Tạp chí Kinh Tế

Tạp chí Kinh Tế

By RFI Tiếng ViệtBusiness
Download on the App Store

Tạp chí Kinh Tế episodes

  • Khủng hoảng niềm tin vào tiềm lực tăng trưởng của Pháp

    Chính phủ Pháp bị « mắc kẹt » vì ngân sách, cuối trào của thời đại Macron, uy tín chính trị sứt mẻ trước nhiều lớp phẫn nộ của công luận. Tăng trưởng đình trệ, lạm phát gia tăng, những hình ảnh « bạo lực đô thị » sau cuộc biểu tình ngày 17/10/2026 bào mỏng thêm niềm tin của giới tài chính và các nhà đầu tư vào tiềm lực tăng trưởng của nền kinh tế thứ 2 trong Liên Hiệp Châu Âu. 

     

    Phát biểu cuối tháng 8/2026 bộ trưởng Kinh Tế Pháp Roland Lescure phác họa ra một bức tranh u ám về thực trạng kinh tế Pháp : « Các thống kế của mùa hè năm nay cho thấy tình trạng cực kỳ tồi tệ : Nông dân Pháp trong một số lĩnh vực và tại một số vùng bị mất mùa. Viện Thống Kê Quốc Gia hạ dự báo tăng trưởng trong quý 1 và quý 2. Tác động sẽ kéo dài sang quý 3 ».

    Không tiền, bế tắc ở phía trước

    GDP trong quý 1 giảm 0,3 % ở quý 2 là 0 % và báo trước tình hình khó khăn trong quý 3. Từ đầu năm đến nay, Paris luôn phải đi vay với lãi suất cao hơn so với Đức và Ý. Cũng từ 2002 Pháp mới phải đi vay tín dụng 10 năm với lãi suất hơn 5 %. Có ba yếu tố giải thích vì sao vào những tháng cuối nhiệm kỳ, chính quyền của tổng thống Macron và thủ tướng Le Cornu phải đi vay với lãi suất cao như vậy.

    Giới đầu tư trông thấy bế tắc « ở phía trước » của chính phủ để tìm được đồng thuận cho ngân sách 2027, mục tiêu thu hẹp bội chi ngân sách xuống còn 5 % GDP « hoàn toàn bất khả thi » cùng lúc bất mãn trong công luận Pháp dâng cao.

    Giới học sinh, sinh viên đòi chính phủ đầu tư thêm vào cải tổ hệ thống giáo dục. Là một trong những nền kinh tế tiên tiến nhất thế giới nhưng ngân sách giáo dục hiện tại của Pháp là 64 tỷ euro một năm. Trong lúc đó, năm 2025 Paris đã phải rót 80 tỷ để thanh toán tiền lãi cho các chủ nợ. Với mức chi tiêu hiện tại, năm 2028 tiền lãi phải trả cho chủ nợ của nước Pháp sẽ vượt ngưỡng 100 tỷ euro theo thẩm định của cơ quan quan sát tình hình kinh tế Pháp Rexecode (55 % nợ công của Pháp do các đối tác nước ngoài nắm giữ.)

    Uy tín chính trị sứt mẻ trước nhiều lớp phẫn nộ của công luận

    Thêm vào đó là những « lớp phẫn nộ chồng chất ». Các cuộc xuống đường trên toàn quốc hôm 17 và 24/10/2026 đã dẫn đến bạo động là sự « tích tụ của rất nhiều những bất mãn trong xã hội » và chẳng may cho những người biểu tình, họ đã bị « các thành phần muốn gây bạo loạn, những tay trộm cướp và cả những chính khách muốn khơi dậy hận thù lợi dụng » như giải thích của bà Marie Lajus, cựu phó lãnh đạo cảnh sát Paris. Trong khi đó thì bất bình vì đời sống đắt đỏ, vì giá xăng dầu, giá thực phẩm, nông phẩm tăng cao là có thực.

    Hình ảnh khoảng 3.000 cửa hàng trên toàn quốc bị đập phá, bị đốt hay bị cướp, hơn 2.400 người bị câu lưu và khoảng 1000 nhân viên an ninh bị thương trong cuộc biểu tình hôm 17/10 là « một đòn mạnh vào niềm tin của thị trường và các nhà đầu tư nước ngoài đối với tương lai của Pháp ».

    Về thiệt hại vật chất mà cuộc biều tình cách nay 10 ngày gây ra, Quỹ IFRAP chuyên nghiên cứu và phân tích về chính sách công của Pháp ước tính, hơn 1 tỷ euro đã không cánh mà bay do các cửa hàng bị phá hoại, do các hoạt động buôn bán bị gián đoạn tại các thành phố lớn từ Paris đến Marseille…

    Vòng xoáy bạo lực

    Điều nguy hiểm hơn nữa như chuyên gia về luật Benjamin Morel, giảng dậy tại đại học Paris Sorbonne 2 ghi nhận trên đài truyền hình Arte, từ loạt bạo động vừa qua, người ta có cảm tưởng « bạo lực » là một công cụ đấu tranh hiệu quả, vì chính phủ phải nhượng bộ và một khi mà chính quyền đã nhượng bộ rồi thì người ta có thể tiếp tục khai thác công cụ đó để đòi hỏi nhiều hơn nữa.

    Chính cảm giác này đe dọa uy tín của nước Pháp trong lúc các nhà đầu tư ý thức được rằng, chính quyền Emmanuel Macron chỉ tồn tại cho đến bầu cử tổng thống lần tới vào tháng 5/2027 cho nên, những « đối thoại » chính phủ đang mở ra với giới công đoàn, với đại diện của phong trào học sinh sinh viên, chẳng qua chỉ nhằm « làm hạ nhiệt tình hình ».

    Chính trong bối cảnh đó Viện Thống kê Quốc gia INSEE trong thông cáo hôm 27/10/2026 lưu ý « chỉ số phản ánh niềm tin của các hộ gia đình đã giảm 5 điểm trong tháng 10/2026. Đây là mức thấp nhất kể từ tháng 6 năm 2013 ».

    Trên đài truyền hình Pháp, France 24 Anne Sophie Alsif, kinh tế trưởng công ty tư vấn BDO -Paris không mấy lạc quan :

    « Nhìn vào những yếu tố tạo ra tăng trưởng thì gồm có sức mua của các hộ gia đình và đầu tư từ phía các doanh nghiệp. Hiện tại tiêu thụ của các hộ gia đình vẫn tương đối ổn định nhờ mọi người có tiền tiết kiệm. Nhưng cũng không thể nói là dân Pháp hào hứng chi tiêu. Riêng về đầu tư từ các doanh nghiệp, thì đây là một vấn đề. Chính vì thế mà các dự phóng tăng trưởng của Pháp sa sút ».   

    Nhìn từ phía các chủ doanh nghiệp, Charles Znaty, phát ngôn viên hiệp hội các giới chủ MEDEF sáng lập viên hệ thống bánh ngọt nổi tiếng mang tên Pierre Hermé giải thích : Thực trạng kinh tế của Pháp không đến nỗi tệ nhưng điều tối kỳ là « khủng hoảng niềm tin». 

    « Phần lớn các chủ doanh nghiệp hiện nay bị ảnh hưởng về mặt tinh thần, thiếu tự tin. Đây là một vấn đề kép : tăng trưởng bị đóng băng, đồng thời giới chủ không tin tưởng đề đầu tư. Tâm trạng bất an nay đang dâng cao đến mức tối đa, nhất là vào thời kỳ trước bầu cử - đặc biệt là trước những cuộc bầu cử tổng thống. Như thể là có thêm một lớp sương mù khiến tình hình càng khó khăn hơn ».

    Thế kẹt của các công ty xuất khẩu

    Vẫn trên đài truyền hình Pháp France 24 Eric Delannoy, điều hành một công ty tư vấn với hơn 60 nhân viên nói rõ hơn về nỗi băn khoăn của những người điều hành và các nhà sản xuất và hiện tại có hai lĩnh vực được coi là vững chắc : Ngân hàng, và các tập đoàn sản xuất vũ khí. Phần còn lại với những công ty xuất khẩu, số này vừa phải đối mặt với cạnh tranh của nước ngoài, với những biện pháp bảo hộ … nhưng đôi khi các thị trường ở hải ngoại cũng khá năng động.

    Olivier Schiller, chủ nhân Septodont, chuyên về dược phẩm và thiết bị y tế nha khoa giải thích rõ hơn :

    « Một công ty hoạt động trên thương trường quốc tế vừa bị các đối thủ, như Mỹ hay Trung Quốc, cạnh tranh và chèn ép: Xuất khẩu của họ gặp khó khăn. Cùng lúc, họ bị cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa. Thành thử bằng mọi giá phải khôi phục khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Pháp để hàng Made in France tồn tại, để Pháp thực hiện mục tiêu tái công nghiệp hóa ».

    Eric Delannoy thuộc tập đoàn Tenzing Conseil chuyên tư vấn cho các chủ doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp nói đến sự bất cập trong các chương trình đào tạo nhân sự tại Pháp

    « Vấn đề chính ở Pháp là công tác đào tạo và điều này ảnh tác động trực tiếp đến thị trường lao động. Đào tạo và giáo dục là chìa khóa cho phép giải quyết thất nghiệp. Rất nhiều các thân chủ của tôi không tìm được đúng những người có tay nghề và chuyên môn thích hợp. Chỉ riêng trong lĩnh vực công nghiệp, Pháp hiện đang rất cần một số những tài năng chuyên môn ».

    Olivier Schiller thuộc tập đoàn dược phẩm Septodont giải thích thêm và đưa ra một thí dụ cụ thể :  

    « Điều đáng tiếc là chúng ta có những biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề nhưng rồi những điều khoản đó đã bị dẹp bỏ. Thí dụ như là để đào tạo cho thanh niên, chính phủ đã hỗ trợ cho doanh nghiệp -để khuyến khích họ tuyển dụng và đào tạo cho các lớp trẻ. Nhưng rồi sau bầu cử Quốc Hội trước thời hạn hồi 2024, thì biện pháp tài trợ cho doanh nghiệp để khuyến khích đào tạo cho sinh viên, học sinh này lại bị dẹp bỏ. Nói là chính phủ giúp đỡ cho doanh nghiệp, nhưng thực ra chỉ là giảm bớt gánh nặng xã hội cho họ mà thôi. Cụ thể là để trả 100 euro tiền lương cho nhân viên thì một ông chủ ở Pháp phải đóng góp cho nhà nước 145 euro. Ở Đức khoản này chỉ là 122 euro ».

    Từ 2017 khi lên cầm quyền, tổng thống Emmanuel Macron đã nỗ lực tô điểm hình ảnh của nước Pháp trong mắt các nhà đầu tư quốc tế qua việc tổ chức các hội nghị Choose France, thu hút chú ý của các ông chủ tên tuổi nhất trong giới công nghệ, tài chính, dược phẩm ... Chính quyền Macron cũng đã xây dựng những công cụ để tạo điều kiện cho giới trẻ dễ chen chân vào thị trường lao động, đẩy lùi thất nghiệp, tạo điều kiện để Paris cạnh tranh với Luân Đôn trong lĩnh vực tài chính... Nhưng rồi phong trào Áo Vàng Gilet Jaune 2018, đại dịch Covid-19 và giờ đây là làn sóng phẫn nộ vào cuối nhiệm kỳ. Hình ảnh ngọn tháp ở tòa thị chính thành phố Limoges bốc cháy, cảnh tượng cửa hàng bị cướp ... khiến báo New York Times nói đến cảnh tượng « một trong những cuộc bạo loạn lớn nhất từ nhiều năm qua ». Nhật báo Thụy Sĩ Le Temps thì xem ngày 17/10/2026 là « một buổi chiều tà bất tận bao phủ lên nước Pháp ».

    10 min
  • Cuba bị kẹt giữa áp lực tối đa của Mỹ và sự bế tắc của mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa

    Không có dầu hỏa như Venezuela, không có vốn và cũng không có đồng minh : La Habana có thể cầm cự được bao lâu trước áp lực tối đa của Mỹ ? Bóp nghẹt kinh tế Cuba, Hoa Kỳ đánh cược vào kịch bản người dân vùng lên, lật đổ chế độ Cộng Sản liên tục cầm quyền từ cuộc Cách Mạng năm 1959. Washington vẫn cân nhắc một giải pháp quân sự và theo đuổi mục tiêu biến Cuba thành một vùng « bảo hộ ».

    Cuối tháng 9/2026 Mỹ siết chặt thêm các biện pháp trừng phạt nhắm vào Cuba : Washington cấm mọi giao dịch tài chính - kể cả gián tiếp - bằng đô la với các thực thể của Cuba căn cứ trên danh sách đen của bộ Tài Chính Hoa Kỳ. Trái với một điều khoản đã thông qua từ 2024, từ nay trở đi, người dân Cuba không còn được phép mở và duy trì tài khoản ngân hàng tại Mỹ. Ngành du lịch, các hoạt động kinh tế tư nhân cũng bị ảnh hưởng dây chuyền. Lệnh cấm mới thậm chí được áp dụng cả với các ngân hàng hoạt động ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Điều đó có nghĩa là mọi dịch vụ thanh toán giữa hòn đảo này trong vùng biển Caribe với các đối tác quốc tế càng gặp nhiều trở ngại.

    Thiếu xăng dầu ... Cuba không chỉ mất điện

    Vấn đề đặt ra đối với Cuba là chính những khoản giao dịch tài chính này có vai trò sống còn đối với một nền kinh tế đang bị thiếu hụt từ năng lượng đến thực phẩm, thuốc men …    

    Từ đầu năm 2026 Hoa Kỳ phong tỏa nghiêm ngặt mọi nguồn cung cấp dầu hỏa của Venezuela, Mêhicô, Nga cho Cuba. Ngay tại thủ đô La Habana, có những hôm tình trạng mất điện kéo dài 22 giờ trong một ngày, tác động trực tiếp đến các phương tiện giao thông, đến các nhà máy cung cấp nước, đến các hoạt động thu gom rác thải … Các trường học, bệnh viện, các nhà máy sản xuất, cũng bị xáo trộn. Ngành du lịch xuống cấp khi các chuyến bay quốc tế không được tiếp liệu xăng dầu, khi mà hệ thống khách sạn không có điện nước để hoạt động. Các hoạt động sản xuất, du lịch cũng bị xáo trộn.

    Mất thu nhập ngoại tệ nhờ « xuất khẩu dịch vụ y tế »

    Tại một quốc gia từng « xuất khẩu dịch vụ y tế » như Cuba, mà giờ đây người dân thiếu từ ống tiêm đến viên thuốc. Nguồn thu nhập nhờ xuất khẩu các dịch vụ y tế của La Habana cũng đã bị chựng lại dưới áp lực của Hoa Kỳ. Đồng tiền quốc gia liên tục bị mất giá. Đối với một quốc gia phải nhập khẩu đến 70 % lương thực thực phẩm thì đây là một tai họa.

    Theo các số liệu chính thức, lạm phát tại Cuba trong tám tháng đầu năm 2026 tăng 25 % so với cùng thời kỳ năm ngoái, nhưng theo giới phân tích, thực tế còn phũ phàng hơn rất nhiều. 80 % dân số tại quốc gia từng rât tự hào về mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa này, nay sống dưới ngưỡng nghèo khó.

    Chính quyền Trump hy vọng tạo ra một tình thế khó khăn nhất, để buộc chính quyền ở La Habana phải mở cửa kinh tế, cởi trói về chính trị và qua đó biến hòn đảo này thành một « đối tác thuộc vùng ảnh hưởng của Hoa Kỳ », thậm chí là được đặt dưới sự « bảo hộ » của Uncle Sam.

    Cuba cải tổ để tồn tại 

    Riêng Donald Trump, hôm 16/03/2026, đã tuyên bố ông thực sự tin là sẽ có vinh dự « tiếp quản » Cuba « dưới một hình thức nào đó », có thể là Hoa Kỳ « giải phóng » hoặc « chiếm lấy hòn đảo này ».

    Vậy trong hoàn cảnh đó chính quyền của chủ tịch Miguel Diaz Canel có thể làm được những gì để duy trì ổn định trong xã hội và nhất là sự tồn tại của chế độ ? Trên đài phát thanh Pháp France Culture Laurine Chapon, chuyên gia về châu Mỹ Latinh trường Sư Phạm -Normale Sup và Viện Nghiên Cứu Châu Mỹ (Institut des Amériques) ghi nhận: La Habana đang cố gắng đưa ra một số các biện pháp cải tổ :

    « Dân số Cuba đã giảm đi đôi chút đang từ 11 triệu dân năm 2022 nay chỉ còn từ 9 cho đến 9,5. Gần 2 triệu người đã di tản và đây là một yếu tố hết sức quan trọng về phương diện kinh tế. Những người bỏ xứ ra đi là thành phần vừa có một chút tiền, vừa được đào tạo. Họ có chuyên môn. Mất đi nguồn nhân lực này, Cuba mất đi một phần nguồn lao động. Trái lại cộng đồng người Cuba lưu vong, chủ yếu là sống ở Hoa Kỳ, thì họ gửi tiền nhiều hơn về Cuba để giúp đỡ gia đình. Chính quyền La Habana ý thức được rằng đây là một cột trụ của kinh tế cho nên đã bắt đầu sửa đổi luật pháp theo hướng cởi trói cho kinh tế, khuyến khích đầu tư tư nhân, nhất là đầu tư của người Cuba sống ở hải ngoại. Đây là một sự thay đổi triệt để đối với quốc gia mà từ cuộc Cách Mạng năm 1959 đến nay, người Cuba lưu vong luôn bị coi là thành phần phản Cách Mạng, là những kẻ phản bội …Mãi đến 2010 chế độ vẫn còn có cái nhìn tiêu cực về những người Cuba lưu vong. Nhưng hiện tại, tình hình đã thay đổi hoàn toàn. Cộng đồng Cuba ở hải ngoại được chào đón và có một chỗ đứng vững chắc hơn trong các hoạt động kinh tế ».

    Laurine Chapon nói đến một bức tranh kinh tế rất u ám tại Cuba hiện nay : 

    « Gần một nửa dân số Cuba tuổi đã ngoài 60. Điều này có những hậu quả đối với cả chính sách phòng thủ lẫn chiến lược kinh tế của hòn đảo này (…) trong khi đó thì những người ở lại, bị đẩy vào cảnh khốn cùng : Cuba đang thiếu đủ mọi thứ từ lương thực, thực phẩm, thuốc men, điện, nước … 80 % dân số sống dưới ngưỡng nghèo khó ».

    Chuyên gia Laurine Chapon phân tích những tác động khác nhau của cuộc khủng hoảng đối với các thành phần xã hội: 

    « Một bên là những người có cơ hội để tiếp cận với ngoại tệ, như euro và đô la. Đó là tiền mà thân nhân ở hải ngoại gửi về giúp đỡ. Số này sống tương đối tốt. Họ có thể mua tất cả mọi thứ, kể cả hàng nhập khẩu từ nước ngoài. Từ 2024 Nhà nước đã cho phép tư nhân tự do nhập khẩu máy móc, thuốc men, đồ gia dụng … Miễn là có tiền, ở thủ đô La Habana gần như là cái gì cũng có. 60 % thực phẩm ở Cuba được nhập của nước ngoài.

    Đây là một sự thay đổi rất lớn so với thời điểm 2021/2022. Bên cạnh đó thì đại đa số còn lại trong xã hội, họ không được thân nhân ở nước ngoài tiếp tế. Số này thực sự khó khăn trong lúc mà đời sống đắt đỏ, các dịch vụ của Nhà nước về y tế, về lương thực thì không ngừng xuống dốc … Thành phần này thiếu thốn đủ mọi thứ ».

    Trên đài RFI Pháp ngữ, nhà chính trị học Janette Habel Học Viện về Châu Mỹ Latinh IHEAL – Paris cũng không mấy lạc quan trước tình trạng Cuba ngày càng bị cô lập với phần còn lại của thế giới : 

    « Tình trạng hiện tại hoàn toàn tệ hại đối với đại đa số người dân Cuba. Hoa Kỳ theo đuổi chính sách bóp ngẹt hòn đảo này về phương diện kinh tế, thương mại. Bằng những đòn trừng phạt, bằng các biện pháp phong tỏa và tài chính, Mỹ cô lập hoàn toàn Cuba với phần còn lại trong số các quốc gia ở châu Mỹ và với toàn thế giới ».

    Về tiến trình cải tổ kinh tế của Cuba, cựu đại sứ Pháp tại Cuba Jean Mendelson nhấn mạnh đến hoàn cảnh mà ông gọi là « bất đắc dĩ » : 

    « Tất cả những biện pháp cải tổ đang tiến hành đã được đưa ra trong hoàn cảnh ép buộc. Phần lớn đều phù hợp với những quyết định được đưa ra từ thập niên 2010, tức là thời kỳ mà mà cha đẻ của cuộc Cách Mạng Cuba, Fidel Castro còn sống với hy vọng mang lại một động lực mới cho kinh tế Cuba ».

    Nhà chính trị học Gaspard Estrada Trường Kinh Tế và Khoa Học Chính Trị Luân Đôn nói đến một sự tiếp nối trong chính sách cải tổ của Cuba : Từ thập niên 2010 La Habana dưới thời chủ tịch Raoul Castro, La Habana thực ra đã tiến hành cải tổ trong giai đoạn đàm phán bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ.

    « Chúng ta thấy rõ, chế độ Cuba đang bị thực tế dồn vào chân tường. La Habana bắt buộc phải đưa ra những biện pháp cải tổ và mở cửa kinh tế. Nhưng thực ra chế độ Castro đã ý thức được điều này và đã bắt đầu công cuộc cải cách, cởi trói cho thị trường từ những năm 2010 và nhất là giai đoạn 2015/2016 để bình thường hóa quan hệ dưới thời tổng thống Mỹ Barack Obama. Điều thực sự quan trọng đối với hòn đảo này là tương lai chính trị nào cho Cuba, La Habana có những phương tiện nào để vực dậy kinh tế ? Khác với Venezuela vốn có dầu hỏa, tài nguyên của Cuba không nhiều. Làm thế nào tái thiết đất nước ? Trong hoàn cảnh đó bản thân Hoa Kỳ cũng đang cân nhắc khả năng can thiệp quân sự vào Cuba ».

    Mỹ do dự trước khi can thiệp vào Cuba   

    Trong nhiệm kỳ đầu (2017-2020) tổng thống Mỹ Donald Trump đã ban hành thêm 243 biện pháp trừng phạt nhắm vào Cuba. Ở nhiệm kỳ 2, ông vẫn ấp ủ tham vọng dễ dàng « chiếm » được Cuba như đã kiểm soát Venezuela sau chiến dịch quân sự hồi tháng 01/2026. Có điều Cuba không có dầu hỏa như Venezuela, hiện tại Washington cũng không có một đối tác đủ vững chắc tại La Habana như đã có thể trông cậy vào quyền tổng thống Venezuela Delcy Rodriguez ở Caracas và quan trọng hơn nữa, Washington ý thức được rằng nếu hòn đảo với khoảng 10 triệu dân cư này bị đẩy vào một cuộc khủng hoảng về chính trị, thì nước Mỹ của ông Trump sẽ phải đối mặt với một « làn sóng người nhập cư » từ Cuba tràn sang Hoa Kỳ. Đó là kịch bản mà Washington muốn tránh bằng mọi giá.

    Trừng phạt hay để bán dầu cho Cuba ? 

    Song có một thực tế phũ phàng : Washington cắt các nguồn tiếp liệu dầu hỏa của Cuba để hòn đảo này phụ thuộc nhiều hơn vào năng lượng của Hoa Kỳ. Theo các số liệu chính thức được công bố, Mỹ hiện là nguồn cung cấp nhiên liệu lớn nhất cho chế độ mà thực ra vẫn trong tay gia đình Castro : Tháng 08/2026 Mỹ xuất khẩu gần 75 triệu đô la dầu hỏa sang Cuba vượt xa 60 triệu đô la trong cùng thời kỳ một năm trước đó.

    Các chuyên gia Pháp nghiên cứu về Cuba đồng loạt nhận định, chính sách của Mỹ với hòn đảo này là một sự tiếp nối từ học thuyết Monroe được chính quyền Trump cập nhật hóa hồi tháng 11/2025. Riêng Jean Jacques Kourliansky, giám đốc Đài Quan Sát Châu Mỹ Latinh - Caribe, Quỹ nghiên cứu Jean Jaurès nhắc đến nét đặc biệt trong quan điểm của Donald Trump về Cuba

    « Điều mà không mấy ai nhắc đến là từ 2011 ông Donald Trump đã liên hệ với Cuba bất chấp lệnh cấm vận và trừng phạt của Hoa Kỳ nhắm vào chế độ tại La Habana để kinh doanh. Trump muốn đầu tư vào du lịch của Cuba, muốn xây dựng thương hiệu Donald Trump trên quê hương của Fidel Castro, muốn mở khách sạn… Donald Trump luôn đặt lợi ích của mình lên trên hết và đã trông thấy tiềm năng của ngành du lịch Cuba, tương tự như ông đã trông thấy tiềm năng về dầu hỏa của Venezuela ».

     

    Với Donald Trump, tiền là trên hết

    Nhà chính trị học Janette Habel cũng nhấn mạnh đến khác biệt về tầm nhìn giữa tổng thống Trump và ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio về Cuba : là một người gốc Cuba, ông Rubio chủ trương lật độ chế độ vẫn trong tay nhà Cách Mạng lão thành Raoul Castro. Điểm duy nhất khiến Washington còn do dự là những ẩn số chung quanh các làn sóng di tản có thể đổ bộ vào Hoa Kỳ nếu Cuba bấn ổn. Christophe Ventura, giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược  IRIS của Pháp phân tích :

    « Một trong những kịch bản mà Washington đang hướng tới là tạo ra một cuộc nổi dậy để lật đổ chế độ, như vậy Mỹ không cần phải trực tiếp can thiệp quân sự vào Cuba. Mỹ đánh cuộc vào một cuộc nổi dậy xuất phát từ cảnh đói kém, bần cùng… Nhưng không có gì bảo đảm là kịch bản này sẽ diễn ra và diễn ra như Washington mong muốn… bởi vì, ít nhất, hiện có hai ẩn số mà chính quyền Trump hoàn toàn không nắm bắt được. Ẩn số thứ nhất liên quan đến tương lai chính trị của một hòn đảo với trên dưới 10 triệu dân và ẩn số thứ hai là Washington sẽ phải đàm phán với ai cho tiến trình chuyển đổi chính trị ở Cuba. Trong khi đó điều chắc chắn duy nhất là nếu bất ổn tại Cuba kéo dài sẽ dẫn tới một cuộc khủng hoảng về di dân mà đó là điều mà chính quyền Trump tuyệt đối không muốn xảy ra. 10 % dân số Cuba đã vượt biển định cư ở nước ngoài. Mỹ đã vất vả trục xuất người nhập cư Cuba về nguyên quán … Di dân Cuba tìm đường sang những nước châu Mỹ khác định cư như Colombia … »

     Chuyên gia Pháp thuộc viện IRIS không loại trừ « kịch bản đen tối nhất có thể xảy ra » có nghĩa là một cuộc nổi dậy từ bên trong lật đổ chế độ : 

    « Tựu chung, Cuba là một nền kinh tế không có năng lượng để sinh hoạt, các hoạt động kinh tế bị thui chột, dịch vụ du lịch như một ngọn lửa đã tắt ngấm … Tất cả những yếu tố này có thể dẫn tới những kịch bản tai hại nhất như vừa nêu »

    Giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược Christophe Ventura nhắc lại rằng, chính sách đối ngoại của Mỹ trong 60 năm trở lại đây cho thấy mỗi lần mà Hoa Kỳ muốn can thiệp tại một quốc gia nào đó, Washington luôn biện minh rằng Mỹ cần « trừng phạt » tài chính, kinh tế hay cần huy động các lực lượng quân sự để diệt trừ một « mối đe dọa đối với an ninh nội địa » và vì muốn lật đổ chế độ tại La Habana, tổng thống Donald Trump đột nhiên lại nhắc đến hiểm họa của một chế độ « Cộng Sản » …Trong chính sách đối ngoại của Mỹ hiện nay, theo chuyên gia này, « Cuba với mô hình xã hội chủ nghĩa là một cái ung nhọt, một ngoại lệ trong vùng biển Caribe mà chính sách an ninh mới của Mỹ cũng như Donald Trump không chấp nhận được ». Đó là chưa kể những tính toán kinh doanh của lãnh đạo Nhà Trắng hiện nay.     

    12 min
  • Mỹ - Trung Quốc cùng mục tiêu bảo đảm các nguồn cung ứng dầu khí, khoáng sản chiến lược

    Hoa Kỳ quan niệm « Năng lượng là chìa khóa để thống lĩnh thế giới, khoáng sản chiến lược là nền tảng của sức mạnh ». Đối với Trung Quốc, Con Đường Tơ Lụa Mới thế kỷ 21 là « ống hút » đưa nguyên liệu từ khắp nơi trên thế giới về Hoa Lục. Bắc Kinh và Washington đang cùng lao vào cuộc chạy đua bảo đảm các nguồn cung ứng về dầu khí, khoáng sản chiến lược và nguyên liệu.

    Phát biểu ngày 07/08/2026, tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố : « Trong nhiệm kỳ đầu của tôi, chúng ta đã bảo đảm được cho nước Mỹ tự chủ về mặt năng lượng. Giờ đây, liên quan đến những khoáng sản chiến lược cho tương lại, Hoa Kỳ sẽ không còn phải phụ thuộc vào bất kỳ một quốc gia thù nghịch nào. Nước Mỹ dư thừa tài nguyên. Các khoáng sản thiết yếu là nền tảng sức mạnh, là nguyên liệu đầu vào cho mọi thứ, từ các hệ thống vũ khí tiên tiến đến xe ô tô. Các khoáng sản này phải được khai thác, tinh luyện và chế tạo thành sản phẩm ngay tại đây, trên lãnh thổ Hoa Kỳ ».

    Nguyên thủ Mỹ nhấn mạnh « các khoáng sản thiết yếu là nền tảng của sức mạnh ». Hôm 24/09/2026, tiếp chủ tịch Trung Quốc tại Nhà Trắng, những bất đồng về thương mại Mỹ - Trung, nhu cầu về dầu hỏa và năng lượng của hai cường quốc kinh tế kinh tế hàng đầu thế giới, khoáng sản chiến lược là những hồ sơ mà ông Donald Trump đã đề cập đến với ông Tập Cận Bình.

    Kinh tế và địa chính trị càng lúc càng gắn chặt với nhau. Xung đột tại Trung Đông và eo biển Hormuz bị phong tỏa, eo biển Bab el Mandeb dậy sóng, chiến tranh tại Ukraina... đang làm lộ rõ những nhược điểm trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Dầu hỏa, khí đốt, đồng, nhôm, thép và kim loại hiếm đang trở thành những yếu tố cấu thành sức mạnh của các siêu cường trên thế giới.

    Trên đài RFI, nhà nghiên cứu Emmanuel Hache, Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược của Pháp - IRIS, trước hết đặt lại cuộc đua tranh giành tài nguyên giữa Mỹ và Trung Quốc trong bối cảnh địa chính trị căng thẳng hiện nay với nhiều cuộc xung đột vũ trang nhất từ sau Thế Chiến Thứ Hai đến nay :

    « Thế giới lâm vào tình cảnh như hiện tại là do từ tháng 9/2026 đến nay, Trung Quốc ráo riết lấp đầy trở lại các kho dự trữ. Thị trường dầu hỏa tương đối ổn định từ cuối tháng 2 cho đến tháng 8 vừa rồi. Đó là thời điểm Bắc Kinh huy động các kho dự trữ chiến lược để bảo đảm nhu cầu tiêu thụ nội địa ».

    Tác động dây chuyền và như một vết dầu loang đẩy kinh tế toàn cầu vào tình trạng căng thẳng. Chuyên gia Emmanuel Hache phân tích tiếp :

    « Chẳng hạn như khí đốt là một nguồn năng lượng đầu vào cho ngành luyện kim, cho nên khí đốt tăng giá sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến những thị trường khác, thí dụ như giá của một số các kim loại như nhôm, thép … cũng sẽ tăng theo. Qua đó là cả chuỗi sản xuất, cả nền kinh tế của một quốc gia, và thương mại toàn cầu bị tác động ».

    Cạnh tranh ở nhiều cấp 

    Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng lao vào một cuộc đua bảo đảm các nguồn tài nguyên thiết yếu. Đây cũng chính là tâm điểm của mọi cuộc tranh hùng trong thế kỷ XXI.

    Cuộc cạnh tranh này liên quan đến các loại nhiên liệu hóa thạch, khoáng sản chiến lược, kim loại thiết yếu cho công nghiệp, vật liệu dùng trong sản xuất pin, đất hiếm và các công nghệ cần thiết cho quá trình chuyển dịch năng lượng.

    Đối với cả Washington và Bắc Kinh, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ còn là sở hữu tài nguyên thiên nhiên, mà còn là kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng từ khâu khai thác đến các kỹ thuật tinh luyện, từ khâu chế biến đến sản xuất linh kiện, cho đến các dịch vụ vận chuyển, lưu trữ và tái chế.

    Theo giới quan sát đây không đơn thuần là một cuộc chạy đua để « chiếm » tài nguyên mà là một sự cạnh tranh « nhiều tầng » vì an ninh năng lượng quốc gia, vì an ninh công nghiệp, vì tự chủ công nghệ và khả năng kháng cự trước những áp lực về kinh tế, ngoại giao và thậm chí quân sự. 

    Chiến lược tự chủ về kim loại hiếm từ thập niên 1950

    Có điều, tuy theo đuổi cùng một mục đích là bảo đảm các nguồn cung cấp tài nguyên, từ quặng mỏ, nguyên liệu thô, đến tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản …, Mỹ và Trung Quốc lại có những phương pháp rất khác nhau. Tuyên bố của tổng thống Donald Trump hôm 07/08/2026 một lần nữa nhấn mạnh đến một sự tự chủ đối với kim loại hiếm và mọi khoáng sản chiến lược của các « quốc gia thù nghịch ».

    Về điểm này, nhà nghiên cứu Emmanuel Hache viện IRIS đánh giá, chiến lược của lãnh đạo Nhà Trắng hiện nay không có gì mới lạ so với hơn 70 năm về trước :

    « Phát biểu của tổng thống Mỹ như thể ông đang đọc lại từng câu chữ từ báo cáo Paley năm 1952. Tài liệu mang tựa đề ‘Resouces for freedom - Tài nguyên phục vụ tự do’ , do chủ tịch Ủy Ban Chính Sách Tài Nguyên của phủ tổng thống, William Paley, đệ trình. Tài liệu này đã nhấn mạnh những khoáng sản chiến lược mang tính quyết định đối với nền văn minh Hoa Kỳ. Từ thập niên 1950, ở Mỹ đây đã là mối quan tâm hàng đầu. Trong số 55 khoáng sản chiến lược, thì có tới 30 loại mà Hoa Kỳ hoàn toàn phụ thuộc vào các nguồn nhập khẩu của nước ngoài. Đó là lý do vì sao lãnh đạo Nhà Trắng nhấn mạnh đến sự tự chủ - nhất là Mỹ có nhiều tài nguyên và cũng có thể là một nguồn cung cấp rất lớn cho thế giới. Vấn đề là Hoa Kỳ hiện nay là đang bị phụ thuộc vào Trung Quốc, vào khoáng sản của Canada ».  

    Về phần giáo sư Yves Jégourel, Học Viện Công Nghệ và Mỹ Thuật Quốc Gia CNAM – Paris, ông giải thích vì sao tổng thống Mỹ thứ 47 liên tục đòi « thôn tính » Groenland của Đan Mạch, tuyên bố Canada là « bang thứ 51 của Hoa Kỳ » và cụ thể hơn là đã đạt được thỏa thuận về dầu hỏa Venezuela với chính quyền tại Caracas trong tay quyền tổng thống Delcy Rodriguez : 

    « Kim loại chiến lược từ rất lâu nay đã là một vấn đề đối với Hoa Kỳ. Đầu thế kỷ 20 Mỹ đã lao vào một cuộc chạy đua tranh giành quyền khai thác các mỏ thiếc với Anh Quốc. Thiếc là nguyên liệu cần thiết để sản xuất từ những cạp lồng đựng đồ ăn cho lính đến bình xăng xe vận tải quân sự … Trong quan niệm của người Mỹ làm chủ năng lượng là chìa khóa cho phép một quốc gia trở thành một siêu cường trên thế giới. Lịch sử công nghiệp cũng đã chứng minh rằng năng lượng là chìa khóa để thống lĩnh toàn cầu. Làm thế nào để kiểm soát năng lượng của thế giới ? Hoặc là kiểm soát các nguồn năng lượng hóa dầu, hoặc là làm chủ các nguồn năng lượng sạch.

    Trong lĩnh vực năng lượng xanh, năng lượng tái tạo, hiện thời Trung Quốc đang dẫn đầu cuộc đua. Do vậy có khả năng là chính quyền Trump quyết tâm đẩy mạnh mục tiêu thâu tóm các giếng dầu trên thế giới - điển hình là các mỏ dầu của Venezuela, để vừa giải quyết các nhu cầu trong ngắn hạn, vừa làm chậm lại tiến độ phát triển của Trung Quốc về năng lượng xanh … Và để đạt được các mục tiêu này, Hoa Kỳ không ngần ngại huy động cả quân đội vào cuộc, như đã thấy trong trường hợp với Venezuela ».

    Washington sẵn sàng thay đổi các mối liên minh vì khoáng sản ? 

    Vào lúc căng thẳng về thương mại giữa Mỹ và Canada dâng cao, Hoa Kỳ vốn hoàn toàn phụ thuộc vào muối kali của Canada được dùng để sản xuất phân bón, Nhà Trắng sẵn sàng đàm phán về một « big deal » với Belarus… và như giáo sư Jégourel ghi nhận : Quyết tâm giành lại quyền kiểm soát hay khai thác tài nguyên thiên nhiên của chính quyền Washington ảnh hưởng đến nhiều quốc gia từ Venezuela (dầu hỏa) đến Belarus (muối kali) hay Groenland của Đan Mạch (đất hiếm, kim loại thiết yếu, tiềm năng uranium và các khoáng sản công nghiệp), hay Cộng Hòa Nhân Dân Congo (đồng, thiếc, coban …).

    OBOR, ống hút tài nguyên của thế giới 

    Trong khi đó, tại Bắc Kinh, từ hàng chục năm nay, Trung Quốc đã chủ trương đầu tư vào các khu khai thác quặng mỏ ở từ châu Phi đến châu Mỹ Latinh. Trong khi các nhà máy lọc dầu, các nhà máy luyện kim của Âu Mỹ thi nhau đóng cửa thì Trung Quốc đẩy mạnh chuỗi cung ứng, phát triển khâu tinh luyện kim loại hiếm … để trở thành nguồn cung cấp gần như độc quyền cho thế giới trong nhiều lĩnh vực.

    Trên đài RFI Pháp ngữ, Emmanuel Hache, chuyên nghiên cứu về năng lượng và kim loại, thuộc viện IRIS, so sánh chiến lược của Mỹ và Trung Quốc với cùng một mục tiêu :

    « Tháng 1/2025 một trong những sắc lệnh đầu tiên mà Donald Trump đặt bút ký khi trở lại cầm quyền mang tên ‘Thống trị năng lượng’ và tiếp theo đó tất cả những quyết định của nguyên thủ Mỹ đều đi theo hướng này. Washington liên tục tìm kiếm tài nguyên, tìm kiếm các nguồn cung cấp năng lượng và khoáng sản. Như trong chiến dịch ở Venezuela, như những đòn o ép Ukraina hay những hợp đồng với một vài nước châu Phi.

    Ở góc đài bên kia thì Bắc Kinh từng bước phát triển chính sách công nghiệp và từ đầu những năm 2000 đã trở thành nguồn nhập khẩu nguyên liệu lớn nhất trên thế giới. Trong rất nhiều lĩnh vực, Trung Quốc thậm chí là khách hàng số 1 mua khoáng sản, dầu hỏa, khí đốt … Cùng lúc, Trung Quốc cũng đã phát triển các cơ sở hạ tầng để tinh luyện khoáng sản để trở thành một nguồn cung cấp quan trọng nhất cho thế giới (…) Con Đường Tơ Lụa Thế Kỷ 21 mà Bắc Kinh đề xướng đơn giản là một ‘ống hút’ để đưa khoáng sản, nguyên liệu, dầu khí từ mọi nơi về Hoa Lục. Trong hoàn cảnh hiện tại, xung đột ở Trung Đông cho thấy Trung Quốc đã hoàn toàn có lý đầu tư và xây dựng cả một mạng lưới thay thế để đưa nguyên liệu về Hoa Lục và đa dạng hóa các nguồn cung cấp ».  

    Chuyên gia Emmanuel Hache, cũng như giáo sư Yves Jégourel, cùng ghi nhận : Trên con đường chinh phục những nguồn tài nguyên của thế giới, dưới những hình thức khác nhau, Hoa Kỳ và Trung Quốc đều đang theo đuổi chính sách mà hai chuyên gia này gọi là « Chủ nghĩa đế quốc mới ». Tuy nhiên, Hoa Kỳ là một trong những nhà sản xuất lớn của thế giới trong một số lĩnh vực, (như đồng, kẽm …), chủ trương khoáng sản Mỹ phải được khai thác trên đất Mỹ để phục vụ các nhà máy quốc gia. Hoa Kỳ muốn giảm bớt mức độ phụ thuộc vào ba nhà cung cấp chính, mà quan trọng nhất là Trung Quốc (ở một cấp độ thấp hơn là Canada và Brazil). Trái lại, thế mạnh của Trung Quốc là vừa đa dạng hóa các nguồn cung cấp, qua các dự án đầu tư ở nước ngoài, vừa duy trì và nâng cao vị thế của mình trong chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu.  

    10 min
  • 100 tỷ đô la đầu tư của Mỹ giúp Venezuela trở thành một cường quốc dầu hỏa thế giới ?

    Ngày 28/08/2026 tổng thống Donald Trump loan báo Hoa Kỳ đầu tư 100 tỷ đô la vào ngành dầu hỏa Venezuela để đổi lấy quyền khai thác 17 mỏ dầu chiến lược của nước này trong 100 năm. Tại Caracas, quyền tổng thống Delcy Rodriguez nói đến một thỏa thuận « lịch sử » cho phép Venezuela thu hơn 200 tỷ đô la tiền thuế. Với 100 tỷ đô la đầu tư của Mỹ, Venezuela thực hiện giấc mơ trở thành một nguồn cung cấp dầu hỏa lớn nhất thế giới, ngang hàng với Ả Rập Xê Út ?

    Nói chuyện với báo chí, tổng thống Trump khẳng định : Mỹ sẽ « trở nên giàu có, Venezuela cũng vậy ». Trước đó trên mạng xã hội cá nhân Truth Social nguyên thủ Mỹ giải thích : Ngoại trưởng Marco Rubio cùng với bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, Pete Hegseth đã tiến hành đàm phán với Venezuela và đạt được kết quả cụ thể là Mỹ huy động 100 tỷ đô la đầu tư tư nhân, để giành quyền kiểm soát 65 tỷ thùng dầu trong dự trữ của Venezuela và như vậy, trong tương lai, « tổng dự trữ dầu hỏa của Mỹ sẽ được nhân lên gấp đôi » so với hiện tại.

    Quyền tổng thống Venezuela, bà Delcy Rodriguez phấn khởi thông báo với toàn dân viễn cảnh 100 tỷ đô la đầu tư của Mỹ sẽ mang lại công việc làm cho người dân, nhân viên ngành dầu mỏ được trả lương cao hơn, với nguồn thu  nhập trong tương lai mà dầu hỏa mang lại cho đất nước, chính quyền sẽ bảo đảm cho người dân những dịch vụ công cộng tốt hơn, đầu tư vào giáo dục, người dân sẽ được ấm no … Bà kết luận :  « Đầu tư của Mỹ sẽ là mộtđòn bẩy, một cú hích mạnh mẽ » cho phép Venezuela cất cánh.

    Tính bất thường trong thỏa thuận 

    Trên đài truyền hình Arte, chuyên gia về năng lượng Francis Perrin, thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp thận trọng hơn rất nhiều trước những tuyên bố rất lạc quan từ phía tổng thống Donald Trump cũng như quyền tổng thống Delcy Rodriguez. Ông đồng thời nêu bật « tính bất thường » trong thỏa thuận về dầu hỏa giữa Mỹ và Venezuela lần này. Đó là sự can thiệp của chính quyền Washington : 

    « Trong lĩnh vực năng lượng và dầu hỏa, tầm nhìn thuộc về trung và dài hạn. Điều đó có nghĩa là Venezuela không sản xuất được một giọt dầu nào trước bầu cử giữa kỳ năm nay, sang năm tới hay năm 2028 và kể cả trước cuối nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump. Thỏa thuận giữa Washington và Caracas liên quan đến 17 mỏ dầu với tiềm năng rất lớn. Nhưng đó là một thỏa thuận giữa hai Nhà nước và sau đó còn phải thuyết phục các nhà đầu tư huy động vốn. Đó là những tập đoàn tư nhân. Đừng quên rằng để khai thác dầu của Venezuela, cần 100 tỷ đô la đầu tư. Câu hỏi đặt ra là liệu rằng ba tập đoàn dầu hỏa lớn nhất của Mỹ (ExxonMobil, Chevron và ConocoPhillips) có muốn bỏ vốn vào Venezuela hay không. Cái đó còn phải đợi xem đã. Điểm thứ hai là nét đặc thù của thỏa thuận này liên quan đến vai trò của chính phủ Mỹ. Chính quyền liên bang trực tiếp can thiệp ở ba cấp độ khác nhau : thứ nhất là tham gia khoảng 35 % , tỷ lệ này còn phải được xác định lại, vốn của một tập đoàn dầu hỏa tư nhân Venezuela. Thứ hai là chính Lầu Năm Góc, tức bộ Quốc Phòng Mỹ đứng ra bảo lãnh cho việc huy động vốn. Điều kiện thứ ba là Mỹ đã điều đình để trong tương lai, có thể mua lại 20 % sản lượng dầu của Venezuela với giá thành chứ không phải là với giá thị trường ».

    Trên đài RFI Pháp ngữ, Rafael Ramirez cựu bộ trưởng bộ Dầu Hỏa Venezuela, nguyên chủ tịch Tập Đoàn Dầu Hỏa Quốc Gia PDVSA trả lời câu hỏi liệu « thỏa thuận lịch sử » mà nguyên thủ Hoa Kỳ và lãnh đạo Venezuela cùng nói tới có lợi cho Venezuela hay không :  

    « Không, không, không. Hoàn toàn là không. Thỏa thuận này là một tai họa, đi ngược lại với tất cả lợi ích của Venezuela. Trong lịch sử nền công nghiệp dầu hỏa quốc gia, thì đây là một bước thụt lùi : Mỹ tước đoạt quyền kiểm soát 65 tỷ thùng dầu của Venezuela, tương đương với 21 % dự trữ dầu hỏa quốc gia. Hoa Kỳ hành xử như thể Venezuela là một tỉnh trực thuộc chính quyền liên bang ở Washington. Đây không hơn không kém là một hành vi tịch thu tài sản của Venezuela (…) Hợp đồng 100 năm thực ra là một hành động cướp đoạt trái phép, nhất là khi mà có sự can thiệp trực tiếp của Lầu Năm Góc, tức là của quân đội Hoa Kỳ. Đây là một mô hình thực dân mới mà Mỹ đang áp dụng từ hôm 03/01/2026 khi oanh kích Venezuela  và quân đội Venezuela  thì lại hoàn toàn không kháng cự. Chính quyền Caracas trong tay tổng thống Delcy Rodriguez lại tuyên bố sẵn sàng thực hiện tất cả những yêu sách của Washington … Venezuela từ đó đến nay bị đặt dưới sự bảo hộ của Mỹ ».

    Quyền tổng thống Venezuela cố gắng trình bày thỏa thuận về dầu hỏa ký kết với Washington như một thắng lợi đem lại sự thịnh vượng cho nhân dân và cho quốc gia Nam Mỹ này và nhất là bảo đảm chủ quyền của Venezuela. Tuy nhiên trong lúc tổng thống Donald Trump  nói đến quyền hạn khai thác dầu hỏa của Venezuela trong vòng 100 năm thì lãnh đạo Venezuela lại chỉ nên lên thời hạn là 25 năm mà thôi. Đây là khác biệt đầu tiên đáng chú ý nhất. Hiện tại các chuyên gia và báo chí chưa thể xác định thời hạn Mỹ khai thác dầu của Venezuela là bao lâu.

    Venezuela : Tiềm năng trở thành nhà cung cấp lớn nhất thế giới

    Theo các thống kê chính thức do Caracas cung cấp, Venezuela hiện đang có nguồn dự trữ dầu lớn nhất thế giới còn đợi được khai thác. Dự trữ tiềm ẩn của Venezuela ước tính là hơn 300 tỷ thùng dầu tức là còn cao hơn cả so với dự trữ của Ả Rập Xê Út (267 tỷ thùng) hay Iran (208 tỷ thùng dầu). Để so sánh, Mỹ đang cất giấu khoảng 45 tỷ thùng dầu chưa được khai thác (Nga là 80 tỷ thùng).

    Với một trữ lượng lớn như vậy nhưng Venezuela hiện tại chỉ sản xuất chưa tới 1 triệu thùng dầu mỗi ngày trong lúc Ả Rập Xê Út cho đến trước khi nổ ra chiến tranh Iran và eo biển Hormuz bị phong tỏa, lại sản xuất được hơn 9 triệu thùng mỗi ngày mà phần lớn trong số đó là để cung cấp cho thế giới. hơn 13 triệu thùng dầu cũng được sản xuất tại Mỹ nhưng chủ yếu là để phục vụ thị trường nội địa.

    Vành đai Orinoco

    Nhìn kỹ hơn, các mỏ dầu của Venezuela tập trung ở khu vực miền bắc trong vùng được gọi là Vành đai Orinoco, trải rộng trên diện tích khoảng 55.000 cây số vuông và đây chính là nơi có những mỏ dầu Mỹ đang nhắm tới. « 17 mỏ dầu chiến lược » trong thỏa thuận Washington - Caracas ông Trump nhắc đến hôm 28/08/2026 tập trung cả ở khu vực này.

    Tại khu vực Vành đai Orinoco, hiện đã có sẵn từ các nhà máy lọc dầu đến hệ thống các đường ống dẫn. Có điều cơ sở hạ tầng tại đây đã bị xuống cấp đáng kể từ nhiều thập niên qua. Công nghiệp dầu hỏa của Venezuela bị Hoa Kỳ trừng phạt từ 2014 dưới thời tổng thống đảng Dân Chủ Barack Obama. Chính quyền Trump trong nhiệm kỳ đầu, vào năm 2019 đã ban hành lệnh cấm vận dầu hỏa Venezuela. Điều đó không cấm cản Caracas lách lệnh trừng phạt của Mỹ và đã tiếp tục xuất khẩu dầu cho nhiều đối tác, quan trọng nhất là Trung Quốc và Cuba.

    Cần 183 tỷ đô la để trở lại với thời kỳ của năm 1997

    Một điểm quan trọng khác đó là khả năng sản xuất và thị phần của Venezuela trên thị trường quốc tế ngày càng bị thu hẹp : năm 1997 Venezuela sản xuất hơn 3,5 triệu thùng dầu mỗi ngày, chiếm 7 % sản lượng toàn cầu. Năm 2024, dù hoạt động hết công suất mỗi ngày, các nhà máy của Venezuela chỉ có thể cung cấp hơn 900 ngàn thùng dầu.

    Sự sụt giảm đó là hậu quả của hơn 20 năm thiếu đầu tư vào công nghiệp dầu hỏa dưới nhiệm kỳ của cố tổng thống Hugo Chavez (cuối 1999-2013) và nhất là dưới nhiệm kỳ của tổng thống Nicolas Maduro (2013-2026) khi mà đảng cầm quyền cánh tả PSUV xem công nghiệp dầu hỏa và nhất là tập đoàn dầu hỏa quốc gia như « máy rút tiền » : PDVSA được đặt dưới sự quản lý của quân đội và từ 2001 Caracas cho ra đời một đạo luật mới cho phép Nhà nước Venezuela « quốc hữu hóa » các tập đoàn khai thác tài nguyên - kể cả các công ty ngoại quốc.

    Dưới thời tổng thống Nicolas Maduro - cho đến hôm 03/01/2026 khi bị áp giải sang Mỹ, GDP Venezuela giảm 70 %, 80 % dân số tại quốc gia được cho là có dự trữ dầu hỏa lớn nhất thế giới, còn hơn cả so với vương quốc dầu hỏa trong Vùng Vịnh là Ả Rập Xê Út lại sống trong cảnh bần cùng, theo các thống kê của Liên Hiệp Quốc. Tệ hơn nữa trong gần 13 năm, một phần tư dân số Venezuela đã bỏ xứ ra đi, trong đó có không ít thành phần tinh hoa và các kỹ sư dầu mỏ.

    Thập niên 2000 cũng là thời điểm mà hai trong số ba tập đoàn dầu hỏa lớn nhất của Mỹ (là ExxonMobil, Chevron và ConocoPhillips) đã rút khỏi Venezuela, nay chỉ còn lại có Chevron. Vào lúc mà các hãng của Mỹ rời Venezuela để phản đối Caracas « tịch thu tài sản » các công ty nước ngoài thì cùng với Chevron của Mỹ, tập đoàn năng lượng Trung Quốc Sinopic và Eni của Ý vẫn tiếp tục cộng tác với chế độ Chavez rồi Maduro.

    Phát triển dầu hỏa : Venezuela cần thời gian

    Thỏa thuận với Mỹ có cho phép công nghiệp dầu hỏa của Venezuela « cất cánh » hay không ? Trước mắt các chuyên gia không mấy lạc quan.

    Các cơ sở hạ tầng của Venezuela đang ở trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, đến mức nước này chỉ sản xuất được 1% lượng dầu thô của thế giới và ai cũng biết, dầu của Venezuela là một loại dầu nặng, khó khai thác và khó kiếm lời.

    Venezuela đã chứng minh nắm giữ 17 % trữ lượng dầu trên thế giới nhưng để khai thác được nguồn dầu này, cần phải đầu tư với quy mô rất lớn. Thỏa thuận giữa Washington và Caracas cuối tháng 8/2026  đòi hỏi huy động 100 tỷ đô la vốn đầu tư tư nhân. Trước mắt, ngoài Chevron đã liên tục hiện diện tại Venezuela từ 1923 đến nay, hai « ông khổng lồ »  trong ngành dầu khí của Mỹ là ExxonMobil và ConocoPhillips không mấy hào hứng với việc trở lại các giếng dầu trong Vành đai Orinoco.

    Chủ tịch ExxonMobil từng tuyên bố vẫn xem Venezuela là điểm khó để đầu tư. Sự ổn định chính trị tại Caracas cũng là một ẩn số khiến nhiều nhà đầu tư quốc tế (ngoại trừ Sinopec của Trung Quốc, hay Eni của Ý và gần đây hơn là Shell, -liên doanh giữa Anh Quốc và Hà Lan, Repsol của Tây Ban Nha) lo ngại.

    Yếu tố chính trị tại Mỹ trong quyết định đầu tư của các tập đoàn Hoa Kỳ

    Một yếu tố quan trọng khác khiến bản thân các tập đoàn dầu hỏa Mỹ do dự trước khi quyết định bỏ vốn vào Venezuela liên quan đến nguy cơ phải trực tiếp cạnh tranh với một hãng của Mỹ được chính phủ yểm trợ.

    Vào lúc mà tổng thống Trump mở ra viễn cảnh, Hoa Kỳ kiểm soát 1/5 dự trữ dầu hỏa của Venezuela sau này thì hai « ông lớn » ExxonMobil và ConocoPhillips thận trọng trước thông báo chính Lầu Năm Góc - tức là bộ Quốc Phòng Mỹ sẽ yểm trợ cho tập đoàn tư nhân North American Blue Energy Parteners-Nabep. Bộ Quốc Phòng Mỹ kiểm soát 35 % vốn của Nabep và công ty tư nhân này tham gia liên doanh với một tập đoàn của Venezuela trong dự án 100 năm khai thác dầu tại 17 mỏ chiến lược trong Vành Đai Orinoco. Nabep lại do một nhà tỷ phú Venezuela rất thân cận với các chính trị gia ở Caracas điều hành.

    Khúc mắc chính ở đây theo giới quan sát là trong thỏa thuận Washington-Caracas, chính quyền Trump dự trù huy động đầu tư của những tập đoàn dầu khí tư nhân để giành quyền kiếm soát 65 tỷ thùng dầu của Venezuela trong vòng 100 năm. Liệu đây sẽ là một sự « cạnh tranh bất bình đẳng giữa các tập đoàn dầu hỏa của Mỹ » ?

    Để kết luận, có thể nói, có ít nhất 4 yếu tố cho thấy giấc mơ trở thành một cường quốc dầu hỏa của thế giới của chính quyền Caracas hãy còn xa vời : Chưa chắc những mỏ dầu đầy tiềm năng của Venezuela đủ sức thuyết phục các tập đoàn tư nhân Mỹ đầu tư 100 tỷ đô vào quốc gia Nam Mỹ này. Bản chất dầu hỏa của Venezuela « nặng và quánh đặc » đòi hỏi những kỹ thuật để khai thác, bơm và lọc dầu đặc biệt … điều đó đồng nghĩa với việc giá thành sẽ cao hơn so với dầu khai thác ở những nơi khác. Đây là lý do thứ hai khiến các nhà đầu tư thận trọng.

    Điểm thứ ba là lịch sử từng chứng minh rằng, những bất ổn chính trị khiến Venezuela không là một điểm đến an toàn. Hiện tại ExxonMobil vẫn còn hơn 2 tỷ đô la vốn đầu tư bị « kẹt » lại trong các dự án ở Venezuela. Chevron sở dĩ đã trụ lại ở Venezuela từ 2005 đến nay, bởi đã đầu tư hơn 12 tỷ đô la vào những mỏ « tiềm năng » tại quốc gia Nam Mỹ này. 

    Cuối cùng, cơ sở hạ tầng của Venezuela hiện đã xuống cấp đến mức, để tìm lại được mức sản xuất và cung cấp 3,5 triệu thùng dầu một ngày như thời điểm 1997, lập tức Caracas cần 183 tỷ đô la vốn đầu tư. Đó là một số tiền quá lớn và khó có thể xoay xở trong một sớm một chiều. Do vậy giới trong ngành kết luận rằng giấc mơ của Caracas trở thành một « giếng dầu » cho thế giới hãy còn xa vời.

    Vẫn còn 100 câu hỏi chung quanh khoản đầu tư 100 tỷ đô la của Mỹ vào Venezuela.

    10 min
  • Vận tải đường biển qua Bắc Cực : Thách thức và cơ hội

    Cách nhau đúng một tuần, Trung Quốc và Hàn Quốc cùng mở tuyến vận tải đường biển qua Bắc Cực, Northern Sea Route -NSR nối liền hai quốc gia Đông Bắc Á này với châu Âu. Sự kiện làm dấy lên nhiều hy vọng cho giao thương hàng hải trong bối cảnh chiến sự làm xáo trộn khu vực Hồng Hải, eo biển Hormuz bị phong tỏa. Con Đường Phương Bắc không chứng minh được khả năng sinh lời. Đây trước hết là một tính toán « chiến lược và chính trị ».  

    Phần lớn lộ trình NSR bọc theo bờ biển phía đông nước Nga : Các hãng vận tải đường biển châu Âu không muốn bị phụ thuộc vào Nga vốn đang bị nhiều nước phương Tây trừng phạt kinh tế. Bắc Kinh với một « tầm nhìn xa » muốn tận dụng mối quan hệ tốt đẹp với Matxcơva để vừa chen chân vào Bắc Cực, vừa giảm bớt áp lực tại một vùng biển nhậy cảm như eo biển Malacca.

    Đối với tổng thống Vladimir Putin, NSR trước hết là công cụ để phá vỡ thế cô lập và chận đứng các đòn trừng phạt mà phương Tây ban hành từ 2014, khi Matxcơva chiếm bán đảo Crimée của Ukraina.

    Rút ngắn thời gian giao hàng bằng mọi giá ?

    Với hai chuyến tàu, tập đoàn Trung Quốc Sea Legend và Hàn Quốc PanStar - khởi hành ngày 15 và 22/08/2026, đã làm dấy lên hy vọng thu ngắn 1/3 lộ trình và 20 % thời gian cho những chuyến tàu kết nối châu Á với châu Âu qua Bắc Cực và Bắc Băng Dương. Cả hai góp phần « mở đường » cho một tuyến hải trình mới. 

    Công ty vận tải biển Trung Quốc thậm chí còn thông báo từ nay cho đến « giữa tháng 9/2026 », tức là khi tuyết đóng băng, bảo đảm dịch vụ định kỳ với tần suất mỗi tuần một chuyến khởi hành từ Ninh Ba đến cảng Felixstowe tại Anh Quốc. Nhưng sau chuyến tàu duy nhất đã được rầm rộ loan báo, vẫn chưa thấy Sea Legend thông báo những chuyến tiếp theo.

    Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung từng vinh danh Acro là con tàu « tiên phong, khai mở một trục giao thương  mới lên Bắc Cực » nhưng cho dù tàu Acro của hãng vận tải PanStar đã cập bến an toàn từ hôm 11/09/2029, Seoul khá kín tiếng về « sự khai mở » quan trọng này.

    Tuyến hải trình cho tàu container

    Trả lời đài RFI Tiếng Việt, Paul Tourret, giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR ghi nhận, đằng sau sự hồ hởi ban đầu, các hãng vận tải đường biển đang phải cọ sát với một thực tế : NSR không đáp ứng nhu cầu giải tỏa căng thẳng trên thị trường năng lượng cho Trung Quốc, không chứng minh được khả năng sinh lời và trước mắt còn rất nhiều rủi ro trong việc khai thác hành trình qua Bắc Băng Dương và Bắc Cực. 

    Paul Tourret : « Từ khoảng 15-20 năm nay, Nga bắt đầu phát triển tuyến hàng hải đi qua Bắc Cực, cho phép rút ngắn hành trình nối liền châu Âu và Viễn Đông của Nga. Trên thực tế con đường biển này chỉ liên quan đến Bắc Âu và Đông Bắc Á, chính xác hơn là liên quan đến các vùng miền bắc Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Cần biết là tuyến đường phương bắc chủ yếu là để vận chuyển hàng hóa chứ không phải để chở năng lượng hay nguyên liệu. Cho nên việc mở thêm lộ trình phương Bắc này không giúp giải tỏa căng thẳng dầu khí do xung đột ở Trung Đông, eo biển Hormuz bị phong tỏa gây nên.

    Ngược lại tuyến đường qua Bắc Băng Dương một khi đi vào hoạt động sẽ rất có ý nghĩa với vận chuyển container, cho phép rút ngắn hành trình. Tuy nhiên với các tuyến tàu chở hàng, việc đi qua nhiều thành phố cảng như Thượng Hải, Sài Gòn rồi Singapore cũng có nhiều lợi thế : Tàu có thể nhận thêm hàng hay dỡ hàng trong suốt hành trình. Do vậy, ngành vận tải container không nhất thiết cần một tuyến đường nhanh ở phía Bắc. Nếu muốn vận chuyển nhanh thì có thể sử dụng đường sắt xuyên qua lãnh thổ Nga, hay qua ngả hàng không ».

    RFI : Thu ngắn hành trình và thời gian trên biển là hai lợi thế đầu tiên của dự án con đường giao thương phương Bắc, bên cạnh những rủi ro chiến tranh như tình hình ở eo biển Hormuz và Hồng Hải … nhưng rút ngắn thời gian trên biển liệu có là yếu tố quan trọng nhất hay không ?

    Paul Tourret : « Kể từ cuối năm 2023, vì chiến tranh Gaza rồi việc lực lượng Houthi ở Yemen tham gia vào cuộc xung đột, ngày càng ít tàu container đi qua Hồng Hải (…)Vì lý do an toàn, các hãng vận chuyển đường biển tránh eo biển Hormuz và chọn đi vòng qua phía nam châu Phi, qua mũi Hảo Vọng. Đúng là hành trình giữa Trung Quốc và châu Âu hay Trung Quốc với Mỹ mất thêm khoảng một tuần. Trước đây thời gian vận chuyển khoảng 25–28 ngày, giờ đây cần khoảng 35 ngày, trong khi nếu đi theo tuyến phía Bắc -qua Bắc Băng Dương thì chỉ khoảng 15 ngày. Tuy vậy cần hiểu rằng ngành vận tải container gắn liền với các hoạt động phân phối hàng hóa một cách rộng rãi. Và trong lĩnh vực phân phối ở quy mô lớn, ngoại trừ ngành dệt may và những linh kiện giữa châu Á và châu Âu, đối với phần còn lại, nhìn chung không phải lúc nào cũng có nhu cầu vận chuyển nhanh hàng hóa hay phải đạt tốc độ cao. Cho nên không nhất thiết phải có một tuyến đường hàng hải phương Bắc ».

    NSR không là một « giải pháp thay thế »

    RFI : Khu vực Bắc Băng Dương thuộc khí hậu là môi trường khắc nghiệt, thời gian tàu thuyền có thể qua lại khu vực này chỉ kéo dài vài tháng trong năm. Trái đất bị hâm nóng được coi là thuận lợi cho việc khai thác tuyến đường NSR nhưng hiện tượng tan băng cũng là một rủi ro rất lớn đối với tàu thuyền qua lại khu vực này, chẳng hạn như hiện tượng băng trôi ….  

    Paul Tourret : « Vâng đúng là thời gian để khai thác tuyến hàng hải này trong năm khá hạn hẹp. Nhờ hiện tượng trái đất bị hâm nóng, cho nên cách nay 40 hay 50 năm, mới khoảng tháng 8- 9 là tất cả đã đóng băng, giờ đây mùa hè rõ ràng là đã được kéo dài hơn, và khả năng vận hành mở ra từ tháng 5 đến khoảng tháng 10.

    Tuy nhiên một tuyến đường hàng hải chỉ có lợi và dễ được chiếu cố, nếu giá vận chuyển không quá đắt. Chúng ta đang bàn về một tuyến giao thương ở Bắc Băng Dương, một vùng nước nguy hiểm và còn xa lạ với giới trong ngành.  Khí hậu ở đây khắc nghiệt, với những hiện tượng cực đoan, băng trôi  … cho nên các hãng vận tải  đường biển cần trang bị tàu phá băng, sử dụng tàu chuyên dụng và nhất là cần những phương án cứu hộ riêng : Thí dụ như nếu tàu gặp vấn đề về động cơ ở vùng biển này, thì trước khi lực lượng cứu hộ có thể đến được, sẽ mất khá nhiều thời gian ; hoặc tàu có thể phải được tàu phá băng hộ tống. Các thủy thủ cũng cần được đào tạo một cách phù hợp với tuyến hàng hải đặc biệt này. Với những rủi ro lớn như vậy, chi phí bảo hiểm cũng sẽ rất cao….

    (...) Hiện chưa có các nghiên cứu về khả năng sinh lời của dự án nhưng câu hỏi chính là nếu đi qua Bắc Cực thì giá vận chuyển một tấn hàng sẽ lên đến bao nhiêu. Nếu đi qua các ngả truyền thống, -mà chúng tôi gọi là tuyến đường hàng hải phương Nam, với giá là 2000 đô la, tuy rằng đây sẽ là chuyến đi dài ngày và tốn kém nhưng trong trường hợp phí tốn khi đi qua tuyến phương Bắc cao gấp đôi thì liệu rằng tính toán đó có lợi hay không ? Câu trả lời sẽ là có nếu như cần giao hàng gấp và những phí tổn phụ trội đương nhiên sẽ do bên khách hàng chi trả.

    Bên cạnh đó còn có vấn đề liên quan đến hình ảnh và uy tín của một tập đoàn vận chuyển đường biển. Ai cũng biết mở thêm tuyến đường qua Bắc Băng Dương sẽ gây ô nhiễm (làm ô nhiễm nguồn nước và không khí) và tàn phá môi trường, phá hoại môi trường sống của các loại sinh và động vật trong khu vực … cho nên có nhiều hãng không muốn thương hiệu của họ bị công luận đả kích là thiếu thân thiện với môi tường và thiên nhiên. Năm 2019 nhiều hãng vận tải đường biển châu Ấu đã từ chối tham gia dự án đi qua Bắc Băng Dương. Tránh để bị quy trách nhiệm làm hâm nóng trái đất ».

    Mở rộng ảnh hưởng của Nga

    RFI : Tránh để hình ảnh của công ty bị hoen ố vì tàn phá môi trường chỉ là một trong số nhiều lý do khiến các nước phương Tây đứng ngoài các dự án khai thác tuyến đường phương Bắc. Từ 1987 lãnh đạo Liên Xô Michail Gorbatchev đã đề nghị « mở một tuyến đường hàng hải phương Bắc cho các tập đoàn nước ngoài ». Phải chăng Matxcơva giờ đây xem NSR là công cụ giải tỏa áp lực từ các biện pháp trừng phạt của phương Tây khi mà một phần lớn tuyến đường hàng hải này phải đi qua các vùng đặc quyền kinh tế của Nga ?  

    Paul Tourret : « Đây là cả một vấn đề. Thực ra tuyến hàng hải Bắc Cực là một dự án được Nga khởi động khoảng cuối những năm 2000, khi mà Nga và Vladimir Putin bắt đầu đóng một vai trò quan trọng hơn về mặt địa chính trị và cả trong lĩnh vực địa –kinh tế. Năm 2014 Nga chiếm bán đảo Crimée của Ukraina căng thẳng đã dấy lên giữa Matxcơva với các nước châu Âu. Tình hình xấu đi thêm từ 2022 khi nổ ra chiến tranh Ukraina.

    Trong những điều kiện hiện tại, không còn ai muốn mạo hiểm đến Bắc Cực nữa, bởi vì như vậy tàu thuyền sẽ phải sử dụng một phần lãnh hải do Nga kiểm soát. Nhưng lập trường của Trung Quốc và Hàn Quốc thì khác. Seoul có quan điểm tương đối trung lập về xung đột Ukraina. Về phần Trung Quốc, nước này có mối quan hệ đặc biệt với Matxcơva : Nga và Trung Quốc là những đối tác kinh tế nhưng không là những liên minh…

    Trung Quốc có thể sử dụng tuyến đường Bắc Cực, nhập khẩu dầu và nguyên liệu của Nga qua ngả này. Tại cuộc gặp gần đây nhất giữa Vladimir Putin và Tập Cận Bình, dự án xây dựng đường ống dẫn khí đốt nối liền Siberie với Hoa Lục rốt cuộc đã bị phía Bắc Kinh từ chối … Cho nên theo tôi, Trung Quốc chỉ sử dụng con đường Tơ Lụa Phương Bắc khi cần và điều này khác hẳn với dự án ‘Con đường tơ lụa qua Bắc Cực’ ».

    Cửa ngõ vào Bắc Cực

    RFI : Về phía Trung Quốc hành trình phương Bắc qua Bắc Cực và Bắc Băng Dương hình như chỉ là một trong số những giải pháp tránh để xuất và nhập khẩu bị phụ thuộc quá nhiều vào một vài tuyến hàng hải -như qua eo biển Malacca chẳng hạn. Nhưng sự hiện diện của Trung Quốc trong các vùng biển ở Bắc Cực làm dấy lên lo ngại về các hoạt động do thám của nước này trong một khu vực đặc biệt nhậy cảm đối với an ninh châu Âu và với khối NATO.

    Paul Tourret : « Quả thực là có khả năng châu Âu có một sự chia rẽ giữa một bên là các quốc gia thân với những nước như Ấn Độ Nhật Bản, Hàn Quốc và bên kia là phe thân với khối Nga- Trung Quốc. Con đường phương Bắc này lại là biểu tượng của sự gần gũi về kinh tế giữa Matxcơva và Bắc Kinh… Tuy nhiên thế giới ngày nay cũng không hẳn là bị phân khối như thời kỳ chiến tranh lạnh. Chuyến công du của ông Tập Cận Bình vừa qua đến Mỹ thể hiện rõ ràng điều đó. Mỗi bên đều theo đuổi những lợi ích của riêng mình : Nga có lập trường riêng, Trung Quốc cũng vậy. Nga và Trung Quốc có thể chia sẻ lợi ích về tuyến đường phương Bắc nhưng lại không tìm được tiếng nói chung về dự án xây dựng đường ống dẫn khí đốt Siberie: Trung Quốc không muốn đầu tư vào dự án này tránh để bị quá phụ thuộc vào Nga. Bắc Kinh muốn phụ thuộc vào nhiều đối tác hơn là phụ thuộc vào một thỏa thuận mang tính cố định với Nga ».       

    RFI : Chân thành cảm ơn Paul Tourret, giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR của Pháp vừa trình bày về tuyến vận tải đường biển mới qua Bắc Cực. Công trình này thực ra mang nặng ý nghĩa chính trị, và những tính toán về chiến lược hơn là những lợi ích kinh tế thực sự có thể mang lại. NSR là cánh cửa cho phép Trung Quốc chen chân vào Bắc Cực. Hàn Quốc là một đối tác bị coi là « nhạt mờ ».

    Trong khi đó Nga từ gần 20 năm nay xem việc phát triển tuyến đường hàng hải phương Bắc này là phương tiện để mở rộng ảnh hưởng và quyền chủ quyền ở Bắc Cực trước khi tính đến việc khai thác NSR như một trục giao thương mới để xuất khẩu dầu khí từ vùng Siberi.  

    11 min
  • Kêu gọi giảm tốc độ phát triển công nghệ AI : Hình thức bảo hộ của Mỹ

    Vì sao đột nhiên các « ông lớn » trong lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo ở Mỹ đồng loạt kêu gọi « giảm tốc độ phát triển các mô hình AI » ? Tại xứ sở của tự do kinh doanh mà lãnh đạo các tập đoàn trị giá hàng trăm tỷ đô la như OpenAI, Anthropic, SpaceXAI … lại đòi chính phủ quản lý chặt chẽ hơn các hoạt động phát triển mô hình Trí tuệ Nhân tạo.

    Magnificent Seven quy tụ bảy công ty AI hàng đầu của Mỹ đang tính toán những gì ? Hay đơn giản đây là một hình thức bảo hộ, chận đường AI Trung Quốc tranh giành thị phần ?

    Trí tuệ Nhân tạo (AI) không chỉ gây ra những lo ngại cướp đi công việc làm của con người hay cướp đi các nguồn điện và nước của nhân loại vì các công trình khổng lồ xây dựng trung tâm xử lý dữ liệu. Giờ đây, những tập đoàn AI báo động về nguy cơ những mô hình do chính họ kiến tạo vì phát triển quá nhanh, vượt ngoài sự hiểu biết của con người và rồi những phương trình AI càng lúc càng thông minh và hiệu quả sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát của những người đang lập ra chúng.

    Hôm 12/09/2029 Dario Amodei, tổng giám đốc Anthropic, một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực này, đã kêu gọi chủ động giảm tốc độ phát triển những mô hình AI mạnh nhất của mình. Lập tức các đối thủ của ông đã hưởng ứng lời kêu gọi đó -từ Elon Musk đến kình địch của Dario Amodei là Sam Altman, chủ nhân OpenAI. Tiếp theo đó các chính trị gia ở Mỹ nhập cuộc. Tất cả cùng đòi chính phủ can thiệp, lập ra những khung pháp lý kiểm soát các hoạt động trong một lĩnh vực còn quá mới mẻ này. Chỉ có mỗi tổng thống Donald Trump chủ trương phải để cho các doanh nghiệp của Mỹ thực sự « tự do » phát triển và có như vậy mới có thể dẫn đầu cuộc chạy đua công nghệ, không lo bị Trung Quốc qua mặt.

    Điều đáng nói ở đây là chính chủ nhân những tập đoàn công nghệ AI của Mỹ, những người đã đầu tư hàng trăm tỷ đô la để phát triển một công cụ mới lại dóng lên tiếng chuông báo động và đòi Nhà nước kiểm soát các hoạt động phát triển AI. Theo thẩm định của hãng tin Anh Reuters Google, Amazon, Meta và Microsoft đầu tư 650 tỷ đô la trong năm nay để có những công cụ càng lúc càng « thông minh hơn và hiệu quả hơn ».

    Thắng gấp một đoàn tàu cao tốc 

    Làm thế nào để hiểu được nghịch lý giữa một bên là những khoản đầu tư rất lớn để đào tạo các mô hình AI thông minh nhất, mạnh nhất và hiệu quả nhát với lời kêu gọi giảm tốc độ phát triển những mô hình này, trước nguy cơ AI phát triển quá nhanh và ngày càng độc lập với những chức năng mà con người đặt ra cho chúng ? Sáng lập viên công ty SaferAI, Siméon Campos với chủ trương phát triển Trí tuệ Nhân tạo an toàn hơn cho nhân loại ví von : kêu gọi điều tiết nhịp độ cho ra đời những mô hình AI mới như thể là đòi « thắng gấp một đoàn tàu đang chạy hơn 300 km/giờ ».

    Quyền lực trong tay một vài tập đoàn hàng trăm tỷ của Mỹ

    Trên đài truyền hình Pháp France24, Edouard Fillias, đồng sáng lập viên và giám đốc điều hành công ty tư vấn chuyên về kỹ thuật số JIN, cho rằng tranh cãi về mức độ nguy hiểm của AI có phần « chệch hướng »

    « Bởi vì thực tế cho thấy vấn đề không phải là AI có nguy hiểm hay không và nguy hiểm đến mức nào. Điều đáng sợ ở đây là nhờ công cụ mới là Trí tuệ Nhân tạo mà một vài tập đoàn của Mỹ có thể áp đặt những biện pháp bảo hộ trên thị trường Mỹ và với toàn thế giới. Cho nên những cảnh báo gần đây chính từ phía các đại tập đoàn AI rằng chỉ vài năm nữa công nghệ này sẽ làm chủ nhân loại … chẳng qua là do một thủ thuật của chính các đại công ty này khai thác sự hoang mang của công luận. Không biết trước được AI sẽ thay đổi đời sống của chúng ta như thế nào và đến đâu. Cho nên một tiếng nói như của Jacob Coxon, một cựu nhân viên Anthropic cũng đủ làm mọi người rúng động. Các tập đoàn AI khai thác nỗi sợ hãi của con người trước một công nghệ hoàn toàn mới mẻ và họ đưa ra những tai họa tiềm tàng kiểu như AI sẽ điều khiển thế giới, sẽ là một dạng ‘siêu quyền lực’ kiểm soát và chi phối đời sống của mỗi chúng ta… Thực tế chỉ là một vấn đề kinh tế »

    Cũng trên đài France24, nhà kinh tế Julien Pillot, giảng dậy tại trường INSEEC xem những báo động về mức độ nguy hiểm của AI và kêu gọi chính phủ can thiệp, đặt ra những khung pháp lý là một sự giả dối từ phía các đại tập đoàn AI Mỹ. Mục tiêu sau cùng của họ là áp đặt một chính sách bảo hộ :   

    « Khai thác nỗi sợ hãi để tiếp cận công luận, để kiếm lời là mục đích của các tập đoàn AI ở Mỹ vào thời điểm mà công luận hoang mang vì những hệ quả từ công nghệ Trí tuệ Nhân tạo tạo sinh. Sau một thời gian đầu tư rất nhiều và rất tốn kém vào AI, giới trong ngành bắt đầu cần bảo đảm thu lại tiền lãi,  Họ cần đưa ra những tín hiệu rằng AI là một lĩnh vực có tiềm năng và dễ kiếm lời …

    Để đạt được mục đích này, thì các ‘ông lớn’ trong ngành vừa phải dẫn đầu cuộc đua, vừa phải áp đảo và thậm chí là loại bớt các đối thủ. Cho nên khi những ông chủ công nghệ AI của Mỹ kêu gọi ‘điều tiết’, ‘đưa ra những chuẩn mực’ để quản lý công nghệ mới này… trước hết là để bảo vệ công nghệ AI của Hoa Kỳ, để bảo vệ kỹ thuật của Mỹ.

    Qua đó cấm các đối thủ khác xâm nhập vào thị trường Mỹ. Hiện tại Hoa Kỳ và Trung Quốc đang đi theo hai mô hình phát triển khác nhau, sử dụng những công nghệ và kỹ thuật khác nhau … Cho nên những báo động về mối nguy AI, những kêu gọi kiểm soát thị trường AI … vừa cho phép các hãng của Mỹ tự vệ, vừa loại bỏ các đối thủ cạnh tranh, mà nguy hiểm nhất trong mắt họ là các mô hình Trí tuệ Nhân tạo của Trung Quốc ».  

    Mũi tên nhắm vào AI Trung Quốc

    Hiện tại chỉ có Trung Quốc là đối thủ duy nhất khiến các ông lớn trong lĩnh vực AI của Hoa Kỳ lo ngại. Siméon Campos sáng lập viên công ty SaferAI phân tích

    « Liên quan đến Trung Quốc, vấn đề khá phức tạp bởi vì Trung Quốc vừa có một đội ngũ các chuyên gia về AI rất giỏi, công nghệ của họ cũng rất tốt. Tuy nhiên so với Hoa Kỳ thì ở thời điểm hiện tại Trung Quốc thua Mỹ trên hai phương diện : một là năng xuất của các bộ xử lý đồ họa GPU của Mỹ cao gấp 20 lần so với của Trung Quốc. Nhược điểm thứ hai là công nghệ Trung Quốc phát triển từ những mô hình của Hoa Kỳ : Trung Quốc vẫn đi sau Mỹ một bước ».

    Điều đó không cấm cản Trung Quốc có hướng đi riêng của chính mình. Lãnh đạo SafeAI Siméon Campos nhắc lại : 

    « Trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản, Anthropic là công ty có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất : Doanh thu của tập đoàn này đang từ 10 tỷ đô la đầu năm, mà hiện tại là  60 tỷ. Để so sánh, tập đoàn Meta đã mất rất nhiều năm mới có được nhịp độ phát triển tương đương ».

    Chính sách bảo hộ trá hình

    Cho nên theo giới trong ngành, các tập đoàn Mỹ chẳng chỉ « giả vờ báo động để bảo vệ quyền lợi của chính mình, kêu gọi chính phủ đặt ra quy định đạo đức trong ngành AI để áp đặt những chuẩn mực của mình với thế giới ».

    Theo chuyên gia kinh tế Julien Pillot Magnificent Seven ở Mỹ đang rất cần trấn an các cổ đông rằng AI là một lĩnh vực cho phép nhanh chóng thu về lợi nhuận và cần xua tan đe dọa « một quả bóng AI vỡ tung »  

    « Quả thực, OpenAI hiện phải đối mặt với một vấn đề, đó là không chứng minh khả năng sinh lời từ những mô hình AI họ phát triển. Trong khi đó thì Anthopic trong hai quý gần đây đã hòa vốn. Đây không là thời điểm thuận lợi để đưa OpenAI lên sàn chứng khoán. Tuy nhiên không thể phủ nhận là các công ti Trí tuệ Nhân tạo đã đầu tư rất, rất nhiều - chủ yếu là qua nhóm 7 tập đoàn lớn nhất ở Mỹ. Đầu tư của họ tiếp tục tăng hàng năm và đã đạt đến những số tiền không tưởng : Có lẽ đến cuối năm nay, tổng vốn đầu tư vào AI vượt quá ngưỡng 750 tỷ đô la, trong đó bao gồm đầu tư xây dựng hạ tầng (data center) và đầu tư để huấn luyện cho các mô hình AI càng lúc càng thông minh hơn. Những khoản đầu tư không lồ đó có thể sẽ dẫn đến hiện tượng vỡ bong bóng. Câu hỏi còn lại là quả bóng công nghệ AI sẽ vỡ tung, hay chỉ âm ỉ xì hơi ».  

    Vào lúc tranh luân tại Mỹ đang cao trào nhất là trước nguy cơ AI đe dọa tương lai của nhân loại, thì tại Bắc Kinh bộ trưởng bộ An Ninh Trần Nhất Tân hôm 14/09/2026 cảnh báo AI có thể đe dọa « an ninh chính trị » và « sự kiểm soát của đảng Cộng Sản Trung Quốc ».

    Không ai tự bắn vào chân mình

    Về câu hỏi liệu các tập đoàn Mỹ sẽ giảm đầu tư và điều tiết nhịp độ phát triển các mô hình AI mới hay không, thì câu trả lời rõ ràng là không. Julien Pillot phân tích : 

    « Hiện tại có rất ít lý do để nghĩ rằng giữa hai cường quốc trên thế giới là Mỹ và Trung Quốc cuộc chạy đua về AI và đầu tư trong lĩnh vực này sẽ giảm tốc độ. Cả hai cùng lâm vào thế ‘tiến thoái lưỡng nan’ : không bên nào có lợi khi giảm tốc nếu họ không chắc chắn rằng đối thủ của mình cũng sẽ điều tiết nhịp độ phát triển. Là bên đầu tiên dừng bước, chẳng khác nào tự bắn vào chân mình. Thêm vào đó còn có một hiện tượng thứ hai được biết đến dưới tên gọi ‘bi kịch của chân trời thời gian’, có nghĩa là các khoản đầu tư vào AI đang hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của Mỹ và của Trung Quốc - ở một mức độ thấp hơn. Trong ngắn hạn, hai quốc gia này cùng cần tăng trưởng : đây là một cái thước đo lường chắc chắn, khác hẳn với những cảnh báo về những mối rủi ro - nếu có, còn vừa mơ hồ, vừa xa xôi… Kết hợp cả hai lý do này, ít có hy vọng Washington hay Bắc Kinh yêu cầu các tập đòn AI quốc gia giảm tốc độ phát triển. Nhưng nếu Trung Quốc và Mỹ có thể bắt đầu đàm phán về những phương tiện để kiểm soát những rủi ro mà công nghệ này gây ra cho nhân loại, thì đó đã là một điểm khởi đầu ». 

    10 min
  • Thượng đỉnh BRICS : Chiến tranh Ukraina và Trung Đông, cơ hội của Trung Quốc và Nga

    Thượng đỉnh nhóm các nền kinh tế đang trỗi dậy BRICS 2026 tại New Delhi là cơ hội tốt đối với Nga và Trung Quốc để mở rộng ảnh hưởng kinh tế với các nước « phương Nam ». Là hai cột trụ chính trong khối, Matxcơva và Bắc Kinh tranh thủ cảm tình của nước chủ nhà là Ấn Độ nhất là khi vì chiến tranh Iran và Ukraina, thủ tướng Modi và các lãnh đạo trong nhóm BRICS bị đẩy vào thế kẹt.

    Quan hệ giữa Ấn Độ và Mỹ rạn nứt. Những khó khăn quân sự của Mỹ ở Trung Đông và chính sách đối ngoại của Washington làm suy yếu đồng đô la : Chuyên gia kinh tế Jean-Joseph Boillot cố vấn Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp phân tích về những cơ hội đang mở ra cho hai đối thủ của Hoa Kỳ là Nga và Trung Quốc.

    Từ thượng đỉnh Ekaterinbourg - Nga năm 2009 đến hội nghị tại New Delhi, Ấn Độ hôm 12-13/09/2029, khối các nền kinh tế đang trỗi dậy với 4 rồi 5 thành viên sáng lập ban đầu, đã mở rộng đến một số nước ở Trung Đông, Đông Nam Á và châu Phi.

    Trong số 11 thành viên chính thức hiện tại, có Iran, Ai Cập, Ả Rập Xê Út… và đương nhiên là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi. Vai trò nước chủ nhà của thủ tướng Narendra Modi lần này không đơn giản. Vì chiến tranh Trung Đông, drone và tên lửa Iran đang nhắm vào nhiều quốc gia vùng Vịnh đồng minh của Hoa Kỳ như Ả Rập Xê Út hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất.

    Kết thúc hai ngày họp, các bên đã ra thông cáo chung nhưng tránh sử dụng cụm từ « chiến tranh Iran » cho dù vì cuộc chiến này eo biển Hormuz bị phong tỏa, ngăn cản Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất xuất khẩu dầu hỏa.

    Cùng lúc chiến tranh Iran đang làm thay đổi cách nhìn của các nước trong Vùng Vịnh về Hoa Kỳ, ô dù an ninh của toàn khu vực. Cũng vì dầu hỏa và năng lượng, bản thân nước chủ nhà, Ấn Độ bị dồn vào thế « trên đe dưới búa ». Chỉ riêng bài toán năng lượng đã khiến thủ tướng Narendra Modi phải đau đầu : Để thay thế nguồn cung cấp dầu khí của Trung Đông, New Delhi buộc phải trông cậy nhiều hơn vào nhà cung cấp truyền thống là Nga, thế nhưng Ấn Độ lại liên tục bị Hoa Kỳ gây sức ép để hạn chế nhập khẩu dầu của Nga và mua thêm dầu của Mỹ.

    Trả lời RFI Việt Ngữ chuyên gia Jean-Joseph Boillot, cố vấn Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp phân tích về những điểm quan trọng nhất của thượng đỉnh khối BRICS lần này.

    Jean-Joseph Boillot : "Rõ ràng là hiện nay chúng ta đang đối diện với một khối ‘Phương Nam' toàn cầu đã được mở rộng. Ngày càng có nhiều quốc gia không còn chấp nhận sự bá quyền của Mỹ khi thấy chính sách ngoại giao của Donald Trump hoàn toàn đi ngược lại lợi ích của họ. Trong số này, có các nước Trung Đông như Ả Rập Xê Út, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE), cả hai đã gia nhập nhóm BRICS từ 2024. Nhưng đừng quên ba đầu tàu của BRICS là Trung Quốc, Nga và Ấn Độ."

    RFI Tiếng Việt: Thượng đỉnh New Delhi 2026 thắt chặt thêm quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Lần cuối ông Tập Cận Bình công du Ấn Độ là hồi 2019. Đôi bên thực sự sưởi ấm quan hệ cả về ngoại giao, lẫn kinh tế?

    Jean-Joseph Boillot : Kinh tế và địa chính trị thực ra là hai mặt của cùng một đồng tiền. Về mặt địa chính trị, giữa Ấn Độ và Trung Quốc vẫn tồn tại những bất đồng đáng kể, đặc biệt là tranh chấp tại đường biên giới. Bên cạnh đó, chính sách ngoại giao của Ấn Độ, vốn chủ trương liên kết đa chiều, nhưng khoảng 15 năm trở lại đây, rõ ràng New Delhi ngày càng có xu hướng thân Mỹ hơn.

    Tuy nhiên, hiện tại trên phương diện này, Trung Quốc và Ấn Độ đang bước vào giai đoạn tan băng. Đôi bên đang nối lại đối thoại về đường biên giới.

    Còn đối với Hoa Kỳ, sự ‘phản bội’ từ phía Mỹ là một gáo nước lạnh đối với chính sách của thủ tướng Modi khi mà Washington đưa Ấn Độ vào nhóm các quốc gia phải chịu mức thuế quan cao nhất. Mặt khác, Nhà Trắng còn cấm Ấn Độ nhập khẩu dầu hỏa của Nga, trong khi đối với các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ, nguồn dầu này đã trở thành một ‘món quà từ trên trời rơi xuống’ kể từ khi chiến tranh Ukraina bắt đầu.

    Vì vậy, rõ ràng phía Ấn Độ đang có một sự thất vọng rất lớn. Điều này tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho việc xích lại gần Trung Quốc. Cùng lúc thì Trung Quốc, ở thời điểm này, đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ trong khoảng 3 năm trở lại đây, đặc biệt trong những lĩnh vực thiết yếu như thiết bị năng lượng mặt trời, năng lượng gió, cũng như trong lĩnh vực điện tử. Trung Quốc cũng là một nguồn đầu tư rất lớn đối với Ấn Độ, vào thời điểm các nhà đầu tư thận trọng hơn với Ấn Độ.

    Về kinh tế và thương mại, Ấn Độ và Trung Quốc vừa cần nhau, vừa là những đối thủ của lẫn nhau?

    Jean-Joseph Boillot : Tôi nghĩ rằng trên thực tế, giữa Ấn Độ và Trung Quốc đang trong tình huống ‘đôi bên cùng có lợi’ thuần túy trên phương diện kinh tế mà nói. Song cần lưu ý rằng, từ trước đến nay New Delhi hoàn toàn không tin tưởng Trung Quốc. Các chiến lược gia Ấn Độ hiểu rất rõ rằng giữa hai nước hiện nay tồn tại một khoảng cách rất lớn và Trung Quốc có năng lực công nghệ cũng như tiềm lực đầu tư mạnh đến mức có thể khiến Ấn Độ trở nên phụ thuộc.

    Vì vậy, Ấn Độ sẽ luôn duy trì một mức độ dè chừng nhất định và áp dụng các biện pháp kiểm soát đối với đầu tư của Trung Quốc, xét theo từng lĩnh vực. Điều này nhằm tránh một thực tế mà ai cũng biết về Trung Quốc : chính sách dumping. Bắc Kinh trợ giá cho các doanh nghiệp quốc gia để hàng hóa tràn ngập các thị trường trên thế giới. Ấn Độ không muốn đi vào vết xe đổ của phương Tây, tức là để rồi các nhà máy của mình cũng phải đóng cửa vì cạnh tranh không lại với hàng rẻ của Trung Quốc.

    Còn về phía Trung Quốc, Bắc Kinh ý thức được rằng tình hình hiện nay không mấy thuận lợi. Nếu chỉ dựa vào xuất khẩu như hiện nay, thúc đẩy tăng trưởng thì không đủ : Trung Quốc lại không thể trông cậy vào các thị trường phương Tây Âu-Mỹ. Washington thì đã dần đóng cửa với hàng xuất khẩu của Trung Quốc, trong lúc châu Âu cũng đang xây dựng hàng loạt biện pháp kiểm soát đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Vì vậy, chỉ còn lại thị trường từ các quốc gia đang trỗ dậy và trong số này thì Ấn Độ là ông khổng lồ với gần 1,5 triệu dân.

    Nhìn từ Ấn Độ, chúng ta có thể thấy rất rõ rằng cả các nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng đều ưa chuộng dùng đồ ‘Made in China’ : Ấn Độ là một quốc gia mà người dân nhìn chung còn khá nghèo chỉ có hàng của Trung Quốc mới đủ rẻ để cho phép họ mua vào từ đôi giày cho đến điện thoại di động… Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia duy nhất có khả năng bán những sản phẩm như vậy trên thị trường Ấn Độ. Các nhà sản xuất Ấn Độ chưa thực sự có thể sản xuất hàng loạt những sản phẩm như vậy.

    Nhìn từ phía các nhà sản xuất Ấn Độ, máy móc và thiết bị của Trung Quốc đang rất được ưa chuộng. Tôi biết khá rõ các tập đoàn lớn của Ấn Độ, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng, từ Tata đến Reliance : Họ hiện gần như chỉ sử dụng thiết bị của Trung Quốc. Vì vậy, đối với ngành công nghiệp Ấn Độ hiện nay thì Trung Quốc là nguồn cung cấp thiết bị tốt nhất xét về mặt giá cả và chất lượng.

    Thúc đẩy thêm quan hệ với Ấn Độ đặc biệt là trên vấn đề năng lượng, chinh phục cảm tình của 11 thành viên khối BRICS và 10 quốc gia đối tác của khối này : phải chăng đó là mục tiêu chuyến công du Ấn Độ dài ngày của tổng thống Vladimir Putin?

    Jean-Joseph Boillot : Khi Vladimir Putin khởi xướng thành lập nhóm BRICS, ban đầu chỉ có 4 quốc gia: Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, sau đó thêm quốc gia thứ 5 là Nam Phi, ý tưởng lúc đó thực ra không hẳn là tạo ra một mặt trận chống phương Tây. Bởi ngay từ đầu, lập trường của Ấn Độ, xin nhắc lại, khi ấy ngày càng có xu hướng xích lại gần thế giới phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Chính phủ đầu tiên có đường lối thân Mỹ là dưới thời Manmohan Singh.

    Còn về phía Matxcơva thì đầu những năm 2000 là thời điểm Nga đang bắt đầu lấy lại vị thế sau cuộc khủng hoảng lớn dưới thời Yeltsin. Tổng thống Putin khi đó muốn đưa Nga trở lại vị trí một cường quốc thế giới. Ý thức được là phương Tây có lập trường chống Nga, vì vậy điện Kremlin tận dụng cơ hội, dựa vào các nền kinh tế đang trỗi dậy và đã chọn Ấn Độ và Trung Quốc làm hai đối tác chính. 2009 là thời điểm Nga đã trông thấy ở Trung Quốc một một quốc gia rất mạnh mà lại không cùng với phương Tây bài xích Matxcơva. Về địa chính trị, Trung Quốc cần một môi trường hòa bình trên quy mô toàn cầu để có thể tiếp tục phát triển về kinh tế và thu hẹp khoảng cách với nước giàu.

    Ngoài ra, Nga cũng hiểu rõ rằng Ấn Độ và Trung Quốc đang cạnh tranh với nhau, trong khi quan hệ giữa Matxcơva và New Delhi thì lại rất tốt. Nga là nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho Ấn Độ, đồng thời cũng hợp tác trong lĩnh vực các nhà máy điện hạt nhân.

    Từ 2023, Nga đã đề nghị khối BRICS cần có một đồng tiền chung. Chủ đích là để bớt phụ thuộc vào đô la. Dự án đó đến đây đã có tiến triển nào và có mang tính khả thi hay không ?

    Jean-Joseph Boillot : Không. BRICS sẽ không có đồng tiền chung và cũng không có ý định tiến tới một đồng tiền chung. Không ai thực sự có lợi ích trong việc đó. Đúng là Nga, trên hết đã thúc đẩy ý tưởng này nhưng không có sức thuyết phục.

    Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia vùng Vịnh đều không có lợi ích gì và cũng không muốn bị một đồng tiền chung. Bắc Kinh không muốn, bởi nếu có một đồng tiền chung, thì có nghĩa là ở một mức độ nào đó, Trung Quốc sẽ phải phụ thuộc vào phần còn lại của nhóm trong việc quản lý chính sách tiền tệ của mình. Trung Quốc hoàn toàn không muốn điều đó.

    Ấn Độ cũng không muốn, bởi đây là một quốc gia vẫn còn tương đối yếu về mặt kinh tế, và một đồng tiền chung cũng sẽ đi ngược lại lợi ích của chính New Delhi. Vì vậy, chủ quyền tiền tệ của cả hai nước lớn đến mức ý tưởng do Nga đề xuất trên thực tế đã bị gạt sang một bên.

    Tuy nhiên, điều đã thay đổi là uy tín của đồng tiền Mỹ đã suy giảm tại các nền kinh tế đang trỗi dậy, đặc biệt là các quốc gia Trung Đông, kể từ khi cuộc chiến ở Iran bắt đầu. Ngược lại, dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương đang tăng lên. Điều đó cho thấy họ đang hướng tới một hệ thống mới, có thể gần giống với chế độ bản vị vàng, mặc dù hiện vẫn chưa hoàn toàn rõ cơ chế cụ thể sẽ được sử dụng như thế nào.

    Các quốc gia xuất khẩu dầu trước đây là những bên mua rất lớn công trái phiếu của Hoa Kỳ. Giờ đây thì khác. Điều này giải thích vì sao lãi suất dài hạn ở Mỹ đang tăng mạnh. Ngược lại, ở Trung Quốc, lãi suất đối với trái phiếu Trung Quốc đang giảm. Đây là một tình hình hoàn toàn mới. Nói cách khác trong lĩnh vực tiền tệ, hiện có hai thay đổi quan trọng : một là đồng đô la kém hấp dẫn và khối BRICS đang thúc đẩy những hình thức sử dụng đồng tiền quốc gia làm phương tiện thanh toán song phương. Điểm thứ nhì và có lẽ đây là điều khá mới mẻ : Trong nội bộ BRICS, các thành viên có thể sử dụng đồng tiền quốc gia của mình như một dạng tài sản đối ứng được nắm giữ trong kho dự trữ của các ngân hàng trung ương đối tác.

    Thí dụ cụ thể là Trung Quốc có thể quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, nhưng không nhất thiết thông qua các thị trường tài chính. Thay vào đó, việc này có thể được thực hiện trong khuôn khổ các thỏa thuận với những ngân hàng trung ương khác.

    Như vậy, chúng ta thực sự đang hướng tới một dạng trật tự tiền tệ mới - có lẽ chỉ mang tính tạm thời - nhưng điều này giúp cộng đồng quốc tế bớt bị phụ thuộc vào đồng tiền của Hoa Kỳ, giúp cho giao thương quốc tế bớt bị đồng đô la chi phối. 

    RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà nghiên cứu Jean-Joseph Boillot.

    10 min
  • Thương mại : Mỹ phải hoàn trả hơn 100 tỷ đô la thuế nhập khẩu. Ai hưởng lợi ?

    Nếu là một doanh nghiệp xuất khẩu từng là nạn nhân của chính sách bảo hộ Washington ban hành từ 2025, thì làm thế nào để thu hồi những khoản thuế đã nộp cho Hải Quan Mỹ ? Tính đến cuối tháng 7/2026 chính phủ đã phải hoàn trả 100 tỷ đô la cho các công ty nhập khẩu và các nhà phân phối của Hoa Kỳ. Hơn 40 tập doàn trong danh sách S&P500 đã nhận lại được gần 10 tỷ đô la. Các công ty xuất khẩu sang Mỹ có hy vọng gì hay không ? 

    Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng 90 % gánh nặng thuế quan Nhà Trắng ban hành, là do người Mỹ hứng chịu. Vậy, 10 % còn lại thì sao ?

    Để trả lời câu hỏi làm thế nào đòi lại tiền từ chính phủ Mỹ nếu là một doanh nghiệp nước ngoài giao thương với Hoa Kỳ, Le Figaro hôm 01/09/2026 có một bài viết với hàng tựa : « Các khoản thuế quan do Donald Trump áp đặt mà các doanh nghiệp Pháp đang kín đáo thu hồi ».

    Về mặt lý thuyết các hãng của Pháp có thể đòi lại 10 tỷ đô la do là nạn nhân của chính sách « thuế đối ứng » « không hợp lệ » mà Donald Trump đã ban hành hồi đầu tháng 4/2025.

    Tiền của Mỹ vẫn ở lại trên đất Mỹ

    Luật gia Olivier Dorgans, chuyên về luật thương mại của văn phòng Stephenson Harwood được tờ báo trích dẫn giải thích ngắn gọn : Tiền của Mỹ thì vẫn ở lại trên đất Mỹ.

    Một doanh nghiệp Pháp xuất khẩu sang Hoa Kỳ qua trung gian cơ quan dưới tên gọi IOR - Importer of Record. Đây có thể là một chi nhánh đại diện tại Mỹ, hay là một nhà phân phối độc lập, hoạt động tại Hoa Kỳ.

    Cho nên khi Hoa Kỳ hoàn trả lại các khoản thuế đã thu vào « bất hợp pháp » thì bên nhận lại cũng phải là IOR. Điều đó có nghĩa là « tiền của Mỹ thì vẫn ở lại trên đất Mỹ ». Trong trường hợp của Pháp, do Liên Âu và Mỹ đã đạt thỏa thuận về mức thuế đối ứng 15 % thì các hãng của Pháp đã phải giảm giá để « chia sẻ gánh nặng » với khách hàng. Đối lại khi khoản thuế đối này này bị hủy, thì Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) phải hoàn trả lại tiền cho IOR. Điều đó không có nghĩa là số tiền đó được đưa trở lại về Pháp. Đây chỉ là một dàn xếp « bí mật » giữa IOR và nhà sản xuất của Pháp.

    Trả lời đài truyền hình France5, Baptiste Reybier, tổng giám đốc FerMob chuyên cung cấp bàn và ghế sắt sử dụng trong vườn giải thích, ông thực sự đau đầu khi bị Mỹ đánh thuế 15 %

    « Chúng tôi không được hướng dẫn rõ ràng về quy trình để biết phải làm những gì. Các quy định về hạn ngạch thuế quan thay đổi liên tục. FerMob do vậy bắt buộc phải thích nghi với tình huống, phải giải quyết một cách nhanh gọn và thực tế nhất (…) Chúng tôi tin rằng Mỹ là một quốc gia có chính sách thân thiện với các doanh nghiệp, ủng hộ kinh doanh và lại rất thực tiễn. Cho nên các chính sách của Washington cũng có thể dễ được điều chỉnh một khi họ thấy là các biện pháp ban hành gây rối loạn các hoạt động kinh tế, kinh doanh ».

    Christine Sévillano, chủ một hầm rượu tại Champagne mà Hoa Kỳ là thị trường quan trọng nhất, trong một năm qua, xuất khẩu sang Mỹ chỉ còn bằng 1 phần 6 so với trước đây. Hầm rượu của bà bị thiệt hại rất nhiều : 

    « Trước khi bị đánh thuế, loại phân khúc thấp, tức là loại rượu phổ thông chúng tôi bán sang Mỹ với giá cao nhất 55-60 đô la một chai. Nhưng từ vì mức thuế đối ứng 15 %, mỗi chai rượu champagne đẩy giá lên đến 70 đô la. Hệ quả kèm theo là chúng tôi khó bán sang Hoa Kỳ. Thị trường này bị đóng băng. 2025 là một năm cực kỳ khó khăn, như thể là hàng của mình cấm xuất khẩu sang Mỹ vậy ! »

    Cuộc chiến còn dài

    Từ khi Tối Cao Pháp Viện Mỹ bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặt các hàng rào thuế quan với toàn thế giới, nhiều hãng lớn của Hoa Kỳ như Apple, Nike hay FedEx đã nhanh chóng thu về lại được những khoản tiền lớn. Theo báo tài chính The Wall Street Journal tính đến ngày 31/07/2026 đã có hơn 250.000 trong số 330.000 công ty nhập khẩu của Mỹ nộp đơn yêu cầu Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) trả lại tiền. Đến trung tuần tháng 8/2026 CBP thông báo đã xử lý các hồ sơ để hoàn trả 128,7 tỷ đô la cho các doanh nghiêp Mỹ.

    Apple đã nhận lại được hơn 2 tỷ đô la, nhà cung cấp quần áo, giày… thể thao Nike được hoàn trả gần 1 tỷ đô la, hãng xe Ford cũng thu về lại được 500 triệu …

    Một số doanh nghiệp khác của Mỹ kém may mắn hơn. Thủ tục đòi lại những khoản thuế phụ trội phức tạp hơn, số tiền thu hồi lại ít hơn và chậm hơn so với mong đợi. 

    Đau đầu hơn nữa là lập tức sau khi Tối Cao Pháp Viện Mỹ ra phán quyết bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặc các hàng rào thuế quan, Donald Trump trong hai ngày liên tiếp (20 và 21/02/2026) thông báo thêm hai mức thuế bổ sung 10 rồi 15 %.  

    Những lớp thuế chồng chất

    Cho đến hôm nay 08/09/2026 quy định về mức thuế quan của Hoa Kỳ với thế giới là một vùng sương mù dày đặc.

    Cho dù mức thuế đối ứng (đối với hàng của Việt Nam là 20 %, đối với Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc là 15 %...) đã bị hủy nhưng các đối tác thương mại xuất khẩu sang Hoa Kỳ vẫn tạm thời phải chịu một mức thuế phụ thu 10 %. Bên cạnh đó là mức thuế đánh vào những sản phẩm đặc biệt như nhôm, thép ... Lúc thì Washington ấn định thuế nhôm, thép là 25 %, lúc lại đẩy mức thuế này lên tới 50 % như đang áp dụng với Canada. 

    Trên đài phát thanh Pháp France Info, Denis Ferrand thuộc Viện nghiên cứu và dự phóng kinh tế vĩ mô độc lập Rexecode cho rằng chính sách thuế quan của Hoa Kỳ giờ đây đang mở ra những trận đấu pháp lý gay go. Để đòi lại tiền từ chính phủ Mỹ đã là một chuyện khó đối với một doanh nghiệp hay một nhà phân phối ở Hoa Kỳ. Với một nhà xuất khẩu ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới,điều đó lại càng khó hơn.

    « Đây là một nguồn gốc tranh chấp cơ bản. Trong bối cảnh bất ổn định vừa nêu, chúng ta ở vào đúng thời điểm mà chưa ai biết tình hình sẽ lắng xuống như thế nào. Tranh chấp sẽ dẫn tới những vụ kiện kéo dài. Các doanh nghiệp sẽ đòi phải được hoàn trả những khoản thuế quan mà họ đã nộp cho Hoa Kỳ trong khuôn khổ chính sách bảo hộ ông Trump ban hành. Thí dụ như hãng xe Toyota đang đòi được trả lại tiền. Nhưng bên cạnh đó là rất nhiều những câu hỏi. Theo các ước tính, chính phủ phải hoàn lại hàng trăm tỷ đô la cho các doanh nghiệp. Nhưng cụ thể thì sẽ phải chia sẻ số tiền hàng trăm tỷ đô như thế nào cho các công ty nhập khẩu của Mỹ, số tiền đó liệu có được trả lại cho người tiêu dùng hay không ? Chi nhánh của Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ ở New York thẩm định, 90 % thuế hải quan ông Trump ban hành do các doanh nghiệp, các nhà phân phối và người tiêu dùng ở Mỹ hứng chịu ».  

    Cũng trên đài phát thanh France Info, nhà kinh tế Stéphane Carcillo, cộng tác với Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế  nói đến những thiệt hại đối với Mỹ do các biện pháp bảo hộ gây nên :  

    « Về phương diện pháp lý, ẩn số ở đây liên quan đến việc sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp đòi được trả lại tiền. Hơn nữa chính sách thuế quan của Mỹ tác hại đến các doanh nghiệp, đến các nhà phân phối ở Mỹ đến mức độ nào và cũng không biết là các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, hay những cá nhân có kiện và đòi chính phủ trả lại tiền hay không. Còn đối với chính phủ, thì đây cũng là một gánh nặng tài chính : ngân sách của Liên Bang thiếu đi mất 175 tỷ đô la. Đây là một khoản tiền lớn. Hiện tại chính quyền Trump liên tục thông báo áp thêm các biện pháp thuế quan, rồi đòi mở điều tra từng quốc gia, xem đối tác thương mại đó có cạnh tranh bất bình đẳng làm phương hại đến quyền lợi của Hoa Kỳ hay không… »

    Có một điều chắc chắn là trong thời gian tới, các nhà sản xuất các chủ doanh nghiệp sẽ rất mệt mỏi vì các chính sách thuế quan, vì các đòn trừng phạt. Cây bút xã luận của báo kinh tế Pháp Les Echos, Dominique Seux đánh giá, các đòn thuế quan mà Hoa Kỳ liên tục sử dụng đã làm thay đổi hẳn cách tiếp cận của các doanh nghiệp về môi trường chung quanh. Để tồn tại, một doanh nhân ngày càng phải chú ý đến yếu tố « địa chính trị », đến chính sách mà các quốc gia cách xa họ cả ngàn cây số ban hành. 

    10 min
  • Chiến tranh kinh tế Iran giúp Ấn Độ - Trung Quốc sưởi ấm quan hệ

    Chiến tranh Iran là một bước ngoặt trong bang giao giữa Ấn Độ và Trung Quốc ? Vì lợi ích kinh tế, đôi bên tạm gạt sang một bên những tranh chấ lãnh thổ để đối phó với một cuộc xung đột Washington đã khai mào và đang đe dọa tăng trưởng của hai quốc gia đông dân nhất địa cầu. Bắc Kinh và New Delhi có thể hợp tác trên những lĩnh vực nào ? Đâu là giới hạn trong những nỗ lực sưởi ấm quan hệ song phương ?

    Ngày 01/09/2026 lãnh đạo hai nước cùng tham dự thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải - SCO lần thứ 26 diễn ra tại Bishkek, thủ đô Kyrgyzstan. Có nhiều khả năng trong chưa đầy 2 tuần nữa, (12-13/09/2026) chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến New Delhi dự thượng đỉnh BRICS.

    Ấn Độ và Trung Quốc cùng đang chịu áp lực sau hơn nửa năm chiến tranh Iran kéo dài và từ mặt trận quân sự, Hoa Kỳ đòi mở rộng cuộc xung đột này sang mặt trận kinh tế. New Delhi và Bắc Kinh cùng là những khách hàng lớn mua dầu hỏa Trung Đông, chiến tranh Iran đã ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Ấn Độ và Trung Quốc như thế nào ?

    Theo các số liệu chính thức, tăng trưởng của quốc gia Nam Á này vẫn còn vững chắc trong 6 tháng đầu năm 2026. GDP tăng 7,8 % trong quý 1, cao hơn so với dự báo của Ngân Hàng Trung Ương.

    Tuy nhiên, do phụ thuộc đến 90 % năng lượng nhập khẩu, giá dầu tăng vì chiến tranh Trung Đông, do eo biển Hormuz bị phong tỏa, chi phí nhập khẩu, thâm hụt cán cân thương mại bị đẩy lên cao, lạm phát gia tăng. Theo báo Financial Times, lạm phát tại Ấn Độ tăng 4,45 % trong tháng 7/2026, vượt ngoài dự phóng của New Delhi.

    Tương tự như Ấn Độ, Trung Quốc cũng là một nguồn nhập khẩu dầu của thế giới, đặc biệt là dầu của Vùng Vịnh, của Iran, cho nên khi giá dầu vì chiến tranh vượt ngưỡng 100 đô la/thùng thay vì 68 đô la như trước ngày Mỹ và Israel tấn công Iran, Bắc Kinh cũng phải đối mặt với những thách thức tương tự như New Delhi. Cỗ máy sản xuất, công nghiệp và qua đó là các hoạt động xuất khẩu của « công xưởng » thế giới này bị đe dọa.

    Tình huống càng thêm khó khăn sau khi Nhà Trắng đòi trừng phạt gián tiếp mọi quốc gia giao dịch với Iran, tức là nhắm trực tiếp vào các doanh nghiệp, ngân hàng ... của Trung Quốc vẫn liên hệ với Teheran.  

    Trung Quốc và Ấn Độ cùng là những đối tác thương mại quan trọng bậc nhất của Iran, cả hai cùng là những khách hàng lớn nhất mua vào dầu hỏa Iran. Do vậy, đối thoại giữa nguyên thủ hai nước tại Bishkek đặc biệt được truyền thông chú ý.

    Chiến tranh Iran và cơ hội cho Bắc Kinh

    Thế nhưng về mặt ngoại giao và địa chính trị, đối với Bắc Kinh chiến tranh Trung Đông lần này cũng là một cơ hội tốt ngoài mong đợi. Tuần báo uy tín ấn hành tại New Delhi, Economic&Policy Weekly ghi nhận : Chiến tranh Iran đánh dấu một « bước ngoặt về địa chính trị » của Ấn Độ đối với Trung Quốc. Vào lúc Washington « sa lầy » ở Trung Đông, Bắc Kinh « củng cố vị thế chiến lược của mình mà không cần hao công tổn sức ».

    Đây cũng là cơ hội để Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng trên nhiều phương diện từ kinh tế đến đối tác chiến lược, tài chính, công nghệ … Hơn nữa, Mỹ bị chia trí vì Trung Đông, bớt « kềm tỏa ảnh hưởng của Trung Quốc » ở châu Á -Thái Bình Dương. 

    Cải thiện quan hệ từ trước khi chiến tranh Iran khai mào

    Thực ra bang giao giữa hai nước đông dân nhất địa cầu đã liên tục được cải thiện từ năm ngoái. Tháng 9/2025, sau 7 năm không đặt chân đến Hoa Lục và 5 năm từ khi xảy ra xung đột ở biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc trên dãy Himalaya, thủ tướng Narendra Modi đã trở lại Trung Quốc. Ông dự thượng đỉnh SCO tại Thiên Tân, hội đàm với chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh. Đó là thời điểm Washington đánh thuế 50 % vào hàng của Ấn Độ xuất khẩu sang Hoa Kỳ và trong nửa đầu nhiệm kỳ 2, tổng thống Donald Trump chọn đứng về phía Pakistan, kẻ thù của Ấn Độ trong tranh chấp lãnh thổ giữa New Delhi và Islamabad tại Cachemire.

    Cách nay đúng một năm nhà báo Pierre Haski chuyên về địa chính trị giải thích : Ấn Độ xích lại gần Trung Quốc không phải vì Bắc Kinh có sức thu hút hơn Washington. Trong mắt kinh tế gia Agath Kratz chuyên nghiên cứu về Trung Quốc bất luận động lực nào thúc đẩy Ấn Độ sưởi ấm quan hệ với Trung Quốc, nhưng về dài hạn, lợi ích kinh tế của New Delhi vẫn được đặt tại Hoa Kỳ. Cũng trên đài truyền hình Arte ngày 03/09/2025 bà phân tích :

    « Xích lại gần Trung Quốc, về phương diện kinh tế, Ấn Độ không hưởng lợi được bao nhiêu. Trái lại, mở rộng quan hệ với Mỹ để trong tương lai, thay thế Trung Quốc trở thành một nhà cung cấp, một nguồn xuất khẩu cho Hoa Kỳ và cho châu Âu : đó mới là lợi ích thực sự mà New Delhi muốn nhắm tới. Thâm hụt mật dịch của Ấn Độ với Trung Quốc lên tới 100 tỷ đô la, cao gấp đôi so với 5 năm trước đây. Ấn Độ cũng đã phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc, cho nên, chỉ cần xảy ra tranh chấp ở biên giới là cũng đủ để đe dọa một số các lợi ích cốt lõi của New Delhi. Thủ tướng Modi muốn  giảm mức độ phụ thuộc của Ấn Độ vào Trung Quốc ».

    Về phần nhà nghiên cứu Valérie Niquet Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược – FRS của Pháp, và cũng là giám đốc đặc trách chương trình nghiên cứu về châu Á của quỹ này, bà nhấn mạnh đến chính sách đối ngoại rất cân bằng của thủ tướng Modi từ trước đến nay.

    « Ngay trước chuyến đi Bắc Kinh của thủ tướng Ấn Độ, New Delhi đã cho thử một loại tên lửa mới có khả năng nhắm trúng mọi nơi trên lãnh thổ Trung Quốc. Trước khi đi Trung Quốc, Narendra Modi cũng đã công du Nhật Bản, một đối tác kinh tế và quân sự quan trọng khác. Điều đó chứng tỏ chính sách đối ngoại của New Delhi rất cân bằng. Đó là chưa kể đến vai trò của Nga. Nói cách khác, Ấn Độ trong cách đối đầu với những áp lực từ phía Hoa Kỳ vẫn không quên đâu mới là những lợi ích cơ bản của chính mình ».    

    Mỹ « đánh mất » Ấn Độ ?      

    Trở lại với câu hỏi vì xung đột Iran và trước đó nữa là vì chiến tranh thuế quan của Hoa Kỳ Bắc Kinh và New Delhi có thể hợp tác trên những lĩnh vực nào và đâu là giới hạn trong những nỗ lực của các ông Tập Cận Bình, Narendra Modi để cải thiện quan hệ song phương, Sylvia Malinbaum, chuyên gia về Nam Á Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI ghi nhận từ thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải – mà Iran là một thành viên toàn phần, tổ chức Thiên Tân 2025 – hình ảnh các lãnh đạo Trung Quốc, Ấn Độ và Nga đoàn kết đã là một thông điệp mạnh. Khi đó tổng thống Mỹ cay đắng bình luận trên mạng xã hội Truth Social : « Dường như chúng ta đã để Ấn Độ và Nga rơi vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, một quốc gia ngày sàng sâu sắc và đen tối hơn ».

    Trước mắt về kinh tế thương mại, Trung Quốc và Ấn Độ có chung một mục đích : Đối phó với các biện pháp bảo hộ của Hoa Kỳ. Cả hai cùng có cán cân thương mại thặng dư so với Mỹ nên cùng bị Nhà Trắng trừng phạt bằng các đòn thuế quan. Nhưng bản thân Trung Quốc và Ấn Độ vừa là đối tác vừa là những đối thủ cạnh tranh của lẫn nhau.

    Trung Quốc trong thế xuất siêu với Ấn Độ, cán cân thương mại của Bắc Kinh với bạn hàng Nam Á này thặng dự gần 100 tỷ đô la. Nền công nghiệp của Ấn Độ phụ thuộc vào Trung Quốc từ nguyên vật liệu đến linh kiện, phụ tùng xe hơi, các bộ phận lắp ráp điện tử, máy móc, các hoạt chất dược phẩm để vẫn được mệnh danh là « tủ thuốc của thế giới ».

    New Delhi cũng muốn cạnh tranh với Trung Quốc để trở thành « công xưởng của thế giới trong lĩnh vực điện thoại thông minh » và đồ dùng điện tử nhưng các chuỗi sản xuất của Ấn Độ lại phải nhập khẩu kinh kiện và phụ tùng made in China.

    Liên minh tình thế ?

    Vào lúc Ấn Độ là nguồn nhập khẩu dầu thô lớn thứ 3 toàn cầu, nhập khí tự nhiên lớn thứ tư trên thế giới, vừa cần dầu hỏa của Nga và của Trung Đông, đặc biệt là của Iran, thì chính quyền Trump gia tăng sức ép đòi New Delhi mua dầu của Mỹ,  Washington đòi đánh thuế 100 % vào hàng của Ấn Độ bán sang Mỹ nếu như New Delhi kháng cự. Cho nên thủ tướng Narendra Modi bắt buộc phải cải thiện bang giao với Trung Quốc. Về phía Bắc Kinh, ông Tập Cận Bình cũng không thể để xuất khẩu Trung Quốc gặp bất kỳ một trở ngại nào với đối tác có trọng lượng như Ấn Độ với trên dưới 1,4 tỷ dân.

    Dù vậy nhà địa chính trị học Alain Lamballe, chuyên nghiên cứu về Nam Á, trong bài tham luận hồi tháng 7/2026 đăng trên tạp chí Areion24 nêu bật nhiều những hiềm khích, những mối cạnh tranh khó để san bằng giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Bên cạnh tranh chấp từ hàng chục năm qua ở biên giới trên dãy Himalaya, vấn đề cốt lõi vẫn là « quyết tâm của Bắc Kinh để thống lĩnh vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương ». New Delhi vẫn luôn lo ngại bị Trung Quốc bao vây. Ông Tập Cận Bình đã liên tục mở rộng quan hệ với các nước Nam Á, qua hành làng kinh tế Trung Quốc -Pakistan, qua những chương trình hợp tác hay viện trợ của Bắc Kinh cho Bangladesh, Nepal và thậm chí Bhutan.

    Cân nhắc giữa lợi ích kinh tế và an ninh

    Trên biển, New Delhi tìm cách kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc tại Ấn Độ – Thái Bình Dương thông qua những hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn với các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN, quan hệ với Việt Nam và Philippines...) qua các chương trình tập trận quân sự, hoạt động thăm dò dầu khí và các diễn đàn như Đối Thoại an ninh Shangri-La ...

    Ở góc đài bên kia, Bắc Kinh càng lúc càng dùng những chiêu bài kinh tế để lôi kéo Pakistan về phía mình để mở ra những cửa ngõ vào Ấn Độ Dương và sang đến tận Trung Đông.  

    Trong bối cảnh đó, cho rằng chiến tranh Iran -và chính sách bảo hộ của Hoa Kỳ trước đó, giúp Ấn Độ và Trung Quốc sưởi ấm quan hệ chỉ đúng một phần. New Delhi và Bắc Kinh như giới phân tích ghi nhận, xích lại gần nhau chỉ là một giải pháp « tình thế ». Hơn nữa trong quan hệ giữa hai cường quốc châu Á này, Trung Quốc rõ ràng đang nắm nhiều lá chủ bài.   

    12 min
  • Với 40.000 tỷ đô la nợ, Mỹ vẫn là nam châm hút đầu tư và tín dụng

    Cường quốc kinh tế số 1 cũng là quốc gia mang nợ nhiều nhất toàn cầu. Hoa Kỳ vừa vượt ngưỡng 40.000 tỷ đô la nợ công. Các chuyên gia lo ngại khi thấy phí tổn ngân hàng để trả nợ của chính quyền liên bang cao hơn cả so với ngân sách quốc phòng của siêu cường quân sự hàng đầu thế giới này. Điều đó không cấm cản, Mỹ vẫn là khối « nam châm » hút đầu tư, tín dụng của thế giới.

    Hôm 18/08/2026 bộ Tài Chính Mỹ thông báo nợ của chính phủ lần đầu tiên vượt ngưỡng tâm lý 40.000 tỷ đô la. Cùng lúc, lãi suất từ công trái phiếu thời hạn 30 năm đạt mức cao nhất từ năm 2007 đến nay (hơn 5,7 %). Điều đó có nghĩa là chính phủ Hoa Kỳ phải trả giá đắt hơn khi cần huy động vốn.

    Gánh nợ của chính quyền Liên bang thêm nặng và làm dấy lên lo ngại Mỹ thiếu hụt thanh khoản. Bộ trưởng Tài Chính Hoa Kỳ đã gấp rút can thiệp. Scott Bessent thông báo chuẩn bị mua vào từ 2 đến 4 tỷ đô la công trái phiếu do chính Hoa Kỳ phát hành.

    Thêm 3.000 tỷ đô la nợ trong 12 tháng

    Có nhiều vấn đề khiến giới tài chính, ngân hàng và tiền tệ quốc tế lo ngại.

    Đầu tiên hết là mức nợ của Hoa Kỳ tăng quá nhanh so với các dự báo. Năm 2017, chính quyền liên bang nợ 20.000 tỷ đô la, tức là bằng một nửa so với hiện tại. Chưa hết năm 2026 mà nợ công đã vượt ngưỡng 40.000 tỷ đô la trong lúc các dự phóng của Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội Hoa Kỳ -Congressional Budget Office - CBO thì nợ công cho đến cuối năm nay vẫn chưa chạm ngưỡng tâm lý 40.000 tỷ đô la, tương đương với 125 % GDP. So với một năm trước đây, vào tháng 8/2025, nợ công của Mỹ tăng thêm 3.000 tỷ đô la như báo Financial Times ghi nhận.

    Về khoản nợ thêm 3.000 tỷ đô la trong một năm, báo The Wall Street Journal giải thích, nợ của Mỹ bị thổi phồng lên nhanh như vậy vì chiến tranh Iran, lạm phát và bội chi ngân sách.

    Nhìn xa hơn về quá khứ, bội chi ngân sách và nợ của Mỹ không ngừng gia tăng, do Hoa Kỳ trải qua nhiều cuộc khủng hoảng : Vụ « vỡ quả bóng tin học đầu những năm 2000, đến khủng hoảng tín dụng địa ốc 2007 rồi ngân hàng Lehman Brothers phá sản năm 2008 (…) rồi đến lượt đại dịch Covid 19 năm 2020 làm tê liệt tăng trưởng. Thuế thu vào giảm sụt trong lúc các chi phí về y tế, xã hội lại tăng nhanh. Thâm hụt ngân sách lớn dần ».

    Những cuộc khủng hoảng chồng chất

    Một lý do khác nữa là dân số Mỹ cũng như tại các nước công nghiệp phát triển đang lão hóa : « Bảo hiểm y tế, lương hưu bị đẩy lên cao … ». Trở lại với tình trạng tài chính của Hoa Kỳ từ đầu 2025 cho dù tổng thống Trump tái đắc cử với hứa hẹn giảm bội chi ngân sách và trong những tháng đầu nhiệm kỳ hai ông đã đã mạnh tay cắt giảm nhân sự trong guồng máy hành chính nhà nước, trong các cơ quan của chính phủ liên bang nhưng thâm hụt ngân sách tháng 7/2026 lên tới 432 tỷ đô la thay vì 291 tỷ cùng thời kỳ năm ngoái (tăng 11,85 %).

    Cùng thời kỳ, chi tiêu của chính quyền liên bang tăng thêm hơn 130 tỷ. Vì chiến tranh Iran, tổng thống Trump đã yêu cầu Quốc Hội bổ sung thêm 500 tỷ đô la cho ngân sách quốc phòng. Nhà Trắng cũng đòi cho tài khóa 2027 ngân sách của Lầu Năm Góc phải được đẩy lên tới 1.500 tỷ đô la thay vì hơn 800 tỷ như hiện tại.

    Trả 3 tỷ tiền lãi cho chủ nợ mỗi ngày

    Cũng chính trong hoàn cảnh chiến tranh hiện nay, kinh tế gia kiêm giám đốc cơ quan tư vấn Pete G. Peterson, ông Michael Peterson trên đài truyền hình Arte nói đến một hiện tượng bất thường khi mà Mỹ trả tiền lãi cho các chủ nợ nhiều hơn cả tổng ngân sách quốc phòng và đáng quan ngại hơn nữa là chỉ trong 10 năm nữa, chi phí lãi vay của khoản nợ công Mỹ có thể tăng gấp đôi :

    « Tiền lãi phải trả cho ngân hàng là khoản chi tiêu liên tục tăng lên và tăng mạnh nhất trong khoảng thời gian gần đây. Hiện tại mỗi ngày Hoa Kỳ phải trả hơn 3 tỷ đô la tiền lãi cho các chủ nợ. Có nghĩa là Mỹ trả tiền lãi còn nhiều hơn cả số tiền để trang trải những phí tổn quốc phòng. Trong 10 năm sắp tới, Hoa Kỳ sẽ phải trả đến 16.000 tỷ đô la tiền lãi ngân hàng. Khoản nợ 40.000 tỷ đô la của chính phủ liên bang hiện tại nhắc nhở chúng ta chấn chỉnh lại các khoản chi tiêu công (…) Khi mà lãi suất chỉ đạo tăng, sẽ kéo theo những lãi suất khác, như là tiền lãi khi ta phải đi vay để mua nhà, để mua xe. Chi phí cho dịch vụ dùng thẻ tín dụng cũng sẽ bị đẩy lên cao. Do vậy để vẫn tiếp cận được với các nguồn tín dụng thì cần phải đòi Washington nhanh chóng giải quyết vấn đề nợ công này ».

    Cần thêm 39 tỷ đô la mỗi tuần

    Nói cách khác, Washington liên tục trong thế phải « đi vay nợ mới để thanh toán nợ cũ - thậm chí là chỉ để trả tiền lãi cho các chủ nợ ». Nhưng Hoa Kỳ vẫn dễ dàng thu hút đầu tư và tín dụng trên thế giới.

    Ngân hàng JP Morgan trong một nghiên cứu dựa trên các dữ liệu hồi 2024 đưa ra ba yếu tố giải thích vì sao cả thế giới vẫn muốn đầu tư vào Mỹ.

    Một là năng suất của người lao động Mỹ 171.000 đô la/năm, (tính theo sức mua tương đương) trong lúc của Đức là 120.000 đô la. Giải thích cho năng suất lao động cao đó, ngân hàng Mỹ Goldman Sachs đưa ra vài con số cụ thể : Xét về số năm một người lao động được đào tạo để có chuyên môn cao, Mỹ chỉ thua có Hàn Quốc. Hoa Kỳ cũng là nơi có những trường đại học hàng đầu thế giới và số giờ lao động tại Hoa Kỳ cũng cao hơn khoảng 20 % so với ở Pháp.

    Bí quyết thứ hai giải thích vì sao dù Mỹ có mang nợ chồng chất vẫn là điểm đầu tư được ưa chuộng nhất đó là « sức sáng tạo » của các doanh nghiệp Hoa Kỳ.

    Vẫn theo điều tra của ngân hàng Goldman Sachs, chi tiêu cho khâu nghiên cứu và phát triển (R&D) ở Hoa Kỳ là 800 tỷ đô la một năm, cao gấp đôi so với Trung Quốc. Hoa Kỳ đang dẫn đầu thế giới với 48 công ty có lợi nhuận hơn 1 tỷ đô la/ năm. Để so sánh, toàn khu vực eurozone với 19 quốc gia cũng mới chỉ có được 7 tập đoàn lãi hàng năm hơn 1 tỷ đô la.

    Cũng không một nơi nào có sức tiêu thụ « khủng khiếp như ở Mỹ » và xét về chỉ số này thì Trung Quốc dù là nền kinh tế thứ hai thế giới nhưng vẫn còn cách xa nước Mỹ đến « nhiều năm với tốc độ ánh sáng » như một nhà báo đã ví von. 

    Đặc quyền quá lớn của đô la

    Lý do thứ ba và có lẽ cũng là lợi thế mạnh nhất của Hoa Kỳ là sức hút của đồng đô la. Năm 1964 bộ trưởng Kinh Tế Pháp, Valéry Giscard d’Estaing từng nói, « chừng nào mà đồng đô la còn thống lĩnh hệ thống tiền tệ quốc tế, thì Washington muốn đi vay bao nhiêu tín dụng cũng được ».

    Kinh tế trưởng công ty kiểm toán BDO France  Anne - Sophie Alsif được tuần báo Le Point trích dẫn cho rằng, ai cũng muốn đầu tư bằng đô la. Giới tư bản trên toàn thế giới đều muốn đầu tư vào Mỹ. Công trái phiếu của Hoa Kỳ vẫn là « sản phẩm tài chính có sức thu hút cao nhất, an toàn nhất ».

    Vì thế dù có nợ đến đâu đi chăng nữa, thì bộ Tài Chính Mỹ vẫn dễ dàng huy động vốn và với những điều kiện thuận lợi hơn bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới.

    Theo các số liệu chính thức từ Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội Mỹ CBO, trung bình mỗi tháng Hoa Kỳ phải đi vay thêm 155 tỷ đô la và trong 8 tháng đầu năm 2026 bộ Tài Chính đã thanh toán 857 tỷ đô la tiền lãi cho các chủ nợ !

    Hãng tin Anh Reuters lưu ý, không một quốc gia nào trên thế giới hàng tuần có thể đi vay thêm 39 tỷ đô la như Hoa Kỳ. Nhưng cũng chính « lợi thế quá mức đó đẩy nguy cơ Mỹ bị thiếu tiền mặt ra xa », bởi vì như chuyên gia tài chính Philippe Trainar nhận định, nếu như « đầu tàu kinh tế và tài chính này của thế giới mà sụp đổ thì coi như là ngày tận thế đã đến ». 

    Phát biểu lần cuối trước khi rời khỏi chức vụ thống đốc ngân hàng trung ương, Jerome Powell cảnh báo chính quyền về mức nợ của Mỹ đang tăng nhanh và nhất là trước viễn cảnh các giới chức Hoa Kỳ « không có khả năng đảo ngược tình thế » bởi vì, với nợ công 40.000 tỷ đô la có nghĩa trung bình mỗi công dân Mỹ mang nợ 115.000 đô !  

    Trái với những báo động từ phía các chuyên gia ngân hàng về mức nợ quá lớn của Mỹ, trong mắt đại đa số các nhà đầu tư quốc tế, Hoa Kỳ vẫn là một điểm đến dễ kiếm lời hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.

    Hoa Kỳ không chỉ là một thị trường với 340 triệu dân với mức tiêu thụ cao, cho nên đầu tư vào Mỹ là cách tốt nhất để tiếp cận thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng được xem là trung tâm công nghệ của thế giới : trong tất cả những lĩnh vực AI, chip, phần mềm, dược phẩm, hàng không vũ trụ, quốc phòng, công nghệ sinh học. Cho nên đầu ưừ vào Mỹ là đầu tư vào khả năng sinh lợi nhuận cao của các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Sau cùng, mua vào công trái phiếu của Mỹ được xem là một khoản đầu tư an toàn nhất, bởi đó là những sản phẩm tài chính luôn rất được ưa chuộng ... 

    10 min

About Tạp chí Kinh Tế

From the publisher's feed

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

More shows like Tạp chí Kinh Tế

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

221 Listeners

Tạp chí Âm Nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Âm Nhạc

2 Listeners

Tạp chí Tiêu Điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Tiêu Điểm

0 Listeners

Tạp chí Khoa Học Môi Trường by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Khoa Học Môi Trường

0 Listeners

Tạp chí Văn Hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Văn Hóa

0 Listeners

Spiderum Official by Spiderum

Spiderum Official

25 Listeners

Tâm Sự Tài Chính by Trịnh Công Hoà

Tâm Sự Tài Chính

2 Listeners

Huynh Duy Khuong Show by Huỳnh Duy Khương

Huynh Duy Khuong Show

7 Listeners

Sách Nói Chất Lượng Cao by Voiz FM

Sách Nói Chất Lượng Cao

5 Listeners

More Perspectives by Duy Thanh Nguyen

More Perspectives

12 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

7 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí Thể Thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Thể Thao

0 Listeners

Tạp chí Xã Hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Xã Hội

0 Listeners

Tạp chí Đặc Biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Đặc Biệt

0 Listeners

Better Version by Better Version

Better Version

46 Listeners

điêu khắc bản thân by Chuyện đời Sales

điêu khắc bản thân

1 Listeners

Nguyễn Hữu Trí Podcast by Nguyễn Hữu Trí

Nguyễn Hữu Trí Podcast

24 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners