
Sign up to save your podcasts
Or


Cách nay 60 năm, ngày 16/07/1965, tổng thống Pháp Charles de Gaulle và lãnh đạo Ý Giuseppe Saragat đã khánh thành tuyến đường hầm xuyên núi, dài 11,4km, bên dưới đỉnh Aiguille du Midi, trong dãy núi Mont Blanc. Giấc mơ xuyên núi kéo dài hai thế kỷ, không chỉ thể hiện những tiến bộ về kỹ thuật trong nửa đầu thế kỷ 19, mà còn phản ánh quan hệ Pháp – Ý trong chiều dài lịch sử đầy biến động.
Vào năm 1787, nhà tự nhiên học người Thụy Sĩ Horace-Bénédict de Saussure từng tiên đoán: “Sẽ đến ngày người ta khoan một con đường dưới chân Mont-Blanc”, theo trích dẫn trong bài luận án của tiến sĩ lịch sử Stéphane Mourlane, trường đại học Nice Sophia - Antipolis. Lúc đó, vấn đề kỹ thuật là một thách thức lớn và giấc mơ này khó khả thi. Đến giai đoạn những năm 1840-1850, ý tưởng nối Chamonix và Courmayeur đã được nêu lại nhằm xóa bỏ sự cô lập của các thị trấn ven núi biên giới giữa hai nước. Năm 1844, luật sư Laurent Martinet đã mô tả một đường hầm dài 12 km, giữa Boissons (Pháp) và Entreves (Ý). Ý tưởng này đã được cụ thể hóa bởi kỹ sư Joseph Alby, thuộc trường Ecole Centrale de Paris, bảo đảm có thể thực hiện được, với các thiết bị khoan hiện đại hơn.
Hai thế kỷ đầy khúc mắc chính trịThế nhưng, phải mất gần hai thế kỷ sau đó, giấc mơ đó mới thành hiện thực bởi những rối ren chính trị. Vào tháng 07/1965, đường hầm xuyên dãy núi Alps dưới đỉnh Mont-Blanc, ngọn núi cao nhất châu Âu, mới chính thức được khánh thành, khép lại một trang sử đầy trắc trở trong lịch sử giữa Pháp và Ý.
Cụ thể, dãy Mont-Blanc trở thành biên giới tự nhiên giữa Pháp và Ý ngay sau khi nước Ý thống nhất và vùng Savoie được sáp nhập vào Pháp vào năm 1860. Tuy nhiên, lúc đó, ý tưởng về việc khoan một đường hầm xuyên núi bị phe bảo thủ coi là một hành động « mở cửa biên giới », khó được chấp nhận. Trong khi đó, Ý lại tập trung vào dự án hầm Gothard để kết nối với Đức, thay vì hợp tác với Pháp.
Vào năm 1882, khi Ý chính thức gia nhập liên minh quân sự với Đức và Áo-Hung, quan hệ Pháp - Ý bước vào giai đoạn căng thẳng, khiến mọi kế hoạch hợp tác đều bị đình trệ. Phải đến cuối thế kỷ 19, quan hệ hai nước được cải thiện mới tạo điều kiện để tái khởi động ý tưởng xây hầm. Các cuộc gặp ngoại giao cấp cao và đề xuất kỹ thuật khả thi từ kỹ sư Monod đã mở ra hy vọng. Tuy nhiên, mâu thuẫn ngân sách, tranh chấp thương mại và chiến dịch quân sự của Ý tại Libya lại khiến dự án rơi vào bế tắc. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất tiếp tục làm đình hoãn mọi tiến trình.
Giai đoạn giữa hai cuộc đại chiến thế giới, ý tưởng về đường hầm Mont-Blanc gần như bị lãng quên bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít và căng thẳng Pháp - Ý dưới thời Mussolini. Khi Ý tuyên chiến với Pháp năm 1940, hy vọng về một dự án chung hoàn toàn tan vỡ.
Chỉ sau Đệ Nhị Thế Chiến, trong bối cảnh châu Âu tái thiết, dự án này dần trở lên khả thi hơn. Từ năm 1946, doanh nhân Ý Dino Lora Totino cùng các đội ngũ chuyên môn về kỹ thuật của hai nước khởi động lại nghiên cứu dự án hầm xuyên núi. Dù vẫn gặp trở ngại tài chính, một hội nghị liên chính phủ năm 1949 đã thống nhất chọn Mont-Blanc làm vị trí khoan hầm.
Trả lời trang RCF, nhà sử học Stéphane Mourlan nhấn mạnh rằng “đòn bẩy thực sự để thực sự để triển khai dự án là việc Hiệp ước Roma được ký vào ngày 25/03/1957, thiết lập thị trường chung châu Âu, tạo điều kiện thúc đẩy trao đổi thương mại Pháp Ý.”
Trong bối cảnh châu Âu thúc đẩy xây dựng một khối thống nhất, công trình đã được khởi công vào ngày 08/01/1959. Tổng thống Pháp lúc đó, Charles de Gaulle, coi dự án Mont-Blanc là biểu tượng của “tình hữu nghị đặc biệt” giữa hai dân tộc và là điểm tựa để đẩy mạnh liên kết chính trị châu Âu.
Trong buổi lễ khánh thành, tổng thống Ý Giuseppe Saragat khẳng định : Đường hầm này thống nhất hai dân tộc chúng ta và quan trọng hơn là hiệp ước hữu nghị, liên minh hoặc cam kết về một cộng đồng chung vận mệnh”. Tướng De Gaule thì nhấn mạnh đến một “bữa tiệc chính trị”, đã làm trì hoãn công trình mang tính lịch sử này trong nhiều năm, theo trích dẫn từ Viện nghe nhìn quốc gia Pháp (INA).
Nhà sử học Stéphane Mourlane cho rằng “đây là thời khắc lịch sử, bởi vì khi xét đến quan hệ Pháp - Ý, Tướng De Gaulle vẫn luôn bị nghi là có ý định sáp nhập vùng Val d’Aouste của Ý”.
Trước khi đường hầm được hoàn thành vào năm 1965, việc đi lại, vượt dãy núi Alpes là một thách thức lớn, thậm chí là nguy hiểm, do thời tiết thất thường và đường núi hiểm trở, đôi khi phải mất hàng tuần để vượt qua tuyến đường quan trọng này giữa Pháp và Ý. Việc xây dựng đường hầm dài 11,6 km đã tạo nên một cuộc cách mạng trong giao thông vận tải, rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển và thúc đẩy kinh tế khu vực.
Thách thức về khoa học kỹ thuậtĐể hoàn thành công trình được cho là một kỳ tích. Đường hầm được xây dựng trong vòng 6 năm. Mỗi ngày, các công nhân đào xuyên đá, với tốc độ 7 đến 8 mét từ cả hai đầu núi Alpes, Ý và Pháp. Các cỗ máy đào khoan đá khổng lồ được đặt tên là Jumbo. Hơn 700 tấn thuốc nổ đã được sử dụng.
Theo tư liệu của Viện nghe nhìn quốc gia Pháp (INA), 15 máy khoan đào 120 hoặc 150 lỗ rộng khoảng 4 mét, sau đó lấp đầy bằng 500 kg thuốc nổ. Tổng cộng, 1 triệu mét khối đá đã được đưa ra để xây dựng đường hầm.
Nhà sử học Stéphane Mourlane cho biết công việc này vào lúc đó không dễ dàng. Bụi được sản sinh trong quá trình đục và khoan, đá thường xuyên rơi xuống, đặc biệt là ở phía Ý.
Tại Mont-Blanc, có nhiều loại đá phong hoá, với độ cứng và tính thấm nước khác nhau, do đó không thể ứng dụng một phương pháp cố định, mà phải thay đổi liên tục cách khoan tùy theo từng lớp đá. Đường hầm dài 11,6 km, khiến áp lực đá (lithostatique) gia tăng theo độ sâu, cần hệ thống chống đỡ vách chịu lực lớn như bệ kim loại, tấm bê tông, theo trang construmat.ch. Thêm vào đó, nước ngầm, hơn 10 triệu m³, phải được bơm và xử lý trong suốt quá trình đào. Khí độc như méthane cũng là thách thức lớn trong quá trình xây dựng, đòi hỏi hệ thống thông khí và giám sát liên tục môi trường không khí tại công trường.
Theo INA, trong suốt 44 tháng xây dựng, 21 công nhân đã thiệt mạng: 14 người Ý và 7 người Pháp. Khi hai đội cuối cùng gặp nhau vào ngày 14 tháng 8 năm 1962, sau một vụ nổ cuối cùng, đường hầm đã hoàn thành.
Với chiều dài 11,6 km, đây là hầm đường bộ dài nhất thế giới vào thời điểm đó. Năm 1965, Charles de Gaulle và tổng thống Ý đã khánh thành đường hầm với sự chào đón nồng nhiệt, sáu năm sau khi bắt đầu xây dựng. Những ngày sau đó, nhiều người đã lái xe đã đổ xô đến, tò mò và háo hức đi qua đường hầm dài này. Trong tư liệu của INA, một lái xe người Ý thốt lên : “Đây là một thành tựu tuyệt vời”. Một người phụ nữ thì hết lời khen ngợi chiều dài của đường hầm và các trang thiết bị, như hệ thống đèn cảnh báo, và tốc độ.
Lúc đó, đường hầm Mont-Blanc được coi là một trong số các trục giao thông chính tại châu Âu. Vào năm 1966, một năm sau khi đường hầm đi vào hoạt động hoàn toàn, 600 000 xe đã đi qua tuyến đường này. Vào năm 2024, con số này lên đến 1,4 triệu lượt qua lại, dù đường hầm đã đóng cửa một thời gian để tu bổ.
Cột mốc về tiêu chuẩn an toàn xây đường hầmTuy nhiên, hình ảnh về đường hầm “lịch sử” đã bị hoen ố bởi vụ hoả hoạn năm 1999, khiến 39 người bỏ mạng. Theo điều tra, hệ thống thông gió trong đường hầm không đủ để thoát khói và khí độc, thiếu lối thoát hiểm và đội ngũ cứu hộ ít ỏi, không được đào tạo bài bản.
Đường hầm phải đóng cửa để tu bổ trong 3 năm và thực hiện một số chỉnh sửa. Ví dụ như xây các hốc tường cách nhau 100 mét, một trạm cứu hộ được bố trí ở giữa hầm. Các lối thoát hiểm được kết nối với một hành lang sơ tán. Vụ tai nạn được cho là một bước ngoặt khiến châu Âu phải thay đổi các tiêu chuẩn về an toàn trong các hầm giao thông.
Công trình đường hầm Mont-Blanc được coi là tuyến đường hầm xuyên núi dài nhất, được xây dựng ở thế kỷ 20. Mặc dù kỷ lục về chiều dài này đã bị đánh bại bởi các đường hầm khác được xây dựng sau này (đường hầm xuyên núi Gotthard Base Tunnel, 57,1 km, Thụy Sĩ, dài nhất thế giới, tính đến năm 2016), Mont-Blanc vẫn được coi là “cựu binh huyền thoại” của các đường hầm xuyên núi.
Ngày 28/09/2025, nam ca sĩ Thế Sơn từ Hoa Kỳ đã sang Paris để trình diễn trong chương trình kỷ niệm 30 năm định cư tại Pháp của nữ ca sĩ Lệ Thu Nguyễn. Chuyến lưu diễn tại Pháp lần này cũng đánh dấu 40 năm sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn, vốn đã nổi tiếng từ khi còn ở Việt Nam và sau khi đến Hoa Kỳ định cư đã cộng tác trong suốt nhiều năm với các trung tâm Thúy Nga và Asia, trở thành một tên tuổi quen thuộc trên các sân khấu hải ngoại.
Nhân dịp sang Paris, Thế Sơn đã dành cho RFI Việt ngữ một bài phỏng vấn sau đây:
Hôm nay RFI Việt ngữ rất vui mừng được tiếp chuyện với nam ca sĩ Thế Sơn tại Paris.
Trước tiên Thế Sơn xin kính chào quý vị khán thính giả của RFI và xin mến chào anh Thanh Phương.
Đây không biết là lần thứ bao nhiêu rồi Thế Sơn đến với thủ đô nước Pháp. Đối với Thế Sơn, Paris chắc không có gì xa lạ?
Kính thưa quý vị, Thế Sơn rất yêu mến Paris ngay từ khi còn ở Việt Nam và Thế Sơn cũng có rất nhiều họ hàng định cư ở Paris trước đây rất lâu. Sơn cũng có may mắn là trước đây cộng tác với Paris by night, cho nên qua thu hình cũng như qua trình diễn tại Paris rất nhiều. Thế Sơn học Lasan Taberd, lúc đó không còn chương trình Pháp nữa mà là chương trình Việt, nhưng Sơn học sinh ngữ là Pháp văn. Sơn rất thích nhạc Pháp, rất thích phát âm tiếng Pháp, tại vì Sơn thấy Pháp ngữ phát âm rất là gọn, rất là bén, nghe hay lắm, êm tai lắm!
Bây giờ trở lại từ khởi đầu sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn. Lúc đầu chắc là Thế Sơn đâu có tính chọn con đường ca nhạc, vì hình như là trước đây Thế Sơn học trường Trung học Sư phạm?
Thưa anh và thưa quý vị, trong dòng họ Thế Sơn, ai cũng đi theo con đường học vấn. Đa số đều thành tài ở những lĩnh vực như kỹ sư, bác sĩ. Gia đình đều hướng con cái đi theo con đường học. Nhưng có thể là do duyên Trời hay đó là một cái nghiệp, trong họ hàng chỉ có mình Thế Sơn là rẻ qua đường ca nhạc thôi.
Lúc đầu ba má Sơn cũng không ủng hộ. Má Sơn là giáo viên thành ra bà rất mẫu mực, vẫn còn theo xưa, bà không có thích giới văn nghệ, nên không ủng hộ Sơn vô con đường ca hát. Nhưng mà như Sơn đã nói, chính cái nghiệp cái duyên đưa đẩy Sơn vô con đường ca hát vào năm 1985.
Vậy thì cơ duyên nào đã đẩy Thế Sơn vào con đường này?
Khi Thế Sơn học Trung học Sư phạm, nhân dịp sinh hoạt hè ở Duyên Hải Cần Giờ khoảng năm 83, 84, buổi tối buồn không biết làm gì hết, cả lớp kéo nhau ra ngoài trời, đốt lửa trại rồi cầm đàn nghêu ngao hát, văn nghệ văn gừng với nhau. Thì Sơn cầm đàn và hát bài "Đó! Quê hương tôi" của Vĩnh Điện, thì bạn bè trong lớp ai cũng thích hết và thích giọng hát của Sơn. Có một thằng bạn thân nói: “Giọng mày hay lắm, học thêm thanh nhạc, luyện thêm là làm ca sĩ được”. Thì từ đó nó gieo vào đầu Sơn một tư tưởng là đi làm ca sĩ, chứ từ trước đến giờ Sơn chỉ hát chơi thôi và tánh mình cũng nhút nhát nên không nghĩ tới chuyện ra trước đám đông để trình diễn.
Sơn đi học ngoài giờ ở nhạc viện, thì cũng rất may mắn có người thầy tên là Bùi Trần Tiến cũng thích giọng của Thế Sơn lắm, cho nên gợi ý với Thế Sơn là nếu muốn thi vô trường nhạc chính quy thì tới nhà thầy, thầy sẽ luyện thi miễn phí để thi đậu vô trường nhạc. Sơn nghe lời thầy và tới để thầy luyện, rồi sau đó thi đậu vô trường nhạc. Đó là lúc bắt đầu nghiệp ca hát luôn.
Chúng tôi được biết là trong trường nhạc, Thế Sơn được dạy hát opera chứ không phải là hát nhạc pop như bây giờ. Như vậy là lúc đầu, đối với một người tuy có giọng ca bẩm sinh, có phải mất rất nhiều công sức để luyện tập hát được opera không?
Opera là một môn nghệ thuật về ca hát rất khó. Có những người luyện cả đời cũng không được, vì không có giọng, không có giọng Trời cho. Lúc Sơn bắt đầu học, vì từ trước giờ mình hát giọng tự nhiên, nên không cảm nhận được thể loại opera. Lúc đó Sơn không thích, thật sự không thích opera, nhưng vô trong đó là bắt buộc phải hát opera. Hát loại nhạc modern ở ngoài, hát bằng giọng tự nhiên là bị thầy la liền!
Nhưng sau thời gian học miệt mài ba năm thì giọng của Sơn mở ra theo đường hướng opera, nghe nó vang lắm. Đến chừng đó mình mới cảm nhận được và mới bắt đầu thích opera. Mình kiếm những cassette của Pavarotti nghe để học hỏi thêm, nghe những cassette của các ca sĩ cổ điển của Ý, của Nga để bắt chước luyện theo.
Có lẽ nhờ học hát opera thành ra cái âm vực của Thế Sơn rất là rộng, Thế Sơn có thể đi từ cái nốt khá là trầm lên cái nốt rất là cao. Thì điều đó có giúp gì nhiều cho Thế Sơn trong con đường ca nhạc khi trở thành một ca sĩ nhạc pop?
Thưa anh, giúp rất là nhiều. Hồi mới bắt đầu vô trường nhạc, Sơn chỉ lên được nốt mí thôi, mà đã căng thẳng lắm, rát cổ lắm! Nhưng tới bây giờ Sơn lên được tới nốt đô thăng lúc mà mình khỏe, tức là một khoảng rất rộng đối với một người ca sĩ, thành ra nó giúp ích rất nhiều khi mình hát. Mình không sợ hát bất cứ bài nào mà âm vực cao. Nhờ opera mình sẽ có thể hát được hết những bài nhạc của Việt Nam.
Thế Sơn không chỉ hát những nốt rất cao mà có thể kéo dài cái nốt đó rất là lâu. Khi mà kết thúc mỗi bài hát chúng tôi thấy Thế Sơn thường là ngân chữ cuối cùng rất là lâu.
Vâng, đó là do trong trường họ dạy mình luyện hơi, mình lấy hơi bụng và luyện để cho hơi của mình không mau hết, tức là mình xì ra từ từ để cho hơi mình kéo dài được.
Nhưng nếu chúng ta ra ngoài mà hát như được học ở trường thì chắc khó mà thu hút được khán giả. Vậy thì làm sao Thế Sơn có thể làm cho giọng hát của mình thích ứng với loại nhạc phổ thông?
Nếu đem nguyên si kỹ thuật hát opera ra ngoài thì rất ít khán giả biết thưởng thức thể loại nhạc đó. Mình hát kiểu đó là có thể bị đuổi vô. Ở Việt Nam hồi xưa khán giả khó tính lắm. Không đúng ý họ là họ đuổi thẳng vô! Khi Sơn học kỹ thuật opera rồi thì ra ngoài Sơn vẫn hát với giọng bình thường, giọng tự nhiên của mình. Sơn chỉ áp dụng kỹ thuật opera là lấy hơi. Tức là mình lấy hơi cho đầy phổi đầy thì mình hát câu dài hơn và không bao giờ bị hụt hơi. Khán giả họ không thấy gì khác biệt với những ca sĩ khác hết. Chỉ khi lên cao thì Sơn mới sử dụng một chút kỹ thuật opera là mở cái vòm họng và cuốn họng thật lớn để mình có thể lên cao được.
Với hành trang âm nhạc đó thì Thế Sơn đã bắt đầu bước vào con đường ca nhạc từ năm 1985. Thế Sơn giữ được những kỉ niệm nào về những ngày đầu tiên bước lên sân khấu?
Kỷ niệm thì nhiều lắm, vì ở Việt Nam Sơn đi hát mỗi đêm ở các tụ điểm và nhiều khi hát những suất buổi trưa ở nhà hát Hòa Bình nữa. Rất là nhiều kỷ niệm. Nhưng Sơn nhớ một kỷ niệm là hồi Sơn hát ở nhà hát Hòa Bình, lúc đang học ở trường nhạc. Bữa đó thì nhà hát bị cúp điện ngay lúc Sơn đang hát. Lúc đó Sơn mới ngẫu hứng, nói với khán giả: "Trong lúc chờ họ mở máy phát điện riêng thì Sơn hát opera cho quý vị nghe, quý vị chịu không?" Thì khán giả ở dưới thích lắm, đồng ý, vì thấy lạ. Sơn hát bài hình như là "Mười năm tình cũ" hay bài gì đó bằng kỹ thuật opera, tức là hát cho nó vang thì cả khán phòng mấy ngàn người đều nghe được. Sơn hát một vài câu thôi là họ thích lắm, vỗ tay rất là nhiều.
Điểm lại thời gian hát ở Việt Nam từ năm 85 cho đến khi Thế Sơn sang Hoa Kỳ định cư, con đường đó đã đóng góp như thế nào, làm phong phú hơn ở những điểm nào cho sự nghiệp âm nhạc của Thế Sơn?
Thưa anh, trước tiên là mấy năm học ở trường nhạc cho mình vốn kiến thức, kỹ thuật opera để mình bổ sung ca nhạc nhẹ của mình ở ngoài. Đó là một cái may mắn và là một điều rất đáng quý đối với một người ca sĩ. Bên cạnh đó, trong 9 năm ở Việt Nam thì Sơn hát hằng đêm, hát mỗi ngày và có những ngày, vào những dịp lễ, Sơn hát một ngày tới 40 bài, từ sáng cho tới tối luôn, hát chỗ này, chỗ kia. Sơn hát miệt mài mỗi ngày trong suốt 9 năm. Đó là một hành trang rất đáng quý, là nơi để mình coi như là rèn luyện bản lĩnh sân khấu, để khi Sơn bước ra một xứ lạ, một chỗ mới là hải ngoại, thì không bỡ ngỡ, vững vàng để tiếp tục ngay con đường ca hát của mình.
Thế Sơn sang định cư ở Hoa Kỳ từ năm nào?
Từ tháng 3 năm 1994 tại California, San Jose.
Khi sang Hoa Kỳ thì Thế Sơn có được đi hát trở lại ngay hay là cũng phải đợi một thời gian?
Sơn rất may mắn là qua Mỹ 10 ngày sau Sơn hát liền ở vũ trường Lido tại San Jose. Hát cuối tuần thôi, nhưng cũng có đi show một vài nơi ở Stockton này kia. Sơn may mắn được hát liền tại San Jose. Khoảng vài tháng sau là Paris by Night bay lên San Jose để ký với độc quyền với Thế Sơn.
Thế Sơn đã hát độc quyền cho Paris by Night hình như khoảng 20 năm phải không?
Dạ đúng 20 năm. Tháng 7 năm 1994 là Sơn ký contract ( hợp đồng ) với Thúy Nga Paris by Night. Tới tháng 7 năm 2014 là đúng 20 năm, Sơn rời Thúy Nga để trở thành một một ca sĩ tự do.
Chúng tôi biết là khi ở Việt Nam thì Sơn cũng có hát khá nhiều trong những đoàn ca nhạc như là Hương Miền Nam. Sang đến Hoa Kỳ, hát trên sân khấu Paris by Night, Thế Sơn thấy có sự khác biệt nào nhiều không?
Thời mà Sơn hát ở Việt Nam thì văn nghệ chưa phát triển mạnh như bây giờ, còn đơn sơ lắm và còn nhiều thiếu sót lắm, chưa có chuyên nghiệp, chưa có professional.
Nhưng khi Sơn qua hải ngoại mà được vô ngay một trung tâm lớn nhất tại hải ngoại là Paris by Night, Sơn thấy một sự khác biệt rất lớn, đó là họ tổ chức chặt chẽ lắm, đúng giờ, đúng giấc và đâu ra đó. Họ có một team để lo từng chi tiết trong một chương trình thâu hình.
Sơn được cộng tác với những vũ công của Hollywood, rồi có những bài hòa âm bởi những nhạc sĩ người Mỹ rất là hay. Sơn học hỏi được rất nhiều điều có lợi cho nghề nghiệp trong thời gian cộng tác với Paris by Night về trình diễn với dancers. Trong phòng thâu thì có những chi tiết mà mình chưa thấy ra, thì chị Tô Ngọc Thủy với anh Huỳnh Thi đã gợi ý hướng dẫn để Sơn sửa những cái đó. Đó cũng là một trong những điều mà mình học hỏi được từ Paris by Night.
Hai mươi năm đó đã giúp cho Thế Sơn trở thành một ca sĩ kỳ cựu của Paris by Night. Sau đó Thế Sơn cũng đã chuyển qua hát cho trung tâm Asia. Thời gian đó có những thay đổi gì đặc biệt đối với con đường nghệ thuật?
Khoảng cuối năm 2014 thì Thế Sơn cộng tác với trung tâm Asia, với nhạc sĩ Trúc Hồ, cho tới 2018. Thật sự thì ở Paris by Night thời gian đó phải nói là thời hoàng kim của nhạc hải ngoại và cũng vì đó mà sự cạnh tranh rất là khốc liệt. Ai cũng muốn vô những trung tâm lớn như là Paris by Night. Thành ra mình phải cố gắng hết mức để giữ vững vị trí của mình trong trung tâm. Nhưng khi tới 2014 Sơn chuyển qua cộng tác với Asia thì Sơn cảm thấy nhẹ nhàng lắm, tại vì mình đã từng cộng tác với nơi mà cạnh tranh như vậy đó.
Qua đây thì Asia rất là quý mến Thế Sơn và tạo mọi điều kiện để cộng tác với Thế Sơn rất tốt. Nhưng bên Asia thì có một số bài Sơn hướng về nhạc đấu tranh. Đó là một hướng mới: nhạc đấu tranh cho người dân thấp cổ bế miệng ở trong Việt Nam.
Đó mà một chí hướng, một sự chọn lựa của Thế Sơn, chứ không phải do ai áp đặt?
Đúng vậy. Lúc đó, thời gian khoảng 2014 -15, Sơn thấy cũng có nhiều khuất tất, nhiều bất công tại Việt Nam, cho nên Sơn nghĩ là một nghệ sĩ thì mình dùng tiếng hát của mình để mình góp phần lên tiếng nói ủng hộ cho những người dân nghèo tại Việt Nam.
Trong những năm gần đây, có rất nhiều ca sĩ ở hải ngoại trở về Việt Nam để trình diễn, bởi vì đối với họ, Việt Nam là nơi mà có thể tìm được rất nhiều khán giả, nhất là đối với những người đã hát lâu năm bây giờ tìm được một lượng khán giả mới ở Việt Nam để tiếp tục sự nghiệp ca nhạc. Riêng Thế Sơn là một trong số rất hiếm hoi ca sĩ cho tới nay vẫn dứt khoát không trở về Việt Nam để trình diễn. Vậy thì lý do gì khiến cho Thế Sơn có quyết định như vậy?
Như anh nói rất đúng là ở Việt Nam có khoảng 100 triệu dân thì lượng khán giả thích nhạc, thích tiếng hát của mình sẽ đông hơn rất nhiều so với ở hải ngoại, chỉ có vài triệu người Việt Nam mà sống rải rác, rồi một số bị đồng hóa vào dân bản xứ nữa. Cho nên ca sĩ bây giờ ai cũng muốn về Việt Nam hết.
Nhưng Sơn cũng hơi lạ hơn người ta là Sơn nghĩ : Cuộc sống của mình đã rất ổn định rồi và bao nhiêu năm nay mình cũng chịu ơn của những khán giả hải ngoại. Phần rất là lớn nhờ họ mà mình tạo được tên tuổi cũng như một cuộc sống ổn định cho tới bây giờ, cho nên Sơn hát ở hải ngoại là cũng đủ rồi.
Với lại ( về hát ) ở Việt Nam thì cũng có rất nhiều cái phiền phức, phe phái tùm lum hết. Một số nghệ sĩ nổi tiếng ở bên này về thì họ hay lợi dụng tên tuổi của người nghệ sĩ đó để họ tuyên truyền cho chế độ, cho nên Sơn không muốn điều đó.
Không biết là trong thời gian qua thì ở Việt Nam có ai bắn tiếng sang hay là có người nhờ để mà mời Thế Sơn về nước hát không?
Chuyện đó thì xảy ra lâu rồi, từ khoảng năm 2000 - 2001 tức là cách đây cũng 24 - 25 năm rồi. Đã có rất nhiều lời mời Sơn về Việt Nam, nhưng Sơn không nhận lời. Ngay cả có một lần Sơn nhớ là đang đi hát ở Calgary hay là Edmonton, ở Canada, thì có một cú phone từ Hà Nội mời Sơn về hát, nhưng Sơn từ chối.
Rồi sau đó 2001 cũng có lời mời Sơn về làm liveshow và họ lo everything (tất cả ), Sơn chỉ về thôi, nhưng Sơn cũng từ chối. Rất, rất là nhiều lời mời. Nhưng sau này họ biết là Sơn không có ý muốn trở về cho nên họ thôi.
Bây giờ đã 40 năm trên sân khấu ca nhạc, nhìn lại chặng đường đã qua, Thế Sơn có thấy là thời gian qua quá nhanh hay không? Hay là thấy rằng 40 năm vẫn còn chưa đủ, có thể còn tiếp tục thêm nữa?
Bây giờ nhìn lại thì thấy thời gian qua nhanh. Nhưng mà phải nói là Trời thương, Tổ nghiệp đãi, cho nên mình vẫn còn sức khỏe để tiếp tục cống hiến. Sơn nghĩ nghề này không có tuổi về hưu. Khi nào hết duyên hoặc là không còn sức khỏe thì mình mới đành phải chia tay thôi, chứ còn bây giờ mình vẫn tiếp tục trau dồi để cống hiến khán giả. Mình hát vì đó là cái nghiệp và cũng là cái sở thích của mình.
Thế Sơn có thể "bật mí" cho các khán giả biết là những cái bí quyết nào giúp cho Thế Sơn giữ được giọng ca cho tới ngày hôm nay, tức là vẫn hát rất khỏe, giọng rất cao, âm vực rất rộng?
Thế Sơn nghĩ cái chính vẫn là bẩm sinh. Nếu mình không có giọng thì có học thanh nhạc, luyện giọng thế nào cũng khó lòng mà đi hát chuyên nghiệp trong suốt bao nhiêu năm. Cái thứ nhất là bẩm sinh và cái thứ hai là kỹ thuật opera. Và cái thứ ba rất quan trọng, ai cũng cần có, đó là giữ sức khỏe, giữ tinh thần cho lạc quan, thoải mái, đừng có bị stress, hay vướng vào một vấn đề gây phiền phức cho mình, để mình tập trung vô ca hát thôi. Giữ sức khỏe đối với Sơn là ăn ngủ đầy đủ, thậm chí ngủ cần hơn ăn. Ăn bình thường thôi nhưng mà ngủ là phải cần. Và không rượu bia, không thuốc lá.
Tức là từ trước nay Thế Sơn không bao giờ dùng đến rượu bia, không hút thuốc luôn?
Thuốc lá thì không bao giờ đụng tới, nhưng rượu bia thì ở Việt Nam thì có. Khán giả thích, hay mời mình trên sân khấu. Mình nể khán giả, chiều ý khán giả thành ra mình uống cũng nhiều lắm, có những show uống rất là nhiều. Nhưng sau đó Sơn nghĩ lại: chiều khán giả có nhiều cách khác để chiều, chiều kiểu đó gây hại cho sức khỏe, ảnh hưởng tới giọng hát, cho nên Sơn nghĩ mình phải tập trung 100% cho giọng hát. Người ta tới với mình vì người ta thích mình hát, chứ không phải là để lên cụng bia, để lấy những tiếng vỗ tay. Cho nên bao nhiêu năm nay Sơn không có một giọt rượu giọt bia nào trong người.
Sơn có nói một trong những cái bí quyết để giữ giọng hát tồn tại lâu dài như vậy là chúng ta phải có một cuộc sống thoải mái, không có ganh đua, không có tính toán, không có suy nghĩ gì nhiều. Chúng tôi thấy hình như Thế Sơn sống cuộc sống khá là bình lặng, không thấy xuất hiện nhiều trong giới show biz ở bên Mỹ?
Dạ đúng. Không hiểu sao ở Việt Nam trước đây, mỗi ngày Sơn phải ra đường, chứ ở trong nhà Sơn chịu không được! Ra đường gặp các nhạc sĩ, các ký giả, ngồi ăn uống nhậu nhẹt. Ngày nào cũng ra đường, trưa nào cũng đi ăn với họ, tối thì đi hát. Nhưng khi qua tới Mỹ nữa thì mình lại không thích đi ra ngoài, cứ ru rú trong nhà! Hiếm lắm mình mới ra ngoài mình đi ăn uống thôi, còn không thì thích ở nhà hơn.
Với lại bây giờ là thời đại internet, mình lên internet học hỏi được nhiều thứ. Thành ra mình sống nội tâm nhiều hơn và khép kín hơn.
Ngoài người vợ ra thì Thế Sơn có những người bạn đồng hành, đó là những chú chim két. Vì sao Thế Sơn lại thích nuôi chim két như vậy?
Thật sự đây cũng là cái duyên tự nhiên. Sơn có người anh họ thích nuôi chim lắm. Một bữa nọ, ảnh xúi Sơn nuôi két, nuôi con két đuôi dài. Rồi ảnh dẫn đi chợ chim, rồi đi những cái bird show, cái show. Sơn thấy con két đẹp quá mà lại biết nói, nên ẵm về nuôi luôn. Bây giờ Sơn có bốn con két, hai con két lớn, hai con két nhỏ. Có con nuôi từ mười mấy năm nay rồi.
Két sống lâu lắm. Nuôi chó mèo hay thì thường khoảng mười mấy năm là nó "đi" rồi. Ai cũng nói nuôi một con chó đến khi nó chết thì đau buồn lắm, hụt hẫng lắm. Nhưng con két này thì mình chết trước nó! Nó sống lâu lắm! Nó vừa đẹp mà vừa biết nói nữa. Một động vật biết nói là hiếm lắm. Thành ra Sơn Sơn nuôi két, rồi dính luôn tới bây giờ!
Vâng chúng tôi rất cảm ơn Thế Sơn đã dành thời gian cho chương trình hôm nay của RFI để điểm lại 40 năm ca nhạc của Thế Sơn và xin chúc Thế Sơn Sơn nhiều sức khỏe và nhiều thành công mới trên con đường ca nhạc.
Cảm ơn anh Thanh Phương cũng như đài RFI đã tạo điều kiện cho Thế Sơn có dịp thưa chuyện với quý vị khán thính giả. Cũng xin kính chúc quý vị khán thính giả và gia đình anh Thanh Phương thật nhiều sức khỏe, nhiều may mắn, nhiều thành công và bình an trong cuộc sống.
Trước khi trở thành một trong những vở opéra nổi tiếng nhất nhờ một giai điệu quen thuộc, quyến rũ và nóng bỏng, Carmen của nhà soạn nhạc người Pháp Georges Bizet từng bị một « cái dớp » : Bị khán giả la ó trong buổi ra mắt công chúng đầu tiên, rồi tác giả đã qua đời sau vỏn vẹn 33 lần vở kịch được diễn xuất.
Bizet chết trẻ và không hề biết ông là cha đẻ của một tuyệt tác từng làm siêu lòng những nhạc sĩ bậc thầy như Tchaikovsky, Brahms. Riêng triết gia người Đức Friedrich Nietzsche thì từng thú nhận Carmen đã giúp ông trở thành một con người tốt hơn !
Carmen lấy cốt truyện từ một sáng tác cùng tên của nhà văn Pháp Prosper Mérimée. Vai nữ chính là cô Gypsy - bohémienne nóng bỏng, đầy ma lực quyến rũ chàng hạ sĩ Don José, để rồi rơi vào vòng tay của hiệp sĩ đấu bò Escamillo. Vở nhạc kịch mang tên cô gái làm nghề quấn thuốc lá trong một nhà máy ở Sevilla vùng Andalucia, miền nam Tây Ban Nha này do nhà hát Opéra Comique Paris đặt hàng với Georges Bizet và ông đã vất vả lắm mới hoàn tất tác phẩm này. Để chiều lòng ca sĩ chính, người thủ vai Carmen, Bizet đã phải viết lại đến 13 lần nhạc khúc hát nổi tiếng nhất trong vở kịch « L’Oiseau est un enfant rebelle ».
Con số 3 xui xẻo
Cũng đã vất vả lắm giữa rất nhiều công việc để tìm kế sinh nhai, Bizet mới tìm được thời gian và một không gian thích hợp để sáng tác nhưng để rồi chỉ nhận lấy những lời chê bai và thu về những thất vọng sau buổi ra mắt công chúng Paris đầu tiên ngày 03/03/1875.
Có lẽ ngày Ba Tháng Ba không mang lại may mắn cho Bizet. Bị giới phê bình bài xích tột độ, khán giả tẩy chay vì một nàng Carmen vượt ra ngoài lễ giáo, dám phản bội người tình, dám tự do yêu đương, không phù hợp với hình ảnh tuyệt vời của người con gái chung thủy, dịu dàng, nhà hát Opéra Comique thường xuyên vắng khách vì Carmen … Bizet vốn đã túng thiếu lại càng phải bươn chải nhiều hơn, soạn nhạc nhiều hơn để bù đắp vào lỗ hổng tài chính vì …
Trái tim tan vỡ
Làm việc đến kiệt sức, Georges Bizet qua đời sau một cơn đau tim ngày 03/06/1875, đúng vào buổi vở Carmen được trình diễn lần thứ 33, thọ 36 tuổi … Lại là những con số Ba định mệnh!
Vào lúc Bizet trút hơi thở cuối cùng ở Bougival cách Paris hơn 20 km, thì trên sân khấu Opéra Comique, lần thứ 33 nhập vai Carmen, nữ diễn viên chính Célestine Galli – Marié ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, như bị ma nhập, bà la khóc và nói Bizet đã từ trần !
Vienna, bệ phóng cho một vở opéra của Pháp
Vào lúc mà khán giả Paris khinh rẻ vở opéra tâm huyết của Georges Bizet thì Carmen lại được khán giả của thành Vienna, Áo, nồng nhiệt chào đón. Hình ảnh một phụ nữ yêu hết mình, không cho phép ai – kể cả người tình chà đạp, rẻ khinh, một người đàn bà không khuất phục trước cái chết … Sức mạnh của Carmen đã hoàn toàn chinh phục giới phê bình và khán giả Vienna trong buổi ra mắt công chúng đầu tiên ngày 23 tháng 10 cùng năm 1875. Lại một lần nữa con số 3 xuất hiện.
Từ đó Carmen chắp cánh bay xa từ Roma đến Luân Đôn và sang mãi đến tận New York hay Matxcơva, Saint Petersbourg … Nhà soạn nhạc người Nga Tchaikovski báo trước « chỉ trong 10 năm, Carmen sẽ là vở opéra ăn khách nhất hành tinh ». Nhạc sĩ dương cầm và cũng là một nhà soạn nhạc nổi tiếng của trường phái lãng mạn Johannes Brhams đã 20 lần đi xem và nghe tuyệt tác của Brizet. …
Carmen đã nhiều lần được được dựng thành phim, mà một trong những người đầu tiên đưa tác phẩm này của Georges Bizet đến với nghệ thuật thứ Bảy là danh hài Charlie Charplin năm 1915. Bản La Habanera cũng đã vượt thời gian, cả ngàn lần, cả chục ngàn lần là nhạc nền cho các thí sinh tại các cuộc thi đấu quốc tế ở những thể loại từ vũ ba lê đến trượt băng nghệ thuật hay ba lê dưới nước … Từ năm 1994 bản nhạc này không thể thiếu trong mỗi lễ trao giải đua xe Công Thức 1.
Biểu tượng của tự do và sức sống
Làm sao có thể giải thích thành công này ? 150 năm sau buổi ra mắt đầu tiên vở kịch này, nhà phê bình Eric Emmanuel Schmidt giải thích : Không ai có thể dửng dưng với vở opéra Carmen, bởi vì đối với cô gái vùng Andalucia này, « không có Thượng Đế, quy củ nào trói buộc cô. Carmen hoàn toàn sống vì khoảnh khắc hiện tại, sống hết mình với tất cả nghị lực. Tác phẩm phẩm này kết thúc bằng cái chết của Carmen, nhưng tuyệt đối cô không hề nao núng hay lo sợ trước tử thần ».
Carmen trước hết là hình tượng của một phụ nữ tự do, một tinh thần độc lập, một cá tính mạnh mẽ : dám yêu, dám giành quyền tự định đoạt cuộc đời. Khát vọng tự do đó là điều năm 1875 khán giả Paris, nhất là khán giả lui tới Opéra Comique của Paris chưa thể chấp nhận.
Sự khắt khe đó với nhân vật chính Carmen đã tồn tại cho đến thập niên 1960. Diva Maria Callas đã bao lần nhập vai cô bohémienne không chung tình và tiếng hát, cách thể hiện của La Callas đến nay vẫn là độc nhất vô nhị, vậy mà bà không thể chấp nhận Carmen.
Callas chỉ trích Carmen « hành xử như một người đàn ông đa thê. Nhưng phụ nữ thì không được phép có nhiều người tình ». Trong mắt nữ danh ca Maria Callas, « Carmen không thuộc về thế giới hoàn hảo ».
Trái lại ca sĩ tenor Roberto Alagna người đã nhiều lần nhập vai hạ sĩ quan Don José, người tình bị Carmen phản bội, lại rất ngưỡng mộ các nhân vật được nhà văn Merimée và Bizet dựng lên. Với ông « Carmen là một tác phẩm hoàn hảo, bởi vừa phong phú về mặt hình ảnh, sắc màu, vừa khơi dậy rất nhiều tâm trạng của mỗi con người chúng ta, từ sự hào hứng đến nỗi lo sợ. Carmen là một tuyệt tác »
Bạn diễn của nam danh ca ténor Roberto Alagna, nữ ca sĩ Elina Garania, đã nhiều lần thủ vai Carmen, nhận xét : « Thành công của vở opéra này chính là ở chỗ các tác giả, cả về lời thoại lẫn âm nhạc, đã khơi dậy nhiều cảm xúc khác nhau của con người. Ai thì cũng muốn tự do, ai cũng mưu cầu hạnh phúc, nhưng mỗi chúng ta lại có quan niệm riêng về hạnh phúc, về tự do. Ai cũng theo đuổi những giấc mơ, nhưng thực ra có mấy người biết được mình đang mơ về những gì ».
150 năm sáng tạo
Đây cũng là điều đã đưa Carmen đến với những sân khấu rất xa lạ với khung cảnh của thành phố Sevilla miền nam Tây Ban Nha ban đầu : trên sân khấu ở Bắc Kinh hay Thượng Hải, nàng Carmen không phải là cô công nhân trong nhà máy cuốn thuốc lá, mà là một cô thợ giặt … Carmen đã chinh phục con tim của khán giả ở châu Mỹ Latinh khi vở opéra Georges Bizet từng dày công biên soạn được cải biên đôi chút để trở thành một vở Hip opéra, mang một chút phong thái của thể loại hip hop.
Carmen cũng đã nhiều lần được các nhà soạn kịch tùy ý diễn giải, người thì quan niệm không thể để cho cô gái xinh đẹp và nồng cháy này chết thảm trong tay người tình Don José, vì những tràng pháo tay của khán giả khi vở opéra này hạ màn có thể bị ngộ nhận như một hành động cổ vũ cho các vụ bạo hành phụ nữ.
Năm 2018 khán giả Ý trên sân khấu nhà hát ở Florence đã bàng hoàng thấy một Carmen giết chết người tình, vì một nhà soạn kịch đã dám thay đổi cả cốt truyện của Mérimée. Nhưng bất luận trong hoàn cảnh nào, Carmen vẫn là biểu tượng của tình yêu và tự do, của sức sống mãnh liệt và những con số 3 tưởng chừng là xui xẻo với vở ca nhạc kịch nổi tiếng nhất và tâm huyết nhất của Bizet thực ra chỉ là một chuỗi trùng hợp …
Tác giả người Úc Morris West (1916 – 1999) là một nhà văn tài năng xuất chúng. Ông đã viết hàng chục cuốn sách được đánh giá cao, đạt được thành công quốc tế và đã được dịch sang 27 ngôn ngữ. Sách của ông vẫn được tái bản, chủ yếu bằng tiếng Anh. Trong khoảng thời gian từ 1959 đến 1963, ông làm việc ở Vatican với tư cách là phóng viên cho tờ London Daily Mail.
Kiến thức mà ông có được trong thời này này về hoạt động và nội bộ Vatican đã được phản ánh trong các tiểu thuyết của ông. Đặc biệt trong bộ ba tiểu thuyết « The Shoes of the fishman » (1963), « The Clowns of God » (1963) và « Lazarus » (1990).
----- ***** -----
Giorgio càu nhàu vẻ không vui rồi nhét tiền vào túi. « Mẹ tôi muốn tôi làm linh mục. Có lẽ bà ấy đúng. »
- Linh mục cũng có vấn đề của họ, Kiril nhẹ nhàng nói. Ngay cả Giáo hoàng cũng có vài vấn đề, tôi nghe nói vậy.
« Giáo hoàng ư ! Thật buồn cười ». Người bán báo thốt lên, vốn là người bán tin tức, nên cũng có quyền bình luận về nó. « Lần này họ đã thực sự làm chúng ta say mê. Một người Nga ở Vatican ! Có chuyện để kể cho anh nghe đây ! »
Anh ta trải tờ báo lên bàn và chỉ tay một cách đầy ẩn ý vào bức chân dung Giáo hoàng chiếm gần nửa trang nhất. « Nói cho tôi biết liệu ông ta có phải là một người kỳ quặc để gán cho người Roma chúng ta không. Nhìn khuôn mặt đó và… »
Anh ta ngừng lại và nhìn chằm chằm vào khuôn mặt râu ria của người mới đến. Giọng anh ta nhỏ dần, nhỏ dần. « Dio ! » Trông anh giống hệt ông ta.
- Tôi là Giáo hoàng, anh nói với họ, và họ há hốc mồm nhìn anh như thể anh là một bóng ma.
- Tôi không tin, Giorgio nói. Trông anh giống hệt ông ấy. Chắc chắn rồi ! Nhưng anh lại ngồi đây không một lira trong túi, uống cà phê, mà cà phê thì chẳng ngon chút nào.
- Nó còn tốt hơn những gì tôi nhận được ở Vatican.
----- ***** -----
« Đôi giày của người ngư phủ – The Shoes of the fishman »Trên đây là trích đoạn từ tiểu thuyết « Đôi giày của người ngư phủ – The Shoes of the fishman » (1963) của nhà văn người Úc Morris L. West (1916-1999). Câu chuyện này cũng được đạo diễn Michael Anderson dựng thành phim vào năm 1968 với diễn viên Anthony Quinn trong vai giáo hoàng Kiril.
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh đạt đến đỉnh điểm, Kiril Pavlovich Lakota, Tổng giám mục Lviv, Liên Xô, bất ngờ được trả tự do sao 20 năm trong trại lao động ở Siberia bởi cựu quản giáo Piotr Ilyich Kamenev. Ông được sai đến Roma và được phong hồng y. Rồi Giáo hoàng đột ngột qua đời. Và tiến trình mật nghị bầu giáo hoàng mới bắt đầu.
Hồng y Lakota tham gia với tư cách là một cử tri. Sau bảy vòng bỏ phiếu không kết quả, Lakota bất ngờ được bầu làm giáo hoàng và ông miễn cưỡng chấp nhận, lấy hiệu là Kiril. Trong khi đó, thế giới đang bên bờ vực chiến tranh hạt nhân do mối thù Trung-Xô, càng trở nên trầm trọng hơn bởi nạn đói do mất mùa lan rộng ở Trung Quốc.
Tối hôm sau khi đắc cử, giáo hoàng Kiril lẻn ra khỏi Vatican để vi hành thành Roma trong trang phục của một linh mục bình thường. Và xảy ra chuyện như ta thấy ở trên.
Trong những năm tháng trong trại, Kamenev là người thường xuyên thẩm vấn giám mục Kiril Lakota. Vào cuối thời gian cải tạo, Kamenev đã được thăng tiến và quyết định bí mật thả Kiril với ý định đòi tiền chuộc vào một thời điểm trong tương lai. Khi Kiril Lakota trở thành Giáo hoàng, Kamenev đã liên lạc với ông và nhờ giúp đỡ về các vấn đề quốc gia.
Nhờ thế, giáo hoàng đắc cử trở về Liên Xô trong trang phục thường dân để gặp riêng Kamenev và chủ tịch Bành của Trung Quốc để thảo luận về cuộc khủng hoảng đang diễn ra. Giáo hoàng Kiril nhận ra rằng nếu những bất ổn ở Trung Quốc tiếp diễn, cái giá phải trả có thể là một cuộc chiến tranh tàn phá thế giới.
Trong lễ đăng quang, Kiril đã cởi bỏ vương niệm của mình và cam kết bán tài sản của Giáo hội để giúp đỡ người dân Trung Quốc, trước sự hân hoan của đám đông tại Quảng trường thánh Phê-rô. Hành động mang tính cách mạng này mang đến cho thế giới một cơ hội hòa bình mới và quyết định của Kiril được quốc tế hoan nghênh.
Tiểu thuyết không hẳn là câu chuyện hư cấu. Thực tế, « Đôi giày của người ngư phủ » đã tường thuật lại những gì xảy ra ở Vatican và thế giới trong những năm 1960. Thời điểm diễn ra Công đồng Vatican II (1962-1965), làm thay đổi sâu rộng Giáo hội Công giáo và thế giới chìm dưới bóng của cuộc chiến tranh lạnh với mối đe dọa hạt nhân. Cuốn tiểu thuyết đã tiên báo cho vị giáo hoàng người Ba Lan Karol Wojtyla – Gioan-Phaolô II. Người lên ngôi vào ngày 16 tháng 10 năm 1978.
The Clowns of God – Les gouffons de Dieu – Những chú hề của Chúa (1981)Tiếp theo thành công của cuốn đầu tiên lấy bối cảnh Vatican và câu chuyện xung quanh Giáo hoàng, Morris West tiếp tục phần hai. Lần này, giáo hoàng của ông là một người Pháp 65 tuổi, ông cũng phải đối diện với một cuộc khủng hoảng hạt nhân nhưng trong bối cảnh khác.
Câu chuyện mở đầu cũng bằng sự ra đi của một giáo hoàng, nhưng không phải là một tang lễ mà là một sự thoái vị. Giáo hoàng Gregory XVII tự nhận mình được Chúa báo cho biết là thế giới sắp tận thế. Các hồng y ở Vatican tin rằng ông bị điên và đe dọa tuyên bố ông mất trí nếu ông không chịu từ chức. Ngài đã phải ký vào văn kiện thoái vị trước sự chứng kiến của hồng y đoàn và chúc họ may mắn trong việc tìm kiếm một người tốt nhất để đeo chiếc nhẫn ngư phủ.
Jean Marie Barette, giờ đây đã là giáo hoàng danh dự, lao vào cuộc hành trình đơn độc để tìm cách ngăn chặn thế giới rơi vào vòng xoáy hỗn loạn và cuồng bạo của ngày tận thế. Với tài kể chuyện khéo léo, Morris West đã xây dựng sự hồi hộp của chuyến phiêu lưu, bằng cách đặt bên cạnh cựu giáo hoàng người bạn thân Carl Mendelius. Nhưng liệu người này có đáng tin hay không ? Ông có phải là điệp viên của CIA và sẽ đóng vai trò gì ?
Tiểu thuyết của West nổi bật giữa nhiều tác phẩm hư cấu ngày nay nhờ vào những nhân vật tử tế, tốt bụng và mối quan hệ mà ông xây dựng giữa họ chính là trọng tâm của tác phẩm này. Trong một cảnh cảm động, cậu con trai đang tuổi đại học của Mendelius thú nhận mình không còn giữ đạo nữa.
« Cha rất tiếc khi nghe điều đó, con trai ạ » cha cậu đáp. « Nhưng cha mừng vì con đã nói với cha. » « Không ai, cha cậu tiếp tục, có thể sai khiến lương tâm của người khác », và nói thêm, « Nhưng hãy nhớ một điều, con trai ạ. Hãy giữ cho tâm trí con luôn rộng mở, để ánh sáng luôn chiếu rọi. Hãy giữ cho trái tim con luôn rộng mở để tình yêu không bao giờ bị ngăn cản. »
West có niềm tin lớn lao vào sức mạnh của đức tin, nhưng không mấy khoan nhượng với những tranh cãi về học thuyết và phẩm trật nơi tôn giáo có tổ chức. Trong thời đại mà các giáo hội truyền thống đang mất dần giáo sĩ và các cộng đoàn, những phân tích đạo đức của ông về hệ thống phẩm trật của giáo hội lại rất đúng lúc.
Lararus (1990)Trong phần ba, Morris West kể về Giáo hoàng Leo XIV hư cấu, một người bảo thủ kiên định, sản phẩm hoàn hảo của hệ thống phẩm trật Vatican. Với ngài, các học thuyết và tín điều quan trọng hơn các tiêu chuẩn con người. Ít nhất là cho đến khi ngài gặp vấn đề tim mạch và phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Bác sĩ phẫu thuật chính, người Do Thái, đã cảnh báo Giáo hoàng rằng một bệnh nhân cận kề cái chết có thể bước ra khỏi ca phẫu thuật với những quan điểm khác, thậm chí là những tính cách khác.
Trong khi Giáo hoàng bước vào cuộc chiến sinh tử, thì bên ngoài những cuộc chiến khác cũng diễn ra một cách khốc liệt. Các hồng y âm thầm chuẩn bị cho một cuộc bầu giáo hoàng mới cho Giáo hội. Bên trong và bên ngoài bệnh viện, các nhân viên tình báo Mossad của Israel tăng cường an ninh, vì một tổ chức khủng bố Hồi giáo có tên « Thanh Gươm Hồi giáo » muốn lợi dụng cuộc phẫu thuật này để ám sát giáo hoàng.
Tuy nhiên, Giáo hoàng Leo XIV ra khỏi phòng giải phẫu với cái nhìn ôn hòa hơn về đời sống tôn giáo trong Giáo hội. Ngài phải bước vào cuộc chiến khác khi đảo ngược lại mọi đường lối trước đây và ngài phải đối mặt với một Giáo hội mà ngài không còn nắm quyền điều hành.
Căng thẳng và âm mưu, xung đột nội bộ và các mối đe dọa bên ngoài, tất cả cùng nhau gây ra một giáo hoàng suy yếu và một Giáo hội dễ bị tổn thương. Các cuộc đấu tranh của đức Leo XIV đề cập đến những chủ đề luôn luôn thời sự và phù hợp cho đến ngày hôm nay : vấn đề độc thân linh mục, vị trí của phụ nữ trong Giáo hội, kiểm soát sinh sản và phá thai.
Những tiểu thuyết lấy bối cảnh Vatican của Morris West không chỉ là những câu chuyện trinh thám hư cấu, mà khi đọc qua, độc giả thấy được những sự kiện và những nhân vật đã xảy ra và dần được hiện thực. Chúng được kiểm chứng qua các giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Benedicto XVI và Phanxicô. Đó chính là sự tài tình của nhà văn người Úc khiến chúng ta phải tìm đọc những tác phẩm của ông.
Ngày 15/08/2021, quân đội Mỹ rút đi, phe Taliban giành lại chính quyền ở Afghanistan, hai mươi năm sau khi bị lật đổ. Sau những năm tháng tương đối tự do, người dân tại quốc gia Trung Á này lại sống dưới một chế độ vô cùng hà khắc, nhất là đối với nữ giới: Trẻ em gái bị loại khỏi giáo dục trung học, phụ nữ khi ra ngoài phải che kín từ đầu đến chân, thậm chí trên đường phố không được nói chuyện với nhau. Họ gần như bị xóa bỏ khỏi không gian công cộng.
Cuộc sống tăm tối của phụ nữ Afghanistan ngày nay đã được nữ phóng viên nhiếp ảnh người Pháp Sandra Calligaro ghi lại trong một phóng sự ảnh được trưng bày gần đây tại Pháp.
Năm 2007, Sandra Calligaro mới 25 tuổi và đang làm thêm tại một quán bar trong thời gian học nghệ thuật và nhiếp ảnh. Ước mơ của cô là trở thành một phóng viên kỳ cựu và đưa tin về các quốc gia đang có xung đột. Khi biết một người bạn phóng viên sẽ đi Afghanistan, Sandra đã xin đi theo. Một tháng rưỡi sau, cô phóng viên trẻ người Pháp đặt chân đến Kabul. Rồi vì say mê đất nước này, Sandra đã sống ở đó mười năm, trước khi trở lại Paris, nhưng vẫn thường xuyên đi lại giữa Pháp và Afghanistan.
Người nữ phóng viên nhiếp ảnh này đã quyết định ghi lại cuộc sống thường nhật của người dân Afghanistan, nhất là của phụ nữ, dưới ách thống trị của Taliban. Sau khi đoạt Giải thưởng Françoise Demulder ( tên của phóng viên nhiếp ảnh chiến trường người Pháp ) vào năm 2024, Sandra Calligaro đã một lần nữa tham gia triển lãm tại Liên hoan ảnh báo chí quốc tế Visa pour l'image ở thành phố Perpignan, miền nam nước Pháp, đầu tháng 9/2025. Loạt ảnh được trưng bày có tựa đề “Afghanistan: Dưới Bóng Cờ Trắng”.
Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Visa pour l’image ngày 03/09/2025, Sandra Calligaro cho biết:
“Tôi đã làm việc ở Afghanistan hơn 15 năm, với thời gian sống ở đó là khoảng mười năm. Giờ đây, tôi vẫn thường xuyên đi lại giữa hai nước Pháp và Afghanistan. Cho đến bây giờ, tôi luôn muốn ghi lại những hình ảnh về toàn bộ xã hội Afghanistan, cả nam lẫn nữ. Nhưng đúng là từ khi Taliban trở lại, tôi nhấn mạnh hơn một chút về những người phụ nữ đang sống một cuộc sống thường nhật như bị giam cầm. Đó là điều cần thiết và quan trọng.
Chính sách đàn áp đã được thực hiện từng bước khá nhanh chóng. Khi Taliban trở lại nắm quyền vào năm 2021, không phải mọi thứ đều bị dừng lại cùng một lúc. Đầu tiên, các trường học bị đóng cửa đối với các bé gái đã qua tuổi dậy thì. Sau đó phụ nữ bị cấm vào các công viên, rồi các tiệm làm đẹp cũng bị đóng cửa. Hàng loạt biện pháp như vậy đã được áp dụng trong nhiều tháng sau đó. Trước sự đàn áp này, trước những sắc lệnh ngày càng hạn chế quyền tự do, tôi muốn cho thấy phụ nữ Afghanistan đang kháng cự như thế nào.”
Tuy Afghanistan nay sống dưới chế độ hà khắc của Taliban, nhưng do cũng là phụ nữ nên Sandra Calligaro có phần nào dễ dàng tiếp cận những người mà nay hầu như chỉ sống trong không gian hạn hẹp của những căn nhà, căn hộ:
“Hiện nay, làm việc ở Afghanistan hay đi đến nước này là rất khó khăn. Nhưng mặt khác, vì tôi là phụ nữ và hầu hết phụ nữ nay phải sống trong nhà, cho nên gặp gỡ trò chuyện với họ thực sự là khá dễ dàng. Hầu hết các bức ảnh chúng ta thấy trong triển lãm này đều được chụp trong nhà.
Tôi muốn cho thấy sự phân đôi của xã hội Afghanistan thông qua các bức ảnh, với một không gian công cộng, không gian bên ngoài chủ yếu dành cho đàn ông và một không gian bên trong, nơi mà phụ nữ phần nào được tự do hơn một chút vì không bị quấy rầy. Những người phụ nữ, những cô gái trẻ mà tôi gặp đều có những cảm xúc khác nhau, vừa chán nản, vừa cam chịu và nhưng cũng vừa hy vọng. Đó chính là điều tôi muốn thể hiện trong loạt ảnh này: Trong nỗi tuyệt vọng tột cùng, chúng ta vẫn thấy rất nhiều hy vọng, hoặc ít nhất không chỉ là sự cam chịu, mà là rất nhiều sự chống chọi, rất nhiều sự thích nghi. Tôi muốn ghi lại bằng hình ảnh tất cả những điều đó.”
Minh họa cho hai không gian cách biệt này là một bức ảnh của Sandra Calligaro chụp một nhà hàng truyền thống ở Shar-e Naw, trung tâm Kabul, vào giờ ăn tối ngày 12/04/2025. Trong nhà hàng này, phụ nữ không được phép ngồi trong phòng ăn chính. Đàn ông chỉ được phép ngồi cùng con gái chưa đến tuổi dậy thì.
Bị cấm đoán, bị hạn chế đủ điều, sống như những cái bóng lặng lẽ, tâm trạng của phụ nữ Afghanistan hiện nay ra sao, Sandra Calligaro kể lại:
“Tôi nhớ đến một câu mà một cô gái trẻ từng nói với tôi: “Sandra, trạng thái tâm lý bình thường của người dân Afghanistan hiện nay đó là trầm cảm. Đó là điều mà cô cảm nhận trong cuộc sống thường nhật của người dân Afghanistan. Nhưng không phải vì chán nản mà họ không làm gì cả. Họ không thể ngừng sống, họ vẫn đấu tranh cho những điều dù nhỏ nhặt. Đối với tất cả những người mà tôi đến gặp, được chụp ảnh hay làm nhân chứng là điều rất quan trọng.
Họ muốn tôi ghi lại sự khắc nghiệt, khó khăn trong cuộc sống hàng ngày của họ, cùng với tất cả những hình thức kháng cự dù là nhỏ nhoi để họ tiếp tục sống sót, với những lớp học đang được thành lập, những tiệm làm đẹp đang mở cửa lại. Thực sự điều rất quan trọng đối với họ là được gặp tôi và để tôi cho thấy họ vẫn đang cố gắng để sống. Tôi nghĩ việc phơi bày sự khắc nghiệt trong cuộc sống thường nhật của họ, cũng như tất cả những hình kháng cự nhỏ nhặt đó thực sự mang lại cho họ một chút hy vọng để tiếp tục chiến đấu, tiếp tục sống, và cảm thấy bớt 'vô hình' hơn một chút.”
Ngay cả những thiếu nữ cũng không cam chịu với cuộc sống thiếu vắng học đường. Trong một bức ảnh của Sandra Calliaga, Fatima, 17, ở Kabul, đang theo học một lớp trên mạng qua smartphone. Những thiếu nữ khác thì lén lút đến các lớp học tại gia. Sandra Calligaro đã đến một trong những lớp học này, nơi mà các “cô giáo” chỉ lớn hơn học trò có vài tuổi. Đó là những cô gái trẻ nay không còn được tiếp tục học đại học, hoặc không được đi làm cho nên muốn truyền đạt kiến thức cho những em gái cũng không được cắp sách đến trường. Sandra Calligaro giải thích:
“Đây là những lớp học hoàn toàn không chính thức. Chính quyền Taliban biết là có những lớp học như vậy, nhưng họ không biết gì về những môn được dạy, cho nên họ để yên, mặc dù thỉnh thoảng họ cũng đến kiểm tra. Khi bị kiểm tra thì các cô giáo bảo họ chỉ dạy may vá, thêu thùa, dạy Kinh Coran, dạy các môn về tôn giáo, giống như ở các trường Hồi Giáo.
Đó là điều thực sự rất, rất đau đớn đối với những người phụ nữ thuộc thế hệ đã trải qua chế độ Taliban đầu tiên vào những năm 90 và nay chứng kiến lịch sử lặp lại với con gái mình. Thật khó khăn cho những người mẹ đó và tôi nghĩ cũng rất khó khăn đối với những cô gái trẻ lớn tuổi hơn một chút, những người trong 20 năm trước đó đã được hưởng một chút tự do, rồi đột nhiên, cánh cửa đóng sầm lại trước mắt họ. Trong 20 năm, họ đã được thoáng thấy một thế giới khả dĩ sống được và đột nhiên, mọi thứ dừng lại, từ học tập đến sinh hoạt giải trí.
Vào năm 2001, chế độ Taliban đã bị lật đổ nhờ có sự can thiệp mạnh mẽ của quốc tế, nhưng bây giờ tình hình không giống như trước và rõ ràng là quốc tế sẽ không quay lại đó. Thật không may là thế giới đang trở nên tồi tệ hơn. Điều thực sự phức tạp với Afghanistan, đó là dầu sao Taliban vẫn là người Afghanistan, đang ở trong nước họ và tôi nghĩ rằng rất khó mà quốc tế can thiệp vào, nhất là vì Taliban không hề có ý đồ bành trướng, họ chỉ làm những gì họ muốn trong đất nước của họ.”
Hậu quả của chính sách mà phe Taliban thi hành từ 4 năm qua được thể hiện qua một bức ảnh mà Sandra Calligaro vào sáng sớm tại một vùng quê, trên đường, từ người đi bộ, đi xe đạp, đi xe gắn máy, cho đến người bán rong đều là đàn ông, không có một bóng dáng phụ nữ nào.
Không chỉ sống dưới sự hà khắc của chế độ Taliban, các em gái ở Afghanistan nay còn chịu những hủ tục của một xã hội vẫn còn lạc hậu. Sandra Calligaro đã ghi lại hình ảnh của cô bé Nazanin đang ngồi trong góc nhà, tay ôm chặt chú gấu bông. Một giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên má cô. Bố mẹ đã gả cô cho một người đàn ông cô không yêu, hiện đang sống ở New Zealand. Cô rất sợ phải rời xa nhà và sống trong sự kiểm soát của gia đình chồng, giống như mẹ của cô trước đây.
Charles Aznavour có vị trí đặc biệt trong cuộc đời của họa sĩ Hom Nguyen và mẹ của ông, một phụ nữ Việt đến Pháp sau năm 1954. Họ đều là người nhập cư "với những khó khăn, nhưng có một khát khao, một chút điên rồ, giống như Aznavour", ca sĩ gốc Armenia. Năm 2024, chính Hom Nguyen vẽ bộ tem cây cổ thụ làng nhạc Pháp nhân 100 năm ngày sinh. Ngày 05/10/2025, toàn bộ bẩy tác phẩm, dụng cụ sáng tác của nghệ sĩ sinh năm 1972 được đưa vào bộ sưu tập cố định của Bảo tàng Bưu Chính (Musée de la Poste).
Bưu điện cũng giữ một vị trí quan trọng đối với mẹ của Hom Nguyen. Ông kể lại trong cuốn tự truyện Ma vie d’Hom (Cuộc đời của Hom, NXB Robert Laffont, 2025) : “Thư từ là sợi dây liên lạc duy nhất giữa bà với gia đình ở Việt Nam. Mỗi tháng một lần, bà viết thư cho anh trai trên những tờ giấy rất mỏng để tiết kiệm bưu phí…” (tr. 95).
“Mẹ” là người “truyền cảm hứng” cho thành công của một Hom Nguyen ngày nay. Bà đẹp, là người nhập cư không nói tiếng Pháp, làm mẹ đơn thân, bà bươn chải để nuôi con nhưng số phận lại buộc bà nằm liệt giường quá sớm, khiến cậu con trai trở nên “già trước tuổi”, phải nói dối và dối lòng mình để tự “vẽ” ra một điều kiện sống bình thường như những người khác :
(…) Tôi từng đến những bữa tiệc nơi những người giàu có hơn tôi kể về cuộc sống tuyệt vời của họ. Tôi từng khốn khổ, nhưng tôi không muốn thừa nhận ; tôi ghét bị phán xét. Vì vậy, tôi đã phải dùng đến những lời nói dối, chỉ để tồn tại như họ”. (tr. 85)
Hội họa đã giúp Hom tìm được tự do, tìm được khoảng trời riêng để trút tâm sự, để thoát khỏi thế giới thực. Từ tự học, mày mò phát minh những kỹ thuật mới, không ngại mạo hiểm, Hom Nguyen tạo được phong cách riêng “táo bạo, giàu cảm xúc”, “nổi tiếng với phong cách bốc đồng và những bức chân dung khổ lớn, nắm bắt được chiều sâu cảm xúc của con người thông qua màu sắc”, theo đánh giá của trang Artsper. Và để có được thành công này, theo Hom :
“May mắn không tồn tại ; tôi là sự kết hợp của ý chí, tham vọng và sự chăm chỉ”. (tr. 180)
RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn họa sĩ Pháp gốc Việt nhân dịp anh ra cuốn tự truyện La Vie d’Hom (Cuộc đời của Hom).
RFI : Trong cuốn tự truyện La vie d’Hom (Cuộc đời của Hom), anh không ngại kể lại những khó khăn, vất vả, kể cả những “tội lỗi” nhỏ thời niên thiếu. Nhưng chính những trải nghiệm và cuộc sống đó đã làm anh nhân văn hơn, dễ thấu hiểu những người yếu thế hơn. Trong cuốn tự truyện, anh cũng trích dẫn một câu nói của mẹ anh là “phải tự vạch con đường cho mình và đừng dừng lại”. Anh đã tìm con đường đó như thế nào ?Hom Nguyen : Trước tiên, tôi nghĩ là chúng ta không thể dừng lại. Tôi bắt đầu từ nguyên tắc đó, với lời khuyên của mẹ tôi : “Hãy tự vạch con đường cho mình và đừng dừng lại, con bị dồn vào chân tường nhưng con vẫn phải đi, phải luôn tiến lên phía trước”. Tôi nghĩ mẹ tôi nói đúng bởi vì nếu do dự thì chúng ta bị dừng lại. Và tôi đã không do dự. Mẹ tôi và tôi đã trải qua quá nhiều khó khăn nên đối với bà, việc tiến lên phía trước và không bao giờ dừng lại là điều thực sự quan trọng.
Mẹ tôi đã truyền cho tôi khát khao và động lực đó, vượt qua khuyết tật của bà, bởi vì bà bị liệt nửa người. Bà đến Pháp lành lặn, sau đó bị tai nạn ô tô. Có lẽ qua tai nạn đó, qua những vết thương của bà, bà đã truyền cho tôi khát khao được tiến xa hơn nữa, đưa mẹ tôi và tôi đến những nơi khác, như kiểu để có thể thoát khỏi cuộc sống lúc đó.
Khi có một người mẹ khuyết tật như mẹ tôi, đáng tiếc là bà không còn nữa, thì từ rất nhỏ, mới chỉ 6-7 tuổi, tôi đã biết là có nhiều việc phải làm. Thế là khi mới 10, 12 tuổi, tôi đã trưởng thành hơn những đứa trẻ khác bởi vì tôi chăm sóc mẹ. Tôi làm những việc như tháo túi chất thải để đổ vào nhà vệ sinh, tôi xoay người mẹ để vệ sinh hàng ngày cho bà, tôi giúp mẹ ăn uống. Tất nhiên là chúng tôi có một điều dưỡng viên do Nhà nước giúp đỡ, nhưng buổi tối thì tôi ở bên chăm sóc mẹ. Cho nên tôi đã trưởng thành rất sớm, việc đó giúp tôi tiến nhanh hơn, hiểu cuộc sống sớm hơn những người khác ngay khi còn rất trẻ.
RFI : Chính những khó khăn đó đã thôi thúc anh đến với vẽ và anh đã tìm thấy một thế giới khác thông qua hội họa. Điều gì đã thôi thúc anh biến hội họa thành sự nghiệp nghệ thuật ?Hom Nguyen : Tôi nghĩ hội họa giúp tôi giải phóng bản thân, được mơ mộng, được kể một câu chuyện, bởi vì tôi không hẳn “văn hay chữ tốt”, tôi không đọc nhiều lắm. Vẽ là một lợi thế đối với tôi, bởi vì đó là cách tôi thể hiện bản thân theo kiểu mộng mơ, nói một chút về những gì tôi cảm thấy qua những gì được nghe, được thấy và tự nhủ rằng đó cũng là một kiểu thoát ly để nhìn thấy một thế giới tốt đẹp hơn thông qua hội họa.
Và thế là ở nhà, tôi vẽ ! Ở trường, tôi cũng vẽ ! Tôi khá mộng mơ bởi vì cuộc sống ở nhà đã rất, rất khó khăn, cho nên ở trường, tôi giải phóng bản thân, không thực sự nghĩ về bất cứ điều gì khác, thậm chí có thể nói rằng tôi gần như thoát khỏi nó. Tôi tách được khỏi nó. Tôi vẫn luôn như vậy. Việc đó giúp tôi tồn tại, để tự nhủ rằng có thể làm điều gì đó trong cuộc đời mình. Qua hội họa, tôi cảm thấy như mình đang tìm lại được một niềm hạnh phúc nào đó, bởi cuộc sống ở nhà vốn dĩ rất khó khăn. Không hẳn là tôi chăm học hơn, nhưng tôi chắc chắn là cần thay đổi cuộc sống hàng ngày nhờ vẽ. Tôi nghĩ mình vẫn luôn làm như vậy, từ lúc còn nhỏ.
RFI : Khi còn nhỏ, anh lui tới bệnh viện nơi mẹ anh được điều trị thường xuyên đến nỗi mỗi khi rời khỏi đó, anh cảm giác như được tự do và được giải thoát !Hom Nguyen : Đúng vậy. Tôi thường xuyên đến bệnh viện nơi mẹ tôi điều trị. Từ khi còn rất nhỏ, tôi vẫn tới đó với dượng tôi, vào mỗi cuối tuần, vào buổi tối sau giờ học. Việc rời khỏi bệnh viện, theo một cách nào đó, cho phép tôi tự do. Sống ở bệnh viện là một gánh nặng bởi vì bệnh viện thường không dành cho trẻ em. Và chứng kiến cảnh mẹ mình bị thương trong một vụ tai nạn xe hơi, không có gì kinh hoàng hơn việc nhìn thấy bà trong tình trạng nguy kịch, nằm trên giường bệnh, không thể cử động. Bị liệt nửa người có nghĩa là từ xương chậu đến bàn chân, hoàn toàn không có cảm giác gì. Vậy nên, khi còn nhỏ, tầm 6, 7, 8, 10 tuổi, đến bệnh viện là đồng nghĩa với việc gặp mẹ sau hết ca phẫu thuật này đến ca phẫu thuật khác, ghép da ở mông để giúp bà có được khuôn mặt ổn hơn. Điều đó không dễ dàng gì !
Đối với tôi, bệnh viện khắc nghiệt đến mức khi ra khỏi đó, tôi cần tìm sự giải thoát ở một điều gì đó khác. Vẽ giống như một lối thoát. Tôi giải phóng bản thân khỏi rất nhiều thứ. Tôi cần thay đổi thế giới của mình và nói về con người tôi, hoặc có thể là những điều khác. Vẽ và hội họa là tự do thực sự đối với tôi.
RFI : Và sau khi trải qua những tháng năm khó khăn đó, anh đã tình nguyện dạy vẽ cho nhiều bệnh nhân nhi ở Bệnh viện Pitié-Salpêtrière, anh thấy hình ảnh của mình qua những đứa trẻ đó !Hom Nguyen : Đúng vậy, tôi đã trải qua tất cả những năm tháng đó. Một ngày nọ, có người hỏi tôi rằng tôi có muốn dạy vẽ cho trẻ em không, một số em bị rối loạn nhân cách, bị tâm thần phân liệt, ví dụ có một câu bé nhưng tự nhận tên là Stéphanie (tên của con gái), tôi nghĩ chắc cậu bé có chút thay đổi trong tâm trí. Trong chừng mức nào đó, tôi thấy mình cũng từng giống như vậy. Lúc học tiểu học, tôi thấy các bậc phụ huynh đến trường đón con. Mẹ tôi không đến trường. Và tôi đã nói dối vì muốn bảo vệ bản thân và mẹ tôi. Tôi nói rằng mẹ tôi là thợ phụ trong một tiệm làm tóc, trên thực tế bà bị tàn tật nặng, nằm ở nhà. Lời nói dối đó đã giải phóng tôi. Và hội họa thực sự đã cho tôi sự tự do để mơ về những điều khác ngoài cuộc sống hiện tại của tôi ở nhà.
Tôi tìm thấy điểm tương đồng ở những đứa trẻ này. Và khi thấy mình ở đó, cùng với giáo sư chuyên ngành Cohen, phụ trách khu vực dành cho thanh thiếu niên của Bệnh viện Pitié-Salpêtrière, tự nhiên tôi muốn giúp các em và giúp cả chính mình. Và suốt năm đó, tôi đã dạy vẽ, rất nhiều em được cấp bằng tốt nghiệp, bởi vì đó là một cơ hội tuyệt vời để giúp đỡ chúng tôi, cho họ, và tôi nghĩ là cho cả tôi nữa. Trải nghiệm đó đã thực sự giúp tôi được mở mang hơn, giúp tôi hiểu những người trẻ tuổi khác. Họ cũng hiểu được những điều khác thông qua tranh của tôi, cũng như tranh của họ.
RFI : Anh cũng còn có những dự án khác ở Việt Nam nữa bởi vì anh cũng đã nhắc đến Việt Nam trong cuốn sách ?Hom Nguyen : Vâng, tôi có những dự án khác và chúng vẫn đang được giữ kín. Thực ra, có rất nhiều, rất nhiều triển lãm ngẫu nhiên ở Việt Nam. Tôi cũng có cơ hội được lên trang bìa và một bài trong tạp chí của Vietnam Airlines, hãng hàng không quốc gia Việt Nam. Điều đó rất quan trọng đối với tôi, giúp nhắc lại tuổi thơ của tôi, về chia sẻ, về chúng ta, những người Việt Nam. Và tôi rất, rất tự hào về điều đó. Tất nhiên, sẽ có những triển lãm khác ở Việt Nam.
RFI : Gần cuối tự truyện, anh viết “Hom ngày nay muốn sống trong bình yên, thanh thản. Hạ cánh nghĩa là tìm thấy niềm vui trong những điều giản dị nhất. Dành thời gian cho con cái”. Nổi tiếng thế giới, công tác thường xuyên, liệu có lúc nào anh tự hỏi : Mình đang ở đâu ? Hoặc là mình cần một lịch trình làm việc bớt áp lực hơn hoặc chậm lại để tập trung vào bản thân hoặc những dự án thiện nguyện khác, dành thêm thời gian cho các hiệp hội ?Hom Nguyen : Tôi nghĩ là mình luôn có thời gian. Tôi dành thời gian cho nhiều việc. Tôi từng lùi lại một bước nhưng không hẳn tận hưởng được việc đó. Tôi nghĩ mình đang dành thời gian để hình thành ý tưởng và nhất là để trau chuốt chúng. Dĩ nhiên, tôi vẫn đang tham gia nhiều triển lãm và dự án với trẻ em, đặc biệt là trẻ em ở Việt Nam, cho đến ngày hôm nay. Không phải là tôi kìm hãm lại mà thực ra là tôi đang dành thời gian để hiểu rõ hơn về các dự án của mình. Năm nay là một năm then chốt. Tôi sẽ phải chuẩn bị cho rất nhiều triển lãm quốc tế, chắc chắn là cả ở Việt Nam. Và tôi sẽ chỉ tập trung vào việc chuẩn bị chúng tốt hơn.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn họa sĩ Hom Nguyen.
Nhắc đến Philippe Conticini, giới chuyên ngành ẩm thực nghĩ tới ngay một trong những bậc thầy của nghề làm bánh ngọt : người từng được sách hướng dẫn Gault & Millau trao tặng danh hiệu Thợ làm bánh ngọt xuất sắc nhất nước Pháp vào năm 1991. Thế nhưng ít ai biết rằng, ông từng khởi nghiệp cùng với người anh trai Christian Conticini và cả hai ban đầu nổi tiếng nhờ nấu các món mặn.
Sau một thời gian dài làm việc ở nước ngoài, chủ yếu tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, Philippe Conticini trở về Pháp lập công ty kinh doanh kể từ năm 2012, khai thác thương hiệu mang tên mình (Maison Conticini) và nổi tiếng trên thế giới nhờ sở trường « tái thể hiện » những kiểu bánh ngọt Pháp kinh điển : bánh ngàn lớp mille-feuilles, bánh táo tatin úp ngược, bánh su nhồi kem (éclair hay cream puffs), bánh hạnh nhân macaron, bánh bông lan madeleine, bánh nhân hạt dẻ Paris-Brest ….. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Philippe Conticini trước hết cho biết hình ảnh của nghệ thuật bánh ngọt Pháp trong mắt thực khách ở nước ngoài.
Philippe Conticini : Vâng, bánh ngọt Pháp tự nhiên nổi tiếng là phức tạp cầu kỳ, phần lớn cũng vì cách làm bánh đòi hỏi nhiều kỹ năng và tay nghề, nhất là những kiểu bánh có từ nhiều thế kỷ qua. Điều này khá quan trọng, vì khi bạn muốn tái tạo một kiểu bánh ngọt « kinh điển », đã trở thành một phần của ẩm thực Pháp. Mỗi thợ làm bánh cũng nên biết đôi chút về lịch sử và truyền thống của kiểu bánh này, nắm vững các kỹ thuật cơ bản rồi sau đó mới có thể thích nghi, điều chỉnh lại theo cách làm của mình.
Hầu hết các kiểu bánh được Philippe Conticici làm lại đều có khoảng 200 năm tuổi đời, chẳng hạn như kiểu bánh ngọt Saint-Honoré, từng được ông Chiboust tạo ra ở Paris vào năm 1840. Cửa hàng của ông nằm trên đường Saint-Honoré, cho nên ông lấy tên này để đặt cho bánh ngọt của mình. Saint-Honoré cũng là vị thánh phù hộ cho nghề làm bánh, nói chung. Về phần Philippe Conticici, ông cho biết vì sao ông đã chọn làm lại kiểu bánh này ?
Philippe Conticini : Đây là một câu hỏi quan trọng vì nó phản ánh phần lớn sự nghiệp đời tôi. Trên thực tế, từ khi mới vào nghề, tội luôn thử nghiệm tìm tòi và có lẽ cũng vì thế, giới chuyên ngành thường xếp tôi vào thế hệ « tiên phong » thích khám phá những cách làm mới. Tôi thành danh vào năm 1995 (32 tuổi) trong làng ẩm thực quốc tế nhờ tạo ra các món ăn trong verrines, tức là hội tụ tất cả các thành phần món ăn trong một chiếc ly nhỏ (verrines), món ăn được trình bày theo nhiều lớp xếp chồng lên nhau, theo chiều dọc. Thực khách chỉ cần nhúng thìa vào ly, trộn đều mọi thành phần trước khi thưởng thức món ăn.
Cách trình bày món ăn trong ly nhỏ verrine sau đó trở nên phổ biến ở khắp nơi, được nhiều đầu bếp sử dụng để giới thiệu các quầy thức ăn theo kiểu buffet. Tôi hãnh diện khi đã tạo ra món này, rồi sau đó tôi quyết định gạt món này sang một bên, có lẽ cũng vì tôi không muốn thấy tên tuổi của mình chỉ được gắn liền với chữ verrine. Mãi đến năm 45 tuổi, tôi cảm thấy đã đến lúc tôi chuyển hẳn sang nghề làm bánh ngọt. Vào thời ấy, tôi nghĩ rằng tại sao không thử làm lại những kiểu bánh ngọt kinh điển, nhất là khi một số công thức đang chìm vào quên lãng. Có thể nói là bước ngoặt quan trọng đối với tôi là vào năm 2008.
Trong số các kiểu bánh tái tạo nổi tiếng của Philippe Conticini, có loại bánh nhân hạt dẻ Paris-Brest, vậy thì giai thoại đằng sau kiểu bánh này là gì và vì sao Paris-Brest lại có nhiều sức quyến rũ đến như vậy ? Nhà làm bánh người Pháp cho biết :
Philippe Conticini : Tôi rất mê bánh Paris-Brest trước hết vì bánh này có praliné, một loại bột nhuyễn mềm, sánh mịn làm với hạt dẻ và hạnh nhân. Loại nhân praliné ngon tuyệt vời đối với một người hảo ngọt như tôi. Ngoài ra tôi cũng thích câu chuyện của Paris-Brest : Giai thoại kể rằng ban tổ chức vòng đua xe đạp từ Paris đến Brest đã yêu cầu một nhà làm bánh (ông Louis Durand) tạo ra một kiểu bánh mới để tặng cho người về đầu vòng đua. Nhà làm bánh đã có sáng kiến làm một kiểu bánh tròn giống như bánh xe đạp, ở giữa có khoét lỗ giống như đùm bánh xe và trong thân bánh có nhồi kem hạt dẻ thật mịn. Khi tái tạo kiểu bánh này, tôi vẫn trung thành với công thức thời xưa nhưng đồng thời cố gắng làm sao cho chiếc bánh ngọt càng thêm thơm và nhẹ. Tôi đã đưa thêm nhiều không khí vào trong cách đánh bột và làm kem, như thế giảm bớt lượng bơ và đường trong công thức làm bánh Paris-Brest. Nhờ vậy, hương bánh vẫn thơm phức mà vẫn không quá ngọt hay quá béo.
Đâu là những loại bánh ngọt của Pháp được bán chạy trên thế giới từ trước tới nay ? Ông Philippe Conticini cho biết :
Philippe Conticini : Người ta thường hay nhắc đến loại bánh su phồng nhồi kem, ngoài ra còn có bánh Saint-Honoré, các loại bánh tart trái cây hay bánh kem chanh phủ một lớp bánh men (meringue). Tất nhiên, các loại bánh macaron hay kiểu bánh chocolat đều thịnh hành không kém. Tuy vậy, có một số loại bánh kinh điển cũng đang dần biến mất. Chẳng hạn như kiểu bánh Moka : đây là một loại bánh cà phê rất nổi tiếng vào đầu thế kỷ XIX trong ngành làm bánh ngọt Pháp, được xem là do bậc thầy Antonin Carême sáng chế vào những năm 1810. Bánh Moka được làm với bánh bông lan hoặc bánh quy mềm, ngâm trong sirô cà phê. Tiền thân của Moka là bánh quillet gồm hai lớp bánh bông lan (génoise) kẹp ở giữa một lớp kem bơ cà phê đánh cho thật nhuyễn, màu sắc mịn màng. Thợ làm bánh có thể làm theo hàng ngàn cách khác nhau, nhưng Moka phải luôn luôn có kem bơ hương cà phê. Tôi đã làm lại loại bánh này vào năm 2009, với một kiểu bánh thon tròn có hình dạng giống như hạt cà phê. Thật không may, loại bánh Moka này không bán chạy bằng các kiểu bánh sô cô la hay bánh su nhân vani cho nên tôi đã ngưng làm các kiểu bánh hương cà phê.
Từ khắp nơi trên thế giới, nhiều người tìm đến Paris để học các kỹ thuật làm bánh ngọt của Pháp. Theo ông Philippe Conticini, những thợ làm bánh này sau đó thích nghi cách chế biến của họ theo khẩu vị của thành phần thực khách, theo từng vùng miền hay địa phương.
Philippe Conticini : Vâng, nước Pháp thực sự nổi tiếng nhờ truyền thống làm bánh ngọt. Trong mọi trường hợp, Pháp đã sáng chế nhiều kỹ thuật cho ngành này. Và giờ đây, mọi người đến từ khắp nơi trên thế giới để học kỹ thuật này, cho dù từ Nhật Bản, Brazil, Hoa Kỳ hay Úc. Sau đó, họ trở về quê nhà để truyền lại kỹ thuật này, những cách làm bánh mà họ đã từng học. Sau đó, đến phiên họ truyền đạt và đào tạo các bếp phó cũng như những tay thợ làm bánh ngọt, những người mà sau này sẽ trở thành bếp chính khi đã vững tay nghề. Dù ở đâu đi chăng nữa, những nhà làm bánh ngọt này sẽ thích nghi cách làm bánh theo văn hóa cũng như khẩu vị của từng vùng miền qua việc dùng các loại trái cây, hương thơm hay gia vị. Quá trình thích nghi này chắc chắn sẽ khiến họ nghĩ ra những kỹ thuật khác, những cách làm mới.
Chẳng hạn như ở Nhật Bản, ta có thể thấy rõ rnghề làm bánh ngọt đang phát triển mạnh, nhiều kỹ thuật hiện đại đang được sử dụng để phục vụ cho nghề làm bánh ngọt nói riêng, nghề nấu ăn nói chung. Trong thời gian làm việc ở Nhật, tôi đã có dịp thưởng thức loại bánh cuộn làm với đậu đỏ azuki của Nhật Bản. Món tráng miệng này là một trong những món ngọt tuyệt vời nhất mà tôi đã từng ăn. Có lẽ cùng vì người Âu Mỹ có một quan niệm rất khác về đậu đỏ, trong khi người Nhật lại chế biến món này một cách rất thơm ngon nhẹ nhàng, thay đổi hẳn cách nhìn cũng như lối tiếp cận thức ăn, trái với những gì mọi người thường nói. Nếu điều đó làm được ở Nhật Bản, thì cũng có thể thích nghi với các quốc gia khác. Trong những chuyến đi du lịch, tôi thấy rằng nghề làm bánh ngọt ở nhiều nơi mang nhiều ảnh hưởng của Pháp, vừa mang tính kỹ thuật vừa có nhiều nét quyến rũ kỳ lạ. Một khi đã nắm vững những kỹ thuật làm bánh cơ bản, nhà làm bánh ngọt sau đó có thể thỏa sức biến tấu sáng tạo với vô số hương vị, kể Theo tôi, điều đó vẫn hợp với việc tái thể hiện những kiểu bánh "kinh điển".
Vào đầu tháng 10/2025, phóng viên nhiếp ảnh Antoni Lallican đã thiệt mạng tại vùng Donbass, miền đông Ukraina, do bị một drone của Nga tấn công. Đây là nhà báo Pháp đầu tiên bị chết ở Ukraina trong một cuộc tấn công rõ ràng là có chủ đích từ phía quân Nga. Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, từ nhiều năm qua, nữ phóng viên ảnh độc lập người Pháp Gaelle Girbes vẫn sát cánh với người dân Ukraina.
Tại triển lãm ảnh báo chí quốc tế Visa pour l’image 2025 ở thành phố Perpignan miền nam nước Pháp tháng 9/2025, Gaelle Girbes đã giới thiệu loạt ảnh chia sẻ cuộc sống thường nhật của những người không còn nơi nào để đi do nhà cửa đã bị bom đạn của quân Nga phá hủy.
Qua tập ảnh "Ukraina, Sống Sót Giữa Đống Đổ Nát", Gaelle Girbes đưa độc giả đến những thành phố như Vouhledar ở vùng Donetsk, miền đông Ukraina, đã rơi vào tay quân Nga đầu tháng 10/2024, sau ba năm giao tranh ác liệt và bị phá hủy hoàn toàn. Trong những năm tháng trước đó, giữa cảnh hoang tàn, người dân Vouhledar vẫn cố gắn trồng rau, nuôi gà để ăn.
Cũng ở vùng Donetsk, ngôi làng Borododychne đã không biết bao nhiêu lần bị quân Nga đánh chiếm rồi lại được quân Ukraina giành lại. Từ 556 dân trước khi bị Nga chiếm, nay chỉ còn 35 người dân sống tại ngôi làng giờ chỉ toàn là những đống gạch vụn. Nhân dịp tham gia triển lãm tại Perpignan, Gaelle Girbes đã dành cho RFI Việt ngữ bài phỏng vấn sau đây:
Xin chào Gaelle Girbes, cô đã đến Ukraina từ năm 2017. Vì sao cô đã quyết định ở lại Ukraina, ngay cả sau khi Nga phát động cuộc chiến tranh xâm lược tháng 02/2022, bất chấp những nguy hiểm?
Khi đến Ukraina lần đầu tiên, tôi đã rất xúc động trước tình hình tại đây. Ở tiền tuyến, cảnh tượng đầu tiên tôi chứng kiến là năm quả đạn cối rơi trúng một ngôi nhà của những người hưu trí và những người lớn tuổi này phải một mình chiến đấu với ngọn lửa, đối mặt với thảm họa. Ở tuổi 72, dập tắt ngọn lửa đang phá hủy ngôi nhà dĩ nhiên không hề dễ dàng.
Cảnh tượng đó đã thật sự ảnh hưởng đến tôi và tôi nhận ra rằng không có ai ở đó để tường thuật. Ở châu Âu, người ta cho rằng đây chỉ là một cuộc chiến đang “đóng băng”, nhưng thực tế không phải vậy. Cuộc chiến này đúng là có cường độ thấp so với ngày nay, nhưng đó là tiền đề cho một điều gì đó thậm chí còn tồi tệ và trầm trọng hơn, sẽ ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Và tôi cũng vô cùng cảm kích trước tinh thần của người dân Ukraina, mà tôi thấy là rất dũng cảm. Họ là những người bảo vệ những giá trị mà chúng ta rất trân trọng, như tự do.
Công việc của tôi là ghi nhận những tội ác và bất công của chiến tranh. Vì vậy, ngay từ khi quân đội Nga quyết định chính thức xâm lược Ukraina tháng 2/2022, tôi nghĩ đây là lúc mình phải ở lại và tiếp tục công việc của mình, chứ không được bỏ cuộc.
Như vậy là trong suốt những năm qua, cô đã chứng kiến sự phá hủy các thị trấn và làng mạc ở Ukraina. Người dân đã đối phó như thế nào trong suốt thời gian đó?
Trên thực tế, người dân Ukraina, trước khi có cuộc cách mạng Maidan năm 2014, đã từng làm cuộc Cách mạng Cam và thậm chí trước đó nữa, họ chưa bao giờ ngừng kháng cự và chiến đấu cho độc lập và tự do của mình. Khi đến đó, tôi đã ghi lại những diễn biến trên tiền tuyến ở vùng Donbass từ năm 2017 đến năm 2022. Vào năm 2022, khi cuộc xâm lược quy mô lớn của Nga bắt đầu, tôi đã tiếp tục ở bên cạnh những người dân mà tôi yêu thương, mà tôi đặc biệt trân trọng. Họ trải qua cuộc chiến đó với sức chịu đựng tuyệt vời và cũng bởi vì họ hoàn toàn nhận thức được rằng đó là một cuộc chiến sẽ không bao giờ kết thúc. Tôi hy vọng nó sẽ kết thúc, ngay bây giờ, nhưng sẽ cực kỳ khó.
Họ đều tuyệt vọng, hay họ vẫn còn hy vọng rằng một ngày nào đó chiến tranh sẽ kết thúc?
Về mặt tinh thần, người dân Ukraina có tuyệt vọng không? Không. Có mệt mỏi không ? Có, cực kỳ mệt mỏi, bởi vì với những cuộc ném bom dữ dội, không ai có thể ngủ được và ai cũng sợ, mối nguy hiểm luôn hiện hữu. Ai cũng có thể mất đi những người thân yêu, bạn bè của mình. Đó là một gánh nặng tâm lý rất, rất nặng nề. Tuy vậy họ vẫn tin là dù chuyện gì xảy ra, mọi thứ sẽ ổn thôi.
Nhưng ở những thị trấn hay làng mạc liên tục bị quân Nga oanh kích, hầu hết đã rời đi, còn những người ở lại phải chăng là do họ không tìm được cách nào để đi nơi khác, hay là vì họ đã quyết định ở lại?
Tại những ngôi làng và thị trấn ở tiền tuyến bị ném bom, tàn phá, cướp bóc, thành thật mà nói, rất khó mà sống sót được. Đối mặt với nguy hiểm, một bộ phận dân cư phải sơ tán, hoặc tìm nơi trú ẩn ở gia đình thân thiết, sống ở nơi khác, hoặc đến các trung tâm tiếp nhận mà số chỗ thực sự rất, rất hạn chế, không còn chỗ trống, và họ không được phép ở lại lâu. Đó là một cuộc sống lang thang, như những người vô gia cư. Nếu có nhiều tiền hơn, có thu nhập cao hơn và nói được một ngôn ngữ nước ngoài, họ có thể đến Châu Âu và những nơi khác để xin quy chế tị nạn, nhưng chỉ có một số người thôi.
Sống tại những khu vực như thế, trên mặt trận, chủ yếu là những người có thu nhập thấp, những người về hưu, họ ở lại đó do thiếu phương tiện và cũng vì họ nói rằng: “ Đây là đất của tôi, tôi sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, xây dựng mọi thứ ở đây, đó là cái giá của cả cuộc đời tôi đang phải trả, vì vậy tôi sẽ ở lại. Đây là đất của tôi và tôi sẽ không giao nó cho lính Nga."
Chủ đề loạt ảnh của cô là “Sống sót giữa đống đổ nát”. Làm thế nào họ đã có thể sống sót trong suốt những năm qua?
Như ông có thể thấy trong các bức ảnh, trên thực tế, đó là một cách sống hoàn toàn mới: đang có máy giặt, internet, ngân hàng, bưu điện, siêu thị, thế mà hôm sau thức dậy bỗng dưng không còn nước, không còn khí đốt, không còn điện, không còn ngân hàng, không còn siêu thị, không còn máy giặt, không còn gì cả. Nên họ phải học lại cách sưởi ấm nhà bằng củi, hay lọc nước ở bất cứ nơi nào bạn tìm thấy. Nếu có thể thì tìm ra cách sử dụng các tấm pin Mặt trời mini, ít nhất là có điện để thắp sáng. Không còn điện thoại, không còn internet nữa, họ đột nhiên giống như trở về thời Trung Cổ. Họ phải tự tổ chức lại cuộc sống bản thân, bắt đầu trồng rau, tạo dựng một lối sống mới để tồn tại.
Vậy là cô đã quyết định ở lại suốt những năm qua để chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh. Nhưng công việc của cô có thực sự nguy hiểm không? Có nguy cơ cô bị bắt giam giữ hoặc thậm chí bị giết không?
Điều đó phụ thuộc vào chủ đề tôi đề cập đến. Tôi quyết định ở lại Ukraina để tường thuật những gì đang xảy ra ở đó, cả những tội ác do binh lính Nga và chính phủ Nga gây ra trên lãnh thổ Ukraina. Và cũng để chứng kiến tác động lên từng cá nhân. Nói cách khác, ở đây có những chủ thể sống sót giữa đống đổ nát. Đột nhiên mất tất cả, làm thế nào họ có thể sống sót giữa cảnh đó? Làm thế nào họ có thể xây dựng lại bản thân khi biết rằng điều đó gần như là không thể.
Tôi còn những chủ đề khác mà tôi đang làm việc trong dài hạn, có thể là về những người bị cắt cụt chân tay, hoặc những chủ đề khác mà tôi không thể nói đến ở đây nhưng sẽ sớm được đề cập đến.
Nhưng nhìn chung, tùy thuộc vào chủ đề, có những chủ đề cực kỳ nguy hiểm, vì đó là những nơi bị bắn phá dữ dội, như trong loạt ảnh này đó là hai ngôi làng nơi mà không khéo là có thể giẫm phải mìn, nhưng nếu cẩn thận thì không sao. Ở hai ngôi làng khác, tôi đã phải làm việc dưới hỏa lực dữ dội.
Cũng có những drone của Nga săn lùng bất cứ ai dù là nhà báo, thường dân hay binh lính. Khi biết có một nhà báo, họ càng cố truy sát. Tuy nhiên, lần thứ hai tôi đến đó, máy bay phản lực của Nga đang hoạt động, và tôi phải quay trở lại dưới những quả bom nặng từ 250 đến 500 kg. Vô cùng khó khăn, đặc biệt phức tạp. Mỗi lần tôi phải quay trở lại vào ban đêm để hạn chế nguy hiểm.
Việc những bức ảnh của cô được triển lãm ở Perpignan, cô có hy vọng những ảnh đó sẽ có tác động nhất định đến dư luận ở Pháp hay châu Âu, tác động đến diễn biến của cuộc chiến?
Hy vọng của tôi ở đây, trên hết, cũng là hy vọng của những người có mặt trong những bức ảnh này, những người biết đến triển lãm này. Họ đã thấy những bức ảnh, họ gửi tin nhắn cho tôi mỗi ngày.
Đó là điều họ muốn: những gì đang xảy ra với họ, những gì người Nga đã làm với họ phải được biết đến, chứ không phải bị bịt miệng, vì đó là một phần lịch sử của họ. Đó cũng là về những vết thương, nỗi đau khổ của họ. Và điều quan trọng vẫn là phải cho thấy Ukraina thực sự là một quốc gia rộng lớn, lớn hơn cả nước Pháp, và 30% lãnh thổ hiện đang bị tàn phá, tương đương với diện tích của vương quốc Bỉ, ảnh hưởng đến hơn 5 triệu người. Năm nay, Nga đã chiếm hơn 460 km vuông lãnh thổ, mà họ đã tàn phá mọi thứ. Bao nhiêu ngàn sinh mạng con người đã bị mất? Họ sẽ tái thiết như thế nào? Chúng ta có thể tiếp tục để điều này xảy ra không? Tất cả đều là những câu hỏi chưa có lời giải đáp.
The Stringer : The man who took the photo là một cuộc điều tra. Phóng viên ảnh người Mỹ Gary Knight là nhân vật trung tâm. Tất cả bắt nguồn từ một tuyên bố của Carl Robinson, nguyên là nhân viên của hãng thông tấn Agence Press ở Sàigon năm 1972. Nick Ut hay Nguyễn Thành Nghệ là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm ?
« Vài lời về một trong những tấm ảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử của các phóng viên chiến trường từ 50 năm qua. Đó là hình ảnh một bé gái bị phỏng nặng chạy thoát sau một trận dội bom … Tác giả bức ảnh được cho là Nick Ut, phóng viên ảnh của hãng thông tấn Mỹ AP… Nhưng nếu như người chụp tấm Em Bé Napalm lại không phải là ông ấy thì sao ? »
Nhà báo người Pháp Nicolas Poincaré hôm 11/10/2025 đã giới thiệu về phim tài liệu The Stringer, hành trình đi tìm sự thật về tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Phim được được trình chiếu trong khuôn khổ chương trình tuần lễ thành phố Bayeux vùng Calvados-Normandie vinh danh các phóng viên chiến trường. Ở Pháp, phim được trình chiếu trên nền tảng phim trực tuyến Netflix từ ngày 28/11/2025.
Tất cả bắt nguồn từ một phát biểu của Carl Robinson, cựu nhân viên của hãng thông tấn Agence Press ở Sài Gòn năm 1972 với Gary Knight. Nick Ut hay Nguyễn Thành Nghệ là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm ?
Trong cuộc điều tra về tác giả bức ảnh còn được biết đến dưới tên gọi The Terror of War Gary Kngiht đã tìm đến rất nhiều người, tìm kiếm những ai từng có mặt ở Trảng Bàng, ngày 08/06/1972. Hai người vắng mặt trong phim là Em bé Napalm bà Phan Thị Kim Phúc và phóng viên ảnh, Nick Ut.
Trong đoạn phim tài liệu năm 1972, một phóng viên người Mỹ nhận định « Sau hai lượt bay, rõ ràng là các máy bay ném bom Skyraiders đã chọn nhầm mục tiêu … và trong đợt bay thứ ba, họ thả 4 quả bom napalm, trúng vào thường dân và các quân nhân ở Trảng Bàng ».
Trước ống kính truyền hình và báo chí quốc tế, bất chợt, một cô bé 9 tuổi, trần truồng, bị bỏng nặng, cùng nhiều đứa trẻ từ ngôi làng này hoảng loạn chạy ra quốc lộ : Vừa chạy vừa la khóc, đau đớn, hoảng loạn.
Bức ảnh Em Bé Napalm ngày 08/06/1972 trở thành biểu tượng của « địa ngục chiến tranh Việt Nam », đi vòng quanh thế giới, được bình chọn là « hình ảnh trong năm » và đoạt giải thưởng Pulitzer. Gần nửa thế kỷ, phóng viên ảnh Nick Ut được cho là người đã ghi được khoảnh khắc nói lên sự ghê rợn của chiến tranh.
Trong những thước phim đã bạc màu thời gian, Nick Út từng thuật lại với báo chí quốc tế là ông đã trông thấy Kim Phúc chạy ra khỏi ngôi làng vừa bị dội bom như thế nào và đã đưa cô đến bệnh viện.
Thế nhưng, The Stringer ra mắt công chúng lần đầu tiên trong khuôn khổ liên hoan Sundance hồi tháng 1/2025 đã nêu lên một câu hỏi bất ngờ.
Đạo diễn Bảo Nguyễn đã sớm được nhà sản xuất và đoàn phim mời cùng đồng hành trong cuộc điều tra về tác giả bức ảnh nổi tiếng nói trên.
Trả lời RFI Việt ngữ trước khi The Stringer được công chiếu tại Bayeux tháng 10/2025 đạo diễn Bảo Nguyễn giải thích vì sao anh đã nhận lời với phóng viên ảnh Gary Knight và đoàn phim : Với anh, theo đuổi và tìm kiếm sự thật phải là một ưu tiên.
Bảo Nguyễn : Bộ phim bắt đầu bằng cuộc điều tra với phóng viên ảnh Gary Knight và đã được dựng lên cùng với Terri Lichstein và Fionna Turner. Điểm khởi đầu là một thư điện tử của Carl Robinson, cựu biên tập ảnh của hãng tin AP tại văn phòng Sài Gòn. Ông ấy đã thú nhận với Gary Knight và thế là nhóm làm phim bắt đầu mở cuộc điều tra. Họ đã liên hệ với tôi khá sớm vì tôi là một nhà làm phim tài liệu. Cá nhân tôi cũng đang cân nhắc liệu mình có muốn thực hiện bộ phim này hay không, bởi như chị nói, bức ảnh Em Bé Napalm là cả một biểu tượng .. Tuy nhiên tôi nghĩ, với tư cách một người tiếp nhận báo chí – tôi không phải nhà báo, tôi là một nhà làm phim – ngành báo chí thôi thúc chúng ta luôn nêu lên những nghi vấn và luôn đi tìm sự thật. Khi chưa biết cuộc điều tra sẽ dẫn đến đâu, tôi nghĩ điều quan trọng đối với chúng tôi, đặc biệt là với tôi, là ghi lại quá trình điều tra, khám phá mọi góc nhìn khác nhau của ngày hôm đó -ngày mà tác giả đã chụp được bức ảnh Em Bé Napalm ở Trảng Bàng và tìm hiểu xem rằng, ai có thể đã chụp bức ảnh đó nếu như tác giả không phải là Nick Ut.
RFI : Từ chiến dịch Tràng Bàng đến nay đã hơn 50 năm trôi qua. Trong quá trình làm phim anh và đoàn phim đã phải vượt qua những khó khăn nào ? Làm sao tìm lại được các nhân chứng từng có mặt ở ngôi làng này ngày 08/06/1972 ?
Bảo Nguyễn : Vâng, tôi nghĩ một trong những thách thức lớn là bức ảnh được chụp đã hơn 50 năm trước. Rất nhiều nhân chứng trên hiện trường ngày hôm đó nay không còn nữa. Nhiều lần tôi cũng tự hỏi vì sao vấn đề lại được đặt ra sau 50 năm. Vì sao Carl Robinson lại lên tiếng? Vì sao phóng viên tự do Nguyễn Thành Nghệ chưa bao giờ công khai tiết lộ điều này ? Có rất nhiều câu hỏi mà tôi phải tự tìm hiểu và giải đáp trước khi chúng tôi thật sự bắt đầu hành trình làm phim. Trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu này, tôi dần hiểu rằng, giống như nhiều người tị nạn phải rời bỏ quê hương, họ không có điều kiện hay không hoàn toàn có quyền tự định đoạt để nói về những quá khứ, bởi vì mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kế sinh nhai, bảo đảm cuộc sống trong một môi trường mới. Trước hết họ phải chăm lo cho gia đình, cho nên họ không nói về quá khứ nữa.
Và bây giờ, trong quá trình làm phim, tôi hiểu rằng đó là một trong những lý do ông Nghệ đã không thể lên tiếng, cũng như một người đảm trách phầm âm thanh cho đài NBC hôm đó, trước công chúng, ông này cũng chưa bao giờ kể về những gì đã diễn ra ở Trảng Bàng hôm 08/06/1972. Giờ đây mọi người mới hỏi : Tại sao đến 53 năm sau mới lại đặt ra câu hỏi ai là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Khi đặt mình vào hoàn cảnh của ông Nghệ, bạn sẽ hiểu rằng họ cảm thấy là họ không có quyền hay không đủ tư cách để nói ra sự thật, nói ra những gì họ đã phải trải qua. Carl Robinson phóng viên của AP cũng vậy. Ông ta đã phải chăm sóc gia đình và không muốn mất việc. Nhìn dưới góc độ này, mọi người sẽ hiểu vì sao họ không lên tiếng.
Và dĩ nhiên, việc cố gắng khai mở một câu chuyện và sự thật đã xảy ra hơn 50 năm trước là điều rất khó. Nhưng tôi nghĩ đội ngũ nhà báo đã hoàn thành bổn phận của họ : theo đuổi sự thật và đặt ra những câu hỏi cần thiết.
Chúng tôi huy động được các nhà báo Việt Nam tại chỗ, và đây là những người đã đóng vai trò then chốt giúp chúng tôi tìm được những nhân chứng từng có mặt ở Trảng Bàng năm 1972. Là một nhà báo, chị có thể hiểu những khó khăn trong việc nghiên cứu và tìm kiếm nhân chứng. Tôi rất tôn trọng các nhà báo trong bộ phim và mức độ chuyên nghiệp của họ khi kết nối được với những người mà suốt 50 năm họ đã im lặng về chuyện ở Trảng Bàng. Các cộng tác viên ở Việt Nam đã gọi rất nhiều cuộc điện thoại, hỏi han mọi người, gõ cửa từng nhà. Theo nhiều cách, đó là lời tri ân đối với tinh thần báo chí đúng theo nghĩa của nó.
RFI : The Stringer ra mắt công chúng lần đầu vào tháng 1/2025 ở liên hoan phim Sundance. Công chúng đã đón nhân phim này như thế nào ?
Bảo Nguyễn : Chúng tôi rất vinh dự khi được trình chiếu phim tài liệu The Stringer trên khắp thế giới và như chị vừa nói, lần đầu ở Sundance, rồi tháng 10/2025 là tại thị trấn Bayeux. Sau đó là trên nền tảng truyền hình Netflix. Tại liên hoan phim Sundance, nhiều người đến gặp tôi và nói lời cảm ơn. Rất nhiều người nói rằng họ cảm ơn vì đã kể câu chuyện của ông Nghệ – một câu chuyện chưa bao giờ được nói ra suốt nhiều năm. Khán giả cũng đã cảm ơn vì chúng tôi đã dám mạo hiểm theo đuổi sự thật. Tại Bayeux sự kiện dành để vinh danh các phóng viên chiến trường, chị sẽ có dịp trao đổi với Gary Knight và Fiona Turner, nhưng tôi đã nghe rất nhiều người bày tỏ ngưỡng mộ, cho rằng cả hai đã thật dũng cảm khi thực hiện bộ phim này.
RFI : Sau The Stringer dự án kế tiếp của đạo diễn Bảo Nguyễn là gì ?
Bảo Nguyễn : Vâng, cảm ơn chị đã hỏi. Bộ phim tiếp theo của tôi rất khác với The Stringer. Tôi đang chuẩn bị làm phim về Jimi Hendrix, nghệ sĩ guitar rock huyền thoại. Phim này sẽ tập trung vào một giai đoạn cụ thể trong cuộc đời của ông khi sống ở Luân Đôn, vào thời điểm đầu sự nghiệp. Đương nhiên, thế giới của Hendrix hoàn toàn khác với The Stringer, nhưng tôi cảm thấy mình thật sự may mắn khi có thể kể lại những câu chuyện như vậy.
RFI : Thành thật cảm ơn Bảo Nguyễn dành cho RFI tiếng Việt buổi nói chuyện hôm nay. Chương trình được thu âm trước khi phim ra mắt khán giả tại Pháp.
Về phần nhiếp ảnh gia Nick Ut, trả lời nhà báo Thanh Phương nhân dịp được mời đến dự liên hoan ảnh Visa de l’Image tại thành phố Perpignan, miền nam nước Pháp hồi mùa hè vừa qua, ông cho biết đã xem phim The Stringer và khẳng định lại ông là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm.
Bất luận ai mới là tác giả thực thụ của Em Bé Napalm, một trong những bức ảnh nổi tiếng nhất về chiến tranh trên thế giới của thế kỷ 20, phim The Stringer trước hết là một cuộc điều tra nghiêm túc : Gary Knight và đoàn phim đã không quản công tìm kiếm các nhân chứng, họ còn huy động cả những đội ngũ chuyên gia từ Mỹ, từ Luân Đôn hay Paris …. để đi tìm sự thật… Trong thời đại mà sự thật thường bị bóp méo, chỉ riêng nỗ lực này cũng đủ mang lại giá trị cho bộ phim tài liệu nói về một phóng viên ảnh tự do : The Stringer.
Nhắc đến Dan Hill, giới yêu nhạc nghĩ tới ngay một ca sĩ kiêm tác giả người Canada. Ông có nhiều bản nhạc pop ăn khách trên thị trường quốc tế trong những năm 1970 và 1990, nổi tiếng nhất vẫn là nhạc phẩm « Sometimes when we touch ». Trong tiếng Việt, bài hát này theo cách đặt lời và diễn đạt của nghệ sĩ Huy M.C là Tình quyến luyến không rời, còn theo tác giả Lan Anh do ca sĩ Lưu Bích trình bày là Vòng tay ấm cho người.
Sinh năm 1954 ở Toronto, Canada, Danqua Hill lớn lên trong một gia đình công chức. Ông bộc lộ năng khiếu âm nhạc từ khi còn nhỏ, sau khi được bố mẹ tặng cây đàn ghi ta đầu tiên nhân sinh nhật mười tuổi. Khi còn học trung học, ông bắt đầu đi hát tại các quán cà phê. Trước khi đậu bằng tú tài, ông đã thu âm một băng nhạc demo với sự hỗ trợ của người bạn thời thơ ấu là Matt McCauley, sau này cũng trở thành một nhà soạn nhạc nổi tiếng tại Canada.
Đầu những năm 1970, Dan Hill ký hợp đồng thu thanh với một hãng đĩa độc lập của Canada (GRT Records). Vài năm sau đó, Dan Hill phát hành album đầu tiên cũng với đĩa đơn ăn khách (You make me want to be) trên thi trường Canada. Năm 1977, Dan Hill lúc ấy mới 23 tuổi, sáng tác và thu âm bản ballad « Sometimes when we touch » với sự hỗ trợ của nhà soạn nhạc Barry Mann, đã giúp anh hoàn tất album phòng thu thứ nhì "Longer Fuse". Đây là bản nhạc ăn khách nhất của Dan Hill, đạt hạng 3 trên danh sách Billboard của Mỹ và hahng nhất trên bảng xếp hạng thị trường Canada. Tina Turner từng ghi âm lại bài này vào năm 1978 trên album « Rough » của mình.
Có lúc, Dan Hill xem thành công quá lớn của bài hát này như một « rào cản », che khuất các sáng tác khác trong sự nghiệp của mình. Bất kể ông có thu bản nhạc nào, thì bài hát mới cũng bị so sánh với giai điệu « Sometimes when we touch ». Nhiều năm sau đó, ông mới nhận ra rằng chính nhạc phẩm này đã mở cho ông nhiều cánh cửa của ngành công nghiệp giải trí và giúp ông trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng.
Mặc dù ông có nhiều bản nhạc ăn khách tại quê nhà Canada, nhưng các đĩa đơn tiếp theo lại không mấy thành công tại Hoa Kỳ. Mãi đến hơn một thập niên sau thành công đầu tiên, Dan Hill mới xuất hiện trở lại trên bảng xếp hạng Billboard vào năm 1987 với nhạc phẩm « Can't we try », một bản song ca với Vonda Shepard, mở đường cho Dan Hill thành công với 5 bản nhạc khác lọt vào Top Ten thị trường Hoa Kỳ, đầu những năm 1990.
Chính trong giai đoạn này, Dan Hill mới có cơ hội hợp tác với Céline Dion qua việc trình bày hai bản song ca là « Can't we try » (hát live 1987) và « Wishful thinking » (1989) viết cho album tiếng Anh « Unison » của Céline Dion, nhưng rốt cuộc bài hát lại không được tuyển vào danh sách cuối cùng trên album này.
Một trong những ca khúc ăn khách khác của ông là « Seduces me » mà ông đã viết cho Céline trên album « Falling Into You ». Nhờ thành công vượt trội của album tiếng Anh thứ tư của Céline Dion với hơn 32 triệu bản được bán trên thế giới, Dan Hill được trao giải Grammy năm 1996 với tư cách nhà đồng sản xuất album cho Céline Dion.
Ngoài giải Grammy này, ông còn nhận được sau này nhiều giải thưởng danh giá khác, trong đó có 5 giải Juno của Canada. Trong suốt những năm 1990, Dan Hill ít còn thu thanh các bài hát của mình mà chủ yếu tập trung vào việc sáng tác cho một số ca sĩ nổi tiếng thời bấy giờ như Britney Spears, Backstreet Boys, George Benson hay Reba McEntire .....
Album phòng thu gần đây nhất của ông là « On the Other Side of Here » được phát hành vào năm 2021, hầu như vào cùng thời điểm ông được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng các tác giả và nhà soạn nhạc Canada.
Cũng như nhiều đồng nghiệp là Bruce Cockburn và Murray McLauchlan, Dan Hill thuộc vào hàng tác giả của Canada trưởng thành vào giữa những năm 1970, những người ban đầu chủ yếu đi hát trong các quán cà phê nhỏ, các tụ điểm văn nghệ « bỏ túi », nhưng nhờ vào tài năng sáng tác và diễn đạt, Dan Hill đã vươn lên thành một trong những ngôi sao sáng giá trên vòm trời âm nhạc.
From the publisher's feed
Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners