Tạp chí văn hóa

Tạp chí văn hóa

By RFI Tiếng ViệtArts
Download on the App Store

Tạp chí văn hóa episodes

  • Kiến trúc khí hậu: Làm sao để Paris không trở thành đô thị "không thể sống nổi" vì nắng nóng?

    Được coi là một trong những thành phố có nguy cơ tử vong lớn vì nắng nóng cao nhất châu Âu, thủ đô Paris của Pháp trong tuần này, đã bước vào mùa hè với nền nhiệt lên đến 37°C. Làm sao tái quy hoạch thành phố để đối mặt với các thách thức về khí hậu mà vẫn bảo tồn được di sản, lối kiến trúc tráng lệ của Haussmann, làm nên linh hồn của Paris ?

    Theo báo cáo của Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), lĩnh vực xây dựng chiếm tới tới 37 % tổng lượng phát thải carbon toàn cầu ; nếu tính thêm quá trình sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, thép nhôm, thì con số này có thể lên đến 39 %.

    Trong bối cảnh nước Pháp đang phải đối mặt với các đợt nắng nóng cực điểm xảy ra sớm hơn, do biến đổi khí hậu, đặc biệt là tại các đô thị lớn như Paris, vấn đề tái quy hoạch đô thị, để « làm mát » thành phố ngày càng trở nên cấp bách. Nhưng nên xây dựng như thế nào để đáp ứng các thách thức về khí hậu, ngày càng trở nên cực đoan hơn ? RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn kiến trúc sư Philippe Rahm về những giải pháp có thể được đưa ra.

    Ông Phillippe Rahm được biết đến với nhiều giải thưởng quốc tế, hiện tham gia giảng dạy tại nhiều trường đại học như trường Kiến trúc quốc gia Versailles của Pháp hay đại học Columbia ở Hoa Kỳ.

    Một trong những công trình đáng chú ý mà ông tham gia là công viên Central Parc ở Đài Trung Đài Loan, áp dụng kiến trúc « khí hậu », với lối tiếp cận coi các hiện tượng khí hậu (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, gió, ô nhiễm,…) là vật liệu thiết kế. Mục tiêu là làm sao để tạo ra không gian thoải mái, phù hợp với điều kiện khí hậu của địa phương và không nhất thiết phải dùng đến điều hòa không khí. Những nguyên lý kiến trúc này được ông mô tả trong cuốn sách Climatic Architecture.

    Ông được coi là người đưa ra nguyên lý « kiến trúc khí hậu », trước tiên, ông có thể giải thích cụ thể khái niệm này là gì ?

    Phillippe Rahm : Ý tưởng về kiến trúc khí tượng thực chất là việc quay trở về với bản chất nền tảng của kiến trúc. Vì sao con người cần đến công trình xây dựng? Bởi ngay từ đầu, kiến trúc được tạo ra để bảo vệ khi trời lạnh, cần tạo ra một không gian kín ấm áp để trú ngụ, đó là lý do có nhà cửa; khi trời nóng, thì cần bóng râm và sự thông thoáng để làm mát. Dù đôi khi bị quên lãng, chức năng chính yếu ấy vẫn là tạo ra những "vi khí hậu" (microclimat) có thể sinh sống được. Ngày nay, khoảng 37% đến 39 % lượng khí thải CO₂ toàn cầu đến từ lĩnh vực xây dựng, tức là chính kiến trúc cũng đang góp phần gây biến đổi khí hậu. Điều đó đặt kiến trúc vào một thế gọng kìm: vừa xuất phát từ khí hậu, vừa là nguyên nhân làm khí hậu xấu đi. Vậy tại sao chúng ta không dùng chính khí hậu để định hình kiến trúc,  thay vì dựa vào hình học, phép ẩn dụ hay biểu tượng như trước kia?

    Kiến trúc khí hậu, có nghĩa là, sử dụng các hiện tượng khí hậu hoặc khí tượng như đối lưu nhiệt, dẫn nhiệt, bốc hơi, bức xạ hay độ phát xạ nhiệt hoặc độ thoát nhiệt để thiết kế các tòa nhà và lựa chọn vật liệu.

    Thiết kế các hình dạng của một công trình, tòa nhà, dựa trên các hiện tượng khí hậu này và lựa chọn vật liệu cũng dựa trên các đặc tính nhiệt, làm mát hoặc làm ấm của chúng.

    Vậy kiến trúc khí hậu có gì khác biệt với kiến trúc hiện đại thông thường ?

    Phillippe Rahm : Kiến trúc hiện đại thực ra đã bị dẫn dắt bởi nhiên liệu hóa thạch. Từ thế kỷ 19, khi có hệ thống sưởi bằng lò, và từ những năm 1950 khi có điều hòa không khí, các kiến trúc sư không còn phải tạo không gian ấm áp hay mát mẻ thông qua hình khối hay vật liệu nữa. Vai trò đó chuyển sang cho kỹ sư cơ điện. Điều này khiến kiến trúc dần dần chỉ quan tâm đến thẩm mỹ, bỏ quên yếu tố khí hậu. Chúng ta có thể thấy những tòa nhà toàn kính mọc lên ở Dubaï, Việt Nam hay Đài Loan, bất chấp ánh nắng chói chang, bởi chỉ cần bật điều hòa mạnh hơn là xong.

    Tuy nhiên, chúng ta không thể tiếp tục cách làm này vì tài nguyên cạn kiệt và khí hậu đang nóng lên. Kiến trúc buộc phải quay lại bản chất nền tảng của mình. Trước kia, nếu muốn chọn màu sơn, ta chọn tùy ý : đỏ, xanh, tím… Còn bây giờ, ta phải ưu tiên màu sáng như trắng để phản xạ bức xạ mặt trời và giúp công trình mát hơn. Các phương pháp thiết kế vì thế đã thay đổi hoàn toàn so với vài năm trước.

    Tại Pháp, ông đánh giá thế nào về nhà ở, liệu có ứng phó được với tình trạng nắng nóng hay không và đâu là giải pháp ?

    Phillippe Rahm : Trước đây, mùa hè ở Pháp không quá nóng, chỉ đôi khi oi bức, nên các kiến trúc sư và công trình không hề quan tâm đến việc làm mát mùa hè. Họ chỉ tập trung chống lạnh. Đến thập niên 1970, việc cách nhiệt mới phổ biến nhưng chủ yếu vẫn là giữ ấm. Vì vậy, phần lớn công trình hiện nay không được thiết kế để chịu nắng.

    Muốn chống chọi hiệu quả với nắng nóng, phải nhìn vào bốn cơ chế truyền nhiệt: bức xạ (radiation), bay hơi (évaporation), dẫn nhiệt (conduction) và đối lưu (convection). Với bức xạ, cần tạo bóng râm bằng cửa chớp (volets) mái hiên rộng hay làm chắn nắng. Ở Pháp, đặc biệt ở Paris, rất nhiều nhà đã tháo bỏ cửa chớp, và tôi cho rằng cần phải lắp lại.

    Về bay hơi, đó là sự chuyển pha từ lỏng sang khí, hấp thu nhiệt từ không khí, giúp hạ nhiệt. Chúng ta có thể thấy nguyên lý này trong các đài phun nước ở Ý, Tây Ban Nha, hay cả trong nhà cổ ở Maroc, Ấn Độ, Iran. Nguyên lý đơn giản là sử dụng nước để làm mát, hạ nhiệt.

    Về dẫn nhiệt, cần tránh để nhiệt bên ngoài xâm nhập: vừa cách nhiệt (khoảng 20 cm len), vừa bảo đảm vật liệu bên trong có độ trễ nhiệt cao để tích trữ khi thời tiết lạnh xuống vào ban đêm, và để có thể làm mát vào ban ngày. Cuối cùng là đối lưu tức tạo luồng khí mát, chỉ hiệu quả khi không khí dưới 35°C. Nếu nóng hơn, lên tới 40°C, thì luồng gió như máy sấy tóc thổi vào người. Tôi cho rằng cần thiết kế cửa đối lưu, lỗ thoát khí trên cao như ở Thái Lan hay lỗ mái vòm như ở đền Pantheon ở Roma, Ý, để đẩy không khí nóng ra ngoài. Kết hợp khéo léo cả bốn cơ chế này trong xây dựng, thiết kế nhà ở, thì sẽ có giải pháp làm mát.

    Nhưng như vậy, chẳng phải đó đều là giải pháp cổ xưa?

    Philippe Rahm : Đúng vậy. Trong điều kiện nóng lên toàn cầu, chúng ta không thể chỉ dựa vào điều hòa, vừa làm nóng không khí xung quanh, tiêu tốn năng lượng, và dễ bị gián đoạn khi mất điện. Vì thế, cần trở lại các giải pháp thụ động (passive) từng rất hiệu quả ở các vùng khí hậu nóng.

    Những phương án đó vốn đã được con người nghĩ ra từ hàng thế kỷ trước ở các vùng khí hậu nóng. Thực tế, khí hậu thế giới đang dịch chuyển, tức là khí hậu xích đạo đang tràn lên vĩ độ nhiệt đới, nhiệt đới tiến vào ôn đới. Tại Pháp, đất nước đang phải tiếp nhận khí hậu mà trước đây chỉ có ở miền nam Tây Ban Nha hay Bắc Phi. Khi khí hậu thay đổi, hình thức đô thị cũng phải thay đổi theo.

    Paris và vùng phụ cận là một trong những thành phố ngày càng bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu, và hiện đang phải trải qua một đợt nắng nóng gay gắt, có thể lên tới 37°C. Nghiên cứu của tạp chí The Lancet (công bố năm 2023) chỉ ra rằng thủ đô Pháp sẽ trở nên nguy hiểm « chết người » nhất châu Âu vì nắng nóng cực điểm, với trung bình 400 ca tử vong do nắng nóng. Vậy vấn đề của Paris là gì? Đâu là những điểm yếu khiến thành phố khó chống đỡ với tình trạng nắng nóng cực đoan?

    Philippe Rahm : Paris cũng như nhiều thành phố ở châu Âu, không được thiết kế để ứng phó với nhiệt độ hiện nay. Chẳng hạn, đá dùng trong các tòa nhà kiểu Haussmann có độ dẫn nhiệt cao. Nhiệt từ không khí nóng bên ngoài dễ dàng truyền qua tường, và nếu nhiệt độ về đêm cũng không giảm, thì bên trong các căn hộ vẫn giữ nhiệt, khiến việc làm mát trở nên bất khả thi.

    Bên cạnh đó, hình thái đô thị cũng góp phần làm tăng hiện tượng “đảo nhiệt đô thị”. Ở Paris, các con phố thường rộng, cho phép ánh nắng trực tiếp chiếu xuống mặt đường. Trong khi đó, tại các đô thị miền Nam, đường phố thường hẹp hơn để hạn chế bức xạ mặt trời. Lịch sử quy hoạch đô thị luôn có mối liên hệ chặt chẽ với khí hậu. Nhưng hiện nay, khi khí hậu thay đổi, các nguyên tắc cũ dần trở nên không phù hợp. Điều này đòi hỏi phải tái thiết lại Paris.

    Nếu ông có thể can thiệp vào kiến trúc đô thị Paris, ông sẽ bắt đầu từ đâu để thành phố có thể “dễ thở” hơn vào mùa hè?

    Philippe Rahm : Tôi sẽ bắt đầu từ không gian công cộng. Trong quá khứ, quảng trường và nhà thờ là nơi trú ngụ tập thể - những không gian xã hội vừa có chức năng làm mát tự nhiên. Ngày nay, tại Paris hay New York, người ta bắt đầu nói nhiều đến các “trung tâm làm mát” (cooling centers), nơi công cộng để người dân không có điều hòa có thể đến tránh nóng.

    Ý tưởng này có thể mở rộng: ở độ sâu 5 đến 10 mét dưới lòng đất Paris, nhiệt độ chỉ khoảng 13 -  14°C quanh năm. Điều này có thể để tạo nên các “hang động đô thị”, tại mỗi quận, nơi người dân có thể tụ họp, trú nắng,  tương tự như những quảng trường rợp bóng cây ở Provence, hay vai trò làm mát của các nhà thờ tại Ý.

    Tôi sẽ bắt đầu từ đó: xây dựng các không gian công cộng thụ động, không phụ thuộc vào điều hòa. Tiếp theo là cải tạo nhà ở, bổ sung cách nhiệt, lắp lại cửa chớp, thiết kế các hệ thống chắn nắng. Ngoài ra, cần áp dụng “chiến lược trắng hóa” - sơn mái nhà màu trắng để phản xạ bức xạ mặt trời, tương tự như cách người Hy Lạp đã làm từ lâu.

    Làm thế nào để dung hòa giữa các thách thức về khí hậu mới và việc bảo tồn di sản, giữ gìn tinh thần Haussmann của Paris, tạo nên giá trị thẩm mỹ và du lịch của thủ đô?

    Philippe Rahm : Paris là một trong những thành phố được tham quan nhiều nhất thế giới, tạo nên giá trị du lịch. Nhưng giá trị ấy không phải lúc nào cũng tồn tại. Trước những năm 1960, người ta từng phá hủy nhiều công trình cũ. Không có nhiều sự tôn trọng dành cho di sản kiến trúc. Có thời điểm, thậm chí đã có đề xuất phá bỏ Nhà thờ Đức Bà Paris.

    Giá trị thị giác của các công trình hiện nay phần lớn đến từ góc nhìn du lịch, từ sức hút tài chính mà du lịch mang lại. Câu hỏi đặt ra là: liệu sức hút này có thể tồn tại mãi mãi?

    Có thể đến một lúc nào đó, nắng nóng trở nên quá mức chịu đựng, và ta buộc phải từ bỏ phần nào tầm nhìn du lịch truyền thống đó, để suy nghĩ khác đi. Có thể du lịch sẽ giảm, thói quen di chuyển của con người thay đổi.

    Ông đề cập đến việc thay đổi kiến trúc, ví dụ sơn mái nhà màu trắng. Tuy nhiên, màu xám ánh kim của các tấm tôn kẽm trên mái nhà ở Paris là đặc trưng trong thiết kế của Haussmann. Liệu người dân hoặc chính quyền có sẵn sàng chấp nhận các thay đổi đó?

    Philippe Rahm : Trong lịch sử từng có những thời kỳ con người buộc phải rời bỏ thành phố. Lấy ví dụ thời kỳ Tiểu băng hà vào thế kỷ XIV, khi khí hậu trở nên lạnh hơn. Các cộng đồng Viking hay Norman từng sống rất xa về phía Bắc đã phải dịch chuyển xuống phía Nam để tìm nơi ấm hơn. Nên chúng ta hoàn toàn có thể hình dung điều ngược lại ngày nay: những vùng quá nóng sẽ bị bỏ lại. Dù hiện tại nước Pháp vẫn ở vùng khí hậu ôn hòa, nhưng các mô hình dự báo cho thấy một số khu vực sẽ duy trì được nền nhiệt dễ chịu hơn, và các vùng này sẽ trở nên hấp dẫn hơn so với những thành phố ngày càng nóng như Paris hay Bordeaux.

    Ông đang gợi ý chuyển thủ đô sang một thành phố mát hơn?

    Philippe Rahm : Đúng, đó là một khả năng có thể xảy ra. Tuy nhiên, trước khi điều đó thành hiện thực, vẫn còn nhiều giải pháp kiến trúc và đô thị mà ta có thể áp dụng để thích nghi. Nếu nhìn đến các mốc như năm 2050 hay 2100, tình hình khí hậu có thể sẽ không đồng đều trên toàn lãnh thổ. Có thể đến một thời điểm nào đó, vùng Bretagne hoặc Normandie của Pháp, nơi có nhiệt độ thấp hơn, sẽ trở nên hấp dẫn hơn để sinh sống. Trong khi đó, các thành phố ở phía nam, chẳng hạn như Grenoble hay Bordeaux, đang ngày càng nóng lên. Lịch sử cho thấy đã từng có những dịch chuyển như vậy: có những thời điểm, một thành phố mất dần vai trò trung tâm đơn giản vì nó trở thành nơi không còn đáng sống nữa.

    10 min
  • 13 ngày đêm tại Kabul: Bi kịch Afghanistan được tái hiện bằng ngôn ngữ điện ảnh

    Làm sao kể lại câu chuyện lịch sử đau thương dưới ống kính điện ảnh một cách chân thực nhất ? Đó là câu hỏi mà đạo diễn người Pháp Martin Bourboulon đặt ra khi làm bộ phim "13 jours, 13 nuits", tạm dịch là “13 ngày đêm”, kể về những ngày hỗn loạn tại Kabul khi Taliban trở lại nắm quyền vào năm 2021 và Mỹ rút quân. Các nước phương Tây nhanh chóng sơ tán công dân. Bộ phim trình chiếu tại LHP Cannes lần thứ 78 và chính thức ra rạp tại Pháp, ngày 27/06/2025.

    Sau thành công vang dội với một bộ phim Les Trois Mousquetaires - Ba chàng lính ngự lâm (phần hai), lấy cảm hứng từ tiểu thuyết nổi tiếng của văn hào người Pháp thế kỷ 19 Alexandre Dumas, ra rạp tại Pháp năm 2023, đạo diễn Martin Bourboulon trở lại với thực tại, trình làng điện ảnh bộ phim "13 jours -13 nuits" (không tham gia tranh giải)tại LHP Cannes vừa qua.

    Bộ phim như một trang sử sống động qua từng thước phim, từng hình ảnh, mô tả bầu không khí hỗn loạn, ngột ngạt đến khiếp sợ, một cách chân thật nhất, vào những ngày hè tại Kabul năm 2021. Lúc đó, Mỹ rút quân, Taliban trở lại nắm quyền và sứ quán Pháp tại thủ đô Afghanistan được coi là một trong những nơi trú ẩn an toàn nhất. Đạo diễn Pháp đã chọn làm nổi bật vai trò của chỉ huy Mohamed Bida, phó tuỳ viên an ninh tại sứ quán Pháp ở Kabul, vài ngày trước khi nghỉ hưu, đã cố gắng bảo vệ tất cả những người Afghanistan đã hỗ trợ ông khi làm nhiệm vụ ở nước này.

    Cùng với một đội ngũ cảnh sát tinh nhuệ, chỉ huy “Mo”, do diễn viên Roschdy Zem thủ vai, qua các cuộc đàm phán gay go với Taliban, tìm mọi cách để di tản họ đến Pháp.

    Lấy cảm hứng từ những câu chuyện, sự kiện có thật, được kể lại trong cuốn sách của chính Mohamed Bida, phim của đạo diễn Martin Bourboulon đã gạt bỏ những cân nhắc về tranh cãi về địa chính trị xung quanh sự kiện đánh dấu lịch sử của đất nước Hồi giáo này, thay vào đó tập trung vào chiến dịch, được đặt tên "13 ngày, 13 đêm", sơ tán tổng cộng 2800 người, gồm cả phụ nữ và trẻ em.

    Bên lề LHP Cannes lần thứ 78, RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn đạo diễn  Martin Bourboulon về bộ phim mới nhất của ông.

    Sau một bộ phim vẽ lại chân dung của Gustave Eiffel, hay câu chuyện lãng mạn về Ba Chàng Ngự Lâm ở thế kỷ 19, đạo diễn quay trở lại phim trường và cho ra mắt một bộ phim ở thời hiện đại, đẫm mồ hôi và nước mắt, về bi kịch đến nghẹt thở ở Kabul những ngày hè nóng bức khi Taliban trở lại cầm quyền. Ông có thể cho biết điều gì đã thúc đẩy ông làm bộ phim này ?

    Tôi nghĩ rằng tất cả mọi người đều nhớ rõ những hình ảnh trong bầu không khí hỗn loạn tại Kabul, khi máy bay cất cánh, những người đàn ông, phụ nữ chạy theo, cố bám vào máy bay. Họ bất chấp rủi ro, muốn được di tản  bằng mọi giá, khi Taliban lên nắm quyền.

    Tôi chứng kiến những cảnh đó, dưới con mắt của một người phương Tây, sống trong một thế giới tự do, hòa bình, dĩ nhiên là giữ khoảng cách với sự kiện đó. Những hình ảnh ấy đảo lộn tâm trí tôi, khiến tôi bị rung động.

    Làm phim về sự kiện lịch sử là một chất liệu điện ảnh mà tôi rất thích, tôi coi đó là một khả năng để tạo ra một phim mang lại cảm giác hồi hộp, giật gân, từ một số sự kiện lịch sử. Nhưng bộ phim không chỉ có vậy. Với tôi đó là con đường, là lời kể, là câu chuyện của những người đàn ông, phụ nữ đó, rất đặc biệt, ấn tượng.

    Ông dựa vào những tư liệu nào để làm ra bộ phim này?

    Dĩ nhiên là để làm ra bộ phim này, chúng tôi cũng tìm kiếm nhiều tư liệu, tìm những nhân chứng cụ thể. Đoàn làm phim chúng tôi cũng làm việc với người Afghanistan, ví dụ như một cố vấn về kỹ thuật, là người Afghanistan và cũng tham gia đóng phim nữa. Chúng tôi cũng thu thập lời chứng của những người Afghanistan, cả đàn ông và phụ nữ, những người từng trải qua các sự kiện này, những người phải rời khỏi Afghanistan. Chúng tôi cũng tham khảo rất nhiều podcast, đọc nhiều tư liệu phim tài liệu hay các bài báo khác nhau, để giúp chúng tôi hiểu rõ về sự việc. Đối với chúng tôi, ngay từ đầu, mục đích thực sự của bộ phim là bám sát thực tế nhất, không bịa ra những sự kiện chưa từng xảy ra.

    Nếu so sánh những hình ảnh được các hãng tin và báo chí loan truyền và thước phim của ông, đúng là không dễ để phân biệt đâu là hiện thực, đâu là phim, ông có thể cho biết phim trường đã được xây dựng như thế nào để tái hiện lại những cảnh quay chân thực đến vậy ?

    Khi khởi xướng làm bộ phim này, chúng tôi đã phải nhanh chóng nghĩ về nơi có thể quay bộ phim ở đâu và Maroc ngay lập tức được đưa ra như là một lựa chọn là địa điểm lý tưởng để quay phim. Đơn giản là vì ở Maroc, có tổ chức và có những đội ngũ làm phim rất tài năng. Chúng tôi cũng đã có một số liên lạc tại Maroc và đã nhanh chóng đặt vali tại Casablanca. Chúng tôi đã xây dựng lại trên phim trường gần như toàn bộ sứ quán Pháp tại Casablanca và một phần sân bay Kabul ở Kenitra, gần Rabat.

    Xuyên suốt bộ phim là những cảnh bi kịch trải dài trong từng thước phim. Cảnh quay nào đặc biệt gây ấn tượng nhất đối với ông ?

    Hầu hết tất cả các cảnh quay đều rất đặc biệt đối với tôi. Một trong số đó là cảnh nhân vật Rose quay trở lại sứ quán, hay cảnh cô đi vào máy bay. Tôi không muốn tiết lộ nhiều, nhưng đó là một trong những cảnh ấn tượng nhất. Hay là cảnh quay cuối, trong đường hầm, khi đoàn tàu phải dừng lại trong đó, tạo một cảm giác hồi hộp đến ngộp thở, vì lo lắng trước mối đe dọa từ Taliban. Đó là một cảnh khá thú vị khi sản xuất trên phim trường.

    Khi làm bộ phim này, ông có phải đối mặt với thách thức nào hay không, về phương diện cảm xúc, tâm lý, cũng như logistic ?

    Thách thức của chúng tôi đó là làm sao tái hiện khung cảnh gần với hiện thực nhất. Vì bộ phim được lấy cảm hứng từ một câu chuyện có thật, đó là sức mạnh của bộ phim, trung thành với các sự kiện lịch sử. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cố tạo ra sự cân bằng giữa một bộ phim nghệ thuật, nhiều chuyển động, với những đặc trưng của một bộ phim tạo cảm  giác hồi hộp, giật gân, xen lẫn những cảm xúc rất con người, với những chuyện xảy ra, để khán giả có thể được trải nghiệm.

    Đối với ông, phim "13 ngày 13 đêm" là một nhân chứng lịch sử, hay là một tấm bi kịch của con người ?

    Bộ phim của tôi như là một nhân chứng lịch sử quan trọng, kể về một sự kiện xảy ra cách nay chỉ 4 năm thôi, và đó là một trong những chiến dịch quan trọng mà Pháp đã tổ chức (để sơ tán công dân). Có thể nói đó là một hành trình, một cuộc phiêu lưu, một sử thi dầy nhân văn, nhưng cũng đầy bi kịch, ảnh hưởng đến một bộ phận người dân, buộc phải chạy lánh nạn, dù họ không thực sự muốn rời khỏi đất nước.

    Ông muốn khán giả quốc tế có cảm nhận như thế nào sau khi xem bộ phim này ?

    Tôi nghĩ rằng bộ phim vén bức màn đằng sau cánh cửa sứ quán Pháp ở Kabul, về những nỗ lực mà Pháp đã làm trong chiến dịch sơ tán thời điểm đó. Một chiến dịch có thể nói là thành công, vì cho thấy những giá trị rất nhân văn, từ việc sứ quán mở cửa đón tiếp những người tị nạn chính trị, các nghệ sĩ, những công dân Pháp, những người bị chế độ mới trở lại Kaboul đe dọa. Đối với tôi, làm bộ phim này cũng là để nhắc nhớ mọi người rằng vẫn tồn tại một đất nước, nơi mà quyền tự do của phụ nữ, và đàn ông, bị đe dọa, bị coi thường. Đó là điều rất quan trọng, cần cân bằng cả hai, cả nghệ thuật lẫn lịch sử và thực tế.

    Xin cảm ơn đạo diễn Martin Bourboulon đã dành thời gian trả lời RFI Tiếng Việt.

    9 min
  • Nhiếp ảnh: Marc Riboud và những góc nhìn phản chiến, phi chính trị

    Cùng với chiếc máy ảnh Leica M3, Marc Riboud, nhiếp ảnh gia người Pháp qua đời năm 2016, trong vòng mười năm 1966 – 1976, lang thang từ Nam ra Bắc ở Việt Nam. Những bài phóng sự và những bức ảnh ông thực hiện, được đăng trên những trang báo quốc tế có uy tín (Le Monde, Paris Match hay Life), cho đến giờ vẫn được xem như là những bằng chứng độc đáo, sâu sắc về một trong những cuộc chiến tàn khốc nhất của thế kỷ XX.

    Ngày 12/05/2025 đã chính thức khép lại hơn hai tháng triển lãm tập ảnh phóng sự « Marc Riboud, Việt Nam 1966-1976 » do bảo tàng Guimet, Paris và Hội Những Người Bạn Của Marc Riboud đồng tổ chức. Cuộc triển lãm này diễn ra vào lúc 2025 đánh dấu đúng 50 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam. Bộ tập ảnh chiến tranh Việt Nam là một phần trong toàn bộ di sản ảnh ông để lại cho viện bảo tàng Guimet sau khi mất.

    Những câu chuyện kể qua ảnh

    Đối với nhiều người đến thưởng thức ảnh, đó còn là câu chuyện đau thương về một cuộc xung đột được Marc Riboud kể lại theo một cách độc đáo. Những bức ảnh trắng đen của ông đưa người xem đi từ Mỹ đến Việt Nam ở cả hai phía vĩ tuyến 17. Khác nhiều đồng nghiệp cùng thời, câu chuyện chiến tranh Việt Nam của ông xa nơi chiến tuyến, không cảnh chết chóc, không màn giao tranh.

    Marc Riboud, trong nhiều chuyến vào Nam ra Bắc, đã chọn tập trung ống kính vào một dân tộc Việt Nam, bằng một « tinh thần không gì lay chuyển với những phương tiện yếu kém đối mặt với một siêu cường hùng mạnh nhất thời đại ». Trên trang mạng tạp chí Fisheye, Lorène Durret, đồng phụ trách triển lãm « Marc Riboud, Việt Nam 1966 – 1976 » cho rằng « ông đã tiết lộ với thế giới bộ mặt con người kẻ thù lớn nhất của nước Mỹ ».

    Ông phơi bày gương mặt của kẻ vô danh : Những thiếu nữ trong độ tuổi thanh xuân hăng say lao động sản xuất, người vợ góa một sĩ quan miền Nam khóc thương mất chồng, những đứa trẻ chơi đùa giữa đống đổ nát, hay những nam công nhân đang chế tạo vũ khí phục vụ chiến tranh. Nhưng đôi khi đó cũng là một khoảnh khắc rất bình yên : Người phụ nữ và hai con nghỉ ngơi tại một trại sơ tán ở Huế, hay cặp tình nhân ngắm cảnh bên bờ hồ Hoàn Kiếm, phía sau là hầm tránh bom ...

    Như một kẻ bên lề, ông lặng lẽ quan sát, ghi lại những khoảnh khắc. Sự khiêm tốn trong cách chụp cùng với tài năng bố cục hình ảnh đã mang đến cho những bức ảnh của ông một vẻ đẹp nghiêm trang, một hương vị cảm xúc sâu sắc, theo như đánh giá từ trang Les Inrockuptibles.

    Trả lời RFI Tiếng Việt, Lorène Durret, phụ trách triển lãm, nhắc lại : « Chính ông đã viết "Tôi luôn nhạy cảm với cái đẹp của thế giới hơn là bạo lực và quái vật" Vì vậy, chính vẻ đẹp này mà ông tìm kiếm trong cuộc sống thường ngày và trong các cử chỉ, thái độ của mọi người, dù là phụ nữ hay trẻ em. Đây luôn là những bức ảnh rất nhân văn. Ông không hẳn thích được gọi là nhiếp ảnh gia theo chủ nghĩa nhân văn,vì ông không thích những nhãn mác đó, nhưng đúng là quý vị luôn tìm thấy ai đó trong những bức ảnh này và quý vị có cảm giác về một sự hiện diện rất mạnh mẽ ».

    Năm 1968 : « Huế, Guernica của Việt Nam »

    Marc Riboud có cái nhìn bình yên và rất dịu dàng về Việt Nam trong bối cảnh xung đột. Đối với Yannick Lintz, chủ tịch bảo tàng Guimet, « góc nhìn của ông mang lại một minh chứng tuyệt đẹp cho sức mạnh của nghệ thuật vượt lên trên tất cả, bao gồm cả bạo lực của cuộc chiến và những gì tạo nên cuộc chiến đó. »

    Thế nên, trong bức ảnh « Đổ nát tại trục đường chính của Hoàng Thành Huế » dưới ánh sáng bàng bạc, bên cạnh những ngôi nhà, con lộ tan hoang vì đạn pháo sau các trận đánh Mậu Thân 1968, là hình ảnh một người phụ nữ trong chiếc áo dài trắng thong dong quẩy gánh đi giữa những người phụ nữ bán hàng rong ngồi bên vệ đường. Cứ như thể chẳng có chuyện gì xảy ra !

    Trên báo Le Monde ngày 13/04/1968, trong bài viết « Thư từ Huế » ông tố cáo « Một thành phố bị sát hại ». Thư gởi cho người vợ đầu của mình, Marc Riboud không ngần ngại ví Huế như « Guernica của Việt Nam ». Tại Guernica, một xã ở miền bắc Tây Ban Nha, chỉ trong vòng 3 giờ, 44 chiến đấu cơ của phát xít Đức và 14 máy bay quân đội Ý đã đổ xuống gần 40 tấn bom, cày nát 85% diện tích thành phố, giết chết khoảng 2.000 người ngay trong ngày có chợ phiên. Một khung cảnh ác mộng. Một tội ác chiến tranh tày đình.

    Lorène Durret : « Marc Riboud đến Huế ngay sau hai đợt phá hủy liên tiếp, Hoàng Thành bị chiếm đóng một lúc trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, rồi sau đó quân đội Mỹ chiếm lại. Khi đến Huế, ông vô cùng bị sốc trước những gì ông chứng kiến. Hoàng Thành đã bị phá hủy nghiêm trọng, như có thể thấy trong những bức ảnh của ông.

    Có những ngôi mộ với đủ mọi kích cỡ trên phố, vì có người phải được chôn cất gấp. Còn người dân phải tị nạn trong những điều kiện khủng khiếp. Ông ở đấy và những hình ảnh này đã in đậm trong tâm trí ông sâu đậm đến mức, trong một lá thư gửi cho vợ mình là Barbara, ông đã thốt lên rằng "Huế là Guernica của Việt Nam." Ông nói về Huế như một thành phố bị giết hại và giải thích trong bài báo rằng bản thân thành phố đã bị phá hủy, nhưng cả linh hồn của nó và linh hồn của người dân cũng bị phá hủy bởi cuộc chiến. »

    Marc Riboud : Một nhãn quan tự do

    Marc Riboud luôn tin tưởng vào những quan sát của mình do lẽ ông không bao giờ là một nhà đấu tranh và có một ý thức chính trị sáng suốt. Catherine Riboud-Chaine, vợ góa của nhiếp ảnh gia, đã kể rằng « Marc luôn đứng về phía những người khốn khổ và chống lại sự áp bức. Ông có cái nhìn cực kỳ tự do ».

    Nhãn quan tự do đó đã đưa người xem đi từ chiếc hàng không mẫu hạm USS Enterprise ông đến tham quan cuối năm 1966, để rồi cũng trên báo Pháp Le Monde, ông kể lại làm thế nào những phi công trẻ tuổi đó « bị tuyên truyền » đến mức họ tin rằng họ chỉ đánh vào những mục tiêu quân sự. Rồi đến nước Mỹ với những cuộc biểu tình chống chiến tranh. Bức ảnh « Cô gái và Cành hoa » ông chụp tại Washington ngày 21/10/1967 trong một cuộc biểu tình đã lan truyền rộng rãi, đưa tên tuổi của ông ra toàn cầu.

    Lorène Durret : « Ông đã chụp ảnh tất cả những thanh niên Mỹ đang biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Ông đã theo dõi các hoạt động trong suốt cả ngày và đến cuối ngày, như ông tự mô tả, khi ánh sáng bắt đầu tắt, những người biểu tình bắt đầu giải tán thì ông nhìn thấy cô gái trẻ này xuất hiện trong ống kính của mình.

    Và ông tiến lại gần và cô làm cử chỉ giơ một bông hoa cúc về phía những người lính đang đối mặt với cô, về phía những người lính được trang bị lưỡi lê. Rõ ràng là cảnh tượng đó rất mạnh mẽ về mặt hình ảnh và có thể xem ở nhiều góc độ. »

    Ấn tượng nhưng cũng rất giản dị, bức ảnh đã thể hiện rõ nét đối lập ở một bên là cô gái rất rất trẻ, và bên kia là những người lính, cũng còn trẻ tuổi. Theo giải thích của Lorène Durret với RFI Tiếng Việt, sau này thế giới biết được cô gái trẻ đó là Jane Rose Kasmir, khi ấy 17 tuổi.

    Lorène Durret : « Vì vậy, theo tôi, cô ấy trở thành một biểu tượng và cô ấy có cử chỉ cầu nguyện với đôi bàn tay rất xinh đẹp cầm bông hoa này và đối mặt với cô là những người lính cũng có vẻ rất trẻ. Quả thực, chúng ta có cuộc đối đầu giữa hai giới trẻ. Bản thân ông cũng vui mừng khi bức ảnh này được dùng lại rộng rãi, đôi khi được dựng lại trong các cuộc biểu tình. Ngay cả ngày nay, khi có các cuộc tập hợp, nhiều người biểu tình thường diễn lại cảnh này và cuối cùng điều đó đã đi vào ký ức tập thể. »

    Cũng theo Lorène Durret, ít ai biết đến là nhờ bức ảnh này mà Marc Riboud có thể xin được thị thực đến Bắc Việt mùa thu năm 1968. Ông đã có được cuộc phỏng vấn khá hiếm vào thời điểm đó với Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, chụp một số bức ảnh, sau này đã được đăng lại rộng rãi trên nhiều tờ báo quốc tế.

    Nhiếp ảnh là để mô tả thế giới

    Phải chăng những bức ảnh huyền thoại này của Marc Riboud phần nào góp sức làm thay đổi dòng chảy cuộc chiến ? Ông từng nói : « Nhiếp ảnh không thể thay đổi thế giới, nhưng nó có thể mô tả thế giới, đặc biệt là khi thế giới đang thay đổi ». Ảnh tư liệu của ông đã gây rúng động thế giới về mức độ tàn khốc của cuộc chiến tranh Việt Nam dù không có một cảnh chết chóc nào. Ông tâm niệm rằng chúng sẽ là một bằng chứng lịch sử quan trọng cho hậu thế.

    Lorène Durret : « Ông tin rằng việc làm chứng là cần thiết, là vai trò của ông với tư cách  một nhiếp ảnh gia, rằng cần phải thể hiện và ghi lại cho tương lai. Nhưng tôi nghĩ rằng ông cũng không ảo tưởng về khả năng gây ảnh hưởng của một tấm ảnh đối với dòng chảy lịch sử, cũng như các quyết định chính trị.

    Nhưng trong mọi trường hợp, ông nhận thức được rằng những bằng chứng này rất quan trọng và ngày nay chúng ta thấy được điều đó trong việc phục nguyên mà chúng ta có thể thực hiện nhờ công trình của ông về một số sự kiện nhất định và những dấu vết trực quan của những sự kiến đó có một tầm quan trọng ».

    Tự do, phản chiến và phi chính trị, 10 năm rong ruổi, Marc Riboud đã mô tả cho thế giới thấy sức chịu đựng bền bỉ của cả một dân tộc dù ở phía bên nào trong một cuộc chiến phi lý, kéo dài và khốc liệt. Ông bày tỏ cảm thông, nhưng luôn trung thành với nguyên tắc độc lập. Năm 1976, một năm sau khi chiến tranh kết thúc, trước khi đất nước thống nhất, Marc Riboud không ngần ngại phơi bày một khía cạnh tiêu cực đau đớn khác, lên án chế độ chuyên chế thời hậu chiến.

    Lorène Durret : « Chúng tôi trưng bày trong cuộc triển lãm, những sự kiện diễn ra trong hơn 10 năm từ 1966 đến 1976, năm sau khi chiến tranh kết thúc, ngay trước khi thống nhất đất nước. Triển lãm cho thấy cả những khía cạnh tích cực, đó là cuộc sống được tiếp tục, những người lính trở về nhà, đoàn tụ với gia đình, công cuộc tái thiết và năng lượng tái thiết đó. Nhưng ảnh của ông cũng ghi lại những khía cạnh đau đớn khác và đặc biệt là các trại cải tạo dành cho cựu giới chức, sĩ quan miền Nam, việc thành lập các vùng kinh tế mới với những đợt cưỡng bức di dời dân .

    Chính việc giữ khoảng cách này đã cho phép ông làm chứng và kể một câu chuyện đang diễn ra và đang được thực hiện mà không thiên vị, không chỉ tập trung vào những điều mà ông muốn thấy hoặc những điều mà giới quan sát bên ngoài muốn thấy. »

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn Lorène Durret, đồng phụ trách triển lãm « Marc Riboud, Việt Nam 1966 – 1976 », bảo tàng Guimet, Paris.

    12 min
  • Ateliers Varan Vietnam: Vườn ươm đạo diễn phim tài liệu Việt Nam

    Ngày 03/04/2025, 3 bộ phim tài liệu của các đạo diễn trẻ Việt Nam đã được trình chiếu tại Paris. Đây chính là thành quả mới nhất của tổ chức Ateliers Varan của Pháp mà từ 20 năm qua đã đóng góp rất nhiều vào việc đào tạo các nhà làm phim tài liệu Việt Nam. 

    Ateliers Varan do đạo diễn phim tài liệu Jean Rouch thành lập vào năm 1981 với mục tiêu đào tạo các nhà làm phim dựa trên thực hành là chủ yếu. Ngay từ khi thành lập, Ateliers Varan đã tổ chức các trại sáng tác ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có trại sáng tác đầu tiên ở Việt Nam vào năm 2004. Từ đó cho đến nay, rất nhiều trại sáng tác được tổ chức ở 3 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn, đào tạo được rất nhiều nhà làm phim tài liệu thế hệ mới cho Việt Nam.

    Năm 2024, đúng vào dịp kỷ niệm 20 năm Varan Việt Nam đã tổ chức một trại sáng tác phim tài liệu về chủ đề y tế. Các học viên của chương trình này đã cho ra đời 8 phim ngắn và 3 trong số này đã được giới thiệu tại trụ sở của Ateliers Varan ở Paris hôm 03/04.

    Trong bộ phim được chiếu đầu tiên “Người Cất Mả” của đạo diễn Nguyễn Ánh, người xem theo chân hai anh em ông Bình và ông Ngọc để cảm thông với công việc nặng nhọc bất kể ngày đêm của những người chuyên làm công việc cải táng, một công việc mà về lâu dài sẽ tác hại nặng nề đến sức khỏe của họ do thường xuyên hít phải khí độc từ các tử thi đã thối rữa.

    Phim thứ hai, “Toàn ơi”, của Nguyễn Hồ Bảo Nghi đưa khán giả đến với thế giới của những người mắc Hội chứng Down ( Hội chứng đần Mông Cổ ), một bệnh do rối loạn di truyền, với nhân vật chính là Toàn, tuy đã hơn 30 tuổi nhưng đầu óc vẫn như trẻ con, sống trong những ảo tưởng, đến mức tự xem mình là một cảnh sát bảo vệ an ninh trật tự cho khu phố.

    Trong bộ phim thứ ba, “Gió mùa về” của đạo diễn Lê Thị Thắm, khán giả thâm nhập thực tế của một trung tâm chăm sóc bệnh nhân tâm thần Ba Vì, Hà Nội, để thấu hiểu tâm tư của những người sống trong đó, luôn khao khát được trở về với gia đình, về với cuộc sống bình thường.

    Trả lời RFI Việt ngữ trước buổi chiếu phim hôm đó, bà Sylvie Gadmer Tiên, phụ trách các khóa đào tạo của Varan Vietnam, cho biết:

    “Năm 2024, chúng tôi kỷ niệm 20 năm ra đời các trại sáng tác Varan Vietnam. Đây quả là một cuộc hành trình dài. Tôi  tham gia vào năm 2002 và đã cùng với André Van In, một thành viên khác của Varan, phát triển nhóm Varan Vietnam mà ông đã điều hành trong 20 năm qua. Rất tiếc là ông đã qua đời. Tôi muốn tôn vinh ông, vì nếu không có ông thì chúng ta đã không có được như ngày nay. Cùng với Trần Phương Thảo, giảng viên chính của Varan Vietnam, chúng tôi cố làm hết sức để tiếp tục sự nghiệp của ông. 

    Chúng tôi giống như là những cựu học sinh và nay đến lượt mình truyền tải cho những người khác, lần này là cho 8 nam, nữ đạo diễn trẻ Việt Nam, những kỹ năng làm phim tài liệu qua thực hành theo tinh thần của điện ảnh thực tế. Trong các trại sáng tác của Varan, chúng tôi giảng dạy điện ảnh thực tế, hay nói cách khác là thực hành trong thực tế, để từ đó mọi người tự định hướng cho mình là sẽ tiếp tục làm phim tài liệu, hay là chuyển sang làm phim truyện. 

    Đó là cách tiếp cận theo kiểu lấy cảm hứng từ thực tế và thiết lập các mối liên hệ thân mật với các nhân vật trong phim. Các nhân vật của thực tế trở thành nhân vật của điện ảnh một khi những hành động của họ, cơ thể của họ, những lời nói của họ được thu vào ống kính.

    Varan giống như một ngôi trường mà từ đó mỗi học sinh, tùy theo cảm xúc, mong muốn, phát triển sang thể loại phim truyện hay vẫn theo con đường phim tài liệu, theo phong cách của Varan hay theo một phong cách khác. Varan là một nền tảng và là nền tảng rất vững chắc để mỗi người nhận thức rõ thế nào là phim tài liệu.”                              

    Trong số các học viên của Varan, một số người sau đó đã đoạt giải quốc tế, như Hà Lê Diễm đã đoạt giải “Đạo diễn xuất sắc nhất” hạng mục “Tranh giải quốc tế” (International Competition) với phim “Những đứa trẻ trong sương” (Children of the Mist) tại Liên hoan phim tài liệu quốc tế Amsterdam 2021.

    Điểm độc đáo của Ateliers Varan đó là có sự tiếp nối: thế hệ các học viên vẫn tiếp tục đồng hành để tham gia đào tạo thế hệ đạo diễn mới, theo lời bà Sylvie Gadmer: 

    “Đó chính là đặc trưng của Varan. Mong muốn của chúng tôi là đào tạo để giúp mọi người lập ra các nhóm điện ảnh. Sứ mệnh của Varan không phải là chỉ đào tạo tại chỗ, mà là truyền bá những kiến thức. Chính trong tinh thần đó mà vào năm 2014, André Van In đã lập ra những lớp đào tạo giảng viên, đến tận nơi để dạy cho các học viên cũ cách truyền đạt những kiến thức của họ cho người khác.Hiện nay, chúng ta đã có nhóm Varan Vietnam chuyên đào tạo những học viên cũ.

    Tất cả những việc đó được tiến hành ở Việt Nam, ngoại trừ thời gian đại dịch Covid. Một nhóm thành viên người Pháp lẽ ra đã đi Việt Nam để làm việc cho các lớp ở Việt Nam, nhưng họ đã không thể đi được, nên đã phải tiến hành mọi thứ qua video, hậu kỳ cho các phim thì làm ở Paris. Rất khó khăn, nhưng đó cũng là tình hình chung lúc đó, tuy vậy, ngay trong thời kỳ Covid, chúng tôi đã cố gắng duy trì mối liên hệ dưới nhãn quan kép này để làm sâu sắc hơn các dự án.” 

    Điều đáng chú ý, theo bà Sylvie Gadmer, đó là lần tuyển sinh năm ngoái đã có rất nhiều người dự tuyển vào trại sáng tác của Varan Vietnam : 

    “Năm ngoái, Varan đã rất thành công khi tuyển sinh. Chúng tôi đã nhận được khoảng 150 đơn dự thi, một số lượng rất lớn. Trần Phương Thảo cùng với Lê Minh, Hà Lê Diễm, cũng là những đạo diễn của Varan, đã đóng góp rất nhiều vào việc tuyển chọn thí sinh, phỏng vấn, cứu xét hồ sơ. Việc tuyển chọn dựa trên nhiều tiêu chí, trước hết là phải có sự bình đẳng nam nữ trong số các học viên của trại sáng tác, rồi phải ưu tiên cho giới trẻ, đánh giá chất lượng và khát vọng của các học viên đó, cũng như khả năng của họ duy trì truyền thống của Varan.

    Chúng tôi không chỉ đào tạo các đạo diễn mà đào tạo những thành viên tương lai của Varan Vietnam. Ta có thể nêu ví dụ của Hà Lê Diễm, người đã thực hiện bộ phim “Những đứa trẻ trong sương”, sau khi dự khóa học của Varan năm 2016, nay vẫn tham gia vào việc tuyển chọn học viên, tham gia các hoạt động của trại sáng tác, nhưng vẫn bắt đầu tập trung để làm bộ phim truyện đầu tay của cô.”

    Toàn bộ 8 bộ phim được thực hiện nhân kỷ niệm 20 năm ra đời của Varan Vietnam đều có chủ đề về y tế. Bà Sylvie Gadmer Tiên giải thích:  

    "Tại sao lại tổ chức theo chủ đề? Bởi vì chủ đề cũng đóng vai trò như chất kết dính cho trại sáng tác. Chủ đề sức khỏe được Thảo chọn vì đây là vấn đề đã được bàn luận từ lâu. Đây là một chủ đề rất quan trọng và thực sự phản ánh xã hội.  Đó là vấn đề mà người Việt Nam ngày càng quan tâm, và thậm chí còn quan tâm nhiều hơn kể từ khi có Covid, Vấn đề này rất nhạy cảm ở Việt Nam vì có sự chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. 

    Sau đó, trong các dự án cá nhân, mỗi học viên sinh sẽ đề xuất một chủ đề riêng của mình. Nhưng những người hướng dẫn phải đánh giá liệu các chủ đề đó có thể làm được thành phim hay không và nếu được thì phim có thể có thể được thực hiện trong khuôn khổ thời gian của trại sáng tác hay không. Có một số chủ đề rất hay, nhưng trại sáng tác chỉ kéo dài 3 tháng, với thời gian quay phim khá ngắn, chỉ từ 4 đến 5 tuần. Cho nên, chính những giảng viên, với kinh nghiệm của mình, thông qua thảo luận với học viên, sẽ đánh giá liệu dự án đó có khả thi hay không. Nhưng đây là những lựa chọn cá nhân.

    Sau buổi chiếu tối 03/04, bà Sylvie Gadmer Tiên cho biết họ dự trù một buổi chiếu khác ban ngày vào một ngày cuối tuần để giới thiệu toàn bộ 8 bộ phim và thêm thời giờ cho khán giả trao đổi với các đạo diễn Việt Nam.

    10 min
  • Giải Ecoprod 2025: Khi điện ảnh có trách nhiệm với môi trường tại LHP Cannes

    Ra đời cách nay 4 năm, Giải thưởng Ecoprod đã được lập ra để vinh danh các bộ phim “xanh”, bên lề Liên hoan phim Cannes, nhằm nâng cao nhận thức, khuyến khích các nhà làm phim áp dụng những biện pháp thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất. Tại Liên hoan phim Cannes năm nay, 18 phim trong các hạng mục khác nhau, tham gia tranh giải.

    Lễ trao giải Ecoprod 2025 đã diễn ra tại Cannes vào thứ Sáu, 16/05. Ban tổ chức giải thưởng cho biết vào năm 2024, có 9 phim đăng ký tham gia tranh giải, con số này đã tăng lên gấp đôi vào năm 2025 và khẳng định rằng “đây là bằng chứng cho thấy ngày càng có nhiều người trong ngành công nghiệp điện ảnh thể hiện cam kết sản xuất các bộ phim một cách có trách nhiệm với môi trường”.

    Ban giám khảo do đạo diễn, biên kịch Carine Tardieu làm chủ tịch năm nay, đặc biệt chú ý đến các biện pháp được thực hiện để hạn chế tác động carbon, kiểm soát mức tiêu thụ năng lượng, bảo vệ đa dạng sinh học, giảm chất thải và thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn trong quá trình sản xuất phim. Bà Émilie Kovacs, thành viên của ban giám khảo cho rằng “trách nhiệm của điện ảnh trước tình trạng khẩn cấp khí hậu là rất lớn. Với sức mạnh kể chuyện, lĩnh vực này có thể thúc đẩy quá trình chuyển đổi sinh thái, miễn là có những cam kết, hành động cụ thể ở mọi cấp độ sản xuất”, trong ngành công nghiệp thải ra 1,7 tấn carbon mỗi năm.

    Giải thưởng cao quý nhất được trao cho bộ phim Jeunes Mères của hai anh em đạo diễn người Pháp Jean-Pierre và Luc Dardenne, nằm trong danh sách tranh giải chính thức, do hãng Les Films du Fleuve phụ trách sản xuất. Ban giám khảo đánh giá cao những hành động "xanh" toàn diện trong quá trình sản xuất phim, và những cam kết về môi trường của nhà sản xuất từ nhiều năm qua, cũng như phong cách điện ảnh giản dị, nhưng đầy tính nhân văn của anh em nhà Dardenne.

    Đoàn phim đã áp dụng loạt biện pháp tiết kiệm năng lượng, từ việc hạn chế thiết bị, di chuyển cho đến hậu cần bền vững. Việc dựng bối cảnh nhân tạo được giảm thiểu rõ rệt, phù hợp với thẩm mỹ chân thực vốn có, theo ý tưởng của hai đạo diễn. “Lựa chọn nghệ thuật của hai đạo diễn nhà Dardenne phù hợp với logic sản xuất phim ‘xanh’, đặc biệt là mong muốn giảm thiểu tối đa việc sử dụng ánh sáng nhân tạo, vốn là một phần của tính thẩm mỹ tỉnh táo và thực tế.

    Giải thưởng của Ban giám khảo (Prix du Jury) thuộc về phim Laurent dans le vent nằm trong danh sách tranh giải ACID – hiệp hội các nhà làm phim độc lập, do ba đạo diễn Anton Balekdjian, Léo Couture, Mattéo Eustacho, thực hiện. Việc sản xuất phim không sử dụng quá nhiều thiết bị kỹ thuật, ít máy móc can thiệp vào phim trường.

    Bối cảnh quay phim hầu hết là tự nhiên, sẵn có, chứ không xây dựng bối cảnh giả. Trang phục, đạo cụ trong phim hầu hết là đồ cũ, tái sử dụng, không chỉ tạo ra hình ảnh “cổ kính”, “xưa cũ”, cho bộ phim, mà còn giảm thiểu chi phí, giảm tiêu dùng. Trên phim trường, không có người phụ trách trang điểm hay làm tóc để làm nổi bật vẻ ngoài tự nhiên của các diễn viên.

    Và cuối cùng bộ phim Amour Apocalyse (Peak Everything) tranh giải hạng mục Hai tuần lễ đạo diễn của nhà làm phim Anne Emond, người Quebec, được trao giải Đặc biệt của ban giám khảo. Trên phim trường, một “ủy ban xanh” đã được lập ra, gồm một diễn viên và thành viên của đội ngũ sản xuất, kỹ thuật, phụ trách về “truyền thông xanh” mỗi tuần, thông báo cho toàn bộ phim trường về những hành động “xanh” trong quá trình làm phim. Bối cảnh của phim cũng được xây dựng từ những vật liệu tái chế, tái sử dụng. Đội ngũ làm phim cũng quản lý việc thu gom, phân loại, tái chế rác trên phim trường.

    Ban giám khảo cũng hoan nghênh việc Amour Apocalypse là bộ phim nói về những lo lắng, quan ngại về biến đổi khí hậu. Tác động đối với môi trường đã được nêu ra ngay từ việc viết kịch bản.

    Nhân dịp này RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn đạo diện Anne Emond, hôm 19/05, sau khi cô cho ra mắt bộ phim Amour Apocalypse (tạm dịch là Tình yêu tận thế) chia sẻ về bộ phim đầu tiên mà cô thực hiện song song với các cam kết về môi trường trong quá trình sản xuất. Bộ phim được lựa chọn tranh giải tại hạng mục Hai tuần lễ nghệ sĩ (Quinzaine des cinéastres).

    Xin cảm ơn cô Anne Emond dành thời gian trả lời phỏng vấn của RFI Tiếng Việt. Trước tiên cô có thể chia sẻ về ý tưởng làm một bộ phim về khủng hoảng khí hậu xuất phát từ đâu ?

    Trong đại dịch Covid-19, vấn đề môi trường trở nên cấp bách đối với tôi và cần phải đề cập đến. Đây là bộ phim thứ sáu của tôi, nhưng là bộ phim đầu tiên mà tôi đã tuân thủ những hướng dẫn, những tiêu chuẩn đề ra một cách tốt nhất có thể, để hướng tới thân thiện với môi trường. Nhưng việc làm một bộ phim về nỗi lo âu đối với khủng hoảng khí hậu, chỉ là một trùng hợp. Thêm vào đó, tôi có đội ngũ sản xuất phim tuyệt vời, đã dành nhiều năng lượng vào khía cạnh sinh thái khi làm phim.

    Bộ phim có tựa đề bằng tiếng Pháp là Amour Apocalypse – Tình yêu tận thế, nhưng khi dịch sang tiếng Anh lại chọn lựa là Peak Everything ?

    Về tựa đề bằng tiếng Anh – Peak Everything, mang hàm ý về khoa học, về “lý thuyết tạo đỉnh” (của nhà địa vật lý Marion King Hubbert). Mọi người có lẽ đã biết đến từ Peak Oil - điểm đỉnh dầu thô, tức là điểm mà sản lượng dầu thô được khai thác đạt mức tối đa. Không chỉ dầu, mà các tài nguyên khác như nước, gỗ, khoáng sản khác, đều đang ở mức khai thác tối đa. Thêm vào đó là việc muốn xâm lược quốc gia khác để tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên. Chẳng hạn như Donald Trump muốn nước Mỹ có bang thứ 51, không phải là để mở rộng lãnh thổ, mà là để có thêm tài nguyên. Do đó với tôi, tiêu đề Peak Everything ám chỉ đến việc thiếu tài nguyên thiên nhiên trong tương lai. Và nhân vật chính trong phim của tôi, Adam, dường như đang trong cuộc phiêu lưu đó, muốn phá hủy mọi thứ, chạm đến điểm “Peak”, vượt qua mọi bức tường, và vượt qua các giới hạn của chính mình.

    Làm sao cô có thể cân bằng những lựa chọn nghệ thuật và lựa chọn về cam kết môi trường trong khi làm phim ?

    Tôi không phải là một chuyên gia khi nói đến việc phải lựa chọn. Nói thật là tôi không muốn đơn giản hóa, vì nếu quay phim về hai nhân vật ở trong một căn phòng thì chắc chắc sẽ ít gây ô nhiễm hơn. Nhưng như vậy, tôi nghĩ rằng đó là điều đáng buồn với điện ảnh. Vì dẫu sao, với tôi điện ảnh là một trong những thứ đẹp đẽ nhất mà nhân loại đã sáng tạo ra. Liệu chúng ta có nên làm ít phim hơn không? Liệu có nên cắt giảm ở những chỗ khác nữa? Tôi cho rằng có nhiều thứ có thể giảm bớt, chẳng hạn như loại bỏ những chiếc máy bay riêng. Điều này giống như một kiểu 'hóa đơn tổng thể' mà chúng ta cần chia sẻ lại một cách công bằng hơn.

    Thành thật mà nói, nếu muốn cứu lấy hành tinh, thì lý tưởng nhất là… đừng làm phim. Vì điện ảnh gây ô nhiễm. Nhưng tôi tin nghệ thuật có vai trò đặc biệt trong việc đánh động nhận thức, truyền cảm hứng thay đổi. Tôi coi đó là một sứ mệnh, các nghệ sĩ đóng vai trò quan trọng, cần phải bắt đầu nói về khủng hoảng tài nguyên - sắp bị khai thác đến cạn kiệt.

    Cô nghĩ thế nào về mối liên hệ giữa điện ảnh và trách nhiệm đối với môi trường ?

    Làm phim cũng rất tốn kém. Thêm vào đó, cần phải dành thêm ngân sách để có thể tạo ra một trường phim xanh nhất có thể, ví dụ như việc lựa chọn loại xe, tái chế rác, phân loại rác...

    Tôi cho rằng rất khó có thể hành động nhất quán, phù hợp với cam kết về môi trường. Khi quyết định làm phim là phải biết rằng sẽ tiêu tốn nhiều nguồn tài nguyên... Để đến dự liên hoan, tôi đã đi máy bay, tôi đã mua các bộ váy, tôi tiêu xài khá nhiều và đúng là rất khó để có những hành động không gây mâu thuẫn.

    Khi xem phim của mình được chiếu tại rạp trong liên hoan này, tôi đã nhận được rất nhiều tình yêu, những tiếng cười và sự ủng hộ của khán giả. Và tôi tự nhủ, tất cả những người vừa xem phim có thể sẽ cảm được thông điệp của phim, họ sẽ suy nghĩ về lựa chọn của họ, về biến đổi khí hậu, về chủ nghĩa tư bản,... Tôi tự nhủ rằng bộ phim của mình là một hành động giao tiếp, và tôi nghĩ đó cũng là một lựa chọn khi làm ra một phim phải dễ tiếp cận và hài hước. Đây không phải là một bộ phim 'kén khán giả', không phải làm ra để lấy lòng ai, cũng không lên lớp đạo đức. Phim của tôi không nhắm đến giới phê bình hay những người trong giới điện ảnh hàn lâm. Với tôi, bộ phim này dành cho khán giả đại chúng, đó là một phần trong vai trò, trong sứ mệnh của chúng tôi, những người làm phim.

    RFI xin cảm ơn đạo diễn Anne Emond, đã dành thời gian chia sẻ với thính giả của RFI Tiếng Việt.

    10 min
  • Ẩm thực : Dễ làm trên TikTok nhưng học nghề lại khó

    Trên các mạng xã hội, các công thức nấu ăn, các bức ảnh chụp hay video về nghệ thuật ẩm thực rất thịnh hành phổ biến, nhất là đối với giới trẻ thích Instagram và TikTok. Thế nhưng, đằng sau nét quyến rũ mê hoặc của những món ăn với lối trình bày đẹp mắt, đằng sau nét lộng lẫy hào nhoáng của những ngôi sao Michelin, là cả một quá trình rèn luyện đào tạo đòi hỏi nhiều thời gian và công sức.

    Theo khảo sát gần đây của cơ quan Ipsos, 58% bạn trẻ ở Pháp trong độ tuổi 15-35 đều xem thường xuyên tài khoản của các ngôi sao ẩm thực, các tiệm bánh hoặc nhà hàng trứ danh. 67% thanh niên Pháp cũng thường xuyên tham khảo công thức nấu ăn của những đầu bếp mà họ yêu thích. Ngày nay, ngành ẩm thực là một lãnh vực năng động : các bạn trẻ chọn nghề này vì họ dễ tìm được việc làm một khi tốt nghiệp ra trường. Thế nhưng, một số bạn trẻ cũng không tránh khỏi sự thất vọng : đằng sau dáng vẻ hào nhoáng, được phản ánh qua mạng xã hội hay các chương trình truyền hình, các ngành nghề ẩm thực trong thực tế đòi hỏi tính siêng năng, cần mẫn. Nghệ thuật ẩm thực là bệ phóng cho nhiều tài năng trẻ tuổi, nhưng để thành danh, tài năng mới ấy cần có thời gian đào tạo hay để trau dồi tay nghề. Đó là nhận xét của đầu bếp Anto Cocagne, tác giả chuyên viết sách dạy nấu ăn và chủ cửa hàng thực phẩm cao cấp Baraka ở Paris. 

    "Tôi nhận được tin nhắn của khá nhiều bạn trẻ nói với tôi rằng họ muốn đeo đuổi ngành ẩm thực nhưng gia đình lại không muốn như vậy. Có lẽ cũng vì đây còn là những nghề chưa được coi trọng, các bạn trẻ chọn nghề này bị đánh giá là họ không có nhiều tham vọng. Quan niệm ấy khiến nhiều gia đình muốn con em mình chọn nghề « danh giá » thay vì làm đầu bếp hay làm việc trong ngành phục vụ ăn uống. Gia đình tôi cũng vậy, giờ đây bố mẹ tôi rất mừng khi nhìn thấy con mình thành đạt, nhưng thực tế là lúc đầu, chuyện làm bếp hay mở cửa hàng bán thực phẩm không phải là mong muốn của gia đình tôi. Nhiều bạn trẻ xem nhiều video trên TikTok, rồi nghĩ rằng nấu ăn cũng dễ thôi, chỉ cần học trên mạng. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, bạn không thể đơn thuần học nấu ăn trên TikTok. Bản thân tôi từng được đào tạo bài bản về cách nấu ăn, từng tham gia các chương trình ẩm thực trên đài truyền hình, nhưng tôi vẫn phải quay lại học một khóa đào tạo về cách làm bánh ngọt. Khi làm món tráng miệng, tôi không hiểu vì sao loại bánh choux của tôi lại không ngon. Khi trở lại trường lớp, tôi mới hiểu rằng, có những động tác cách làm, ta không thể học được từ xa hay trên mạng, ta cần được một chuyên gia hướng dẫn từng động tác cử chỉ và cần được giải thích lý do tại sao ta nên làm theo cách này chứ không phải cách khác". 

    Đọc thêmGuillaume Gomez : Vị đại sứ mang ẩm thực Pháp đi khắp thế giới

    Các video trên TikTok thường phản ánh một cách chớp nhoáng những nét lộng lẫy, ngoạn mục nhất của nghệ thuật ẩm thực. Nhưng đó thường là thành quả, chứ không phải là quá trình thực hiện, càng công phu càng đòi hỏi nhiều thời gian. Theo ông Pascal Maillou, hiệu trưởng của Lycée Bélliard, một trường trung học cấp hai chuyên dạy nghề ẩm thực tại Paris, nhiều đầu bếp nổi tiếng thường được mời đến trường để truyền đạt kinh nghiệm của họ và nhất là để giải thích về thực tế nghề nghiệp của ngành ẩm thực. 

    "Trường chúng tôi thường mời những đầu bếp nổi tiếng đến tư vấn và hướng dẫn giới học sinh trong khuôn khổ chương trình « masterclass ». Gần đây, chúng tôi đã mời một số nghệ nhân xuất sắc nhất của Pháp, nhờ kinh nghiệm chuyên môn và nhiều năm tay nghề nên họ đoạt giải Meilleur Ouvrier de France (MOF). Các chuyên gia này tạo động lực cho các học sinh, nhưng đồng thời giải thích về những điều mà các em cần phải trao dồi : tính kiên nhẫn chịu khó và độ chính xác thuần thục. Cả hai đều đòi hỏi nhiều thời gian, hầu hết những đầu bếp lớn đều phải trải qua giai đoạn này mới đạt được thành công trong sự nghiệp hay uy tín của các cuộc thi quốc tế. Tuy nhiên, đa số các học sinh thường nhìn thấy các ưu điểm bề ngoài, mà lại chóng quên rằng, ở trường lớp, họ còn phải học nhiều thứ khác bị cho là khô khan, không dễ thuộc lòng. Chẳng hạn như trường Bélliard có mở lớp đào tạo về các điều kiện vệ sinh, từ chuyện lau chùi trong bếp cho đến bảo quản thực phẩm. Khóa đào tạo kéo dài trong nhiều kỳ này là một lớp học bắt buộc, nếu không học thì thí sinh sẽ không nhận được bằng cấp. Tại Pháp, để có được bằng CAP của một trường dạy nghề, bạn phải theo học một số lớp đào tạo nhất định (thường là 400 giờ trong hai năm). Vì vậy, nghề nấu ăn hay làm bánh nếu muốn có bằng cấp, cần có sự đào tạo bài bản, chứ không thể học cấp tốc từ xa hay chỉ được xem qua các video hướng dẫn trên TikTok. Một công việc càng đòi hỏi tay nghề và kỹ thuật thành thạo, lại càng cần có người tận tâm chỉ dẫn chứ không thể học từ xa. 

    Khái niệm thi đua cạnh tranh rất quan trọng trong các trường đào tạo dạy nghề, vì đó là động lực nâng trình độ của toàn bộ lớp học lên một mức cao hơn. Ở đây, trường chúng tôi phân biệt ba nhóm đối tượng khác nhau : có những người chỉ giỏi nấu ăn, có người chỉ chuyên về điều hành êkíp nhân viên, còn nhóm người thứ ba giỏi về mặt kinh doanh, biết huy động vốn để làm chủ nhà hàng. Cả ba đối tượng này đều có một vai trò quan trọng, tuy vậy trường chúng tôi tập trung vào việc nhóm đầu tiên, mà thuật ngữ chuyên ngành gọi là « những bàn tay nhỏ bé », nguồn nhân viên này rất cần thiết trong tất cả các nhà hàng và khách sạn, các ngành dịch vụ này rất cần đến những nhân viên như vậy, trước khi nghĩ tới chuyện tuyển nhân viên có tay nghề chuyên môn hay cao hơn. Đối với nhiều người học việc, miễn là họ có ý chí và nỗ lực, họ có thể tiến rất xa. Họ có thể bắt đầu làm việc ở cấp bậc thấp nhất, nhưng nhờ có ý chí vươn lên mà sau đó trở thành giám đốc điều hành nhiều quán ăn trong cùng một tập đoàn". 

    Đọc thêmSách hướng dẫn miễn phí các quán ăn Pháp với giá phải chăng

    Cũng theo ông Pascal Maillou, hiệu trưởng trường dạy nghề Bélliard, hàng năm trường đào tạo khoảng 600 học sinh đến từ 40 nước khác nhau. Các khóa đào tạo đều là dài hạn từ hai đến ba năm. Một khi ra trường, các học sinh tại Pháp đều nắm các kỹ thuật căn bản, nhưng sau đó họ phải còn tự trau dồi thêm vì ngay cả ở Pháp, sau khi họ được tuyển dụng, họ phải biết thích nghi, mỗi nhà hàng quán ăn đều có thực đơn riêng, cung cách phục vụ cũng khác biệt. Theo đầu bếp Lorna Boboua Do Sacramento, làm việc cho công ty Onomo, tình trạng thiếu hụt nhân viên khiến các tập đoàn quốc tế trong ngành dịch vụ khách sạn nhà hàng luôn nhức đầu với vấn đề tuyển dụng, nhất là vào những mùa cao điểm. 

    "Quả thật là có một sự thiếu hụt nhân viên và ở đây tôi muốn phân biệt nhiều trường hợp khác nhau, trước hết có những bạn trẻ muốn đốt giai đoạn : họ quan tâm đến nhiều các mạng xã hội, họ ngưỡng mộ sự thành công của những đầu bếp trứ danh và họ nghĩ rằng họ cũng muốn làm như vậy, chỉ có điều là họ nhìn vào thành quả mà lại ít có ý thức về quá trình và tất cả những nỗ lực làm việc để đạt được thành quả đó. Bên cạnh đó, còn có những bạn trẻ được đào tạo bài bản qua trường lớp, nhưng một khi được tuyển dụng rồi, thì họ cần được học lại vài khóa để thích nghi với môi trường công việc. Ở trường lớp các bạn học cách nấu ăn, kỹ thuật chế biến, nhưng khi vào đời phải học thêm tính năng động, linh hoạt : từ các cú va chạm mà học thêm cách tùy cơ ứng biến".

    Dù hàng năm, có khá nhiều thực tập sinh tốt nghiệp, nhưng các trường đào tạo ở Pháp vẫn chưa đủ để giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân viên có tay nghề. Các trường dạy nghề chuyên về ẩm thực đều đang ở trên đà phát triển mạnh chừng nào tại Pháp vẫn còn nhiều nghịch lý trong ngành dịch vụ khách sạn nhà hàng : chỗ làm tại các hàng quán thì nhiều, nhưng nhân viên có tay nghề thực thụ dường như lúc nào cũng thiếu. 

    10 min
  • Jean-François Mallet, hiện tượng ngành xuất bản nhờ sách dạy nấu ăn cực kỳ đơn giản

    Mỗi lần đến dịp lễ lạc hay ăn mừng sinh nhật, các hộ gia đình ở Pháp thường hay tặng cho nhau thời trang mỹ phẩm, sách in truyện tranh, smartphone hay hàng công nghệ ….. Riêng trong ngành xuất bản, một trong những món quà tặng phổ biến vẫn là các tựa sách về nghệ thuật ẩm thực và đặc biệt hơn nữa là sách dạy nấu ăn. Tại Pháp, gương mặt thành công nhất trong lãnh vực này chính là đầu bếp kiêm nhà nhiếp ảnh Jean-François Mallet.

    Năm nay 58 tuổi, Jean-François Mallet sinh trưởng tại Montargis, vùng thung lũng sông Loire. Từ thời còn nhỏ, anh có hai niềm đam mê nấu ăn và chụp ảnh. Trong những năm tháng đầu đời, anh chọn nghề đầu bếp và ghi tên theo học các trường dạy nấu ăn nổi tiếng nhất. Sau khi đậu thủ khoa trường ẩm thực Ferrandi (hạng nhất trên số 2.000 thí sinh), anh bắt đầu làm việc với các đầu bếp trứ danh như Joël Robuchon, Michel Kéréver hay Michel Rostang ….. Nhớ lại giai đoạn này, anh vẫn còn giữ nguyên quyển sách của thầy Joël Robuchon với hàng chữ ký tặng dành cho cậu học trò giỏi nhất của ông.

    Dung hòa hai đam mê : nấu ăn và chụp ảnh

    Mặc dù có tài nấu ăn, nhưng Jean-François Mallet không nhắm tới chuyện kinh doanh nhà hàng hay nuôi mộng đoạt sao Michelin. Thục ra, anh muốn dung hòa cả hai niềm đam mê đầu đời của mình, chính cũng vì thế anh dần chuyển sang khai thác nghề chụp ảnh. Một cách tài tình, anh đã thực hiện nhiều bài phóng sự nhiếp ảnh cho các tạp chí Pháp như Saveurs, Géo hay Paris Match ….. Với thời gian, anh gầy dựng uy tín của một người giỏi nấu ăn và có tài chụp ảnh, không chỉ món ăn ở trên đĩa mà còn gợi lên được không gian văn hóa ở xung quanh.

    Từ việc chụp ảnh đến chuyện xuất bản sách, chỉ có một bước nhỏ, nhưng bản thân anh cũng không thể ngờ rằng sách của anh sẽ bán chạy như thế. Quyển sách « Simplissime » gồm 100 công thức nấu ăn « Cực kỳ đơn giản » do nhà xuất bản Hachette phát hành, lập kỷ lục số bán với hơn 3 triệu bản. Trả lời phỏng vấn RFI Pháp ngữ, anh Jean-François Mallet trước hết giải thích vì sao « sách ẩm thực » lại thịnh hành đến như vậy :

    Theo tôi, ẩm thực luôn có một vai trò quan trọng trong xã hội Pháp. Người ta thường hay nói về nước Pháp như một cường quốc ẩm thực với nhiều đầu bếp nổi tiếng trên thế giới, nhưng bên cạnh đó còn có chuyện ăn uống thường ngày, người tiêu dùng ở Pháp thường quan tâm đến chuyện đi chợ mua thực phẩm cũng như dành một chút thời gian để nấu các món ăn gia đình. Và dĩ nhiên là khi nấu các món ăn vào những ngày cuối tuần hay khi có dịp quây quần lại với nhau, chung vui với bạn bè hay người thân, thì các hộ gia đình Pháp thường hay chọn những món đơn giản như thịt bò hầm cà rốt, cánh gà chiên hay đùi gà quay, mì sợi trộn phô mai hay khoai tây đút lò ….. Người tiêu dùng tìm thấy các món ăn này trên mạng hay trong những quyển sách chuyên về các món dễ làm.

    Trong thời gian gần đây, đâu là những tựa sách chuyên về ẩm thực bán chạy nhất và các quyển sách này chủ yếu nhắm vào những thành phần độc giả nào. Tác giả Jean-François Mallet cho biết :

    Nhiều độc giả không chỉ hưởng ứng sách do tôi viết, mà còn mua khá nhiều quyển sách của giới đầu bếp trứ danh. Ở đây, có thể phân biệt thành nhiều đối tượng bạn đọc khác nhau. Có người mua sách để học cách nấu ăn, có người mua sách chủ yếu để làm quà tặng. Cũng có người mua sách để làm kỷ niệm, để nhớ lại một quán ăn hay một đầu bếp nổi tiếng mà họ từng có dịp trải nghiệm. Ngoài ra, có một thành phần độc giả mà ít ai nghĩ tới, đó là những người muốn trở thành đầu bếp chuyên nghiệp, họ đang được đào tạo trong các trường dạy nấu ăn, để phục vụ trong ngành nhà hàng khách sạn. Những quyển sách của các bậc thầy trứ danh giống như những quyển cẩm nang giúp cho họ trao dồi tay nghề, tìm thêm những ý tưởng sáng tạo.

    « Simplissime » lập kỷ lục số bán với hơn 3 triệu bản

    « Tủ sách » ẩm thực có đến hàng trăm tựa đủ loại, vậy thì loại nào được độc giả Pháp hưởng ứng nhiều nhất. Phải chăng đó là các loại sách hướng dẫn tiện dụng, các quyển sách minh họa của các đầu bếp có sao Michelin, hay đơn thuần hơn nữa, các quyển sách nói về các món ăn truyền thống, có từ nhiều đời qua. Đầu bếp Jean-François Mallet nhận xét :

    Sau một thời gian cho phát hành nhiều quyển sách, tôi nhận thấy rằng người tiêu dùng ở Pháp thực sự có một nhu cầu khá giản dị. Họ muốn tìm những món dễ nấu ở nhà không công phu mà cũng chẳng tốn qua nhiều tiền, nhưng quan trọng hơn nữa là các thành phần chế biến không nằm ở đâu xa mà lại được bán ngoài siêu thị gần nhà. Yếu tố này giúp tiết kiệm tiền và thời gian di chuyển. Quyển sách « Simplissime » của tôi đáp ứng đúng nhu cầu này của người tiêu dùng. Một quyển sách mang tính « thực dụng » có thể được dùng thường xuyên chứ không nên để quên trên kệ sách như một vật trang trí. (4'12) Trên thị trường xuất bản Pháp, có khá nhiều tựa sách nhắm vào thành phần bạn đọc yêu thích các quyển sách tuyệt đẹp với lối in ấn công phu, cách thiết kế cầu kỳ, ảnh chụp in trên giấy bóng loáng ngoạn mục bắt mắt, lộng lẫy màu sắc. Đối tượng này mua sách ẩm thực như một tác phẩm thủ công, một vật dụng trang trí nghệ thuật. Họ mua tặng phẩm xinh xắn để làm quà biếu cho bạn bè người thân, thậm chí có nhiều bạn đọc chuyên sưu tầm các loại sách như vậy, các tựa sách đắt tiền « sang trọng » dành cho dòng ẩm thực cầu kỳ nếu không nói là cao cấp. Tôi lại có một chủ trương khác, tôi khuyến khích bạn đọc nên xem qua những quyển sách mà tôi gọi là thường ngày, đọc vài trang khi có nhu cầu chứ không cần đọc từ đầu đến cuối. Trong gia đình, mẹ tôi được bà ngoại tặng cho quyển sách « Je sais cuisiner » (Tôi biết nấu ăn) của tác giả Ginette Mathiot được in lần đầu tiên vào năm 1932. Cho tới giờ này, mẹ tôi còn dùng quyển sách này và tôi cũng thường dùng ở nhà một quyển như vậy. Có khá nhiều món ăn do tính đơn giản nên ít thay đổi so với công thức được tìm thấy trên mạng.

    Trên đà thành công này, đầu bếp kiêm nhà nhiếp ảnh Jean-François Mallet tiếp tục cho ra mắt nhiều quyển sách chủ đề khác liệt kê những công thức nấu ăn tùy theo túi tiền, theo mùa, trào lưu hoặc « trường phái » (ăn chay végétarien hay ăn thịt cá chỉ một lần trong ngày flexitarien) …. Sở dĩ tủ sách « Simplissime » (hơn 40 quyển) của Jean-François Mallet thành công, là vì anh biết đánh trúng tâm lý của độc giả ở Pháp, tiết kiệm tiền cũng như thời gian. Tác giả này trở thành một hiện tượng trong ngành xuất bản, nhờ biết cập nhật những công thức nấu ăn vô cùng dễ làm, cực kỳ đơn giản.

    10 min
  • Marc Riboud và những « khoảnh khắc » chiến tranh Việt Nam

    Nói đến Marc Riboud – nhiếp ảnh gia người Pháp, qua đời năm 2016 – giới yêu thích nhiếp ảnh đều nhớ đến bức ảnh huyền thoại « Cô gái và cành hoa ». Bức ảnh chụp năm 1967 trở thành biểu tượng của phong trào phản chiến Mỹ, chống chiến tranh Việt Nam. Trong suốt 10 năm, 1966 – 1976, Marc Riboud cùng với chiếc máy ảnh Leica, rong ruổi từ Bắc vô Nam, ghi lại những « khoảnh khắc » của cuộc chiến tàn khốc.

    Đó là những hình ảnh nam nữ công nhân làm việc trong nhà xưởng ở miền bắc, những nam – nữ quân dân du kích, những góa phụ khóc thương người thân bị mất hay những đứa trẻ trên đường đi học. Rồi từ những cuộc biểu tình chống chiến tranh tại Mỹ cho đến những vùng đất ở Bắc Việt Nam, đi qua những cảnh tan hoang ở Huế.

    Những « khoảnh khắc » đôi khi dung dị, bình yên, nhưng cũng có lúc đau thương, kinh hoàng, đã được nhà nhiếp ảnh người Pháp ghi lại qua những tấm ảnh trắng đen, biến ông thành một nhân chứng độc đáo và khác thường cho một cuộc chiến khốc liệt bị toàn cầu hóa.

    Những âm bản này được ông thực hiện trong vòng 10 năm, 1966 – 1976 sau hơn một chục chuyến đi đến Việt Nam. Đó cũng là thời điểm tại Pháp và nhiều nơi khác, đặc biệt là Mỹ, giới văn hóa, trí thức cũng như một số nghệ sĩ, nhiếp ảnh gia phản đối mạnh mẽ chiến tranh. Marc Riboud còn chịu ảnh hưởng từ người vợ đầu tiên là Barbara Chase, là một nghệ sĩ Mỹ, và do vậy ông đã có được một mối liên hệ với Mỹ, với chính sách của Mỹ.

    Là một người rất ủng hộ độc lập, từng tham gia kháng chiến trong Đệ Nhị Thế Chiến, Marc Riboud có niềm tin sâu sắc là những dân tộc đấu tranh cho nền độc lập vào thời điểm đó sẽ giành được thắng lợi và do vậy, đối với cuộc chiến tranh tại Việt Nam, ông cảm thấy như « bị thôi thúc » phải làm chứng. Phản đối chiến tranh, nhưng ông cũng lên án cả chế độ chuyên chế độc tài thời kỳ hậu chiến.

    2025 đánh dấu 50 năm chiến tranh Việt Nam kết thúc. Nhân dịp này, bảo tàng Nghệ thuật châu Á – Guimet tại Paris và hiệp hội Những người bạn của Marc Riboud có cuộc triển lãm « Marc Riboud – tập ảnh Việt Nam 1966 – 1976 » kéo dài đến ngày 12/05/2025.

    Bà Lorène Durret, đồng phụ trách triển lãm Marc Riboud, đã dành cho RFI Tiếng Việt một cuộc phỏng vấn, hồi tưởng lại những suy nghĩ, tâm tư và cách thức làm việc của Marc Riboud, một trong những nhiếp ảnh gia bậc thầy trong thế kỷ XX.

    RFI Tiếng Việt : Thân chào Lorène Durret. Trước hết, bà có thể cho biết vì sao Marc Riboud đã chọn đến Việt Nam giai đoạn 1966 – 1976 ?

    Lorène Durret : Ông ấy biết rõ những gì đang xảy ra, đúng là trong suốt thời gian này ông ấy rất chú ý và quan tâm. Vì vậy, từ tiếng Anh chính xác hơn nhiều, người ta nói « concerned và concerned photographer ». Ông là một nhiếp ảnh gia quan tâm, có nghĩa là ông cảm thấy lo lắng về những gì đang xảy ra. Vì vậy, rõ ràng là ông đã có thông tin về Chiến tranh Việt Nam. Hơn nữa, Việt Nam cũng có mối quan hệ với Pháp trong suốt chiều dài lịch sử (…)

    Marc Riboud luôn là một người cực kỳ độc lập. Khi còn trẻ, ông đã tham gia kháng chiến trong Thế chiến thứ hai tại Lyon từ năm 1942. Khi đó ông 19 tuổi, đang học trung học và cho đến năm 1944, ông đã tham gia chiến đấu với nhóm du kích quân Vercors. Vì vậy, ông tin chắc rằng những người dân đang đấu tranh giành độc lập vào thời điểm đó sẽ giành được độc lập (…)

    Vào thời điểm đó, rõ ràng là họ không biết chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng dù sao đi nữa, ông vẫn theo dõi tin tức và cảm thấy cần phải chia sẻ trải nghiệm của mình. Tất nhiên, vào thời điểm đó, vẫn còn rất ít nhà dân có vô tuyến truyền hình. Thông tin được đưa qua báo chí, tạp chí và nhiệm vụ của ông với tư cách là một nhiếp ảnh gia và phóng viên ảnh là đến đó để ghi lại những gì đang diễn ra và làm chứng.

    Khi xem ảnh của Marc Riboud, người ta có cảm giác ông như người ngoài cuộc, lặng lẽ đứng nhìn, quan sát, và cũng không quan điểm chính trị ?

    Lorène Durret : Đúng, chúng ta có thể cảm nhận được sự đồng cảm của ông, nhưng trước hết và quan trọng nhất là sự đồng cảm với những người ông chụp ảnh và những người trên đường phố : Đó là những thường dân, người dân, công dân. Ông là người rất khiêm tốn trong cách chụp ảnh mọi người và luôn giữ khoảng cách để có thể thể hiện và quan sát.

    Và ông là người luôn tin tưởng vào những quan sát của mình do ông không bao giờ là một nhà đấu tranh không giống như những người khác xung quanh ông (…) Marc Riboud có một ý thức chính trị tốt, ông sáng suốt và không bị thu hút bởi nguy hiểm. Nhất là khi nhắc đến Việt Nam, hiển nhiên khi nghĩ đến những bức ảnh về Chiến tranh Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay đến những bức ảnh chiến đấu.

    Chúng tôi có rất nhiều ảnh về quân đội Mỹ và quả thật đó không phải là những bức ảnh về cuộc sống thường ngày của người dân, không phải lúc nào cũng vậy. Tuy nhiên, trong những bức ảnh này, điều tôi thấy thú vị là chúng ta cảm nhận được độ dài của thời gian dài. Chúng ta cũng nhận thấy thời gian cuộc xung đột là rất dài.

    Trong khi ở những tác phẩm khác có đôi chút khác biệt, chúng ta chỉ thấy cao trào và bạo lực nhưng ở một thời điểm chứ không phải trong khoảng thời gian dài như thế này. Và những gì tác phẩm của ông thể hiện và ở đó ông hơi lạc lõng, tôi nghĩ so với các nhiếp ảnh gia và nhà báo khác mà ông đã trao đổi ở nơi khác, thì đó là một thế giới thu nhỏ bị thay đổi từ những luồng thông tin hạn hẹp. Thế nên, công việc của ông thực sự là cuộc sống của người dân trong thời chiến.

    Ông lên án chiến tranh nhưng không bao giờ phơi bày cảnh chết chóc cũng như các chiến tuyến ?

    Lorene Durret : Như tôi có nói về quá khứ của ông như một kháng chiến quân vì ông gần kề với chiến tranh, nên ông hiểu chiến tranh. Ông mất bạn bè, nên ông biết chiến tranh là như thế nào trong một bối cảnh khác. Nhưng ông đã cận kề với bạo lực và ông không muốn trở thành nhiếp ảnh gia ghi lại cảnh đó. Một người cháu họ của Marc Riboud, nhà văn Camille de Toledo, đã nói về điều này và về việc, ông đã từng chứng kiến ​​cái chết và do vậy ông hướng tới sự sống.

    Và trong những bức ảnh của ông, chúng ta thấy được sự sống. Đó là điều ấn tượng nhất, và ngay cả trong những bức ảnh về đống đổ nát và hoang tàn, những bức ảnh về Huế trong đống đổ nát của ông cũng đặc biệt ấn tượng, nhưng những gì chúng ta thấy là sự sống đang trở lại và một nỗi đau nào đó nhưng cũng có một niềm hy vọng.

    Ông thích gặp người dân, nhưng không chỉ ở một phía. Người xem có thể thấy cả cuộc sống thường nhật ở cả hai phía vĩ tuyến 17 cũng như là những hoạt động thường nhật của quân đội Mỹ ?

    Lorene Durret : Vâng, bởi vì ông ấy thích đi và chứng kiến ​​cả hai phía, và ông ấy nghĩ điều đó quan trọng, đó cũng là vị trí của ông với tư cách là một nhà báo. Chúng ta có thể nói là nhà báo vào thời điểm Chiến tranh Việt Nam vì ông cũng đã viết bài và chúng tôi trưng bày trong triển lãm hai bài báo mà ông viết cho tờ Le Monde, từng là tờ báo lớn nhất của Pháp, và vẫn chưa xuất bản ảnh vào thời điểm đó.

    Tôi tin rằng ông ấy luôn phân biệt giữa những người ra quyết định, những người có quyền lực và những người dân thường, bất kể là ở miền nam, miền bắc hay và đó là những binh sĩ Mỹ trẻ tuổi mà ông lên án « sự nhồi sọ » trong bài báo, những người lính đã tin chắc vào những gì họ đang làm và những gì họ đang làm là cần thiết. Marc Riboud có một sự đồng cảm nào đó với những người ông chụp ảnh. Ông không coi tất cả mọi người là người ủng hộ hay là binh sĩ.

    Nhắc đến Marc Riboud là phải nhắc đến bức ảnh « Cô gái và cành hoa ». Bức ảnh nổi tiếng phản chiến này đã cho phép ông có được tấm giấy thông hành để đến miền bắc, gặp và phỏng vấn ông Hồ Chí Minh, để rồi cho ra đời một bức ảnh khác không kém phần nổi tiếng, được đăng lại trên trang nhất nhiều tuần san quốc tế thời đó là Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng bên bàn trà. Dù vậy, điều thú vị là Marc Riboud, cũng không ngần ngại lên án chế độ chuyên chế độc tài với những bức ảnh về trại cải tạo năm 1976 ?

    Lorene Durret : Đúng vậy, đây là những bức ảnh đã được báo chí công bố vào thời điểm đó và có tầm quan trọng ngày nay vì chúng là dấu vết của những gì đã tồn tại và trong mọi trường hợp, điều quan trọng đối với ông là phải có khoảng cách và sự quan sát này, một lần nữa, đó là vì ông không phải là một nhà hoạt động nên điều này cho phép ông quan sát với thái độ trung lập hơn.

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn Lorène Durret, đồng phụ trách triển lãm ảnh « Marc Riboud, Việt Nam 1966-1976 », bảo tàng Guimet, Paris.

    11 min
  • Công trình trùng tu Notre-Dame de Paris nâng tầm ngành nghề thủ công ở Pháp

    100 công chức, nghệ nhân, chủ doanh nghiệp tham gia trùng tu Nhà thờ Đức Bà Notre-Dame de Paris được tổng thống Pháp Emmanuel Macron trao tặng huân chương ghi công ngày 15/04/2025. Họ nằm trong số hàng nghìn nhân viên, nghệ nhân tham gia vào dự án “điên rồ” trong vòng 5 năm. Năm năm cũng cho thấy sức mạnh của tập thể, tình tương ái và tay nghề, kỹ năng của những nghệ nhân Pháp.

    Một trăm người thợ được trao Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh (Légion d’Honneur) hoặc Huân chương Công trạng (Médaille de l'Ordre du Mérites) - hai loại huy chương trang trọng nhất của Pháp. Tự hào trào dâng và họ không giấu được xúc động, như ông Philippe Mouton, người lập kế hoạch công trường, khi trả lời nhà báo RFI Tom Malki : “Nhiều lúc người ta gọi chúng tôi là những người xây nhà thờ lớn. Chúng tôi đoàn kết, gắn bó với mục tiêu và điều đó thật tuyệt. Nhưng tôi cũng nghĩ là mình chưa hoàn thiện hết điều mà chúng tôi làm”. Còn đối với Waziz Abrousse, phụ trách phòng cháy : “Đây là một ngày đặc biệt đối với chúng tôi. Khi tôi tới Nhà thờ Đức Bà Paris, ba tháng sau vụ cháy, là cả một đống tro tàn. Hiện giờ thì đó là thử thách đẹp nhất thế giới. Tôi rất tự hào, tự hào vì đã trùng tu Nhà thờ Đức Bà Paris”.

    Sức mạnh của tập thể và lòng hảo tâm

    Khi thông báo quyết tâm trùng tu Nhà thờ Đức Bà Paris trong vòng 5 năm, tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã khiến mọi người bất ngờ, thậm chỉ có phần chỉ trích vì quá “lạc quan” nếu nhìn vào khối lượng công việc. Nhưng mục tiêu đã hoàn thành ! Hàng nghìn nghệ nhân, đội ngũ kỹ thuật, thiết kế, thi công đã giúp Nhà Thờ Đức Bà Paris rực rỡ hơn cả trước đây. Rất nhiều ngành nghề thủ công cổ và có nguy cơ biến mất, được phục hồi và được đề cao trong công trường trùng tu.

    Trả lời RFI, ông Philippe Jost, chủ tịch tổ chức công Rebâtir Notre-Dame (Tái thiết Nhà thờ Đức Bà), nhận định :

    “Thành công này là thành công của người Pháp, là niềm tự hào của người Pháp. Vì thế, thật tuyệt vời khi được có mặt tại điện Élysée ngày hôm nay. Mọi người đều nói là đã sống được cuộc phiêu lưu của đời mình. Chúng tôi đã có được cuộc phiêu lưu chỉ một lần trong đời, có lẽ chúng tôi sẽ không bao giờ được trải nghiệm lại điều gì đó ý nghĩa đến như vậy. Họ đều nói như vậy, họ sống như vậy. Và điều tuyệt vời là trải nghiệm đó mang tính tập thể. Tôi nghĩ rằng tổng thống Macron muốn đó là khoảnh khắc tập thể và tất cả chúng tôi cùng trải nghiệm khoảnh khắc này như lúc cùng nhau làm việc trên công trường. Việc chúng tôi cùng nhau trải nghiệm vinh dự này, đó là lật sang một trang mới.

    Nhưng cuộc phiêu lưu vẫn tiếp tục nhờ lòng hào phóng đến mức chúng tôi có thể thực hiện những công việc trùng tu khác mà nhà thờ cần bởi vì vào thời điểm xảy ra hỏa hoạn, nhà thờ Đức Bà Paris đã cần được sửa chữa, cho nên có thể tiến hành ngay bây giờ. Sẽ có ít nhân viên trên công trường hơn trước. Có nhiều ngành nghề đã dời khỏi công trường, nhưng dù sao, chúng tôi vẫn tiếp tục theo đúng tinh thần trước đây, trong không gian làm việc hài hòa và đó chính là điều mà Nhà thờ Đức Bà Paris xứng đáng được hưởng”.

    Khôi phục giá trị, đề cao ngành nghề thủ công

    Có đến 2.000 người tham gia trùng tu Nhà thờ Đức Bà Paris. Cả một “Thế hệ Nhà thờ Đức Bà - Génération Notre-Dame”, theo lời phát biểu của tổng thống Pháp, “đã cho thế giới thấy rằng không gì có thể cưỡng lại được sự táo bạo, ý chí, sự chăm chỉ và hy vọng”.

    “Vào ngày 15/04/2019, Nhà thờ Đức Bà Paris đã bị tấn công, được giải cứu và kể từ ngày đó, chúng ta bắt đầu xây dựng lại nhà thờ. Và nếu chúng ta ở đây đêm nay, đó là nhờ tinh thần anh hùng của những người lính cứu hỏa, tấm lòng hào phóng của tất cả các nhà tài trợ và tổ chức đã tham gia vào nỗ lực này, nhờ tài năng và sự cống hiến của hàng nghìn nghệ nhân, bạn đồng hành, chuyên gia, cũng như rất nhiều dân biểu và công dân. Có hàng nghìn người đã tham gia công trình và tối nay có 100 người cùng gia đình và người thân mà tôi chào đón ở đây”.

    Họ làm việc 24/24 giờ, 6/7 ngày. Tất cả có chung tâm nguyện : Khôi phục lại ngôi nhà tâm linh và tinh thần gắn bó với người dân Pháp, phủ đầy tro và than sau trận hỏa hoạn ngày 15/04/2029 và tưởng như sắp sập. Rất nhiều người trong số này làm những nghề hiếm hoặc ít được biết đến, như thợ mộc truyền thống, thợ xây đá, để tái thiết các mái vòm và mái vòm theo kiến trúc gothic, thợ làm kính để phục hồi các cửa sổ kính màu thế kỷ 13…, nhiều nghề như đẽo gỗ bằng rìu như được hồi sinh từ thời Trung cổ. Trước dự án này, nhiều nghề đã bị mai một do thiếu các dự án quy mô lớn. Trong bài diễn văn, tổng thống Pháp Macron đã cảm ơn từng ngành nghề tham gia công trường đặc biệt này.

    “(…) Xin cảm ơn tất cả thợ mộc, thợ mộc nghệ thuật, thợ lát sàn gỗ, thợ phục chế đồ khảm, người làm nghề lâm nghiệp, thợ cưa, thợ xẻ gỗ và đá, thợ làm khung mái, thợ làm dụng cụ cắt, đôi khi đã phát minh lại chúng, đến từ thời xa xưa. Bằng cách khôi phục lại cánh rừng (khung mái nhà thờ), bằng cách dựng mũi tên hướng lên bầu trời, các bạn đã giúp định hướng lại cho rất nhiều người trong chúng ta. Cảm ơn thợ bọc ghế, họa sĩ và thợ phục chế tranh. Các bạn đã khôi phục lại vẻ huy hoàng của các nhà nguyện và đất nước chúng ta.

    Xin cảm ơn những người thợ mạ vàng, thợ đúc, thợ rèn, thợ khóa, thợ làm đồng thau, thợ làm đèn chùm, các nhà thiết kế đồ nội thất phụng vụ, nhà thiết kế ánh sáng, các bạn đã cho thấy rằng Nhà thờ Đức Bà được thể hiện trong từng chi tiết. Xin cảm ơn những người chế tạo đàn organ, thợ làm chuông, chuyên gia âm thanh, các bạn đã tái tạo sự hòa hợp giữa hữu hình và vô hình. Xin cảm ơn những bậc thầy làm thủy tinh đến từ khắp nước Pháp, các bạn đã cứu con ngươi của nhà thờ. Xin cảm ơn những người thợ lợp mái và thợ làm ngọn tháp. Các bạn đã thể hiện xứng đáng với quá khứ của đất nước chúng ta. Và tôi không quên những người thợ giàn giáo, những người vận hành cần cẩu, những người leo dây thách thức cả định luật hấp dẫn, những chuyên gia kỹ thuật và điện, những kỹ sư, thợ điện, chuyên gia về phòng cháy, cung cấp năng lượng (…)”.

    “Hiệu ứng Nhà thờ Đức Bà”

    Dự án đã giúp nhiều thanh niên được học nghề từ các nghệ nhân bậc thầy, theo tinh thần truyền nối giữa các thế hệ ngay trên công trường Nhà thờ Đức Bà. Alexandre Gougeon là một ví dụ, theo lời kể với RFI của người mẹ được mời dự lễ trao huân chương : “Chính cháu là người phụ trách chuông của Nhà thờ Đức Bà Paris, có tám quả chuông. Mỗi mùa hè, cháu đến làm việc ở tháp chuông cùng cha và những người công nhân. Chúng tôi vừa thăm Nhà thờ Đức Bà Paris về và tôi cùng cháu đến xem những quả chuông đó. Tôi nói với cháu : Hoan hô, thật tuyệt vời, đây chắc chắn là dự án đẹp nhất trong cuộc đời con”.

    Và thành công của dự án có một không hai còn tạo “hiệu ứng Nhà thờ Đức Bà”. Theo một báo cáo được Viện Cao cấp Ngành nghề (Institut supérieur des métiers) công bố ngày 03/12/2024, số lượng người học việc trong các ngành nghề nghệ thuật di sản, ví dụ nghề mộc và thợ nề công trình cổ, đã tăng đáng kể từ năm 2018 đến năm 2023, cụ thể số lượng thợ mộc học việc tăng 44% và tăng gần gấp đôi đối với thợ xây công trình cũ hoặc thợ kẽm. Ngoài ra, những nghề chuyên biệt như thợ chế tạo đàn organ và thợ làm cửa sổ kính màu, thường có vài chục người theo học hàng năm, đã tăng lên gấp đôi, thậm chí nhiều hơn, chỉ trong vòng 5 năm.

    Thực ra, ngành nghề thủ công đã có một đợt cải cách lớn vào năm 2018 và được hưởng các khoản trợ cấp tuyển dụng lớn để thu hút học viên. Số lượng học viên trong tất cả các ngành cộng lại ở Pháp đã tăng gần gấp ba lần : từ 317.000 vào năm 2017 lên 853.000 vào năm 2023. Số lượng thợ lợp mái học việc (+23% từ năm 2018 đến năm 2023), thợ làm tủ (+31%) và thợ xây đá (+40%) cũng tăng đáng kể.

    Và thành công này phần nào là nhờ có thêm “hiệu ứng Notre-Dame”, khiến giới trẻ quan tâm hơn tới nghề thủ công và di sản. Công trình cũng giúp thay đổi cách công chúng nhìn nhận các hoạt động thủ công, thường bị đánh giá thấp. Trả lời AFP, bà Catherine Elie, giám đốc Viện Cao cấp Ngành nghề - một trung tâm nghiên cứu và cung cấp nguồn lực về nghề thủ công và các doanh nghiệp nhỏ do Nhà nước thành lập, cho rằng “Notre-Dame đã giúp nói rất nhiều về những nghề sáng tạo và những nghề nghệ thuật này”.

    Những “người hùng văn hóa” đã để lại cho công chúng sự thán phục khi tham quan Nhà thờ Đức Bà Paris. Màu vàng óng của những viên đá được lau chùi sạch sẽ, màu sắc tươi sáng của những ô cửa sổ kính màu được phục chế một phần, ánh sáng được bài trí để tăng thêm màu sắc của những họa tiết trang trí trong các nhà nguyện, 1.500 ghế sồi được thiết kế để phục vụ từ 14 đến 15 triệu du khách hàng năm.

    Công việc thầm lặng của hơn 2.000 người trong suốt 5 năm được lưu lại trong những bức ảnh, thước phim. Tổ chức Rebâtir Notre-Dame cung cấp miễn phí dưới dạng pdf cho mọi tổ chức, cơ quan, địa phương muốn tổ chức triển lãm và mở cửa miễn phí cho công chúng về công trình phục dựng Nhà thờ Đức Bà Paris qua 9 chủ đề và qua đó, khách tham quan có thể khám phá khoảng 20 ngành nghề tiêu biểu.

    10 min
  • Nhạc Pháp lời Việt: Claire Syril và giai điệu « Tình sau cơn bão »

    Trước khi có hiện tượng Lara Fabian trong làng nhạc pop quốc tế, các bang Canada nói tiếng Pháp (đi đầu vẫn là vùng Québec) luôn thu hút nhiều tài năng đến từ các nước thuộc khối Pháp ngữ : K.Maro hay Rita Tabbakh đến từ Liban, tác giả Rick Allison sinh trưởng tại Bỉ, Corneille người gốc Rwanda sinh tại Đức hay ca sĩ Claire Syril sinh tại Ý nhưng lớn lên ở Pháp.

    Mỗi người một nét, giới nghệ sĩ lớn lên ở Canada hay chọn vùng đất lạnh làm nơi lập nghiệp, góp phần làm giàu thư viện âm nhạc tiếng Pháp. Chẳng hạn như trường hợp gần đây của tay đàn ghi ta Marco Callieri chuyên hòa quyện hai dòng nhạc Pháp-Ý theo phong cách acoustic, hay giọng ca soprano Giorgia Fumanti chuyên tạo dấu luyến giữa hai dòng nhạc dân ca và bán cổ điển. Về phần nữ ca sĩ Claire Syril, cô có hơn 15 năm sự nghiệp ca hát, đạt đỉnh cao vào giữa những năm 1970 với khá nhiều bản nhạc ăn khách.

    Ra đời tại thành phố Cremona, vùng Lombardia, miền bắc nước Ý, Claire Syril theo bố mẹ sang Pháp sinh sống từ thời niên thiếu. Do có nhiều năng khiếu, cho nên sau khi đậu bằng tú tài, cô được gia đình cho học chuyên về âm nhạc. Tốt nghiệp nhạc viện thành phố Paris vào giữa những năm 1960, Claire Syril lúc đầu muốn tiếp tục đeo đuổi ngành nghiên cứu ở nhạc viện. Để kiếm sống, cô chọn nghề dạy nhạc lý và luyện đàn piano.

    Claire Syril ghi âm sáng tác đầu tay (Tu m'as menti) vào năm 1966, nhưng đĩa nhạc phát hành lại không thành công, có lẽ cũng vì thể loại folk mà cô muốn đeo đuổi không hợp với phong trào nhạc trẻ thịnh hành ở Pháp lúc bấy giờ. Theo lời khuyên của bạn bè, Claire Syril đến Montréal vào năm 1967 tìm cơ hội thử thời vận. Ban đầu, cô nghĩ mình chỉ ở lại vài tháng, nào ngờ đất lành chim đậu : tác giả trẻ tuổi này sẽ ở lại luôn tại vùng Québec. Trong vòng hơn một thập niên, từ năm 1967 đến năm 1982, Claire Syril đã cho phát hành ba album phòng thu và hơn 20 đĩa đơn (đĩa nhạc 45 vòng).

    Thành công nhờ sáng tác và biểu diễn, Claire Syril còn chuyên soạn nhạc với hai nghệ sĩ vùng Québec là André Rousseau và Michel Gallo. Sự hợp tác của ba tác giả này cho ra đời nhiều bài hát ăn khách, chẳng hạn như « C'est ça la vie » (Đời là như thế), « Tu me reviens » (Người về bên ta), «C'est le temps de partir » (Đến lúc ra đi) …. Ngoài chất giọng trong sáng, sở trường của Claire Syril còn nằm trong cái tài soạn hợp âm, làm giàu giai điệu qua việc dùng nhiều nhạc cụ (ghi ta, saxophone, dương cầm, vĩ cầm hay phong cầm) nhờ vậy mà tạo ra được những lớp âm thanh phong phú.

    Sau gần 15 năm sự nghiệp sáng tác và ca hát, Claire Syril kể từ giữa những năm 1980, chuyển qua ngành xuất bản và điều hành các ấn bản (sách báo) nghệ thuật cho tập đoàn truyền thông Québecor. Tên tuổi của Claire Syril thường hay được gắn liền với những nhạc phẩm ăn khách như « Amour, amour » (Tiếng gọi tình yêu) , « Mon cœur cherche ton cœur » (Tim em đập cùng tim anh). Riêng giai điệu « Après l'orage » từng được tác giả Nhật Ngân phóng tác thành nhạc phẩm « Tình sau cơn bão » do các giọng ca Ngọc Lan, Kiều Nga hay Cao Lâm ghi âm.

    Thầm cầu mong cho mưa tạnh, hết rồi tháng ngày hiu quạnh. Bất hạnh rồi cũng qua nhanh, điềm lành những mãnh trời xanh. Thầm cầu mong cho giông bão, trên đường tình sớm qua mau. Cho đôi mình gặp lại nhau, yêu thương như thuở ban đầu.

    10 min

About Tạp chí văn hóa

From the publisher's feed

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

More shows like Tạp chí văn hóa

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí tiêu điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí tiêu điểm

0 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners