dày thường có mùi vị đậm đà hơn.

    Dù gì đi nữa, sau khi được ủ bốn tháng, phô mai có thể được bán trên thị trường. Giá cả dĩ nhiên tùy theo chất lượng : nếu phô mai không có khuyết điểm về hình dạng cũng như mùi vị, nhà sản xuất có thể bán với giá cao hơn. Hiện tại, loại Comté phổ biến chính là loại phô mai được ủ từ 6 đến 8 tháng, ngon hơn nữa có loại 12 tháng. Nhiều ổ phô mai Comté lại càng có giá cao hơn vì được ủ lâu hơn từ hai năm (24 tháng) cho đến gần ba năm rưỡi (40 tháng). Hương vị của Comté lại càng phong phú tuyệt vời.

    Một số thực khách thích dùng phô mai còn non, chưa đầy 12 tháng, nhưng cũng có nhiều người thích ăn loại Comté chín muồi, với nhiều năm tuổi. Đó là trường hợp của đầu bếp Emmanuel Perrodin, tác giả quyển sách «Mười cách chế biến món ăn với Comté » :

    Tôi đã có dịp nếm thử một miếng Comté 40 tháng tuổi do một bậc thầy chuyên ngành phô mai chế biến. Lúc đầu, tôi nghĩ là mình không thích phô mai được ủ nhiều năm, nhưng khi nếm thử loại Comté 40 tháng tuổi của ông Marc Janin, tôi mới khám phá ra mùi vị cũng như một kết cấu mà tôi chưa từng trải nghiệm. Loại Comté này có nhiều hương thơm mềm mại nồng nàn gần giống như vani. Trong khi các loại non hơn thường có mùi hạt dẻ với những nốt cay cay của hạt tiêu. Điều lạ kỳ là Comté 40 tháng tuổi thực sự vẫn giữ được vị dịu dàng và độ mềm mại, chứ không dễ trở nên khô rắn, dễ ghiền nát vụn như loại phô mai Parmesan (Parmigiano) của Ý . Thoạt nhìn, các ổ phô mai Comté có vẻ hơi cứng, nếu không nói là rắn chắc, nhưng thực ra, khi bấm bằng hai đầu ngón tay, miếng Comté vẫn giữ được độ mềm mại kỳ lạ. Kỷ niệm đẹp của tôi là mỗi lần trở về nguyen quán, tôi lại khám phá mùi phô mai Comté, trong tâm trí lại ùa về hương vị lan tỏa đậm đà của vùng núi Jura.

    10 min

About Tạp chí văn hóa

From the publisher's feed

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

More shows like Tạp chí văn hóa

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí tiêu điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí tiêu điểm

0 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners