Tạp chí kinh tế

Tạp chí kinh tế

By RFI Tiếng ViệtBusiness
Download on the App Store

Tạp chí kinh tế episodes

  • Các hãng xe hơi Trung Quốc ồ ạt chiếm lĩnh thị trường Anh

    Thị trường xe hơi và nay là xe điện (electric car-EV) của Anh có truyền thống bị quốc tế hóa từ lâu, với các tập đoàn Nhật, Hàn, Pháp, Đức và Trung Quốc. Nhưng gần đây, sự xuất hiện của xe Trung Quốc và xe nhãn hiệu châu Âu nhưng do công ty Trung Quốc đầu tư sản xuất trở thành hiện tượng nổi bật.

    Các dòng xe Trung Quốc vào Anh tăng nhanh tới mức nào và tại sao người Anh ưa chuộng xe Trung Quốc?

    Theo các tạp chí chuyên ngành, từ năm 2024 đến hết 2025, xe hơi mới do Trung Quốc sản xuất đăng ký sử dụng ở Anh đã tăng gần gấp đôi, từ 100 nghìn xe lên gần 200 nghìn, chiếm khoảng 10% xe hơi đăng ký mới ở Anh (2 triệu xe). Điều đáng nói là số bán rất ngoạn mục thể hiện ba điều đặc biệt. Một là các nhãn hiệu xe Trung Quốc từ chỗ mấy năm trước không ai biết đến mà nay đã rất phổ biến. Các tạp chí xe, chương trình TV, mạng xã hội đều tham gia quảng cáo xe Trung Quốc rất mạnh.

    Thứ hai là xe Trung Quốc rất đa dạng về chủng loại, về nhãn hiệu chứ không phải chỉ có vài loại từ một nước. Ví dụ như Pháp thường bán sang Anh xe Peugeot, Renault, Nhật thì có Nissan, Toyota, Mazda...Xe Trung Quốc ngay lập tức có ít nhất hơn 10 loại, từ các tập đoàn khác nhau.

    Thứ ba là Trung Quốc dẫn đầu về số xe điện EV đăng ký ở Anh. Nếu tính xe Trung Quốc và cả các dòng xe châu Âu nhưng thực tế là sản xuất, lắp ráp, đặt pin ở Trung Quốc, thì tới 27,9% xe EV bán ở Anh là đến từ Trung Quốc.

    Cụ thể hơn, các dòng xe Trung Quốc đang ồ ạ vào Anh là gì? Sức cạnh tranh là nhờ rẻ hơn xe các nước khác, hay có gì nổi trội nữa?

    Tạp chí xe Motorpoint nêu ra 26 nhãn hiệu xe Trung Quốc hàng đầu đã và sắp vào Anh (26 Chinese car brands coming for the UK market), trong đó có tới 18 nhãn hiệu đã được bán ở Anh. Nổi bật nhất là 4 loại xe:

    ·       Chery Tiggo 8: Được trang Carwow ở Anh bình chọn là Xe của Năm. Chiếc SUV gia đình hybrid cắm sạc (PHEV) này gây ấn tượng với khoang cabin cảm giác cao cấp, tính thực dụng và mức giá cạnh tranh.

    ·       MG4 EV: Được trang What Car? khen là xe điện nhỏ tốt nhất. Các chuyên gia đánh giá là lái ổn, giá rẻ và phạm vi dùng pin khá rộng.

    ·       BYD Dolphin Surf: Được Auto Express nhấn mạnh là một trong những xe điện đô thị hàng đầu, có cabin rộng rãi, trang thiết bị phong phú và giá khởi điểm chưa tới 19 nghìn bảng Anh.

    ·       Jaecoo 7: Từng bị phê phán trên các tạp chí xe hơi Anh, chiếc SUV gia đình dẻo dai này đã trở thành cơn sốt doanh số lớn ở Vương quốc Anh nhờ kiểu dáng sắc nét và khoang cabin công nghệ cao..

    Ngoài ra còn Xpeng 6, Changan, SkyWell là các nhãn mác khác đang dần vào Anh... Xe TQ cạnh tranh tốt nhờ giá thấp, từ 3-5 nghìn bảng mỗi chiếc xe mới cùng hạng.

    Xin so sánh một chút: Những ai sử dụng một số đồ điện như nồi cơm điện của Xiaomi và đồng hồ điện tử của hãng này nên biết là Xiaomi cũng làm xe hơi động cơ điện và xe này sẽ tới Anh nay mai. Hàng điện tử, từ loa đài, điện thoại thông minh, đồ gia dụng Trung Quốc bán ở Anh đều rẻ hơn 10-15%, đôi khi 20% so với hàng châu Âu. Xe hơi và xe điện cũng vậy. Ví dụ, MG HS của TQ cạnh tranh đồng hạng với Kia Sportage, nhưng bán với giá rẻ hơn, từ 6 đến 8 nghìn bảng.

    Người Anh nay đã biết nền tảng cơ khí và công nghiệp Trung Quốc quá mạnh, nên một công ty làm điện thoại, đồng hồ cũng có thể chuyển sang làm ô-tô chỉ trong một vài năm. Người ta nói ở Trung Quốc sản xuất xe hơi nay như làm bánh mì vậy.

    Tại sao ngành ô-tô Trung Quốc chọn Anh?

    Lý do đầu tiên là thương chiến Mỹ-Trung và Liên Hiệp Châu Âu (EU)-Trung Quốc. Anh là nước duy nhất không áp thuế cao lên xe EV của Trung Quốc nên khi bán vào Anh, các hãng Trung Quốc có biên độ lợi nhuận khác hẳn với việc bán vào Hoa Kỳ và EU. Ví dụ, xe điện Trung Quốc bán vào EU chịu thuế nhập khẩu từ 7,8% tới 35,3% tùy phần trăm vật liệu và công nghệ, còn ở Anh thuế chỉ có 10%.

    Lý do thứ nhì là thị trường xe hơi Anh trên thực tế đã lọt vào tay các tập đoàn nước ngoài sau đợt tự do hóa từ mấy chục năm trước. Ở Anh, ngành xe hơi hiện có trị giá thị trường 100 tỷ bảng, tuyển dụng hơn 700 nghìn người, nên là một mũi nhọn của nền kinh tế, nhưng từ lâu nay đều là do các tập đoàn nước ngoài của Nhật, Đức và các nước khác đầu tư và sản xuất. Sự có mặt của các công ty Trung Quốc là chuyện bình thường. Chỉ có điều là họ vào quá nhanh và bán quá tốt.

    Lý do thứ ba,  các công ty Trung Quốc lâu nay đã mua lại các dòng xe châu Âu, như MG, Lotus của Anh hay Volvo của Thụy Điển. Tôi đi xe Volvo nên biết rằng Geely từ Chiết Giang  làm chủ hãng này, xe sản xuất ở Bỉ, lắp vô-lăng tay lái nghịch theo hệ của Anh để bán sang Anh. Chi tiết đó cho thấy tiền đầu tư của Trung Quốc đã có ở châu Âu, gồm Anh, nhiều năm rồi. Tới đây, Geely sẽ bán sang Anh các dòng xe Geely, Zeekr, Farizon, bên cạnh Polestar, Lotus, Smart, Volvo, LEVC đã có mặt.

    Ví dụ nữa, MG là tập đoàn truyền thống của Anh được công ty SAIC của Trung Quốc sở hữu và triển khai khá nhiều nhãn hiệu xe ở Anh. Điều đáng nói là một số tạp chí xe của Anh không coi MG là ‘xe Trung Quốc’ nữa mà xếp vào mục xe Made in the UK – Sản xuất tại Vương quốc Anh.

    Chiến lược tới đây của các tập đoàn xe Trung Quốc với nước Anh ?

    Thị trường Anh được cho là ‘phòng thí nghiệm’ cho công ty xe hơi và xe điện Trung Quốc. Ngoài lý do thuế quan thấp, các công ty xe hơi Trung Quốc có hai chiến lược thâm nhập thị trường Anh.

    Một là các nhà chế tạo xe ở Trung Quốc đã làm chủ các thương hiệu mạnh thì họ sẽ nhấn mạnh vào tính truyền thống, như thể họ đã làm một phần của văn hóa xe hơi ở Anh và châu Âu. Ví dụ MG bán xe theo phong cách Anh. Leapmotor, công ty khác của Trung Quốc, thì hợp tác với Stellantis và trình bày hình ảnh họ thuộc đại gia đình xe châu Âu gồm Vauxhall (ở Đức là Opel), Peugeot, Citroën, Fiat… để bán xe ‘quen thuộc’ với người Anh. Từ đó, họ sẽ bán xe sang các nước nói tiếng Anh, dựa vào dòng thông tin tiếng Anh toàn cầu. Đó là một phần của chiến lược marketing và giành thị phần toàn cầu mà Anh Quốc là mắt xích quan trọng.

    Hai là chiến lược của các dòng xe rất mới, tên khá lạ, từ Omoda tới BYD, Changan, Xiaomi, Chery, Skywell, GWM (Great Wall Motor-xe Trường Thành)...thì chọn hẳn tương lai của ngành xe điện, trình bày sản phẩm thuộc thế hệ mới, xe EV, plug-in hybrids, bán pin có thời gian chạy được lâu. Hiện nay, xe điện mới chiếm chưa tới 50% xe hơi mới bán ra ở Anh, nên tiềm năng của thị trường Anh còn rất lớn, nhờ chính sách thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh của chính phủ. Các công ty TQ đang chờ sẵn.

    Có những ý kiến trái chiều nào về xe Trung Quốc ở Anh ?

    Có những bài bình luận nói một số loại xe EV của Trung Quốc khi trời lạnh, pin bị hao nhanh hơn mức được quảng cáo. Có loại xe bị chê là vỏ quá mỏng, sơn chưa đạt nên chóng hoen rỉ. Còn theo nhà báo Stuart Masson viết trên trang The Car Expert, nhiều xe mới của Trung Quốc bị chê là có quá nhiều màn hình (screen-heavy), màu sắc nhấp nháy, và thiếu ‘cảm giác châu Âu’ (European feel) khi lái. Vô-lăng xe có khi như là bộ phận đồ chơi điện tử. Xe Trung Quốc cũng nổi tiếng với nhiều tính năng giải trí bên trong, có các app, phần mềm và màn hình nhiều hơn so với xe châu Âu. Nhưng kiểu thiết kế đầy ắp các chức năng điện tử thế chưa chắc đã được người châu Âu thích. Vì thế, Trung Quốc sẽ thử bán ở Anh, thu thập ý kiến khách hàng để cải thiện sản phẩm. Chúng ta biết dân châu Âu đã có cả trăm năm chơi xe hơi nên cách lái, cách ứng xử trong xe là cả một bề dày văn hóa. Đó là thứ người Trung Quốc chưa làm được.

    Nhưng Masson viết, sau khi ông đi thăm các nhà máy xe ở Trung Quốc về, phía Trung Quốc hiểu điều này và học rất nhanh cách khắc phục những lỗi sản xuất. Với họ, việc đem vào Anh nhiều loại xe khác nhau, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người dân trong cuộc sống là cách ‘thí nghiệm’ để sau đó cải tiến và bán sang các nước nói tiếng Anh trên toàn cầu.

    10 min
  • Anh Quốc gia nhập trở lại Liên Âu: Tiền đề, áp lực và viễn cảnh xa vời

    Tháng 5/2025, một số nhân vật trong Đảng Lao động cầm quyền ở Anh công khai thách thức thủ tướng Kier Starmer. Ra tranh chức lãnh đạo đảng, cả cựu Bộ trưởng Y tế Wes Streeting và thị trưởng Manchester Andy Burnham đều công khai ủng hộ xu thế quay lại Liên Âu (EU).

    Mười năm sau Brexit, một xu thế mới đang trỗi dậy trong xã hội Anh, đó là tìm cách quay trở lại mái nhà chung châu Âu, hoặc ít nhất là xích lại gần thị trường Liên Âu để giảm bớt thiệt hại kinh tế. Nhưng điều này khả thi tới đâu và Anh Quốc đang đối mặt với thực tế như thế nào để tái thiết quan hệ với EU? Từ Luân Đôn, thông tín viên Nguyễn Giang giải đáp một số câu hỏi.

    RFI : Câu hỏi đầu tiên, Nguyễn Giang có thể cho biết vì sao chủ đề 'quay trở lại Liên Hiệp Châu Âu' lại nổi lên ngay lúc này trong nội bộ Đảng Lao động Anh?

    Nguyễn Giang : "Vâng, đúng ra thì câu chuyện này không xuất hiện đột ngột. Nó tích tụ dần từ áp lực kinh tế nhiều năm qua. Kể từ sau khi hiệp định Brexit có hiệu lực năm 2020, tăng trưởng GDP của Anh tụt hẳn và dai dẳng ở mức thấp. GDP của Anh chỉ tăng 1,1% năm 2024 và 1,3% năm 2025, thấp hơn mức dự báo chính thức là 1,5%. Trong khi đó, các ngành xuất khẩu, nông nghiệp, dược phẩm và công nghệ đều cảm nhận rõ sức nặng của rào cản thương mại mới với châu Âu, khối kinh tế lớn hàng đầu thế giới ngay bên cạnh Anh. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho luận điểm "Brexit là sai lầm" bắt rễ trở lại. Khi ông Kier Starmer bị mất uy tín vì vụ Peter Mandelson, các nhân vật muốn thay ông trong đảng Lao động đều đã nêu ra khẩu hiệu quay lại EU, vì họ đánh vào tâm lý cử tri thấy Brexit gây hại cho kinh tế nhiều. Họ đề xuất một “liệu pháp” là quay lại, hoặc kết nối lại với EU được chừng nào hay chừng đó".

    RFI: Như vậy, có phải chỉ có các nhân vật quan trọng trong Đảng Lao động tranh cãi nhau về Brexit và muốn đảo ngược vụ ly hôn với Liên Hiệp Châu Âu vì lý do kinh tế?

    Nguyễn Giang : "Thực ra không hẳn. Nếu xét riêng tỷ lệ ủng hộ gia nhập lại EU một cách toàn diện, cử tri của đảng Dân chủ Tự do (Lib Dem) và đảng Xanh còn có con số cao hơn so với cử tri Lao Động. Điều này phản ánh một thực tế phức tạp hơn: liên minh cử tri của Lao Động vừa gồm những người trẻ thành thị ủng hộ châu Âu, vừa gồm những cử tri ở khu vực có tên là 'Bức Tường Đỏ’ (Red Wall), tức là các địa hạt nghèo, đa số thiên tả trong cộng đồng đông người Anh bản địa (da trắng), ở phía Tây Bắc xứ Anh, từng bỏ phiếu Brexit vì thất vọng về kinh tế. Gần đây chính họ lại quay lại ủng hộ xu thế đảo ngược Brexit. 

    Các hạn chế đi lại, cấm định cư ở châu Âu cũng khiến hàng triệu người dân Anh thấy khổ sở. Bản thân chúng tôi mỗi khi lái xe sang Pháp là phải chờ kiểm tra giấy tờ lâu hơn. Đi nghỉ hè đôi khi trở nên cực nhọc. Đây là những điều khi Anh còn ở trong EU là chuyện không phải nghĩ tới.

    Nhưng điều đáng chú ý là trong nội bộ đảng cầm quyền ở Anh hiện nay— tức những người thực sự nắm thẻ đảng — sự ủng hộ gia nhập lại EU lại rất mạnh. Một cuộc thăm dò do Survation thực hiện cho trang LabourList tiết lộ rằng tới 65% đảng viên Lao Động muốn đảng này nêu ra cam kết gia nhập lại EU trong cuộc bầu cử tiếp theo, trong khi chỉ 24% phản đối".

    RFI: Xin anh nhắc lại một chút về quan điểm các chính trị gia hàng đầu trong đảng Lao động, gồm cả các ứng viên hàng đầu muốn thay thế thủ tướng Starmer về Brexit và Liên Âu.

    Nguyễn Giang : "Đây là điểm nóng nhất của cuộc tranh luận hiện tại. Ba gương mặt nổi bật nhất đang có ba lập trường khác nhau tuy cùng hướng về Liên Âu.

    Ông Sadiq Khan, thị trưởng Luân Đôn, là người lên tiếng sớm và thẳng thắn nhất. Ông kêu gọi Anh tái gia nhập cả Liên minh thuế quan lẫn Thị trường chung trước cuộc bầu cử 2029, và sau đó đưa cam kết gia nhập lại EU đầy đủ vào cương lĩnh tranh cử. Ông Khan tuyên bố việc gia nhập lại là "không thể tránh khỏi" và cho rằng Luân Đôn đã chịu thiệt hại "về kinh tế, xã hội và văn hoá" vì Brexit. Xin nhắc ông Khan không ra tranh chức thủ tướng Anh mà chỉ muốn tái tranh cử chức đô trưởng Luân Đôn, một vị trí đầy quyền lực.

    Ông Wes Streeting, cựu bộ trưởng Y tế, tuyên bố rằng "rời EU là một sai lầm thảm khốc" khiến nước Anh "giảm sự giàu có hơn trước, kém ảnh hưởng hơn và kém tự chủ hơn so với bất kỳ thời điểm nào trước Cách mạng Công nghiệp." Ông khẳng định Anh "không thể tiếp tục im lặng" và cần "một mối quan hệ đặc biệt mới với EU, vì tương lai của Anh gắn liền với châu Âu và một ngày nào đó sẽ quay trở lại EU." Xin  nhắc là Streeting chỉ mới 43 tuổi, nên có vẻ như quan điểm của ông phản ánh suy nghĩ của thế hệ chính trị gia trẻ, sẽ quyết định tương lai Anh Quốc. 

    Còn ông Andy Burnham, thị trưởng Manchester và ứng viên được kỳ vọng nhiều để lên làm thủ tướng Anh thay ông Keir Starmer, thì có lập trường thận trọng hơn. Dù ông thừa nhận Brexit "đã gây thiệt hại", nhưng ông tôn trọng quyết định "đã được đưa ra trong cuộc trưng cầu dân ý Brexit năm 2016"

    RFI: Trong tình hình này, chính phủ của thủ tướng Keir Starmer hiện đang theo đuổi đường lối gì thưa anh?

    Nguyễn Giang : "Chính phủ của ông Starmer một mặt thừa nhận “sự tổn hại cho kinh tế Anh do Brexit gây ra”, mặt khác vẫn giữ một ranh giới cứng. Tức là Anh sẽ không gia nhập lại Thị trường chung, không vào Liên minh thuế quan EU, không khôi phục tự do đi lại. Thay vào đó, họ theo đuổi chiến lược "reset" (tái thiết lập quan hệ), tức là đàm phán từng thoả thuận theo từng lĩnh vực cụ thể, đủ gần để xóa bớt rào cản thương mại, nhưng không đủ xa để bị quy là "tái Brexit."

    Tại hội nghị thượng đỉnh Anh–EU tháng 5/2025, hai bên đã ký kết một Hiệp ước An ninh và Quốc phòng, đồng thời mở đàm phán về 5 lĩnh vực. Tài liệu của Nghị viện Anh tháng 5 cho biết cụ thể đây là các mảng hai bên đã và đang đàm phán:

    Nông nghiệp và thực phẩm: Thoả thuận SPS, thống nhất tiêu chuẩn kiểm dịch động thực vật để nông sản và thực phẩm xuất khẩu sang EU, sẽ làm giảm đáng kể chi phí kiểm tra biên giới. Hàng EU nhập vào Anh cũng có thể rẻ đi cho người tiêu dùng.

    Năng lượng: Liên kết thị trường điện năng EU–Anh có thể giúp ổn định giá điện và tăng hiệu quả giao dịch năng lượng xuyên biên giới, một lợi ích thiết thực cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng.

    Quốc phòng: Thoả thuận về quỹ SAFE của EU mở cơ hội cho doanh nghiệp quốc phòng Anh tham gia các dự án mua sắm chung của châu Âu, qua đó tăng năng lực sản xuất và lấp đầy khoảng trống năng lực quân sự.

    Khoa học và giáo dục: Việc tái gia nhập Erasmus+ và duy trì tham gia chương trình nghiên cứu Horizon củng cố vị thế của Anh trong hệ sinh thái nghiên cứu châu Âu.

    Công nghệ và đổi mới: Năm 2026, Anh và EU đã bắt đầu đàm phán về khả năng Anh tham gia Quỹ Hội đồng Đổi mới Sáng tạo châu Âu — bao gồm cả Quỹ Scale-up Europe — hướng tới hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ tăng trưởng nhanh."

    RFI: Các thỏa thuận từng lĩnh vực này đem lại lợi ích kinh tế cụ thể gì cho Anh?

    Nguyễn Giang : "Các ước tính khả quan nhất cho rằng chương trình tương thích các lĩnh vực kinh tế Anh với EU đến năm 2030, nếu làm tốt, có thể đem lại cho kinh tế Anh mỗi năm thêm 26 tỷ tới 50 tỷ bảng, tương đương 1,7% đến 2,2% tăng trưởng GDP. Nếu được như thế thì cũng rất tốt vì kinh tế Anh nay chỉ tăng trưởng ở mức trên dưới 1%. Cộng vào thêm 2% nữa thì ta có một bức tranh kinh tế không hề tệ cho Anh quốc".

    RFI: Nhưng vì sao hai bên không thể đẩy nhanh hơn đàm phán để Anh đạt tiến triển nhanh chóng trong quan hệ kinh tế kiểu mới với Liên Âu?

    Nguyễn Giang : "Người Anh đã hiểu là Liên minh châu Âu trước hết là một khối thương mại lớn, có sức mạnh vì tầm vóc thị trường của họ, nên họ chơi cứng với Anh và chơi rất thực dụng.

    Mỗi mỗi bước xích lại thị trường EU bằng một chính sách “tương thích” đều kèm theo một hoá đơn tiền tỷ mà Anh  phải trả. Nói ngắn gọi thì Anh phải “mua lối vào EU” từng ngành một. Đây là điều mà phía Anh nhận ra ngày càng rõ hơn sau mỗi vòng đàm phán.

    Tôi xin nêu ra một số ví dụ mà tôi có quan sát khá kỹ. Ví dụ, để tái gia nhập Erasmus+, chương trình giao lưu sinh viên với EU, Luân Đôn phải trả 570 triệu bảng ngay trong năm đầu tiên. Để duy trì tham gia Horizon, chương trình nghiên cứu khoa học lớn nhất của EU, thì tấm vé là 2,2 tỷ bảng mỗi năm. Việc tham gia thị trường điện năng hay thoả thuận SPS cũng có thể yêu cầu Anh đóng góp tài chính đáng kể vào ngân sách EU, ngoài chi phí hành chính.

    Thậm chí tấm vé vào chương trình tín dụng quốc phòng SAFE của EU có giá khoảng 2 tỷ euro (tương đương 1,7 tỷ bảng), hay chỉ 3% ngân sách quốc phòng 62 tỷ bảng của Anh trong năm 2025/26. Đây là lý do bộ trưởng chuyên trách về EU, ông Nick Thomas-Symonds,từ chối ký để Anh tham gia sản xuất vũ khí cùng EU. Hiện Anh đang đàm phán để gia nhập thị trường năng lượng EU, nhưng nhiều khả năng là EU sẽ đòi trả phí.

    Logic lo ngại của chính phủ Anh là cứ mỗi lần Luân Đôn muốn xích lại, EU lại đưa ra một yêu cầu mới. Ranh giới giữa "xích lại theo từng lĩnh vực" và "gia nhập lại Thị trường chung" sẽ ngày càng mờ nhạt nếu quá trình "tương thích hoá tự động" (dynamic alignment) được mở rộng không kiểm soát. Đó là lý do tại sao bộ trưởng Thomas-Symonds nhấn mạnh Anh phải tự đặt ra ưu tiên của mình, không thể để Bruxelles dẫn dắt".

    RFI: Cuối cùng, nhìn một cách thực tế thì liệu Anh có thể gia nhập lại Liên Hiệp Châu Âu trong nhiệm kỳ Quốc Hội này không, hay trong 5-10 năm tới ? .

    Nguyễn Giang : "Về mặt thực tế chính trị thì không. Ngay cả ông Wes Streeting cũng thừa nhận việc tổ chức thảo luận trong đảng để đảo ngược Brexit là "không giúp gì cho lợi ích của đảng Lao động hay của quốc gia." Ông Andy Burnham thì nói thẳng rằng khơi lại cuộc tranh luận Brexit lúc này sẽ làm suy yếu uy tín dân chủ của đảng Lao động. Ai cũng rõ là EU không dễ chấp nhận cho Anh quay trở lại. Thực tế là quan hệ hai bên đã sứt mẻ nhiều từ 2016 đến nay.

    Điều khả thi hơn trong nhiệm kỳ hiện tại là hoàn tất các thoả thuận từng ngành như tôi nói ở trên để tạo ra lợi ích kinh tế thực chất mà không vượt các ranh giới đỏ chính trị.

    Tuy thế, câu hỏi lớn hơn - gia nhập lại EU đầy đủ - có thể được đặt ra nghiêm túc trong cuộc bầu cử tổng tuyển cử tiếp theo, dự kiến vào năm 2029, nếu như phong trào ủng hộ trong đảng tiếp tục lớn mạnh và nếu bức tranh kinh tế không cải thiện.

    Cựu thủ tướng Tony Blair mới cuối tháng 5 năm nay nói ông luôn phản đối Brexit, nhưng cho rằng vào thời điểm này Anh không nên đàm phán ở thế yếu với EU để quay lại làm thành viên. Tôi có xem cuộc phỏng vấn truyền hình của ông Tony Blair với nhà báo Nick Robinson, và thấy ông Blair hiến kế cho chính quyền Anh rằng cần cải tổ đất nước để kinh tế mạnh lên. Chỉ khi đó Anh mới có vị thế tốt để đàm phán tái gia nhập EU. Nhưng Khi nào thì không ai rõ."

    RFI : Cảm ơn Nguyễn Giang. 

    9 min
  • Anh Quốc và chiến lược lấy trí tuệ nhân tạo làm bàn đạp tăng trưởng

    Một năm trước, trong diễn văn khai mạc Tuần lễ Công nghệ Luân Đôn (London Tech Week 09-13/06/2025), thủ tướng Anh Keir Starmer đã nêu ra chiến lược lấy việc phát triển trí tuệ nhân tạo AI làm bàn đạp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2025-2030. Sau một năm lên kế hoạch, với khoản đầu tư gần 100 tỷ bảng vào các trung tâm dữ liệu, vào y tế và giáo dục, ngành AI của Anh đã đạt được tiến bộ gì và giúp cho tăng trưởng kinh tế tới đâu?

    Thông tín viên Nguyễn Giang từ Luân Đôn giải thích:

    Anh Quốc đánh cược vào AI

    RFI : Đầu tiên, xin Nguyễn Giang nói về việc triển khai chiến lược AI của Vương quốc Anh?  

    Nguyễn Giang : Quan sát những gì Anh quốc đã và đang làm hơn một năm qua, tôi thấy họ đặt trọng tâm của kế hoạch phát triển AI vào các Khu vực Tăng trưởng Ai, tức AI Growth Zones, gọi tắt là AHGZ, với ba mục tiêu: hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo đột phá công nghệ và cân bằng, kết nối các vùng miền của Vương quốc Anh.

    Mô hình AI Growth Zones (Khu vực Tăng trưởng AI) tạo ra các cụm siêu trung tâm dữ liệu (hyperscale data centres) và điện toán hiệu năng cao. Chính phủ Anh đã phê duyệt hàng loạt khu vực trọng điểm ở hạt Oxfordshire (Culham - trung tâm đầu tiên), Đông Bắc Anh (Blyth & North Tyneside), xứ Wales (Wylfa) và gần đây nhất là Scotland (khu vực Lanarkshire - tháng 1/2026). Họ chia ra để mọi khu vực địa lý chính của Vương quốc Anh đều có cơ hội tiếp cận AI. 

    Khu quan trọng nhất là hành lang công nghệ Oxford-Cambridge (thực tế là cùng Luân Đôn lập ra một Tam giác High-Tech). Xin nhắc là từ Luân Đôn tới Cambridge và Oxford khoảng cách chỉ chừng hơn 100 km. Các đại học lớn, kể cả phòng thí nghiệm nguyên tử quan trọng nhất của Anh (Arbington), cũng nằm trong tam giác này. Điều này giảm được chi phí giao thông, hút được nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo điều kiện cho việc kết nối băng thông cho hệ thống điện toán. Nhưng Anh cũng lập các vùng AI Growth Zone ở cả Wales, miền bắc Anh và Scotland là có ý duy trì nhiều động cơ kinh tế cho các vùng đất kia.

    RFI: Cho tới nay thì các khoản đầu tư được khu vực tư nhân đăng ký vào các khu vực tăng trưởng AI này là bao nhiêu?

    Nguyễn Giang : Mục tiêu chung là phải đạt tới 100 tỷ bảng Anh đầu tư từ khối tư nhân vào hạ tầng AI thông qua cơ chế này. Ở vùng Đông Bắc (North East AIGZ), quỹ đầu tư Blackstone đã cam kết bỏ ra10 tỷ bảng Anh để xây dựng trung tâm dữ liệu tại Blyth, đồng thời mở đường cho 20 tỷ bảng bổ sung từ các đối tác khác. Chính phủ Anh cũng trực tiếp chi ngân sách tài trợ ban đầu hơn 2,5 tỷ bảng để kích hoạt hệ thống điện toán quốc gia.

    Điều đáng chú ý là phần cam kết từ cả hai phía. Về phía mình, chính phủ Anh cam kết giá điện đặc biệt cho data centre tại các vùng có thặng dư năng lượng (ví dụ: giảm từ 14 đến 24 bảng/MWh tùy khu vực, tiết kiệm tới 80 triệu bảng/năm cho một trung tâm 500MW). Để đẩy nhanh tiến độ thiết kế các trung tâm dữ liệu, họ ưu tiên đưa chúng vào danh mục Hạ tầng Quốc gia Trọng yếu (Critical National Infrastructure - CNI), cho phép rút ngắn thời gian chờ đấu nối vào lưới điện quốc gia lên đến 5 năm và cắt giảm quy trình phê duyệt quy hoạch từ 18 tháng xuống còn 12 tháng.

    Còn về phía các nhà đầu tư cùng đối tác ở địa phương thì họ tìm cách bố trí quỹ đất tối thiểu 100 mẫu Anh (acres) đã được dọn sẵn hoặc đủ tiêu chuẩn sẵn sàng xây dựng trước 2028, cam kết tạo ra hàng nghìn việc làm chất lượng cao (như vùng North East cam kết tạo 5.000 việc làm), và phối hợp với các đại học địa phương (Newcastle, Durham...) xây dựng chương trình đào tạo nhân lực AI.

    Họ cam kết sẽ kết nối với các đại học địa phương. Hiện đang làm nghiên cứu trong một đại học ở Luân Đôn và đã dự nhiều khóa học, hội thảo, tôi thấy một xu hướng rõ rệt: các đại học Anh đang xóa bỏ, thậm chí đóng nhiều khoa ở các trường khắp cả nước trong các bộ môn khoa học xã hội, nghệ thuật, ngôn ngữ, nhưng lại đang mở rất nhiều khóa, ngành liên quan đến trí tuệ nhân tạo, từ mảng nghiên cứu, phát triển công nghệ tới ứng dụng Ai trong đủ mọi lĩnh vực. Xem ra đây là tương lai mới cho giáo dục đại học.

    RFI: Một câu chuyện nhiều nước nói tới là các trung tâm dữ liệu tiêu thụ điện năng rất lớn. Vậy ở Anh, nguồn năng lượng điện đến từ đâu? Có nằm cạnh nhà máy điện hạt nhân?

    Nguyễn Giang : Đúng thế, năng lượng là "nút thắt" lớn nhất của hạ tầng AI, và chiến lược của Anh là áp sát nguồn phát năng lượng sạch quy mô lớn, nhưng không chỉ giới hạn ở điện hạt nhân. Điện nguyên tử không phải tất cả, nhưng đây là một trục xương sống cho AI. Ví dụ điển hình nhất là North Wales AI Growth Zone, nơi được thiết kế cặp đôi chiến lược (strategically paired) nằm ngay cạnh dự án Lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) đầu tiên của Anh tại Wylfa. Sự kết hợp này nhằm cung cấp nguồn điện tải nền (baseload) cực kỳ ổn định và khổng lồ cho các cụm chip AI mà không làm quá tải lưới điện dân dụng.

    Ngoài ra thì tại vùng North East (Blyth), các trung tâm dữ liệu dùng nguồn điện đến từ các trạm tiếp bờ của điện gió ngoài khơi lớn nhất thế giới ở Biển Bắc (North Sea) và mua cả năng lượng qua cáp ngầm kết nối thủy điện từ Na Uy. Tại Scotland, họ tận dụng nguồn năng lượng tái tạo thặng dư (gió và thủy điện) vốn thường bị nghẽn, không thể truyền tải về miền Nam.

    Các báo Anh gần đây hay đăng các câu chuyện thú vị như nhà nông nào đó ở vùng quê bán trang trại, lò sản xuất bánh mì, trạm xay bột cho công ty Ai để xây data centre. Theo một điều tra của nhà báo Henry Mawhood cho trang báo nghề cá ở Anh thì thực ra câu chuyện không đơn giản như vậy nhưng đúng là các vùng ven biển phía Tây đảo Anh, từ Weston-Super-Mare tới Cumbria (England), rồi miền Nam xứ Wales và duyên hải Đông Bắc Scotland, người ta đang có kế hoạch xây hai thứ: các nhà máy điện nguyên tử mini, các trạm nhận điện qua cáp ngầm từ Bắc Âu (Na Uy) và các trạm đón tuyến cáp truyền dữ liệu xuyên Đại Tây Dương, nối Anh với Hoa Kỳ. Vì thế, đúng là có những nơi nhà nông được mời chào bán lại các miếng đất, nhà xưởng, ít nhất với diện tích 1-2 trăm mét vuông, để chứa data centre. Trong tháng 6 năm nay, có câu chuyện mang tính biểu tượng ở Anh. Thủ tướng Kier Starmer đã thăm một nhà máy xà phòng cũ có 130 năm tuổi ở Warrington, hạt Cheshire, để dự lễ khai trương dự án trung tâm dữ  liệu. Tức là họ biến một điểm công nghiệp rất là cũ thành trung tâm dữ liệu, dùng nguồn điện, nước có sẵn. 

    RFI: Theo anh, công suất cho điện dùng vào trí tuệ nhân tạo ở Anh có đủ không?

    Nguyễn Giang : Theo các báo chuyên ngành đánh giá thì điện ở Anh, gồm cả điện nguyên tử, hiện tại là đủ cho lộ trình giai đoạn 1 nhờ chiến lược phân bổ vùng. Ví dụ, riêng trung tâm dữ liệu AI tại Blyth đang tăng tốc để đạt công suất 1,1 GW (Gigawatt) trong vòng 6 năm tới, biến nó thành một trong những cụm dữ liệu lớn nhất châu Âu. Bằng cách đặt data centre tại nơi "nguồn phát" dư thừa, Anh giải quyết được bài toán tổn thất truyền tải và giá điện cao.

    RFI: Cho tới nay, việc sử dụng AI trong y tế, tài chính và giáo dục tại Anh ra sao?

    Nguyễn Giang : Theo chỉ số tâm lý AI (EY AI Sentiment Index) tính đến giữa năm 2026, bức tranh ứng dụng của Anh như sau:

    Trong Dịch vụ Sức khỏe Quốc gia (NHS- tức Y tế công) thì kế hoạch 10 năm của Anh đã đưa AI từ giai đoạn thí điểm sang tích dợp hệ thống toàn diện. AI hiện là "trợ lý số" bắt buộc ở nhiều khâu: các công cụ "Ambient Scribing" (AI ghi âm cuộc thoại bác sĩ - bệnh nhân tự động chuyển thành hồ sơ bệnh án) phổ cập mạnh mẽ; ứng dụng NHS App tích hợp AI thành cổng sàng lọc bệnh tự động. Đặc biệt, Bộ Y tế Anh vừa tung ra mô hình "MHRA AI Airlock / Sandbox" (tháng 6/2026) để thử nghiệm AI trong việc dự đoán tác dụng phụ của thuốc, giúp NHS giảm bớt gánh nặng chi phí 2 tỷ bảng/năm do phản ứng ngược của thuốc gây ra.

    Mạnh và sâu hơn là ứng dụng trong tài chính dùng công nghệ số (fintech). Trên thực tế thì tỷ lệ ứng dụng AI ở Anh trong ngành này đã đạt 75%. Các ngân hàng và công ty tài chính Anh đang dùng AI sâu trong phát hiện gian lận (anti-frauds), trong giao dịch tự động và tuân thủ pháp lý (compliance). Vào tháng 1/2026, Cơ quan Quản lý Tài chính (FCA) đã mở cuộc điều tra Mills Review để đánh giá toàn diện tác động dài hạn của AI đối với dịch vụ tài chính tiêu dùng, đồng thời tích hợp sâu công cụ Agentic AI (AI tự chủ) vào hệ thống vận hành.

    Trong giáo dục đại học, Anh đang chuyển mạnh từ các ngành xã hội sang công nghệ. Hiện Bộ Giáo dục đã chuẩn hóa hơn 400 chương trình thạc sĩ chuyên sâu về AI và 28 trung tâm đào tạo tiến sĩ (CDT). Các trường đại học lớn như Edinburgh (với Bayes Centre), Cambridge, Oxford hoạt động như các lõi R&D chuyển giao công nghệ trực tiếp cho doanh nghiệp trong các AI Growth Zones.

    RFI:  So với Liên Âu thì Anh Quốc đi trước hay sau về công nghệ AI trong ứng dụng vào kinh tế và các ngành nghề?

    Nguyễn Giang : Có thể nói về mặt thương mại, hạ tầng và đầu tư thì Anh đi trước. Anh hiện đứng đầu châu Âu và thứ 4 thế giới về năng lực nghiên cứu cũng như thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho AI (riêng năm 2024 đạt gần 3 tỷ bảng). Do lợi thế về nguồn dữ liệu tập trung của NHS và thị trường tài chính London, các tập đoàn Mỹ (Google, Microsoft, OpenAI) chọn Anh làm bãi đáp hạ tầng lớn hơn so với Liên Âu

    Ưu thế của Anh là có tốc độ tích hợp AI vào dịch vụ công như trong y tế công (NHS) đồng bộ hơn nhờ cơ chế quản lý tập trung, trong khi EU bị phân mảnh theo từng quốc gia thành viên. Nhưng so sánh Anh và Pháp thì bức tranh lại hơi khác

    RFI:  Anh và Pháp được cho là hai quốc gia châu Âu hành đầu, cạnh tranh với Hoa Kỳ, Trung Quốc về AI nhưng cũng cạnh tranh với nhau?

    Nguyễn Giang : Các thông tin do hai chính phủ Anh và Pháp công bố dần dần cho thấy sự khác biệt, ưu điểm và nhược điểm của mỗi bên trong chiến lược phát triển AI. Tôi xin điểm ra một số nhỏ:

    Anh đã triển khai các trung tâm dữ liệu nhanh hơn Pháp. Vì ở Pháp, dù Hội nghị thượng đỉnh Choose France cam kết cắt giảm thủ tục hành chính của Pháp, nhưng Pháp cũng bị ràng buộc bởi các quy định quản lý đất đai và bảo vệ môi trường chặt chẽ của Liên Hiệp Châu Âu nên thủ tục làm tốn thời gian hơn trong việc giải phóng mặt bằng quy mô lớn. Pháp muốn đi nhanh nhưng vẫn phải tuân thủ luật Liên Âu (EU AI Act), còn Anh thì có môi trường pháp lý thoáng hơn, gần với Hoa Kỳ hơn, và thái độ ‘pro-innovation’ có vẻ đang tốt hơn Pháp.

    Trong việc xây dựng hệ sinh thái tài chính và thương mại kỹ thuật số thì Anh có sẵn Luân Đôn là trung tâm Fintech số 1 châu Âu, kết nối truyền thống mạnh mẽ trong thế giới nói tiếng Anh với New York, với Singapore, Hồng Kông nên giúp các AI Growth Zone dễ dàng kết nối trực tiếp giải pháp AI vào thị trường tài chính toàn cầu. Thêm vào đó, việc sở hữu Dữ liệu tập trung của Y tế công NHS là lợi thế độc quyền mà Pháp không có. Anh dễ dàng thu hút các tập đoàn y sinh AI lớn đến thiết lập trung tâm tính toán, vì họ có thể tiếp cận kho dữ liệu y tế khổng lồ hàng đầu thế giới thông qua các cơ chế an toàn số (như MHRA AI Airlock).

    Thế nhưng, về quy mô vốn đầu tư hạ tầng khổng lồ bằng tiền nước ngoài (FDI Magnitude) thì Pháp đang hơn Anh. Ví dụ, Hội nghị Choose France, tập đoàn SoftBank đã cam kết chi tới 75 tỷ euro (trong đó 45 tỷ euro giải ngân trước 2031) để xây dựng cụm trung tâm dữ liệu AI khổng lồ công suất 5 GW tại Dunkerque. Bên cạnh đó là 10 tỷ euro từ Brookfield và 7,5 tỷ euro từ quỹ MGX (UAE).

    Hiện chưa rõ cuộc chạy đua đường dài về AI (AI race) giữa Anh và Pháp ra sao, nhưng cả hai nước đều đang đổ tiền vào. Tổng thống Emmanuel Macron công bố trong tháng 6/2026 khoản đầu tư 1,55 tỷ euro tiền công vào công nghệ quantum và bán dẫn (semiconductors). Cùng lúc, chính phủ Anh cũng trực tiếp chi ngân sách tài trợ ban đầu hơn 2,5 tỷ bảng để kích hoạt hệ thống điện toán quốc gia kết nối AI.

    RFI: Nếu làm tốt, các kế hoạch này có giúp kinh tế Anh tăng trưởng giai đoạn 2027-2030 không?

    Nguyễn Giang : Anh Quốc đang hy vọng kế hoạch AI Growth Zones và chuyển đổi số này được thực thi trơn tru, Nhờ đó mà tác động lên giai đoạn 2027-2030 sẽ có thể phát huy tác dụng qua ba kênh:

    Một là người ta hy vọng có dòng vốn dịch chuyển mạnh từ Mỹ sang Anh, không chỉ với con số 100 tỷ bảng đầu tư hạ tầng cam kết đến năm 2030 và còn có các cam kết mới. Các đầu tư này sẽ trực tiếp đóng góp vào GDP thông qua xây dựng và mua sắm thiết bị công nghệ cao ở Anh.

    Hai là AI sẽ làm tăng hiệu suất của y tế và tài chính, dịch vụ công. Lấy ví dụ ứng dụng AI giúp rút ngắn thời gian chẩn đoán của bác sĩ, cắt ngắn thời gian chờ được khám bệnh, và gián tiếp giải phóng hàng tỷ bảng Anh áp lực ngân sách (thời gian, giờ công) cho phép tái đầu tư tiền vào các khu vực kinh tế tạo ra thặng dư cao hơn.

    Và thứ ba là tác động lan tỏa (Spillover effects). Đây là điều cần chờ xem. Thế nhưng theo các mô hình dự báo, khi các AI Growth Zones đi vào hoạt động ổn định từ năm 2027, các ngành kế toán, tài chính, năng lực tính toán trong sản xuất v.v. sẽ nhờ giải pháp AI mà giảm được chi phí. Qua đó, giá trị chung của toàn chuỗi cung ứng ở Anh sẽ tăng lên, cùng sức cạnh tranh của hàng hóa Anh. Chúng ta sẽ không thấy ngay lợi ích này, nhưng đây là quá trình chuyển đổi, có người nói là cuộc cách mạng cơ sở hạ tầng lớn nhất từ thế kỷ 16 nên cần phải có  thời gian để “hưởng lợi”, nhìn từ góc độ của Anh Quốc.

    10 min
  • Đô la Mỹ, bàn đạp cho công nghệ Trung Quốc phát triển

    Sau khi « mượn » đô la trong tay các quỹ đầu tư Mỹ làm bệ phóng cho các công ty khởi nghiệp để phát triển công nghệ, Trung Quốc « qua cầu rút ván », áp dụng chính sách bảo hộ để kiểm soát những lĩnh vực mũi nhọn chiến lược. Bắc Kinh không chỉ giỏi đánh cắp bí quyết công nghiệp và công nghệ của Hoa Kỳ mà còn sao chép cả những công cụ pháp lý của Washington để giành lấy thế thượng phong. 

    Vụ Bắc Kinh hủy thương vụ của đại tập đoàn công nghệ Mỹ Meta mua lại Manus, một công ty khởi nghiệp rất có triển vọng trong công nghệ trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc là trường hợp tiêu biểu, để lộ rõ những nước cờ của Trung Quốc. 

    RFI Việt ngữ mời chuyên gia về luật tài chính, nhà nghiên cứu về Trung Quốc Isabelle Feng, phó chủ tịch trung tâm nghiên cứu Á Châu Asia Centre, Paris, phân tích về chiến lược phát triển công nghệ cao của Bắc Kinh, về những tính toán của Trung Quốc trong cuộc tranh hùng với Mỹ trên mặt trận high tech và trí tuệ nhân tạo.  

    Một tháng sau khi công bố những biện pháp giới hạn đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc ở hải ngoại, Bắc Kinh kể từ ngày 01/07/2026 có quyền hủy một chương trình hợp tác giữa một nhà đầu tư nước ngoài với một công ty Trung Quốc, nếu như dự án đó bị coi là « nhạy cảm » và « đe doạ đến an ninh quốc gia ». Giống như Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng viện lý do « an ninh quốc gia » để siết chặt kiểm soát các dự án đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn hay những công nghệ xanh. Luật chơi mới cho phép các giới chức Trung Quốc « kiểm soát lưu lượng vốn và cả các nguồn lực lao động ».

    Hai tháng trước khi quy định mới của Trung Quốc giới hạn đầu tư ra nước ngoài có hiệu lực, Meta và Manus đã là những nạn nhân đầu tiên của chính sách này. Cuối tháng Tư vừa qua, vài tuần trước khi tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đến Bắc Kinh và vào lúc thế giới tập trung vào chiến tranh Trung Đông, vào eo biển Hormuz bị Iran phong tỏa, vào nguy cơ nổ ra một cuộc khủng hoảng dầu hỏa và năng tượng toàn cầu, thì tại Bắc Kinh, cơ quan chức năng đã hủy một thương vụ vốn đã hoàn tất gần nửa năm trước đó giữa tập đoàn công nghệ Meta của Hoa Kỳ và Manus đang hoạt động tại Singapore.

    Một công ty khởi nghiệp và « gã khổng lồ » Meta

    Manus hiện được coi là con chim đầu đàn về trí tuệ thông minh, trụ sở ban đầu đặt tại Vũ Hán. Nhưng để có thể thu hút đầu tư của Mỹ và cũng là để lách luật COINS Act 2025 của Hoa Kỳ ( Luật cho phép Hoa Kỳ kiểm soát các khoản đầu tư của doanh nghiệp và nhà đầu tư Mỹ ra nước ngoài, đặc biệt là vào các lĩnh vực công nghệ nhạy cảm ở các « quốc gia đáng quan ngại » như Trung Quốc), hai sáng lập viên đã ngừng hoạt động tại Hoa Lục, sang Singapore hành nghề, dưới danh nghĩa là một công ty khởi nghiệp Singapore.

    Điều đó không cấm cản các sáng lập viên của Manus bị triệu tập về Trung Quốc và bị cấm rời khỏi Hoa Lục, trong khi đợi « kết quả điều tra ». Bắc Kinh đang điều tra xem việc Manus bị đại tập đoàn công nghệ Mỹ Meta mua lại có là một mối đe dọa đối với an ninh quốc gia hay không.

    Vì sao quyết định hủy thương vụ Manus bán cho Meta lại là một trường hợp tiêu biểu cho cuộc chiến Mỹ- Trung và đâu là những bài học có thể rút ra từ vụ này về chính sách đầu tư của Bắc Kinh, về cung cách hoạt động của Trung Quốc về tiến trình khởi nghiệp và cất cánh của các công ty Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ ?

    Trung Quốc mượn vốn của Mỹ để phát triển

    RFI : Thân chào Isabelle Feng, báo chí Mỹ như Wall Street Journal hay Bloomberg, New York Times đã chú ý nhiều đến cuộc « liên hôn » ngắn ngủi giữa Meta, công ty mẹ của những Facebook, Whatsapp, Intagram với Manus, một công ty khởi nghiệp ban đầu là từ Vũ Hán. Manus phát triển AI thế hệ mới, với những chức năng như là dùng AI để mua vé xe lửa hay tìm nhà cho thuê … Meta đã chi ra 2 tỷ đô la để thâu tóm Manus. Thủ tục sáp nhập này đã hoàn tất vào cuối năm 2025 và đôi bên đã chính thức hợp tác với nhau từ đó đến nay. Cho dù Manus đang hoạt động với danh nghĩa một công ty Singapore, Trung Quốc vẫn có thẩm quyền hủy giao dịch giữa Meta và Manus. Chúng ta có thể thấy gì từ trường hợp này ?  

    Isabelle Feng : « Nghiên cứu từ nhiều năm nay về trường hợp của Meta và Manus, tôi có những nhận xét như sau : Manus cũng như rất nhiều các hãng công nghệ khác của Trung Quốc khởi nghiệp nhờ vốn đầu tư của tư nhân bởi vì họ không được nhà nước tài trợ, không được các ngân hàng nhà nước giúp đỡ. Vốn của tư nhân ở đây chủ yếu là vốn từ các tổ hợp đầu tư liên doanh. Cho đến năm 2020, phần lớn những tổ hợp liên doanh này có vốn của Mỹ. Trong trường hợp của tập đoàn ô tô điện Trung Quốc BYD chẳng hạn, ban đầu họ đã phát triển nhờ vốn của một quỹ mang tên là Wang Chuanfu  nhưng đến năm 2008 thì bắt đầu mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài dưới dạng một joint venture. Tương tự như vậy, từ Tencent, Alibaba đến ByteDance… cũng đã khởi nghiệp với vốn của các quỹ đầu tư ngoại quốc, trong đó có vốn của các nhà đầu tư Mỹ. Nhưng đến khi những công ty khởi nghiệp đó thành công, các cổ đông bán lại cổ phần để thu lại vốn. Khi đó đến lượt các ngân hàng của nhà nước Trung Quốc can thiệp. Alibaba năm 2014 tham gia sàn chứng khoán Hoa Kỳ, nhưng kỳ thực thì ngay cả ông khổng lồ này cũng do nhà nước Trung Quốc kiểm soát ».

    RFI : Nói cách khác, công nghệ của Trung Quốc cất cánh một phần cũng nhờ các quỹ đầu tư của Hoa Kỳ. Bản chất các nhà đầu tư là bỏ vốn vào những thị trường, những lĩnh vực dễ sinh lời, có mức lãi cao và chóng thu hồi vốn. Riêng Manus thì đã được thành lập trong bối cảnh mà Mỹ và Trung Quốc đã lao vào một cuộc chiến thương mại, và nhất là công nghệ.

    Isabelle Feng : « Manus là một ca rất thú vị : Được 2 kỹ sư sáng lập năm 2022, trụ sở tại Vũ Hán. Đó cũng là thời điểm quan hệ Mỹ và Trung Quốc đã xấu đi. Cho nên Manus chỉ có thể trông cậy vào vốn đầu tư của tư nhân Trung Quốc. Nhưng rồi để nhanh chóng phát triển, Manus cần vốn của cả các tổ hợp liên doanh tức là phải có vốn của nước ngoài -trong lĩnh vực AI, mỗi dự án đầu tư cần cả tỷ đô la. Chúng ta biết nguồn vốn mạnh nhất là từ Mỹ. Washington nhân danh an ninh quốc gia đã cấm các nhà đầu tư Hoa Kỳ bỏ vốn vào những lĩnh vực nhạy cảm của Trung Quốc. Để lách điều khoản này, Manus trong một sớm một chiều đã đóng cửa cơ sở tại Vũ Hán để đăng ký hoạt động tại Singapore. Với danh nghĩa là một công ty khởi nghiệp của Singapore, Manus đã thu hút chú ý của các quỹ đầu tư – trong đó có Benchmark Capital. Qua Benchmark, Manus đã được Meta chú ý ».

    Sự "bất an" trong các công cụ pháp lý của Trung Quốc

    RFI : Phải chăng một trong những lý do khiến Manus bị Bắc Kinh chú ý đến là do công ty khởi nghiệp này đang nổi lên như diều gặp gió với công nghê AI thế hệ mới ? Trường hợp của Manus đã gây bất ngờ tương tự như hiệu ứng DeepSeek. Tháng 1/2026, một công ty còn ít được biết đến cho ra đời « phiên bản Trung Quốc của ChatGPT », được cho là « thông minh hơn » « gọn nhẹ hơn » « rẻ hơn » và « hiệu quả hơn » những công cụ của Mỹ. Chính vì thế mà Bắc Kinh muốn tránh để một công ty quý giá như Manus vào tay Hoa Kỳ

    Isabelle Feng : « Qua việc Bắc Kinh hủy thương vụ liên quan đến Meta và Manus, chúng ta có thể đưa ra những nhận xét như sau : Một là Trung Quốc muốn khẳng định các doanh nghiệp, các kỹ sư Trung Quốc bất luận hoạt động ở nơi nào đều vẫn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Trung Quốc. Nghịch lý ở đây là Trung Quốc đang rất cần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng khi hủy hợp đồng của tập đoàn Mỹ Meta mua lại Manus rõ ràng là họ đang khẳng định chỉ có Bắc Kinh mới làm chủ cuộc chơi.

    Điểm thứ nhì cần lưu ý : Hủy một quyết định, một hợp đồng đã có hiệu lực từ sáu tháng trước nhắm vào một tập đoàn Trung Quốc hoạt động ở Singapore, đây là lần đầu tiên Bắc Kinh áp dụng một cách triệt để nguyên tắc ngoài lãnh thổ, trong lúc không có bất kỳ một lý do nào cho thấy thương vụ giữa Manus và Meta vi phạm luật pháp của Trung Quốc.Điều đó càng để lộ rõ cái mà chúng ta có thể gọi là khía cạnh ‘bất an’ trong các công cụ pháp lý của Trung Quốc đối với các doanh nghiệp nước ngoài.

    Bài học thứ ba có thể rút ra từ trường hợp của Meta và Manus là cuộc chạy đua phát triển trí tuệ nhân tạo đòi hỏi rất nhiều đầu tư – mỗi dự án có thể cần đến cả tỷ đô la và để thu hút đầu tư và phát triển AI, Hoa Kỳ trông cậy từ 80 đến 90 % vào đầu tư tư nhân. Tại Trung Quốc, đầu tư của nhà nước chiếm hơn 50 %. Nửa còn lại là vốn của tư nhân, của các quỹ tài chính liên doanh. Câu hỏi còn lại là sau vụ của Manus, là một nhà đầu tư ngoại quốc còn mấy ai dám bỏ vốn  vào AI Trung Quốc ? ».

    RFI : Nói như vậy nạn nhân đầu tiên từ những quy định hạn chế đầu tư của Trung Quốc ra nước ngoài chính là các công ty khởi nghiệp Trung Quốc, bởi vì như vừa nói  công nghệ mới của Trung Quốc đã phát triển nhờ vào các quỹ đầu tư của Hoa Kỳ. Ngoài ra vào lúc mà cuộc đọ sức giữa hai siêu cường kinh tế thế giới gia tăng cường độ, Bắc Kinh càng lúc càng chứng tỏ khả năng đáp trả đích đáng Hoa Kỳ khi cần, điển hình là thông báo hôm 22/06/2026 đưa một loạt doanh nghiệp Mỹ vào danh sách trừng phạt. Biện pháp này nhằm trả đũa Lầu Năm Góc hơn một chục ngày trước đó đã đưa nhiều tập đoàn lớn của Trung Quốc vào danh sách với lý do «nghi ngờ » các thực thể này hợp tác với quan đội Trung Quốc. Thưa Isabelle Feng ,bà đánh giá thế nào về quyết định này từ phía Bắc Kinh ?

    Isabelle Feng : « Mỗi lần Mỹ ban hành lệnh trừng phạt các công ty Trung Quốc, lập tức Bắc Kinh phản công. Nếu nhìn kỹ vào danh sách của đôi bên lần này, chúng ta thấy có một sự bất tương xứng. Mỹ nhắm vào những tên tuổi như Alibaba hay BYD... Những công ty này hoàn toàn không nằm trong lĩnh vực nhạy cảm : Alibaba là một nhà phân phối hàng trên mạng, còn hãng xe BYD hoạt động khắp châu Âu. Trái lại, phía Trung Quốc nhắm những Loockheed Martin, Raytheon …, những tên tuổi lớn trong các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng và hàng không quân sự mà rất ít người Trung Quốc biết đến. Cũng vì tính chất nhạy cảm trong các hoạt động của hãng Mỹ liên quan, cho nên về thực chất, họ rất ít giao dịch với Trung Quốc. Nếu như Bắc Kinh thật sự muốn đáp trả Washington một cách tương xứng thì họ đã nhắm tới những tập Apple hay Microsoft : Đó là những nhãn hiệu đã bắt rễ sâu vào Trung Quốc và Trung Quốc là thị trường lớn của hai thương hiệu này ».

    RFI : Xin thành thật cảm ơn bà Isabelle Feng, phó chủ tịch trung tâm nghiên cứu về châu Á Asia Centre Paris.

    9 min
  • Nắng nóng, hiện tượng thời tiết cực đoan : Thêm một nguy cơ đe dọa tăng trưởng của Pháp

    Thêm một trở ngại cho tăng trưởng của Pháp : Ngoài xung đột Ukraina và Iran đẩy giá nhiên liệu vật liệu và năng lượng lên cao ; Cạnh tranh về công nghiệp, về thương mại cả với Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc, giờ đây là hiện tượng nắng nóng bất thường, thời tiết cực đoan có nguy cơ cướp đi 210 tỷ euro, tương đương với khoảng 7 % GDP, của Pháp trong giai đoạn 2026-2030.  

    Là một quốc gia trong vùng ôn đới, Pháp hiếm khi phải đối mặt với các đợt nắng nóng bất thường trước khi chính thức bước sang hè. Năm 2026 là một ngoại lệ, ngay từ tháng 5, tháng 6, Pháp đã trải qua hai đợt nắng nóng bất thường. Trong nhiều ngày liên tiếp, một phần lớn nước Pháp đã được đặt trong tình trạng báo động. Các sinh hoạt đều bị chựng lại.

    Theo một nghiên cứu của hãng bảo hiểm Allianz Trade, được công bố hôm 28/05/2026, nắng nóng khắc nghiệt tại Pháp và châu Âu đã trở thành một « rủi ro đe dọa tăng trưởng của khu vực này ».

    Là một đầu tàu kinh tế của Liên Hiệp Châu Âu, Pháp có nguy cơ mất 7 % GDP từ nay đến cuối 2030 chỉ vì các đợt nắng nóng càng lúc càng thường xuyên xảy ra và bị ngạt thở dưới những vòm trời oi bức, nhiệt độ dao động từ 35°C trở lên.

    Cũng theo nghiên cứu này, Pháp bị nặng hơn một số thành viên khác trong Liên Âu như Đức vì hai lý do : Hiện tượng cực đoan này thường xuyên xảy ra ở Pháp hơn là ở Đức, đồng thời cơ cấu kinh tế Pháp cũng dễ bị ảnh hưởng hơn bởi vì nông nghiệp, ngành xây dựng xây dựng, du lịch...là những điểm mạnh của kinh tế Pháp, nhưng cũng là những lĩnh vực dễ bị những điều kiện khí hậu tác động nhất, như giải thích của kinh tế gia Hazem Krichen, Allianz Trade.

    Nước Pháp hoạt động chậm lại

    Xavier Timbeau, giám đốc Đài Quan Sát về Tình Hình Kinh Tế Pháp OFCE bổ sung thêm vì sao dưới tác động nắng nóng bất thường, các hoạt động kinh tế đều đã « chậm lại » :  

    « Nắng nóng cao độ dẫn tới tình trạng hơi giống như thời kỳ nước Pháp bị phong tỏa để chống dịch Covid : Trường học phải đóng cửa, bố mẹ học sinh phải ở nhà trông con, phải làm việc từ nhà, nhiều chuyến xe lửa bị hủy, giao thông công cộng bị đình trệ, đi lại khó khăn trong cái nắng nóng cùng cực. Điều này làm giảm năng suất của người lao động. Bên cạnh đó thì nhiều lĩnh vực kinh tế bị tác động trực tiếp như trong ngành xây dựng, công nhân phải nghỉ việc vì trời quá nóng không thể đến các công trường. Các nhà máy điện lực trong tình trạng căng thẳng bởi vì cung bị giảm trong lúc nhu cầu tiêu thụ thì lại rất cao… Tất cả những yếu tố này cộng lại gây thêm những tốn kém cho các doanh nghiệp, cho tư nhân …. Năm 2003, do tác động từ đợt nắng nóng dài ngày, GDP của Pháp bị giảm mất 0,3 % ».  

    Vẫn theo thẩm định của hãng bảo hiểm Allianz Trade, với nhiệt độ hơn 30°C, năng suất lao động bắt đầu sụt giảm, đè nặng lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đầu tư qua đó cũng bị tác động lây.

    Trong hoàn cảnh đó, hệ quả kèm theo là giá cả bị đẩy lên cao. Pháp rất dễ lâm vào tình trạng « stagflation », tức là tăng trưởng chậm và phải đối mặt với lạm phát.

    Gánh nặng tài chính của chính phủ

    Đây cũng sẽ là một gánh nặng tài chính đối với chính phủ khi mà thuế thu vào cho ngân sách của nhà nước sa sút trong lúc các nhu cầu chi tiêu lại tăng thêm. Vẫn theo báo cáo của Allianz Trade, hiện tượng thời tiết cực đoan này đào sâu thêm thâm hụt ngân sách nhà nước. Thuế thu vào  có thể bị giảm từ 1,8 % đến 2,2 %.

    Song giới trong ngành nhìn nhận là rất khó thẩm định chính xác tác động từ các đợt nắng nóng đối với hoạt động kinh tế. Chỉ biết rằng so với những năm trước, hiện tượng nắng nóng diễn ra vào tháng 7 và tháng 8 khi mà một phần lớn dân Pháp đang nghỉ hè, tức là ít ảnh hưởng đến năng suất lao động và hai tháng hè cũng là thời điểm mà nhiều công trình xây dựng, nhà máy đóng cửa …

    Năm nay thì hai đợt nắng nóng đầu tiên diễn ra vào tháng 5 và 6 khi mà dân Pháp vẫn hoạt động bình thường và một số ngành nghề bất đắc dĩ phải cho nhân viên nghỉ việc trong những ngày nóng nhất.

    Hai nét đặc thù 

    Trở lại với câu hỏi vì sao Pháp lại là một trong những quốc gia bị hiện tượng nắng nóng tác động mạnh nhất, trong những ngày qua đã có nhiều nhà bình luận chỉ trích Pháp keo kiệt, lạc hậu không chịu trang bị máy điều hòa. Lập luận này không có sức thuyết phục giáo sư kinh tế trường Paris School of Business, Thomas Porcher như ông đã giải thích trên đài phát thanh France Inter hôm 26/06/2026:

    « Các công trình kiến trúc tại châu Âu được thiết kế để giữ nhiệt. Chính vì thế mà ở Pháp và châu Âu cho đến nay không được trang bị nhiều máy điều hòa. Khoảng một nửa các công trình xây dựng không được thiết kế để đối phó với hiện tượng nắng nóng. Các thành phố lớn đông dân cư lại càng bí bức, càng dễ bị ngộp thở. Các căn hộ ở dưới mái các tòa nhà cao tầng tích tụ hơi nóng và lại càng ngột ngạt hơn nữa. Thành thử cần phải có cải tạo các công trình từ nhà ở đến văn phòng, trường học… để thích nghi với hiện tượng nắng nóng ».

    Nếu như phải trang bị máy điều hòa cho tất cả các căn hộ ở Pháp thì sẽ tốn hết bao nhiêu và đó có thực sự là « chìa khóa » để đối phó với những đợt nắng nóng thường xảy ra hay không ? Nhà báo Dominique Seux phụ trách các mục kinh tế trên nhật báo Les Echos đưa ra những con số cụ thể để trả lời câu hỏi này:

    « Nếu phải trang bị máy điều hòa cho toàn bộ 10 triệu căn hộ, nhà riêng trên toàn quốc thì sẽ tốn khoảng 100 tỷ euro. Còn nếu phải cải tạo lại toàn bộ các cơ sở hạ tầng  y tế, giáo dục, công sở, nhà máy, hệ thống giao thông công cộng … thì cần khoảng 500 tỷ euro. Như đã biết ,tại Pháp cũng như châu Âu, các công trình xây dựng được thiết kế để tiết kiệm năng lượng, tức là hóa đơn điện vào mùa đông. Trước hiện tượng nắng nóng càng lúc càng thường xuyên hơn, khắc nghiệt hơn và mỗi đợt nóng có khuynh hướng kéo dài, bắt buộc phải tìm những giải pháp khác để thích nghi. Đương nhiên trang bị máy điều hòa chỉ cho phép làm hạ nhiệt tình hình nhưng không giải quyết được gì nhiều. Còn lại là những khả năng như là cải tạo lại kiến trúc của các căn hộ, điều chỉnh lại giờ giấc làm việc thường ngày để tránh nắng nóng ; trồng thêm cây xanh trên đường phố, trên các mái nhà hay trên tường của những khu chung cư và văn phòng. Theo thẩm định của cơ quan tư vấn Carbone 4, xanh hóa môi trường cho thành phố đòi hỏi 14 tỷ euro từ nay cho đến năm 2050. So với 100 tỷ hay 500 tỷ euro như vừa nêu, số tiền này quả thực là không quá lớn ».  

    Cứu môi trường vị lợi ích kinh tế

    Trong nghiên cứu hôm 28/05/2026, Allianz Trade khuyến khích Paris đẩy mạnh tiến trình « chuyển đổi công nghệ » làm « xanh hóa môi trường ». Vào lúc mà tình trạng ngân sách của Pháp đã khá « tồi tệ », nợ công lên tới 115 % GDP, chính phủ có khuynh hướng giảm đầu tư vào các dự án phi carbon hóa, chính tập đoàn bảo hiểm Allianz lại cho rằng Paris cần hỗ trợ các chính quyền cấp vùng, cấp thành phố để đối phó tốt hơn các hiện tượng khí hậu cực đoan. Đây là giải pháp tốt nhất để cứu vãn tăng trưởng và nhất là hạn chế những thiệt hại mà tình trạng nắng nóng bất thường gây nên.  

    Thực tế cho thấy rằng, tại Pháp nói riêng, tại châu Âu nói chung, những đợt nắng nóng không chỉ là một « câu chuyện vô bổ về thời tiết nắng, mưa », mà đây là cả một thách thức có thể đe dọa đến tăng trưởng của một quốc gia, thách thức từ hệ thống y tế đến giáo dục khi mà các bệnh viện bị quá tải, khi mà nhà trường phải đóng cửa hay phải dời lại các kỳ thi vì thời tiết không cho phép ….

    Bên cạnh đó còn phải tính đến những hậu quả « âm thầm » nhưng cũng rất nguy hiểm mà các đợt nắng nóng hay những hiện tượng thời tiết cực đoan đang mang lại cho môi trường, cho đại dương, cho các loại thực và động vật …

    Những lời hứa chóng bị lãng quên

    Trong hai đợt nắng nóng Pháp vừa trải qua, những bài báo, những chương trình truyền thanh, truyền hình đã mời các chuyên gia tranh cãi về việc nên hay không nên trang bị máy điều hòa, cân nhắc về lượng khí carbone chúng thải ra liệu có làm hâm nóng thêm Trái đất hay không … Như thể máy điều hòa mới là giải pháp quan trọng nhất hóa giải được mọi hậu quả của những trận nắng nóng. Một chuyên gia Pháp ví von « thực ra máy điều hòa cũng có tác dụng như thuốc paracétamol, giảm sốt, giảm đau cho bệnh nhân nhưng không chữa được bệnh từ gốc rễ ».

    Từ 2003, mỗi lần Pháp trải qua một trận nắng nóng hay thiên tai đều là cơ hội để các chính trị gia vạch trần những thiếu sót của các đối thủ, và hứa hẹn là họ sẽ làm tốt hơn nếu được người dân tín nhiệm. Nhưng khi những đợt nóng khắc nghiệt nhất đi qua, thì những hứa hẹn và phần lớn những cam kết chống biến đổi khí hậu nhanh chóng bị lãng quên.  

    10 min
  • Dầu hỏa Iran trước hy vọng thoát khỏi lệnh cấm vận của Mỹ sau gần 50 năm bị trừng phạt

    Bốn trong số 14 điểm của thỏa thuận ghi nhớ chấm dứt chiến tranh Trung Đông liên quan đến những hồ sơ kinh tế nhậy cảm nhất đối với Teheran và được coi là có lợi cho chế độ Iran. Ngày 22/06/2026, Hoa Kỳ tạm dỡ bỏ lệnh cấm vận dầu hỏa Iran trong vòng 60 ngày, mở ra viễn cảnh Iran thu vào hàng tỷ đô la nhờ được phép xuất khẩu dầu hỏa theo giá thị trường.

    Đây là bằng chứng rõ rệt cho thấy thái độ thực tiễn của chế độ ở Teheran. Nhưng không dễ để xóa bỏ những lớp trừng phạt mà cộng đồng quốc tế, đứng đầu là Mỹ, gần như liên tục ban hành từ năm 1979 tới nay.

    Vào lúc phó tổng thống J.D Vance trên đường trở về Mỹ sau cuộc họp tại Thụy Sĩ với phái đoàn Iran, tại Washington, bộ Tài Chính thông báo tạm thời cho phép Iran xuất khẩu trở lại dầu thô, các sản phẩm hóa dầu và bán ra theo giá thị trường. Quyết định có hiệu lực cho đến ngày 21/08/2026. Để đổi lại, Teheran cam kết « bảo đảm quyền tự do lưu thông tại eo biển Hormuz và cho phép thanh tra viên của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế AIEA vào hoạt động ».

    Thay đổi ngoạn mục trong chính sách của Mỹ từ 1979

    Theo báo New York Times, đây là một « thay đổi lớn trong chính sách của Mỹ » đối với Iran. Một quyết định chấm dứt « hàng thập niên những hạn chế làm tê liệt » ngành công nghiệp dầu hỏa của Iran, quốc gia này phải luồn lách các lệnh trừng phạt quốc tế và xoay sở để vẫn có thể xuất khẩu dầu mà chủ yếu là để bán cho Trung Quốc, như ghi nhận của báo tài chính Wall Street Journal. Tờ báo kết luận : Tạm thời cho phép Iran xuất khẩu dầu thô là một « cơ hội vàng » đối với chế độ « đang rất cần ngoại tệ ».

    Nhật báo The Hill thì nói đến một « cú hích » cho một nền kinh tế đang bị kiệt quệ. Trên đài RFI Pháp ngữ, kinh tế trưởng cơ quan bảo hiểm ngoại thương Pháp COFACE Julien Marcilly phác họa về toàn cảnh u ám tại Iran trước và nhất là kể từ khi có xung đột với Mỹ và Israel hôm 28/02/2026 đến nay :

    « Ngay cả trước cuộc xung đột, kinh tế Iran đã rất khó khăn và hiện nay tình hình thậm chí còn tệ hơn nhiều, nếu không muốn nói là một tai họa : Đồng rial của Iran đã sụp đổ mạnh kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu. Điều đó có nghĩa là áp lực lạm phát gia tăng rất lớn. Hồi tháng 4 và 5/2026, lạm phát đã tăng với tốc độ chưa từng có so với tháng trước đó. Theo số liệu chính thức, giá cả đang tăng với tốc độ hơn 60% mỗi năm. Con số này có khả năng còn tiếp tục tăng trong những tháng tới do tác động kéo dài đồng tiền bị mất giá. Bên cạnh những thiệt hại về vật chất dưới tác động của các đợt oanh kích tàn phá các cơ sở hạ tầng quân sự, dân sự, các nhà máy năng lượng của Iran. (…) Mỹ nới lỏng các biện pháp trừng phạt, cho phép Iran phục hồi khả năng sản xuất và xuất khẩu dầu hỏa quả thực là một "làn gió mới" cho một nền kinh tế  đang trong tình trạng cực kỳ tồi tệ ».

    Năm 1979, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trừng phạt kinh tế - trong đó có biện pháp cấm vận dầu hỏa Iran và phong tỏa tài sản của chế độ này ở hải ngoại, nhắm vào chế độ của giáo chủ Khomenei để trả đũa vụ con tin Mỹ bị bắt tại tòa đại sứ ở Teheran. Dầu thô tiếp tục là mục tiêu bị nhắm tới khi tổng thống Bill Clinton năm 1996 phê chuẩn đạo luật Iran - Libya Sanction Act, cấm các tập đoàn Mỹ và nước ngoài đầu tư quá 20 triệu đô la vào các dự án phát triển năng lượng của Iran.

    Nhưng 2012 là một năm « đen tối » đối với ngành khai thác và xuất khẩu dầu của chế độ trong tay Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo : Đến lượt Liên Hiệp Châu Âu, Liên Hiệp Quốc cũng ban hành lệnh cấm nhập khẩu dầu của Iran, trong lúc Mỹ siết chặt thêm cỗ máy trừng phạt nhắm vào tất cả các thực thể (doanh nghiệp và các ngân hàng) có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu dầu của Iran.

    Mãi đến 2015-2026 nhờ có thỏa thuận Vienna về hạt nhân Iran JCPOA ký kết dưới chính quyền Obama, dầu của Iran mới « dễ thở hơn » một chút, nhưng mọi chuyện đã chấm dứt năm 2018 khi tổng thống Donald Trump trong nhiệm kỳ đầu, đã rút nước Mỹ ra khỏi thỏa thuận (giữa Iran với 6 nước Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc và Mỹ) mà các bên đã mất hơn 600 ngày đàm phán.

    Từ 2012, xuất khẩu dầu của Iran về mặt chính thức « rơi xuống mức gần như là số 0 ». Điều này khiến Teheran phải tương kế tựu kế, trông cậy vào các đội tàu ma để vẫn xuất khẩu được dầu hỏa, vốn là nguồn thu nhập quan trọng nhất.

    Bóp nghẹt kinh tế Iran : Mục tiêu bất thành

    Do vậy, trong mắt nhà chính trị học Jonathan Piron, Trung Tâm Nghiên Cứu - Thông tin về Hòa Bình và An Ninh - GRIPS, tại Bruxelles, Bỉ, chỉ riêng những nhượng bộ từ phía Washington về khía cạnh kinh tế cũng đủ thấy Mỹ đã thất bại trong mục tiêu bóp nghẹt kinh tế Iran :

    « Thất bại của Mỹ bởi khi cùng Israel lao vào cuộc chiến chống Iran, một trong những mục đích là lật đổ chế độ tại Teheran, hoặc ít nhất là buộc Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo phải nhượng bộ về hạt nhân cũng như trên các vấn đề khác. Mục tiêu thực sự là đẩy kinh tế và chính quyền Iran vào thế khó khăn, buộc Teheran phải đầu hàng trong các cuộc đàm phán. Nhưng kịch bản đó đã không xảy ra.

    Đồng thời đây cũng không phải là một thắng lợi hoàn toàn của Iran, bởi vì bên trong nước Iran vẫn còn rất nhiều thách thức mà chế độ hiện nay phải đối mặt và giải quyết triệt để. Đặc biệt là vấn đề kinh tế : lạm phát đạt mức kỷ lục, kèm theo đó là những mong đợi rất lớn của người dân, là sự chia rẽ trong hàng ngũ giới cầm quyền về những hướng đi tiếp theo cho Iran, về cách thức tiến hành đàm phán với Mỹ … »

    Trong bài nghiên cứu năm 2015, chuyên gia về Iran, Thierry Coville nhắc lại, hiếm một quốc gia nào trên thế giới bị « trừng phạt nhiều như Iran » : trừng phạt của Mỹ rồi của Liên Hiệp Quốc và Liên Hiệp Châu Âu, một cách gần như liên tục từ gần một nửa thế kỷ. Do vậy theo điều tra của hãng tin Anh Reuters, dỡ bỏ cấm vận kinh tế Iran đòi hỏi nhiều thời gian, mà trước hết là về mặt pháp lý.

    Sự mập mờ về eo biển Hormuz

    Một điểm đáng chú ý khác được nhà báo Nicolas Falez đài phát thanh quốc tế Pháp RFI lưu ý : Bốn trong số 14 điểm của bản thỏa thuận khung mà Iran và Mỹ đã nhất trí thông qua và được tổng thống hai nước phê chuẩn hôm 17/06/2026 liên quan đến những vấn đề kinh tế mang tính sống còn với chế độ trong tay Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo. Bốn điểm then chốt đó bao gồm :

    « Một là việc thu phí nhắm vào các tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz và cách thức triển khai cơ chế này trong thực tế. Thứ hai là kế hoạch tái thiết Iran thông qua quỹ trị giá 300 tỷ đô la. Quỹ này đặt ra nhiều câu hỏi : ai sẽ đóng góp, dưới hình thức nào và nhất là những quốc gia trong vùng Vịnh kỳ vọng gì ở Mỹ sau khi đã bị nhiều thiệt hại sau những tuần lễ chiến tranh vừa qua ? Điểm thứ ba liên quan đến tài sản ở hải ngoại của Iran bị phong tỏa. Truyền thông thường đưa ra con số 100 tỷ đô la nhưng vẫn còn quá nhiều điểm chưa rõ ràng về số tiền bị phong tỏa nói trên. Điều cuối cùng - tuy có vẻ đơn giản nhất nhưng sẽ sớm phải cọ sát với thực tế - liên quan đến những hoạt động xuất khẩu dầu của Iran. Dầu hỏa vốn là nguồn thu nhập chính của quốc gia này ».

    Aurélien Devernoix phóng viên đài RFI giải thích thêm về tham vọng của Iran kiểm soát eo biển Hormuz mà Teheran trình bày như những phí tổn để đổi lấy một số « dịch vụ » : 

     « Mỹ và Iran đưa ra những tuyên bố hoàn toàn trái ngược nhau. Teheran thông báo sẽ thu phí quá cảnh khi tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz. Trái lại Washington lại bảo là không. Ngay cả trong bản thỏa thuận ghi nhớ 14 điểm cũng đã có một sự mập mờ về điều khoản thu phí ở eo biển Hormuz : Tài liệu chỉ đơn giản bảo đàm rằng trong thời gian 60 ngày đàm phán, Iran sẽ cho phép tàu bè đi qua miễn phí. Không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau thời gian đàm phán 60 ngày đó. Trên thực tế, có thể là Teheran sẽ thu phí dưới hình thức "phí dịch vụ" để bảo đảm an toàn hàng hải, bảo vệ môi trường, cung cấp hệ thống báo hiệu dẫn đường hoặc hoạt động cứu hộ các tàu gặp nạn. Một dạng như mô hình Thổ Nhĩ Kỳ thu phí ở eo biển Bosphore từ gần 90 năm nay. Cũng có khả năng Iran, với lý do trực tiếp xuất phát từ hậu quả chiến tranh, sẽ thu phí để tài trợ các hoạt động rà phá thủy lôi và bảo đảm an toàn hàng hải tại eo biển Hormuz ».

    Quỹ tái thiết Iran 300 tỷ đô la và tài sản Iran ở hải ngoại 

    Liên quan đến dự án lập quỹ đô la tái thiết Iran, mặc dù tổng thống Trump từng khẳng định là Teheran sẽ « không nhận được lấy 1 xu » nếu vẫn là một mối đe dọa cho an ninh Hoa Kỳ, an ninh khu vực ... nhưng giới quan sát đồng loạt cho rằng « mọi người cứ ngỡ Donald Trump giỏi đàm phán chẳng ngờ tổng thống Mỹ đã nhượng bộ Iran quá nhiều ».

    Liên qua đến việc « giải ngân hơn 100 - thậm chí là 150 tỷ đô la tài sản của Iran ở hải ngoại đang bị phong tỏa », thỏa thuận khung đã dự trù « 12 tỷ đô la trong số này sẽ được giải ngân ngay lập tức ». Reuters ghi nhận chưa thấy Teheran cam kết gì nhiều, mà chỉ thấy viễn cảnh hàng tỷ, thậm chí là hàng chục tỷ có triển vọng được rót cho Iran. Trong một chương trình trên đài phát thanh France Inter tuần trước, giáo sư địa chính trị Frédéric Encel trường Khoa Học Chính Trị Paris, Sciences Po. nhấn mạnh đến những nước cờ khôn ngoan từ phía Iran, cho dù lãnh tụ tối cao Ali Khamenei đã bị sát hại ngay trong ngày đầu tiên Mỹ và Israel khai hỏa tấn công vào thủ đô Teheran.

    Song như ghi nhận của Julien Marcilly, kinh tế trưởng tại cơ quan bảo hiểm ngoại thương Pháp COFACE, chiến tranh Iran sẽ để lại nhiều hậu quả lâu dài, đặc biệt là với hiện trạng của eo biển Hormuz và trên thị trường dầu hỏa :

    « Trước khi xung đột xảy ra, hầu như không ai nghĩ rằng việc đóng cửa eo biển Hormuz hoặc việc áp dụng phí quá cảnh sẽ là điều có thể xảy ra để đáng phải lưu tâm. Nhưng giờ đây, tình hình đã hoàn toàn khác. Điều đó có nghĩa là các công ty bảo hiểm có thể sẽ duy trì mức phí bảo hiểm cao hơn trong một thời gian dài với các tập đoàn vận tải đường biển. Hơn nữa, từ giờ trở đi các doanh nghiệp nơm nớp đề phòng rủi ro thiếu hụt năng lượng nên sẽ phải có hẳn một chính sách tích trữ dầu. Nhu cầu tiêu thụ tăng lên và gây áp lực với thị trường năng lượng. Thêm vào đó là những cơ sở năng lượng, những nhà máy lọc dầu của các nước trong vùng Vịnh bị chiến tranh tàn phá … khả năng sản xuất sụt giảm … Trước tất cả những biến cố vừa rồi, thế giới sẽ phải tìm kiếm những tuyến đường vận chuyển và các nguồn cung cấp thay thế. Điều này đòi hỏi thời gian và những khoản đầu tư rất lớn. Cho nên trong tương lai, một khi khủng hoảng lắng xuống, khả năng giá dầu quay trở lại như trước khi xảy ra chiến tranh Iran là khá thấp ».

    12 min
  • Chống ung thư : Chiến lược của Trung Quốc để chiếm vị trí trung tâm trên bàn cờ quốc tế

    Sau khi đã soán ngôi của Âu Mỹ trong lĩnh vực công nghiệp, rồi thách thức -thậm chí là qua mặt cả- Hoa Kỳ về công nghệ, Trung Quốc đang tiến gần đến vị trí số 1 thế giới về y khoa, đặc biệt là trong lĩnh vực chống ung thư. Những ca bị ung thư trong tương lai sẽ được điều trị nhờ thuốc « made in China », nhờ những dược chất được khám phá từ các phòng thí nghiệm Trung Quốc. Thành tích đó do đâu mà có ? 

    Viễn cảnh Bắc Kinh sử dụng những dược chất, thuốc hay phương pháp điều trị ung thư như một công cụ ngoại giao và địa chính trị không còn xa vời.

    Nghiên cứu và thử nghiệm thuốc mới : « Cỗ máy » lợi hại của Trung Quốc

    Trung Quốc đã trở thành tâm điểm Hội nghị quốc tế ung thư học lớn nhất thế giới  ASCO tổ chức Chicago (29/05-02/06/2026). Gần 1/3 các công trình khoa học được trình bày liên quan đến Trung Quốc ở những mức độ khác nhau. Bên cạnh sự hiện diện rất đông đảo của các nhà nghiên cứu, của các chuyên gia về ung thư Trung Quốc trong số khoảng 40.000 người tham dự, đáng chú ý nhất là lần đầu tiên, một trong số năm bài tham luận được giới thiệu trong phiên họp toàn thể hôm 31/05/2026 xuất sứ từ Trung Quốc. Đây là một vinh dự chỉ dành cho những công trình được coi là có giá trị, mang tính sáng tạo nhất và có triển vọng nhất.

    Công trình đem đến Chicago lần này kết hợp liệu pháp miễn dịch với hóa trị được đánh giá là « một liệu pháp mới đầy triển vọng » do Akeso, một tập đoàn công nghệ sinh học Trung Quốc phát triển.

    Nhật báo tài chính Mỹ, New York Times coi đây là bằng chứng rõ rệt nhất cho thấy Trung Quốc đã « trở thành một thế lực hàng đầu thế giới trong cuộc đua phát triển thuốc mới » trị liệu ung thư : Từ vị trí « gần như đúng ngoài cuộc chơi » Trung Quốc đã nổi lên như một ngọn hải đăng trong một lĩnh vực mà cho đến nay vẫn được coi là thế mạnh của châu Âu và Hoa Kỳ.

    Cột mốc 2024

    Năm 2024 là một cột mốc quan trọng khi mà 40 % các cuộc thử nghiệm lâm sàng trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu chống ung thư, do các phòng thí nghiệm, các viện y khoa Trung Quốc thực hiện. Giáo sư Steven Le Gouille, chuyên về huyết học và giám đốc viện nghiên cứu ung thư Institut Curie-Paris trên nhật báo Libération nhắc lại 2024 lần đầu tiên Trung Quốc công bố hơn 37.000 bài nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn này, hơn hẳn Hoa Kỳ (chưa đầy 32.000 công trình), nhưng cho đến hiện tại, những bài viết đó ít được đăng trên những tạp chí y khoa danh giá nhất thế giới như Nature, Science hay The New England Journal of Medecine.

    Gần đây hơn, các chuyên gia Trung Quốc đóng góp vào 8 trên tổng số 12 chương trình nghiên cứu được trình bày nhân hội nghị châu Âu tại Berlin mùa thu 2025 và hai trong số này tập trung vào những loại thuốc mới điều trị ung thư do các viện bào chế Trung Quốc sản xuất.

    Tiền là chủ lực

    Thành công này do đâu mà có ? Giáo sư y khoa Fabrice Barseli, giám đốc Gustave Roussy trung tâm điều trị ung thư lớn nhất châu Âu, ở ngoại ô Paris, trả lời đài phát thanh tư nhân Radio Classique nhấn mạnh đến tiềm lực tài chính khổng lồ của quốc gia châu Á này từ đầu thế kỷ 21 và nhất là trong thời gian gần đây :

    « Năm 2020 Trung Quốc huy động 300 tỷ đô laa đầu tư vào khâu nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực chống ung thư. Chỉ 5 năm sau, số tiền này được đẩy lên đến 500 tỷ đô la. Thêm vào đó là chiến lược chiêu mộ các nhân tài, các chuyên gia Trung Quốc đã làm việc ở những tập đoàn dược phẩm lớn ở ngoại quốc, nghiên cứu và được đào tạo tại những trường y khoa danh tiếng nhất trở về Hoa lục : họ là những cột trụ giúp Trung Quốc phát triển ».

    Tiền là yếu tố quan trọng nhất nhưng không chỉ có thế. Chính nhờ đội ngũ các chuyên gia được đào tạo ở Hoa Lục và nước ngoài, mà trong hơn 2 thâp niên, Trung Quốc đã nhanh chóng có khả năng sản xuất các loại thuốc thuộc thế hệ mới và có mức độ phức tạp cao. Không những thế Trung Quốc còn phát hiện những phương pháp điều trị mới, nghiên cứu ra những phân tử mới, những hoạt chất mới …

    « Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc sao chép (...) ».

    Chuyên gia Pháp Steve Le Gouill viện nghiên cứu Curie trên nhật báo Libération khẳng định : « Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc sao chép thành công những hoạt chất được nghiên cứu ở nước ngoài, mà nay không ngững cải tiến chính những hoạt chát đó để phát triển những loại thuốc thuộc thế hệ hoàn toàn mới, tức là đưa ra những phương pháp điều trị mới ». Trong lĩnh vực dược phẩm Trung Quốc đã « hoàn toàn làm chủ từ đầu đến cuối các khâu phát triển, từ nghiên cứu đến thử nghiệm và sản xuất. Ngành công nghiệp dược và sinh học của nước này được tổ chức một cách rất có bài bản và vận hành theo các tiêu chuẩn khoa học quốc tế » tương tự như những trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới.

    Pháp tìm đối tác liên doanh

    Giáo sư Barseli giám đốc viện ung thư Gustave Roussy xem việc phát triển hợp tác với các viện nghiên cứu Trung Quốc là một ưu tiên bởi vì các nhà khoa học và giới y khoa châu Á này đang nắm giữ những hoạt chất mà ông gọi là thuộc dòng « best in class hay thậm chí là first in class » tức là những dược chất đầu tiên có thể tấn công để khống chế những tế bào ung thư. Là viện trị liệu lớn nhất châu Âu, ưu tiên của Gustave Roussy hiện nay là thành lập một liên doanh với các nhà sản xuất Trung Quốc để tiếp cận « nhanh chóng nhất » những molécules cần thiết nhất trong khâu trị liệu. Giới trong ngành nhìn nhận hiện tại chữa ung thư phổi và điều trị ung thư tuyến tụy (pancréas) Trung Quốc đang « tiên phong ».  

    Một chiến dịch dài hơi

    Thực ra để có thể đứng trên đỉnh cao như ngày hôm nay trong lĩnh vực y tế như thế nào Trung Quốc đã có một sự chuẩn bị dài hơi. Vào thập niên 1950 ngành y dược gần như trong lòng bàn tay của Âu, Mỹ : Hoa Kỳ dẫn đầu cuộc chơi với những tên tuổi lớn trong ngành như Pfizer, Merk hay Lilly. Anh Quôc thì có Glaxo  Wellcome, Pháp thì nổi tiếng với hãng thốc Rhone Poulenc, Thụy Sĩ thì có nhà thuốc Roche …

    Trung Quốc khởi đầu từ con số không và thậm chí là còn đi sau Ấn Độ một bước để tranh giành thị trường các hoạt chất chính chế biến thuốc. Mãi đến đầu những năm 2000 mọi người mới biết đến hơn một chục cơ sở sản xuất các hoạt chất chính để bào chế thuốc tại Hoa Lục như là ở Quảng Châu, Chiết Giang, Thanh Đảo hay Giang Tây … nhưng chỉ đến năm 2020 Trung Quốc đã chiếm một vị trí then chốt : Cung cấp 71 % các hoạt chất chính cho thế giới để chế tạo thuốc kháng sinh, chiếm từ 60 đến 70 % để cung cấp cho các viện bào chế thuốc giảm đau paracetamol và từ 70 đến 80 % các loại penicilline đều phải dùng dược chất « made in China ». 

    Thành công chói lọi đó của các viện bào chế, các nhà thuốc Trung Quốc có được một phần lớn cũng nhờ được Nhà nước hậu thuẫn. Theo thống kê của Liên đoàn các hãng dược phẩm châu Âu EFPIA đầu tư của Trung Quốc trong lĩnh vực này đã có một bước « đại nhảy vọt », đang từ 1,7 tỷ đô la năm 2000 lên thành gần 15 tỷ 25 năm sau đó. Steven Le Gouille, Institut Curie Paris giải thích : Ai thì cũng phải đi qua vòng « sinh - lão - bệnh - tử » cho nên đầu tư vào y tế khó có thể lỗ vốn nhất là khi Trung Quốc có đến 1,4 tỷ dân. Trong 5 năm, 2016-2021, trị giá chứng khoán của các tập đoàn dược phẩm tiên tiến Trung Quốc đã nhảy vọt từ 3 tỷ đô la lên tới 380 tỷ.  

    Khó khăn trên con đường chinh phụ thị trường quốc tế

    Dù vậy trên con đường « quốc tế hóa » thuốc của Trung Quốc vẫn còn đang gặp nhiều trở ngại. Đứng đầu trong số này là những chuẩn mực khắt khe để thâm nhập vào các thị trường Âu, Mỹ, dù vậy theo đánh giá của giám đốc viện nghiên cứu Curie-Paris ông Le Gouill, Trung Quốc đang từng bước bẻ gấy những rào cản sau cùng này.  

    « Có một số trở ngại cho việc Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu thuốc ra thị trường quốc tế : trong lĩnh vực dược phẩm, các chuẩn mực của Âu Mỹ rất khắt khe, thế nhưng Trung Quốc đã học hỏi cách thâm nhập được các thị trường này. Các tập đoàn dược phẩm, các viện bào chế Trung Quốc đã nắm bắt được luật chơi, để rồi các tập đoàn quốc tế phải mua lại bản quyền của Trung Quốc để được phép sản xuất và phân phối các dược chất trên thị trường quốc tế. Nếu chúng ta đi ngược dòng chuỗi cung ứng, thì sẽ thấy là các hãng dược phẩm của Trung Quốc dựa rất nhiều vào các viện nghiên cứu, các trường đại học y khoa để phát minh ra những dược chất mới đòi hỏi trình độ kỹ thuật rất cao ».    

    Thị trường thuốc của thế giới đến nay vẫn trong tay một vài « ông lớn -major » Hoa Kỳ : hơn 50 % lượng thuốc đủ loại lưu hành là do các hãng dược phẩm của Mỹ cung cấp, Trung Quốc bất chấp những đòn bảy khổng lồ nói trên, cũng mới chỉ giành được có 7 %. Để so sánh thị phần của Pháp và Đức là 3 và 4 %. Trong hoàn cảnh đó giới trong ngành cho rằng : các ngành y, dược trong tương lai sẽ trở thành một mặt trận mới trong cuộc đọ sức giữa Bắc Kinh và Washington; Trung Quốc với thế thượng phong trong nhiều lĩnh vực rồi đây cũng sẽ biến những dược chất và hoạt chất chính thành những công cụ ngoại giao và địa chính trị như đã từng hành xử với kim loại hiếm. Thuần túy về y học và trong lĩnh vực chống ung thư, chủ tịch hiệp hội Unicancer, Jean-Yves Blay được báo Le Figaro trích dẫn cho rằng Trung Quốc đã trong tư thế sẵn sàng để dẫn đầu thế giới về phương pháp trị liêu.

    Một lần nữa, điểm mạnh cho phép Trung Quốc đè bẹp các đối thủ vẫn là « hàng rẻ » nhưng lần này thì thuốc made in China không chỉ là những loại thuốc « cơ bản mà đó là một sự phối hợp tinh tế và nhịp nhàng giữa các khâu nghiên cứu, sản xuất và cung cấp để cho ra đời không chỉ có thuốc mà còn cả những phương pháp trị liệu xuất sắc nhất mà ngay cả các tập đoàn của Mỹ và châu Âu cũng khó mà đuổi kịp ».

    9 min
  • Pháp đón nhận các dự án xây dựng Data Center : Phúc hay họa ?

    SpaceX, Amazone, Nvidia của Mỹ, Softbank của Nhật, Brookfield của Canada, hay MGX của Các Tiểu Vương Quốc Ả Râp Thống Nhất.. đầu tư hàng chục tỷ đô la vào Pháp để xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu data center. Đâu là những lợi thế của Pháp trong mắt các nhà đầu tư công nghệ ? Phúc hay họa khi trở thành « sân sau » của những nhà cung cấp dịch vụ trong thời đại digital ? 80 % các dịch vụ tin học tại châu Âu đều phụ thuộc vào các nhà cung cấp ở Mỹ : Các data center cho phép Paris tự chủ về công nghệ kỹ thuật số với Hoa Kỳ ?

    Tại hội nghị kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Pháp Choose France hôm 01/06/2026, Pháp đã nhận được hơn 90 tỷ euro : Phần lớn trong số hơn 70 dự án tập trung vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và công nghiệp số. Bất chấp rất nhiều khó khăn về địa chính trị hiện tại, trong 7 năm liên tiếp, Pháp vẫn là địa điểm đầu tư hấp dẫn tại châu Âu trong mắt các nhà đầu tư quốc tế, theo thăm dò của cơ quan tư vấn EY.

    Trước ngày khai mạc hội nghị tập đoàn Nhật Bản Softbank đã thông báo đầu tư 45 tỷ euro tại Pháp từ nay đến năm 2031 để xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu data center. Nhìn xa hơn nữa Softbank cam kết đầu tư đến 75 tỷ tại Pháp để « xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công nghệ AI ».

    Sáng lập viên tập đoàn Nhật Bản này, Masayoshi Son kể lại ông đã gặp tổng thống Macron tại Tokyo hai tháng trước đây. Khi đó nguyên thủ Pháp đã hỏi nhà đầu tư này liệu có thể nhanh chóng thông báo một chương trình đầu tư vào Pháp hay không và ông câu trả lời của chủ nhân Softbank là có.

    Masayoshi Son giải thích với báo chí Paris là đã quyết định đầu tư 75 tỷ euro để phát triển trí tuệ nhân tạo bởi nhân loại đang « bước vào thời đại của AI. Những quốc gia có cơ sở hạ tầng cần thiết cho lĩnh vực còn rất mới mẻ này sẽ nắm giữ một vai trò then chốt trong tương lai cả về công nghiệp lẫn công nghệ và đối với nhân loại ».

    352 data center sử dụng 3,2 % tiêu thụ điện trên toàn quốc

    Tổng thống Macron từ khi lên cầm quyền năm 2017 luôn xem thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một ưu tiên. Ông đã chín lần chủ trì hội nghị Choose France tại lâu đài Versailles, ngoại ô Paris, với những khách mời sáng giá nhất trong giới tài chính, công nghiệp của Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu và trước chiến tranh Ukraina cũng đã có không ít các doanh nhân Nga tham dự.

    Riêng năm nay, trí tuệ nhân tạo, data center, công nghệ digital … đặc biệt được quan tâm. Tháng 2/2025 với hội nghị « hành động vì AI » Emmanuel Macron đã nuôi tham vọng, với 67 triệu dân, Pháp cũng có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong thời đại công nghệ số, và là một « trung tâm quốc tế » về AI.

    Sức hút các data center của Pháp  

    Hiện tại Pháp đã có 350 data center và mục tiêu xây dựng thêm 60 trung tâm khác nữa trên toàn quốc trong 10 năm nữa. Đó sẽ là những trung tâm có công suất ngày càng lớn cho phép Paris giải quyết cùng lúc hai vấn đề : giảm mức độ phụ thuộc vào các cơ sở hạ tầng công nghệ số của Hoa Kỳ, và đẩy mạnh các hoạt động kinh tế của Pháp. Trên con đường chinh phục các nhà đầu tư trong lĩnh vực digital, Pháp có nhiều lợi thế, mà đầu tiên hết là khả năng sản xuất điện, như giải thích của François Monnier, tổng biên tập tuần báo tài chính Investir :

    « Điện khí hóa là một điểm mạnh của châu Âu mà đứng đầu bảng là Pháp. Hơn nữa đây là một lĩnh vực đang phát triển rất mạnh. Để đáp ứng nhu cầu của các trung tâm quản lý dữ liệu data center thì Pháp có nhiều tập đoàn lớn rất có uy tín như là như Schneider Electric chuyên cung cấp các dịch vụ, tìm kiếm những  giải pháp năng lượng đáp ứng nhu cầu cho các tập đoàn trong lĩnh vực công nghệ số … hay là Legrand chuyên cung cấp các thiết bị điện hay tập đoàn năng lượng. Lĩnh vực trí tuệ  nhân tạo chiếm 25 % doanh thu của Legrand. Còn Axens hiện diện trong nhiều lĩnh vực từ lọc dầu, hóa dầu xử lý năng lượng tái tạo, xử lý nước ». 

    Antoine Fournier, chủ tịch cơ quan tư vấn Thésée DataCenter ghi nhận : Các khoản đầu tư lẽ ra đổ về những quốc gia khác ở châu Âu, như Đức hay Hà Lan đang chuyển hướng về Pháp, bởi Pháp có một vị trí địa lý « trung tâm ».

    Điện hạt nhân

    Theo lời Régis Casstané tổng giám đốc chi nhánh tại Pháp của tập đoàn Equinix (nhà cung cấp thiết bị cho các data center lớn nhất thế giới), từ 2022 giá năng lượng của Pháp rẻ hơn so với một số quốc gia khác (như là Đức phải phụ thuộc vào khí đốt của Nga), Pháp lại có các nhà máy điện hạt nhân, lá chủ bài của Pháp trong mắt các nhà đầu tư AI và data center.

    Bởi vì trung tâm xử lý dữ liệu là một « nguồn tiêu thụ năng lượng vô cùng lớn », cần có nhiều điện để vận hành. …  

    Theo thẩm định của cơ quan quốc gia Pháp về năng lượng và môi trường ADEM, tiêu thụ điện của 350 data center sẽ tương đương với mức tiêu thụ của « hơn một chục thành phố với trên 100 ngàn dân » và đó là những « cực hút đến 3 % nguồn điện trên toàn quốc ». Đáng quan ngại hơn nữa là các trung tâm data đó ngày càng lớn « ngày càng cần nhiều năng lượng để hoạt động, do vậy trong hơn 10 năm nữa, nhu cầu về điện dành riêng cho các trung tâm này sẽ tăng lên gấp 4 lần so với hiện nay ».

    Năm 2025, điều trần trước một ủy ban tại Hạ Viện, Eric Schmidt cựu chủ tịch tổng giám đốc Google từng kêu gọi các dân biểu Mỹ đầu tư vào cơ sở hạ tầng điện lực :

    « Chúng ta cần nhất hiện nay là điện và nhu cầu rất, rất lớn. Nếu quý vị cho phép nói thẳng, thì tôi xin thưa rằng, chúng tôi mong đợi Hạ Viện phát triển điện lực, bất kỳ dưới hình thức nào, đó có thể là năng lượng tái tạo, là nhiệt điện. Miễn làm sao chúng ta có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ và phải nhanh chóng đạt được mục đích này »

    Điều đó cho thấy vì sao mà các « ông lớn » trong thế giới công nghệ của Mỹ đua nhau chạy sang Pháp đầu tư. Gilles Babinet, tác giả cuốn « Green AI » NXB Odile Jacob nói đến một lá chủ bài của Pháp mà cả Mỹ lẫn Trung Quốc hai siêu cường kinh tế thế giới và cũng là những bên tiên phong trong lĩnh vực công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đều không có được :

    «  Không một quốc gia nào trên thế giới có 15 giga Watt mà đấy lại là điện phi carbone. Mỹ không có khả năng này, Trung Quốc cũng không. Cho nên tất cả các nhà đầu tư trên thế giới cùng nhòm ngó khối lượng điện này của Pháp ».

    Gauthier Roussilhe, chuyên gia về môi trường digital điều hành công ty tư vấn Hubblo, Paris, do vậy cảnh báo trước nguy cơ các ông vua công nghệ kỹ thuật số và AI trên thế giới đang muốn biến Pháp thành « sân sau » của riêng mình :

    « Tất cả những thông cáo rầm rộ về các chương trình đầu tư rất lớn về công nghệ số tại Pháp, trước hết là nhằm bảo đảm rằng, hiện tại và trong tương lai, các tập đoàn này có thể tận dụng tiềm lực về điện lực của nước Pháp (…) Những trung tâm xử lý dữ liệu càng lớn bao nhiêu, thì càng cho thấy trong lượng khổng lồ của các doanh nghiệp Mỹ. Softbank thực ra đã bỏ vốn đầu tư và hiện diện trong rất nhiều các tập đoàn công nghệ cao và nhất là trong các tập đoàn của Mỹ. Hệ quả hiển nhiên kèm theo là khâu quản lý các data center sau này sẽ thuộc về phía Hoa Kỳ ».

    Điều này dường như đã được cả sáng lập viên lẫn giám đốc tài chính tập đoàn Softbank nhìn nhận. Ông Masayoshi Son nói rõ :

    « Softbank bảo đảm khâu tài chính cho các dự án. Khách hàng của chúng tôi là những hyperscalers, tức là những ông không lồ trong lĩnh vực công nghệ đám mây, như là Amazon, Microsoft hay Google ».

    Về phần Nahoko Hoshino, giám đốc tài chính Softbank, bà chỉ hờ hững khi nhắc đến các đối tác châu Âu trong lúc đã tiến hành đàm phán với những khách hàng nặng ký là Amazon, Microsoft hay Google, Open AI.

    Về câu hỏi, đánh cược vào những data center có cho phép nước Pháp vực dậy kinh tế và mang lại công việc làm cho người dân hay không, giới trong ngành đồng loạt trả lời là không. Một quan chức tại thành phố La Courneuve so sánh : Với một diện tích tương đương, mở một nhà máy công nghiệp chế tạo trực thăng Eurocopter, cho phép  tạo thêm 700 công việc làm, nhưng với một trung tâm xử lý dữ liệu thì chỉ cần tuyển dụng 36 nhân viên.

    10 min
  • Khủng hoảng tại eo biển Hormuz đe dọa ngành công nghiệp bán dẫn của Đài Loan

    Vị thế « kinh đô » công nghiệp bán dẫn thế giới của Đài Loan được củng cố thêm khi lãnh đạo tập đoàn Nvidia tại Đài Bắc hôm 01/06/2026 thông báo « mở ra một kỷ nguyên mới » trong lĩnh vực máy tính cá nhân, chen chân vào câu lạc bộ rất khép kín của các nhà sản xuất các bộ vi xử lý trong tay Intel và AMD. Chiến tranh Iran và khủng hoảng ở eo biển Hormuz đe dọa cột trụ vững chắc nhất của nền kinh tế Đài Loan là công nghiệp bán dẫn ?

    Giải pháp nào cho hòn đảo phải nhập khẩu đến 97 % năng lượng để bảo đảm nhu cầu tiêu thụ cho 24 triệu dân và cỗ máy công nghiệp ? Các nhà sản xuất chip tiên tiến nhất của Đài Loan sẽ bị tác động đến mức độ nào từ cuộc khủng hoảng Trung Đông lần này do phụ thuộc đến 80 % khí heli của Vùng Vịnh ? Về an ninh năng lượng, an ninh công nghiệp, Đài Bắc có thể rút ra được những bài học nào trong trường hợp eo biển Đài Loan bị phong tỏa trong một cuộc xung đột quân sự với Bắc Kinh ?

    RFI tiếng Việt mời nhà nghiên cứu Adrien Simorre, cộng tác viên Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI trả lời các câu hỏi trên. Là một nhà báo và một nhà phân tích độc lập làm việc lâu năm tại Đài Bắc, Adrien Simorre nguyên là thông tín viên thường trực của đài RFI và của báo Libération.

    Từ đầu tháng 3/2026 eo biển Hormuz bị phong tỏa. Giao thương quốc tế xuyên qua một trong những cửa ngõ quan trọng nhất bị tê liệt. Dầu hỏa, khí đốt, khí hóa lỏng, phân bón, hóa chất, nhôm, lưu huỳnh, ammoniac … trở nên khan hiếm.

    Eo biển Hormuz, Đài Loan trong tâm bão

    Khác với chiến tranh Ukraina mà Nga khai mào năm 2022, lần này xung đột tại Trung Đông từ ngày 28/02/2026 đã đẩy châu Á vào một cuộc khủng hoảng năng lượng : 40 % nhập khẩu dầu và hơn 25 % khí hóa lỏng tiêu thụ tại châu Á phải đi qua eo biển Hormuz. Đài Loan là 1 trong 9 nền kinh tế thế giới phụ thuộc nhiều nhất vào khí hóa lỏng của Trung Đông cho nên cuộc xung đột này đang thử thách sức chịu đựng của mô hình công nghiệp và chính sách năng lượng trên hòn đảo với 24 triệu dân này.

    Về năng lượng, Đài Loan có nhiều nhược điểm : Thứ nhất, là một hòn đảo, Đài Loan không thể phát triển các hệ thống đường ống dẫn dầu hay khí đốt dưới lòng biển, trên bộ như của Trung Quốc hay châu Âu. Thứ hai là khác với Bắc Kinh, Đài Bắc không phát triển quan hệ với các nguồn cung cấp từ phía các quốc gia « bất hảo » bị quốc tế tẩy chay (Iran, Venezuela và Nga). Điểm thứ ba khả năng dự trữ năng lượng của hòn đảo này tuy có – và đủ sức bảo đảm các nhu cầu tiêu thụ trong « nhiều tháng », nhưng lại đặc biệt hạn chế đối với khí hóa lỏng như Adrien Simore đã ghi nhận trong bài nghiên cứu đăng trên trang mạng của Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI.

    Trả lời RFI tiếng Việt, tác giả bài nghiên cứu, Adrien Simorre nói rõ hơn :  

    « Hệ thống điện của Đài Loan phụ thuộc rất nhiều vào năng lượng từ Trung Đông vì gần một nửa lượng điện của hòn đảo được sản xuất từ khí tự nhiên hóa lỏng (LNG). Trong số lượng LNG đó, hơn một phần ba là mua của Qatar. Ngoài Qatar, thì Úc (33,5 %) và Mỹ (9,9 %) là hai nguồn cung cấp quan trọng khác cho Đài Loan. Vấn đề đặt ra là khả năng dự trữ LNG của Đài Loan chỉ có hạn, tương đương với tiêu thụ trong 10 ngày. Cho nên bất kỳ sự gián đoạn nào trong nguồn cung cũng có thể nhanh chóng làm cạn kiệt lượng dự trữ. Eo biển Hormuz bị phong tỏa, là một thách thức thực sự đối với Đài Loan (...)  

    Đây thực sự là một vấn đề rất nghiêm trọng, nhất là khi nhiều quốc gia khác trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng phụ thuộc vào khí đốt nhập khẩu để sản xuất điện. Tuy nhiên, từ lâu nay các chính quyền liên tiếp ở Đài Bắc đã ý thức được rằng đây là một điểm yếu. Đài Loan là trung tâm hàng đầu thế giới về sản xuất chất bán dẫn tiên tiến, đây cũng là một lĩnh vực mang tính sống còn đối với kinh tế toàn cầu, đặc biệt là về trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh đó còn có áp lực từ Trung Quốc : Bắc Kinh luôn tuyên bố chủ quyền đối với Đài Loan. Điều này làm dấy lên câu hỏi về khả năng duy trì nguồn cung ổn định cho Đài Loan trong trường hợp bản thân Đài Loan bị phong tỏa ».

    Hy sinh nhiều đề giữ « lá bùa hộ mệnh »

    Tháng 6/2024 Đài Loan đã ký kết với tập đoàn năng lượng QatarEnergy một hợp đồng bảo đảm các nguồn cung cấp dài hạn trong vòng 27 năm.  Chuyên gia Adrien Simorre lưu ý rằng Đài Loan chấp nhận chi ra rất nhiều tiền để bảo đảm nhu cầu năng lượng mà ưu tiên là để phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn, vốn là « lá bùa hộ mệnh » của hòn đảo này trước những tham vọng về địa chính trị của Bắc Kinh.

    Tuy nhiên, năng lượng - dầu hỏa, khí hóa lỏng ... chỉ là một khía cạnh của cả một vấn đề để cho phép Đài Loan tiếp tục phát triển và giữ vững vị thế trên bàn cờ chip của thế giới. Adrien Simorre phân tích:  

    « Nhiều người nghĩ rằng ngành bán dẫn chỉ đơn giản là những nhà máy công nghệ cao với các cỗ máy vận hành gần như tự động. Nhưng cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy công nghệ bán dẫn phụ thuộc rất nhiều vào các nguyên liệu đầu vào nhập khẩu mà khí tự nhiên hóa lỏng là một ví dụ. Một thí dụ khác là khí heli. Đây là sản phẩm phụ của quá trình khai thác khí tự nhiên và được sử dụng trong nhiều công đoạn sản xuất chip. Về điểm này, Đài Loan cũng phụ thuộc rất lớn vào Qatar.

    Trong những năm gần đây, Qatar chiếm khoảng khoảng 80% lượng heli nhập khẩu vào Đài Loan. Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại : một ông khổng lồ trong ngành như TSMC đương nhiên tập đoàn này đã có những sự chuẩn bị từ trước : TSMC đã xây dựng kho dự trữ và phát triển các hệ thống tái chế heli rất tiên tiến. Nhưng các doanh nghiệp Đài Loan không phải ai cũng có những bước chuẩn bị như TSMC. Số này có thể phải đối mặt với chi phí sản xuất tăng cao hoặc tình trạng chậm trễ trong sản xuất. 

    Song nếu cuộc khủng hoảng Trung Đông kéo dài nhiều tháng, điều là hiện vẫn còn quá sớm để dám khẳng định, sẽ tạo ra căng thẳng đối với một số nhà sản xuất chip có biên lợi nhuận thấp hơn, những hãng sản xuất các bộ xử lý phổ thông hơn. Hai bài học trước mắt từ căng thẳng ở eo biển Hormuz là mức độ phụ thuộc rất lớn của trí tuệ nhân tạo vào chip của Đài Loan và hai là bản thân cỗ máy sản xuất của hòn đảo này lại rất dễ đứt gẫy chuỗi cung ứng …».

    Ba ngõ thoát hiểm

    Vậy giải pháp nào cho Đài Loan để thoát khỏi thế bế tắc hiện nay ? Adrien Simorre đưa gia ba phương án :

    « Giải pháp đầu tiên đối với Đài Loan là đa dạng hóa nguồn cung cấp để bớt phụ thuộc vào Trung Đông. Mỹ và Úc có thể là những giải pháp thay thế.

    Khả năng thứ hai là quay lại với điện hạt nhân – và đây sẽ là một quyết định lớn về mặt chính trị, bởi vì sau tai nạn nhà máy điện hạt  nhân Fukushima năm 2011, Đài Bắc từng quyết định từ bỏ điện hạt nhân. Là một khu vực nằm trên vành đai địa chấn, Đài Loan cũng có những lo ngại tương tự như Nhật Bản. Mục tiêu của Đài Loan khi đó là thay thế điện hạt nhân bằng khí tự nhiên và năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, quá trình phát triển năng lượng tái tạo diễn ra chậm hơn dự kiến.

    Khi lên nắm quyền cách đây hai năm, tổng thống Lại Thanh Đức đã bắt đầu đề cập đến khả năng khôi phục điện hạt nhân. Khủng hoảng ở Trung Đông hiện nay châm thêm củi lửa cho ông Lại Thanh Đức để phát triển điện hạt nhân.

    Giải pháp thứ ba là tăng cường dự trữ chiến lược : Đài Loan vốn đã triển khai kế hoạch mở rộng năng lực tích trữ LNG, một phần nhằm nâng cao khả năng đối mặt với nguy cơ xung đột hoặc sức ép từ Trung Quốc.

    Theo tôi, cuộc khủng hoảng hiện nay sẽ khiến Đài Loan gắn liền khái niệm 'an ninh năng lượng' với 'an ninh công nghiệp'. Đây sẽ là một trong những cột trụ trong chiến lược phát triển và an ninh của hòn đảo này. Cụ thể hơn, điều đó cũng có nghĩa là Đài Loan không chỉ chú trọng đến các khoản chỉ dự trữ năng lượng mà còn phải xây dựng những kho dự trữ các nguyên liệu đầu vào chiến lược như heli và nhiều vật tư công nghiệp khác cần thiết cho sản xuất chip.

    Về mặt địa chính trị, tất cả những điều này đều rất quan trọng. Đối với Đài Loan, vốn đang bị cô lập về mặt ngoại giao, mục tiêu là chứng minh cho thế giới thấy tầm quan trọng của hòn đảo này. Chỉ một hòn đảo nhỏ với 24 triệu dân có thể chi phối kinh tế toàn cầu, nhờ công nghệ bán dẫn trong thời đại phát triển trí tuệ nhân tạo. Cũng chính do vị thế quá mạnh của Đài Loan trong lĩnh vực chiến lược này mà tổng thống Mỹ Donald Trump những tháng gần đây, đã tỏ ra không hài lòng : không hài lòng thấy siêu cường kinh tế số 1 thế giới phải lệ thuộc vào bọ điện tử và các bộ vi xử lý của Đài Loan ».

    Tổng thống Lại Thanh Đức đang kỳ vọng khởi động lại hai nhà máy điện hạt nhân trước ngưỡng 2029. Ông là người của đảng Dân Tiến mà đảng này từ trước tới nay có lập trường chống sử dụng điện hạt nhân.

    Về vấn đề đa dạng hóa các nguồn cung cấp, Đài Loan trông cậy mở rộng hợp tác với Mỹ và Úc. Hoa Kỳ đang là nguồn cung cấp khoảng 10 % LNG cho Đài Loan nhưng  hòn đảo này kỳ vọng nâng tỷ lệ này lên tới 25 % vào ngưỡng 2029-2030. Có điều khí đốt của Mỹ đắt hơn so với của Qatar.

    Trung Quốc tự nhận là một giải pháp cho Đài Loan 

    Cùng lúc, phía bên kia eo biển Đài Loan, Bắc Kinh ý thức được những khó khăn của Đài Bắc để tự chủ về năng lượng. Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc từng hứa hẹn : Sau khi thống nhất một cách hòa bình Đài Loan, Hoa lục « hoàn toàn có thể bù đắp cho hòn đảo này những thiếu hụt về điện lực, về khí tự nhiên, hay dầu thô ». Trung Quốc cũng có thể là một « nguồn bảo đảm đáng tin cậy » đối với an ninh năng lượng cho hòn đảo này.

    Eo biển Hormuz bị phong tỏa và xung đột ở Trung Đông đương nhiên là một thách thức đối với ngành công nghiệp bán dẫn Đài Loan, với khả năng thích ứng của hòn đảo này trước một môi trường bất ổn hơn.

    Đây đồng thời là một cơ hội để Đài Bắc rà soát lại những biện pháp cho phép đối phó trong trường hợp eo biển Đài Loan bị phong tỏa hay hòn đảo này bị bao vây trước những tham vọng của Trung Quốc muốn đưa hòn đảo « nổi loạn (này) trở về với đất mẹ ».     

    10 min
  • Trong cuộc đọ sức với Hoa Kỳ, Cuba vẫn có thể trông cậy vào Nga và Trung Quốc

    Ngoại trưởng Mỹ hôm 20/05/2026 tuyên bố Washington « quyết tâm » áp đặt một sự thay đổi cho Cuba ». Marco Rubio ngụ ý nói đến một sự thay đổi chế độ ở La Habana ? Chính quyền Trump siết chặt gọng kềm, bóp ngạt kinh tế Cuba. Bên cạnh yếu tố lịch sử lâu đời, gắn liền Washington với La Habana, Nhà Trắng có nhiều lý do để quan tâm đến Cuba. 

    Với kinh nghiệm hơn 65 năm gần như liên tục bị trừng phạt, không thể xem nhẹ sức kháng cự của La Habana và nhất là khi hòn đảo này được cả Trung Quốc lẫn Nga hậu thuẫn.

    Ngay từ nhiệm kỳ đầu, (2016-2020), tổng thống Mỹ Donald Trump đã khép lại giai đoạn tan băng giữa Washington với La Habana mà người tiền nhiệm Barack Obama đã mở ra khi chính thức nối lại bang giao với Cuba ngày 17/12/2014.

    Một năm sau khi trở lại Nhà Trắng, từ đầu 2026 bằng nhiều cách, ông Trump tiếp tục gia tăng sức ép với hòn đảo chỉ cách bang Florida, khoảng 150 km : Cắt các nguồn cung cấp dầu hỏa cho Cuba, đứng đầu là Venezuela và Mêhicô; huy động các công cụ pháp lý và quân sự để làm suy yếu chế độ liên tục cầm quyền tại hòn đảo này từ sau cuộc cách mạng năm 1959. Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Marco Rubio một người Mỹ gốc Cuba trong một thông điệp bằng tiếng Tây Ban Nha trực tiếp lên án chế độ ở La Habana « tham ô », « cướp bóc » và « đàn áp » nhân dân, đồng thời hứa hẹn tổng thống Trump đề xuất cho gần 12 triệu dân Cuba một « con đường mới ».

    66 năm liên tục phong tỏa Cuba

    Cách nay gần 12 năm, thông báo tái lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, chủ tịch Cuba khi đó là ông Raul Castro đã nhấn mạnh, « Điều đó không có nghĩa là đôi bên đã giải quyết được vấn đề cốt lõi » : Kinh tế Cuba vẫn bị phong tỏa.

    Từ năm 1960 Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều lý do khác nhau để trừng phạt La Habana. Tổng thống Dwight D. Eisenhower của bên đảng Cộng Hòa viện cớ chế độ Fidel Castro tịch thu các tài sản của Hoa Kỳ tại Cuba, để hạn chế nhập khẩu đường từ hòn đảo này vào Mỹ. Hai năm sau đó, cáo buộc La Habana thân thiện với Liên Xô cộng sản, tổng thống phe Dân Chủ J.F Kennedy đã mở rộng các biện pháp trừng phạt và ban hành lệnh « cấm vận ». Cuba trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên vào thời điểm ¾ xuất khẩu của Cuba là để hướng tới thị trường Hoa Kỳ và 70 % nhập khẩu phụ thuộc vào đối tác thương mại Bắc Mỹ này.

    Năm 1991 khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, mở ra viễn cảnh Mỹ bình thường hóa quan hệ với Cuba, thì Washington lại chủ trương gia tăng áp lực để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa tại quốc gia trong tay nhà cách mạng Fidel Castro.

    1991-1994 là một thời kỳ « đen tối » đối với Cuba : GDP của nước này sụt giảm 35 %. Năm 1992 lấy cớ đòi Cuba tôn trọng nhân quyền, dưới thời tổng thống G.H Bush, Hạ Viện Mỹ thông qua đạo luật Torricelli mở rộng thêm nữa các biện pháp trừng phạt Cuba. Hai điểm đáng chú ý trong văn bản này. Thứ nhất là Washington cấm các hãng vận tải đường biển nước ngoài làm ăn với Mỹ giao thương với Cuba. Đây là tai họa đối với một quốc đảo như Cuba. Thứ hai là Hoa Kỳ trừng phạt mọi quốc gia « liên đới » với La Habana.

    Năm 1996 sau vụ hai máy bay của một tổ chức người Cuba lưu vong xuất phát từ bang Florida bị Cuba bắn hạ - Raul Castro khi đó là bộ trưởng Quốc Phòng, tổng thống Bill Clinton bên đảng Dân Chủ còn mạnh tay hơn với La Habana khi đặt bút phê chuẩn đạo luật Helms-Burton.

    Nhưng chính những đòn trừng phạt mạnh tay đó cũng đã đè nặng lên một phần các quyền lợi của Hoa Kỳ. Đầu những năm 2000 hiệp hội các nông gia Mỹ có nhu cầu xuất khẩu nhiều hơn sang Cuba. Chính quyền G.W Bush tỏ dấu hiệu nhượng bộ nhưng đó chỉ là một « bàn tay sắt trong vỏ bọc nhung ». 

    Một chuyên gia về Cuba được nguyệt san Le Monde Diplomatique năm 2015 trích dẫn ghi nhận « chính sách trừng phạt của Mỹ đã dẫn tới những hậu quả tai hại về phương diện y tế cho Cuba » : Gần 80 % các bằng sáng chế trong lĩnh vực này đều thuộc chủ quyền của các tập đoàn của Mỹ hay các chi nhánh của họ, cho nên người dân Cuba trong một nhiều thập niên hoàn toàn không được tiếp cận với bất kỳ một tiến bộ nào về mặt khoa học, y tế, thuốc men.

    Phải đợi đến sự kiện tổng thống Mỹ Barack Obama bắt tay lãnh đạo Cuba Raul Castro nhân một buổi lễ tưởng niệm cố tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela cuối 2013, bang giao giữa Hoa Kỳ với một thuộc địa cũ là Cuba mới rẽ sang một khúc quanh mới. Hai cựu tổng thống Mỹ Jimmy Carter, Bill Clinton khi đã rút lui khỏi chính trường, lên tiếng chống đối chính sách trừng phạt của Mỹ nhắm vào Cuba. Họ nhìn nhận Washington « hoàn toàn thất bại » trên phương diện này.

    Tổng thống Trump ở nhiệm kỳ đầu đã chấm dứt chính sách tan băng của người tiền nhiệm Obama và còn mạnh tay hơn nữa từ đầu năm nay.

    Trên đài truyền hình tư nhân BFM TV chuyên gia về châu Mỹ Latinh, Gaspard Estrada Viện Nghiên Cứu Paris Montaigne, khoa Global South trường London School of Economics phân tích việc chính quyền Trump đang bóp ngạt kinh tế Cuba :  

    « Chính quyền Trump đang làm tất cả để cắt đứt mọi nguồn cung cấp dầu hỏa cho Cuba, từ Venezuela đến Mêhicô. Hậu quả kèm theo rất tai hại đối với người dân Cuba : họ bị mất điện triền miên, không có xăng dầu để di chuyển. Cuba càng lúc càng bị cô lập với thế giới bên ngoài. Washington bóp ngạt kinh tế Cuba để bắt buộc hòn đảo này phải thay đổi chế độ, nhưng dường như chính quyền Trump quên mất rằng, khủng hoảng kinh tế tại hòn đảo này sẽ đẩy người dân Cuba ra biển, tìm đường định cư tại Hoa Kỳ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến chính sách nhập cư của Mỹ, đặc biệt là trước bầu cử giữa kỳ.

    (...) Mục tiêu của tổng thống Trump rất rõ ràng : Đó là làm suy yếu Cuba bằng mọi cách, kể cả việc cắt đứt các nguồn ngoại tệ mà La Habana đang cần để tài trợ cho các dự án khác. Ngay từ nhiệm kỳ đầu, Donald Trump đã chận đầu tư ngoại quốc vào Cuba, đánh vào ngành du lịch của hòn đảo này. Và từ đầu năm nay Washington liên tục ban hành thêm các biện pháp trừng phạt. Như thông lệ Cuba vẫn hô hào phải vùng lên chống đế quốc Mỹ, nhưng lần này, La Habana chủ động đàm phán với Hoa Kỳ. Đây là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy chế độ đang bị suy yếu. Dù vậy chúng ta không biết đôi bên đang thương lượng về những gì và Mỹ đàm phán với ai ».

    Yếu tố Nga và Trung Quốc

    Nhưng lật đổ chế độ Cộng Sản Cuba hay đem lại một sự thay đổi thật sự cho quốc đảo này không là nhiệm vụ dễ hoàn thành. Theo nhà nghiên cứu Jérome Leleu thuộc Trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội EHESS -Paris, bất chấp những căng thẳng và các biện pháp phong tỏa càng lúc càng cứng rắn mà Mỹ kiên trì áp đặt, liên hệ giữa Washington với La Habana từ năm 1960 đến nay chưa bao giờ « đứt quãng ». Cuba luôn đòi hỏi hai điều : Chấm dứt trừng phạt và trả lại căn cứ quân sự Guantanamo được đặt dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ từ khi Cuba giành được độc lập năm 1902.

    Về phía Washington, dưới danh nghĩa Nhà Trắng dù trong tay đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa cũng đều đòi La Habana trả lại tài sản cho các doanh nghiệp và tư nhân Mỹ đã bị chế độ Castro tịch thu từ sau cuộc Cách Mạng năm 1959.

    Vậy thì tổng thống Donald Trump với những áp lực trên nhiều phương diện nhắm vào Cuba từ đầu 2026 liệu có đạt được các mục tiêu mong muốn hay không ?

    Theo giới phân tích, câu trả lời là không vì Cuba dù mất đi nguồn cung cấp dầu hỏa quan trọng là Venezuela từ đầu năm đến nay, nhưng vẫn có thể trông cậy vào Nga và nhất là Trung Quốc. Trước hết là đối với Nga, trả lời đài RFI Pháp ngữ, Emmanuel Pietrobon, chuyên gia độc lập người Ý về châu Mỹ Latinh nhấn mạnh : Cuba là « vùng ảnh hưởng duy nhất của Nga trong vùng biển Caribe, cho nên Matxcơva dưới chế độ Cộng Sản Liên Xô trước kia hay của tổng thống Putin hiện tại đều phải bằng mọi giá yểm trợ La Habana ».

    « Nga cần hòn đảo nhỏ này để gây sức ép với Mỹ. Nói một cách ví von, chỉ cần bước ra ngoài ban công là người Mỹ có thể nhìn thấy sự hiện diện của Nga. Do đó, đối với Matxcơva, Cuba chiếm một lợi thế địa chiến lược, tương tự như là vị thế của Đài Loan đối với Washington trong vùng châu Á-Thái Bình Dương. Có thể nói, Cuba là một phiên bản của Đài Loan trong vùng biển Caribê. Ngoài khía cạnh địa chính trị, hòn đảo này còn có nhiều lợi thế về kinh tế. Cuba có dầu hỏa, nhưng vì bị cấm vận triền miên nên chưa từng được thăm dò, và đương nhiên là cũng chưa từng được khai thác.

    Rồi Cuba cũng có những nguồn dự trữ về cobalt, nickel và cũng có tiềm năng về đất hiếm… Tất cả những yếu tố đó cho thấy, Cuba chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng về địa chính trị đối với Nga (...) Cuba chỉ cách bang Florida một giờ bay. Hòn đảo này cũng làm một căn cứ không thể thiếu, với một vị trí then chốt và duy nhất để tiến hành các hoạt động dọ thám. Không phải tình cờ mà trong những năm gần đây, có lẽ và từ nửa sau thập niên 2010, tổng thống Nga, Vladimir Putin đã quyết định mở lại trung tâm thu thập thông tin tình báo bằng tín hiệu lớn nhất mà Liên Xô từng sở hữu trong giai đọan Chiến Tranh Lạnh: Đó là căn cứ Lourdes ». 

    Một quân bài để thương lượng về Ukraina 

    Nhất là vào thời điểm mà Nga cần đàm phán với Mỹ về Ukraina thì Cuba có thể là một lá chủ bài trong mắt điện Kremlin Emmanuel Pietrobon giải thích tiếp : 

    « Matxcơva nhất quyết gửi đến Washington một thông điệp chính trị. Vào lúc Donald Trump có ý định phân chia thế giới theo những vùng ảnh hưởng khác nhau, Nga muốn Hoa Kỳ hiểu rằng tham vọng đó chỉ có thể thành công nếu như Nhà Trắng công nhận Kremin cũng có quyền xây dựng những vùng ảnh hưởng của riêng mình. Do vậy, Cuba như thể là một đòn bẩy trong tiến trình đàm phán giữa Nga và Mỹ. Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, Liên Xô đã đặt tên lửa ở Cuba trong lúc mà Hoa Kỳ đặt tên lửa tại Châu Âu - nhất là tại Ý cũng như là để làm đối trọng với việc Mỹ đã điều vũ khí hạt nhân đến Thổ Nhĩ Kỳ. Giờ đây theo logic tương tự, Matxcơva dùng Cuba để mặc cả với Mỹ về Ukraina ».

    22 % nhập khẩu của Cuba phụ thuộc vào Trung Quốc

    Nhìn từ Bắc Kinh, Cuba là một đồng minh truyền thống lâu đời : Chính quyền Fidel Castro là quốc gia ở Tây bán cầu đầu tiên thiết lập bang giao với chế độ Mao Trạch Đông. Năm 2025,  chủ tịch Diaz Canel đến Bắc Kinh nhân kỷ niệm 65 năm bang giao hai nước. Về thương mại, từ đầu những năm 2000 Trung Quốc đã trở thành một trong những đối tác quan trọng nhất của Cuba, đứng trước cả Nga hay Venezuela. Cuba là « một trong những thị trường tiềm năng nhất của các nhà sản xuất pin mặt trời Trung Quốc ». Trung Quốc chiếm 22 % nhập khẩu của Cuba

    Ngoài ra, đối với ông Tập Cận Bình cũng như Vladimir Putin, giá trị chiến lược của Cuba chính là nhờ có vị trí sát cạnh Hoa Kỳ, một cửa ngõ quan trọng trong vùng biển Caribe.

    Do vậy giới quan sát cho rằng, không chắc Donald Trump đạt được mục đích đưa Cuba trở thành một « quốc gia thân thiện » với Hoa Kỳ. Không có gì bảo đảm ông sẽ được sử sách nhớ đến như một vị tổng thống vượt trội hơn tất cả những người tiền nhiệm, từ tướng Dwight David Eisenhower, tổng thống John Fitzgerald Kennedy, đến Bill Clinton, Barack Obama. Điều chắc chắn duy nhất là những tham vọng về địa chính trị của Washington trong vùng biển Caribe đã, đang và tiếp tục vấp phải những quyền lợi của Nga và Trung Quốc.

    Lịch sử cũng đã chứng minh rằng từ năm 1960 đến nay Cuba đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế. Mỗi lần « thoát chết trong đường tơ kẽ tóc » La Habana luôn được một « quý nhân phù trợ ». Trong giai đoạn chiến tranh lạnh điểm tựa chính là Liên Xô. Khi Liên bang Xô Viết tan rã thì từng bước đến lượt Venezuela, dưới thời hai tổng thống Hugo Chavez (1999-2013) và Nicolas Maduro chống lưng.

    Trung Quốc là một đối tác thương mại « không thể thiếu » của Cuba, cho nên trong cuộc đọ sức bất cân xứng lần này với chính quyền Trump, chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel có thể trông cậy vào điểm tựa là chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

    10 min

About Tạp chí kinh tế

From the publisher's feed

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

More shows like Tạp chí kinh tế

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

221 Listeners

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí tiêu điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí tiêu điểm

0 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Tạp chí văn hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí văn hóa

0 Listeners

Spiderum Official by Spiderum

Spiderum Official

25 Listeners

Tâm Sự Tài Chính by Trịnh Công Hoà

Tâm Sự Tài Chính

2 Listeners

Huynh Duy Khuong Show by Huỳnh Duy Khương

Huynh Duy Khuong Show

7 Listeners

Sách Nói Chất Lượng Cao by Voiz FM

Sách Nói Chất Lượng Cao

6 Listeners

More Perspectives by Duy Thanh Nguyen

More Perspectives

12 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners

Better Version by Better Version

Better Version

45 Listeners

điêu khắc bản thân by Chuyện đời Sales

điêu khắc bản thân

1 Listeners

Nguyễn Hữu Trí Podcast by Nguyễn Hữu Trí

Nguyễn Hữu Trí Podcast

24 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners