
Sign up to save your podcasts
Or


Tại thượng đỉnh Bắc Kinh, Donald Trump và Tập Cận Bình đã bắt đầu chuẩn bị cho giai đoạn « hậu chiến tranh thương mại Mỹ-Trung ». Tổng thống Hoa Kỳ luôn lấy những cơ hội kinh doanh làm kim chỉ nam để điều hành đất nước. Chủ tịch Tập Cận Bình quan niệm Trung Quốc « không có bất kỳ một lợi ích nào trong mọi cuộc xung đột, kể cả xung đột thương mại ». Bắc Kinh cần dưỡng sức cho một cuộc song đấu khác.
Nhiều chuyên gia Pháp đánh giá như trên sau cuộc tái ngộ giữa lãnh đạo hai siêu cường kinh tế thế giới từ hôm 13 đến 15/05/2026. Một phái đoàn hùng hậu gần hai chục doanh nhân hàng đầu của Mỹ đã tháp tùng tổng thống Trump đến Bắc Kinh. Không ít trong số đó là những người giàu nhất hành tinh, như Elon Musk sáng lập viên hãng ô tô điện Tesla, người từng được chính chủ tịch Trung Quốc tiếp đón. Bên cạnh đó là rất nhiều ông vua công nghệ cao như Apple, Meta, Qualcomm, Nvidia.., là những lãnh đạo các quỹ đầu tư trị giá hàng ngàn tỷ đô la như Blackrock hay Goldman Sachs, và cả những tên tuổi hàng đầu tiêu biểu nhất của nền công nghiệp Hoa Kỳ như tổng giám đốc Boeing. Phần lớn trong số này là những đối tác lâu đời của Trung Quốc.
Trước mặt lãnh đạo Trung Quốc, tổng thống Trump khoe : « Chúng tôi có đội ngũ doanh nhân hùng hậu nhất, giỏi nhất và cũng là những doanh nhân hàng đầu thế giới ». Đáp lời nguyên thủ Mỹ chủ tịch Tập Cận Bình nói ông « hoàn toàn tin tưởng những cơ hội tốt hơn đối với các doanh nghiệp Mỹ là tại Trung Quốc ».
Do vậy, giới quan sát cho rằng, với phái đoàn đông đảo các doanh nhân Mỹ như vậy, ông Trump vừa khéo léo nhắc nhở vị chủ nhà về thế thượng phong của Hoa Kỳ trong nhiều lĩnh vực then chốt, vừa để ngỏ cơ hội hợp tác hai chiều. Tổng thống Trump không đến Bắc Kinh để mở ra một chương mới trong chiến tranh thương mại với Trung Quốc. Nhưng điều đó không có nghĩa là căng thẳng song phương sắp được khép lại, bởi vì chiến tranh thương mại Mỹ -Trung chỉ là bề nổi của tảng băng. Cuộc chiến đó cũng có thể là sắp kết thúc để nhường chỗ cho một đối đầu khác khốc liệt hơn. Đó là chiến tranh công nghệ. Nhưng ngay cả về điểm này, bài toán cũng không đơn giản cho cả hai phía.
Một sự phụ thuộc « chết người »Điểm qua « tương quan lực lượng » của mỗi bên trên mặt trận « công nghệ » đặc biệt là về trí tuệ nhân tạo, kinh tế gia Alicia García Herrero thuộc trung tâm nghiên cứu Bruegel, trụ sở tại Bruxelles, trong một bài tham luận trên tạp chí Le Grand Continent lưu ý Trung Quốc không « lẹt đẹt » theo sau Hoa Kỳ, Trung Quốc lại vừa có phương tiện tài chính để đầu tư như Mỹ, thậm chí là còn hơn cả Mỹ. Trung Quốc lại nắm giữ một vũ khí vô cùng lợi hại là các khoáng sản chiến lược và kim loại hiếm.
Ở phía đài bên kia, Hoa Kỳ vẫn còn đi trước đối thủ châu Á này vài bước về công nghệ chế tạo chip điện tử, đặc biệt là những loại tiên tiến nhất một phần do tập đoàn Nvidia chế tạo. Có điều « khoảng cách của Mỹ trước Trung Quốc đang được thu hẹp lại ».
Để làm chủ cuộc cách mạng về trí thông minh nhân tạo, Mỹ và Trung Quốc đang phụ thuộc vào nhau. Theo quan điểm của bà Alicia García Herrero, trên mặt trận này, Bắc Kinh và Washington mỗi bên « nắm giữ một nửa chìa khóa » của thành công. Do vậy, có lẽ đôi bên đang cân nhắc khả năng hợp tác trong một chừng mực nào đó, ít ra là trong ngắn hạn. Chính ở điểm này, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có lẽ đã thành thật khi tuyên bố : « Những lợi ích chung của Trung Quốc và Hoa Kỳ lấn át những bất đồng giữa hai nước. Thành công của mỗi bên là cơ hội cho phía bên kia. Một mối quan hệ ổn định giữa hai quốc gia có lợi cho toàn thế giới ».
Biến lợi thế của mình thành vũ khíNhư trong nhiều lĩnh vực khác, Mỹ và Trung Quốc vừa là đối thủ của nhau, nhưng lại rất cần đến nhau. Vẫn Alicia García Herrero cho rằng ở thời điểm này Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng đang muốn khai thác tối đa lợi thế của mình với đối phương. Lãnh đạo hai nước ý thực được là mỗi bên cần « tạm ngừng chiến » để cho dưỡng sức cho một cuộc đấu dài hơi, đồng thời cũng là để khai thác tối đa những lợi thế đã có, biến chúng thành những vũ khí lợi hại nhất để nhắm vào đối phương. Có điều, do mức độ phụ thuộc vào nhau qua lớn, không một bên nào dám « nổ phát súng đầu tiên »
Tại thượng đỉnh tuần trước, ông Tập Cận Bình và Donald Trump chủ yếu tìm kế hoãn binh và cứu vãn thể diện qua hàng loạt những cam kết rất mơ hồ về thiện chí thương mại, hay để ngỏ khả năng mời các nhà đầu tư của đối phương vào hoạt động.
Nhà nghiên cứu thuộc viện Bruegel cho rằng đây cũng là cơ hội để đôi bên trình bày rõ với đối phương về những giới hạn tối đa mà mỗi bên có thể chấp nhận được. Đối với phía ông Tập Cận Bình, trước sau như một : lằn rănh đỏ của Bắc Kinh vẫn là Đài Loan. Về phía Washington, đang lúng túng về chiến tranh Trung Đông, giới hạn sau cùng trong mắt tổng thống Trump là Trung Quốc tuyệt đối không được tiếp sức cho Iran về quân sự.
Trên đài truyền hình Pháp France5 giáo sư kinh tế Mary Fraçoise Renard, đại học Clermont Ferrand-Auverge trước hết phân tích về quan điểm của Bắc Kinh vào lúc mà Trung Quốc bất đắc dĩ bị tình hình ở eo biển Hormuz đe dọa tăng trưởng.
« Trung Quốc không có bất kỳ một lợi ích nào trong mọi xung đột, dù là với Đài Loan hay bất kỳ một quốc gia nào khác, về thương mại cũng vậy. Hơn nữa chúng ta thấy Bắc Kinh không dấn thân vào bất kỳ một cuộc chiến nào, ngay cả khi một nước bạn của Trung Quốc bị tấn công, như trong trường hợp với Iran. Có điều về Trung Đông, ông Tập Cận Bình muốn là Mỹ thay đổi thái độ nhưng đương nhiên kịch bản đó sẽ không xảy ra. Cho nên về hình thức, thì hai nhà lãnh đạo Trump-Tập đúng là đã đề cập đến một số vấn đề, nhưng về thực chất, thì không có gì thay đổi cả mà đó mới chính là điều quan trọng nhất được ghi nhận sau chuyến công du Bắc Kinh của nguyên thủ Mỹ vừa qua (…)
Trung Quốc là khách hàng số 1 của Iran, nhưng Bắc Kinh đã đa dạng hóa các nguồn cung cấp và các đối tác thương mại. Từ nhiều năm qua, kinh tế Trung Quốc đã bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch. Bắc Kinh đồng thời lại xây dựng một kho dự trữ năng lượng khá tốt. Nếu như chiến tranh kéo dài thì các nguồn dự trữ đó đương nhiên mai một. Nhưng trước mắt thì tình huống không quá tệ đối với Bắc Kinh, nhất là khi mà Mỹ đang sa lầy … Tổng thống Mỹ sợ lạm phát, ông Tập Cận Bình thì không, bởi vì Trung Quốc đang trong tình trạng giảm phát.
Có điều là xung đột ở Trung Đông ảnh hưởng đến cả kinh tế của Mỹ lẫn Liên Âu, đó là hai thị trường xuất khẩu lớn đối với Trung Quốc mà xuất khẩu là động lực của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Hiện tại tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này năm 2025 là 1200 tỷ đô la, mức cao nhất từ sau Thế Chiến Thứ Hai đến nay ».
Mục đích tránh để đối phương « trở mặt »Giáo sư kinh tế Mary Françoise Renard, đại học Clermont Ferrand-Auvergne điểm lại quan hệ đầy sóng gió giữa hai siêu cường kinh tế thế giới từ khi tổng thống Trump lên cầm quyền từ nhiệm kỳ đầu. Bà đồng thời nhấn mạnh rằng, đôi bên cùng hiểu rõ người đối phương và cần bảo đảm rằng, sẽ không bị phía bên kia « trở mặt ».
« Hiện tại Mỹ đánh thuế 10 % vào hàng Trung Quốc, bên cạnh đó thì cũng có những thông báo là thuế hải quan được ấn định ở mức 24 % rồi biện pháp đó lại bị đình chỉ cho đến tháng 11 năm nay. Thành thử đôi bên còn có nhiều điều để mặc cả với nhau. Phía Bắc Kinh đã gián tiếp để ngỏ khả năng là có thể chấp nhận mức thuế tối đa là 10 %. Nhưng nói thật, là 10 % thuế hải quan đánh vào những mặt hàng thông dụng thì cũng không có lợi gì cho các hãng của Mỹ. Thành thử thượng đỉnh lần này Bắc Kinh tập trung vào hồi kết của một cuộc chiến thương mại, với những bảo đảm là đó phải là một thỏa thuận vững chắc, để rồi chính quyền Trump không trở mặt. Còn về phía phái đoàn Mỹ thì đã yêu cầu Trung Quốc cam kết không dùng đất hiếm như một công cụ để gây áp lực với Washington. Không chắc phía ông Tập sẽ thỏa mãn đòi hỏi này. Ngoài ra, phái đoàn Trump cũng đòi Trung Quốc mua nhiều hơn nông phẩm và máy bay của Hoa Kỳ. Hãng Boeing đã phải trả giá đắt vì chiến tranh thương mại Mỹ - Trung (…)
Nhân thượng đỉnh lần này, hai bên đã đề cập đến các khoản đầu tư hai chiều. Về phía Mỹ, các doanh nghiệp đều muốn có thể đầu tư mà không bị các quy định quá trói buộc. Lãnh đạo các tập đoàn Hoa Kỳ tháp tùng tổng thống Trump đến Bắc Kinh lần này đều muốn biết rõ chính sách đầu tư của Trung Quốc đối với các doanh nhân Mỹ. Công nghệ là một vế then chốt trong đối thoại song phương, mà về điểm này, thì Washington đã cấm xuất khẩu sang Trung Quốc một số chip điện tử cao cấp nhất do tập đoàn Nvida sản xuất. Nhưng Nhà Trắng thường xuyên thay đổi chính sách. Cho nên cả Bắc Kinh lẫn Nvidia cùng muốn được bảo đảm là đôi bên có thể làm ăn với nhau. Trung Quốc cần một số các thiết bị của Hoa Kỳ và ông Trump đã cấm xuất khẩu một số sản phẩm sang Hoa Lục, đồng thời cấm khoảng 1000 doanh nghiệp Mỹ giao dịch với Trung Quốc »
Thượng đỉnh Bắc Kinh lần này một lần nữa cho thấy, về kinh tế, thương mại, Mỹ cũng như Trung Quốc đang cần một « lệnh hưu chiến ». Đôi bên cùng muốn tránh để tình hình vượt ngoài tầm kiểm soát và trong khi chờ đợi, hai nhà lãnh đạo Donald Trump, Tập Cận Bình đều muốn tạm thời tìm ra một thỏa hiệp. Bắc Kinh không thể hy sinh thêm tăng trưởng kinh tế, còn Washington thì phải chuẩn bị đối phó với cuộc bầu cử lập pháp giữa kỳ vào tháng 11/2026. Điều đó không cấm cản, Mỹ cũng như Trung Quốc có thể đưa ra nhiều hứa hẹn nhưng rồi những cam kết đó sẽ chẳng được thực hiện là bao.
Từ những năm 2010, Hàn Quốc từng bước trở thành « một nền công nghiệp quốc phòng trong khu vực Ấn Độ -Thái Bình Dương ». Các doanh nghiệp xứ Hàn đã giành được những hợp đồng lớn kể cả tại châu Âu và đang đề ra tham vọng đến năm 2030 sẽ trở thành một trong bốn nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho thế giới. Phân tích của chuyên gia Kévin Martin, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược FRS Pháp.
Trong giai đoạn 2010–2020, tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Hàn Quốc trung bình khoảng 2,4 tỷ đô la một năm, với đỉnh điểm là 3 tỷ rưỡi vào năm 2015. Đến năm 2021, con số này được nhân lên gấp đôi -khoảng 7 tỷ trước khi đạt thành tích thu về 10 tỷ đô la vào năm 2022.
Bước sang giai đoạn 2020 - 2025, tổng giá trị xuất khẩu vũ khí của Hàn Quốc đã tăng gấp tám lần. Một thí dụ cụ thể chứng minh cho thành công và sự mở rộng thị trường vũ khí Hàn Quốc sang châu Âu : Hệ thống pháo tự hành K9, từ 2014 đến 2018 Hàn Quốc đã lần lượt chinh phục các thị trường Ba Lan, Phần Lan, Na Uy, Estonia và Roumanie. Lý do là hàng của Hàn Quốc có khả năng tương tác với các chuẩn mực của NATO. Hơn nữa 2014 là thời điểm Nga thôn tính bán đảo Crimée của Ukraina.
Theo báo cáo mới nhất Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm SIPRI công bố tháng 4/2026 trong số các nhà sản xuất và xuất khẩu, Hoa Kỳ vẫn dẫn đầu. Nhưng Hàn Quốc la một nguồn cung cấp lớn của thế giới, vào lúc mà « trong 11 năm liên tiếp, chi tiêu quốc phòng trên thế giới gia tăng, đạt kỷ lục gần 2.900 tỷ đô la trong năm 2025 ». Châu Á – Châu Đại Dương, năm 2025, đã mua 681 tỷ đô la vũ khí và thiết bị quân sự. Đây là mức cao nhất kể từ 2009.
Một tháng trước đó, SIPRI ghi nhận xuất khẩu vũ khí toàn cầu đã tăng gần 10% trong giai đoạn 2020-2025. Các hoạt động buôn bán vũ khí trên thế giới « gần như đã quay trở lại mức trước khi kết thúc Chiến Tranh Lạnh vào năm 1989 ».
Tháng 12/2025 một phái đoàn của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương NATO sang Hàn Quốc. Trong vòng một tuần lễ, phái đoàn NATO đã tham quan hai tập đoàn công nghiệp vũ khí là Hanwha Aerospace và Hyundai Rotem. Các bên thảo luận về tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, công nghệ, cyber và trí tuệ nhân tạo. Đó là những điểm mạnh của xứ Hàn cùng với công nghệ phát triển drone. Seoul cũng đã đầu tư rất nhiều cho công nghệ không gian phục vụ các mục tiêu dân sự, quân sự và Hàn Quốc được biết đến như một « cường quốc » thế giới trong lĩnh vực công nghiệp đóng tàu.
Tháng 02/2026 Hàn Quốc gửi đại diện đến Ottawa, Canada để thúc đẩy dự án hợp tác song phương cho phép tập đoàn Hanwha Ocean tham gia chương trình hiện đại hóa đội tàu ngầm của Hải quân Canada.
Trong quan hệ giữa Hàn Quốc và Pháp, (Pháp là nhà cung cấp vũ khí thứ hai trên thế giới theo bảng xếp hạng của SIPRI), công du Seoul đầu tháng 4/2026, tổng thống Emmanuel Macron và đồng cấp Lee Jae Myung mong muốn « đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng ».
Trong cuộc trả lời phỏng vấn dành cho RFI Việt ngữ, Kévin Martin chuyên gia công nghiệp quốc phòng, thuộc Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược - FRS lần lượt phân tích những động lực đưa nền công nghiệp quốc phòng của Hàn Quốc đang từ thế phụ thuộc vào Mỹ trở thành một trong những nhà cung cấp vũ khí và thiết bị quân sự hàng đầu thế giới. Ông trình bày về những tham vọng của Seoul, về chiến lược của Hàn Quốc và nhất là những lá chủ bài của quốc gia Đông Bắc Á này thuần túy về mặt công nghiệp.
Trên con đường chính phục thị trường thế giới, từ 2010 đến nay Hàn Quốc đã « gặp nhiều may mắn » với một bối cảnh địa chính trị càng lúc càng « nguy hiểm », nhu cầu tiêu thụ và trang bị của các đối tác từ Trung Đông đến châu Á và nhất là châu Âu tăng mạnh.
***
RFI : Cảm ơn Kévin Martin tham gia chương trình hôm nay. Ông đã nghiên cứu nhiều năm về công nghiệp quốc phòng của Pháp, công bố nhiều bài tham luận về các nhà sản xuất mới trỗi dậy trong lĩnh vực rất đặc biệt này. Hàn Quốc đang đề ra tham vọng trở thành một trong bốn nhà sản xuất và xuất khẩu hàng đầu vào ngưỡng 2030. Đâu là điểm khởi đầu của Seoul trên thị trường xuất khẩu vũ khí ?
Kévin Martin : « Cần nhắc lại rằng thực tế Hàn Quốc là một nền kinh tế công nghiệp khá mới trên thị trường quốc tế về vũ khí. Nếu nhìn lại một chút về nguồn gốc lịch sử, sau khi giành độc lập, Hàn Quốc hoàn toàn phụ thuộc vào Hoa Kỳ về mặt an ninh trong giai đoạn từ năm 1953 đến những năm 1960. Phải đến từ những năm 1970, Hàn Quốc mới bắt đầu phát triển một ngành công nghiệp quốc phòng mà họ chưa từng có.
Do vậy, Seoul đã xây dựng tất cả gần như từ con số không, chủ yếu nhằm bảo đảm nguồn cung để tự phục vụ nhu cầu của chính mình. Chỉ đến những năm 1990, quốc gia Đông Bắc Á này mới bắt đầu có ý định “Hàn Quốc hóa” các trang bị quốc phòng. Cụ thể là triển khai các chính sách nghiên cứu và phát triển nhằm xây dựng một ngành công nghiệp trong nước có khả năng sản xuất, phát triển và thiết kế các hệ thống vũ khí. Những hệ thống này bắt đầu được phát triển với sự hỗ trợ của chính phủ từ thập niên 1990, chủ yếu là để cung cấp cho quân đội quốc gia.
Đến khoảng năm 2005, Hàn Quốc mới thực sự nghĩ đến các hoạt động xuất khẩu, tức là tận dụng các lợi ích có thể thu được từ những khoản đầu tư trước đó để phát triển công nghiệp quốc gia trong lĩnh vực đặc biệt này.
Trong giai đoạn 2005 -2020, chiến lược của Seoul trước hết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh so với các đối thủ đã có vị thế vững chắc trên thị trường vũ khí quốc tế. Đồng thời phải có sự hỗ trợ của Nhà nước để giúp chinh phục các thị trường quốc tế. Chỉ từ những năm 2020, chúng ta mới thực sự thấy Hàn Quốc tham gia đầy đủ vào thị trường vũ khí quốc tế, thông qua các hợp đồng, đặc biệt là ở châu Âu, chẳng hạn như hợp đồng với Ba Lan vào năm 2022 ».
RFI : Trong bối cảnh « thuận lợi » vừa nêu là châu Âu đang trang bị vũ khí vừa để độc lập hơn với Hoa Kỳ vừa để đề phòng mối đe dọa trước những tham vọng quân sự của Nga.
Kévin Martin : « Hoàn toàn đúng. Thực tế, ngay từ những năm 2005, Hàn Quốc đã bắt đầu muốn xuất khẩu các trang thiết bị quốc phòng, cho dù số lượng khi đó còn khá hạn chế. Seoul đã triển khai một chiến lược nhằm thâm nhập thị trường châu Âu, nhưng ban đầu không mấy thành công. Chỉ đến khi xuất hiện một bối cảnh rất thuận lợi vào giai đoạn 2014–2015 khi Nga sáp nhập Crimée thì Hàn Quốc mới thực sự thành công trong việc xuất khẩu thiết bị quân sự. Chính vì thế từ thời điểm này, nhiều quốc gia Đông Âu phải đánh giá lại nhu cầu về năng lực quân sự, và họ đã chuyển sang lựa chọn trang bị của Hàn Quốc. Cụ thể, châu Âu mua vào pháo tự hành K-9, loại vũ khí đã giúp Hàn Quốc lần đầu tiên thâm nhập thị trường châu Âu vào năm 2014.
Thực ra, cuộc chiến tại Ukraina do Nga phát động (và leo thang trở lại vào năm 2022) cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu quốc phòng của Hàn Quốc. Bởi vì Hàn Quốc đáp ứng được nhu cầu cung cấp nhanh và với một khối lượng lớn. Đó là chưa kể, thiết bị của Hàn Quốc lại có khả năng tương thích với các thiết bị mà châu Âu đang sử dụng, đồng thời phù hợp với các tiêu chuẩn vũ khí lưu hành trong khối NATO »
RFI : Ba Lan là nhịp cầu đầu tiên đưa vũ khí và thiết bị quân sự Hàn Quốc sang châu Âu ?
Kévin Martin : « Vâng, hoàn toàn đúng. Năm 2022, Hàn Quốc và Ba Lan đã ký kết các thỏa thuận khung mang tính lịch sử. Chính xác hơn là hai thỏa thuận khung cho phép Vacxava mua một số lượng lớn trang thiết bị quân sự, với tổng trị giá lên tới hơn 15 tỷ đô la.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở trị giá hợp đồng, mà chính là chiến lược của Seoul thể hiện qua hợp đồng này. Hàn Quốc không chỉ tập trung vào việc giao hàng nhanh chóng, mà còn đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Với Ba Lan chẳng hạn thì các doanh nghiệp Hàn Quốc đẩy mạnh khâu chuyển giao công nghệ ở quy mô lớn. Đây chính điểm mạnh của Hàn Quốc để giành được hợp đồng với Ba Lan.
Nếu như vào năm 2022 còn có nhiều nghi vấn về khả năng của Hàn Quốc đáp ứng các điều khoản của những thỏa thuận ban đầu, chẳng hạn như giao hàng nhanh, ký kết các thỏa thuận với doanh nghiệp Ba Lan về cấp phép sản xuất, chuyển giao công nghệ, hay thành lập các liên doanh, thì trên thực tế, có thể thấy rằng Hàn Quốc đã có khả năng thực hiện được các cam kết ban đầu trong giai đoạn đầu tiên ».
RFI : Lợi thế mạnh nhất của Hàn Quốc chính là các cơ sở công nghiệp vững chắc của nước này ?
Kévin Martin : « Từ góc độ công nghiệp, đúng là Hàn Quốc dựa vào các chaebol – đại tập đoàn công nghiệp để sản xuất và phát triển các trang thiết bị quốc phòng. Các tập đoàn này đã mở rộng đáng kể năng lực công nghiệp nhằm đáp ứng trong một khoản thời gian ngắn nhất.
Hiện nay, chaebol chủ chốt trong lĩnh vực quốc phòng tại Hàn Quốc là Hanwha, đơn vị đang dần trở thành nhà thầu chính quốc gia và là doanh nghiệp dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực, từ phòng không đến vũ khí lục quân. Bên cạnh đó còn có LIG Nex1, cũng như các tập đoàn đóng tàu, trong đó có một xưởng đóng tàu đã được Hanwha mua lại.
Như vậy, có một số ít các tập đoàn lớn đóng vai trò chủ đạo, đã phát triển các hệ thống vũ khí tương đối mới nhờ các chính sách nghiên cứu và phát triển (R&D) do Nhà nước thúc đẩy từ những năm 1990. Điều này cho phép Hàn Quốc đưa ra thị trường nhiều mặt hàng ngay từ giai đoạn đầu, khi mức độ cạnh tranh quốc tế còn tương đối thấp. Ví dụ như pháo tự hành, nhưng cũng đúng với các hệ thống phòng không tầm ngắn (…) . Nhìn chung, có thể thấy động lực phát triển hiện nay là rất thuận lợi đối với các doanh nghiệp Hàn Quốc trên thị trường vũ khí quốc tế.
RFI : Xin chân thành cảm ơn chuyên gia công nghiệp quốc phòng, Kévin Martin, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược – FRS.
Giữa lúc « dầu sôi lửa bỏng », một thành viên quan trọng của Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Hỏa OPEC chính thức rời khỏi mái nhà chung ngày 01/05/2026. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã chuẩn bị nước cờ này từ lâu năm. « Đợt sóng ngầm » này xuất phát từ đâu và hậu quả nào trên bàn cờ năng lượng quốc tế vào lúc mọi chú ý vẫn tập trung vào chiến tranh Iran và việc eo biển Hormuz bị phong tỏa ?
OPEC và OPEC+ vừa mất thêm một thành viên sau khi Qatar (2019) và Angola (2024) đã rời đi. Quyết định của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) tiếp tục làm suy yếu trọng lượng của toàn khối trên bàn cờ năng lượng quốc tế nhưng lại có lợi cho Hoa Kỳ. Mỹ không tham gia OPEC hay OPEC+. Còn đối với các quốc gia nhập khẩu dầu, sự ra đi này có đem lại những thay đổi nào hay không ?
Cạnh tranh khốc liệt giữa các nguồn cung cấp dầuTrong một chương trình trên đài truyền hình tư nhân BFM TV, chuyên gia Hervé Goulletquer, thuộc công ty tư vấn độc lập Accuracy, chi nhánh tại Paris, nhận định là không.
« Trong ngắn hạn, không có gì thay đổi bởi vì hiện nay eo biển Hormuz đang bế tắc, cản trở các hoạt động xuất khẩu dầu. Điểm thứ nhì là quyết định này làm suy yếu OPEC do có một sự rạn nứt. Trọng lượng của tổ chức này qua đó bị giảm đi. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bảo đảm khoảng 13 % lượng dầu trong toàn khối và là nguồn cung cấp lớn thứ ba sau Ả Rập Xê Út và Irak (dầu của Iran vốn đã bị phong tỏa từ nhiều năm). Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng, từ trước đến nay UAE luôn là một thành viên bướng bỉnh, không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định chung. Nhìn dưới kía cạnh chính trị thì sự suy yếu của khối các quốc gia xuất khẩu này chứng tỏ thị trường dầu hỏa thế giới rất dễ bị dao động.
Điểm thứ ba là trước viễn cảnh tiêu thụ dầu hỏa có thể là sẽ giảm trong dài hạn - với những mục tiêu chuyển đổi năng lượng, bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch ..., cho nên Abu Dhabi muốn tận dụng thời điểm hiện tại để khai thác tối đa và xuất khẩu được nhiều chừng nào tốt chừng nấy, rồi đem nguồn thu nhập này đầu tư để phát triển những lĩnh vực khác, giảm bớt phụ thuộc vào công nghiệp dầu hỏa sau này.
Trong tính toán đó, UAE không quan tâm nhiều đến mục tiêu phải giữ giá dầu trên thị trường quốc tế như quan điểm của Riyad.
Sau cùng về mặt ngoại giao, khó có thể hy vọng các nước trong Vùng Vịnh sẽ được ổn định. Căng thẳng giữa Abu Dhabi với Riyad đã quá rõ. Ảo ảnh về một sự ổn định trong khu vực này hoàn toàn sụp đổ sau quyết định của UAE bước ra khỏi OPEC ».
Năm 2019 Qatar đã rời khỏi tổ chức OPEC để tập trung phát triển ngành công nghiệp khí đốt, đồng thời « giành lại quyền định đoạt tương lai ».
Hiện tại, cả Ả Rập Xê Út lẫn Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cùng đang rất cần vốn để chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, chuẩn bị cho thời đại « dầu hỏa không còn là vua ». Nhưng Riyad và Abu Dhabi lại đi theo hai hướng khác nhau. Hai cột trụ năng lượng trong Vùng Vịnh này đang lao vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt.
Tranh thủ thị trườngMọi người chờ đợi một khi chiến tranh Iran kết thúc, eo biển Hormuz được giải tỏa, giao thương hàng hải trở lại bình thường, tất cả các nhà cung cấp trong Vùng Vịnh, kể cả Ả Rập Xê Út hay Iran, đều đua nhau « giải phóng » những lượng dầu bị tồn kho trong những tuần lễ xung đột.
Trong giai đoạn từ 28/02/2026 đến ngày 01/05/2026 khả năng sản xuất của các quốc gia dầu hỏa trong Vùng Vịnh chỉ còn có 10 % so với trước nhưng rất hiếm những chuyến tàu dầu vượt ra khỏi được « vùng chiến sự » này do lệnh phong tỏa kép của Mỹ và Iran. Hiện tại bản thân Iran đang đau đầu vì đang phải tìm những kho để trữ dầu vẫn kẹt lại ở phía trong eo biển Hormuz. Nói các khác một khi « cửa biển này » hoạt động trở lại bình thường, sẽ có không ít nhà cung cấp hối hả đi tìm các nguồn tiêu thụ để giải quyết hàng tồn kho, đế lấp đầy lại những thiếu hụt ngân sách trong thời gian chiến tranh. UAE muốn « đi trước một nước cờ » để không bị bất kỳ một hạn ngạch hay luật chơi chung nào của OPEC trói buộc.
Một một chiến lược được chuẩn bị từ trướcGiám đốc công ty tư vấn chuyên về năng lượng, Carole Nakhle được báo L’Orient Le Jour trích dẫn hoàn toàn không bất ngờ với quyết định chia tay nói trên cho dù UAE là thành viên toàn phần từ 1967. Bà giải thích, nhà cung cấp này từ lâu nay đã bất mãn về chính sách chung của OPEC do Ả Rập Xê Út áp đặt.
UAE đã đầu tư rất nhiều cho tương lai để bớt phụ thuộc vào vàng đen. Riyad, tiếng nói có trọng lượng nhất trong khối OPEC thì lại chủ trương « hạn chế mức cung » để giữ giá dầu trong lúc Abu Dhabi muốn xuất khẩu « nhiều chừng nào tốt chừng nấy ».
Theo thể thức vận hành chung được quy định từ 56 năm nay, OPEC ấn định những quota cho mỗi thành viên. Vì luật chơi chung này, UAE chỉ được sản xuất 3,4 triệu thùng dầu mỗi ngày, trong lúc năng suất thực sự của Abu Dhabi là hơn 4,8 triệu thùng/ngày. Từ hơn 5 năm nay UAE đã đầu tư 150 tỷ đô la để nâng cao khả năng sản xuất và cung cấp đến 5 triệu thùng một ngày cho thế giới ngay từ 2027.
« Chính sách chung của OPEC không còn phù hợp với lợi ích của Abu Dhabi » (Bộ trưởng Năng Lượng UAE)
Điểm thứ nhì theo Mohammed Baharoom, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Trị tại Dubai được báo Le Monde trích dẫn, « ít nhất là từ 4 năm nay Abu Dhabi đã muốn ra khỏi OPEC » nhằm « phục vụ tốt hơn các đối tác chiến lược như với Ấn Độ, Hàn Quốc và cả Hoa Kỳ ». Những đối tác này là « cột trụ bảo đảm an toàn về mặt kinh tế cho UAE ».
Yếu tố Hoa KỳMỹ là một yếu tố trong bài toán của UAE. Trên đài truyền hình Nhà nước Franc5, giáo sư Patrice Geoffron chuyên về năng lượng giảng dậy tại Đại học Paris Dauphine nhìn nhận Abu Dhabi chia tay tổ chức OPEC sau gần 60 năm chung sống trước hết là vì lợi ích quốc gia nhưng Hoa Kỳ là bên hưởng lợi nhiều hơn cả :
« Tổ chức OPEC được hình thành từ thập niên 1960, với mục đích là điểu chỉnh lượng dầu sản xuất vì lợi ích chung. Ý tưởng ban đầu là một nghĩa vụ liên đới với nhau, phân định xem mỗi thành viên được sản xuất, xuất khẩu bao nhiêu thùng dầu mỗi ngày để giữ giá trên thị trường. Ra khỏi OPEC có nghĩa là Abu Dhabi không còn phải thể hiện liên đới với các thành viên khác, không bị trói buộc vì các khoản quota, không còn phải tuân thủ chính sách chung. Sự ra đi này có lợi cho hai quốc gia là Nga và Mỹ. Nga là thành viên OPEC+ và do đang phải đài thọ chiến tranh Ukraina hiện nay, nên Matxcơva muốn xuất khẩu nhiều, không bị ràng buộc vì những cam kết về hạn ngạch với Riyad. Còn Mỹ thì không là thành viên OPEC nên sẽ hài lòng thấy khối này bị suy yếu. Đây là cơ hội cho các nhà sản xuất dầu ở Hoa Kỳ sản xuất nhiều hơn ».
Hiện tại giá dầu đã vượt ngưỡng 110 thậm chí có lúc là 120 đô la một thùng, hoàn toàn do tình hình ở eo biển Hormuz. Theo chuyên gia về năng lượng Carole Nakhle, « trong ngắn hạn, giá dầu trên thị trường quốc tế do các yếu tố địa chính trị quyết định. Giá cả chuyển động tùy theo tình hình ở eo biển Hormuz, những biến cố có thể xảy ra tại Venezuela ».
Nhưng về lâu dài thì khác.
Theo bà Carole Nakhle, ra khỏi OPEC có nghĩa là UAE đã chuyển sang thế tấn công, sẵn sàng bơm thêm dầu vào thị trường, làm hạ nhiệt giá dầu, « đáp ứng yêu cầu của Washington ». Donald Trump từ lâu nay vẫn đòi OPEC « mở thêm van dầu » để xăng dầu bán ra trên thị trường Mỹ giảm giá. Tổng thống Mỹ đang cần được cử tri ủng hộ trước bầu cử giữa kỳ tháng 11/2026. Một tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa mà càng suy yếu, càng có lợi cho Hoa Kỳ.
Năm 2025, OPEC chiếm khoảng 30% nguồn cung dầu toàn cầu, (hoặc 41% nếu tính cả liên minh mở rộng OPEC+). Mất đi một thành viên, trọng lượng của OPEC sẽ bị thu hẹp lại. Để so sánh, tổ chức này bảo đảm 58 % nhu cầu tiêu thụ cho thế giới vào năm 1973 khi cuộc khủng hoảng dầu hỏa lần thứ nhất bùng phát.
Do vậy cựu bộ trưởng Kinh tế Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Nasser Saidi dự báo sau khi OPEC mất đi một thành viên là Abu Dhabi, sẽ đến lượt Caracas chia tay với khối này, nhất là khi mà Washington « đang kiểm soát » dầu hỏa của Venezuela.
Tổ Chức Các Quốc Gia Xuất Khẩu Dầu Hỏa OPEC đang để lộ rõ những rạn nứt từ bên trong và sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu dầu hỏa ngày càng gay gắt. « Hợp tác » giữa các nhà sản xuất không còn là ưu tiên số 1 trước những tính toán ích kỷ hơn. Đối với Ả Rập Xê Út, thành viên quan trọng nhất trong khối OPEC, sự rút lui của Abu Dhabi là một « lời cảnh cáo ». Nhìn từ Washington, đây là « cơ hội ».
Đối với bản thân Tổ Chức Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Hỏa thì vị thế trên bàn cờ năng lượng của nhóm 11 nước ngày đang bị thu hẹp lại. Nhìn từ phía các nền kinh tế phải nhập khẩu dầu thì chưa chắc viễn cảnh các nhà cung cấp và xuất khẩu cạnh tranh khốc liệt hơn sẽ là một tin vui. Điều chắc chắn duy nhất là thị trường dầu hỏa đang có nhiều biến động.
Chính quyền Trump hôm 20/04/2026 bắt đầu tiếp nhận đơn của các công ty nhập khẩu Hoa Kỳ đòi hoàn trả 166 tỷ đô la đã phải nộp cho chính phủ từ một năm qua. Tối Cao Pháp Viện Mỹ bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặt các các hàng rào thuế quan với toàn thế giới nhưng chiến tranh thương mại do Nhà Trắng khai mào chưa tới hồi kết. Washington thất bại trên ba mục tiêu : kiềm tỏa xuất khẩu Trung Quốc, thu hẹp thâm hụt mậu dịch của Hoa Kỳ và đưa nước Mỹ trở lại trung tâm bàn cờ công nghiệp thế giới.
Thay đổi duy nhất là trật tự thương mại quốc tế đã rẽ sang một khúc quanh mới.
Chuyển biến trong một năm, từ Ngày Giải Phóng nước Mỹ 02/04/2025.Đúng hai tháng sau phán quyết ngày 20/02/2026 của Tối Cao Pháp Viện, các công ty nhập khẩu của Mỹ bắt đầu có thể đòi Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) hoàn trả 166 tỷ đô la mà họ đã phải nộp từ khi ông Donald Trump ban hành biện pháp thuế đối ứng 02/04/2025.
Hiện tại, hơn 330.000 công ty nhập khẩu của Mỹ, đã có 56.500 đòi CBP bồi hoàn. Thủ tục đòi lại tiền thuế cho các doanh nghiệp Mỹ sẽ không đơn giản. Nhìn từ góc độ của người tiêu dùng, câu hỏi quan trọng nhất là liệu các công ty nhập khẩu của Mỹ có hoàn trả lại cho các khách hàng khoản thuế hải quan « không hợp pháp » mà họ đã thu vào từ một năm nay hay không.
Trong Vườn Hồng của Nhà Trắng cách nay hơn một năm tổng thống Donald Trump tuyên bố : « Mồng 2 tháng Tư năm 2025 sẽ mãi mãi được khắc khi trong ký ức như một ngày công nghiệp của Hoa Kỳ hồi sinh, ngày để chinh phục lại vận mệnh của nước Mỹ và là ngày đòi lại tài sản cho Hoa Kỳ ».
Lập tức thuế hải quan đánh vào hàng nhập khẩu vào Mỹ tăng 10 rồi 50 %. Trong đợt đầu tiên này, Việt Nam bị lãnh mức thuế 46 %. Cam Bốt và Lào là 49 và 47 %. Cả thế giới, từ Liên Hiệp Châu Âu, Anh Quốc, Thụy Sĩ … đến Nhật Bản, Hàn Quốc hối hả đến Washington đàm phán với hy vọng thuyết phục được chính quyền Trump về thiện chí thu hẹp thặng dư mậu dịch với Mỹ.
Các nền kinh tế Đông Nam Á không là một ngoại lệ. Sau nhiều vòng đàm phán, tháng 7/2025 Việt Nam cuối cùng đạt được thỏa thuận để hàng xuất khẩu sang Mỹ chịu mức thuế 20 % (thuế 40 % nếu là hàng hóa trung chuyển). Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc bằng lòng với mức thuế hải quan 15 %. Ấn Độ, Brazil, là những nhà đàm phán không dễ vâng lời.
Riêng Trung Quốc là một ngoại lệ : Chẳng những Bắc Kinh không vội vàng thương lượng với Nhà Trắng mà còn tung đòn đáp trả, chuyển từ thế thủ sang thế tấn công đúng nghĩa « ăn miếng trả miếng » để rồi đôi bên tuyên bố « tạm ngừng ». Tháng 10/2025 tổng thống Donald Trump và chủ tịch Tập Cận Bình gặp nhau tại Hàn Quốc và trên nguyên tắc trong hai tuần nữa (tháng 5/2026) nguyên thủ Mỹ công du Bắc Kinh. Thương mại vẫn là trọng tâm thượng đỉnh Mỹ-Trung
Cuộc chiến còn dàiTháng 2/2026, gần một năm « Giải Phóng nước Mỹ » với đòn thuế đối ứng, tổng thống Trump phẫn nộ trước phán quyết của Tối Cao Pháp Viện. Ông cho rằng phán quyết này cho phép các đối tác nước ngoài tiếp tục « bòn rút » tài nguyên của Hoa Kỳ.
Vào lúc mà các công ty nhập khẩu Mỹ bắt đầu đòi « hoàn trả » 166 tỷ đô la đã nộp « oan uổng » cho chính phủ, thì cũng ông Trump cảnh báo, ông sẽ « để bụng » những doanh nghiệp nào dám đòi được hoàn trả thuế hải quan. Những công ty đó, không « thông minh » và không « yêu nước ».
Nhà kinh tế Denis Ferrand giám đốc công ty tư vấn Rexecode-Paris, trên đài phát thanh France Info hôm 21/02/2026 ghi nhận :
« Đối với Donald Trump phán quyết của Tối Cao Pháp Viện là một vố đau, bởi vì ông luôn coi thuế quan là cột trụ trong chính sách của mình. Ngay nhiệm kỳ đầu tổng thống Mỹ đã sử dụng lá bài này, nhưng chỉ là để đối đầu với Trung Quốc. Rồi Washington và Bắc Kinh đã liên tục đàm phán … Trong nhiệm kỳ 2 Trump lại đem chiêu bài này ra nhưng là để áp đặt với toàn thế giới. Ông coi đây là một công cụ để đạt được những mục tiêu đã đề ra, thậm chí là công cụ để gây áp lực, để đòi các đối tác thương mại của Hoa Kỳ đầu tư trên đất Mỹ, làm sống lại nền công nghiệp của Hoa Kỳ, để rồi Mỹ lại đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt thế giới ».
Nhưng tổng thống Mỹ không chịu buông tay. Ngay sau phán quyết của Tối Cao Pháp Viện, Donald Trump lập tức ban thêm một đợt thuế mới 15 % (ban đầu là 10 %) có hiệu lực trong vòng 150 ngày. Cho đến tuần này, lãnh đạo Nhà Trắng vẫn dùng đòn thuế quan, công cụ ông yêu thích nhất, để đòi phạt các đối tác không ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống Iran, không giúp Hoa Kỳ mở cửa eo biển Hormuz đang bị Iran phong tỏa.
Cần lưu ý rằng phán quyết hôm 20/02/2026 của Tối Cao Pháp Viện Mỹ không liên quan đến một số trường hợp như thuế đánh vào nhôm, thép (vẫn là 50 %) và xe hơi (vẫn là 25 %) của nước ngoài bán sang thị trường Mỹ. Nói cách khác, cuộc chiến thuế quan Donald Trump khởi xướng chưa tới hồi kết.
Thuế đối ứng, gánh nặng đối với Hoa KỳTrong 12 tháng qua, các nạn nhân đầu tiên từ chính sách này là người tiêu dùng ở Mỹ. Isabelle Méjean chuyên gia về thương mại quốc tế trường Khoa Học Chính Trị Paris giải thích trên kênh truyền hình Pháp Public Sénat :
« Người tiêu dùng Mỹ trả giá cho các đòn thuế quan đó. Hơn nữa chính sách này đã không cho phép khởi động lại đầu tư vào các nhà máy công nghiệp ở Hoa Kỳ như từng hứa hẹn, và cũng không đem lại việc làm cho người lao động. Trong năm qua kinh tế và chứng khoán phát triển nhờ những khoản đầu tư rất lớn vào công nghệ trí tạo thông minh (…)
Cả thế giới lập tức lao vào một cuộc chạy đua với thời gian để đàm phán với Washington, mong được giảm mức thuế khi xuất khẩu hàng sang Hoa Kỳ, để tránh phải trực diện lao vào một cuộc đối với chính quyền Trump. Do vậy có thể nói về phương diện ngoại giao, Donald Trump đã ghi được một bàn thắng khi củng cố vị trí của nước Mỹ ».
Bộ Tài Chính Mỹ thu tiền của dân MỹKinh tế trưởng của ngân hàng Pháp BNP, Nathalie Benatia phân tích thêm :
« Rất rõ ràng là người tiêu dùng Mỹ gánh chịu các khoản chi phí phụ trội. Thành công duy nhất là khi tăng thuế hải quan, bởi đây là một hình thức thu thuế, nên tiền mà chính quyền liên bang thu vào được nhiều hơn, ước tính là đã thu thêm được khoảng 264 tỷ đô la trong năm 2025. Để so sánh, hồi 2024 khoản thu vào từ thuế hải quan này chỉ là 80 tỷ đô la. Nhưng chỉ cần đặt câu hỏi, ai đã chuyển số tiền 264 tỷ đó vào công quỹ Nhà nước thì câu trả lời hiển nhiên là người dân Mỹ, là người tiêu dùng ở Mỹ. Có điều với quyết định của Tòa Án Tối Cao hôm 20/02/2026 thì 2 phần ba khoản bội thu 264 tỷ vừa nói, có thể sẽ phải hoàn trả lại cho các công ty nhập khẩu của Hoa Kỳ, nếu có yêu cầu, để rồi số này phải trả lại cho khách hàng … »
Theo nghiên cứu của viện nghiên cứu của Đức, Kiel Institute, 96 % thuế hải quan mà tổng thống Trump ban hành là do các công ty và người tiêu dùng ở Mỹ gánh chịu, 4 % còn lại đè nặng lên các nhà sản xuất và xuất khẩu muốn chen chân vào thị trường Hoa Kỳ.
Báo cáo của đại học Yale chỉ ra rằng trong năm 2025, trung bình mỗi hộ gia đình ở Mỹ phải chi thêm 1.751 đô la vì các biện pháp thuế quan nói trên. Điều đó cũng có nghĩa là vì loại thuế này mà lạm phát ở Mỹ tăng lên thêm trong năm qua. Giá tiền ga tăng 11 % (trước khi nổ ra chiến tranh Trung Đông), tiền điện tăng thêm 6,7 %.
Thất bại 3 KHÔNGVề câu hỏi thuế đối ứng của Mỹ có cho phép Hoa Kỳ thu hẹp nhập siêu với các bạn hàng hay không thì câu trả lời là không. Báo cáo Brookings Papers on Economic Activity công bố tháng 3/2026 kết luận « chính sách thuế quan của ông Trump khiến 2025 trở thành một năm đặc biệt có nhiều biến động về kinh tế ». Trung Quốc cũng như châu Âu không phải là những bên gánh chịu nặng nhất thuế hải quan của ông Trump. Theo Cục Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ, thâm hụt mậu dịch của Mỹ trong năm 2025 tăng thêm 2 % so với hồi 2024 và đạt ngưỡng kỷ lục 1.240 tỷ đô la.
Trong khi đó ngành xuất khẩu của Trung Quốc vẫn an toàn : xuất khẩu sang Mỹ giảm 20 % năm ngoái nhưng lại tăng mạnh tại châu Âu (+28 %) và nhất là sang các nước Đông Nam Á (+29 %).
Thuế hải quan có thôi thúc các nhà sản xuất quốc tế ồ ạt đầu tư vào Mỹ để phát triển mạng lưới công nghiệp của Hoa Kỳ hay không, câu trả lời là không. Trong năm 2025 công nghiệp Mỹ sa thải 100.000 nhân viên.
15 hiệp định tự do mậu dịch, Mỹ đứng ngoàiTuần báo kinh tế Anh The Economist ghi nhận, chính sách thương mại của Hoa Kỳ mang nặng màu sắc bảo hộ nói trên là động lực thúc đẩy cộng đồng quốc tế ký kết 15 thỏa thuận thương mại quan trọng trong năm vừa qua. Từ tháng 5 đến tháng 12/2025 tổng trao đổi mậu dịch giữa Anh, Canada Liên Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sĩ tăng thêm 5 %.
Theo thống kê của hải quan Trung Quốc công bố tháng 1/2026, trong năm 2025, thặng dư mậu dịch nước này lên tới 1.189 tỷ đô la - tương đương với GDP của quốc vương dầu hỏa Ả Rập Xê Út, tăng thêm 20 % so với tài khóa 2024.
Ông Trump thất bại trong việc kiềm tỏa các nhà xuất khẩu của đối thủ thương mại lớn nhất và nguy hiểm nhất trong mắt Hoa Kỳ.
Có điều trong một năm qua tổng thống Hoa Kỳ đã làm đảo lộn trật tự thế giới trên bàn cờ thương mại, như Erwan Benazet của báo Le Parisien ghi nhận :
« Chúng ta đang đứng trước một chuyển biến, thay đổi cục diện thương mại toàn cầu, một bước ngoặt trong giao thương quốc tế từ hơn 50 năm qua. Trong thời gian gần đây, cụm từ thường được nhắc đến nhiều nhất là ‘chủ quyền’, là ‘tự chủ’. Các nền kinh tế càng lúc càng tìm cách đa dạng hóa các nguồn cung ứng và tìm kiếm thêm những thị trường thay thế ».
Công cụ thuế quan của chính quyền Donald Trump không phân biệt « các nước bạn và thù » mà điển hình là Canada hay Mêhicô sát cạnh đều lãnh búa rìu của Nhà Trắng.
Trong tinh thần đó hơn bao giờ hết, Canada đã thắt chặt thêm quan hệ với Liên Âu. Du khách Canada thăm Mỹ vắng dần. Theo hiệp hội du lịch USA Travel Association, ngành lịch Mỹ thất thu 4 tỷ đô la năm ngoái do lượng du khách Canada giảm 20 %.
Washington đang giúp Bắc Kinh trở thành một mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu. Chiến tranh Trung Đông là bàn đạp cho năng lượng tái tạo Trung Quốc vào lúc quốc gia châu Á này đã đi trước phương Tây về công nghệ chế tạo bình điện cho ô tô, năng lượng gió và pin mặt trời.
Cuộc chạy đua tìm nguồn năng lượng thay thếDo tác động xung đột ở Vùng Vịnh từ hôm 28/02/2026, eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa, thế giới mất đi 1/5 năng lượng hóa thạch (dầu hỏa và khí đốt) phải đi qua « vùng chiến sự này ».
Châu Á lao vào một cuộc chạy đua tìm các nguồn cung cấp thay thế cho năng lượng nhập khẩu từ Trung Đông. Bản thân Trung Quốc vỗn phụ thuộc đến 13 % của Iran và gần 50 % vào năng lượng hóa thạch từ các nước trong Vùng Vịnh, đang phải đối mặt với nguy cơ tăng trưởng sụt giảm nếu chiến tranh Trung Đông kéo dài.
Bốn năm sau « khủng hoảng năng lượng » vì chiến tranh Ukraina gây nên, Liên Hiệp Châu Âu một lần nữa lại lo « khủng hoảng dầu từ Trung Đông » làm tê liệt các nhà máy, thiếu hụt nhiên liệu máy bay trước thềm mùa du lịch cao điểm của hai tháng hè.
Liên minh châu Âu, Anh, Pháp hay Nhật Bản, Philippines... các chính phủ đã phản ứng trước việc giá dầu và khí đốt tăng bằng cách kêu gọi « tăng tốc tiến trình điện hóa » và phát triển hạ tầng năng lượng sạch.
Kêu gọi mở rộng mạng lưới cung cấp điện gió, điện mặt trời, sử dụng ô tô điện được coi là những giải pháp đầu tiên để bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch.
Châu Âu vội vàng giảm nhẹ các chuẩn mực về môi trường để quan tâm hơn đến điện hạt nhân và kể cả than đá. Tại Seoul, tổng thống Lee Jae Myung cảnh báo tương lai Hàn Quốc bị đe dọa nếu như quốc gia này « tiếp tục bị phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch ».
Thậm chí tại Irak, một quốc gia dầu hỏa thì nhu cầu trang bị pin mặt trời mà Trung Quốc là bên cung cấp độc quyền, đã tăng mạnh trong tháng 3/2026.
Sau hai tháng eo biển Hormuz bị phong tỏa, nhiều quốc gia xem năng lượng tái tạo, ô tô điện là « những giải pháp thay thế », để bảo toàn tăng trưởng.
Công nghệ và năng lượng xanh trong tay Bắc KinhTrong tất cả những lĩnh vực này, Trung Quốc đang dẫn đầu : đã chinh phục 70 % thị trường ô tô điện trên thế giới và 80 % pin mặt trời các hộ gia đình đang trang bị hiện nay là sản phẩm made in China, theo số liệu của Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế AIE.
Chỉ riêng trong tháng 2/2026 khi căng thẳng giữa Iran với Hoa Kỳ bắt đầu leo thang, Trung Quốc xuất khẩu hơn 20 tỷ đô la « công nghệ xanh » cho thế giới. Thống kê của hải quan nước này cho thấy khối lượng ô tô điện Trung Quốc xuất khẩu trong tháng 3/2026 tăng « hơn gấp đôi » so với cùng thời kỳ năm ngoái.
« Trung Quốc là bên thắng lớn »Nhà nghiên cứu về khí hậu và năng lượng tại cơ quan tư vấn của Mỹ Council on Foreign Relations David M. Hart nhận định « Trung Quốc là bên thắng lớn ».
Trả lời thông tín viên RFI tại Bắc Kinh, Cléa Broadhurst, giáo sự Đinh Nhất Phàm ( Ding Yifan) thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển Thế giới thuộc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển – Institute of World Development Studies giải thích thêm về thành quả Trung Quốc có được hôm nay :
« Đây là kết quả của cả một quá trình hơn 10 năm Trung Quốc tìm cách đa dạng hóa các nguồn năng lượng. Bắc Kinh vừa đa dạng hóa các nguồn nhiệt điện, vừa phát triển năng lượng xanh trọng mọi lĩnh vực. Do vậy Trung Quốc đã chuẩn bị để đối phó với mọi tình huống, kể cả trong trường hợp đột ngột mất đi một nguồn cung cấp. Bắc Kinh đã đầu tư rất nhiều để phát triển năng lượng tái tạo. Hiện nay Trung Quốc là nguồn sản xuất điện gió và điện mặt trời số 1 trên thế giới, chiếm gần một nửa năng lượng xanh sản xuất trên thế giới. Nhờ thế mà quốc gia này giảm thiểu được đáng kể những nguy cơ thiếu hụt năng lượng hóa thạch ».
Nghiên cứu của đại học Oxford năm 2025 cho thấy năng lượng tái tạo giúp Bắc Kinh bớt phụ thuộc từ 50 đến 60 % vào năng lượng hóa thạch của Trung Đông. Theo cơ quan tư vấn Ember Energy, trong giai đoạn 2022 -2030 sản xuất năng lượng xanh của Trung Quốc tăng « gấp đôi ». Bản thân Trung Quốc cũng đang là một tấm gương trong lĩnh vực này : 12 % xe hơi lưu hành tại Trung Quốc là xe chạy điện, 30 % xe vận tải mới bán ra trên thị trường ở Hoa Lục không còn chạy bằng xăng hay dầu.
Cú hích cho xuất khẩuMột nhà xuât khẩu pin mặt trời tại Thanh Đảo được báo kinh tế Pháp Les Echos trích dẫn cho biết, trong tháng 3/2026 doanh thu tăng lên gấp ba lần so với một tháng trước đó. Ngay những giờ đầu khi eo biển Hormuz bị đóng cửa, Philippines vốn phải nhập khẩu đến 98 % dầu hỏa tiêu thụ nội địa, đã lập tức « ban hành tình trạng khẩn cấp năng lượng » đồng thời « tăng tốc tiến trình phát triển năng lượng xanh ».
Báo tài chính Mỹ The Wall Street Journal ghi nhận, để thực hiện mục tiêu này, Manila sẽ « phụ thuộc nhiều hơn vào thiết bị của Trung Quốc ». Điều đó cũng có nghĩa là Philiipines nên nhanh chóng quên đi những tranh chấp chủ quyền biển đảo với Bắc Kinh.
Eo biển Hormuz bị đóng cửa dài ngày, từ Canada đến Phần Lan, Anh Quốc đều vội vã « sưởi ấm quan hệ với Bắc Kinh ». Thủ tướng Tây Ban Nha vừa đến Trung Quốc và một trong những hồ sơ lớn được thảo luận liên quan đến « hợp tác phát triển năng lượng xanh », « bảo đảm an toàn cho các nguồn cung cấp khoáng sản chiến lược », nguyên liệu thiết yếu cho công nghệ xanh. Bộ trưởng Kinh Tế Đức chuẩn bị đến Bắc Kinh với những mục tiêu tương tự. Trong điều kiện đó, liệu Bruxelles còn dám đòi đánh thuế ô tô điện của Trung Quốc xuất khẩu sang châu Âu hay không ?
Chuyên gia người Trung Quốc Định Nhất Phàm nêu lên một khía cạnh khác cho thấy xung đột ở Trung Đông vừa thách thức Bắc Kinh nhưng cũng vừa mở ra nhiều cơ hội cho nước này.
« Tàu thuyền Trung Quốc đã được phép đi qua. Ngay cả trong trường hợp eo biển Hormuz có hoàn toàn bị phong tỏa đi chăng nữa thì với các nguồn cung cấp đa dạng như với Nga, Úc hay năng lượng đi qua ngả Alaska, dây chuyền cung cấp cho Trung Quốc không sợ bị đứt quãng. Nhưng đối với các doanh nghiệp thì khác. Tập đoàn vận tải đường biển Cosco, lớn nhất thế giới chẳng hạn, đang thực sự đau đầu vì tình hình ở eo biển Hormuz. Cùng lúc một số phương tiện giao thông khác lại có lợi, chẳng hạn như chuyên chở bằng đường sắt, hệ thống xe tải trên bộ … »
Một cột trụ tương lai trên bàn cờ năng lượng quốc tế ?Nhìn xa hơn, Trung Quốc đang củng cố hình ảnh của một quốc gia đáng tin cậy trên nhiều phương diện kể cả trong vai trò một nhà cung cấp năng lượng đáng tin cậy, bao gồm cả các nước trong Vùng Vịnh. Chuyên gia Trung Quốc về khu vực này thuộc Đại học ngoại ngữ Chiết Giang, Mã Hiểu Lâm (Ma Xiaolin), phân tích với RFI :
« Không loại trừ khả năng chiến tranh Trung Đông là bệ phóng cho công nghệ của Trung Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, siêu dữ liệu, điện toán hiệu năng cao... Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đang muốn phát huy các lĩnh vực này. Năm ngoái, Abou Dabi đã đầu tư rất nhiều vào Mỹ để xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu. Nhưng với những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, với những xáo trộn ở Trung Đông và nhất là sau vụ Iran phá hủy những trung tâm xử lý dữ liệu của Amazone và Oracle, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể sẽ đẩy mạnh hướng hợp tác với Trung Quốc về công nghệ cao ».
Công nghệ xanh và khoáng sản chiến lượcKhông có khoáng sản hiếm thì không có công nghệ xanh. Hiện tại, Trung Quốc đang kiểm soát đến 90 % xuất khẩu đất hiếm. Cả Mỹ cũng phải phụ thuộc vào đối tác châu Á này. Vừa có nguyên liệu, vừa làm chủ công nghệ chế tạo từ bình điện ô tô đến xe hơi, từ những tấm pin mặt trời đến công nghiệp chế tạo cánh quạt để tạo ra năng lượng gió.
Thông tín viên Cléa Broadhurts từ Bắc Kinh nói đến thế áp đảo của Trung Quốc ở nhiều cấp độ khác nhau.
« Giá đất hiếm tăng mạnh, nhu cầu về năng lượng tái tạo bùng nổ. Trung Quốc củng cố vị thế chiến lược ở nhiều cấp độ. Trước hết, liên quan đến đất hiếm. Đây là những kim loại thiết yếu trong công nghệ điện gió, cũng không thể thiếu để chế tạo bình điện ô tô hay xe điện. Trên tất cả những lĩnh vực này Trung Quốc đều chiếm thế thượng phong và nhất là đang kiểm soát phần lớn dây chuyển sản xuất. Việc giá cả tăng 45 % là tín hiệu mạnh. Lý do là Trung Quốc vừa hạn chế xuất khẩu vừa đang đối phó với căng thẳng ngày càng lớn với Washington. Mỹ muốn bảo đảm các nguồn cung cấp về khoáng sản chiến lược.
Ngoài ra Bắc Kinh còn được hưởng lợi từ khan hiếm năng lượng toàn cầu. Chiến tranh Trung Đông gây xáo trộn trên thị trường dầu hỏa và khí đốt, như thể đang tạo đà cho năng lượng tái tạo. Nhiều quốc gia trên thế giới và người tiêu dùng tư nhân đang hướng về năng lượng mặt trời, năng lượng gió và bình điện để thay thế. Trung Quốc đang dẫn đầu trên tất cả những phương diện đó. Phần lớn pin mặt trời trên thế giới là do Trung Quốc sản xuất, bình điện hay ô tô điện cũng vậy. Hệ quả là kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc trong các lĩnh vực này tăng nhanh. Đối với nhiều quốc gia, giảm phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch có nghĩa là phải chấp nhận để lệ thuộc vào thiết bị của Trung Quốc. Đây là một sự thay đổi thầm lặng. Chuyển đổi năng lượng cũng đang làm thay đổi tương quan lực lượng giữa Trung Quốc với phần còn lại trên thế giới. Chưa chắc đây sẽ là một mối quan hệ sẽ cân đối hơn ».
Sau hai tháng chiến sự tại Trung Đông, Trung Quốc cũng như phần còn lại trên thế giới đương nhiên mong thị trường dầu, khí hạ nhiệt. Cái may của Bắc Kinh là có thể trông cậy vào năng lượng hóa thạch của Nga.
Cùng lúc, cơn sốt năng lượng hiện tại là một cú hích bất ngờ cho các nhà sản xuất ô tô điện Trung Quốc, là một tin vui cho ngành xuất khẩu thiết bị năng lượng xanh. Chỉ có các quốc gia phải nhập khẩu năng lượng thì đang chuyển từ tình trạng « phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch » mà các nước Vùng Vịnh đến nay là một đối tác quan trọng bậc nhất, sang thế phụ thuộc vào Trung Quốc.
Giới trong ngành nói đến một « cuộc cách mạng đang hình thành trên bàn cờ năng lượng quốc tế », có lợi cho Bắc Kinh. Chiến tranh Iran mà Mỹ và Israel khởi động là bệ phóng cho ngành công nghệ xanh của đối thủ quan trọng nhất trong mắt Washington.
May cho các nước trong Vùng Vịnh được trang bị nhiều vũ khí để tự vệ trước hỏa lực của Teheran từ khi Mỹ và Israel phối hợp đánh Iran. 83 % hỏa lực của Iran trong bốn tuần đầu chiến tranh nhắm vào các nước trong Vùng Vịnh, nơi Hoa Kỳ đặt căn cứ quân sự. Trong tương lai, cả khu vực này sẽ phải khôi phục lại kho vũ khí đã hao mòn trong thời gian vừa qua. Đây là cơ hội cho các nhà sản xuất của châu Âu, đặc biệt là Pháp, Trung Quốc và Hàn Quốc để chen chân vào một thị trường truyền thống trong tay Mỹ.
Tính đến ngày 01/04/2026, một tháng kể từ khi nổ ra xung đột tại Trung Đông, Iran huy động tên lửa đạn đạo và drone nhắm vào các căn cứ quân sự của Mỹ tại từ Bahrain đến Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, từ Qatar, Koweit, đến Ả Rập Xê Út. Các nhà máy dầu và cơ sở năng lượng của các nước trong vùng cũng đã là những mục tiêu bị nhắm tới.
Mỗi ngày các vương quốc chung quanh Vịnh Ba Từ đều thông báo huy động các hệ thống phòng không rất đắt tiền để bắn chận tên lửa và nhất là drone chế tạo với giá rẻ của Iran. Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đã hứng chịu gần 2.000 drone Iran trong 4 tuần lễ đầu chiến sự, hơn 400 tên lửa đạn đạo. Koweit, nơi Bộ Tư Lệnh Trung Tâm Hoa Kỳ Centcom đặt tổng hành dinh, đã liên tiếp bị tấn công bất chấp thái độ trung lập. Riêng với Qatar thì ngoài việc bảo vệ căn cứ không quân lớn nhất của Mỹ tại Trung Đông, Al Udeid, chính quyền Doha còn phải huy động các hệ thống phòng không tối tân nhất, đắt đỏ nhất để bảo đảm an ninh cho các mỏ khí đốt, cho các nhà máy năng lượng.
Theo báo cáo Military Balance 2026 của Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế IISS trong năm 2025 « trung bình các quốc gia trong Vùng Vịnh và Bắc Phi dành đến 4,5 % GDP cho ngân sách quốc phòng ». Với gần 80 tỷ đô la một năm, Ả Rập Xê Út có ngân sách phòng thủ lớn thứ 7 trên thế giới và cũng là một trong những nước hiếm hoi huy động hơn 5,5 % GDP cho các chi phí quân sự. Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, Thụy Điển, SIPRI trong báo cáo mới nhất ghi nhận : 3 trong số 10 quốc gia nhập khẩu vũ khí nhiều nhất trên hành tinh là các nước trong Vùng Vịnh (Qatar hạng 3, Ả Rập Xê Út hang tư và Koweit hạng 10).
Dự thống trị lâu đời của Mỹ
Các quốc gia Vùng Vịnh là những khách hàng lớn nhất của ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ. Thực tế đó đã được củng cố thêm từ nhiệm kỳ đầu của tổng thống Donald Trump. Năm 2017 Ả Rập Xê Út thông báo một loạt hợp đồng 106 tỷ đô la để trang bị vũ khí và thiết bị quân sự của Mỹ, cho dù trên thực tế mãi tới khi ông Trump rời Nhà Trắng đầu 2021 chỉ có gần 15 tỷ đô la đã được thực hiện. Giữa tháng 5/2025 tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump nhân vòng công du ba nước Vùng Vịnh, Riyad đã ký thêm 142 tỷ đô la hợp đồng với cac tập đoàn công nghiệp quốc phòng của Mỹ. Tại Doha, lãnh đạo Qatar thông qua hợp đồng nhập khẩu 42 tỷ đô la vũ khí với Hoa Kỳ trong đó bao gồm từ hệ thống phòng không THAAD đến drone, drone biển, tên lửa, chiến đấu cơ, máy bay vận tải …
Tuy nhiên, từ đầu thập niên 1990 các nước trong Vùng Vịnh đã bắt đầu đa dạng hóa các nguồn cung cấp. Các nhà sản xuất của châu Âu, đặc biệt là từ Pháp từng bước chinh phục được thêm thị trường này. Từ đầu nhiệm kỳ tổng thống năm 2017, Emmanuel Macron tiếp tục chính sách chinh phục các đối tác trong vùng Vịnh của người tiền nhiệm François Hollande. Pháp đã tranh thủ xuất khẩu chiến đấu cơ cho Qatar, cung cấp xe bọc thép, …. Trong giai đoạn 2012-2016 Qatar thậm chí đã qua mặt Ả Rập Xê Út để trở thành khách hàng lớn nhất của Pháp trong khu vực.
Trả lời RFI tiếng Việt, chuyên gia về công nghiệp quốc phòng, Kévin Martin, Qũy Nghiên Cứu Chiến Lược FRS phân tích thêm : Trong giai đoạn hậu chiến tranh Iran, các nước Vùng Vịnh sẽ phải phục hồi lượng vũ khí đã có, cần điểu chỉnh lại chính sách phòng thủ trước một thực tế là đã phải huy động những phương tiện rất tối tân và tốn kém đôi khi chỉ để chận drone rẻ tiền của Iran. Vẫn theo ông Kevin Martin, các nước Vùng Vịnh lại càng cần đa dạng hóa các nguồn cung cấp hơn bao giờ hết.
Kévin Martin : « Chúng ta đã thấy hệ thống phòng không của các quốc gia trong Vùng Vịnh đã bị cuộc chiến này thách thức. Iran huy động từ drone Shahed đến tên lửa đạn đạo nhắm vào các nước lân cận, khiến các hệ thống phong không của các quốc gia này bị quá tải. Trường hợp xảy ra lần này là một cuộc đọ sức bất tương xứng : trong lúc Iran tấn công bằng drone rẻ tiền, thì các nước Vùng Vịnh phải huy động các hệ thống phòng không rất đắt đỏ mua được của Mỹ ra để tự vệ. Một điểm khác cũng rất quan trọng đó là các nước trong Vịnh Ba Tư đã phải cầu cứu đến các đối tác, các nhà cung cấp vũ khí cho minh đến để trợ giúp. Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đã có thể trông cậy vào các thiết bị của Pháp. (...)
Trong trường hợp cụ thể của các nước Vùng Vịnh, họ chủ yếu trang bị vũ khí và thiết bị quân sự của Mỹ. Chúng ta biết nhiều đến hệ thống Patriot. Nhưng sau giai đoạn chiến sự lần này thì các nước trong khu vực sẽ phải nhập khẩu thêm vũ khí để thay thế cho những thiệt hại vừa qua. Đặc biệt là phải nhập khẩu thêm tên lửa không đối không, mua thêm các loại thiết bị vận tải như là trực thăng …»
Pháp có những lợi thế nào để chinh phục thị trường Trung Đông ?
Kévin Martin : «Từ thập niên 1990 các nước trong Vùng Vịnh theo đuổi chính sách mua sắm các thiết bị quân sự kèm theo điều khoản chuyển giao công nghệ để từng bước xây dựng mạng lưới công nghiệp quốc phòng cho các quốc gia này. Với chiến tranh Trung Đông lần này chúng ta thấy rõ các phương tiện phòng thủ tối tân do Mỹ cung cấp được huy động để đối phó với tên lửa đạn đạo, với drone Shahed của Iran … Thành thử trong tương lai các quốc gia này sẽ phải đánh giá lại chính sách phòng thủ để thích nghi với những loại vũ khí kiểu mới.
(...) Pháp là một đối tác lâu đời với khu vực này, đặc biệt là với Các Tiều Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, với Ả Rập Xê Út từ đầu thập niên 1990. Pháp cung cấp chiến xa cho các đối tác tại Trung Đông, tăng cường hợp tác trong giai đoạn 2015-2021 qua một loạt các chương trình trong lĩnh vực hàng không quân sự, cung cấp chiến đấu cơ Rafale cho từ Qatar đến Ai Cập, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất … Điểm mạnh của các tập đoàn Pháp là họ chú trọng vào mối đối tác chiến lược. Thí dụ như trong chiến tranh Iran lần này, Paris không trực tiếp tham chiến nhưng hỗ trợ các khách hàng mua thiết bị của Pháp bị Iran tấn công. Điểm mạnh thứ nhì là các tập đoàn châu Âu nói riêng, của Pháp nói chung sẵn sàng chia sẻ công nghệ với khách hàng. Sau cùng Pháp cũng có khuynh hướng tổ chức các cuộc tập trận chung, vừa để phối hợp vừa để đào tạo cho các đối tác mua thiết bị của mình »
Nhà nghiên cứu Pháp lưu ý bên cạnh các tập đoàn châu Âu, của Pháp thì Trung Quốc và Hàn Quốc ngày càng trở thành những đối tác của các nước tại Trung Đông. Kevin Martin giải thích :
Kévin Martin : « Có một đặc điểm là tất cả các nước trong khu vực Vịnh Ba Tư đều là những nguồn nhập khẩu vũ khí vì không có các nhà máy sản xuất trên lãnh thổ của mình. Nhưng gần đây họ bắt đầu theo đuổi một chính sách khác với mục đích phát triển nền công nghiệp quốc phòng, để bớt phụ thuộc vào vũ khí nhập khẩu của các quốc gia khác. Đương nhiên để đạt được mục đích này, họ cần trông cậy vào các đối tác truyền thống như là Mỹ và châu Âu. Trung Quốc bắt đầu chen chân vào trị trường Trung Đông, qua một số hợp đồng với Ả Rập Xê Út … Ngoài ra còn phải kể đến một số các nhà cung cấp đang trỗi dậy. Tôi muốn nói đên Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ …
Trong một thời gian dài, các nước Vùng Vịnh đã tìm cách đa dạng hóa các nguồn cung cấp, và đã hướng tới các nhà sản xuất châu Âu. Nhưng từ thời chính quyền Trump 1, họ tập trung trở lại vào việc mùa vũ khí của Mỹ. Trong giai đoạn 2020-2024, hơn 50 % tổng kim ngạch nhập khẩu vũ khí và thiết bị quân sự của các quốc gia ở Trung Đông là các khoản giao dịch với Hoa Kỳ. Nhưng sau chiến tranh lần này, chắc chắn là các nước trong vùng sẽ tìm các đối tác khác ngoài Mỹ. Châu Âu, Hàn Quốc và cả Trung Quốc cùng có nhiều cơ hội. Năm 2022 Seoul đã ký nhiều hợp đồng trang bị hệ thống phòng không cho các nước trong vùng Vịnh Ba Tư ».
Vào lúc công luận quốc tế chỉ tập trung vào chiến sự tại Iran, Liban, vào eo biển Hormuz thì ở hậu trường, tại các quốc gia dầu hỏa và khí đốt của Trung Đông, đang hình thành một chiến lược phong thủ, một sự xếp đặt khác cho một mối liên minh và quốc phòng khác cho những thập niên sắp tới.
Không thể xuất khẩu dầu hỏa và khí đốt qua eo biển Hormuz, một số cơ sở hạ tầng năng lượng của các quốc gia tại Vịnh Ba Tư bị thiệt hại, đầu tư nước ngoài và ngành hàng không, du lịch bị điêu đứng : Trong hơn một tháng chiến tranh Iran, mô hình kinh tế tại các nước trong khu vực bị đe dọa. Kịch bản tai hại hơn nữa là Hoa Kỳ « chóng chán và phủi tay » kéo dài bất ổn tại Trung Đông.
Nhà nghiên cứu về Trung Đông Jean-Loup Samaan, Đại Học Quốc Gia Singapore trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ hôm 03/04/2026 nói đến một sự « đổ vỡ » niềm tin của các nước vùng Vịnh vào mô hình kinh tế của chính mình, vào ô dù an ninh của Mỹ.
Thất thu từ 120 đến 194 tỷ trong một thángSau đúng một tháng chiến tranh, báo kinh tế Pháp Les Echos hôm 01/04/2026 trích dẫn các nguồn tin quân cho biết,từ hôm 08/02/2026, khi phải đối mặt với sức mạnh quân sự của Mỹ và Israel, 83 % các vụ tấn công Iran tiến hành nhắm vào các quốc gia trong Vịnh Ba Tư (17 % còn lại, Teheran đã dành cho Israel cho dù Nhà nước Do Thái mới là bên trực tiếp tấn công Iran). Hai cảng dầu Yanbu (Ả Rập Xê Út) và Fujairah (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất), lớn nhất thế giới, là mục tiêu bị nhắm tới.
Hầu như mỗi ngày, từ Bahrain đến Ả Rập Xê Út, từ Qatar đến Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, hay Koweit, Qatar đều đã phải huy động hệ thống phòng không để chống đỡ với hỏa tiễn và drone của Iran. Theo báo tài chính Mỹ The Wall Street Journal, cuối tháng 3/2026, Dubai đã chi ra hơn 2 tỷ đô la để bắt chận hơn 2000 drone và tên lửa của Iran trong vài tuần lễ.
Teheran đóng cửa eo biển Hormuz, chận xuất khẩu dầu khí của các nước vùng Vịnh. Khả năng xuất khẩu của 6 nước bao quanh Vịnh Ba Tư (Ả Rập Xê Út, Qatar, Koweit, Irak, Bahrain, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) cộng thêm với Oman, đồng kiểm soát eo biển Hormuz bị giới hạn đáng kể.
Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất là hai nguồn cung cấp duy nhất trong số này có đường ống dẫn dầu để có thể vẫn xuất khẩu năng lượng mà không phải đi qua cửa khẩu đang do Iran kiểm soát. Trái lại Qatar, Koweit và Irak bị « kẹt cứng » vì không có ngõ thoát hiểm. 90 % dầu Irak sản xuất không có ngõ thoát. Mỏ khí đốt lớn nhất thế giới ở ngoài khơi sát hải phận của Iran, Qatar gọi là North Dome, Teheran gọi là South Pars, cũng đã bị thiệt hại. Bất ngờ hơn nữa là Oman, vốn có thái độ « trung lập » và là nhịp cầu giữa Teheran với Washington, cũng đã bị tên lửa và drone của Iran nhắm đến.
Theo thẩm định của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc, được công bố hôm 30/03/2026, chỉ trong vòng một tháng, tăng trưởng của các quốc gia trong vùng có thể bị giảm từ 3,7 đến 6 % do tác động chiến tranh. Cũng trong thời gian này, thất thu từ các hoạt động khai thác và xuất khẩu năng lượng ước tính khoảng từ 120 đến 194 tỷ đô la. Chiến sự kéo dài sẽ đe dọa việc làm của khoảng 3,7 triệu dân cư trong khu vực, 4 triệu khác bị đẩy vào cảnh nghèo khó.
Giám đốc trung tâm nghiên cứu về vùng Vịnh Gulf Research Center, Abdulahzis Sager, cho rằng đối với các nước láng giềng quanh vịnh Ba Tư và Oman, Iran đã « vượt quá giới hạn của tất cả mọi lằn ranh đỏ ». Những nước này trước đây không ủng hộ Mỹ tấn công Iran nay lại nóng lòng muốn Washington giải quyết dứt điểm mối đe dọa xuất phát từ Iran.
Trên đài RFI Việt ngữ nhà nghiên cứu về Trung Đông Jean-Loup Samaan, Đại Học Quốc Gia Singapore, cộng tác viên của viện nghiên cứu Pháp Institut Montaigne, Paris nhấn mạnh chiến tranh Iran đang để lộ rõ những nhược điểm trong mạnh mô hình phát triển của các quốc gia vùng Vịnh. Sau nhiều thập niên bình yên vô sự, khu vực này không còn « ngoài vòng khói lửa chiến tranh ».
RFI : Xin kính chào Jean-Loup Samaan, Đại Học Quốc Gia Singapore. Câu hỏi đầu tiên : Đâu là những hậu quả trước mắt đối với các quốc gia trong vùng Vịnh sau hơn một tháng chiến tranh ?
Jean-Loup Samaan : « Có nhiều khía cạnh khác nhau. Đầu tiên là vấn đề quân sự và an ninh, bao gồm việc bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ công dân và cư dân của các nước trong vùng Vịnh. Ngay từ những giờ đầu của cuộc xung đột, các quốc gia đã hứng chịu tên lửa và drone của Iran. Trong những tuần qua, nhìn chung, hệ thống phòng thủ của các nước này đã hoạt động khá tốt. Nhưng các cơ sở hạ tầng, nhiều cảng xuất khẩu dầu khí đã bị thiệt hại đáng kể, đặc biệt là các nhà máy khí đốt Qatar.
Khía cạnh thứ hai, quan trọng không kém là kinh tế. Trong ngắn hạn, có một cuộc khủng hoảng năng lượng. Khu vực này gần như hoàn toàn phụ thuộc vào các nguồn thu nhập từ dầu hỏa, khí đốt. Cho nên những nước như Qatar hay Koweit lâm vào thế kẹt vì xuất khẩu năng lượng bị xáo trộn. Đây là một thách thức về mặt kinh tế.
Nhìn xa hơn, quả thật là các nước trong vùng đang tự hỏi liệu mô hình phát triển kinh tế từ trước đến nay có bền vững hay không. Nhất là trong trường hợp của Dubai, trung tâm thu hút các nhà đầu tư, trung tâm tài chính, ngân hàng trong khu vực và cũng là một nền kinh tế đang trông đợi nhiều vào ngành du lịch, vào ngành hàng không … Đây là một dấu chấm hỏi sẽ tồn tại ngay cả khi mà chiến tranh chấm dứt ».
RFI : Như vừa nói, về mặt kinh tế, đối với các quốc gia xuất khẩu năng lượng, chiến tranh không chỉ ảnh hưởng đến xuất khẩu mà còn trực tiếp nhắm vào những nhà máy, những cơ sở hạ tầng năng lượng … Có lẽ đó mới là mối quan tâm chính của các quốc gia sản xuất trong vùng ?
Jean-Loup Samaan : « Câu trả lời tùy thuộc rất nhiều vào yếu tố thời gian. Cuộc chiến nay sẽ kéo dài trong bao lâu, Iran phản công đến khi nào ? Chỉ khi đó mới có thể thẩm định chính xác về mức độ thiệt hại. Trước mắt, sau hơn một tháng giao tranh, thiệt hại tương đối hạn chế. Điều đáng chú ý là ngay cả khi có lệnh ngừng bắn, Trung Đông vẫn bất ổn, vẫn bị drone và hỏa tiễn của Iran đe dọa, khi đó kinh tế của các nước trong vùng sẽ bị suy yếu. Thí dụ như các quốc gia cần nhập khẩu dầu khí của Trung Đông bắt đầu tìm kiếm các giải pháp thay thế. Thế rồi các hãng hàng không của các nước trong vùng Vịnh bị mất khách vì mọi người muốn tránh phải bay qua vùng nóng này. Như đã biết, tới nay đây từng là một trong những mắt xích quan trọng nhất thế giới trong lĩnh vực hàng không dân sự ».
Đầu tư lâu dài ở Dubai hay Doha có còn hợp lý nữa hay không ?
RFI : Ông vừa nêu lên vấn đề bất ổn. Đối với các quốc gia vùng Vịnh thì vế an ninh và kinh tế gắn liền với nhau hơn bất cứ nơi nào.
Jean-Loup Samaan : « Đây là một vấn đề cốt lõi đối với các quốc gia vùng Vịnh, bởi vì họ được xây dựng dựa trên ý tưởng đây là những ốc đảo đứng ngoài các cuộc xung đột dai dẳng ở Trung Đông, điều đã được chứng minh trong 20 năm qua. Những quốc gia này hầu như không bị tác động bởi chiến tranh Irak năm 2003 do Mỹ phát động. Căng thẳng với Iran cũng chưa bao giờ thực sự ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày tại các nước dầu hỏa. Trong ba năm gần đây, dù có xung đột giữa Israel, Hamas hay Hezbollah, các nước vùng Vịnh vẫn đứng ngoài những biến động đó. Do vậy lần này thực sự là một cú sốc về mặt tâm lý, và sẽ rất khó để xóa nhòa rạn nứt này. Nguy hiểm ở đây là các nước vùng Vịnh cần lao động nước ngoài, cần vốn đầu tư quốc tế để phát triển. Chiến sự lần này làm dấy lên câu hỏi liệu rằng đầu tư lâu dài ở Dubai hay Doha có còn hợp lý nữa hay không ? Đây chắc chắn sẽ là một trong những trọng tâm chính phủ các nước vùng Vịnh sẽ phải thảo luận ».
Cũng trong cuộc phỏng vấn dành cho RFI Tiếng Việt, chuyên gia về Trung Cận Đông, Đại Học Quốc Gia Singapore, ông Samaan cho rằng bất luận kết cục chiến tranh Iran ra sao, chiến lược của Hoa Kỳ về Iran vẫn là một bài toán nan giải :
RFI : Một yếu tố quan trọng khác là Hoa Kỳ. Hiện tại và sau khi cuộc xung đột kết thúc, Washington vẫn là điểm tựa đáng tin cậy của các nước vùng Vịnh về mặt ngoại giao và an ninh ?
Jean-Loup Samaan : « Hiện tại, điều quan trọng cần ghi nhận là sau một tháng xung đột, không có quốc gia nào trong số các nước vùng Vịnh công khai đặt vấn đề hay muốn xem xét lại các thỏa thuận quốc phòng hay sự hiện diện quân sự của Mỹ. Trong ngắn hạn, khả năng phòng thủ của các nước này trước các cuộc tấn công bằng tên lửa và drone Iran vẫn phụ thuộc rất lớn vào Hoa Kỳ. Họ không thể trông cậy vào châu Âu, Trung Quốc và lại càng không thể dựa vào Nga để thay thế vai trò của Mỹ. Vì vậy, về mặt an ninh, Washington vẫn là lựa chọn chính.
Tuy nhiên, điều chắc chắn là cuộc chiến này sẽ để lại vết hằn. Thực ra thì chiến sự lần này chỉ là một phần trong chuỗi các sự kiện trước đó đã khiến các nước trong vùng Vịnh thất vọng và bức xúc với Hoa Kỳ. Xu hướng đã xuất hiện từ thời chính quyền Obama.
Các nước chung quanh Vịnh Ba Tư ngày càng xem Mỹ là đối tác không đáng tin cậy, thiếu ổn định và ít quan tâm đến khu vực. Hiện tại, bên cạnh những yếu tố đó, còn xuất hiện thêm một nhận thức mới : Các căn cứ quân sự Mỹ ở Trung Đông ( 2 tại Irak, 1 tại Ả Rập Xê Út, 1 tại Qatar, 1 tại Bahrain, 2 tại Koweit và 1 tại Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) không hẳn là một lá bùa hộ mạng, giúp các nước này tránh được các vụ tấn công. Trái lại chính những căn cứ đó lại trở thành những mục tiêu Iran nhắm tới. Trong tương lai, đây sẽ là một thách thức với các nước vùng Vịnh. Một số quốc gia có thể muốn duy trì quan hệ với Mỹ nhưng một cách kín đáo hơn, tức là hợp tác quân sự nhưng không đi kèm với sự hiện diện thường trực của các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ. Trong mọi trường hợp, kết cục của xung đột lần này sẽ đặt nền tảng cho mối quan hệ trong tương lai giữa các nước trong vùng Vịnh với Hoa Kỳ ».
Mắc kẹt giữa chiến tranh và hòa bìnhTại Hoa Kỳ, tổng thống Trump vừa dọa « chỉ cần vài giờ cũng có thể hủy diệt Iran », vừa thông báo đàm phán mở lại eo biển Hormuz « có tiến triển tốt » như thể lãnh đạo Nhà Trắng đã mất kiên nhẫn và muốn chóng khép lại cuộc chiến này. Phía Iran thì lại tỏ ra không nóng vội, dù vẫn phải chịu hỏa lực của Israel và Mỹ hàng ngày.
Bằng mọi giá các quốc gia này muốn tránh một giải pháp vội vàng, một lệnh ngừng bắn Mỹ áp đặt để Washington có thể nhanh chóng rút lui.
RFI : Kịch bản mà các nước trong vùng Vịnh muốn tránh bằng mọi giá là « xung đột kết thúc mà không thực sự đem lại một lối thoát ». Đây sẽ là « mối nguy lớn » đối với các quốc gia lân cận với Iran. Nhưng trước mắt, liên quan đến chiến tranh Iran, các quốc gia vùng Vịnh bị lôi cuốn vào cuộc chiến này đang mong đợi gì ?
Jean-Loup Samaan : « Tôi nghĩ rằng lập trường của các quốc gia vùng Vịnh khá phức tạp, bởi vì những nước này không hề ảo tưởng rằng có thể quay trở lại tình trạng như trước khi xảy ra xung đột. Tức là không thể quay lại với mối quan hệ tương đối ổn định với Iran. Thực tế là dù không mong muốn chiến tranh, họ vẫn phải hứng chịu những đợt tấn công chưa từng có từ phía Iran.
Vì vậy, trong ngắn hạn, bằng mọi giá các quốc gia này muốn tránh một giải pháp vội vàng, một lệnh ngừng bắn mà Mỹ áp đặt để Washington có thể nhanh chóng rút lui. Ông Trump tuyên bố chiến thắng rồi phó mặc cho các nước trong vùng Vịnh một mình đối đầu với Iran.Tiềm năng quân sự của Cộng Hòa Hồi giáo có thể bị suy yếu nhưng vẫn tồn tại. Iran vẫn đủ khả năng tiếp tục phóng tên lửa và drone vào các quốc gia thù nghịch. Thậm chí, Iran còn đòi kiểm soát eo biển Hormuz, đòi thu lộ phí… Đây là kịch bản mà các quốc gia vùng Vịnh không thể chấp nhận.
Điều các quốc gia Vịnh Ba Tư mong muốn là một kết quả quân sự rõ ràng, tức là Iran phải bị suy yếu đáng kể, để sau khi chiến tranh kết thúc, nguy cơ các cuộc tấn công tương tự không tái diễn.
Chính vì vậy, hiện tại các nước trong vùng tránh gây áp lực buộc Hoa Kỳ phải nhanh chóng chấm dứt chiến tranh. Trước đây, một số quốc gia như Oman từng đóng vai trò tích cực trong việc làm trung gian hòa giải giữa Washington với Teheran vì không muốn xảy ra chiến tranh. Nhưng bây giờ họ phải chấp nhận hứng chịu các cuộc tấn công mỗi ngày và không có lựa chọn nào khác ».
Hấp tấp khép lại một cuộc chiến mà không có những biện pháp bảo đảm an ninh và không có gì bảo đảm là tiềm năng quân sự của Iran đã bị khống chế chỉ mở ra một giai đoạn đầy bất trắc cho vùng Vịnh.
Iran đóng cửa eo biển Hormuz đang tạo ra một tiền lệ nguy hiểm đối với giao thương toàn cầu, đối với ngành vận tải đường biển. Vì chiến sự ở Trung Đông, giá nhiên liệu cho một chuyến tàu chở hàng từ châu Á sang châu Âu tăng gấp đôi, cước phí vận chuyển tăng 11 %. Các hãng bảo hiểm từ chối chịu trách nhiệm đối với những tàu thuyền lui tới « vùng chiến sự này ». Đối với ngành vận tải đường biển, bảo đảm an toàn cho thủy thủ đoàn là những khó khăn khác mà vế địa chính trị đang đặt ra cho các chủ tàu.
Nhìn xa hơn, mối nguy hiểm chính là việc Teheran đe dọa đòi « thu lệ phí » ở Hormuz có thể trở thành một « tiền lệ » đối với những vùng biển quốc tế khác trên thế giới.
Định vị GPS hàng hải hôm 10/03/2026 cho thấy, 460 tàu chở dầu, 67 tàu chở khí hóa lỏng và 367 tàu chở hàng bị kẹt ở eo biển Hormuz. Trong ngày đầu tiên khi Iran bị tấn công (hôm 28/02), số tàu hiện diện trong vùng giảm 80 % so với cùng thời kỳ một tháng trước đó.
Trên bản đồ vận tải hàng hóa toàn cầu, eo biển Hormuz nơi chỉ có khoảng 2% lưu lượng vận chuyển container đi qua, nhưng hành lang hẹp này như thể đang trở thành « cái rốn » của thế giới.
Hormuz ám ảnh tổng thống Mỹ đến nỗi một ngày ông đổi ý hai lần với Iran, chỉ vì tuyến đường biển này từ khi bị đóng cửa đã làm tăng giá xăng dầu ở Hoa Kỳ, dẫn tới nguy cơ lạm phát. Bên ngoài nước Mỹ, eo biển Hormuz bị phong tỏa làm xáo trộn chuỗi hậu cần toàn cầu, ngành vận tải biển thất thu 340 triệu đô la mỗi ngày từ hôm 28/02/2026, thời hạn hàng được giao đến tay người mua bị kéo dài và các tập đoàn vận tải tìm kiếm những giải pháp thay thế …
Tình hình thêm phức tạp khi Hormuz vẫn chưa được khai thông thì đến lượt eo biển thứ nhì trong khu vực Bab el-Mandeb ở vịnh Aden, nối châu Á với Hồng Hải, có nguy cơ bị lực lượng nổi dậy Houthi ở Yemen, cánh tay nối dài của Iran, phong tỏa.
Yếu tố địa chính trị ngày càng thách thức các tập đoàn vận tải đường biển vốn là cột sống của cả hệ thống mâu dịch toàn cầu. Mời quý vị theo dõi phần phân tích của giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR Paul Tourret trong cuộc phỏng vấn dành cho RFI Tiếng Việt.
Học Viện ISEMAR trụ sở tại Saint Nazaire, miền tây bắc nước Pháp, được thành lập từ năm 1997, nghiên cứu các lĩnh vực vận tải biển, thương mại đường biển, các hoạt động khai thác hải cảng và ngành công nghiệp đóng tàu.
An toàn cho các tàu chở hàngRFI : Xin kính chào ông Paul Tourret, cảm ơn ông nhận lời mời tham gia chương trình hôm nay. Thưa ông, về an toàn hàng hải, vì sao xung đột ở Trung Đông lần này là bước ngoặt lớn đối với giao thương hàng hải và cũng là một thách thức đối với các tập đoàn vận tải đường biển ?
Paul Tourret : « Trong lịch sử, chúng ta đã từng thấy vận tải đường biển bị các cuộc xung đột khuấy nhiễu, do các bên liên quan nhắm vào các đội tàu thương mại của đối phương, bởi vì đấy là một phần các hoạt độnt kinh tế, thương mại mà phía bên kia khai thác để nuôi dưỡng chiến tranh.
Cuối 2024, đã có một sự thay đối lớn khi lực lượng phiến quân Houthi ở Hồng Hải tấn công tàu bè của phương Tây, nhiều công ty vận tải đường biển đã phải đổi lộ trình. Các tàu chở hàng nối liền châu Âu với châu Á đã phải đi vòng qua châu Phi. Nhưng xung đột hiện nay tại Trung Đông là lần đầu tiên một tuyến hàng hải huyết mạch bị phong tỏa và Iran không chỉ nhắm vào các lợi ích của đối phương - ở đây là lợi ích của Mỹ và Israel, mà còn bắt tất cả các quốc gia không liên quan, phải trả giá.
Đóng cửa eo biển Hormuz ảnh hưởng đến các nước xuất khẩu dầu khí, đến các đối tác châu Á cần nhập khẩu năng lượng từ Vùng Vịnh, tác hại luôn cả đến mọi hoạt động xuất nhập khẩu trên thế giới, ảnh hưởng đến ngành vận tải đường biển, làm đảo lộn đời sống của các thủy thủ trên tàu … »
Chính trị và vận tải đường biểnRFI : Yếu tố địa chính trị chi phối các hoạt động giao thương, nhất là giao thương hàng hải khi biết rằng đây là phương tiện bảo đảm hơn 80 % các dịch vụ xuất nhập khẩu toàn cầu. Vậy đâu là thách thức đối với các hãng vận tại đường biển, các chủ tàu và giới trong ngành phải thích nghi với tình hình mới này như thế nào ?
Paul Tourret : « Trong hai mươi năm qua, thế giới càng lúc càng xóa nhòa các đường biên giới, chúng ta sống trong một môi trường toàn cầu hóa, nghĩa là các luồng trao đổi hàng hóa được phát triển mạnh ở khắp mọi nơi. Hàng hóa, năng lượng, khoáng sản, nguyên liệu, nông phẩm … càng lúc càng được chuyển từ châu lục này sang châu lục khác bằng đường biển … Cùng lúc toàn cảnh địa chính trị càng lúc càng phức tạp.
Chiến tranh Iran là cuộc xung đột lớn thứ ba đang diễn ra trên thế giới bên cạnh chiến sự tại Ukraina, xung đột tại Gaza. Các cuộc chiến này đều cho thấy rõ yếu tố địa chính trị có thể làm gián đoạn các luồng trao đổi mậu dịch. Điều này thực sự đang đặt ra rất nhiều vấn đề cho giao thương quốc tế, cho ngành vận tải đường biển. Đặc biệt là khi mà eo biển Hormuz bị đóng cửa, bởi đây là cửa ngõ 2 chiều đưa hàng từ Vịnh Ba Tư đến với thế giới bên ngoài và hàng của thế giới xuất khẩu sang các nước vùng Vịnh.
Đông Á chịu áp lực hơn cả bởi vì vừa là khách hàng nhập nhiều dầu khí của Trung Đông, vừa xuất khẩu hàng công nghiệp cho khu vực này. Ngoài ra cũng vì eo biển Hormuz bị đóng cửa mà trong tương lai, hàng xuất khẩu từ Trung Quốc hay Việt Nam, Thái Lan … cũng đều bị ảnh hưởng. Chúng ta không có nhiều phương án thay thế, vì vậy mà ngành vận tải đường biển phần nào bị đóng băng, chờ đợi một giải pháp chính trị. Đây là một tình huống khá đặc biệt ».
RFI : Vì chiến tranh Trung Đông, các phí tổn tài chính của các tập đoàn vận tải đường biển đương nhiên tăng lên nhiều, nhưng ngoài ra, họ có thể làm những gì để tăng cường an ninh và mức độ an toàn cho mỗi chuyến tàu, cho các thuyền viên ?
Paul Tourret : « Đối với các chủ tàu trên toàn thế giới – ngoại trừ tàu thuyền đang bị kẹt ở Vùng Vịnh Ba Tư, hiện nay giá nhiên liệu đã bị đẩy lên cao. Loại dầu (VLSFO) mà các hãng tàu phải sử dụng, giá đã tăng rất mạnh và tác động đã được thấy rất rõ : Chi phí vận tải đường biển tăng lên trong ngắn hạn. Nếu xung đột kéo dài, chi phí nhiên liệu cho một container vận chuyển giữa châu Á và châu Âu có thể đang từ 100 tăng lên thành 200 đô la cho mỗi chuyến. Đây là một khoản chi tiêu phụ trội rất nặng gánh nhưng họ không thể đùn đẩy toàn bộ lên khách hàng. Không thể nói rằng, chi phí chở một container hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang châu Âu sẽ tăng giá gấp đôi hay hơn thế nữa chỉ vì giá nhiên liệu tăng. Nhưng rõ ràng đây là một yếu tố có thể gây ra lạm phát.
Cũng cần lưu ý rằng đây là một cuộc xung đột mang tính tạm thời. Vịnh Ba Tư sẽ không bị đóng cửa trong nhiều năm. Hiện tại thì giá dầu tăng 30 % trên thị trường quốc tế và chưa tăng lên gấp 4 lần như trong các cuộc khủng hoảng trước đây. Một khi chấm dứt chiến tranh, có thể là trong vài ngày, vài tháng hoặc nửa năm, tình hình sẽ trở lại bình thường. Nhưng trong ngắn hạn, rõ ràng đã có chi phí phát sinh do dầu mỏ và các vấn đề về nguồn cung. Điều này gây khó khăn không chỉ cho kinh tế hàng hải mà còn cho toàn bộ nền kinh tế toàn cầu ».
RFI : Vâng với điều kiện là các giếng dầu, các cơ sở năng lượng trong khu vực không bị thiệt hại quá lớn. Ngoài ra, Iran tuyên bố muốn thu lệ phí mỗi khi tàu thuyền quốc tế đi qua eo biển Hormuz. Thưa ông giám đốc Học Viện Kinh tế Hàng Hải Paul Tourret, ông đánh giá thế nào về tính khả thi của tham vọng này ?
Paul Tourret : « Iran thực ra đang chơi một ván cờ lớn, dùng chiêu bài này để gây sức ép với Hoa Kỳ và thậm chí là với phần còn lại của thế giới. Teheran cho phép tàu thuyền đi qua, miễn phí hoặc có thu phí (người ta nói khoảng 2 triệu đô), đối với các tàu hàng của những quốc gia không thù địch, thậm chí có quan hệ gần gũi với Iran, như là tàu của Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc. Rồi gần đây là tàu của Malaysia, Thái Lan...
Do vậy, vì nhu cầu kinh tế cấp thiết, một số quốc gia chấp nhận nộp cho Iran, một dạng ‘tiền mãi lộ’, để có thể đi qua eo biển Hormuz.
Tuy nhiên, sẽ rất khó để hoàn toàn kiểm soát eo biển Hormuz, bởi vì theo luật biển của Liên Hiệp Quốc - công ước Montego năm 1982 về quyền tự do đi lại, không ai có thể đóng cửa một eo biển quốc tế.
Ngay cả Thổ Nhĩ Kỳ, dù kiểm soát một eo biển còn lớn hơn cả Hormuz, cũng không thể đóng hoàn toàn. Vì vậy, về mặt pháp lý, lập trường của Iran là không hợp pháp, cho dù, ở một mức độ nào đó, bản thân cuộc chiến hiện nay mà Mỹ và Israel tiến hành mang tính không hợp pháp. Eo biển Hormuz cũng không phải là một công trình xây dựng như các kênh đào, nên Iran cũng không thể quản lý.
Ngoài ra thì các tập đoàn bảo hiểm hàng hải cũng gây sức ép rất lớn đòi các tàu thuyền tránh xa những vùng khói lửa. Cho nên hiện chỉ có rất ít tàu chở hàng chịu hay được phép trả lệ phí cho Iran. Thực ra trả lệ phí cũng không là một giải pháp quá tệ bởi vì một số quốc gia như Indonesia và ngay cả Việt Nam muốn duy trì nguồn cung nhiên liệu nhất định, phần nào giúp giảm căng thẳng trước mắt, nhưng không giải quyết được vấn đề cốt lõi. Sau cùng giảm nhẹ các biện pháp phong tỏa eo biển Hormuz cũng là một quyết định cho phép Iran giảm bớt tác động của khủng hoảng hiện tại…».
Từ eo biển Hormuz đến MalaccaRFI : Paul Tourret, xin một câu hỏi chót : Việc thu lệ phí ở eo biển Hormuz - dù mới chỉ là một đe dọa còn mơ hồ và như vừa nói, không thể kiểm soát hoàn toàn eo biển này, nhưng liệu tuyên bố của Teheran có tạo ra một tiền lệ nguy hiểm, tại những eo biển còn mang tính « chiến lược hơn » nữa ? Chẳng hạn như biển Malacca.
Paul Tourret : « Nguyên tắc cơ bản quyền tự do giao thương trên biển và các vùng biển quốc tế không thuộc chủ quyền của quốc gia nào, tàu thuyền phải được tự do di chuyển. Ngay cả ở bên trong hải phận của một quốc gia thì cũng vẫn tồn tại quyền ‘đi qua vô hại’.
Nhờ đó, các eo biển như Malacca (giữa Indonesia, Malaysia và Singapore) luôn mở cho tàu thương mại đi lại tự do. Các quốc gia ven biển không có quyền kiểm soát hay cản trở dòng thương mại.
Nếu Iran áp đặt kiểm soát như vậy, đó sẽ là một dạng kiểm soát trên thực tế, thậm chí có thể xem như một hình thức « thu thuế bảo kê » đối với vận tải biển. Điều này chưa từng xảy ra và sẽ tạo ra một tiền lệ nguy hiểm.
Tuy nhiên, nhiều khả năng Iran đang sử dụng điều này như một công cụ để gây sức ép đối với Mỹ, chứ không phải là một giải pháp lâu dài.
Dù vậy, vấn đề này đặt ra một câu hỏi rất lớn về luật biển quốc tế : Trước mắt là eo biển Hormuz, nhưng liệu tình trạng tê liệt này một ngày nào đó có thể xảy ra tại các địa điểm chiến lược khác hay không ? Trong một số khu vực, điều này có thể xảy ra. Chẳng hạn ở Hồng Hải, eo biển Bab el-Mandeb, tình hình vốn đã rất phức tạp. Còn ở Đông Nam Á, eo biển Malacca hiện tại nguy cơ chưa lớn vì khu vực giữa Indonesia, Malaysia và Singapore vẫn rất ổn định.
Nhưng trong trường hợp xảy ra căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng như Việt Nam, Malaysia hay Philippines, thì hoàn toàn có thể xuất hiện tình huống một quốc gia tìm cách kiểm soát tuyến hàng hải thương mại.
Đây sẽ là một điều hoàn toàn mới kể từ sau Đệ nhị Thế chiến. Và nếu chẳng may kịch bản này xảy ra, đó sẽ là một xu hướng địa chính trị mới : Các quốc gia ven biển tìm cách kiểm soát không gian hàng hải của mình.
Đối với khu vực Đông Nam Á, điều này sẽ là một vấn đề rất nghiêm trọng khi mà các bên cho rằng họ có quyền hành xử tùy ý trong vùng biển của mình ».
RFI Việt ngữ xin chân thành cảm ơn Paul Tourret, giám đốc Học Viện Kinh Tế Hàng Hải ISEMAR.
Thế giới trước nguy cơ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép : năng lượng và lương thực vì chiến sự ở Vịnh Ba Tư. « Sẽ có thêm 45 triệu người bị thiếu ăn nghiêm trọng vì lạm phát », nếu xung đột tại Trung Đông kéo dài đến tháng 6/2026 và giá dầu hơn 100 đô la/thùng. Trên đây là kết luận Chương Trình Lương Thực Thế Giới trực thuộc Liên Hiệp Quốc đã đưa ra hôm 17/03/2026, chỉ 2 tuần sau khi chiến tranh ở Trung Đông khai mào.
Hai yếu tố dẫn tới những báo động như trên : Một mặt là do eo biển Hormuz bị phong tỏa trong lúc chính 85 % tiêu thụ lương thực thực phẩm tại 8 quốc gia Vùng Vịnh (Iran, Irak, Kuwait, Ả Rập Xê Út, Bahrain, Qatar, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Oman) phải nhập khẩu từ bên ngoài. Mặt khác, chiến sự kéo dài đe dọa đến 1/3 phân bón do các nhà máy ở Vịnh Ba Tư cung cấp cho thế giới.
Hiểm họa mất đi nguồn cung cấp phân bón từ các quốc gia trong Vùng Vịnh đang lớn dần, nhất là kể từ khi các cơ sở năng lượng từ Iran đến các vương quốc dầu hỏa đã trở thành mục tiêu tấn công.
Vùng Vịnh, « kho » phân bón và urêKhông là « kho ngũ cốc » hay « nông trại của thế giới » như Ukraina, nhưng chiến sự trong Vùng Vịnh bắt đầu đặt thị trường nông nghiệp trong thế căng thẳng. Giá nhu yếu phẩm bị đẩy lên cao mà đầu tiên hết là tại các nước trong Vịnh Ba Tư.
Từ ngày 03/03/2026 tàu chở hàng chỉ còn có thể ra vào eo biển Hormuz một cách nhỏ giọt và có chọn lọc. Ngoài các giếng dầu và các mỏ khí đốt, ngoài các nhà máy lọc dầu và các cơ sở năng lượng, Vịnh Ba Tư còn có những nhà máy sản xuất phân bón bậc nhất thế giới, cung cấp từ « 20 đến 30 % phân đạm cho nông dân trên thế giới, nhất là châu Á, châu Phi và châu Âu ».
Trong ba tuần, giá một tấn phân bón urê tăng thêm hơn 30 %. Một nửa sản lượng nông nghiệp toàn cầu phụ thuộc vào nitơ tổng hợp để đảm bảo năng suất cao, theo thẩm định của cơ quan tư vấn Global Sovereign Advisory hoạt động tại Paris và Dubai.
Vùng Vịnh kiểm soát từ 30 đến 50 % thị phần phân bón tại châu Phi. Riêng với Burundi thì tỉ lệ này là hơn 75 %. Maroc là một ngoại lệ và đã trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu quan trọng nhất của toàn châu lục này, nhưng bản thân Maroc lại phải nhập gần như toàn bộ lưu huỳnh (souffre) từ Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và amoniac của Ả Rập Xê Út.
Phân đạm : Mức độ lệ thuộc của châu ÂuTại Pháp, sau ba tuần chiến sự bùng lên ở Trung Đông, giới trồng trọt và chăn nuôi đang lo thiếu phân bón ngay vào mùa xuân năm 2026. Theo thẩm định của Viện Nghiên Cứu Nông Nghiệp Pháp INRAE, « 2/3 nhập khẩu phân đạm của Pháp do các quốc gia dầu hỏa cung cấp ». Trước đây nguồn cung cấp chính là Nga, nhưng từ 2022 khi nổ ra chiến tranh Ukraina thì Pháp cũng như Liên Hiệp Châu Âu ngày càng trông cậy vào các đối tác trong Vùng Vịnh.
Bất chấp 20 đợt trừng phạt liên tiếp nhắm vào Matxcơva, Bruxelles vẫn không dám đụng vào các nhà sản xuất phân bón của Nga. Thậm chí so với thời điểm 2022, kim ngạch nhập khẩu của Pháp từ Nga trong lĩnh vực này đã 80 %.
Trả lời đài truyền hình tư nhân BFM TV hôm 11/03/2026, Sébastien Abis, giám đốc cơ quan tư vấn chuyên về lương thực phẩm Club DEMETER giải thích vì sao khủng hoảng dầu lửa kéo dài sẽ tạo nên một cơn sốt lương thực cho thế giới :
« Thế giới rất cần dầu khí để làm ra phân bón. Chúng ta cũng cần xăng và dầu cho máy cầy, máy gặt, cần năng lượng cho các nhà máy chế biến thực phẩm … Thành thứ giá dầu và khí đốt tăng lên, ảnh hưởng trực tiếp đến bên nông nghiệp, đến công nghiệp chế biến thực phẩm của toàn cầu (...)Châu Âu phải nhập khẩu phân bón, nhất là phân đạm chứa nitơ do các nước ở Vịnh Ba Tư cung cấp. Bởi vì, sản xuất được urê đòi hỏi rất nhiều năng lượng. Chính vì vậy mà Nga là một nguồn cung cấp quan trọng cho thế giới, nhưng với chiến tranh Ukraina châu Âu đã ban hành nhiều đợt trừng phạt và hạn chế đáng kể nhập khẩu phân bón của Nga. Châu Âu chuyển hướng và trông cậy vào phân bón của Trung Đông -đặc biệt là của Qatar, nguồn cung cấp khí đốt số 1 toàn cầu. Trong khu vực này, ngoài Qatar ra, một nhà sản xuất quan trọng khác là Iran … Nói cách khác đây là một thách thức kép đối với Liên Hiệp Châu Âu ».
Qatar cần từ 3 đến 5 năm để phục hồi khả năng cung cấp khí đốtMối đe dọa thế giới thiếu hụt năng lượng và phân đạm từ Trung Đông lại càng lớn khi mà các bên trực tiếp tham chiến đã nhắm vào các cơ sở hạ tầng năng lượng của đối phương. Dù vậy, chuyên gia kinh tế Philippe Waecheter giám đốc cơ quan tư vấn Ostrum Asset Management- Paris trước mắt không quá bi quan, ông so sánh cơn sốt khí đột hiện tại với thời điểm mùa xuân và mùa hè 2022 khi mà chiến tranh Ukraina bắt đầu và phương Tây trừng phạt dầu và khí của Nga. Khi đó giá khí đốt đang từ 17 euro/kWh tăng vọt lên thành 340 euro/kWh. Trước mắt thì giá cả dù đã tăng lên gấp đôi từ đầu chiến sự, nhưng vẫn dao động ở khoảng 50 euro/kWh. Philippe Waecheter nhận xét :
« Hiện tại chúng ta đang phải đối mặt với một cú sốc dầu hỏa. Câu hỏi còn lại là liệu xung đột sẽ kéo dài bao lâu và nếu kéo dài thì sẽ dẫn tới lạm phát với những hệ quả nghiêm trọng. Dù vậy hiện tại, hoàn cảnh khác nhiều so với thời điểm 2022. Khi đó thị trường châu Âu còn rất lệ thuộc vào năng lượng của Nga và đã không có một sự chuẩn bị trước. Việc eo biển Hormuz bị phong tỏa vì chiến sự ở Trung Đông, đặt ra vấn đề cho việc cung cấp dầu hỏa và khí đốt, đồng thời còn thách thức luôn cả thị trường phân bón. Giá phân bón trên thế giới tùy thuộc vào 2 yếu tố : một là khối lượng có thực sự và có thể sử dụng, và hai là giá khí đốt bởi vì như đã biết, để sản xuất phân đạm urê cần rất nhiều khí đốt. Cho nên giá khí đốt mà tăng lên thì giá phân bón cũng bị đẩy lên cao ».
Nông phẩm, lương thực thực phẩm chế biến cũng như thịt cá trở nên đắt đỏ hơn.
Trong đêm 18 rạng sáng 19/03/2026, chiến tranh tại Trung Đông dường như đã rẽ sang một khúc quanh mới khi nhiều cơ sở năng lượng của các bên trở thành mục tiêu tấn công. Doha thông báo 17 % khả năng xuất khẩu của Qatar bị thiệt hại và phải mất từ 3 đến 5 năm mới hy vọng phục hồi. Là nhà cung cấp khí đốt lớn nhất cho thế giới (chiếm 20 % thị phần toàn cầu) kết luận này của Qatar càng làm dấy lên lo ngại về tình trạng « mất an toàn lương thực ».
Không có phân bón, năng suất trồng trọt giảm đi, cùng lúc mọi chi phí tăng lên do giá xăng dầu bị đẩy lên cao. Giá nhu yếu phẩm sẽ là một gánh nặng với nhiều quốc gia.
Nguy cơ các nước dầu hỏa đói ănVẫn Sébastien Abis, giám đốc Club DEMETER, chuyên tổng hợp thông tin và tư vấn lương thực phẩm nhấn mạnh đến « con đường hai chiều » của eo biển Hormuz :
« Eo biển Hormuz không chỉ là cửa ngõ đưa năng lượng của các quốc gia trong Vùng Vịnh ra với thế giới bên ngoài đứng quên đây là một tuyến giao thương hàng hải hai chiều. Eo biển này trước hết còn là cổng vào, mang lương thực thực phẩm, hàng hóa của bên ngoài vào cho 8 quốc gia bao quanh Vịnh Ba Tư. Khu vực này phụ thuộc rất nhiều vào ngũ cốc, nông phẩm, thịt, những sản phẩm chế biến từ sữa, thực phẩm chế biến từ mọi nơi trên thế giới và phải chung chuyển qua ngả này. Đất đai ở đây chủ yếu là sa mạc, họ không có thể phát triển trồng trọt, cũng không có nhiều nguồn nước ngọt cho việc canh tác … toàn bố khu vực chung quanh Vịnh Ba Từ phải nhập khẩu lương thực thực phẩm. Phong tỏa Hormuz, các tàu hàng bị kẹt trước khi đi qua được eo biển này là một mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh lương thực của tất cả các quốc gia trong vùng ».
Hôm 01/03/2026, một ngày sau khi Israel và Mỹ khai hỏa tấn công Iran, số lượng tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz giảm 80 % so với một tuần lễ trước đó. Các quốc gia Vùng Vịnh phải nhập khẩu đến 85 % nông phẩm, phụ thuộc vào 92 % ngũ cốc của nước ngoài, 62 % vào thịt và 56 % vào rau củ tươi của các quốc gia ngoài khu vực.
Bản thân Iran luôn phải nhập khẩu ngũ cốc, dầu ăn, đặc biệt là của Nga. Theo nghiên cứu của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF và Đại học Anh Oxford, năm 2025 gần một nửa ngũ cốc được nhập khẩu vào các nước trong Vùng Vịnh phải đi qua eo biển Hormuz là để phục vụ thị trường Iran.
Hãng tin Pháp AFP trong một cuộc khảo sát được công bố hôm 19/03/2026 đánh giá do chiến tranh và tắc nghẽn giao thông hàng hải ở eo biển Hormuz, giá thực phẩm tăng mạnh tại Bahrain và Kuwait, giá thịt tăng gấp đôi, rau quả tươi càng lúc càng khan hiếm.
Giám đốc Chương Trình Lương Thực Thế Giới Carl Skau đánh giá : đóng cửa Hormuz và rủi ro gia tăng tại Hồng Hải không chỉ đẩy giá năng lượng, nhiên liệu và phân bón tăng cao, mà đây còn là một « rủi ro lớn đối với một phần nhân loại ».
Thêm 45 triệu dân sẽ gia nhập đội ngũ 320 triệu người đang trong tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng. Trong kịch bản xấu nhất, chỉ trong ba tháng nữa, thế giới sẽ đạt kỷ lục với 360 triệu người đói.
Cuộc chiến tại Iran là một gáo nước lạnh dội xuống tham vọng « quốc tế hóa đồng nhân dân tệ » của Trung Quốc. Bắc Kinh sợ các nguồn cung cấp dầu hỏa và khí đốt của Trung Đông bị gián đoạn nếu eo biển Hormuz bị phong tỏa lâu dài. Chiến sự ở Trung Đông thách thức mức độ đáng tin cậy của các thiết bị quân sự Trung Quốc đã bán cho Iran và mối quan hệ « đối tác chiến lược » giữa Teheran với Bắc Kinh.
Nhập khẩu dầu nhiều nhất trên thế giới, lại phụ thuộc đến hơn 50 % vào dầu của Trung Đông và 13 % dầu của Iran, Trung Quốc có thể đứng ngoài vòng xoáy xung đột trong Vùng Vịnh được bao lâu ? Liệu có vì mối « đối tác chiến lược » mà Trung Quốc sẽ hỗ trợ Iran về mặt quân sự hay không và nếu có thì dưới hình thức nào ? Bắc Kinh sẽ chung tay với Washington bảo đảm an ninh để các tàu chở hàng và tàu dầu của thế giới lại được tự do qua lại ở eo biển Hormuz ? Đó là những câu hỏi đã liên tục được đặt ra từ khi Israel và Mỹ khởi động chiến dịch tấn công nhắm vào Cộng Hòa Hồi Giáo Iran.
Tăng trưởng bị tác động vì thiếu dầu của Trung ĐôngMọi chú ý đã dồn về phía Bắc Kinh do ngoài các nước xuất khẩu dầu khí chung quanh Vịnh Ba Tư thì Trung Quốc là bên bị thiệt hại nhiều hơn cả.
Là khách hàng gần như độc quyền mua 90 % xuất khẩu dầu hỏa của Iran, từ cuối tháng 2/2026 đến nay, Trung Quốc đang mất đi nguồn cung cấp lớn thứ ba, bảo đảm đến 13 % dầu tiêu thụ cho 1,4 tỷ dân. Teheran chận giao thương qua eo biển Hormuz, nơi 20 % dầu hỏa của thế giới đi qua và đe dọa « không một giọt dầu nào » có thể đi qua nơi đây. Trung Quốc phụ thuộc đến 55 % vào dầu hỏa và gần 1/3 khí hóa lỏng của các quốc gia trong Vịnh Ả Rập-Ba Tư.
Các nhà máy Trung Quốc không thể mất đi nguồn cung ứng này. « Công xưởng và nhà xuất khẩu » lớn nhất thế giới cần dầu của Iran và Trung Đông.
Trả lời đài RFI tiếng Việt hôm 13/03/2026 chuyên gia về Trung Quốc Isabelle Feng, phó giám đốc trung tâm nghiên cứu về châu Á, Asia Centre tại Paris so sánh xung đột này với chiến tranh tại Ukraina cũng như với vụ Mỹ hồi tháng 1/2026 can thiệp vào Caracas. Venezuela là một « nước bạn » và cũng là một trong những nguồn cung cấp vàng đen cho Bắc Kinh ở Châu Mỹ Latinh.
Isabelle Feng : « Cuộc chiến ở Trung Đông lần này gây nhiều tổn thất nghiêm trọng cho Trung Quốc mặc dù Bắc Kinh không trực tiếp tham gia. Điều này khác hẳn so với chiến tranh Ukraina hay vụ Mỹ can thiệp vào Venezuela. Trong cuộc chiến Ukraina, Nga do bị Hoa Kỳ và châu Âu trừng phạt nên gần như hoàn toàn trông cậy vào Trung Quốc. Venezuela tuy là một nước bạn và là một nhà cung cấp dầu hỏa cho Bắc Kinh nhưng về địa lý lại nằm rất xa Trung Quốc. Giao thương giữa hai quốc gia này khá hạn chế. Trái lại Trung Quốc phụ thuộc vào năng lượng của Trung Đông và gần 50 % tổng xuất khẩu dầu khí của khu vực này sang Hoa Lục phải đi qua eo biển Hormuz. Iran là nguồn cung cấp dầu lớn thứ ba cho Trung Quốc, chỉ sau có Nga và Ả Rập Xê Út, đồng thời 100 % hóa đơn được thanh toán bằng nhân dân tệ. Hơn nữa Iran bán dầu cho Trung Quốc với giá thấp hơn so với thị trường ».
Mỹ đánh Iran để răn đe Trung Quốc ?Cụ thể hơn việc Mỹ và Israel can thiệp vào Iran đã ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người dân Trung Quốc và gây trở ngại cho mục tiêu thúc đẩy tiêu thụ nội địa mà Bắc Kinh đã theo đuổi từ 2013. Isabelle Feng, trung tâm nghiên cứu Asia Centre -Paris nhận định :
Isabelle Feng : « Chiến tranh Trung Đông thực sự tác động đến đời sống hàng ngày của người dân Trung Quốc : xăng dầu đắt đỏ đè nặng lên sức mua của các hộ gia đình, gây thêm tốn kém cho các doanh nghiệp và rồi sẽ ảnh hưởng đến sức mua của người dân. Chúng ta biết ưu tiên của Bắc Kinh hiện nay là thúc đẩy tiêu thụ nội địa để tạo đà cho tăng trưởng.
Tình hình nghiêm trọng đến nỗi, một số nhà bình luận trên mạng xã hội tại Hoa Lục nêu lên giả thuyết Mỹ đã tấn công Iran nhưng thực ra là để làm hại Trung Quốc ! Một vấn đề khác là Trung Quốc có kho dự trữ năng lượng đủ sức chịu đựng khoảng 150 ngày. Nhưng nếu như chiến tranh kéo dài và eo biển Hormuz bị phong tỏa trong một thời gian dài, Bắc Kinh bắt buộc phải đi tìm những nguồn cung cấp năng lượng để thay thế và trong hoàn cảnh này chọn lựa tốn nhất đương nhiên là Nga ».
Iran, mắt xích quan trọng tại Trung ĐôngNăm 2021 Bắc Kinh và Teheran ký kết « hiệp ước đối tác chiến lược », « có lợi cho cả đôi bên » và thỏa thuận này dự trù Bắc Kinh đầu tư đến 400 tỷ đô la trong vòng 25 năm. Iran cũng là một trong những bên đã hăng hái tham gia dự án Con Đường Tơ Lụa Mới thế kỷ 21 kết nối Hoa Lục với toàn cầu.
Theo chuyên gia Isabelle Feng, kinh tế Iran càng kiệt quệ vì các đợt trừng phạt và cấm vận của phương Tây, lại càng trông cậy vào đầu tư và thị trường Trung Quốc. Chỉ riêng trong lĩnh vực dầu hỏa, 90 % xuất khẩu dầu của Iran là để phục vụ Trung Quốc với hai đặc điểm : một là Iran bán cho Trung Quốc với giá thấp hơn so với thị trường và hai là Teheran - cùng với Venezuela là hai nhà cung cấp duy nhất chấp nhận được thanh toán 100 % bằng đồng nhân dân tệ. Đây là một « phòng thí nghiệm » rất thú vị của Bắc Kinh trong mục tiêu « quốc tế hóa » đơn vị tiền tệ quốc gia. Có điều chiến tranh Trung Đông lần này là một « gáo nước lạnh » dội xuống tham vọng tiền tệ đó của Trung Quốc :
Isabelle Feng : « Trung Quốc từng theo đuổi mục đích đầy tham vọng để đưa đồng nhân dân tệ ra với thế giới. Bước đầu tiên là dùng đồng tiền quốc gia để mua dầu hỏa của Nga, Venezuela và Iran. 100 % hóa đơn thanh toán cho Iran và Venezuela được tính bằng nhân dân tệ. Ả Rập Xê Út đã ký kết nhiều thỏa thuận với Bắc Kinh theo hướng bắt đầu sử dụng đồng tiền Trung Quốc như một phương tiện thanh toán.
Nhưng trên thực tế, cũng không có nhiều tiến triển và phần lớn giao thương giữa hai nước vẫn được trả bằng đô la. Với chiến tranh ở Trung Đông lần này, Hoa Kỳ đã chứng minh khả năng can thiệp quân sự. Trái lại, trong mắt các quốc gia Vùng Vịnh, Trung Quốc đã để lộ nhiều nhược điểm :
Thứ nhất là Trung Quốc lệ thuộc quá nhiều vào dầu hỏa của Iran, vào năng lượng Trung Đông. Yếu tố này dễ tác động đến tăng trưởng của Trung Quốc.
Điểm thứ hai là về mặt ngoại giao, khủng hoảng đang diễn ra ở Trung Đông ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với khu vực có giới hạn, nhất là khi mà ngoài những tuyên bố lên án các hành vi ‘can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia’, Trung Quốc đã không làm gì nhiều để giúp Teheran.
Thứ ba nữa là Iran mua thiết bị quân sự Trung Quốc, (radar và các phương tiện phòng không... ). Với hơn hai tuần chiến sự vừa qua, radar của Iran đã nhanh chóng bị Israel và Mỹ ‘chọc mù’. Can thiệp vào Iran, Mỹ đã chứng minh cho cái mà chúng ta gọi là ‘hard power’. Nhiều nghi vấn đang dấy lên về tính đáng tin cậy của vũ khí và thiết bị quân sự Trung Quốc. Một số quốc gia Vùng Vịnh kém tin tưởng hơn vào sức mạnh quân sự của đối tác châu Á này. Tiềm lực quân sự của một quốc gia là điểm tựa và tạo ra uy tín cho một đồng tiền. Vì chiến tranh, đồng đô la tăng giá và trong hoàn cảnh hiện tại, thái độ của Trung Quốc về tình hình Trung Đông, làm thế nào các quốc gia Vùng Vịnh và các đối tác của Bắc Kinh còn hăng hái để dùng đồng nhân dân tệ Trung Quốc nhiều hơn ? »
Yếu kém của vũ khí Trung QuốcBáo Nhật Bản The Diplomat hôm 06/03/2026 nói rõ hơn về cái mà chuyên gia Pháp về châu Á Isabelle Feng vừa gọi là « hard power » qua nhận định : Những tổn thất tại Iran từ hôm 28/02 tới nay và việc quyền lực tại Teheran trong thế rắn không đầu đã để lộ những lỗ hổng về công nghệ và kỹ năng của nền công nghiệp vũ khí của Trung Quốc. Đây là « một vố đau đối với uy tín » của các loại vũ khí mà Bắc Kinh đã cung cấp cho Teheran. Các thiết bị quân sự Trung Quốc đơn giản là không thể chống chọi trước các đòn tấn công của phương Tây ». Những phương tiện phòng không của Iran do Trung Quốc cung cấp -trong đó có các hệ thống tên lửa địa đối không HQ-9B được cho là « không thích hợp » đã « không thể bảo vệ tính mạng cho giáo chủ Khamenei ».
Được và thuaTuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là Trung Quốc đang « mất tất cả » với chiến sự ở Trung Đông hiện nay.
Trước hết, về phương diện năng lượng, Isabelle Feng cho rằng với trọng lượng của mình, nếu chiến sự ở Trung Đông không kéo quá dài, Trung Quốc hoàn toàn có thể vượt qua được khủng hoảng dầu hỏa và khí đốt hiện nay. Nhà nghiên cứu Emmanuel Hache Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp tuần báo L’Express trích dẫn có cùng quan điểm. Ông cho rằng từ lâu nay Bắc Kinh đã « chuẩn bị sẵn » cho kịch bản Iran bị Israel và Mỹ tấn công. Đây cũng là cơ hội để Trung Quốc mạnh dạn hơn nữa trong mục tiêu « chuyển đổi năng lượng », phát triển năng lượng tái tạo, một lĩnh vực mà trước mắt Trung Quốc đang chiếm thế thượng phong, đi trước cả Mỹ và châu Âu về năng lượng mặt trời … Trung Quốc hiện là « nguồn đầu tư số 1 thế giới vào các công nghệ ít phát thải khí carbon ».
Ngoài lĩnh vực năng lượng, giới quan sát đã nhắc lại rằng, ngay cả ở Trung Đông, Iran cũng chỉ là « một đối tác » của Bắc Kinh nhưng không là « đối tác duy nhất, hay quan trọng nhất » trong mắt ông Tập Cận Bình.
Hơn nữa về mặt địa chính trị, nếu đặt chiến tranh Trung Đông trong bối cảnh Mỹ và Trung Quốc đang đối đầu thì việc Washington « bận tay » vì Iran và phải tái bố trí các phương tiện quân sự (vũ khí, hệ thống phòng thủ, hay nhân sự) từ Châu Á Thái Bình Dương sang Trung Đông, thì đó là một điều tốt trong mắt Bắc Kinh. Hơn nữa, việc Hoa Kỳ phải huy động những vũ khí tối tân sang Trung Đông, đôi khi chỉ để chống đỡ với tên lửa và drone sản xuất với giá rẻ của Iran, cũng là cơ hội để các nhà quân sự ở Bắc Kinh quan sát thieet bị của Mỹ.
Sau cùng xung đột càng kéo dài, Mỹ càng mang tiếng đẩy thế giới vào hỗn lọan, điều đó càng làm tôn thêm uy tín của Trung Quốc, kể cả với các quốc gia trong Vịnh Ả Rập-Ba Tư, đó là chưa kể để phục vụ cỗ máy sản xuất và xuất khẩu, Trung Quốc sẽ mở rộng quan hệ với Nga … các dự án xây dựng đường ống dẫn dầu nối liền hai nước này càng thuận buồm xuôi gió !
From the publisher's feed
Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

221 Listeners

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

25 Listeners

2 Listeners

7 Listeners

6 Listeners

12 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

45 Listeners

1 Listeners

24 Listeners

6 Listeners