
Sign up to save your podcasts
Or


Trong làng truyện tranh tiếng Pháp, không phải chỉ có phóng viên Tintin mới đi khắp tứ phương, anh hùng Astérix cũng từng chu du bốn bể. Trong hơn 40 tập truyện được phát hành từ năm 1961, Astérix từng đi vòng quanh xứ Gô loa (Pháp), ghé thăm Bỉ, Tây Ban Nha, các nước Bắc Âu, Hy Lạp, Thụy Sĩ, hay đế chế La Mã. Với tựa đề « Astérix en Lusitanie », tập truyện tranh vừa được phát hành cuối năm 2025, đưa độc giả theo chân nhân vật Astérix ghé thăm xứ Bồ Đào Nha.
Theo ghi nhận của tờ báo Ouest France, sau hai tuần lễ đầu tiên ra mắt bạn đọc, tập truyện « Astérix en Lusitanie » (Astérix tại Bồ Đào Nha) đã lập lỷ lục số bán với hơn một triệu bản, tức đã tăng 8% so với kỳ phát hành lần trước của tập truyện « L'Iris blanc » (Hoa diên vĩ trắng) cách đây hai năm. Đằng sau thành công của tập truyện thứ 41, có sự tham gia của họa sĩ Didier Conrad và nhà soạn kịch bản Fabrice Caro (ông viết toàn bộ lời thoại dưới bút danh FabCaro). Đây là lần thứ nhì, hai tác giả này hợp tác với nhau để tạo ra một quyển truyện tranh, được nhiều độc giả nhiệt tình đón nhận.
Đọc thêmL'Iris blanc : Tập truyện tranh mới của Astérix ra mắt độc giả
Trung thành với ý tưởng ban đầu của cặp bài trùng Uderzo và Goscinny, hai tác giả khai sinh nhân vật « anh hùng xứ Gô loa », nhóm sáng tác mới đã dí dỏm kể lại hành trình phiêu lưu tại Bồ Đào Nha của đôi bạn Astérix và Obélix cùng với chú chó dễ thương IdéFix (trong tiếng Anh được gọi là DogMatix). Tập truyện thứ 41 bắt đầu với nhân vật BoulQuiès gặp Astérix và Obélix để cầu cứu, xin họ mang « bầu thần dược » sang Lusitanie, một vùng đang bị đội quân La Mã chiếm đóng.
Nhiệm vụ lần này của hai anh hùng Gô loa là giúp đỡ nhà sản xuất nước tương garum tên là Mavubès, phải chăng do thị lực kém nên không trông rộng nhìn xa, ông bị kết án một cách oan uổng vì tội âm mưu đầu độc hoàng đế César. Trong chuyến đi biển nhiều ngày đến Bồ Đào Nha, Astérix đã nghe kể lại giai thoại về sự phản bội của gia tộc Pirespès, dòng họ mang tiếng xấu nhất lịch sử, khiến cho người dân vùng Lusitanie phải chịu đựng một nỗi buồn u uẩn (saudade) day dứt khôn nguôi, được cho là nguồn gốc của fado, làn điệu dân ca nỉ non ai oán của Bồ Đào Nha. Thực ra, cốt truyện hoàn toàn hư cấu này là cái khung để cho hai tác giả sáng chế ra hàng loạt màn khôi hài, khai thác sự hiểu lầm, tình huống ngược đời, chọc cười bằng cách chơi chữ.
Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, nhóm sáng tác FabCaro và Didier Conrad đã cho biết đôi nét về ý tưởng hình thành cũng như quá trình sáng tạo tập truyện thứ 41. Câu hỏi đầu tiên rất đơn giản là tại sao nhóm sáng tác đã chọn Bồ Đào Nha :
FabCaro : Từ trước tới nay, bộ truyện Astérix có truyền thống luân phiên hai thể loại : loại thứ nhất chuyên nói về nếp sống sinh hoạt của xứ Gô loa và loại thứ nhì thuật lại các chuyến du hành « xuất ngoại » của Astérix. Mặc dù không có gì bắt buộc nhóm sáng tác phải tuân theo, nhưng sau thành công của « Hoa diên vĩ trắng », chúng tôi nghĩ đã đến lúc đưa nhân vật chính đi thăm một chân trời mới. Về mặt cốt truyện, Bồ Đào Nha ở phía nam châu Âu không quá xa ngôi làng Gô loa ở vùng Bretagne. Chúng tôi đã trình bày ý tưởng này với nhà xuất bản Albert René và ban điều hành rất hứng thú vì ý tưởng này đã có từ lâu rồi, nhưng chưa có nhóm sáng tác nào bắt tay thực hiện. Mọi chuyện bắt đầu đơn giản như vậy. Chúng tôi lập ra danh sách của những nơi đã từng được vẽ thành truyện và lần này Bồ Đào Nha (Lusitanie) là nước thứ 15 được Astérix ghé thăm.
Đọc thêmBộ truyện tranh Astérix ra mắt phần tiền truyện Idéfix
« Astérix tại Bồ Đào Nha » là tập truyện thứ nhì của nhóm sáng tác Fabrice Caro và Didier Conrad. Đâu là những yếu tố « bất dịch » mà hai tác giả này buộc phải tuân thủ, để tránh đi ngược lại với ý tưởng ban đầu của hai nhà khai sinh là họa sĩ Albert Uderzo và nhà soạn kịch bản René Goscinny :
Didier Conrad : Đúng vậy, trong bộ truyện Astérix, có khá nhiều yếu tố « cố định » thường được lặp đi lặp lại từ tập này sang tập khác. Giới bạn đọc trước khi mua mỗi quyển truyện tranh, đều chờ đợi là họ sẽ tìm lại được những yếu tố quen thuộc này, chẳng hạn như « bầu thần dược » cho Astérix sức mạnh vô song, Obélix có tính ham ăn và luôn tìm củi để nướng thịt lợn rừng, đội quân La Mã dù hùng hậu cách mấy cũng bị đánh liểng xiểng tơi bời, thua trận thảm hại buồn cười… Vì vậy, khi khai thác những ý tưởng mới, chúng tôi phải tạo dấu gạch nối để tránh cho bạn đọc có cảm giác cốt truyện bị đứt đoạn, không còn liền mạch. Điều đó buộc nhóm sáng tác phải linh hoạt khi tìm cách chơi chữ, năng động sáng chế hoặc biến tấu xung quanh mô típ của những trò đùa, với mục đích chọc cười độc giả.
Truyện tranh Asterix thực sự một hiện tượng toàn cầu. Đây là bộ truyện tranh tiếng Pháp được phổ biến rộng rãi nhất trên thế giới : 400 triệu bản đã được bán ra kể từ khi ra mắt độc giả lần đầu tiên vào mùa thu năm 1961. Vậy thì điều gì có thể giải thích cho sự thành công lâu dài này, họa sĩ Didier Conrad nhận xét :
Didier Conrad : Giả thuyết của chúng tôi là, người Pháp thực sự có một hình ảnh khá mơ hồ về nguồn gốc có từ thời xa xưa của mình. Và trong mắt độc giả sự thành công của Astérix, đã lấp đầy những khoảng trống ấy. Hai nhà khai sinh ít dùng yếu tố lịch sử mà lại tận dụng tính khôi hài, để nói về dân tộc xứ Gô loa cũng như một số tập quán của người Pháp một cách dí dỏm, vui nhộn và có duyên. Đó chỉ là một giả thuyết, nhưng có thể giải thích vì sao nhân vật Astérix lại thu hút nhiều độc giả như vậy, ở bất cứ lứa tuổi nào
FabCaro : Truyền thống di sản dù sao cũng là một thứ gì đó khá trừu tượng. Nhưng dưới lớp vỏ bọc cổ xưa, chúng ta vẫn có thể nói về những khái niệm đương đại, phổ biến thời nay. Thực ra, mỗi tập truyện Astérix lại giống như một bức ảnh chụp nhanh, phản ánh xã hội vào lúc quyển truyện được phát hành. Chẳng hạn như trong tập thứ 41, dù câu chuyện diễn ra tại Bồ Đào Nha, nhưng một số nhân vật làng Gô loa, họ thường cảm thấy không được an tâm, nhất là khi đang có tranh luận về vấn đề cải cách chế độ lương hưu, dĩ nhiên đây là một cách ám chỉ về xã hội Pháp thời nay.
Vì đây là một tập truyện theo chủ đề du lịch xuất ngoại, cho nên hình ảnh của du khách Pháp ở nước ngoài khiến chúng tôi cảm thấy thích thú, để phác họa câu chuyện. Cho dù người Pháp được đi nghỉ mát tham quan, nhưng nhiều du khách vẫn thường mắc cái tật hay than van, lắm phàn nàn. Trong tập thứ 41, có một điều khiến chúng tôi luôn mắc cười đó là Obélix không phải là dân nghiền nghệ thuật ẩm thực của Bồ Đào Nha đâu nhé. Xứ này có nhiều món làm với bacalau, tức là món cá tuyết ngâm muối phơi khô, trong khi Obélix lại mê món thịt lụi, xiên lợn rừng.
Đọc thêmTruyện tranh: Ở tuổi 65, Astérix vẫn dí dỏm gây cười
Với tư cách của một tác giả, FabCaro và Didier Conrad giải thích về nhân vật họ ưa thích nhất trong bộ truyện Astérix và Obélix.
FabCaro : Tôi rất thích nhân vật Obélix. Bộ truyện thường xen kẽ những màn hài hước với những pha phiêu lưu. Theo truyền thống, các pha hành động phiêu lưu do Astérix đảm nhiệm, còn các màn hài hước thường thuộc về do Obélix do nhân vật này có một tâm hồn như trẻ thơ, và đó là một nguồn cảm hứng tuyệt vời đối với một tác giả như tôi.
Didier Conrad : Tôi thấy mình trong cả ba nhân vật tùy theo từng hoàn cảnh : Astérix, Obélix và trưởng lão Panoramix (tiếng Anh là Getafix) có lẽ là vì tuổi tác. Thời còn nhỏ, tôi cảm thấy mình gần giống với nhân vật Astérix, còn giờ đây lại gần hơn với nhân vật Panoramix, người đã sáng chế và nắm giữ bí quyết thần dược để giúp làng Gô loa kháng cứ lại đội quân hùng mạnh của hoàng đế La Mã.
Tập truyện thứ 41 được in 5 triệu bản trong lần phát hành đầu tiên, bằng 19 ngôn ngữ khác nhau và chắc hẳn sẽ được tái bản và in thêm trong trường hợp gặt hái được thành công như những lần trước. Riêng tại Bồ Đào Nha, đợt phát hành đầu tiên đã vượt mốc 100.000 bản, tức cao gấp đôi con số ấn bản thông thường, nhờ biết khai thác cùng một bí quyết : "một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ".
Ra đời 30 năm trước, Những cây cầu quận Madison (The Bridges of Madison County, 1995) để lại dấu ấn khó phai về chuyện tình ngắn ngủi giữa bà nội trợ Francesca và nhiếp ảnh gia Robert. Không gian phim quê mùa, tiết tấu chậm rãi nhưng bùng nổ cảm xúc nhờ màn hóa thân xuất sắc của minh tinh Meryl Streep và bàn tay đạo diễn Clint Eastwood.
Tóm tắt truyện phimBộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên (có tựa đề khác là Tình yêu giữa trắng và đen) của nhà văn Mỹ Robert James Waller phát hành năm 1992. Câu chuyện mở ra chuyện tình lãng mạn của Francesca, bà nội trợ Mỹ gốc Ý sống tại miền quê Iowa những năm 1960. Bà đem lòng yêu Robert, một nhiếp ảnh gia tạp chí danh tiếng National Geographic. Robert tình cờ ghé thăm khu vực để sáng tác ấn phẩm ảnh có những cây cầu gỗ mái che tại địa hạt Madison. Chuyện tình chỉ kéo dài bốn ngày nhưng ám ảnh Francesca suốt cả cuộc đời cho đến khi bà qua đời. Tiểu thuyết được coi là một trong những tác phẩm thành công nhất thế kỷ 20 ngang ngửa với Chuyện tình (Eric Segal, năm 1970) với sức tiêu thụ 50 triệu ấn bản toàn cầu. Giới phê bình nhận xét tiểu thuyết này lãng mạn hóa một chuyện tình có thực, tuy nhiên, nhân vật trong tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu.
Những lựa chọn then chốtHollywood không thể đứng yên trước sức hút nam châm của tiểu thuyết của Robert James nhằm chế biến thành tác phẩm màn bạc triệu đô. Đáng chú ý, Clint Eastwood đóng ba vai trò chủ đạo: nhà sản xuất, đạo diễn khiêm diễn viên chính cho bộ phim. Clint Eastwood gây bất ngờ nhất khi xoay mình sang thể loại phim không phải thế mạnh vốn có. Ông từng giành giải Oscar cho phim cao bồi Unforgiven (Không dung thứ) năm 1993.
Điểm mấu chốt thứ hai, biên kịch Richard LaGraveese cũng là người chắp bút kịch bản cho hàng loạt phim tình cảm ăn khách như The mirror has two faces (Chiếc gương hai mặt), P.S I love you (Tái bút anh yêu em), Paris, Je t’aime (Paris tôi yêu em).
Thứ ba, gương mặt “chọn mặt gửi vàng” chính là siêu sao Meryl Streep, từng đoạt 2 giải Oscar (tính tại thời điểm bộ phim ra mắt). Meryl không ngại bất cứ thử thách vai diễn khó khăn nào, cho dù vai diễn Francesca đòi hỏi sự giằng xé nội tâm dữ dội. Ngân sách phim rất khiêm tốn (chỉ 22 triệu đô), ba quyết định then chốt (đạo diễn, biên kịch, diễn viên chính) kèm theo tiếng vang của tiểu thuyết đã giúp nhà sản xuất gặt hái thành công thương mại 182 triệu đôla. Meryl Streep được đề cử Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.
Bí mật chôn vùi hơn ba thập kỷTiết tấu phim rất chậm rãi như hành trình khám phá cuốn hồi ký Francesca ngược thời gian. Mở màn ở thực tại những năm 1990, khi hai người con, Michael và Carolyn đoàn tụ ngôi nhà vùng nông thôn Iowa sau khi bà mẹ Francesca qua đời. Họ thực sự sốc khi biết rằng bà mẹ yêu cầu hỏa táng và rắc tro từ trên cây cầu gỗ Roseman, chứ không phải chôn cạnh người cha Richard quá cố của họ. Bí mật sáng tỏ khi họ khám phá chiếc hộp bí ẩn gồm sổ tay, ảnh chụp Francesca tại cây cầu gỗ và những lá thư của người đàn ông xa lạ có tên Robert Kincaid.
Sau đó, phim lội ngược dòng thời gian về năm 1965 với chuyện tình 4 ngày của Francesca với người đàn ông Robert khi cả chồng con đi vắng xa nhà. Cuốn hồi ký mô tả cuộc tình sâu đậm giữa Francesca và Robert, dường như họ muốn bỏ trốn cùng nhau. Một mặt, bà băn khoăn về mối quan hệ lâu dài giữa bà và Robert. Mặt khác, Francesca cảm thấy trách nhiệm với cuộc hôn nhân thiếu cảm xúc, hối tiếc nếu bỏ lại những đứa con vị thành niên và người chồng chung thủy. Sau khi Richard qua đời, Francesca tìm cách liên lạc với Robert nhưng chỉ biết ông không còn làm ở tạp chí National Geographic. Ba năm sau khi chồng bà mất, Robert cũng qua đời và để lại hết kỷ vật cho bà, tro của ông rải xuống sông trên cây cầu Roseman. Câu chuyện cảm động, đầy tính nhân văn, lay động trái tim Michael và Carolyn. Họ thực hiện đúng lời nguyện ước của bà mẹ trên cây cầu nảy nở tình yêu giữa Francesca và Robert.
Điểm nhấn cảm xúc và cao tràoĐạo diễn Clint Eastwood chọn phong cách cổ điển trong cách kể chuyện và kết thúc. Ông phơi bày được sự khác biệt giữa chồng Richard và người tình Robert chỉ nhờ không khí trên bàn ăn. Một người hầu như chỉ tập trung ăn và một người tìm cách trò chuyện với Francesca. Nhờ vậy, chuyện tình của họ trở nên sống động và thuyết phục nhờ diễn xuất tinh tế của Meryl Streep. Phổ diễn xuất của bà chuyển tải sắc nét của tâm trạng đang yêu và khoảnh khắc xao động gặp lại người tình Robert dưới cơn mưa. Ít người biết rằng Meryl Streep không phải lựa chọn đầu tiên cho vai này. Hai minh tinh người Pháp và Ý, Catherine Deneuve và Isabelle Rosellini từng đến thử vai, cũng được nhà sản xuất ưng ý. Tuy nhiên, Clint Eastwood kiên định mời bằng được Meryl Streep cho vai diễn linh hồn của bộ phim.
Tài năng của Meryl Streep không phụ niềm tin của đạo diễn. Ấn tượng nhất phim là trường đoạn Francesca ngồi trên xe trong cơn mưa ngắm Robert cố ý treo sợi dây chuyền bạc như lời cầu hôn. Cái tài của đạo diễn đẩy nhân vật vào sự lựa chọn khắc nghiệt nhất: Bỏ đi hay ở lại ? Đôi tay bà run rẩy muốn mở cửa xe bỏ trốn, nhưng cảm xúc trào dâng khiến bà bật khóc. Lý trí và cảm xúc trong Francesca đạt tới điểm bùng nổ dữ dội. Quyết định ở lại cùng chồng con không phải lựa chọn dễ dàng nhưng đầy tính nhân văn. Bà chọn cái chết hỏa táng và rắc tro cùng với người tình. Đó là câu trả lời muộn màng cho lời cầu hôn của nhiếp ảnh gia Robert.
But the closer Robert gets, the clearer he can see that she is crying. And he stops. Without any words, he realizes what taking her with him would mean. With just a glance, he sacrifices her. With their eyes locked in the middle of Main Street - in front of the whole town - they smile and say goodbye.
For a moment, I didn't know where I was. And for a split second, the thought crossed my mind that he really didn't want me - that it was easy to walk away.
Khi Robert tiến lại gần hơn, anh càng thấy rõ hơn cô đang khóc và anh dừng lại. Với cái nhìn đó, anh đã hy sinh cô ấy. Ánh mắt họ khóa chặt lấy nhau trên giữa con phố, nơi họ mỉm cười và chào tạm biệt.
(Francesca tự sự): Thực tại, tôi không thể biết mình đang ở đâu. Trong một giây phút ngắn ngủi, ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu tôi rằng anh ấy thực sự không muốn tôi. Có thể dễ dàng bỏ đi vậy sao ?
Tính khái quát và thực dụng kiểu MỹHôn nhân có thể là nơi chôn vùi cảm xúc nhưng “miền đất hứa” tình cảm phải đối diện với thực tế khắc nghiệt và sự toàn vẹn. Đạo diễn Clint Eastwood khắc họa được cuộc chiến tranh tâm lý phức tạp của Francesca : không có máu đổ, không có tiếng súng nhưng dai dẳng, đeo bám cả cuộc đời. Cụ thể, bà nội trợ vùng Iowa phải lựa chọn giữa tình cảm và lý trí, giữa gia đình và người tình, giữa trách nhiệm và sự nuông chiều bản thân.
Bộ phim phản ánh tính cách Mỹ, sự thực dụng kiểu Mỹ khi tường thuật lại một chuyện tình tuổi trung niên. Họ chỉ được phép chọn một lựa chọn duy nhất giữa muôn vàn lựa chọn. Trên tất cả, họ hiểu được điều quan trọng nhất trong cuộc sống tại từng thời điểm. Tuổi đời 30 năm của Những cây cầu quận Madison giúp khán giả yêu chậm, sống chậm để nhận ra triết lý tinh tế mà đạo diễn gửi gắm.
(Theo Variety, Wikipedia, Roger Ebert)
Tại Pháp, các cửa hàng bán mỹ phẩm Hàn Quốc đã phát triển mạnh trong thời gian gần đây : khoảng 50 điểm kinh doanh được khánh thành tại Paris trong năm qua. Đà phát triển này càng được thấy rõ nhân kỳ Hội chợ mỹ phẩm quốc tế « Cosmetic 360 » lần thứ 11, diễn ra hồi trung tuần tháng 10/2025, tại khu vực Carrousel du Louvre ở trung tâm Paris. Trên hơn 300 quầy triển lãm, có đến một phần tư là các công ty liên doanh đến Paris để quảng bá mỹ phẩm Hàn Quốc.
Theo ghi nhận của giới chuyên gia Pháp, Hàn Quốc đã trở thành một trong những nước dẫn đầu trong ngành sản xuất mỹ phẩm. Kim ngạch xuất khẩu hàng năm trong lãnh vực này đã vượt hơn 10 tỷ đô la trong năm 2024 và Seoul đặt ra mục tiêu chinh phục toàn bộ thị trường châu Âu. Sở dĩ mỹ phẩm Hàn Quốc trở nên phổ biến là vì sản phẩm có đầy đủ chất lượng nhưng giá vẫn mềm so với túi tiền của khách hàng châu Âu. Hơn nữa, mỹ phẩm xứ Hàn còn thường được gọi là K-Beauty, cũng như điện ảnh (K-Movie), âm nhạc (K-Pop) hay ẩm thực (K-Food) phần lớn được thúc đẩy bởi các mạng xã hội như TikTok hay Instagram, qua các đoạn video ngắn mà hiệu quả. Video trực tuyến khuyến khích người tiêu dùng tìm kiếm những sản phẩm chăm sóc làn da, mà thuật ngữ chuyên ngành gọi là « skincare », giành một vị trí quan trọng trong các dòng mỹ phẩm Hàn Quốc, như theo nhận xét của cô Dara, chuyên viên quản lý chuỗi cửa hàng mỹ phẩm Korean Cosmetics Paris.
Dara : Phải công nhận rằng trong thời kỳ hậu Covid, đã có cơn sốt nơi người tiêu dùng đối với các loại mỹ phẩm Hàn Quốc. Cách đây một thập niên, mỹ phẩm Hàn Quốc ít được biết đến và chủ yếu được phổ biến trong giới trẻ yêu chuộng phim ảnh và âm nhạc đến từ Hàn Quốc. Nhưng giờ đây, người ta thực sự chứng kiến sự bùng nổ của K-Beauty trên thị trường Pháp. Các bạn trẻ ở Pháp thích dùng mỹ phẩm Hàn Quốc, vì tính đa dạng của các dòng sản phẩm chăm sóc làn da. Hơn nữa, giá cả mặt hàng cũng phải chăng hơn, hợp với túi tiền của giới trẻ nói riêng, người tiêu dùng nói chung, so với các hiệu mỹ phẩm thời trang lâu đời của Nhật cũng như của Pháp.
Trong số những khách hàng quen thuộc của chuỗi cửa hiệu K.C Paris, có cô Elsa, 34 tuổi. Cách đây ba năm, cô khám phá lần đầu tiên dòng mỹ phẩm Hàn Quốc thông qua các mạng xã hội, và kể từ đó, Elsa theo dõi thường xuyên các tài khoản trên mạng chuyên đăng các đoạn video hướng dẫn về cách sử dụng mỹ phẩm Hàn Quốc.
Elsa : Mỹ phẩm Hàn Quốc phát triển mạnh phần lớn là nhờ vào các mạng xã hội : chẳng hạn như sau khi được xem video hướng dẫn trên mạng TikTok, tôi đến tìm mua loại mặt nạ collagen để thử xem tác dụng của nó. Đây là loại mặt nạ mà bạn đắp lên mặt trong vòng bốn tiếng đồng hồ và trên nguyên tắc sẽ mang lại cho bạn một làn da rạng rỡ sáng ngời ngay sau khi dùng.
Nhiều người bạn khuyên tôi nên dùng thử vài lần trước khi chuyển sang việc dùng hẳn các loại mỹ phẩm Hàn Quốc. Đặc điểm của mỹ phẩm Hàn Quốc là để chăm sóc làn da, bạn có thể tuân theo những « nghi thức » công phu gồm 10 bước khác nhau. Nhưng đối với những người tiêu dùng nào không có nhiều thời gian, bạn vẫn có thể dùng những quy trình đơn giản hơn chỉ cần vài giai đoạn quan trọng như tẩy da mặt, làm sạch lớp trang điểm rồi thoa kem dưỡng da cho làn da thêm tươi sáng, mịn màng.
Thành công "thần kỳ" của K-Beauty là do tiếp thị thuần túy ?Có khá nhiều bạn trẻ ở Pháp đã khám phá và dùng thử mỹ phẩm Hàn Quốc sau những chuyến du lịch tại Seoul. Mục tiêu ban đầu của chuyến đi chỉ đơn thuần là tham quan, nhưng sau đó nhiều bạn trẻ ở Pháp như trường hợp của Alice, 24 tuổi, lại đâm ra ghiền nhạc K-Pop, ẩm thực đường phố cũng như mỹ phẩm Hàn Quốc.
Alice : Vâng chỉ sau vài lần dùng thử, tôi bắt đầu ghiền các loại mỹ phẩm của Hàn Quốc, cho nên khi về Pháp tôi lại tìm mua các mặt hàng K-Beauty. Không chỉ một mình tôi, mà nhiều bạn khác cùng trang lứa đều bị cuốn hút. Giờ đây, cả nhóm chúng tôi đều là « fan » của mỹ phẩm Hàn Quốc. Ở ngay bên cạnh văn phòng làm việc của chúng tôi, có một cửa hàng chuyên bán mỹ phẩm Hàn Quốc, cho nên hầu như tuần nào, cả nhóm chúng tôi cũng đều rủ nhau đến đây một lần, để mua sắm hoặc dùng thử các sản phẩm mới được tung ra thị trường. Trong cùng một cửa hàng bạn có thể tìm thấy hàng chục loại kem dưỡng ẩm hoặc chống nắng khác nhau.
Chúng tôi chủ yếu tìm mua các loại mặt nạ, sữa tẩy trang hay kem dưỡng da, « chống lão hóa ». Và không chỉ có mỹ phẩm dành cho phái nữ. Hàn Quốc đi đầu trong việc phát triển sản phẩm nhắm vào nhiều đối tượng khác nhau trong cùng một gia đình, chẳng hạn như ta có thể thấy có nhiều sản phẩm dành cho phái nam cũng như dành cho trẻ em, ngày càng được phổ biến. Tất nhiên, đối với các em nhỏ, không có nhiều loại kem để làm đẹp làn da mà chủ yếu là các sản phẩm chống dị ứng, dưỡng ẩm, giúp cho làn da bớt nứt nẻ, khô rát …..
Dưới thương hiệu K Beauty, giờ đây có hàng trăm loại mỹ phẩm được xem là có chất lượng nhờ hội tụ các thành phần chính ở một tỷ lệ cao, được xem là bổ dưỡng cho làn da. Trong số này có những sản phẩm độc đáo làm bằng cám gạo (keana rice), có tác dụng làm trắng làn da, xóa tàn nhang, bớt mờ nám. Loại hàm chứa nhiều nhân sâm cũng như vitamine C, có khả năng giữ cân bằng, giảm căng thẳng và bớt nếp nhăn.
Loại mỹ phẩm làm với rau má (centella asiatica) hợp với những làn da nhạy cảm, do tính mát dịu, chống dị ứng nên giúp cho làn da bớt mụn, bớt bị khô rát, mẩn đỏ. Ngoài ra còn có các chất như axit hyaluronic có tác dụng dưỡng ẩm, giảm nếp nhăn và căng mịn làn da, các loại tinh chất DNA cá hồi hay chất nhầy ốc sên được cho là những « sáng chế » mới, có khả năng làm cho làn da thêm rạng rỡ, sáng ngời.
Thế nhưng, theo bà Isabelle Rousseau, một bác sĩ thẩm mỹ ở Pháp và đồng thời là phó chủ tịch Hiệp hội các bác sĩ chuyên khoa da liễu, hiện vẫn chưa có bằng chứng khoa học cụ thể nào về hiệu quả của những thành phần gọi là « sáng chế mới » như chất nhầy ốc sên đối với làn da con người.
Isabelle Rousseau : Vâng, tôi nghĩ rằng mỹ phẩm Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ, được phổ biến khắp nơi trước hết là do trào lưu hiện thời. Cho tới nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào, chứng minh được tác dụng thực sự của các chất gọi là bỗ dưỡng cho làn da. Chẳng hạn như trên thị trường hiện nay có bán rất nhiều loại thuốc viên kết hợp collagen và axit hyaluronic, được quảng cáo là giúp cho làn da căng mịn mà vẫn mềm mại dịu dàng. Vấn đề là theo nghiên cứu gần đây của giới bác sĩ chuyên khoa bệnh viện Lariboisière, cơ thể con người không hấp thụ được các chất như collagen qua đường tiêu hóa, khác với các loại vitamin. Do vậy uống thuốc viên để tăng chất collagen trong cơ thể, chẳng có tác dụng gì, nếu không nói là vô nghĩa. Trong mắt của giới bác sĩ chuyên khoa, có rất nhiều loại mỹ phẩm nói chung, thành công và thu hút nhiều người tiêu dùng trước hết là nhờ vào các đợt tiếp thị hiệu quả, chiến dịch quảng cáo tài tình.
Sự thành công thần kỳ của K-Beauty phải chăng phần lớn là nhờ tiếp thị thuần túy ? Dù gì đi nữa, trong vòng chưa đầy hai thập niên (trào lưu K-Beauty bắt đầu trỗi dậy từ năm 2007) Hàn Quốc đã vươn lên thành một trong những nước xuất khẩu mỹ phẩm quan trọng hàng đầu, chỉ sau Pháp, Mỹ, và Đức nhưng vượt trội so với nước Ý. Mục tiêu của Hàn Quốc là lọt vào Top 3 trước năm 2030 và tăng gấp đôi doanh thu toàn cầu, đạt mức 20 tỷ đô la trên thế giới, từ đây cho đến vài năm tới.
Thời còn trẻ, nhà thiết kế Paul Poiret nổi tiếng không kém gì Coco Chanel. Tạp chí thời trang lừng danh Vogue từng so sánh tài năng của ông ngang hàng với Christian Dior. Nhưng ngày nay, tên tuổi của Paul Poiret lại bị lãng quên, cho dù gương mặt tiên phong của trường phái Art Déco đã có công thay đổi thời trang phái nữ một cách sâu rộng.
Tên tuổi của Paul Poiret gắn liền với thời kỳ Belle Époque đầu thế kỷ XX, thời Paris là kinh đô xa hoa, ngập tràn sáng tạo, phù phiếm lễ hội. Xu hướng thời trang thịnh hành lúc bấy giờ là những chiếc váy « lưng ong » đề cao những đường cong bằng chiếc áo corset nịt ngực. Với tư cách là học trò của hai nhà thiết kế lớn thời bấy giờ là Jacques Doucet và Charles Frederick Worth, ông Paul Poiret đã phá vỡ khuôn thước thẩm mỹ này, giúp « tháo gỡ » những ràng buộc trên cơ thể phụ nữ bằng cách thiết kế những kiểu váy với đường thằng đơn giản hơn (kiểu áo Joséphine, vợ của hoàng đế Napoléon). Chiếc áo nịt ngực thắt lưng (corset) nhường chỗ lại cho một dải ruy băng mềm mại, giúp cho phụ nữ đi đứng thoải mái.
Trong vai trò của một người tiên phong (nổi danh cùng thời với bà Jeanne Lanvin), nhà thiết kế Paul Poiret đã ý thức rất sớm về tiềm năng của thương hiệu, ngoài trang phục ông cho sản xuất thêm các chai nước hoa, phụ kiện thời trang và nhiều sản phẩm khác. Để vinh danh tài năng này, Viện bảo tàng Nghệ thuật Trang trí ở quận 1, Paris tổ chức một cuộc triển lãm lớn « Paul Poiret :La mode est une fête » (Thời trang như lễ hội) từ đây cho tới trung tuần tháng Giêng năm 2026. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, cô Marie-Sophie Caron de la Carrière trưởng ban điều hành triển lãm và đồng thời là giám tuyển nghệ thuật cho biết đôi nét về thân thế sự nghiệp của ông Paul Poiret.
Marie-Sophie Caron de la Carrière: Paul Poiret (1879-1944) là dân Paris chính hiệu, ông sinh trưởng trong một gia đình khá giả, bố ông à một nhà buôn vải cho nên ông đã lớn lên trong thế giới của gấm vóc, lụa là. Từ khi còn nhỏ, ông đã nuôi mộng trở thành một nhà thiết kế thời trang. Sự kiện quan trọng thúc đẩy ông chọn nghề này là khi cùng với song thân, ông đi xem cuộc Triển lãm Toàn cầu tại Paris năm 1889. Ông có kể lại điều này trong quyển hồi ký của mình. Vào lúc ấy, ông khám phá được nhiều nền văn hóa mà không cần phải đi đâu xa : nguyên tắc chính của Triển lãm Toàn cầu là mỗi quốc gia tham dự đều có một không gian triển lãm riêng để giới thiệu những nét hay nhất trong văn hóa nước nhà.
Chính điều này đã khơi dậy sự tò mò, cũng như niềm khao khát được đi xa và khám phá những chân trời khác biệt. Những kiểu áo dài caftan của Thổ Nhĩ Kỳ, khăn xếp Ba Tư hay kimono của Nhật Bản đều gợi hứng rất nhiều cho Paul Poiret thiết kế các kiểu áo như váy hình chụp đèn, áo đầm suông, áo lụa rũ xếp. Nơi Paul Poiret, các kiểu áo may thẳng thon dài mềm mại, không còn siết chặt vòng eo khiến cho vóc dáng phụ nữ không còn giống như chiếc đồng hồ cát. Cuộc triển lãm lần này nhằm giúp cho giới trẻ thời nay khám phá (lại) nhà thiết kế thời trang Paul Poiret, thực sự là một nhân vật không may đã bị lãng quên, chính những sản phẩm của thương hiệu này giờ đây cũng không còn tồn tại nữa.
Trong cuộc triển lãm này, có trích dẫn câu nói nổi tiếng của nhà thiết kế người Pháp Christian Dior về bậc đàn anh, theo đó ông Paul Poiret đã bước vào ngành thời trang cao cấp để rồi khuynh đảo mọi thứ. Vậy thì ông Paul Poiret đã thay đổi điều gì ? Cô Marie-Sophie Caron de la Carrière, giám tuyển nghệ thuật nhận xét :
Marie-Sophie Caron de la Carrière : Theo tôi, ông Paul Poiret đã đem lại hai sự thay đổi lớn cho làng thời trang. Đầu tiên hết, ông đã hoàn toàn biến đổi vóc dáng của phụ nữ : quan niệm về nữ tính không chỉ được gắn liền với những đường cong trên cơ thể của người đàn bà. Từ khi mới vào nghề, ông đã muốn khuynh đảo những khuôn thước có sẵn cũng như những người bạn họa sĩ của ông đã từng làm với trường phái « dã thú ». Để phá vỡ truyền thống của chiếc corset, ông đã trao dồi tay nghề với Jacques Doucet và sau đó nữa là với Charles Frederick Worth. Hiệu thời trang « House of Worth » chuyên phục vụ giới quý tộc châu Âu hoặc giới thượng lưu ở Mỹ thời bấy giờ. Các kiểu váy xòe, với nhiều thước vải khiến cho phụ nữ không dễ chuyển động, đứng ngồi. Việc lược bỏ các chi tiết rườm rà, thiết kế từ những năm 1910 những đường nét vuông vức thẳng đứng, khiến cho Paul Poiret trở thành gương mặt tiên phong của trường phái Art Déco, thịnh hành từ năm 1925.
Yếu tố quan trọng thứ nhì là Paul Poiret không những thay đổi hình dáng của phụ nữ mà còn thay đổi luôn vai trò của một nhà thiết kế thời trang. Nhà thiết kế không còn đơn thuần may quần áo theo đơn đặt hàng, mà thực sự góp phần làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn. Ngoài thiết kế trang phục, Paul Poiret còn thành lập một công ty chuyên về trang trí nội thất, sản xuất nước hoa và mỹ phẩm. Đây là một thay đổi lớn trong ngành thời trang, khi nhà thiết kế có một tầm nhìn và lối tiếp cận toàn diện hơn về phụ nữ cũng như môi trường sống của họ.
Paul Poiret đã sáng tạo ra điều mà thời nay được gọi là « liefestyle » (có nghĩa là lối sống hay phong cách sống). Các nhà thiết kế sau đó như Giogio Armani hay Ralph Lauren đều nâng lifestyle lên hàng nghệ thuật, rồi trở thành nhưng vị đại sứ toàn cầu cho gu thẩm mỹ thời trang. Thời trang không còn đơn thuần là quần áo, mà còn thể hiện một lối sống bao gồm cả thói quen và sở thích, từ chuyện ăn uống đến chơi thể thao hay giải trí. Chỉ riêng về điểm này có thể nói là ông Paul Poiret là một nhân vật tiên phong, đi trước thời của mình trước ngày đời của các thuật ngữ như lifestyle (phong cách sống) hoặc marketing (tiếp thị).
Nhân cuộc triển lãm tại Bảo tàng Nghệ thuật trang trí ở Paris, nhiều mùi nước hoa đã được tái tạo hơn một thế kỷ sau lần phát hành đầu tiên, như mùi hương Rosine mang tên con gái của Paul Poiret hay là kiểu chai nước hoa « Le Fruit Défendu » (Trái cấm) ăn khách vào đầu thế kỷ XX. Paul Poiret đã vào nghề thiết kế gần 10 năm trước Chanel. Ngoài đời, hai công ty này là đối thủ cạnh tranh, với phong cách thời trang hoàn toàn khác biệt. Câu hỏi đặt ra là tại sao Chanel nay vẫn là một thương hiệu toàn cầu trong khi Paul Poiret giờ đây lại không còn tồn tại ?
Marie-Sophie Caron de la Carrière : Một hiệu thời trang thực sự tồn tại khi nhà thiết kế có được một sự hậu thuẫn vững chắc về mặt tài chính. Chẳng hạn như hiệu Yves Saint Laurent tồn tại được lâu nhờ vào ông Pierre Bergé. Còn trong trường hợp của hiệu Chanel, gia đình Wertheimer, qua thỏa thuận hợp tác với Chanel, đã giúp cho thương hiệu trải qua bao sóng gió. Về phía Paul Poiret, ông đã không lập quan hệ đối tác với bất cứ nhà đầu tư nào, mục đích của ông là duy trì tính độc lập, quyền kiểm soát công ty, để làm theo ý mình. Vấn đề ở đây là Paul Poiret đã không trông rộng nhìn xa : do không đủ nguồn tài chính, công ty Paul Poiret đã sụp đổ khá nhanh sau khi Đệ nhất Thế chiến bùng nổ, thương hiệu này rốt cuộc đã biến mất.
Một trong những điểm thành công trong cuộc triển lãm về Paul Poiret, là ban tổ chức đã tạo ra được một cuộc đối thoại giữa các tác phẩm thời xưa với các sáng tạo thời nay, cho thấy được tầm ảnh hưởng của ông lên thế hệ nghệ sĩ lừng danh đi sau kể cả Elsa Schiaparelli, Yves Saint-Laurent hay Castelbaljac. Các bộ sưu tập của họ từng gợi hứng ít nhiều từ những tác phẩm của bậc tiền bối. Thực tế cho thấy thương hiệu này không còn tồn tại, nhưng trước sự đóng góp của Paul Poiret cho làng thời trang, thủ đô Paris ,tuy không thể trả lại cho hoàng đế César một ngai vàng, nhưng vẫn khôi phục phần nào ánh hào quang của một tài năng không may bị chìm vào quên lãng.
Chính với nhạc phẩm kinh điển « Jamaica Farewell » (Giã từ Jamaica), Gerard Joling mở màn vòng lưu diễn châu Âu vào mùa thu 2025. Nam danh ca người Hà Lan đã chọn sân khấu làm nơi ăn mừng với giới hâm mộ 40 năm sự nghiệp. Trong số những giai điệu ăn khách của ông, một số bài từng được đặt thêm lời Việt như « Cho em về miền nắng ấm » của nhạc sĩ Phú Quang hay « Lời yêu thương » của tác giả Đức Huy.
Năm nay 65 tuổi, Gerard Joling nổi tiếng tại Hà Lan từ giữa những năm 1980, ban đầu như một ca sĩ và sau đó như một người dẫn chương trình truyền hình. Sinh trưởng tại thị trấn Schagen, (phía bắc Hà Lan) cách thành phố Amsterdam hơn 60 cây số, Gerard Joling ban đầu vào nghề sân khấu như một diễn viên múa, xuất hiện trong nhiều video nhạc pop của các nhóm nhạc trẻ ăn khách tại Hà Lan thời bấy giờ như Earth & Fire hay Dolly Dots.
Dịp may đến với ông vào năm 1985, nhờ lọt vào vòng chung kết chương trình thi hát SoundMixshow của Henny Huisman, Gerard Joling ký được hợp đồng ghi âm chuyên nghiệp đầu tiên. Tuy không về đầu cuộc thi, nhưng Gerard Joling sau đó lại nổi tiếng hơn cả giọng ca đoạt giải nhất. Hai đĩa đơn ghi âm vào năm 1985, bao gồm « Love Is In Your Eyes » (Tình yêu trong đôi mắt) và « Ticket To The Tropics » (Về miền nắng ấm) giúp cho Gerard Joling từng bước chinh phục hạng nhất thị trường Hà Lan.
Bốn năm sau khi thành công tại nước nhà, Gerard Joling thực hiện bước đột phá trên thị trường quốc tế với album phòng thu thứ tư. Tập nhạc « No more bolero's » (1989) thành công lớn tại Hà Lan cũng như ở nước ngoài. Album này đứng đầu bảng xếp hạng tại nhiều nước châu Âu trong nhiều tuần liên tục. Sau khi được mời làm giọng ca đại diện cho Hà Lan nhân Cuộc thi hát Truyền hình châu Âu Eurovision vào năm 1988, Gerard Joling chinh phục thêm thị trường châu Á vào đầu thập niên 1990, trở thành nghệ sĩ Hà Lan ăn khách nhất ở nước ngoài. Nhân một cuộc phỏng vấn gần đây trên kênh truyền hình RTL, Gerard Joling cho biết là tính đến nay anh đã bán được hơn 30 triệu đĩa nhạc, trong đó có một nửa là nhờ vào thành công trên các thị trường châu Á từ cuối những năm 1980.
Song song với nghề ca hát, Gerard Joling càng thêm nổi tiếng một thập niên sau đó nhờ dẫn nhiều show truyền hình, hay làm giám khảo trong các cuộc thi tuyển lựa tài năng mới như « Popstars », Giọng ca hay nhất Hà Lan « The Voice Senior of Holland » hay Ca sĩ mặt nạ « The Masked Singer » …Ban đầu khởi nghiệp hát solo, ông còn nổi tiếng nhờ hợp tac với nhiều tên tuổi khác trong làng giải trí : trong đó thành công nhất vẫn là ban nhạc De Toppers được thành lập lần đầu tiên vào năm 2005, cách đây vừa đúng hai thập niên.
Khi Gerard Joling hợp tác với hai ca sĩ trứ danh khác là René Froger và Gordon Heuckeroth, kế hoạch ban đầu của họ là tổ chức một đêm nhạc chủ đề với những ca khúc nổi tiếng, ba ca sĩ hát luân phiên, tiếp sức cho nhau và thường chỉ biểu diễn một lần duy nhất trên sân vận động. Thế nhưng trước sự thành công vang dội, vượt ngoài mọi dự đoán, nhóm De Toppers tổ chức biểu diễn ở quy mô lớn thường xuyên hơn.
Các đêm nhạc của họ trở thành điểm hẹn hàng năm của giới yêu nhạc nhẹ. Đội hình của nhóm đã thay đổi sau hai thập niên hoạt động và hiện bao gồm Gerard Joling, René Froger, Jeroen Van Der Boom và Jan Smit, chứ không còn có sự tham gia của Gordon Heuckeroth. Mặc dù khá bận rộn với lịch diễn tại châu Âu, nhưng Gerard Joling vẫn sẽ có mặt tại buổi trình diễn của nhóm De Toppers vào mùa Giáng Sinh năm 2025 trên sân vận động thành phố Rotterdam.
Trong vòng 40 năm sự nghiệp, Gerard Joling đã ghi âm khoảng 20 album solo và hàng chục album cộng tác với nhiều nghệ sĩ khác. Một trong những tập nhạc hay nhất của ông mang tựa đề « Nostalgia » (Hoài niệm) khi ông thể hiện lại những giai điệu kinh điển trữ tình bằng chất giọng tenor ấm áp du dương của mình. Những bài ca nồng ấm kỷ niệm, từ « Unchained Melody » giai điệu tái sinh cho đến « Love Story» muôn thuở một chuyện tình.
Mùa thu theo truyền thống là mùa tổ chức hội chợ rượu vang tại Pháp. Trong vòng một tháng, các chuỗi siêu thị ở Pháp đều có những chương trình khuyến mại hấp dẫn như mua bốn chai tặng hai, hay mua hai tặng một. Vào lúc mức sản xuất vẫn còn cao trong khi đà tiêu thụ lại giảm sút, hội chợ mùa thu 2025 phần nào giúp ngành sản xuất rượu vang Pháp, bù đắp những thiệt hại, giải quyết hàng tồn kho.
Cuộc khủng hoảng rượu vang không chỉ liên quan tới Pháp mà còn diễn ra tại nhiều nước khác trên thế giới. Theo Tổ chức quốc tế về Nho và Rượu vang OIV, tính từ hơn 6 thập niên qua, chưa bao giờ sản lượng rượu vang toàn cầu xuống đến một mức thấp như vậy : 237 triệu hectolit trong năm 2024 trên thế giới, tức giảm 2% so với năm 2023 và giảm 16% so với một thập niên trước.
Nhìn chung, các nhà sản xuất rượu vang Pháp đang phải đối mặt với một tình huống khó khăn. Ngoài thời tiết bất lợi và các loài côn trùng, nấm mốc khiến ngành trồng nho bị mất mùa, các nhà sản xuất còn phải đối mặt với hiện tượng người tiêu dùng đang dần thay đổi thói quen : người lớn tuổi ngày càng ít uống rượu vang, trong khi nhiều bạn trẻ ở Pháp thích dùng bia hay các loại thức uống ít có cồn. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Raphaël Schirmer, giảng viên chuyên về rượu vang tại Đại học Bordeaux Montaigne, cho biết cuộc khủng hoảng rượu vang trong những năm gần đây không hẳn là một tin xấu đối với mọi người.
Raphaël Schirmer : Tôi không nghĩ đó nhất thiết là một tin xấu. Thị trường quốc tế đã chịu nhiều áp lực mạnh do phát triển thiếu đồng đều trong những năm gần đây. Chúng ta đang ở trong giai đoạn sản xuất hàng năm quá mức. Vì vậy, điều này chủ yếu gây bất lợi cho các nhà sản xuất lớn, nhưng lại là một cơ hội thuận lợi cho những nhà sản xuất nhỏ. Tuy họ sản xuất rượu vang ít hơn nhưng với chất lượng cao hơn, đáp ứng được xu hướng hiện thời : người tiêu dùng bớt uống rượu vang nhưng lại chịu mua rượu ngon với giá cao hơn. Nhìn chung, trên thị trường hiện giờ, mức cung lúc nào cũng cao hơn mức cầu. Sản lượng tại Pháp vượt xa mức tiêu thụ. Đó là trường hợp điển hình của vùng Bordeaux.Từ vài năm qua, vùng Bordeaux đều sản xuất dư thừa trong khi nhu cầu tiêu dùng ngày càng giảm xuống.
Cuộc khủng hoảng vì thế ngày càng trầm trọng, nhiều công ty kinh doanh ở Bordeaux không bán được rượu, dẫn đến tình trạng nhổ bớt các gốc cây nho (trên một diện tích 10.000 hécta) để điều chỉnh mức sản xuất hàng năm. Đây là một thời kỳ hết sức khó khăn đối với những gia đình chuyên trồng nho để làm rượu ở Pháp. Do bị tác động mạnh mẽ, nên công ty kinh doanh rượu vang cần được hội đồng cấp vùng giúp đỡ. Trong một số trường hợp, đó không còn đơn thuần là một vấn đề kinh tế mà còn liên quan đến truyền thống và di sản. Chính quyền có thể tài trợ giúp một công ty chuyển hoạt động sang một ngành khác, nhưng rất khó thể nào thuyết phục một gia đình sống nhờ nghề trồng nho làm rượu trong nhiều thế hệ, từ đời này sang đời nọ, phải đổi nghề, vì đó là lẽ sống của họ.
Về phần mình, ông Valentin Morel là chủ nông trại Les Pieds sur Terre ở vùng Jura và đồng thời là tác giả quyển sách Un autre vin nói về việc sản xuất rượu vang tự nhiên (nhà xuất bản Flammarion). Theo ông, cuộc khủng hoảng hiện nay cũng đặt lại vấn đề thâm canh, năng suất thu hoạch cao trong khi mức tiêu dùng lại giảm.
Valentin Morel : Trước những khó khăn hiện thời, thiết nghĩ chúng ta cũng nên đặt câu hỏi, phải chăng đã đến lúc chúng ta nên giảm bớt việc sản xuất rượu vang, nhưng với chất lượng cao hơn. Đây không phải là một xu hướng nhất thời mà lại kéo dài từ nhiều năm qua trong xã hội : dù muốn hay không người tiêu dùng ở Pháp ngày càng bớt uống rượu vang. Câu hỏi đặt ra vẫn là : thay vì tập trung sản xuất ồ ạt, chúng ta có nên quay lại với một nền nông nghiệp chừng mực, một ngành sản xuất nuôi sống con người, có được một chút dư dã thì càng tốt, nhưng không phải lúc nào cũng phải chạy theo lợi nhuận. Hầu hết các vùng từng đầu tư nhiều, để có được năng suất cao như ở Chilê, Tây Ban Nha, Ý hay Pháp đều gặp khó khăn, các nhà sản xuất giờ đây phải tính đến những giải pháp thay thế chứ không còn có thể dựa vào doanh hu của ngành trồng nho.
Trước câu hỏi làm thế nào để cân bằng lại sản lượng khi mức tiêu thụ trên thế giới nhìn chung đều đang giảm xuống, ông Raphaël Schirmer, giảng viên trường Đại học Bordeaux Montaigne, nhận xét :
Raphaël Schirmer : Trước hết, tôi xin nói rõ rằng mức tiêu thụ đang giảm về mặt khối lượng, nhưng lại không giảm về mặt doanh thu. Điều đó có nghĩa là ở Pháp, chúng ta uống rượu vang ít hơn, nhưng bù lại, các nhà kinh doanh vẫn bán được các chai rượu ngon với giá cao hơn. Họa người phúc ta ? Cuộc khủng hoảng của một số vùng sản xuất rượu vang cũng tạo cơ hội cho một nhà sản xuất khác ở Pháp bán được rượu vang được xem là có chất lượng.
Vào những năm 1950, mọi gia đình thực sự uống rất nhiều rượu vang hầu như trong mỗi bữa ăn. Hiện thời, xu hướng tiêu dùng này đã thay đổi. Cách tiêu thụ rượu vang nay thường mang tính lễ hội, điều đó có nghĩa là người Pháp thích dùng bữa ăn với gia đình, bạn bè, và khi có dịp, họ uống các loại rượu vang ngon, đắt tiền và có chất lượng hơn, so với những gì người Pháp uống vào giữa thế kỷ XX.
Trong giới trẻ, rượu vang vẫn được coi là một sản phẩm đắt hơn, ít phù hợp với túi tiền của họ, điều đó giải thích vì sao giới trẻ uống nhiều bia hơn rượu vang so với các thế hệ trước. Nhưng bù lại, khi mọi người tổ chức ăn tối tại nhà với bạn bè, người thân, hoặc trong các bữa tiệc cuối năm, đa số người tiêu dùng thích chọn các chai rượu vang hảo hạng hay các hiệu sâm panh ngon. Có thể nói là ở Pháp, rượu vang vẫn gắn liền với một số truyền thống lễ lạc, người ta nói khui rượu ăn mừng, chứ không ai nói khui bia ăn mừng.
Làm thế nào để thích ứng với biến đổi khí hậu ? Thời tiết thất thường khiến ngành trồng nho dễ bị mất mùa. Trong khi 80% sản lượng rượu vang trên thế giới hiện nay đến từ những nước có khí hậu ôn hòa, đặc biệt là ở vùng Địa Trung Hải. Chuyên gia Raphaël Schirmer giải thích :
Raphaël Schirmer : Biến đổi khí hậu vẫn là mối đe dọa đối với các nhà trồng nho, buộc ngành sản xuất thử nghiệm một số giải pháp. Một trong những biện pháp đầu tiên là tránh cho cây nho tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng. Các nhà trồng nho lập những khu vườn nhìn về hướng bắc, điều này sẽ giảm lượng ánh nắng trực tiếp so với các sườn đồi hướng nam. Ngoài ra, còn có câu hỏi về các giống nho được trồng. Đôi khi việc tuyển lựa giống nho đến từ các nước Nam Âu, giúp cho vườn nho chịu nắng, chịu khô tốt hơn. Chẳng hạn như tại vùng Bordeaux, Viện nghiên cứu Nho và Rượu vang đang trồng thử một loài nho Bồ Đào Nha (touriga nacional), để xem giống nho này có thể thích nghi với khí hậu của vùng Bordeaux như thế nào.
Còn theo nhà sản xuất rượu vang vùng Jura Valentin Morel, bên cạnh những đề xuất của ngành nông nghiệp truyền thống, việc phát triển các kỹ thuật canh tác bền vững cũng như trồng nho theo phương pháp tự nhiên là một giải pháp khả thi, có thể giúp ứng phó với mối đe dọa biến đổi khí hậu trong những năm tới.
Valentin Morel : Cho dù tôi ủng hộ ngoành nông nghiệp bền vững, nhưng theo tôi các biện pháp trồng trọt tự nhiên là một trong những câu trả lời, chứ chưa phải là giải pháp tối ưu. Tôi nghĩ rằng để đối phó với khủng hoảng, ngành trồng nho nên kết hợp cùng lúc nhiều phương pháp. Đầu tiên hết chúng ta nên hỗ trợ các nhà trồng nho đang gặp khó khăn, giúp họ thay đổi dần các phương thức canh tác. Biện pháp thứ nhì là kết hợp các kỹ thuật nông-lâm : một mặt gieo mầm để trồng thêm nhiều loài rau quả, hạt đậu. Các loài cây mọc sát đất này giống như một tấm thảm « thực vật » che nắng, giúp cho mặt đất không bị quá khô hay quá nóng. Ngoài ra, trồng cây ở xung quanh vườn nho để tạo thêm bóng râm, giúp duy trì độ mát và độ ẩm.
Một điều quan trọng khác nữa là việc lựa chọn giống nho : nên chọn các giống nho có khả năng kháng bệnh và chịu đựng thời tiết khắc nghiệt. Các nhà sản xuất rượu ở vùng Jura như tôi đều nhận thấy rằng hai nước láng giềng Đức và Thụy Sĩ đều tiến bộ hơn nhiều so với nước Pháp. Các giống nho có khả năng kháng bệnh cao thường là những gốc nho xuất phát từ quá trình cấy ghép, lai giống. Đức và Thụy Sĩ thường ghép các giống nho của châu Âu với các giống nho đến từ châu Mỹ. Có lẽ cũng vì thế, các gốc nho "lai giống này" có khả năng kháng cự tốt hơn vì phần lớn các loại bệnh dễ lan truyền lại đến từ châu Mỹ, trong đó có các bệnh do côn trùng (phylloxera) hoặc do các loài nấm (mildiou hay odium) gây ra .
Theo nhận xét của các chuyên gia, việc trồng các gốc nho "lai giống" cũng ít gây ô nhiễm bởi vì các nhà sản xuất không cần phải dùng nhiều chất hóa học để bảo vệ mùa màng, đề phòng hoặc diệt bệnh. Trong tương lai, đây là một trong những giải pháp hữu hiệu và khả thi. Việc chọn các giống nho có khả năng kháng cự, giúp giảm bớt việc dùng thuốc trừ sâu, bảo vệ đất canh tác và rượu vang được sản xuất một cách tự nhiên hơn. Trong số các giải pháp để bảo vệ ngành trồng nho, việc kết hợp các kỹ thuật canh tác nông-lâm và sử dụng các gốc nho lai giống vẫn là những biện pháp ít tốn kém, song song với việc duy trì sản xuất rượu vang ngon, ở một mức hợp lý, phải chăng.
Trong số 20.000 người Việt Nam được đưa đến Pháp làm việc trong giai đoạn 1940-1944, khoảng 4.000 được đưa đến làm việc tại nhà máy thuốc súng ở Bergerac, sau đó bị đưa đi làm thuê trong các trang trại quanh vùng sau khi chính phủ Vichy hợp tác với Đức. Họ sống như bị giam lỏng trong trại, thiếu ăn, bệnh tật do điều kiện sống khổ cực, bị phân biệt đối xử. Họ bị kẹt ở "Mẫu quốc" vì cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở Việt Nam.
Cuộc sống của họ được ghi lại trong khoảng 1.000 bức ảnh của Robert Bondier, ông chủ một tiệm ảnh ở Bergerac trong thập niên 1930-1970. Lần đầu tiên, những bức ảnh này được giới thiệu trong triển lãm "Từ Mêkông đến sông Vézère, những người bị lãng quên trong lịch sử : Lính thợ Đông Dương ở Dordogne 1940-1948" (Du Mékong à la Vézère, les oubliés de l’Histoire : Travailleurs indochinois en Dordogne 1940-1948).
Đây là một trong bốn công trình được sử gia Pierre Daum, nhà báo của nguyệt san Le Monde Diplomatique, và ông Michel Lecat, hiện sở hữu bộ sưu tập ảnh của ông nội Robert Bondier, thực hiện để những người lính thợ Đông Dương không còn bị quên lãng trong lịch sử. Công trình thứ hai là gắn bia ghi công 62 người lính thợ Đông Dương qua đời ở Bergerac, được tổ chức ngày 10/10/2025.
Sử gia Pierre Daum đã dành cho RFI Tiếng Việt một buổi phỏng vấn về chủ đề này.
RFI : Khoảng 4.000 người Việt Nam đã được đưa đến Bergerac ở Périgord từ năm 1940 đến năm 1944. Vậy trong bối cảnh nào và tại sao họ lại đến Pháp, đặc biệt là ở Périgord và Bergerac?Sử gia Pierre Daum : Năm 1939, khi Pháp tham chiến tranh, chính quyền thực dân Pháp đã tuyển mộ, tự nguyện hoặc cưỡng bức, 20.000 nông dân Việt Nam từ tất cả các làng mạc ở nước Việt Nam thuộc địa. Những người này được đưa lên thuyền, đến Marseille, và ở đó họ được phân bổ khắp nước Pháp đến các nhà máy vũ khí, đặc biệt là các nhà máy thuốc súng. Ở Bergerac, từ một thế kỷ qua đã có một nhà máy thuốc súng rất lớn, và đó là lý do tại sao 4.000 người trong số họ được đưa đến nhà máy thuốc súng Bergerac.
Đọc thêm"Lính thợ Đông Dương" : Những người lính thầm lặng tại Pháp trong Thế Chiến II
RFI : Vậy họ làm những công việc gì ở Bergerac?Pierre Daum : Khi họ đến, vì là nông dân nên công việc giao cho họ ở nhà máy thuốc súng cũng khá đơn giản, chỉ là nạp thuốc súng vào vỏ đạn. Công việc này tuy đơn giản nhưng lại rất nguy hiểm và gây tổn thương cho da rất nhiều vì thuốc súng rất khó chịu.
Vào tháng 06/1940, quân đội Pháp thua quân đội Đức, nên tất cả các nhà máy sản xuất thuốc súng ở Pháp đều đóng cửa. Sau đó, những người này bị giữ lại nhiều năm trong một trại ở Bergerac, và Nhà nước Pháp cho họ đi làm thuê ở các trang trại hoặc doanh nghiệp nhỏ, kể cả những doanh nghiệp chặt gỗ và biến thành than củi, những nhà thu hoạch hạt dẻ, và trong các vườn nho vì Dordogne cũng là vùng sản xuất rượu vang.
Và đúng là họ đã tìm được công việc phù hợp hơn với xuất thân nhà nông của họ, chủ yếu là trồng lúa. Ở Dordogne không có ruộng lúa nhưng nhiều đồng hương của họ trồng lúa nước ở vùng Camargue, còn ở Dordogne, công việc tập trung vào cây nho, hạt dẻ và gỗ nhiều hơn.
RFI : Ông từng nhấn mạnh là lính thợ Đông Dương bị đối xử bất công, bị ngược đãi ở Bergerac. Tại sao lại có sự phân biệt đối xử đó và tại sao họ phải sống trong những điều kiện như vậy?Pierre Daum : Người lao động Đông Dương ở Bergerac, cũng giống như mọi nơi khác ở Pháp, đều trong tình trạng bị áp bức thuộc địa ngay trên đất Pháp. Đó là tình trạng áp bức thuộc địa, phân biệt chủng tộc thuộc địa tương tự như những gì họ đã trải qua ở Việt Nam. Ngoại trừ ở đây, họ được đưa đến Pháp, và ví dụ tại Bergerac, họ bị nhốt trong trại.
Họ có thể ra ngoài vài giờ mỗi ngày và phải nằm dưới quyền điều hành của một đội quản lý Pháp, thường bao gồm các sĩ quan và hạ sĩ quan từ quân đội thuộc địa ở Đông Dương, những người tin rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, giống như lính Pháp tin rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn ở Việt Nam. Vì vậy, ngay khi một người Việt Nam chỉ trích chỉ huy của họ hoặc phàn nàn về việc không được ăn uống đầy đủ, họ sẽ bị đánh bằng gậy. Thậm chí bên trong trại Bergerac còn có một hầm ngục, và ít nhất một nửa số người Việt Nam ở Bergerac đã bị nhốt trong hầm ngục này hàng tuần liền.
Ngoài ra phải kể đến một điều rất quan trọng, đội quản lý Pháp, trong suốt những năm đó, đã không ngần ngại ăn cắp lương thực dành cho những người Việt Nam này. Vì vậy, những người Việt Nam này bị đói thực sự. Còn các dãy nhà thì không hề được sưởi ấm, nên rất, rất lạnh. Kết quả là vì đói, lạnh, bắt nạt, áp bức, số người chết bên trong trại Bergerac cao gấp bốn lần so với người dân Pháp ở thị trấn Bergerac.
Đọc thêmPháp : Bảo tồn ký ức lính thợ Đông Dương trong Thế Chiến II
RFI : Thứ Sáu ngày 10/10/2025, thành phố Bergerac khánh thành một tấm bia tưởng niệm 62 lính thợ Đông Dương. Tại sao lại là 62 người? Phải chăng họ bị lãng quên trong lịch sử của vùng và lịch sử nước Pháp?Pierre Daum : Như tôi đã nói, tỷ lệ tử vong trong trại Bergerac cao gấp bốn lần so với bên ngoài. Vì vậy, những người đàn ông bị bệnh, và tình trạng quá tải đã khiến bệnh tật lây lan trong cộng đồng lính thợ Đông Dương, đặc biệt là bệnh lao. Hầu hết những người bị bệnh được đưa đến các bệnh viện lớn ở Bordeaux và Marseille, và trên thực tế, nhiều người đã chết ở Bordeaux và Marseille. 62 người trong số họ đã chết ở Bergerac. Ban đầu, họ được chôn cất tại một nghĩa trang, tên là nghĩa trang Pont Saint-Jean. Mộ của họ rất đẹp, tôi đã tìm được nhiều tấm ảnh chụp những ngôi mộ đó ở nghĩa trang này.
Năm 1972, chính quyền thành phố Bergerac cần phải lấy lại không gian trong nghĩa trang đó nên các nhân viên thành phố đã đào tất cả các ngôi mộ lên. Họ đặt hài cốt của 62 người đàn ông này gọn gàng trong những chiếc hộp gỗ nhỏ, có đánh số và lập danh sách với số hiệu và tên của 62 người. Sau đó, 62 chiếc hộp được chuyển đến một nghĩa trang khác ở Bergerac, nơi có một lăng mộ Đông Dương tưởng niệm những người đã chết trong Thế Chiến I. Và 62 chiếc hộp đó được đặt dưới lăng mộ này. Tiếc là mọi người đã quên chúng, không ai nghĩ đến việc viết tên 62 người đã khuất lên trên lăng mộ đó để chúng ta nhớ rằng có 62 người yên nghỉ bên dưới.
Khi tôi bắt đầu nghiên cứu cách đây 3 năm, tôi phát hiện ra câu chuyện này. Tôi đến gặp chính quyền thành phố Bergerac, nói với họ : “Từ 70 năm qua, có 62 người Việt Nam được chôn cất ở thành phố, nhưng không ai biết, không có tấm bia nào, không có gì cả. Họ đã bị lãng quên”. Chính quyền thành phố Bergerac đã nói với tôi là nếu tôi cung cấp danh sách chính xác tên của 62 người, họ sẽ mời một nhà chuyên nghiệp khắc tên 62 người quá cố lên một tấm bia đá cẩm thạch và sẽ đặt bia ở một vị trí nổi bật. Cho nên, thứ Sáu ngày 10/10, chúng tôi sẽ khánh thành tấm bia cẩm thạch để tưởng nhớ 62 người lính thợ Đông Dương ở Bergerac.
RFI : Khi chiến tranh kết thúc, những người lao động Đông Dương khác có được hồi hương về Việt Nam không? Chuyện gì đến với họ?Pierre Daum : Khi Thế Chiến kết thúc, vào năm 1945, tất cả những người bị kẹt lại ở Pháp, bị giam cầm ở Pháp và ở Bergerac trong 5 năm, chỉ có một mong muốn duy nhất : được trở về nhà. Và họ chờ chính phủ Pháp tổ chức các chuyến hồi hương.
Nhưng chính vào thời điểm đó, nhân dân Việt Nam đã nổi dậy chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Phản ứng của chính phủ Pháp, như chúng ta đã biết, là không chấp nhận nền độc lập của Việt Nam, như Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã yêu cầu. Tất cả tàu thuyền từng được lên kế hoạch để đưa những người lao động Đông Dương hồi hương cuối cùng lại bị quân đội Pháp trưng dụng để đưa quân lính đến đàn áp khát vọng độc lập của nhân dân Việt Nam.
Vì vậy, những người lao động Đông Dương sẽ phải chờ thêm bốn năm nữa, tức là đến năm 1948, để cuối cùng, chính phủ Pháp bắt đầu tổ chức tàu thuyền đưa họ về Việt Nam. Quá trình hồi hương mất một thời gian dài, bắt đầu vào cuối năm 1948 và kết thúc vào năm 1952. Và trong số 20.000 người ban đầu được điều động đến Pháp vào năm 1939-1940, khoảng 16.000 người trở về, 1.000 người trong số họ đã chết, như tôi đã đề cập và từ 2.000 đến 3.000 người quyết định ở lại Pháp.
Lý do chính là vì họ đã gặp một phụ nữ Pháp và bạn gái của họ mang thai. Phần lớn lúc đó là họ chưa kết hôn. Ở Pháp trong thập niên 1940, khi bạn gái mang thai, đó thực sự là một bi kịch. Vì vậy, hầu hết những người đàn ông đó đã đưa ra lựa chọn đau đớn là không trở về Việt Nam để ở lại Pháp làm trọng trách làm cha. Có khoảng 2.000 đến 3.000 gia đình Pháp-Việt được hình thành ở Pháp. Tôi biết rất nhiều, rất nhiều trong số họ. Và trong hầu hết các gia đình, con đầu lòng được sinh ra trước khi kết hôn. Sau khi đứa bé chào đời, cha mẹ đã làm giấy tờ hợp lệ và họ kết hôn, có thêm rất nhiều con. Đó là thường là những gia đình khá đông con.
Đọc thêmNhững người Việt giúp cải tiến gạo Pháp ở Camargue trong Thế Chiến II
RFI : Ông và ông Michel Lecat đang thực hiện một dự án lớn về ký ức của những người lính thợ Đông Dương ở Dordogne. Xin ông cho biết thêm đôi chút về dự án này!Pierre Daum : Michel Lecat là người Pháp đến từ Bergerac, ông đã nghỉ hưu. Ông nội của ông ấy là Robert Bondier, một nhiếp ảnh gia ở Bergerac. Ông Bondier có một cửa hàng ảnh trong 50 năm. Sau khi ông nội của ông qua đời, Michel Lecat đã phát hiện ra 150.000 bức ảnh hoặc phim âm bản trên gác xép của cửa hàng, ghi lại toàn bộ cuộc sống ở Bergerac từ năm 1930 đến năm 1970.
Và trong số 150.000 bức ảnh đó, có 1.000 bức ảnh có người Việt Nam và đó là những người lính thợ Đông Dương, hầu hết bị ép đến đến Bergerac vào năm 1940. Họ chỉ có vài giờ tự do mỗi tuần, và nhiều người trong số họ đã đến gặp ông của Michel Lecat để chụp ảnh với ý định sau đó sẽ gửi bức ảnh này về Việt Nam để trấn an gia đình, bởi vì dĩ nhiên là gia đình họ rất lo lắng cho người con đang ở nơi rất xa, ở một châu Âu đang có chiến tranh và họ không có tin tức gì. Bức ảnh là một cách để nói với cha mẹ anh ấy rằng “Đừng lo lắng, nhìn này, con khỏe mạnh, con ăn mặc bảnh bao”…
Thêm nữa, ông của Lecat cũng đã đến chụp ảnh trong trại người lao động Đông Dương. Đó là một bộ sưu tập ảnh cực kỳ thú vị và cực kỳ hiếm về chủ đề lính thợ Đông Dương. Ba năm trước, Michel Lecat đã liên lạc với tôi để đề nghị chúng tôi cùng làm việc và tôi đã đến Bergerac gặp ông ấy. Và với chất lượng đặc biệt của bộ sưu tập ảnh này, chúng tôi quyết định khởi động một dự án, được chia thành nhiều phần: có một triển lãm ảnh đang được tổ chức ở Dordogne và thậm chí có thể sẽ được triển lãm trên khắp nước Pháp ; xuất bản một cuốn sách mà tôi đang hoàn thiện, sẽ ra mắt vào tháng 01/2026; khánh thành một đài tưởng niệm rất lớn dành cho những lính thợ Đông Dương, dự kiến vào vào mùa xuân 2026; và gắn bia tưởng nhớ tại nghĩa trang Bergerac, nơi chôn cất 62 người lính thợ Đông Dương vô danh trong hơn nửa thế kỷ tại nghĩa trang này.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn sử gia Pierre Daum, chuyên gia về quá khứ thuộc địa và là nhà báo của nguyệt sang Le Monde Diplomatique.
Đọc thêmNhững người lính Việt Nam “Hy sinh vì nước Pháp” trong Thế Chiến I
Tại Pháp, chưa bao giờ tài trợ cho văn hóa lại rơi vào trình trạng như vậy, bị giảm gần 66 triệu euro trong năm 2025. Nhiều cuộc biểu tình, tuần hành đã diễn ra để cảnh báo mối nguy hiểm của việc thiếu đầu tư vào văn hóa, nhưng nhìn chung các cơ sở, hiệp hội đang phải gồng mình thích ứng với chính sách “thắt lưng buộc bụng”.
Các khoản tài trợ cho văn hóa đến từ chính phủ và chính quyền địa phương - từ cấp vùng, tỉnh đến thành phố. Cho dù “khối địa phương” vẫn đứng đầu nhưng ngân sách dành cho văn hóa đã bị giảm đi bốn lần so với năm trước. 70% tỉnh và vùng đã giảm chi tiêu cho văn hóa, trong khi chỉ có 20% vào năm 2024.
Văn hóa cũng bị “thắt lưng buộc bụng”Mọi lĩnh vực văn hóa đều bị ảnh hưởng. Bị tác động nặng nhất là các kỳ festival, sự kiện (-36%), tiếp theo là biểu diễn (-35%), hoạt động văn hóa và giáo dục văn hóa-nghệ thuật (-31%). Khoảng 41% hiệp hội văn hóa bị giảm trợ cấp. Một bộ phận khán giả (thiếu niên dưới 17 tuổi, hưu trí…) cũng bị hạn chế tiếp cận với văn hóa.
Chương trình vũ đạo La belle scène saint-denis của Nhà hát Louis Aragon, thành phố Tremblay en France, tỉnh Seine - Sainte-Denis (ngoại ô Paris), được trình diễn tại Liên hoan Avignon, là một ví dụ điển hình. Bà Emmanuelle Jouan, giám đốc Nhà hát Louis Aragon, giải thích với RFI Tiếng Việt :
« Chương trình của chúng tôi tồn tại là nhờ nguồn tài trợ công, từ Nhà nước, vùng, tỉnh, thành phố. Thực ra phải nói thành phố Tremblay en France mới là đơn vị tài trợ nhiều nhất cho chúng tôi.
Những nguồn tài chính này cho phép chúng tôi phát triển dự án và bán vé với giá rất ưu đãi cho công chúng thành phố. Chúng tôi được trợ cấp bởi vì nhà hát chúng tôi nằm trong một khu vực mà thu nhập của người dân vẫn còn rất khiêm tốn. Và đây chính là ý nghĩa thực sự về dịch vụ công, có nghĩa là chúng tôi mang nghệ thuật và những nghệ sĩ lớn đến một nơi mà dường như người dân chưa biết đến họ.
Vì vậy chúng tôi làm việc quanh năm với rất nhiều nghệ sĩ, mà một số người đã biểu diễn trên sân khấu sáng nay (14/07). Hàng năm, chúng tôi đồng hành với ba dự án ở địa phương. Những nghệ sĩ đó giao lưu với người dân địa phương, cùng họ xây dựng các dự án và tạo nên sự gần gũi này ».
Nhà hát Louis Aragon đã đồng hành với hơn 40 đoàn nghệ thuật. Rất nhiều nghệ sĩ đã thành danh nhờ được hỗ trợ về tài chính, cơ sở vật chất và được hỗ trợ quảng bá, ví dụ thông qua Liên hoan Avignon. La belle scène saint denis trở thành điểm tham chiếu để các nhà hoạt động chuyên môn, các “ông bầu” đến tìm tài năng mới. Giám đốc Emmanuelle Jouan giải thích tiếp :
« Đây là lần thứ 14 chương trình vũ đạo la belle scène saint denis được biểu diễn ở Avignon. Đây là một dự án hỗ trợ nghệ sĩ dài hạn được phát triển ở tỉnh Seine - Saint-Denis. Vì vậy, chúng tôi đến Avignon hàng năm để giới thiệu với các chuyên gia những tác phẩm của các nghệ sĩ mà đôi khi chúng tôi đã hỗ trợ từ hơn 10 năm qua, hoặc giới thiệu những nghệ sĩ chưa được biết đến nhiều. Dần dần, nhờ công sức, sự kiên trì của chúng tôi, chương trình la belle scène saint-denis đã trở thành một địa điểm nổi tiếng về múa và nhảy. Có rất nhiều chuyên gia đến đây và đôi khi tìm được các nhóm nghệ sĩ mới cho họ, cơ hội để các nghệ sĩ mở rộng sự nghiệp của mình. Đó là lý do tại sao chúng tôi ở đây.
Nhưng trước tiên, chúng tôi có một nhà hát ở tỉnh Seine - Saint-Denis, hoạt động quanh năm ở tỉnh để phục vụ người dân. Nhưng chúng tôi cũng có ba đoàn múa hợp tác với chúng tôi hàng năm và chính những nghệ sĩ này đến biểu diễn ở Liên hoan Avignon ».
Sáng tạo để tìm nguồn tồn tạiNgoài những nghệ sĩ trong chương trình chính thức “IN”, đa số các đoàn kịch được chọn tham gia chương trình phi chính thức “OFF” tại Liên hoan Avignon đều phải tự xoay sở tài chính. Những tác phẩm được sáng tác cho Liên hoan được nhận một khoản hỗ trợ nhỏ. Đoàn kịch tự lo chi phí lưu trú, địa điểm biểu diễn… Anh Brice của đoàn kịch Plume Pourpre, biểu diễn vở hài nhạc kịch Chân trụ trên các vì sao (Les Keykeepers : Les Pieds dans les étoiles), giải thích :
« Đối với các đoàn kịch, đây là một thử thách thực sự. Trước hết, về mặt tài chính, đó là cả một ngân sách. Phải thuê một suất trong rạp hát, phải tìm được chỗ ở tại Avignon. Vì vậy, đó là một khoản đầu tư lớn. Chúng tôi không có nguồn tài trợ công. Tất cả chi phí là tiền của chúng tôi hoặc của các mạnh thường quân.
Mục tiêu hiện diện tại Avignon ngày hôm nay đối với một đoàn kịch không phải đến từ Paris mà từ nông thôn như chúng tôi là để có thể quảng cáo chương trình của mình ngoài vùng nông thôn. Và làm thế nào để vở kịch của chúng tôi có thể được biết trên quy mô toàn quốc ? Chỉ có cách là tham gia Liên hoan Avignon hoặc để khai thác ở Paris. Và chúng tôi đã chọn Liên hoan Avignon để được biểu diễn hàng ngày ở một nhà hát trong 3 tuần ».
Làm thế nào để có được một khoản kinh phí không phải là nhỏ ? Nghệ sĩ La Belle Époque, đoàn kịch Collectif Rue 46, tác giả vở Hongai tại Liên hoan Avignon, giải thích :
« Chúng tôi thực sự cần tiền nên đã phát động một chiến dịch gây quỹ cộng đồng. Chúng tôi đã vượt qua mục tiêu 3.000 euro. Ngoài ra, chúng tôi đã biểu diễn tại nhà theo yêu cầu vào cuối tháng 5, cho nên cũng gây được quỹ. Chúng tôi cũng biểu diễn tại tòa thị chính Quận 11 Paris vào cuối tháng 6. Tương tự, chúng tôi cũng nhận được khoản tài trợ từ thị chính Paris.
Tại Liên hoan Avignon, chúng tôi đang cố gắng biểu diễn để tài trợ cho cuộc phiêu lưu này. Sau đó, khi hết hè, có thể sẽ có thêm vài buổi biểu diễn nữa. Chúng tôi sẽ cố gắng gây quỹ để hoàn trả khoản đầu tư cho Liên hoan ».
Trong một rừng chương trình biểu diễn tại Liên hoan Avignon, thu hút được sự chú ý của người qua đường - những khán giả tiềm tàng - không phải là điều dễ dàng. Vậy phải làm thế nào ? Frank Milin, nghệ sĩ của đoàn kịch Collectif Rue 46, cho biết : « Chúng tôi đi phát tờ rơi quảng cáo, chúng tôi dành khoảng 3 đến 4 tiếng mỗi ngày để phát tờ rời trên đường phố Avignon. Chúng tôi may mắn khi có khá nhiều nghệ sĩ tham gia vở kịch, cho nên có thể thay phiên nhau trong ngày. Phần lớn thời gian trong ngày được dành cho việc gặp gỡ những khán giả tương lai trên đường phố, giải thích cho họ về tác phẩm của mình, tạo hứng thú để họ đến xem chúng tôi biểu diễn. Những lúc như vậy rất vui vì đó là những cuộc trao đổi thực sự thú vị ».
Phát tờ rơi, sáng tạo muôn vàn kiểu quảng cáo trở thành biểu tượng đặc trưng, độc đáo của Liên hoan Avignon. Làm thế nào để tiếp cận một người qua đường, rồi khiến họ dừng chân lại để nghe quảng cáo về vở kịch, trong khi có đến gần 1.800 buổi diễn ? Đó là cả một chiến lược được vạch trước. Nghệ sĩ Franck Milin của Collectif Rue 46 cho biết thêm :
« Đó là một ý tưởng mà chúng tôi đã cân nhắc. Chúng tôi đã làm việc một chút trước khi đến Avignon. Nhưng chiến lược đã thay đổi, bởi vì giống như vở kịch, đôi khi phải thích ứng. Tại Avignon, chúng xem điều gì phù hợp, điều gì không, sau đó chúng tôi cân nhắc xem điều gì hiệu quả và điều gì không. Nhưng chúng tôi cố gắng giải thích nhanh cho người qua đường rằng đó là một vở kịch lịch sử nhưng theo cách sân khấu, quay ngược về quá khứ với hai nhân vật chính ».
Giảm tài trợ : Khán giả trẻ bị hạn chế tiếp cận văn hóaViệc cắt giảm tài trợ cho các tổ chức văn hóa, nhà hát tác động đến giá vé, vẫn được bán với giá ưu đãi cho một bộ phận công chúng ở một số địa phương, nhất là những khu vực nơi người dân có thu nhập khiêm tốn, như Bà Emmanuelle Jouan, giám đốc Nhà hát Louis Aragon, đã giải thích.
Chương trình cổ vũ tiếp cận văn hóa cho khán giả “trẻ” từ 15-21 tuổi cũng sẽ bị tác động do việc tài trợ cho Pass Culture (thẻ thông hành Văn hóa) cũng bị đóng băng. khoảng 84% thanh thiếu niên trong độ tuổi được hưởng đã đăng ký Pass Culture, được chính thức triển khai năm 2021 sau hai năm thử nghiệm. Hơn 35.000 đối tác văn hóa đề xuất cho khán giả trẻ hàng loạt hoạt động văn hóa (biểu diễn, hòa nhạc, giao lưu, hội thảo, triển lãm, tham quan…) hoặc chương trình đào tạo nghệ thuật.
Tuy nhiên, Luật Tài chính năm 2025 quy định giảm ngân sách dành cho Pass Culture từ 72 triệu euro xuống còn 52 triệu euro, chia thành hai đợt. Tính đến tháng 03/2025, 40 triệu euro trong số 50 triệu euro được phân bổ đã được giải ngân cho năm học 2024-2025. Kết quả là nhiều trường không tổ chức được hoạt động ngoại khóa vì không tiếp cận được nguồn tài trợ.
Toàn cảnh của việc cắt giảm trợ cấp cho văn hóa được bà Aurélie Hannedouche, giám đốc Nghiệp đoàn âm nhạc đương đại (Le Syndicat des musiques actuelles, SMA), tóm tắt khi trả lời đài phát thanh France Culture ngày 16/04 : “Sẽ có ít hoạt động hơn, ví dụ trong các nhà dưỡng lão, nhà trẻ, trường học, các trung tâm xã hội, trại giam hoặc trong những khu vực được xếp là ưu tiên, thậm chí là “ngoài bốn bức tường”, ví dụ như ở nông thôn”.
Hôm Chủ nhật 28/09/2025, đông đảo người Việt ở Paris đã đến dự buổi giới thiệu cuốn hồi ký của nữ tài tử nổi tiếng Kiều Chinh, do hội Thư Viện Diên Hồng tổ chức. Mọi người đã rất xúc động được nghe chính tác giả đọc một số đoạn trong cuốn Kiều Chinh Nghệ sĩ lưu vong và qua đó đồng cảm hơn với cuộc đời đầy những thăng trầm của một ngôi sao màn bạc nay đã 88 tuổi nhưng vẫn đồng hành không ngơi nghỉ với nghệ thuật thứ bảy.
RFI xin điểm lại những chặng đường đã qua của một nữ tài tử một thời từng được xếp là một trong “Tứ Đại Mỹ Nhân” của Sài Gòn ( cùng với Thẩm Thúy Hằng, Thanh Nga và Kim Cương). Tạp chí hôm nay tập trung vào sự nghiệp điện ảnh của Kiều Chinh từ lúc khởi đầu từ thập niên 1950 đến khi xảy ra biến cố tháng 04/1975.
Như Kiều Chinh có nói khi trả lời phỏng vấn RFI ngày 26/09/2025, hai ngày trước buổi giới thiệu cuốn hồi ký, “Điện ảnh tìm tôi chứ tôi không tìm tới điện ảnh”, tình cờ mà cô thiếu nữ Kiều Chinh ở tuổi 17 khi bước trên đường phố Sài Gòn năm 1956 đã được đạo diễn Mỹ Joseph Mankiewicz để ý đến và nếu không bị gia đình cấm cản thì cô đã được thủ vai chính trong bộ phim nổi tiếng The Quiet American ( Người Mỹ Thầm Lặng ):
“Điện ảnh tìm tôi chứ tôi không có tìm tới điện ảnh. Thời đó tôi theo đạo Công giáo, thành ra Chủ nhật là đi nhà thờ. Một chiều Chủ nhật nọ, từ Nhà thờ Đức Bà tôi đi thẳng xuống đường Catina. Khi đi qua nhà sách ngay cạnh tiệm bánh Givral, bên kia đường là Hotel Continental, có một người Mỹ chạy từ bên kia đường qua vỗ vai tôi và hỏi tôi: “ Do you speak English?” ( Cô nói tiếng Anh được không? )
Tôi quay lại nhìn và tôi nghĩ chắc anh ta muốn tìm một người bạn gái, nên không trả lời. Anh ta vội vàng bước tới trước mặt và nói: “Chúng tôi là một toán làm phim từ Hollywood. Ông đạo diễn đang ngồi bên kia đường. Chúng tôi sang đây để quay cuốn phim The Quiet American và ở đây hai tuần lễ rồi mà chưa tìm được đúng người. Chúng tôi ngồi đây và thấy cô đi từ xa lại. Ông đạo diễn nói ông ấy muốn kiếm một người có vóc dáng như cô. Cô có biết nói tiếng Anh không?” Bấy giờ tôi mới trả lời: “ Dạ, biết một chút”. “Cô có nói tiếng Pháp không?” Tôi cũng nói là “Dạ, nói một chút thôi”. “Ôi Trời, tuyệt vời quá. Tôi cần một người có dáng người như cô, nói được tiếng Anh và một chút tiếng Pháp. Xin mời cô gặp ông đạo diễn.”
Tôi sang gặp thì ông đạo diễn bảo tôi cầm script ( kịch bản ) về nhà đọc, có thể ngày mai hoặc ngày mốt trở lại để quay một cái test. Lúc ấy có một người Việt Nam ngồi đó, mà sau này tôi mới biết đó là đạo diễn Bùi Diễm, hồi đó có quay phim Chúng Tôi Muốn Sống. Thế thì tôi mang script về đọc, nhưng trước khi trở lại thì phải xin phép mẹ chồng, vì lúc đó tôi mới lấy chồng, mà chồng thì lại đi sang Mỹ học, thành ra đang ở với bố mẹ chồng.
Cụ bà ngạc nhiên lắm, vì thời buổi đó phim ảnh còn quá mới đối với Việt Nam. Cụ bà bảo: “ Ôi, con dâu nhà này không có đi đóng phim!”. Cụ ông thì có vẻ cởi mở hơn một chút, bèn hỏi: “Chuyện phim là về cái gì và vai trò của cô là thế nào?” Mình cũng kể sơ qua chuyện phim là cô Phượng, nhân vật nữ chính trong phim, có chồng là người Anh, theo chồng sang Mỹ thì cô yêu một anh người Mỹ. Bà cụ liền nói:” Thế thì không được! Người đàn bà đó không tốt!” Cụ không cho quay.
Hôm sau tôi trở lại để trả cuốn script và nói với ông đạo diễn là không quay. Mọi người ngạc nhiên lắm! Đạo diễn đó là Joseph Mankiewicz, đạo diễn số một của Mỹ, hai lần được lãnh giải Oscar, là đạo diễn những phim như Cleopatra với Elizabeth Taylor và mấy phim khác nổi tiếng lắm. Họ cho mình vai tốt như thế mà lại là vai chính, thế mà mình lại từ chối! Họ ngạc nhiên lắm! Nhưng ông nói: “Có thể nhờ cô quay một tí được không?” Thì tôi nói là phải xin phép lại.
Mấy tháng sau họ mới bắt đầu quay. Họ không tìm được người Việt Nam nào khác nên mời một cô tài tử người Ý tên là Georgia Mall để đóng vai người Việt Nam. Họ mời tôi trở lại đó, makeup, búi tóc cho cô Georgia Mall giống hệt tôi. Trong phim thì có cảnh ông Michael Redgrave, tài tử Anh, đi tìm người yêu của mình là cô Phượng. Trong đám đông, thấy tôi đi qua, ông vội vàng chạy đến vỗ vào vai. Tôi quay lại, thì ông bảo: “Ồ, tôi xin lỗi, tôi tưởng cô là người tôi tìm”. Gia đình cho phép vì tôi chỉ xuất hiện có một tí thôi, không có cảnh gì yêu đương cả!
Không được tham gia phim The Quiet American nhưng Kiều Chinh ngay sau đó lại được đạo diễn Bùi Diễm mời đóng vai chính trong phim Hồi Chuông Thiên Mụ:
“Nhưng lần trở lại đó thì lại gặp ông Bùi Diễm, lúc đó có hãng phim Tân Việt. Hãng phim đã phụ cho nhóm quay phim Người Mỹ Thầm Lặng. Năm sau, tức là năm 1957, ông Bùi Diễm lại liên lạc với tôi để mời đóng phim. Nhưng ông hiểu văn hóa phong tục Việt Nam, cho nên ông đã tới tận nhà để nói chuyện. Cụ bà ngạc nhiên lắm: Tại sao hết người này đến người muốn mời con mình đóng phim! Cụ mới hỏi: “Ông mời con dâu của tôi đóng vai gì?” “Thưa bác, vai một ni cô ở chùa Thiên Mụ”. Ôi, cụ thích lắm: “Thế thì được!”. Sự nghiệp của tôi bắt đầu từ đó: Đóng vai sư cô trong phim Hồi Chuông Thiên Mụ.
Chắc là nhờ chị thủ vai sư cô nên bà mẹ chồng mới chấp nhận cho đi đóng phim?
Dạ, chưa chắc cho đi. Sau khi đóng phim đó, cụ cũng thấy tôi đâu có thay đổi gì đâu. Ngày nào phải quay phim thì đi quay phim. Khi quay phim xong thì về. Không có liên lạc gì với ai. Không phải là trở thành tài tử, đi quay phim, rồi đi tiệc tùng hay là này kia, thành ra các cụ yên tâm.
Lúc đóng phim Hồi Chuông Thiên Mụ hình như chị mới 18 tuổi. Chị hoàn toàn không qua trường lớp nào, vậy thì chị nhập vai như thế nào? Nhất là vai không phải dễ là một ni cô?
Tôi không qua trường lớp nào cả, nhưng thời gian trước đó tôi sống với bố, vì mẹ mất sớm từ lúc tôi mới có bốn năm tuổi. Bố thì gà trống nuôi con, sợ con buồn, nên cuối tuần nào bố cũng dẫn tôi đi xem phim. Bố cũng mê xem phim lắm và hay đọc những cuốn như là Ciné Revue hồi đó. Thời đó thì phim chiếu ở Hà Nội là phim nói tiếng Pháp, mà bố thì rành ( tiếng Pháp ), cho nên xem phim xong, bố lại về giảng cho con gái, rồi có Ciné Revue để đọc, thành ra cũng hiểu biết một chút về điện ảnh từ lúc rất trẻ. Đến khi quay phim thì mình cứ đóng tự nhiên vậy thôi. Vai đó đòi hỏi làm sao thì mình làm như vậy thôi, cũng không khó khăn gì cả. Vai chính trong phim lại là anh Lê Quỳnh, cũng là bạn người chồng cũ của tôi và mẹ của anh Lê Quỳnh cũng là bạn với mẹ chồng tôi. Thành ra bà cụ cảm thấy thoải mái lắm, yên tâm lắm.
Tôi đi quay phim thì cũng không có gì khó khăn. Phim được quay tại Huế. Anh Lê Dân làm đạo diễn. Đó cũng là phim đầu tiên của Lê Dân, học đạo diễn Pháp về. Thành ra mấy anh em làm việc với nhau như là một gia đình. Ông Bùi Diễm, ông Lê Dân, bà Lê Dân cũng luôn có mặt. Chúng tôi ở hotel ngoài Huế tôi vẫn nhớ tên là Hotel Morgan. Ông bà chủ hotel là ông bà Yến luôn luôn hỏi: “ Em thích ăn món gì thì cho biết để hotel nấu.” Ngoài Huế thì ăn cay lắm, mà tôi là Bắc Kỳ không có ăn ớt!"
Sau Hồi Chuông Thiên Mụ, thấy cô con dâu không có gì thay đổi, nên không chỉ bố mẹ chồng, mà người chồng cũng cho phép Kiều Chinh tiếp tục đóng phim. Kiều Chinh được mời liên tiếp đóng phim cho đạo diễn Thái Thúc Nha, trong đó có phim Mưa Rừng. Rồi Kiều Chinh tiếp tục đóng cả chục phim nữa, trong đó có mấy phim Mỹ. Phim Mỹ đầu tiên là L’année du Tigre của Hollywood, tiếp đến là CIA Operations, với tài tử chính là Burt Reynolds. Rồi bà đóng trong một số phim của Philippines nhưng được quay ở Sài Gòn.
Theo lời Kiều Chinh, đến năm 1969-70, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc có một chuyện phim mà ông muốn quay, đó là phim Người Tình Không Chân Dung:
"Anh ấy viết chuyện phim đó trong đầu với hình ảnh Kiều Chinh là vai chính. Nhưng không hãng phim nào muốn quay phim đó cả. Anh Vĩnh Lộc bảo: “ Kiều Chinh lập hãng phim đi, để mình quay cho mình”. Thì Kiều Chinh bắt đầu lập hãng phim riêng của mình, hãng phim Giao Chỉ, rồi quay cuốn phim đầu tiên.
Cuốn phim đó được Bộ Quốc Phòng trợ giúp, bởi vì phim dính rất nhiều tới quân đội. Hình như đây là phim đầu tiên có đầy đủ sự hiện diện của quân lực miền Nam Việt Nam, từ không quân, hải quân, thủy quân, lục chiến, bộ binh, pháo binh, đủ hết.
Trong phim có nào là máy bay, rồi có những cảnh cả ngàn binh sĩ ngồi ở Vũng Tàu hát bài Việt Nam, Việt Nam, rồi thì là xe tăng, tàu bò, súng ống, làm sao mà hãng tư nhân cáng đáng đáng nổi. Cho nên có sự hỗ trợ của bộ Thông Tin cũng như là bộ Quốc Phòng.
Câu chuyện là thế này: Nhân vật Dạ Lan nói ở đài phát thanh, thành ra binh sĩ nào ở chiến trận xa tối đến cũng cầm cái radio để nghe quen giọng của Dạ Lan. Lúc đó cô yêu một người lính không quân. Hai người hứa hẹn với nhau nhưng rồi anh đó tử trận. Cô buồn lắm, cho nên vào một đêm 30 Tết, cô tự hứa là bây giờ bốc thăm một lá thơ lên, lá thơ đó mang khu bưu chính bao nhiêu thì cô sẽ đi tìm người có khu bưu chính đó để nhận làm chồng. Chuyện phim là con đường mà cô đi tìm từ chỗ này đến chỗ kia, ra tận mặt trận, rồi đi vào nhà thương gặp thương phế binh. Mãi sau cùng tìm được số khu bưu chính đó, nhưng tìm tới nơi đấy thì anh ta là một thương binh rất nặng, không biết mặt mũi ra sao, vì bị băng bó che hết rồi.
Cô ấy quỳ xuống và nói: "Tôi đã bốc thăm số khu bưu chính của anh. Tôi đã hứa sẽ lấy người nào mang khu bưu chính này làm chồng". Ông đó bảo: " Có phải cô Dạ Lan không? Tôi nghe cái giọng cô bao nhiêu đêm rồi. Bây giờ thật sự cô là Dạ Lan à? Cô đùa hay sao? Tôi đâu có còn hình hài gì nữa." Anh nghĩ chuyện này như là một trò chơi, bông đùa.
Dạ Lan bỏ đi ra ngoài bờ biển, đúng vào lúc mà cả ngàn binh sĩ đang ngồi hát bài "Việt Nam, Việt Nam", thì cô bị rung động bởi tiếng hát đó. Rồi cô trở lại, quỳ sau giường, cầm tay anh nói: "Nhất định em sẽ lấy anh". Thì người đó tay buông thõng xuống rồi chết.
Ông bác sĩ trong bệnh viện đó ( do anh Tâm Phan đóng ) trách cô này đã chơi đùa với tình yêu khiến anh đó quá xúc động mà chết. Anh đã bị bom đạn mặt mũi tan nát hết cả rồi, không còn gì nữa mà bây giờ được cô Dạ Lan nhận làm chồng à? Đại khái câu chuyện là như thế.
Người tình không chân dung là một trong những cuốn phim thành công nhất thời trước 75. Phim chiếu ra rạp rất đông người ta coi. Số tiền thâu được cũng rất nhiều, rất là thành công."
Sau Người Tình Không Chân Dung, Kiều Chinh còn đóng thêm nhiều phim khác nữa, cho đến khi biến cố 30/04/1975 đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp điện ảnh của bà ở Việt Nam:
"Sau đó Kiều Chinh liên tiếp đóng thêm mấy phim Việt Nam và phim ngoại quốc nữa, như phim Hè Muộn của Đặng Trần Thức, cũng do hãng phim Giao Chỉ của mình sản xuất. Đặng Trần Thức cũng là người tốt nghiệp điện ảnh ở Pháp về Sài Gòn. Hè Muộn là phim đầu tiên của anh. Sau đó Kiều Chinh còn đóng phim Chiếc Bóng Bên Đường với chị Kim Cương và anh Thành Được.
Rồi Kiều Chinh đi sang Thái Lan với hợp đồng quay ba phim nữa. Quay được hai phim xong bên Thái Lan, phim thứ ba thì quay ở Singapore. Vừa mới quay xong ở Singapore thì là đúng vào ngày 15/04 nghe tin Sài Gòn có thể thất thủ. Thành ra Kiều Chinh vội vàng từ Singapore bỏ đi về Sài Gòn.
Về tới nơi ấy thì thấy trên đường phố người ta đi lại gồng gánh, xe nhà binh, xe tư nhân đi phi trường chật ních ra. Toàn là những người tìm đường để ra đi, trong khi Kiều Chinh lại đi trở lại trong một máy bay mà chỉ có mình ngồi để bay về Sài Gòn. Các máy bay đi ra thì đông chật người. Về tới nhà, cả gia đình ai cũng trách là về làm chi trong khi bao nhiêu người đang tìm đường để đi!"
Nhưng sau đó, Kiều Chinh cũng đã phải rời khỏi Việt Nam, bắt đầu cuộc sống của một nghệ sĩ lưu vong, như tựa cuốn hồi ký mà bà vừa giới thiệu với khán giả ở Paris.
Tại Pháp, mùa thu theo truyền thống là mùa ra mắt sách mới. Có một điều khá thú vị là trong thời gian gần đây, sách dạy nấu ăn vẫn bán chạy không kém gì tiểu thuyết đoạt giải văn học. Trong thời kỳ dịch Covid, nhiều gia đình không được đi đâu xa, nên mua sách học cách làm bếp ở nhà. Trong năm 2021, ngành xuất bản Pháp đạt kỷ lục 121 triệu euro doanh thu nhờ bán được 7 triệu quyển sách dạy nấu ăn.
Theo Viện nghiên cứu Nielsen, doanh thu đã giảm xuống đôi chút trong những năm sau đó nhưng vẫn ở một mức cao so với năm 2019, trước khi đại dịch bùng phát. Có thể nói, chưa bao giờ sách dạy nấu ăn lại nhiều và đa dạng đến như vậy : các quyển sách này giờ đây không chỉ đơn thuần giới thiệu những công thức làm bếp, mà còn giống như những quyển sách in về nghệ thuật, đẹp nhờ vào lối trình bày, thiết kế. Sách còn có thêm nhiều thông tin về văn hóa các quốc gia hay vùng miền, gần giống với các quyển cẩm nang du lịch, vì thế cho nên được nhiều bạn đọc như Icham tìm mua :
Icham : Những cuốn sách này cho phép chúng tôi khám phá những chân trời mới như thể đang đi du lịch, thông qua các món ăn mà tìm hiểu thêm về nhiều nền văn hóa khác. Đối với những người biết làm bếp, sách dạy nấu ăn là nơi họ có thể tìm thấy những ý tưởng mới lạ, những cách kết hợp độc đáo, những món ăn mà chúng tôi chưa từng làm trước đây, chứ không chỉ đơn thuần là sự kết hợp của thịt cá và rau quả .
Nhu cầu của độc giả tại Pháp dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà xuất bản. Vào mùa thu năm nay, sẽ có khoảng 480 cuốn tiểu thuyết được phát hành để chuẩn bị cho mùa giải văn học 2025 tại Pháp. Sách dạy nấu ăn (với khoảng 400 đầu sách mới) cũng sẽ chiếm một vị trí quan trọng trên các tủ trưng bày. Ngoài ẩm thực thế giới hay các công thức nấu ăn truyền thống còn có sách dạy làm bánh ngọt. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, nhà làm bánh Christophe Elder, tác giả của khoảng 50 cuốn sách chuyên về ẩm thực, cho biết độc giả thường tìm mua sách với các công thức đơn giản:
Christophe Elder : Chúng tôi có hai tiệm bánh ngọt ở vùng Alsace, chuyên bán các loại bánh ngọt nổi tiếng như bánh ngàn lớp (Mille-feuille) hay bánh su nhồi kem hạt dẻ (Paris-Brest). Ngay từ cuốn sách đầu tiên, tôi đã muốn truyền đạt những công thức đơn giản mà bạn đọc có thể tự làm ở nhà một cách nhanh chóng, tiện lợi mà vẫn không gặp nhiều khó khăn. Tôi luôn tìm cách lược bỏ bớt những chi tiết rườm rà trong cách làm bánh, rồi đưa những công thức này (đơn giản hơn trước) vào trong những quyển sách tiếp theo của tôi.
7 triệu sách dạy nấu ăn được bán trong một nămCông thức « đơn giản hơn » có lẽ vẫn chưa đủ, sách dạy nấu ăn hay làm bánh còn cần phải có lối thiết kế công phu, cách trình bày đẹp mắt, để thu hút sự tò mò của độc giả. Nhờ hội tụ những yếu tố ấy, quyển sách bìa màu hồng mang tựa đề « Pâtisserie » (Bánh ngọt) của Christophe Elder đã bán được hơn một triệu bản, kể từ khi được phát hành lần đầu tiên vào mùa thu năm 2020. Marion, chuyên viên làm việc cho nhà xuất bản La Martinière từng chứng kiến nhiều sự thay đổi trong lãnh vực này :
Marion : Xu hướng mới trong sách dạy nấu ăn là những quyển sách này giống như những món quà trang trí mà khách hàng Pháp mua về để biếu tặng cho nhau. Sách có lối trình bày đẹp mắt, từ ảnh chụp cho đến cách in ấn, giống như các tạp chí mỹ thuật thời trang. Sách cũng dày hơn nhiều từ 300 đến 400 trang. Sách không chỉ bao gồm các công thức nấu ăn, mà còn thường được kết hợp với nhiều giai thoại lịch sử văn hóa, thông tin hướng dẫn du lịch. Sách dạy nấu ăn thời nay thường là những quyển sách đẹp. Trong số những đầu sách phổ biến nhất có tác phẩm của đầu bếp người Anh Yotam Ottolenghi hay của đầu bếp Pháp Jean-Francois Mallet, được xem như hai hiện tượng của ngành xuất bản.
Đối với các chủ hiệu sách, những tên tuổi này mang đến nhiều cơ hội thuận lợi, cho phép họ bán những cuốn sách đắt tiền hơn, với giá trung bình dao động từ 35 đến 60 euro. Nhờ vào ảnh chụp ngoạn mục, tranh minh họa đầy ấn tượng, sách dạy nấu ăn tạo thêm cơ hội cho bạn đọc muốn đi tham quan du lịch. Điều này lại càng đúng với nền ẩm thực thế giới : kể cả các đầu sách nói về các món ăn Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ hay Việt Nam
Còn theo cô Deborah Dupont-Daguet, chủ tiệm sách chuyên về « Librairie Gourmande », nằm trên đường Montmartre, ở quận 2 Paris, sách dạy nấu ăn ngày càng phong phú đa dạng do nội dung liên tục được cập nhật, thay đổi hầu đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, thường quan tâm đến các trào lưu thời thượng.
Sách dạy nấu ăn luôn chạy theo các xu hướng thịnh hành. Điều này thật ra đã có từ lâu và thường liên quan đến các thiết bị gia dụng. Tại Pháp các quyển sách dạy nấu ăn phát triển mạnh từ đầu những năm 1950 với các đầu bếp như Ginette Mathiot hay Françoise Bernard. Vào thời bấy giờ, sách của họ một phần là để đơn giản hóa công việc của các bà nội trợ, nhưng đồng thời họ dùng công thức nấu ăn, để có thể bán thêm nhiều nồi áp suất cũng như những thiết bị gia dụng khác.
Cách đây khoảng 5 năm, các hộ gia đình ở Pháp tìm mua các loại máy robot tự nấu ăn, chỉ cần đưa các thành phần chế biến vào nồi, bấm nút tự động là khoảng 30 hay 45 phút sau, là có được một món ăn cho gia đình. Sau đó có làn sóng máy tự làm sữa chua, bánh mì, kem đông lạnh, pha cà phê hay làm nước ép trái cây …..
Từ khoảng một năm nay, lại bùng phát hiện tượng Airfryer, loại nồi chiên không dầu để chiên khoai tây, làm nem rán hay cánh gà nướng. Thị trường Pháp hiện nay ngập tràn những cuốn sách (Les recettes au Airfryer) với những công thức làm món ăn với nồi chiên không dầu. Mỗi quyển sách có thể được bán cả trăm ngàn bản.
Ngoài các thiết bị gia dụng, còn phải kể đến các chương trình thi nấu ăn hay làm bánh trên đài truyền hình, và hiện giờ tầm ảnh hưởng mạnh nhất đến từ nhóm người « influencer », rất nổi tiếng trên các mạng xã hội với hàng triệu thành viên quan sát « theo dõi ». Vì vậy, một số nhà sản xuất nghĩ rằng họ có thể dựa vào uy tín của các nhân vật này để bán hàng dễ dàng hơn. Cô Deborah Dupont-Daguet không chia sẻ quan điểm này :
Deborah Dupont-Daguet : Cách tính toán này không phải lúc nào cũng hiệu quả, đôi khi một « influencer » có hàng triệu người theo dõi trên TikTok, YouTube hay Instagram, nhưng các thành viên có thể đăng ký miễn phí để theo dõi những người họ ưa thích. Tuy vậy, chưa chắc gì những follower này sẽ chịu chi 30 euro để mua một cuốn sách dạy nấu ăn do các influencer quảng cáo trên tài khoản của họ. Một số người tiêu dùng chỉ mua, trong trường hợp đầu sách thật sự có nội dung.
Liệu cơn sốt xuất bản nhiều sách ẩm thực có từ từ hạ nhiệt hay chăng ? Đa số các chủ hiệu sách đều nghĩ rằng, hiện giờ, thị trường sách dạy nấu ăn tại Pháp gần như đã bão hòa, nhưng biết đâu chừng có thể bùng phát trở lại khi ngành xuất bản tìm ra được những « ý tưởng mới ».
From the publisher's feed
Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners