Tạp chí Kinh Tế

Tạp chí Kinh Tế

By RFI Tiếng ViệtBusiness
Download on the App Store

Tạp chí Kinh Tế episodes

  • Chiến lược dầu hỏa của Mỹ 2026

    Mỹ là mẫu số chung của nhiều biến cố xảy ra trên thị trường dầu hỏa thế giới trong một chục ngày đầu năm 2026 : Can thiệp quân sự và kiểm soát xuất khẩu dầu hỏa của Venezuela ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của Bắc Kinh. Là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng khác của Trung Quốc, Iran bị Hoa Kỳ đe dọa nếu đàn áp người biểu tình. Hải quân Mỹ bắt giữ một tàu chở dầu mang cờ Nga làm dấy lên lo ngại về một « cuộc chiến dầu hỏa » giữa hai nhà sản xuất và xuất khẩu nặng ký của thế giới. 

    Tổng thống Donald Trump đang tính toán những gì chưa đầy một năm đến kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ ? Sau các đòn « trừng phạt », và « thuế quan » đến lượt dầu hỏa trở thành công cụ phục vụ lợi ích an ninh và địa chính trị của nước Mỹ ?

    Sau nhiều tháng chuẩn bị, Mỹ đã can thiệp quân sự vào Venezuela. Ngay sau đó tổng thống Donald Trump thông báo chính quyền mới tại Caracas đã chuyển nhượng từ 30 triệu đến 50 triệu thùng dầu cho Hoa Kỳ, mở thêm van dầu cho dân Mỹ. Ông Trump cũng khẳng định Hoa Kỳ đã « lập tức »  kiểm soát các hoạt động xuất khẩu dầu hỏa, chiếm 90 % tổng kim ngạch xuất khẩu của Venezuela và Washington « sẽ tiếp tục cung cấp dầu của Venezuela cho Trung Quốc ».

    Mục đích đối nội trước bầu cử giữa nhiệm kỳ

    Báo tài chính The Wall Street Journal tiết lộ tổng thống Hoa Kỳ muốn giữ giá dầu ở ngưỡng 50 đô la một thùng, thay vì từ 60 đến 65 đô la một thùng như hiện tại. Lý do tháng 11/2026 cử tri Mỹ được kêu gọi bầu lại 35 thượng nghị sĩ và 435 dân biểu ở Hạ Viện. Bầu cử giữa nhiệm kỳ sau gần 2 năm cầm quyền là một « cuộc hẹn » quan trọng đối với mỗi tổng thống Hoa Kỳ, Donald Trump không là một ngoại lệ. Trong một năm qua, giá 1 gallon xăng tại Mỹ đã giảm 8 % và đây là dấu hiệu rõ rệt nhất giảm chi phí sinh hoạt tại Mỹ và cũng là một " phương tiện hiệu quả để chinh phục lá phiếu cử tri trước bầu cử giữa nhiệm kỳ (mid-term)". Đối với các nhà sản xuất của Mỹ, cái giá 50 đô la một thùng dầu cũng được coi là ngưỡng « có thể chấp nhận được » họ vẫn có lãi để tiếp tục khai thác.

    Ngay sau chiến dịch quân sự tại Venezuela, Donald Trump đã lập tức khuyến khích các tập đoàn dầu hỏa Hoa Kỳ đầu tư vào quốc gia Nam Mỹ này. Trả lời báo Le Figaro, chuyên gia về dầu hỏa, Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp nhấn mạnh không là yếu tố duy nhất, nhưng dầu hỏa là một chìa khóa trong quyết định của tổng thống Trump về Venezuela :  

    « Donald Trump rất rõ ràng và đã nhanh chóng hành động : chỉ trong vài ngày, Mỹ hoàn toàn làm chủ nguồn xuất khẩu dầu hỏa của Venezuela. Dầu hỏa ở đây là một trong những lý do thôi thúc Washington can thiệp vào quốc gia Nam Mỹ này, bên cạnh những vấn đề như là ma túy, nhập cư, hay tư tưởng chính trị của Caracas và nhất là những liên hệ giữa Venezuela với Trung Quốc cũng như với Iran ».

    Cũng tổng thống Trump kêu gọi các tập đoàn Mỹ mạnh dạn đầu tư vào Venezuela. Tuy là một trong những mỏ dầu tiềm năng nhất của thế giới và từng là một thành viên sáng lập của khối các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa, nhưng Venezuela đã đánh mất hào quang. Sản lượng hiện tại ước chừng từ 900.000 đến 1 triệu thùng mỗi ngày. Để so sánh thì một quốc gia dầu hỏa khác cũng đang bị phương Tây trừng phạt là Iran, năm 2024 cung cấp từ 3,2 đến 3,5 triệu thùng dầu một ngày. Do vậy theo chuyên gia Francis Perrin, viện IRIS trước mắt các tập đoàn năng lượng của Mỹ không hào hứng như tổng thống Trump mong đợi.

    « Các tập đoàn dầu hỏa Mỹ là những công ty tư nhân. Họ chạy theo lợi nhuận nhưng không nhất thiết phải nghe theo chỉ định của tổng thống Trump. Không phải vì ông bảo họ lao vào Venezuela mà họ nghe theo. Các tập đoàn này căn cứ vào một số điều kiện trước khi quyết định đầu tư. Những điều kiện đó gồm : ổn định chính trị lâu dài, bởi vì ngành công nghiệp dầu hỏa cần đầu tư rất nhiều, đầu tư hàng chục tỷ đô la và phải mất 10 -20 thậm chí là 30 năm mới mong lấy lại vốn. Điều kiện thứ nhì để bỏ vốn vào Venezuela là các hãng Mỹ cầm chắc phải có lãi. Điều đó có nghĩa là sẽ phải đàm phán rất chi tiết với Caracas về hợp đồng khai thác, hoạt động … Về điểm này quyết định sau cùng thuộc về Venezuela. Yếu tố thứ ba mang tính quyết định tùy thuộc vào những dự phóng của các tập đoàn dầu hỏa về thị trường vàng đen trên thế giới trong trung và dài hạn. Xu hướng hiện nay là thế giới dư thừa dầu hỏa, cung nhiều hơn cầu. Giá dầu do luật thị trường định đoạt và hoàn toàn không do Caracas hay Washington quyết định ».  

    Caracas đương nhiên phải chấp nhận

    Nhưng trong vấn đề dầu hỏa Venezuela, tổng thống Trump đã ghi được một bàn thắng quan trọng : Mỹ giành được từ tay chính quyền mới ở Caracas quyền quyết định về lượng dầu xuất khẩu của Venezuela. Chuyên gia về dầu hỏa Francis Perrin nhìn nhận đây là một thỏa thuận quá bất cân đối với Venezuela.  

    « Các giới chức Venezuela không có sự lựa chọn nào khác. Caracas bắt buộc phải chấp nhận đàm phán và để cho Hoa Kỳ quyết định Venezuela được xuất khẩu bao nhiêu dầu, bán cho ai và với giá nào. Điều đó có nghĩa là Caracas không thể áp dụng chính sách giá cả ưu đãi với Cuba và nhất là với Trung Quốc »

    Mục tiêu đối ngoại : Từ Trung Quốc đến Nga

    Mỹ là mẫu số chung của ba sự kiện gần đây nhất liên quan đến ngành dầu hỏa toàn cầu là từ vụ can thiệp quân sự ở Venezuela đến việc Hải Quân Hoa Kỳ tạm bắt giữ một tàu dầu của Nga, và nhất là những diễn biến tại Iran, một mỏ dầu khác của thế giới. Tuy không mới nhưng Nga và Trung Quốc là những mục tiêu quan trọng nhất các nhà chiến lược của MỸ đang nhắm tới. Francis Perrin viện IFRI phân tích :

    « Rõ ràng, Trung Quốc trong tầm ngắm của Hoa Kỳ khi Washington can thiệp quân sự vào Venezuela. Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ công bố tháng 12/2025 đã nhấn mạnh là không một cường quốc nào ngoài châu Mỹ và là những đối thủ của Hoa Kỳ được quyền sở những cơ sở mang tính chiến lược tại châu lục này. Với chính quyền Trump, dầu hỏa của Venezuela là một vấn đề chiến lược. Trung Quốc là khách hàng lớn nhất của Venezuela và lại mua dầu của nước này với giá rẻ. Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia của Nhà Trắng, Marco Rubio quan niệm thời kỳ đó đã chấm dứt ».

    Sự cố tàu dầu của Nga hôm 07/01/2025 bị bắt giữ từng làm dấy lên lo ngại Matxcơva sẽ trả đũa và có thể là bằng cách « cũng sẽ chặn bắt » các tàu dầu của Hoa Kỳ…. Nhưng kịch bản « một cuộc xung đột dầu hỏa » trực tiếp giữa Washington và Matxcơva tạm thời đã lắng xuống. Dù vậy giới phân tích lưu ý : Từ đầu những năm 2000, Nga đã thắt chặt quan hệ với Venezuela coi đây như một điểm nhất trong mục tiêu thách thức Hoa Kỳ đang dẫn dắt trật tự thế giới. Các ông Vladimir Putin và Hugo Chávez tận dụng mối quan hệ cá nhân tốt đẹp để thách thức Washington và mở ra một cánh cửa cho nước Nga tại châu Mỹ Latinh, như nhận định của Financial Times. Mua bán vũ khí và dầu hỏa là trọng tâm trong mối bang giao song phương. Do vậy giới quan sát đã ngạc nhiên trước phản ứng kín đáo của Nga khi Mỹ can thiệp vào Venezuela và bắt cóc tổng thống Maduro.

    Thực ra từ 2025 chính quyền Trump đã tìm cách chận nguồn thu nhập dầu của Nga. Rõ rệt nhất áp lực triền miên nhắm vào Ấn Độ. Nhà Trắng liên tục đòi New Delhi ngừng hay hạn chế mua vào dầu hỏa của Nga. 

    Ẩn số Iran 

    Trái lại thì lo ngại đang lớn dần khi mà tổng thống Mỹ dọa « can thiệp » kể cả bằng phương tiện quân sự vào Iran, đã khiến giới trong ngành thận trọng hơn hẳn. Trung Quốc là một trong những bên liên quan hàng đầu, do là khách hàng lớn nhất và gần như duy nhất, rất trung thành với dầu hỏa Iran. Năm ngoái Iran sản xuất dưới 3,5 triệu thùng dầu mỗi ngày và gần một nửa hoàn toàn chỉ để cung cấp cho Trung Quốc. 

    Giám đốc nghiên cứu của viện quan hệ quốc tế và chiến lược IRIS của Pháp nói đến mối liên hệ chặt chẽ giữa dầu hỏa và chiến tranh :

    « Dầu hỏa và chiến tranh luôn gắn liền với nhau : lúc thì dầu hỏa là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh, lúc thì đấy là một trong những lý do dẫn tới xung đột. Chiến tranh -như trường hợp của Ukraina từ đầu 2022 mang lại những hậu quả rất lớn đối với lĩnh vực dầu hỏa, năng lượng.  Trong mọi trường hợp dầu hỏa nuôi dưỡng chiến tranh bởi vì xe thiết giáp, chiến xa … chiến đấu cơ hay tàu chiến cũng đều cần phải có xăng dầu … Trong trường hợp của Venezuela, vàng đen chỉ là một trong những yếu tố đã thúc đẩy Hoa Kỳ can thiệp ».

    Tham vọng chiếm đoạt tài nguyên

    Trong thời đại « ảo » thế giới cần những tài nguyên « thực » hơn bao giờ hết, cho nên yếu tố địa chính trị và tham vọng tài nguyên thiên nhiên càng lúc càng gắn chặt vào nhau. Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu viện IRIS của Pháp kết luận.

    « Địa chính trị và tài nguyên thiên nhiên giờ đây gắn chặt vào nhau. Dầu hỏa là yếu tố quyết định trên bàn cờ năng lượng. Còn khoáng sản chiến lược thì đang nắm giữ chìa khóa trong những lĩnh vực then chốt như công nghiệp quân sự, công nghệ kỹ thuật số, công nghệ năng lượng sạch …Thế giới ảo ngày hôm nay thực ra rất cần những tài nguyên thực, những tài nguyên vật chất ».   

    Điểm nhấn trong hồ sơ dầu hỏa hiện nay là ba biến cố đang diễn ra từ đầu năm 2026, có thể báo trước những gì có thể xảy ra trong những tranh chấp tài nguyên ở mọi nơi trên thế giới, kể cả ở Biển Đông. 

    10 min
  • Can thiệp vào Venezuela : Mỹ đe dọa quyền lợi của Trung Quốc

    Một ngày trước khi bị Hoa Kỳ « bắt cóc » và đưa về New York, hôm 02/01/2025, tại phủ tổng thống Venezuela, Nicolas Maduro đã tiếp đặc sứ Trung Quốc đặc trách toàn khu vực châu Mỹ Latinh. Caracas là một cánh cửa quan trọng cho phép Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng khu vực sát cạnh với Washington. Trong cuộc đọ sức với Mỹ âm ỉ từ 2017 đến nay, châu lục này càng mang tính chiến lược với Trung Quốc.

    Chủ nợ và khách hàng lớn nhất của Venezuela

    « Chỉ trong vài giờ, Trung Quốc vừa mất đi một đối tác thân thiết và có lẽ là gần gũi nhất ». Chuyên gia về châu Á Marc Julienne, giám đốc điều hành trung tâm nghiên cứu Centre Asie thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRi nhận định như trên về vụ Mỹ can thiệp vào Caracas. Còn David Wurmser, nguyên cố vấn của phó tổng thống Hoa Kỳ Dick Cheney, nhận xét với báo tài chính Nhật Niekki Asia : Bắc Kinh phải cân nhắc lại chiến lược tại châu Mỹ Latinh và ở vùng biển Caribe sau vụ Mỹ bắt giữ tổng thống Maduro, đồng thời mất các nguồn dầu của Venezuela sẽ là một « tai họa » đối với đà tăng trưởng của Trung Quốc.

    Năm 2024, tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều đạt 6,4 tỷ đô la. Khoảng 70 % xuất khẩu dầu hỏa của Venezuela nhằm phục vụ thị trường Trung Quốc. Từ 2019, khi Washington ban hành lệnh cấm vận chính quyền Maduro, Trung Quốc đã trở thành khách hàng lớn nhất của Venezuela, nhất là thông qua các công ty « bình phong », giúp các đại tập đoàn năng lượng như Sinopec và PetroChina lách lệnh trừng phạt của Mỹ. Chỉ một mình Venezuela chiếm khoảng 10 % kim ngạch nhập khẩu dầu của Trung Quốc.  

    Theo các số liệu của cơ quan tư vấn chuyên về năng lượng Kpler, năm ngoái, Trung Quốc nhập khẩu gần 400.000 thùng dầu của Venezuela mỗi ngày, khối lượng này cao hơn 47 % so với hồi 2024 và trung bình Caracas bán cho Trung Quốc dầu với giá thấp hơn so với thị trường từ 12 đến 15 đô la/thùng.

    Từ đầu những năm 2000, Trung Quốc đã chú ý đến Venezuela dưới thời cố tổng thống Hugo Chavez. Với dự án Con Đường Tơ Lụa thế kỷ 21, Bắc Kinh từng bước trở thành chủ nợ chính của một đất nước đang nắm giữ gần 1/5 dự trữ dầu hỏa toàn cầu. Trong giai đoạn 2007-2013 Trung Quốc cấp 60 tỷ đô la tín dụng cho Caracas để đối lấy vàng đen, mua với giá rẻ.

    Mỹ gián tiếp phương hại tới quyền lợi của Trung Quốc tại Venezuela

    Trả lời kênh truyền hình Pháp France 24, nhà báo độc lập Paul Cabanis ghi nhận :

    « Chắc chắn Trung Quốc là mục tiêu Mỹ nhắm tới trong đợt can thiệp quân sự vào Caracas và đương nhiên là Washington quan tâm đến dầu hỏa của Venezuela. Đây là nơi nắm giữ 18 % dự trữ dầu của toàn thế giới, mà phần lớn còn chưa được khai thác. Từ nhiều năm qua, kinh tế Venezuela bị phong tỏa và trên nguyên tắc dầu hỏa bị cấm vận. Nhưng thực ra chính quyền Maduro vẫn bán dầu cho Cuba và nhất là cho Trung Quốc. Từ 2022, chính quyền Biden đã từng liên hệ  với Caracas, nhiều cuộc họp bí mật đã diễn ra để đưa tập đoàn dầu hỏa Chevron trở lại Venezuela ».

    Dầu hỏa, nhược điểm của Bắc Kinh

    Phát biểu chỉ vài giờ sau khi tổng thống Venezuela Nicolas Maduro và phu nhân bị dẫn độ sang Hoa Kỳ và bị tạm giam ở một nhà tù New York, nguyên thủ quốc gia Mỹ Donald Trump để ngỏ khả năng Trung Quốc tiếp tục nhận được dầu sản xuất từ Venezuela, nhưng đây mới chỉ là một tuyên bố kiểu « lời nói gió bay ». Hơn nữa, theo một số nhà phân tích, « không có gì chắc chắn là Bắc Kinh sẽ mặn mà với việc đặt trong tay Hoa Kỳ, nhất là trong bối cảnh hiện tại, một phần nhu cầu năng lượng vốn là củi lửa cho cỗ máy tăng trưởng của mình ».     

    Trên đài truyền hình Pháp - Đức Arte, phóng viên báo L’Humanité Luis Reygada đặc trách về khu vực châu Mỹ Latinh đưa ra một yếu tố khác cho thấy việc Mỹ can thiệp vào Venezuela tác hại đến lợi ích kinh tế của Bắc Kinh, những lợi ích không chỉ giới hạn trên lãnh thổ Venezuela :

    « Suốt 25 năm nay Venezuela luôn trong tầm nhắm của Hoa Kỳ. Mỹ không hài lòng từ khi Hugo Chavez (1999-2013) lên cầm quyền và giành lại quyền kiểm soát, quyền khai thác tài nguyên, đẩy các tập đoàn Mỹ ra ngoài. Cùng lúc Trung Quốc trở thành đối tác thương mại quan trọng thứ hai của toàn khu vực châu Mỹ Latinh. Bắc Kinh chăm chút cho mối quan hệ với các quốc gia trong khu vực này. Tháng năm vừa qua, Trung Quốc tổ chức thượng đỉnh tiến đón lãnh đạo 23 nước Nam Mỹ và trong vùng biển Caribe để bàn về hợp tác, đầu tư, để thảo luận về những phương án thoát khỏi ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Từ hơn một chục năm nay, Trung Quốc tăng cường hiện diện và ảnh hưởng tại châu Mỹ Latinh. Bắc Kinh đã lôi kéo được hơn 20 quốc gia trong vùng tham gia chương trình Một Vành Đai Một Con Đường, trong số này có Brazil và Colombia. Tổng thống Mỹ Donald Trump thực sự không hài lòng chút nào trước những tiến triển nói trên ».

    Công nghiệp dầu hỏa Venezuela cần tiền của Trung Quốc

    Về phần Andreina Flores,đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp RFI, ban tiếng Tây Ban Nha, bà giải thích việc Trung Quốc trở thành khách hàng quan trọng nhất dầu hỏa Venezuela là điều hiển nhiên:

    « Công nghiệp dầu hỏa của Venezuela gần như hoàn toàn sụp đổ từ nhiều năm qua. Để có thể hoạt động trở lại, để có lãi, thì trước tiên cần đầu tư rất nhiều, ước tính khoảng gần 120 tỷ đô la trong 10 năm. Số tiền quá lớn đó khiến các hãng Mỹ do dự. Hiện nay, mỗi ngày Venezuela sản xuất chưa tới 1 triệu thùng dầu, và 70 % trong số đó là để xuất sang Trung Quốc. Để so sánh, trong thập niên 1990, mỗi ngày Venezuela sản xuất hơn 3 triệu thùng dầu ».

    Nhà nghiên cứu về Hoa Kỳ Claire Nardon thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI giải thích thêm về thế thượng phong của các tập đoàn Trung Quốc trong lĩnh vực dầu hỏa Venezuela :

    « Mỹ khó mà đầu tư ồ ạt vào Venezuela, khó cạnh tranh nổi với các đối thủ Trung Quốc, bởi vì Trung Quốc không thiếu tiền và rất dễ dàng đầu tư ồ ạt vào châu Mỹ Latinh, cũng như vào châu Phi… Dù vậy đây không thực sự là một điều tốt với các quốc gia nhận tài trợ của của Bắc Kinh, vì Trung Quốc đối đầu tư lấy tài nguyên, dầu hỏa, kim loại của các đối tác »  …

    Mỹ cũng là một cường quốc dầu hỏa

    Về quan điểm cho rằng dầu hỏa là động lực quan trọng nhất thúc đẩy Hoa Kỳ khởi động chiến dịch quân sự cuối tuần qua nhắm vào Caracas, giới phân tích thận trọng hơn. Không ai phủ nhận Nhà Trắng đang ráo riết tìm kiếm các nguồn tài nguyên, nhưng Mỹ cũng là một quốc gia có dầu hỏa, có thêm dầu của Venezuela thì càng tốt, nhưng đấy không phải là yếu tố sống còn, mà chẳng qua chỉ là « chận đường trước mọi đối thủ » muốn lân la vào sát "sân sau" của Hoa Kỳ. Sử gia Florian Louis chuyên nghiên cứu về quan hệ quốc tế giải thích: 

    « Donald Trump chơi trò vừa đánh trống vừa la làng : một mặt ông có những tuyên bố nảy lửa và đẩy các nước ở châu Mỹ Latinh vào vòng tay Trung Quốc. Nhưng khi họ thân thiện và mở rộng quan hệ với Bắc Kinh thì Washington lại nổi dóa, đe dọa và trừng phạt những nước nào quá gần gũi với Trung Quốc. Đúng là châu Mỹ Latinh giàu tài nguyên thiên nhiên, giàu khoáng sản rất được Trung Quốc quan tâm. Nói rằng Mỹ nhòm ngó dầu hỏa của Venezuela chỉ đúng một phần, bởi vì bản thân Hoa Kỳ cũng có nhiều tài nguyên, dầu hỏa nhưng Mỹ chủ yếu là không muốn Trung Quốc lai vãng gần vùng lãnh thổ thuộc sân sau của mình, không muốn các tập đoàn Trung Quốc vào khai thác tài nguyên của Venezuela, nên chi bằng can thiệp trước thay vì để cho một quốc gia nào khác làm chủ tình hình ».

    Tuy không bằng Nga, nhưng Trung Quốc cũng là một nhà cung cấp vũ khí cho Venezuela. Báo Washington Post hồi tháng 10/2025 tiết lộ trong bối cảnh căng thẳng leo thang, Mỹ huy động tàu ngầm và tàu chiến đến vùng biển Caribe, túc trực ngoài khơi bờ biển Venezuela, chính quyền Maduro đã « khẩn cấp » yêu cầu Bắc Kinh tăng tốc hợp tác quân sự, chủ yếu là thúc đẩy tiến độ giao thiết bị radar cho Venezuela.

    Venezuela và 3 nguy cơ đợi chờ Trung Quốc

    Tạp chí tài chính Forbes số ra ngày 03/01/2025 lưu ý chiến dịch quân sự vừa qua của Hoa Kỳ đẩy Trung Quốc vào một thế kẹt dưới nhiều góc độ khác nhau : Dầu hỏa như vừa trình bày. Nhưng nguy hiểm hơn nữa là « chuỗi cung ứng của các nhà máy Trung Quốc tại châu Mỹ có nguy cơ bị xáo trộn » một khi mà xuất khẩu năng lượng của Venezuela có thể bị thay đổi « tùy theo hứng của chủ nhân Nhà Trắng »

    Điểm thứ hai, Trung Quốc cũng là chủ nợ chính của Venezuela hiện diện trong các lĩnh vực năng lượng và xây dựng cơ sở hạ tầng tại quốc gia Nam Mỹ này. Với gần 60 tỷ đô la tín dụng đã cấp cho Caracas dưới hai thời tổng thống Chavez và Maduro, giờ đây, khi quyền lực ở Venezuela do Hoa Kỳ « điều khiển », khoản nợ đó liệu có được hoàn trả hay không ? Chỉ riêng Ngân Hàng Phát Triển Trung Quốc đang nắm giữ từ 17 đến 19 tỷ đô la nợ của Venezuela theo thẩm định của Forbes.

    Cuối cùng, về mặt chiến lược và an ninh, Michael Sobolik, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Hudson, nhận định « toàn bộ tính toán khu vực của Trung Quốc đã bị đảo lộn », bởi vì trong nhiều năm, Đảng Cộng sản Trung Quốc coi Venezuela là bàn đạp tiến vào Tây Bán Cầu, vậy mà Hoa Kỳ đã bắt giữ Maduro chỉ vài giờ sau khi ông này tiếp đặc sứ Trung Quốc Khâu Tiến Kỳ (Qiu Xiaoqi). Hành động đó đương nhiên « vô hiệu hóa » mọi cam kết mà đặc sứ Trung Quốc có lẽ đã đưa ra với chính quyền Maduro.

    Dù vậy, trong mắt Ryan Hass, giám đốc Trung tâm Trung Quốc John L. Thornton tại Viện Brookings, tin vui đối với Bắc Kinh qua việc Mỹ can thiệp ở Caracas trong đêm 02/01/2026 là từ nay trở đi, Trung Quốc cũng có thể noi gương Hoa Kỳ, rộng đường hành động và sẽ cân nhắc lại những tính toán chiến lược đối với vùng eo biển Đài Loan và Biển Đông.

    10 min
  • Năm 2026, thời đại của "những kẻ săn mồi"

    Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nga đều là những cường quốc sử dụng sức mạnh để chiếm đoạt hoặc làm suy yếu các quốc gia, các vùng lãnh thổ hay nhóm khác. Đây là thách thức lớn nhất đối với thế giới trong năm 2026.

    Toàn cảnh kinh tế tiếp tục bị chi phối bởi những tham vọng của Trung Quốc về Biển Đông, Hoa Đông và eo biển Đài Loan, những tính toán chiến lược của Matxcơva đe dọa an ninh và ổn định của toàn châu Âu, vì chiến tranh thương mại do Mỹ khai mào, vì mục tiêu của chính quyền Trump « khôi phục lại thời kỳ vàng son » cho Hoa Kỳ.

    Các cuộc xung đột vũ trang, nguy cơ nổ ra cuộc chiến « khoáng sản chiến lược » phản ánh khuynh hướng chung của các thế lực mạnh nhất hiện nay về kinh tế, quân sự, hay chính trị. Phần còn lại trên thế giới, từ Canada, Brazil đến Úc hay khối ASEAN « cố gắng cầm cự », tránh chọc giận chủ nhân Nhà Trắng để hàng xuất khẩu sang Mỹ không bị đánh thuế cao hơn.

    Cho dù truyền thông quốc tế liên tục nói đến « nguy cơ Trung Quốc suy thoái », nhưng 7 nước công nghiệp phát triển nhất thế giới, kể cả Hoa Kỳ, vẫn muốn làm ăn với quốc gia hơn 1,4 tỷ dân này. Ảnh hưởng của Bắc Kinh với các khu vực từng được coi là sân sau của Mỹ, như các quốc gia Vùng Vịnh và nhất là châu Mỹ Latinh, ngày càng lớn.  

    Hai nền công nghiệp hàng đầu châu Á là Nhật Bản và Hàn Quốc cố gắng « thích nghi với những thách thức mới ». Ấn Độ thì vẫn lệ thuộc vào Nga cả về quân sự và năng lượng. Trong khi đó, Liên Âu và Anh Quốc, một trong ba đầu máy tăng trưởng của toàn cầu, trên mặt trận kinh tế lâm vào thế « lưỡng đầu thọ địch » : bị cả hàng hóa và công nghệ Trung Quốc cạnh tranh, còn người bạn tốt Hoa Kỳ thì vừa dùng đòn thuế quan để o ép Bruxelles, Luân Đôn và giữ Lục Địa Già trong thế phụ thuộc vào công nghệ cao của Mỹ.  

    Tại Nhà Trắng, chính quyền Trump theo đuổi mục tiêu mang lại hào quang cho nước Mỹ. Do vậy Washington tiếp tục « để mắt » đến vùng Groenland hiện do Đan Mạch quản lý, vì địa điểm chiến lược của quần đảo này sát với Bắc Cực, vì được cho là một vùng lãnh thổ giàu tài nguyên. Cũng nhằm « đưa Hoa Kỳ trở lại thời kỳ hoàng kim », chính quyền Trump đang giành lại ảnh hưởng trong vùng biển Caribe với mục tiêu sau cùng là « đẩy Trung Quốc ra khỏi khu vực Hoa Kỳ luôn coi là sân sau của mình ».

    Mỹ muốn gạt Trung Quốc ra khỏi châu Mỹ Latinh

    Mục tiêu này đang trở nên cấp bách khi biết rằng trong 25 năm qua tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều giữa Trung Quốc và các nước Trung và Nam Mỹ đã được nhân lên gấp 42 lần. Tháng 5/2025 nhân thượng đỉnh Trung Quốc và khối các nước châu Mỹ Latinh  (CELAC) Bắc Kinh đã cấp thêm 9 tỷ đô la tín dụng cho khối này. Theo giáo sư Emmanuel Véron chuyên gia về địa lý Học Viện Quân Sự Pháp -Ecole de Guerre « phần lớn các quốc gia trong vùng biển Caribe và Trung- Nam Mỹ đều xem Trung Quốc là một đối tác không thể thiếu, nhất là vào lúc Hoa Kỳ dưới nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Donald Trump đang cắt giảm mọi viện trợ quốc tế và đang chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự trong vùng biển Caribe.

    Ngân Hàng Phát Triển và Ngân Hàng Ngoại Thương Trung Quốc hiện là hai chủ nợ lớn nhất tại « sân sau » này của Mỹ. Từ 2005, hai ngân hàng này cấp hơn 120 tỷ đô la tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong khu vực này, để đổi lấy năng lượng và các loại khoáng sản từ than đá đến uranium.

    Khoảng 70 % sắt do Brazil sản xuất chỉ để xuất khẩu sang Trung Quốc. Trung Quốc cũng là nơi mua vào 60 % đồng của Peru hơn 45 % khoáng sản của Bolivia… Trong mối quan hệ này, Bắc Kinh, theo giáo sư Véron, hành xử như « một kẻ săn mồi » chiếm đoạt tài nguyên của các quốc gia đang phát triển sát cửa ngõ Hoa Kỳ. Tại châu lục này, từ 2000 đến 2025 « Trung Quốc đã từng bước thế chỗ các đối tác truyền thống là Mỹ và châu Âu (…), để trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của một số quốc gia như Brazil, Achentina hay Peru, Bolivia và Chilê ». Hơn thế nữa, theo thời gian, « Châu Mỹ Latinh và các nước trong vùng biển Caribe đã trở thành một lá chủ bài trong chiến lược rộng lớn của Bắc Kinh » để « bao vây » Washington.

    Cạnh tranh về công nghệ « khốc liệt hơn »

    Không nhất thiết phải là một nhà chiêm tinh, rất dễ đoán 2026 tiếp tục là một năm « căng thẳng », tăng trưởng và đầu tư qua đó bị tác động lây. Tanguy Struye de Swielande, giáo sư về quan hệ quốc tế Đại học Công Giáo Louvain - Bỉ, lưu ý từ khi Donald Trump lên cầm quyền trong nhiệm kỳ đầu sau cuộc bầu cử tổng thống 2016, « căng thẳng về địa chính trị, sự cạnh tranh về công nghệ … đều đã mở đường cho một trật tự thế giới mới » nhưng đây là một mô hình « đa cực » mà ở đó các thế lực « bảo vệ quyền lợi của mình và định hình lại các vùng ảnh hưởng » …

    Mỹ, Trung Quốc và Nga đều trong tư thế của những con ó « săn mồi », những « puissances prédatrices ».

    Chính vì muốn mở rộng ảnh hưởng của Nga với khu vực mà tổng thống Vladimir Putin đã khởi động chiến tranh xâm lược Ukraina, chiếm thêm lãnh thổ và tài nguyên của nước láng giềng.  

    Vì muốn khai thác tối đa những lợi thế của một quốc gia hùng mạnh nhất, mà tổng thống Trump đòi giành lại kênh đào Panama, đòi tuyên bố chủ quyền với từ Canada đến vùng tự trị Groenland do Đan Mạch quản lý. Cũng để khẳng định vị trí siêu cường, hai nền kinh tế hàng đầu thế giới là Hoa Kỳ và Trung Quốc đã lao vào một cuộc chiến thương mại, đọ sức về công nghệ và mở mặt trận « chiến tranh đất hiếm », chạy đua phát triển tiền ảo.

    Trung Quốc từ 2014 đã phát triển đồng tiền digital, tuy kết quả không như mong đợi nhưng rõ ràng là đã đi trước Bắc Kinh một bước. Theo giáo sư trường Paris School of Economics (PSE) Eric Monnet, Mỹ đang kỳ vọng vào tiền mã hóa để giành lại sân chơi đang bị Trung Quốc gặm nhấm và nhất là để ngăn ngừa khả năng nhân dân tệ cũng sẽ trở thành một đơn vị tiền tệ dự trữ, được hưởng những lợi thế « ngang hàng với đô la ». Trên đài truyền hình Arte, chuyên gia kinh tế Eric Heyer, giám đốc Đài Quan Sát Tình Hình Kinh Tế Pháp, đưa ra thêm một yếu tố vì sao tổng thống Trump lại rất phấn khởi với tiền Crypto:

    « Đồng tiền ảo có nhiều đặc điểm : Đầu tiên hết là không cần minh bạch, bất cứ ai cũng có thể giấu mặt để can thiệp. Đó là lợi thế không nhỏ cho các hoạt động bất hợp pháp. Yếu tố thứ nhì khiến ông Trump thích phát triển cryptocurrency là tỷ giá lên xuống rất mạnh, có nghĩa người ta cũng dễ làm giầu mà cũng dễ phá sản. Điểm thú vị thứ ba trong mắt tổng thống Mỹ là tiền digital không thuộc thẩm quyền của Cục Dự trữ Liên bang. Ông rất ghét định chế tài chính này ngay từ nhiệm kỳ đầu. Cho nên đây là cơ hội tốt nhất để Trump qua mặt Federal Reserve. Tiền ảo đáp ứng được tất cả những tiêu chuẩn này trong mắt tổng thống Hoa Kỳ và còn là công cụ cho phép thực hiện nhiều hoạt động không mấy minh bạch ».

    Châu Âu trong thế thủ

    Bên cạnh ba thế lực hàng đầu vừa nêu, cả ba đều trong tư thế của những « kẻ săn mồi », Liên Hiệp Châu Âu và Anh Quốc thực sự trong thế thủ. Giáo sư trường Khoa Học Chính Trị Paris Sébastien Yves Laurent đơn cử một trường hợp cụ thể cho thấy châu Âu hoàn toàn phụ thuộc vào công nghệ của Hoa Kỳ:

    « Từ 10-15 năm nay, ngân sách của Pháp dành cho công tác tình báo liên tục tăng lên ngay cả khi chi tiêu của nhà nước bị siết lại. Nhưng chúng ta cần biết nguồn vốn đó được sử dụng như thế nào. Tình báo là một hoạt động trong bóng tối với nhiều bí mật, dù vậy vẫn có thể phát hiện được là Pháp huy động khá nhiều phương tiện để đầu tư vào các công nghệ phục vụ cho những hoạt động tình báo. Hệ quả kèm theo là nguy cơ chúng ta lệ thuộc quá đáng vào các công nghệ mà bỏ qua những yếu tố khác. Tôi muốn nói là chúng ta sẽ tin tưởng quá nhiều vào công nghệ. Trong khi đó cốt lõi của lĩnh vực này là thu thập rồi phân tích thông tin. Công nghệ mới cho phép chúng ta phân tích một khối lượng dữ liệu rất lớn, nhưng thường đó là những nguồn mở. Do vậy công nghệ sẽ làm thay đổi hẳn cách xử lý thông tin trong ngành tình báo. Thêm vào đó các công cụ và công nghệ mà nhân viên tình báo châu Âu sử dụng cho đến nay là của Mỹ. Khác với nhân viên tình báo, các thiết bị điện tử và công nghệ sử dụng trong mục tiêu này không có tổ quốc ! »

    Chuyên gia Valérie Dagrand thuộc tổ chức Numeum, một hiệp hội chuyên về công nghệ số, cho biết thêm : 

    « Theo một công trình nghiên cứu rất xác đáng được công bố gần đây, 80 % cơ sở hạ tầng cũng như phần mềm sử dụng trong lĩnh vực digital không do các tập đoàn châu Âu cung cấp, mà là của Mỹ. Thành thử châu Âu rất chậm trễ trong mục tiêu tự chủ về mặt công nghệ. Khả năng chọn lựa của châu Âu do vậy cũng rất hạn hẹp ».

    Chính vì để khắc phục nhược điểm này châu Âu đã có một số sáng kiến để « tự chủ » hơn về công nghệ. Khai mạc hội nghị công nghệ tại Berlin hôm 18/11/2025, thủ tướng Friedrich Merz đã thông báo một khoản đầu tư 12 tỷ euro, nhưng đây chỉ là một giọt nước so với những phương tiện của các tập đoàn Silicon Valley.

    « Rõ ràng là các công ty châu Âu đóng một vai trò đầu tàu để đem lại những phát minh mới trong lĩnh vực digital. Cũng rất đáng mừng khi thấy có nhiều doanh nghiệp của Đức, Pháp và châu Âu tham gia, hưởng ứng hội nghị này và đã hăng hái đầu tư. Chung cuộc đã huy động được thêm hơn 12 tỷ euro đầu tư vào công nghệ số và điều đó chứng minh châu Âu có tiềm năng để phát triển những công nghệ mới  và từng bước tự chủ hơn trong lĩnh vực này ».

    10 min
  • Sôcôla Việt Nam tìm đường thâm nhập thị trường châu Âu

    Vào những ngày cuối năm, sắp đến Giáng Sinh và Tết Dương lịch, ở châu Âu người ta thường tặng cho nhau những hộp sôcôla, ít tiền thì mua những hộp sôcôla trong các siêu thi, sang hơn thì mua trong các cửa hàng sôcôla cao cấp. Năm 2025, thị trường sôcôla toàn cầu ước tính đạt khoảng 127 tỷ đôla, tăng nhẹ so với mức 123 tỷ đôla năm 2024, với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 4,8%/năm.

    Riêng ở Pháp, theo số liệu của nghiệp đoàn ngành sản xuất sôcôla, trong năm 2024, mức tiêu thụ trung bình là 12,3 kg/năm/hộ gia đình. Người Pháp có xu hướng tiêu thụ nhiều sôcôla đen hơn phần còn lại của châu Âu (30% so với mức trung bình 5% ở châu Âu).

    Cacao là nguyên liệu chính cho sôcôla. So với các khu vực sản xuất cacao lớn trên thế giới như châu Phi chiếm tới 71%, Trung Mỹ 11% và châu Á 18%, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có sản lượng nhỏ, chỉ khoảng vài nghìn tấn/năm.

    Ở Việt Nam, cacao được trồng chủ yếu tại các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung bộ. Tuy sản lượng nhỏ, cacao của Việt Nam có hương vị đặc biệt, được xem là rất phù hợp với các nhà làm sôcôla thủ công, nhưng cũng có nhiều tiềm năng về chế biến sôcôla cao cấp. Hạt cacao trồng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là có chất lượng hạng nhất thế giới.

    Mặc dù vậy, ngành chế biến sôcôla ở Việt Nam nói chung vẫn còn ở quy mô nhỏ. Các cơ sở làm sôcôla thủ công đa số là xưởng nhỏ, chủ yếu hướng đến khách du lịch, chứ chưa đủ năng lực cạnh tranh ở quy mô xuất khẩu lớn.

    Như vậy, sôcôla sản xuất từ cacao Việt Nam phải làm cách nào để thâm nhập được thị trường châu Âu nói chung và Pháp nói riêng ? Hôm nay, mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn với ông Francesco Trần Văn Liêng, chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc Công ty Cổ phần Cacao Việt Nam ( Vinacacao ):

    Thưa ông Francesco Trần Văn Liêng, trước hết xin ông cho biết là cacao Việt Nam có những đặc tính nào khác với cacao từ những khu vực khác trên thế giới?

    Cây ca cao thì trồng hơi khó, nó không thích khí hậu cao nguyên mà thích đồng bằng hơn. Cho đến bây giờ châu Âu vẫn phụ thuộc vào các nguồn cung từ Côte d'Ivoire và Ghana. Việt Nam nổi bật lên thành một quốc gia cung cấp hạt sôcôla mà chúng tôi gọi là premium, vì hạt cacao Việt Nam có 136 hương vị phản ánh thổ nhưỡng của quốc gia.

    Ví dụ Đồng bằng sông Cửu Long là nơi đất tốt, mưa nhiều, dồi dào phù sa, tạo ra hương vị mang tính chất fruity. Fruity tức là vị chua nhẹ, ngọt thanh, chứ không phải là giống như nutty. Nutty là của Côte d'Ivoire và Ghana, những vùng cao nguyên đất đỏ, hương vị của nó hạt khô.

    Cho nên Việt Nam tận dụng ưu thế này mà sản xuất ra những loại hạt sôcôla ngon và người châu Âu, đặc biệt là hãng Puratos, hay là Vinacacao của chúng tôi làm ra những thanh sôcôla có vị tương đối đặc biệt. Vì đất tốt mưa nhiều cho nên cơm xung quanh hạt cacao rất dày và khi chúng tôi ủ hạt thì độ ngọt thơm và chua nhẹ đi sâu vào trong hạt và lúc đó từ đó mình làm ra sôcôla.

    Những nhà nghiên cứu như của đại học Ghent của Bỉ tìm ra được 136 hương vị của hạt cacao Việt Nam. Đó là niềm hãnh diện rất là lớn khi mà hiện nay số 1, số 2 thế giới là Côte D'Ivoire và Ghana. Việt Nam về lượng thì không bằng, nhưng về giá thì lúc nào cũng cao hơn. Ví dụ như hiện nay với 6.000 đôla bạn có thể mua 1 tấn hạt cacao của Côte D'Ivoire và Ghana, chứ cacao Việt Nam thì phải trả tới 12.000 đôla.

    Giống như câu chuyện về cà phê. Ví dụ Brazil sản xuất rất nhiều hạt cà phê. Nhưng khi bạn uống cà phê thì bạn đi tìm những origin, những nguồn gốc như Colombia, Ethiopia hoặc Guatemala. Những quốc gia này làm ra những loại hạt mà nhiều hãng lớn như Starbucks bán với tư cách giống như single origin. Hạt cacao cũng vậy. Hạt cacao Việt Nam được xem như là single origin, tức là hạt cacao thuần Việt.

    Theo quan sát của ông thì hiện nay các cơ sở sản xuất sô cô la từ ca cao Việt Nam có quy mô như thế nào và họ đã sản xuất được bao nhiêu cũng như là đã xuất khẩu được sang những nước nào?

    Phần lớn các hãng sản xuất sôcôla hiện nay là 'small holders', tức là những người tương đối nhỏ và làm sôcôla mang hương vị hình hài của đất nước nhiều hơn, pha với những trái cây vùng nhiệt đới, đặc biệt là dừa. Đó là một thế mạnh và nói về quy mô thì đây là ngành không chạy theo số lượng, bởi vì nếu chạy theo số lượng thì rõ ràng mình đấu không lại những quốc gia như Côte d’Ivoire, Ghana hoặc Indonesia 

    Trong số những cơ sở hiện nay, chỉ có Vinacacao là 20 năm trong ngành, chúng tôi có quy mô khá là lớn và dẫn đầu được trong ngành, đặc biệt là ngành bán lẻ. Chúng tôi làm ra thành phẩm cuối cùng mà các bạn có thể thấy trong siêu thị lớn ở Việt Nam, ở các sân bay lớn.

    Chúng tôi sang Bỉ làm ăn theo kiểu hiệp thương về mutual, tức là họ bán hàng cho mình thì họ cũng phải mua gì của mình, hai bên cùng có lợi. Bằng cách đó chúng tôi thâm nhập vào thị trường của nhau, tức là mình mua những sản phẩm độc lạ, hay của Bỉ và Bỉ cũng sẽ mua lại những sản phẩm độc lạ, hay của Vinacacao. Đây là một  phương thức mà chúng tôi sử dụng để có thể thâm nhập vào những thị trường khó tính. 

    Các nhãn lớn mà các bạn thấy thì đều có mặt ở Việt Nam, nhưng ngành sôcôla trong nước thì có lợi thế là khống chế được chi phí sản xuất. Ví dụ Vinacao là trồng được cây ca cao, phát triển được vườn cây, chủ động được nguồn hạt, nó có khả năng chế biến sang sô cô la, có thể là phát triển thành phẩm, có thể xây dựng thương hiệu, thì nó sẽ tránh được những biến động cơ bản về giá cả. Đó cũng là một lợi thế mà Vinacacao và các doanh nghiệp nhỏ lẻ có thể khai thác.

    Nhưng để xâm nhập được thị trường châu Âu, sôcôla "made in Vietnam" phải đáp ứng những tiêu chuẩn gì?

    Để vào thị trường châu Âu, chúng tôi có những chiến lược khá là cụ thể. Thứ nhất, mình sẽ không đi về lượng, đặc biệt là mình không bán hàng trăm ngàn tấn, hoặc cả triệu tấn như Ghana và Côte d'Ivoire, mà chúng tôi chọn những hạt cacao premium và từ đó làm ra những loại sôcôla single origin. 

    Hiện nay Châu Âu có đặt ra những rào cản mới. Ngoài các tiêu chuẩn về an toàn vi sinh thực phẩm, hoặc chất lượng như ISO hoặc là FSSC, hiện nay cộng đồng chung Châu Âu, vì ý thức bảo vệ môi trường, đã đưa ra luật mới, áp dụng vào tháng 12/2025 này: Những hạt ca cao nào mà sản xuất từ vùng đất không phá rừng thì mới đạt tiêu chuẩn nhập vào châu Âu.

    Đây là một luật khó, nhưng nó lại tạo thuận lợi cho những quốc gia như Việt Nam, đi sau thì sẽ có chuẩn bị tốt hơn, còn những quốc gia đã có truyền thống gần 100 năm nay xuất khẩu hạt lấy từ nhiều nguồn khác nhau, từ rừng rậm hoặc phá rừng để trồng cây thì hiện nay giống như  là phải "sắp lại một bàn cờ mới".

    Các vùng đất Đồng bằng Sông Cửu Long từ xưa giờ được kiểm chứng rất rõ là không phá rừng. Đó là vùng canh tác tự nhiên của người Việt Nam mình có thể là từ vài trăm năm. Đó là thuận lợi rất lớn. Và khi mình lấy những certification, ví dụ như từ Rainforest Alliance, những tổ chức phi lợi nhuận dùng các không ảnh vệ tinh để biết được những vùng nào trong 14 năm vừa qua nhờ phá rừng mà có. Hoặc là những vùng nào trong 14 năm qua vẫn  không có tình trạng này. Khi có những chứng thư đó thì mình dễ được chấp nhận bởi các nước EU, những quốc gia tiêu thụ sôcôla nhiều nhất thế giới. 

    Chúng tôi được biết là vừa qua các ông có sang Pháp để thăm dò thị trường. Vậy thì qua chuyến đi đó, ông thấy là Vinacacao có thể thi hành những biện pháp nào để có thể thâm nhập thị trường Pháp dễ dàng hơn?

    Vừa rồi đại sứ Việt Nam, rồi bộ Công Thương, kết hợp với các hiệp hội ở Pháp về thực phẩm và đặc biệt là có sự tham dự của Monoprix, một hệ thống siêu thị khá lớn ở Pháp, chúng tôi có một buổi hội thảo rất có ý nghĩa  tại Paris. Trong buổi hội thảo đó, tôi cũng đặt vấn đề thương mại hai chiều, có nghĩa là những sản phẩm sôcôla nào ngon của Pháp thì chúng tôi sẵn sàng đưa về Việt Nam và đồng thời cũng đặt vấn đề là các ông hãy xem xét để có thể mua ngược lại.

    Rất may một đại diện của một hãng lớn là Valrhona, sở hữu thương hiệu La Maison du Chocolat Paris, rất quan tâm tới việc hợp tác để đem dòng sôcôla rất là ngon và đặc biệt của Việt Nam, premium về quality, để họ sẽ phát triển một dòng sôcôla riêng. Đồng thời tôi cũng sẽ tìm kiếm phương thức để đem về những sản phẩm thành phẩm của Châu Âu, đặc biệt là của Pháp. 

    Người ăn sôcôla châu Âu là người tiêu dùng có ý thức trách nhiệm, có nghĩa là họ hiểu được ăn sôcôla này có ảnh hưởng gì tới kinh tế địa phương, có gây bất cân bằng về cung cầu và gây thiệt hại cho lao động địa phương, có giúp phát triển được kinh tế địa phương không? Có gây ra sự không công bằng trong thương lượng giữa công ty châu Âu và và kinh tế địa phương không? 

    Người Việt Nam phải đưa đặc điểm rõ ràng của sôcôla Việt Nam đến người tiêu dùng châu Âu, trong đó có Pháp, để họ hiểu đây là một đặc phẩm có trách nhiệm. Khi ăn họ cảm thấy đã đóng góp được cho kinh tế địa phương tại những vùng kém phát triển hơn. 

    Thứ hai là hiện nay, với ý thức của người châu Âu về tiêu dùng xanh, về trách nhiệm xã hội, về ESG- Environmental (Môi trường), Social (Xã hội) và Governance (Quản trị doanh nghiệp) - doanh nghiệp Việt Nam ngay từ bây giờ, khi thiết kế sản phẩm phải chú ý rõ ràng nguồn gốc và các giấy tờ chứng minh là không thâm lạm về phá hoại môi trường, không thâm lạm về lao động trẻ em, không thâm lạm về các chất hóa học và trừ sâu. Tôi nghĩ đây là con đường mới và một tương lai mới cho sôcôla Việt Nam.

    11 min
  • 2025 : Kinh tế, đấu trường tranh giành ảnh hưởng địa chính trị

    Với một bức tường thành kiên cố, Trung Quốc tự tin lao vào một cuộc đối đầu với Mỹ ở mọi hiệp trong trận chiến thương mại mà tổng thống Trump khai mào ngay từ những ngày đầu trở lại Nhà Trắng. Liên Âu bị kẹt giữa 2 thế lực Mỹ-Trung. Sau gần 4 năm « tự chủ về năng lượng », Bruxelles bớt phụ thuộc vào dầu khí của Nga để dựa vào các nhà sản xuất Hoa Kỳ, trong lúc năng lượng tái tạo chưa thực sự cất cánh.

    Năm 2025 sắp khép lại, các chủ đề trên đây đã làm lu mờ những khu vực khác trên thế giới. Có rất ít bài phân tích về tác động hai cuộc chiến tại Ukraina và Gaza với toàn cầu. Khu vực Trung Đông, châu Phi … chỉ thi thoảng được nhắc tới, khi tổng thống Hoa Kỳ công du các quốc gia vùng Vịnh, hay khi ông triệu tập các lãnh đạo của châu Phi đến Washington ký một thỏa thuận ngừng bắn tại một châu lục « rất xa xôi » trong mắt ông Trump.

    Các hội nghị thường niên của khối BRICS quy tụ những nền kinh tế đang trỗi dậy, của hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN, diễn đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương APEC, các khối G7 hay G20 « chỉ họp hội nghị cho có lệ ». Tại G20 vừa qua ở Gyeongju, Hàn Quốc, tổng thống Mỹ đã vắng mặt. Donald Trump rời khỏi quốc gia Đông Bắc Á này sau thượng đỉnh Busan với lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình. Như thể về kinh tế, thế giới giờ đây chỉ còn lại hai cực là Mỹ và Trung Quốc.

    Trung Quốc, « too big to deal »

    Tháng 4/2025, sau ba tháng trở lại cầm quyền, tổng thống Mỹ dùng đòn « thuế đối ứng » mở một cuộc chiến thương mại với toàn cầu. Trong những tháng tiếp theo, từ Liên Hiệp Châu Âu đến Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc hay Việt Nam … hối hả cử phái đoàn sang Washington đàm phán, nhưng riêng Trung Quốc là một ngoại lệ.

    Sau nhiều vòng đàm phán với chính quyền Washington, các đối tác thương mại chính của Mỹ như Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc thở phào nhẹ nhõm thấy hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ trung bình bị áp thuế 15% thay vì 30-40% như ông Trump đã dọa ban đầu. Sắc lệnh điều chỉnh mức thuế đối ứng, được công bố hôm 01/08/2025, duy trì mức thuế 20% với hàng Việt Nam thay vì 46% như đã loan báo 4 tháng trước đó.

    Nhà Trắng khẳng định đánh thuế hàng nước ngoài cho phép thu về « hàng chục tỷ, thậm chí là cả ngàn tỷ đô la » cho nước Mỹ. và Donald Trump dự trù dùng số tiền khổng lồ đó để giảm thuế cho các hộ gia đình và doanh nghiệp, tăng chi tiêu xã hội và quốc phòng …

    Cố vấn thương mại của Nhà Trắng Peter Navarro chừng mực hơn khi cho rằng « dưới sự dẫn dắt sáng suốt của tổng thống » khi sử dụng các đòn thuế quan, « ngân sách Hoa Kỳ mỗi năm thu về được thêm 600 tỷ đô la ». Để so sánh, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ năm 2022 là 3.200 tỷ đô la.

    Trái lại, theo một nghiên cứu của đại học Yale, với mức thuế hải quan 25%, thu nhập của các hộ gia đình Mỹ sẽ bị sụt giảm từ 2.700 đô la đến 3.000 đô la mỗi năm.

    Trung Quốc chuyển từ thế « thủ » sang thế « công »

    Về phía Trung Quốc thoạt tiên đã nhường cho Hoa Kỳ tha hồ « leo thang » với những tuyên bố về hạn ngạnh thuế quan có lúc lên tới  240% … để rồi Bắc Kinh đổi chiến lược.

    Trung Quốc dùng đất hiếm để mặc cả với Donald Trump vào lúc Nhà Trắng có kế hoạch xây dựng « mái vòm vàng tự vệ » tựa như mái vòm chống tên lửa của Israel.   

    Chuyên gia kinh tế Alix Franguel Alves thuọc quỹ nghiên cứu German Marshall Fund of the United States tại Washington trên đài RFI ghi nhận chính sách thuế quan của tổng thống Trump đi theo logic giành lại vị trí trung tâm trên bàn cờ thương mại thế giới, vào lúc mà Hoa Kỳ trong thế nhập siêu « thường trực ». Thâm hụt mậu dịch của Mỹ năm 2024 lên tới 3.000 tỷ đô la và trên bàn cờ thương mại toàn cầu, Mỹ chỉ còn chiếm 13% .

    Năm 2025 là năm mà mô hình « kinh tế toàn cầu hóa » bị « phân mảnh »,  các khối kinh tế khu vực ngày càng đóng vai trò lớn hơn. Bên cạnh tranh luận ai được ai thua trong cuộc đọ sức thương mại này, hậu quả trước mắt là các đối tác của Hoa Kỳ đã hối hả khởi động lại hoặc đúc kết đàm phán về môt thỏa thuận tự do mậu dịch. Châu Âu bất chấp những chống đối trong nội bộ ký kết bằng được thỏa thuận tự do mậu dịch với khối các quốc gia châu Mỹ Latinh MERCOSUR.

    Trung Quốc chạy nước rút để thông qua những thỏa thuận « đối tác chưa từng có » với quần đảo Cook ở mãi tận Nam Thái Bình Dương, hay khởi động đàm phán với Kirghistan tại Trung Á. Cũng chính sách bảo hộ này của Mỹ đã thúc đẩy Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc xích lại gần nhau để hướng tới « đàm phán về một thỏa thuận tự do mậu dịch » giữa ba quốc gia Đông Bắc Á này.

    Thế rồi, trong lúc Hoa Kỳ bắt thế giới phải chạy theo những thông báo « sốc » gần như hàng ngày của Donald Trump, Bắc Kinh đã từng bước xây dựng mạng lưới công nghiệp và công nghệ để chuẩn bị đối đầu với Mỹ. Tiêu biểu nhất là Trung Quốc đang dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, nhiều nước châu Âu đang cố gắng học hỏi công nghệ chế tạo bình điện cho xe ô tô của Trung Quốc và đòi các đối tác Trung Quốc « chuyển giao công nghệ » trong các dự án hợp tác. Hơn thế nữa, ngay cả trong các mảng mà tưởng chừng Hoa Kỳ đang dẫn đầu, như trí tuệ nhân tạo, sản xuất máy chế tạo bọ điện tử tiên tiến nhất … thì Trung Quốc cũng đã tạo bất ngờ.

    Điểm đáng chú ý sau cùng trong cuộc đọ sức Mỹ Trung là vào lúc tổng thống Trump dùng đòn hù dọa và o ép các đối phương bằng sức mạnh kinh tế, thì ông Tập Cận Bình trong năm 2025 đã dùng đúng lá bài này kể cả đối với Donald Trump.

    Châu Âu bị kẹt giữa hai thế lực

    Năm 2025 vẫn là một năm mà tham vọng « tự chủ » về năng lượng, quốc phòng hay kỹ thuật số của toàn khối 27 nước châu Âu vẫn còn ngoài tầm tay. Trên đài phát thanh Pháp France Culture hôm 10/12/2025 chuyên gia Olivier Blanchard, nguyên kinh tế trưởng Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, lấy làm tiếc cho một khối quốc gia thịnh vượng và có nhiềm tiềm năng như Liên Hiệp Châu Âu :

     « Châu Âu đương nhiên gặp nhiều khó khăn, tất cả không đều do lỗi của ông Trump. Trước hết có những vấn đề nội bộ : Châu Âu đang đối mặt với hiện tượng các đảng cực hữu đang lên và cánh này không có khuynh hướng ủng hộ châu Âu. Hệ quả là Liên Âu bị tê liệt, không đưa ra được những quyết định dứt khoát. Đây thực sự là cả một vấn đề lớn với khối này, nhất là trong bối cảnh môi trường quốc tế bất thuận lợi vì hai thế lực Mỹ và Trung Quốc.

    Với Hoa Kỳ, Liên Âu không thực sự có vũ khí để mặc cả bất kỳ điều gì : Châu Âu không có đất hiếm như Trung Quốc và cũng không có bất kỳ một phương tiện nào để đánh trúng những nhược điểm của đối thủ này. Đó là một thực tế. Thế còn đối với Trung Quốc, thì đây tựa như một bàn billard 3 cú, tức là Mỹ đánh thuế hàng của Trung Quốc thì cũng sẽ ảnh hưởng đến Liên Hiệp Châu Âu. Lý do : Trung Quốc không thể xuất khẩu hàng sang Hoa Kỳ nên tăng tốc, ồ ạt xuất khẩu sang châu Âu. Châu lục này sẽ phải đối mặt với một làn sóng hàng Trung Quốc.

    Đối với nền công nghiệp của châu Âu, vấn đề chính là Trung Quốc. Bắc Kinh đã chủ trương phát triển một chiến lược khá tốn kém, tức là dùng rất nhiều tiền, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp để giúp họ phát triển. Đương nhiên trong số các doanh nghiệp được giúp đỡ cũng có không ít thất bại, thế nhưng, những ai mà đã thành công để vươn lên thì họ đã bắt đầu với những lợi thế vô cùng to lớn, vì được nhà nước giúp đỡ. Trong những điều kiện đó, rất khó để các tập đoàn châu Âu cạnh tranh lại được ».

    Nga-Mỹ ngầm bắt tay hợp tác trên lưng Ukraina

    Riêng có Ukraina là một hồ sơ mà chủ nhân Nhà Trắng liên tục theo dõi từ ngày đầu trở lại cầm quyền : Donald Trump từng khẳng định chỉ cần 24 giờ để chấm dứt chiến tranh, nhưng mọi việc kéo dài hơn ông mong đợi. Cũng trong nỗ lực vãn hồi hòa bình tại Ukraina, tổng thống Mỹ đã mời nguyên thủ Nga sang Alaska tháng 8/2025. Nhưng kết quả vẫn chưa đi đến đâu. Tổng thống Trump bắt đầu « mất kiên nhẫn » trên vấn đề Ukraina.

    Điều đó không cấm cản Washington và Matxcơva âm thầm thúc đẩy hợp tác kinh tế. Báo The Wall Street Journal tuần trước thậm chí cho rằng các dự án hợp tác kinh tế giữa hai bên hiện đã đạt mức độ rất cụ thể, liên quan trực tiếp đến một số nhà tài phiệt Nga, đến một mỏ khí đốt tại Sakhalin, tại vùng biển Okhotsk, thuộc vùng Viễn Đông Nga.

    Về phía Matxcơva, từ tháng 2/2025 tổng thống Vladimir Putin đã chủ trì một cuộc họp về khai thác đất hiếm và đã đề cập đến các mỏ tài nguyên tại « những vùng lãnh thổ mới » tên mà Matxcơva gọi các vùng lãnh thổ vừa chiếm được của Ukraina, và để ngỏ khả năng mời các đối tác Mỹ cùng tham dự.

    Căn cứ vào các thông tin từ báo tài chính Mỹ, vào lúc Hoa Kỳ gây áp lực với Ấn Độ đòi New Delhi ngừng hay hạn chế mua vào dầu hỏa của Nga, chính quyền Donald Trump lại âm thầm đàm phán với Matxcơva cũng về năng lượng và dầu khí !

    10 min
  • Dầu hỏa và vũ khí : Nga không thể đánh mất khách hàng Ấn Độ

    Bất chấp những áp lực của Hoa Kỳ, Ấn Độ vẫn mua dầu hỏa của Nga và Matxcơva vẫn là nguồn cung cấp năng lượng và vũ khí « đáng tin cậy » nhất cho quốc gia Nam Á này. Chuyên gia về địa chính trị Olivier Guillard thuộc viện nghiên cứu IEGA, Paris, nhận định tổng thống Vladimir Putin muốn khẳng định « quan hệ về năng lượng giữa Nga và Ấn Độ không bị áp lực quốc tế phá vỡ ».

    New Delhi lâm vào « thế kẹt » trong mối quan hệ tay ba Ấn-Nga-Mỹ nhưng không thể rời xa nguồn cung ứng « quan trọng nhất » đang bảo đảm 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu năng lượng cho toàn quốc.

    Tuần trước, trong chuyến công du Ấn Độ đầu tiên từ khi khởi động « chiến dịch quân sự » đặc biệt tại Ukraina, tổng thống Vladimir Putin vừa đặt chân đến New Delhi đã tuyên bố:« Nguồn dầu Nga cung dầu cho Ấn Độ sẽ tiếp tục mà không bị gián đoạn, bất chấp những áp lực từ bên ngoài ».

    Nga cung cấp 1/3 dầu hỏa cho Ấn Độ 

    Phải đặt tuyên bố này trong bối cảnh từ năm 2022 khi Nga xâm chiếm Ukraina, dưới tác động của các lệnh trừng phạt mà phương Tây ban hành, xuất khẩu năng lượng của Nga sang châu Âu - khách hàng quan trọng nhất, giảm gần 80 %. Các tập đoàn dầu khí của Nga lập tức chuyển hướng sang châu Á, trông cậy nhiều vào Ấn Độ và Trung Quốc. Cả hai đã trở thành những khách hàng quan trọng nhất. Riêng Ấn Độ, từ năm 2024 bất ngờ qua mặt Trung Quốc, nhập khẩu đến hơn 2 triệu thùng dầu của Nga mỗi ngày, chiếm hơn 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu năng lượng của Ấn Độ.

    Cuối tháng 8/2025 tổng thống Donald Trump áp đặt mức thuế bổ sung 50% lên toàn bộ hàng hóa Ấn Độ nhập khẩu vào lãnh thổ Hoa Kỳ. Mục đích của Washington là gây sức ép, để New Delhi bớt mua dầu hỏa của Nga bởi khoản giao dịch này góp phần tài trợ cho cuộc chiến mà Nga đang tiến hành ở Ukraina. Đây cũng là một trong những yếu tố làm xấu đi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ân Độ. Chủ nhân Nhà Trắng cho biết, ông được thủ tướng Narendra Modi cam đoan là Ấn Độ « ngừng mua dầu của Nga ». New Delhi hoàn toàn im lặng về điều này cho dù theo các thống kê của hải quan Ấn Độ, trong giai đoạn từ đầu tháng 9 đến ngày 21/11/2025, tổng kim ngạch nhập khẩu dầu Nga của Ấn Độ giảm đi 30 %.  

    Ấn Độ và chủ trương « không liên kết »

    Dầu hỏa là một trong hai hồ sơ quan trọng nhất trong bang giao giữa New Delhi và Matxcơva. Trả lời RFI Việt ngữ, chuyên gia Olivier Guillard thuộc Viện Nghiên Cứu về Địa Chính Trị Thực Hành -Institut d’Etudes de Géopolitique Appliquée -IEGA, Paris trước hết nhấn mạnh : tiếp đón trọng thể tổng thống Nga trong bối cảnh « cơm chẳng lành canh chẳng ngọt » với Mỹ, thủ tướng Modi thể hiện truyền thống không liên kết về đối ngoại của New Delhi. Hơn nữa hai hồ sơ lớn là năng lượng và quốc phòng luôn gắn chặt Ấn Độ với Nga :

    Olivier Guillard : «  Chuyến thăm ngắn ngủi 27 giờ của tổng thống Nga tại Ấn Độ diễn ra đúng như những gì hai nhà lãnh đạo Vladimir Putin và Narendra Modi đã tính trước. Đây là một cuộc tái ngộ giữa hai đối tác lâu năm và họ rất ăn ý với nhau. Cả hai đánh giá cao đối tác và cũng chính những tình huống khó khăn giúp New Delhi và Matxcơva dễ dàng tạo dựng một liên minh. Đôi bên đã ký kết nhiều thỏa thuận, đặc biệt là về thương mại. Hợp tác mậu dịch giữa Ấn Độ và Nga đã mở rộng tới mục tiêu nâng tổng trao đổi mậu dịch hai chiều lên ngưỡng 100 tỷ đô la từ nay đến khoảng năm 2030. Đương nhiên đây là chuyến thăm đầu tiên của Vladimir Putin đến Ấn Độ kể từ khi Nga phát động cuộc chiến tại Ukraina. Phương tây muốn thủ tướng Modi dùng ảnh hưởng để thuyết phục tổng thống Nga trong vấn đề này ».

    Chiến tranh Ukraina đã truất phế Ả Rập Xê Út khỏi vị trí nhà cung cấp số 1 về dầu hỏa cho Ấn Độ. Cuối năm 2021, chỉ có 2 % nhập khẩu dầu vào Ấn Độ là do các tập đoàn Nga cung cấp, nhưng tỷ lệ này đã tăng vọt lên tới 35 % và có lúc lên đến 40 % trong năm 2024. Theo tạp chính năng lượng Connaissances des Energies, về dầu hỏa Ấn Độ phụ thuộc đến 85 % vào Nga.

    Có ít nhất hai lý do giải thích cho « bước nhảy vọt » nói trên: Nga cung cấp dầu cho Ấn Độ với giá thấp hơn nhiều so với thị trường. Theo tờ báo mạng Lenergeek Ấn Độ đang mua vào dầu của Nga với giá thấp hơn đến 12 % so với giá một thùng dầu Brent. Điểm thứ nhì là Ấn Độ nhập khẩu dầu thô của Nga, bảo đảm công tác lọc dầu trước khi xuất khẩu trở lại sang châu Âu và một số nước châu Á như Nhật Bản. Tiêu biểu nhất là đầu tư của Ấn Độ vào công nghiệp lọc dầu tăng mạnh từ 2023 đến nay. Olivier Guillard, viện IEGA Paris phân tích thêm :

    Olivier Guillard : « Về năng lượng, New Delhi từng bị chỉ trích mua dầu của Nga với giá rẻ trong khi một phần lớn dầu xuất khẩu của Nga bị phương Tây trừng phạt. Hoa Kỳ đang đòi Ấn Độ bớt mua dầu của Nga và chuyển hướng đến các nguồn cung cấp khác. Trên thực tế chính quyền Modi đã nhượng bộ Mỹ phần nào. Do vậy mục tiêu chuyến công du New Delhi lần này của tổng thống Vladimir Putin nhằm cứu vãn quan hệ đối tác năng lượng Nga – Ấn trong tương lai. Matxcơva cần được bảo đảm là liên hệ về năng lượng giữa hai nước vẫn không bị áp lực quốc tế phá vỡ. Chính vì thế mà ông Putin tuyên bố Nga vẫn cung cấp dầu hỏa cho Ấn Độ ».

    70 % vũ khí của Ấn Độ do Nga cung cấp

    Đương nhiên hồ sơ quan trọng thứ hai và cũng đang chịu áp lực từ phía Mỹ là vấn đề quốc phòng : Hiện tại tổng trao đổi mậu dịch hai chiều giữa Ấn Độ và Nga đạt gần 70 tỷ đô la. Lãnh đạo 2 nước vừa cam kết nâng số này lên thành 100 tỷ trước ngưỡng năm 2030. Nhưng đây là một cán cân thương mại hoàn toàn bất lợi cho New Delhi.

    Nga do bán vũ khí và năng lượng xuất khẩu đến 64 tỷ đô la sang Ấn Độ năm ngoái, trong chiều ngược lại chỉ mua vào có 5 tỷ đô la hàng Made in India. Trước ngày tổng thống Putin gặp lại thủ tướng Modi ở New Delhi, Matxcơva để ngỏ khả năng đôi bên sẽ chính thức thông báo một loạt các hợp đồng vũ khí và thiết bị quân sự hạng nặng, nhưng theo các nguồn thạo tin, cho đến hôm nay, vẫn chưa có thêm thông tin về hợp đồng Matxcơva cung cấp tên lửa địa đối không tầm xa S-400 hay chiến đầu cơ Su-57 thế hệ mới nhất cho New Delhi. Một nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm SIPRI trong thời gian từ 2010 đến 2017, 70 % đơn đặt hàng của Ấn Độ đều dồn cho các nhà cung cấp Nga, nhưng từ khi Matxcơva chiếm bán đảo Crimée của Ukraina, New Delhi bắt đầu đa dạng hóa các nguồn cung cấp, đặc biệt chuyển hướng tới các tập đoàn của Mỹ, Israel và của Pháp.

    Ấn Độ, « khách hàng Matxcơva không thể đánh mất »

    Trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng, thông điệp của tổng thống Vladimir Putin tuần trước với New Delhi cũng rất rõ ràng, như chuyên gia về địa chính trị viện IEGA Olivier Guillard nhận định :

    Olivier Guillard : « Hồ sơ lớn thứ hai, như thường thấy trong các cuộc thảo luận chiến lược giữa Nga và Ấn Độ, là vấn đề quốc phòng. Trong nhiều thập niên, Liên Xô xưa kia và nước Nga ngày nay luôn là nguồn cung cấp chính các trang thiết bị quân sự hạng nặng cho Ấn Độ — đặc biệt là máy bay chiến đấu, máy bay ném bom, cũng như các hệ thống phòng thủ tên lửa.

    Ấn Độ muốn tiếp tục hưởng lợi từ quan hệ đối tác này, bởi vì khi mua các hệ thống vũ khí hoặc máy bay chiến đấu, công tác bảo trì và theo dõi thiết bị kéo dài hàng chục năm; không thể « cắt đứt ngay lập tức » trong một sớm một chiều. Trong gần hai chục năm qua, New Delhi vẫn tương đối trung thành với nhà cung cấp Nga, nhất là trong bối cảnh quan hệ giữa New Delhi và Washington trở nên căng thẳng gần đây. Tương tự như trên vế năng lượng, Vladimir Putin đến Ấn Độ cũng là để nhắc nhở rằng Nga là một nhà cung cấp vũ khí đáng tin cậy ».

    Cuối cùng nhà địa chính trị học Guillard nhìn nhận vị trí khá tế nhị của thủ tướng Modi trong một ván cờ tay ba giữa Nga, Mỹ và Ấn Độ nhưng về năng lượng cũng như hợp tác quốc phòng, Vladimir Putin và Narendra Modi cùng muốn gửi đến tổng thống Donald Trump một thông điệp: Chính sách đối ngoại của Matxcơva hay New Delhi đều không do Hoa Kỳ định đoạt. Riêng đối với điện Kremlin, trên cả hai vế năng lượng và quốc phòng, Ấn Độ là « khách hàng không thể đánh mất ».  

    Olivier Guillard : « Ngay hôm Thứ Hai, 08/12/2025 sau khi nguyên thủ Nga rời khỏi Ấn Độ, New Delhi đã tiếp nhiều quan chức Mỹ như thể để cân bằng lại mối quan hệ đồng thời trình bày về những gì đã thảo luận giữa thủ tướng Narendra Modi và tổng thống Vladimir Putin. Điều đó cho thấy Ấn Độ thận trọng giữ thế cân bằng giữa Nga và Mỹ. Tuy nhiên, New Delhi và Matxcơva đã ký một loạt thỏa thuận nhằm củng cố quan hệ đối tác kinh tế và và hợp tác song phương khá đa dạng chứ không chỉ bị thu hẹp ở các lĩnh vực năng lượng và quốc phòng. Hai đối tác lâu đời này muốn chứng minh rằng chính sách đối ngoại của mỗi bên không do Hoa Kỳ quyết định, và lợi ích của Ấn Độ cũng như của Nga không để Nhà Trắng chi phối. Trong cái thế tam giác giữa Ấn Độ - Mỹ và Nga, đến nay New Delhi vẫn giữ được thế chủ động, nhưng cũng có thể là chính quyền Modi được nhắc nhở là Mỹ không mấy hài lòng ».

    9 min
  • Cryptocurrency : Mặt trận mới trong cuộc chiến tiền tệ Mỹ-Trung

    Stablecoin neo giá theo đồng đô la là một vũ khí chiến lược mới của Washington. Với Genius Act, chính quyền Trump trang bị cho nước Mỹ thêm một công cụ để mở rộng ảnh hưởng của đồng đô la. Tiền ảo Cryptocurrency là một mặt trận mới trong cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

    Chính sách kinh tế trong nhiệm kỳ hai của tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và những cuộc xung đột quân sự trên thế giới, sự đối đầu giữa hai siêu cường kinh tế toàn cầu và mức nợ công khổng lồ của Mỹ từng bước làm lung lay hệ thống tiền tệ quốc tế, vốn đã được đình hình từ sau Đệ Nhị Thế Chiến.

    Lợi thế áp đảo của đồng đô la với phần còn lại trên thế giới có khuynh hướng bị nhân dân tệ của Trung Quốc lấn át. Để làm chủ lại tình hình, Washington đặt cược vào công nghệ số và tiền digital Cryptocurrency. 

    Xa lánh đô la ? 

    Tháng 4/2025, tổng thống Donald Trump thông báo áp dụng chính sách « thuế đối ứng » với toàn cầu. Lập tức các chỉ số chứng khoán lao dốc. Cùng lúc hai chủ nợ lớn của Mỹ là Nhật Bản và Trung Quốc mạnh tay bán ra một số công trái phiếu của Hoa Kỳ mà Tokyo và Bắc Kinh đang nắm giữ. Bên cạnh đó là những tuyên bố của chủ nhân Nhà Trắng thách thức tính độc lập của Ngân Hàng Trung Ương và mức nợ khổng lồ của chính quyền liên bang khiến đồng đô la mất giá.

    Ba tháng sau, tổng thống Trump ban hành sắc lệnh Genius Act thiết lập một khung pháp lý toàn diện cho các loại tiền mã hóa, mà tỷ giá được gắn chặt vào với đồng đô la.

    Đà phát triển của các công nghệ kỹ thuật số đang làm thay đổi toàn cảnh tài chính tại Hoa Kỳ. Donald Trump từ trước khi ra tranh cử nhiệm kỳ thứ hai, ông và gia đình đã phát hành một đơn vị tiền tệ ảo cá nhân. Tại Nhà Trắng, ông chủ địa ốc New York này muốn biến nước Mỹ thành « quê hương của tiền điện tử », đặc biệt là của tiền ảo Stablecoin và cũng để sử dụng công cụ này như một vũ khí ngoại giao và địa chính trị.

    Đâu là những lợi thế và rủi ro của Cryptocurrency ? Mỹ đang tính toán những gì và đây phải chăng là mặt trận mới trong cuộc đọ sức với Trung Quốc ?

    Trên đài phát thanh Pháp France Culture hôm 15/11/2025, chuyên gia về tiền tệ Olivier Blanchard, nguyên kinh tế trưởng Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF cho rằng chính sách kinh tế, các đòn thuế quan của tổng thống Trump khiến cộng đồng quốc tế có khuynh hướng giữ khoảng cách với đô la Mỹ : 

    « Từ khi Trump trở lại cầm quyến, mọi người bắt đầu tự hỏi, mua công trái phiếu kỳ hạn 10 hay 20 năm do kho bạc Mỹ phát hành có còn là điều hợp lý và an toàn nữa hay không. Mặt khác, vấn đề là nếu không đầu tư vào Mỹ, vào công trái phiếu của Hoa Kỳ, thì giới tài chính có nhiều lựa chọn nào hay không ?

    Nhìn sang thị trường châu Âu, tiềm năng của cả khối này gộp lại có vẻ cũng có triển vọng. Nhưng hiện tại Đức, Pháp đơn phương phát hành công trái phiếu. Riêng Eurobond thì vẫn còn ở quy mô rất hạn hẹp. Cụ thể là vào lúc thị trường công trái phiếu của Mỹ là 30.000 tỷ đô la thì khối Euro mới chỉ phát hành 1.000 tỷ euro công trái phiếu, tức là thị trường châu Âu chỉ bằng 1 phần 30 so với của Hoa Kỳ. Do vậy trước mắt, tôi cho rằng đô la vẫn có giá trị ổn định cao và vẫn là một đơn vị dự trữ an toàn ».

    Giới hạn từ việc chính trị hóa đồng đô la

    Có điều ngoài đồng đô la ra thì cũng không một đơn vị tiền tệ nào đủ sức cạnh tranh với đồng tiền của Mỹ. Đó là lý do Washington từ trước tới nay chưa bao giờ ngần ngại khai thác các lợi thế của đô la vì mục tiêu địa chính trị. Kinh tế gia Hélène Rey, trường quản trị kinh doanh London Business School trả lời đài France Culture :  

    « Do đô la là một đồng tiền được sử dụng rất rộng rãi trong các giao dịch quốc tế, cho nên khi Hoa Kỳ dùng đô la như một vũ khí vì những mục tiêu địa chính trị - như việc cắt Nga khỏi hệ thống giao dịch của các ngân hàng quốc tế SWIFT, do tầm quan trọng của đồng đô la, đồng tiền của Mỹ trở thành một vũ khí cực kỳ mạnh. Chính ở đây ta thấy điểm giao thoa giữa quyền lực, quan hệ quốc tế và tài chính. Và bởi vì vũ khí này quá mạnh, cho nên một số quốc gia – như Trung Quốc và trước đó là Nga, đã cố gắng thoát khỏi hệ thống tiền tệ truyền thống này để xây dựng những hệ thống song song ».

    Mỹ cũng dùng đòn chia để trị

    Cũng trong khuôn khổ chương trình của đài France Culture, Eric Monnet giáo sư trường Paris School of Economics (PSE) nhấn mạnh : Washington đang kỳ vọng vào tiền mã hóa để giành lại sân chơi đang bị Trung Quốc gặm nhấm : 

    « Ngày càng có ít quốc gia chấp nhận đồng đô la như một đồng tiền sử dụng trên thực tế. Chính điều đó có lẽ khiến Hoa Kỳ lo ngại. Washington cảm thấy ảnh hưởng của đô la đang bị thu hẹp lại và nhất là nhiều quốc gia dưới áp lực của Bắc Kinh muốn khẳng định họ tự chủ trên phương diện tiền tệ, để bớt phải phụ thuộc vào đồng tiền của Mỹ. Một lần nữa trên hành trình đi tìm ‘sự độc lập’ này, Trung Quốc đã chủ động và lại còn chứng tỏ tính ưu việt của mình. Bắc Kinh có sức thuyết phục để nhiều quốc gia trên thế giới tin tưởng hơn vào Trung Quốc, tin tưởng có thể phát triển mà không  phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Chính vì vậy mà Washington muốn giành lại thế thượng phong, giành lại ảnh hưởng cho đơn vị tiền tệ của Hoa Kỳ và đã có những cử chỉ thân thiện với Achentina hay El Salvador, những nước có lập trường thân Mỹ. Chúng ta biết tính cách của Donald Trump ông chỉ muốn đàm phán song phương để áp đặt đối phương phải hành động theo các quy tắc do ông áp đặt ».

    Nguy cơ khủng hoảng tài chính ngân hàng

    Về câu hỏi sử dụng các loại tiền mã hóa, có nguy hiểm hay không, Olivier Blanchard đưa ra hai yếu tố để trả lời.

    « Nhìn từ góc độ của các ngân hàng, tiền ảo thực sự là một thảm họa. Hai mối nguy hiểm lớn liên quan đến Stablecoin đặt ra là thứ nhất nếu các thân chủ ồ ạt dùng tiền ảo này, thì họ sẽ rút tiền ủy thác khỏi các ngân hàng, tức là các ngân hàng không còn vốn để hoạt động, không thể cấp tín dụng, không thể sinh lời … Đe dọa thứ hai, là khi có Stablecoin trong tay, người ta dễ mang đi đầu tư ở những nơi khác để kiếm lãi. Hiện đã mọc lên rất nhiều những trang quảng cáo rất ‘hời’, hứa hẹn những mức lãi rất cao. Nhưng bỏ tiền vào đó có an toàn hay không ? Bởi vì những điểm đến đầu tư đó, phần lớn không có ai quản lý. Các hoạt động tài chính đó hoàn toàn nằm ngoài các khuôn khổ quản lý của các giới chức có thẩm quyền. Thành thử người ta dễ bị lừa, dễ mất tiền. Từ đó nảy sinh mầm móng của một cuộc khủng hoảng và đó cũng là thêm một rủi ro nghiêm trọng đe dọa toàn bộ hệ thống tài chính, ngân hàng ».

    Xung đột lợi ích cá nhân và nghi ngờ tham nhũng

    Tuy nhiên trong trường hợp của đạo luật đầu tiên tại nước Mỹ về Cryptocurrency được tổng thống Trump ban hành, giáo sư Eric Monnet nêu bật hai nghi vấn liên quan đến đạo luật Genius Act : 

    « Trump quyết liệt thúc đẩy đạo luật Genius Act, đặt nền tảng pháp lý cho các hoạt động trong lĩnh vực Cryptocurrency. Nhưng ở đây có vấn đề xung đột lợi ích. Một là người ta cho rằng tổng thống Trump đã tạo ra một khung pháp lý vì lợi ích cá nhân và của gia đình ông.

    Thứ hai, qua các tiết lộ trên báo chí - là điểm mà hiện nay nhiều người thậm chí cho rằng đó là hành vi mang tính chất tham nhũng. Thí dụ như trường hợp đang được bàn luận nhiều nhất hiện tại là việc một quỹ đặc biệt thuộc chính phủ Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đã mua lại 2 tỷ đô la tiền điện tử do chính tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và gia đình ông phát hành. Lạ thay là chỉ vài ngày sau đó, Washington đã dỡ bỏ một lệnh cấm xuất khẩu trước đây liên quan đến các dòng chip mà tập đoàn Nvidia sản xuất, đó là loại bỏ điện tử thiết hiếu trong lĩnh vực công nghệ trí tuệ nhân tạo. Hoa Kỳ từng viện lý do ‘an ninh quốc gia’ cấm xuất khẩu loại chip này sang Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất nhưng sau khi Abou Dabi mua vào 2 tỷ đô la tiền ảo do tổng thống Mỹ và gia đình ông Trump phát hành thì vương quốc Trung Đông này lại được nhập khẩu chip của Nvidia. Ngoài ra Donald Trump đã nhiều lần nhấn mạnh rằng đầu tư và mua vào đồng tiền ảo của gia đình Trump là một hành động chứng minh cho lòng yêu nước ».   

    Cơ hội trốn thuế và phát triển các hoạt động phi pháp

    Hélène Rey đưa hai nguy cơ khác khi sử dụng các loại tiền crypto. Mối nguy hiểm thứ nhất mang tính trừu tượng với đa số công luận, là khi dùng tiền ảo, stable coin mà tỷ giá được gắn chặt vào đồng đô, thì một nền kinh tế đang trỗi dậy khó mà tự động điều chỉnh chính sách tiền tệ của mình. Nhưng hiểm họa thứ nhì dễ hiểu hơn như Hélène Rey giải thích :

    « Đây chính là công cụ để trốn thuế, để lẩn tránh mọi hình thức kiểm soát vốn, mọi quy luật tài chính, tiền tệ. Hệ quả kèm theo là biến tiền ảo stablecoin thành một công cụ phổ biến sử dụng trong các loại giao dịch phi pháp, trong các đường dây dark web. Các hoạt động phi pháp kiểu này được thuận lợi và càng dễ phát triển hơn và tôi nghĩ điều đó sẽ đem lại nhiều hệ quả đối với kinh tế vĩ mô ». 

    Tham vọng của Bắc Kinh

    Riêng trong trường hợp của Trung Quốc, Hélene Rey gắn liền việc Bắc Kinh phát triển đồng tiền ảo với mục đích quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, để bớt phụ thuộc vào đô la Mỹ. Từ 2014 Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã phát triển đồng nhân dân tệ digital :

    « Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) cũng là ngân hàng trung ương đầu tiên triển khai một dạng tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC). Tuy nhiên họ không thật sự thành công vì bị chính các đồng tiền ảo do các tập đoàn như Tencent và Alibaba cạnh tranh. Họ cũng không cạnh tranh lại với những ứng dụng như tức Alipay và WeChat Pay, vốn đã rất phổ biến và được dân Trung Quốc sử dụng rộng rãi từ lâu nay. Điều đó không cấm cản Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc giành lại quyền kiểm soát và đã cho phát hành đồng nhân dân tệ kỹ thuật số. Có lẽ định chế này và giới lãnh đạo ở Bắc Kinh đang đặt cược vào công nghệ để thúc đẩy hơn nữa việc quốc tế hóa đồng nhân dân tệ ».

    Giành lại hào quang sợ bị đánh mất 

    Eric Monnet cũng đồng quan điểm. Ông cho rằng Washington đang đẩy mạnh việc phát triển tiền crypto trước hết là để giành lại ảnh hưởng đang bị mai một của đô la, và nhất là muốn tránh để bị Trung Quốc lấn sân và cũng được hưởng « những lợi thế vô cùng to lớn » nếu như nhân dân tệ trở thành một đơn vị tiền tệ quốc tế, một đơn vị dự trữ an toàn.

    « Chiến lược hiện nay của Bắc Kinh là làm thế nào để ngày càng nhiều quốc gia sử dụng đồng nhân dân tệ trong các giao dịch thương mại. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc chủ trương cấp tín dụng cho các quốc gia khác và một khi họ vay được tiền của Trung Quốc thì sẽ nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc, thanh toán bằng nhân dân tệ.  Vấn đề đặt ra là từ trước tới nay, Bắc Kinh áp dụng chiến lược này với những quốc gia chịu ảnh hưởng của Trung Quốc về mặt địa chính trị địa chính trị của mình, như với Bắc Triều Tiên, Mông Cổ hay gần đây hơn là với Nga. Đó cũng là những quốc gia ít hoặc gần như không dùng đô la. Nhưng khi Bắc Kinh áp dụng chính sách này với những đối tác ngoài vùng ảnh hưởng, như là với Brazil hay Chilê … thì những quốc gia liên quan họ cần được bảo đảm rằng nếu như có trục trặc, dự trữ tiền tệ họ có trong tay vẫn có thể được chuyển sang thành những đơn vị tiền tệ khác. Đó là lợi ích khi sử dụng tiền ảo như stable coin. Hơn nữa đây cũng là lý do vì sao mà Trung Quốc vẫn luôn nắm giữ rất nhiều đô la Mỹ ».

    10 min
  • Mối quan hệ « cận huyết » và nguy cơ vỡ bong bóng AI

    Sau những « bong bóng » tin học, internet hay địa ốc, giờ đây đến lượt bong bóng AI đe dọa lại đẩy thế giới vào một cuộc khủng hoảng tài chính. Nhiều ngân hàng lớn từ đầu tháng 10/2025 liên tục báo động trước một kịch bản tai hại khi mà nhiều tập đoàn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo dù thua lỗ bạc tỷ nhưng vẫn thu hút đầu tư, cổ phiếu trên các sàn chứng khoán vẫn được trao đổi với những cái giá « trên trời ».

    Những lo ngại đó bắt nguồn từ đâu, căn cứ trên những cơ sở nào, hiện tượng « vết dầu loang » lần này tai hại đến đâu và liệu đã quá trễ để ngăn chận kịch bản tệ hại nhất ?

    Lạc quan thái quá

    Hôm 18/11/2025 chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Google, Sundar Pichai, người đang đầu tư đến 90 tỷ đô la từ đầu năm 2025 để phát triển AI nhìn nhận một cơn sốt công nghệ trí tuệ nhân tạo và ông lo rằng, nếu xảy ra khủng hoảng, không một tập đoàn nào trên thế giới tránh khỏi. 

    «  Đúng là khi chúng ta đang ở trong một chu kỳ mà, một cách tập thể, tất cả các nhà đầu tư đang vượt quá đà. Trong trường hợp cụ thể, công nghệ internet quả thực là hiện đang có quá nhiều vốn đầu tư vào lĩnh vực này. Đương nhiên là không một ai nghi ngờ về tầm mức quan trọng, cũng như tác động của lĩnh vực này trong đời sống của mỗi chúng ta. Internet đã thay đổi hoàn toàn nếp sống và cách chúng ta làm việc trong một thế giới digital. Tôi nghĩ rằng công nghệ AI cũng sẽ như vậy thôi … Vỡ bong bóng AI là điều khó tránh khỏi …

    Như những con thiêu thân, các nhà đầu tư trên thế giới, kể cả tập đoàn Sundar Pichai đang điều hành, « điên cuồng » thổi nên bong bóng AI : 

    « Mới chỉ cách nay 4 năm Google đầu tư chưa tới 30 tỷ đô la hàng năm để phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo. Nhưng năm nay thì khoản đầu tư này đã vượt ngưỡng 90 tỷ đô la. Nếu như chúng ta cộng lại tất cả đầu tư từ các doanh nghiệp vào AI thì tổng số vốn lên tới hơn 1.000 tỷ chỉ để phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết trong lĩnh vực này ».

    Theo báo cáo hàng tháng của ngân hàng Bank of America công bố hôm 14/10/2025 nguy hiểm lớn nhất trong mắt các nhà đầu tư trên thế giới giờ đây là kịch bản vỡ bóng AI. Mối lo ngại này lấn át cả những mối bận tâm về lạm phát tại Hoa Kỳ, trước cả những nghi vấn về chính sách tiền tệ của Cục Dự Trữ Liên Bang, hay những mối đau đầu vì chính sách thuế quan chính quyền Trump ban hành gây trở ngại cho giao thương quốc tế.

    Ngày 08/10/2025 là một « bước ngoặt » trong trên các sàn chứng khoán khi mà cổ phiếu các tập đoàn công nghệ kỹ thuật số, đặc biệt là chỉ số Nasdaq tại Wall Street bắt đầu mất giá sau 6 tháng liên tiếp « tăng trưởng theo chiều thẳng đứng ». Lý do ngân hàng Goldman Sachs công bố một báo cáo với nghi nhận sức mạnh tài chính trên thế giới hiện đang tập trung cả vào « 10 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ », chiếm gần một phần tư toàn bộ thị trường cổ phiếu, và đây là một « mức độ tập trung » mà ngân hàng này đánh giá không lành mạnh.

    Chỉ nội Nvidia, trung tâm bàn cơ công nghệ kỹ thuật số và AI có trị giá chứng khoán hơn 5.000 tỷ đô la, lớn hơn cả GDP của Đức, một trong 5 nền kinh tế hàng đầu thế giới.

    Liền sau đó đến lượt Ngân hàng Anh, từ Luân Đôn cũng đưa ra một cảnh báo tương tự và dự báo « một đợt điều chỉnh ở quy mô lớn ảnh hưởng đến các thị trường tài chính toàn cầu »

    Hiện tượng đầu tư  « điên cuồng » vào AI

    Cả hai báo cáo của nói trên khơi lại các kịch bản « vỡ bong bóng » tin học, internet, địa ốc trước đây. Tình hình có vẻ xấu đi thêm. Trả lời đài phát thanh Bỉ RTBF chuyên gia về tài chính và cũng là một cổ động mua bán chứng khoán Grégory Guilmin ghi nhận :

    « Quả thực là trong những ngày qua, chứng khoán giảm mạnh, giảm hơn 5 %. Thị trường bị dao động nhiều hơn chủ yếu do lo ngại vỡ bong bóng công nghệ trí tạo thông minh (...) Nhìn lại 30-40 năm vừa qua, từng xảy ra nhiều khủng hoảng do vỡ bong bóng tài chính. Đôi khi tác động rất là mạnh -như vụ vỡ bong bóng tin học hồi năm 2000, nhưng cũng có khi hậu quả không nghiêm trọng lắm. Thành thử nếu chúng ta đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau thì không lo bị thua lỗ và có thể là sẽ vượt qua được khó khăn này thôi ».

    Vẫn trên đài phát thanh Bỉ, Benoit Gailly giảng dậy tại đại học Louvain nói đến một sự tin tưởng và những kỳ vọng quá đáng từ phía các nhà đầu tư vào thông minh nhân tạo :

    « Thông thường, trong ngắn hạn mọi người có khuynh hướng lạc quan quá trớn về những phát minh công nghệ mang lại. Người ta cứ nghĩ rằng chỉ cần có công nghệ là mọi thứ có thể thay đổi trong một sớm một chiều. Trong quá khứ, điều này đã được kiểm chứng khi con người phát minh ra xe hơi, cũng như từ khi chúng ta có internet, hay dùng những công nghệ mới … và ai cũng nghĩ rằng, thông minh nhân tạo cũng sẽ, chỉ trong chớp mắt, sẽ đem lại một cuộc cách mạng rất lớn. Chính vì thế mà các nhà đầu tư hồ hởi quá đáng, mạnh dạn đổ tiền vào công nghệ AI. Tất cả chúng ta đều đang quá lạc quan ».

    « Không một ai được lành lặn »

    Các tập đoàn lớn trong thế giới digital của Mỹ đều đua nhau cho ra đời những công cụ « thông minh nhân tạo của riêng mình, mà điển hình là Grok, hay xAI. Theo thống kê của cơ quan tư vấn Gartner trong năm 2025 thế giới « rót » từ 1.000 tỷ đến 1.500 tỷ đô la tiền vốn vào các công ty trong lĩnh vực AI.

    Bốn tên tuổi hàng đầu trên thế giới là Google, Meta, Amazon và Microsoft đã chi ra 350 tỷ đô la từ đầu năm đến nay để phát triển các cơ sở hạ tầng để « thông minh nhân tạo » nảy sinh. Số tiền khổng lồ này được dùng vào các khâu từ mua chip điện tử -của TSCM, hay Nvidia..., xây dựng cac trung tâm xử lý dữ liệu data center. Khoản đầu tư cho lĩnh vực này còn được tăng thêm nữa trong hai năm sắp tới …

    Cũng chính sự hồ hởi « thái quá » này bắt đầu khiến các nhà tài chính trên thế giới mà đứng đầu là những người trong cuộc lo âu. Tiêu biểu nhất là chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Google. Sundar Pichai đã nhìn nhận « thế giới thực sự điên đảo » tin tưởng quá độ vào AI. Peter Thiel, một nhà đầu tư danh tiếng khác trong thung lũng Silicon, quý ba vừa qua đã đột ngột bán hết cổ phiếu Nvidia ông đang nắm giữ. Quỹ đầu tư Nhật Bản SoftBank cũng đã quyết định tương tự. Tại Frankfurt, phó thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu Luisi de Guindos báo động : quyền lực tài chính tập trung quá lớn trong tay « một vài tập đoàn công nghệ Mỹ là một rủi ro ».

    Lỗ vốn mà vẫn có uy tín với cổ đông

    Chỉ sau 3 năm xuất hiện trên thị trường công trí tuệ nhân tạo giờ đây đã thu hút hơn 1 tỷ người sử dụng, trở thành bạn đồng hành « không thể thiếu của từ 500-600 triệu dân » trên toàn cầu. Riêng tập đoàn OpenAI theo các thống kê chính thức của hãng Sam Altman điều hành, « mỗi tuần có 500 triệu dân trên thế giới tham khảo ChatGPT », tương đương với 25 % dân số trên hành tinh. Dù vậy tập đoàn hàng trăm tỷ này vẫn trong tình trạng thua lỗ. Chỉ riêng quý 3/2025 OpenAI lỗ 12 tỷ đô la. Điều đó không cấm cản, cổ phiếu của tập đoàn vẫn tăng giá đều đặn.

    Trị giá chứng khoán của OpenAI tăng nhanh vì mọi người tin chắc là nhân loại sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào trí tuệ nhân tạo tạo sinh.

    Bên cạnh những tên tuổi lớn trong ngành, như Open AI hay Nvidia thường được báo chí nhắc đến còn phải kể đến « cả một khu rừng với rất nhiều các công ty khởi nghiệp star-up » cũng trong lĩnh vực AI … Thí dụ như tỷ phú Elon Musk không chỉ đầu tư vào ô tô điện hay hệ thống vệ tinh mà còn đang dốc nhiều sức lực và phương tiện tài chính cho xAI. Theo báo Wall Street Journal, công ty nhỏ này của Elon Musk đang đàm phán huy động 15 tỷ đô la vốn đầu tư, căn cứ trên giá trị của tập đoàn được thẩm định lên tới 230 tỷ đô la.

    Mối quan hệ « cận huyết »

    Về câu hỏi nếu vỡ bong bóng AI khủng hoảng lần này nghiêm trọng đến mức độ nào và bong bóng « trí tuệ nhân tạo » này có khác gì so với những bong bóng địa ốc hay tin học trước đây, giới trong ngành trả lời như sau : thứ nhất viễn cảnh vỡ bong bóng là điều khó tránh khỏi, nghi vấn duy nhất chỉ là vấn đề thời gian. Điểm thứ hai cơn sốt AI đang tấy lên một phần do « các chương trình đầu tư được thực hiện trong một vòng luẩn quẩn và rất khép kín » xoay quanh trên dưới 10 đại tập đoàn. Họ là những đối tác, những khách hàng, những nhà cung cấp thiết bị, hay dịch vụ của lẫn nhau. Chỉ cần một trong số những mắt xích này bị nạn là kéo theo hiện tượng đổ dàn. Thí dụ như tháng 9/2025 Nvidia thông báo đầu tư 100 tỷ đô la và số tiền này được rót cho OpenAI và đế chế của Jensen Huang chờ đợi lãi gấp 3 lần số vốn bỏ ra ban đầu !

    Chính mối quan hệ mà giới trong ngành gọi là « cận huyết đó » vừa là đòn bẩy, vừa là mầm mống khủng hoảng trong lĩnh vực AI : Chỉ cần 1 trong số các tập đoàn thuộc nhóm Big Tech của Mỹ bị nạn là cũng đủ kéo cả nhóm vào một vòng xoáy không hồi kết.

    10 min
  • Tăng mãi lực cho người dân Mỹ, áp lực lớn với chính quyền Trump

    Hôm 14/11/2025, tổng thống Trump lùi bước, tự dỡ bỏ một số hàng rào quan thuế đánh vào một số thực phẩm mà ông đã dựng lên. Mười ngày trước, đời sống khó khăn tại Mỹ giúp nhiều ứng cử viên của đảng Dân Chủ thắng cử trong các cuộc bầu cử địa phương. Washington vừa ra khỏi tình trạng 43 ngày shutdown, vì không có ngân sách hoạt động. Sau nhiều tháng đàm phán, Mỹ vẫn chờ các đối tác đầu tư thêm hàng ngàn tỷ đô la đưa Hoa Kỳ trở lại « thời kỳ vàng son ».  

    Theo thăm dò của trung tâm Navigator công bố hôm 12/11/2025, 16 % những người được hỏi bày tỏ « thất vọng » vì chính sách kinh tế của tổng thống Trump, 16 % khác « hối hận » đã bỏ phiếu ủng hộ ông hồi tháng 11/2024 và nhìn chung thì 59 % « không hài lòng » về những quyết định kinh tế của chủ nhân Nhà Trắng.

    « Quá ồn ào nhưng kết quả lại chẳng là bao nhiêu ». Garett Melson thuộc ngân hàng đầu tư Natixis IM của Pháp đã đánh giá như trên phần trang tài chính của báo Le Figaro. Sau nhiều màn đầy kịch tính làm khuấy động thị trường ở Mỹ và thế giới, các chỉ số kinh tế của bàn thân Hoa Kỳ đã « trở về với thời điểm đầu năm 2025 », cuối nhiệm kỳ Biden và khi tổng thống Donald Trump trở lại cầm quyền. Thị trường chứng khoán của Mỹ và các doanh nghiệp « có sức chịu đựng tốt hơn dự kiến ».

    Tổng sản phẩm nội địa của Hoa Kỳ cho năm 2025 dự trù tăng 1,6 % ; lạm phát dao động ở mức 3 %. Thị trường lao động được đánh giá là « vẫn ổn định », cho dù giám đốc cơ quan đặc trách thống kê lao động Mỹ đã bị cho thôi việc và do tình trạng Shutdown, báo cáo về tình trạng lao động tại Hoa Kỳ tháng 10/2025 đã không thể được công bố đúng hạn kỳ. Trong những tuần lễ gần đây tập đoàn Amazon loan báo kế hoạch sa thải 14.000 nhân viên, công ty vận tải UPS chuẩn bị cho 48.000 nhân viên nghỉ việc …

    Nghiên cứu hàng tháng do Đại học Michigan thực hiện về tâm trạng người tiêu dùng trong tháng 10/2025 cho thấy chỉ số này đã sụt giảm đến 6 % so với hồi tháng trước và giảm đến 30 % so với cùng thời kỳ năm ngoái. Riêng tầng lớp giàu có nhất thì không bị ảnh hướng : đó là những người nắm giữ nhiều cổ phiếu chứng khoán. Chỉ số S&P500 tại Wall Street tăng liên tiếp trong 6 tháng qua, chủ yếu là nhờ các tên tuổi lớn trong lĩnh vực thông minh nhân tạo.

    Trong phần phỏng vấn dành cho RFI Việt Ngữ, kinh tế gia Jean -François Boittin, đại diện Hiệp hội giới chủ doanh nghiệp Pháp MEDEF tại Washington đã nêu bật vấn đề này và phân tích kỹ hơn về « logic khó hiểu » trong chính sách kinh tế của tổng thống Donald Trump.

    RFI : Kính chào Jean-François Boittin, câu hỏi đầu tiên : So với thời điểm bầu cử tổng thống Mỹ cách nay một năm, đời sống tại Washington nơi ông cư ngụ hiện tại ra sao ?

    Jean-François Boittin : « Chi phí sinh hoạt tại Hoa Kỳ nói chung, chứ không chỉ riêng ở Washington, rõ ràng đã tăng lên mặc dù lạm phát đã có xu hướng giảm so với đỉnh điểm của hồi 2022. Khi đó lạm phát ở Mỹ bị đẩy lên tới 8%. Chỉ số giá cả tại Mỹ hiện tại là khoảng 2,5%, tức là vẫn còn cao hơn so với mục tiêu của Ngân hàng Trung ương Mỹ là 2%. Tuy nhiên thời gian gần đây chỉ số lạm có khuynh hướng nhích lên tới gần 3 % và quả thực đó chính là yếu tố quyết định dẫn tới thắng lợi của nhiều ứng cử viên đảng Dân Chủ trong các cuộc bầu cử địa phương cách nay hai tuần ở các bang Virginia, New Jersey và cả thành phố New York. Đời sống đắt đỏ là chủ đề mà các ứng viên đảng Dân Chủ đã đặc biệt quan tâm và là yếu tố giúp họ chinh phục cử tri ».

    RFI : Hai điểm nổi bật trong chính sách của tổng thống Mỹ thứ 47 được nhắc đến nhiều, đó là chính sách thương mại, ông Trump dùng đòn thuế quan để giải quyết tình trạng nhập siêu mà đây còn là một công cụ ngoại giao, để giải quyết các xung đột trên thế giới ; và bên cạnh đó là chính sách thuế đối với doanh nghiệp và tư nhân. Nhưng dường như cả hai cùng khó thuyết phục được một phần lớn cử tri Hoa Kỳ ?

    Jean-François Boittin : « Có hai đặc điểm hoàn toàn mâu thuẫn với đường lối kinh tế vốn được coi là kim chỉ nam trong chính sách của bên đảng Cộng Hòa. Thứ nhất là chính quyền Trump đã thông qua đạo luật One Big Beautiful Bill Act, triển hạn biện pháp giảm thuế cho doanh nghiệp và cá nhân. Hệ quả kèm theo là đẩy thâm hụt ngân sách cả chính quyền liên bang lên cao. Đạo luật này sẽ khiến thâm hụt ngân sách Mỹ tăng thêm từ 3.000 đến 3.500 tỷ đô la theo tính toán của các tổ chức trung lập. Yếu tố thứ hai, dĩ nhiên là thuế quan. Từ rất lâu Trump đã tự nhận là Tariff Man, chỉ tin vào công cụ này để giải quyết tất cả. Hôm 02/04/2025 ông đã công bố kế hoạch tăng thuế quan rất mạnh. Tuy nhiên, Donald Trump đã buộc phải giảm bớt tham vọng này vì thị trường tài chính đã lao dốc ngay sau đó. Sau nhiều tháng đàm phán, mức thuế quan trung bình hiện nay vẫn ở mức 17,5%, trong khi trước khi ông lên nắm quyền, mức trung bình chỉ là 2,5%. Đây là một gánh nặng đối với mỗi người tiêu dùng, tác động đến sinh hoạt hàng ngày của họ. Giá nhiều mặt hàng bị đẩy lên cao. Cuối cùng áp lực lớn đến nỗi, cuối tuần qua tổng thống Trump đã phải bãi bỏ thuế quan đánh vào một số mặt hàng thực phẩm phải nhập khẩu từ những nơi khác để phục vụ thị trường Mỹ. Rất khó để hiểu được cái logic của ông Trump ».

    RFI : Cũng dưới chính quyền Donald Trump Hoa Kỳ vừa trải qua giai đoạn nhiều cơ quan chính phủ liên bang phải đóng cửa vì không có ngân sách hoạt động. Shutdown ảnh hưởng thế nào đến tăng trưởng của Mỹ ?  

    Jean-François Boittin : « Việc chính phủ liên bang phải đóng cửa vì không có ngân sách hoạt động, thực chất là do bên đảng Dân Chủ gây ra. Họ muốn lợi dụng thời điểm này để thúc đẩy Quốc Hội thông qua một đạo luật về trợ cấp y tế, thường được biết đến dưới tên gọi là ObamaCare. Họ dùng đòn này để gây sức ép. Vì các khoản chi tiêu của chính phủ liên bang phải được Quốc Hội phê duyệt, phe Dân Chủ, thiểu số tại cả Thượng và Hạ Viện, đã chặn quá trình này và tuyên bố họ chỉ bỏ phiếu gia hạn các khoản chi tiêu của chính quyền liên bang nếu Hạ Viện đồng ý tài trợ trở lại các chương trình trợ cấp y tế. (…)

    Điều rất kỳ lạ là mặc dù rõ ràng đảng Dân Chủ là bên chặn quá trình và cố gắng lợi dụng hoàn cảnh để thông qua việc gia hạn trợ cấp y tế, nhưng dư luận, qua các cuộc thăm dò, lại đổ lỗi cho đảng Cộng Hòa đã gây ra tình trạng shutdown.

    Về câu hỏi shutdown trong thời gian dài kỷ lục, 43 ngày có tác động đến kinh tế Mỹ hay không, thì câu trả lời là có : đầu tiên hết là một số công chức của chính phủ liên bang đã không được trả lương đúng hạn. Do mức tiết kiệm của người Mỹ nói chung rất thấp, họ nhanh chóng rơi vào khó khăn. Ngoài ra, rất nhiều chương trình hỗ trợ lương thực, liên quan đến 1 người Mỹ trên 8, (đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên) đã phải ngừng hoạt động, hoặc hoạt động một cách nhỏ giọt tại nhiều bang. Điều này cũng đã gây ra thêm nhiều khó khăn nữa cho dân Mỹ thời gian vừa qua. Nhìn rộng ra hơn, tác động không quá lớn từ viện chính phủ không có ngân sách hoạt động đối với GDP của Hoa Kỳ cho cả năm. Nhưng đúng là tăng trưởng của 3 tháng cuối năm nay bị thiệt hại. Dù vậy kinh nghiệm quá khứ cho thấy, sự chậm trễ trong quý 4 sẽ chóng được xóa nhòa ngay từ đầu năm sau thôi ».

    RFI : Với tư cách đại diện của Hiệp hội các chủ doanh nghiệp Pháp, theo ông, với môi trường bất ổn như vậy, trước những hứa hẹn đầu tư hàng ngàn tỷ đô la vào Mỹ mà ông cho rằng chưa chắc là các bên liên quan sẽ giữ lời… Liệu rằng đây có phải là thời điểm thuận lợi để các công ty nước ngoài mạnh dạn đầu tư vào Mỹ hay không ?

    Jean-François Boittin : « Chính quyền, mà thực tế là chính tổng thống Trump liên tục gây áp lực để thu hút đầu tư vào Hoa Kỳ với mục tiêu xây dựng lại nền công nghiệp Mỹ giống thời kỳ vàng son của những năm 1950–1960. Không ai tin mục tiêu này sẽ đạt được. Mỗi lần đàm phán với một quốc gia, Donald Trump luôn đòi đối tác phải cam kết đầu tư để phát triển nền công nghiệp của Hoa Kỳ. Thí dụ mới nhất là với Thụy Sĩ. Trước đây nước này bị với mức thuế hải quan là 39 % nhưng vừa đàm phán, hàng Thụy Sĩ nhập vào Mỹ chỉ bị đánh thuế 15%. Đổi lại các tập đoàn Thụy Sĩ cam kết đầu tư 200 tỷ đô la vào Hoa Kỳ trong 3 năm tới. Như nhiều quốc gia khác từng đám phán với Washington, sẽ không ai thực hiện cam kết này.

    Về câu hỏi của chị có nhiều yếu tố như sau : Dĩ nhiên, ai cũng muốn đầu tư vào Hoa Kỳ, một quốc gia giàu có. Nhưng các quy định, luật lệ, đặc biệt là thuế quan thay đổi từ ngày này sang ngày khác tùy theo tâm trạng của Donald Trump… Chính điều đó tạo ra một môi trường bất ổn. Giới đầu tư nói chung rất sợ sự bất ổn, vì họ đầu tư cho dài hạn nên muốn và cần biết rõ môi trường mà họ sẽ hoạt động trong đó. Ngoài ra, tùy vào những lĩnh vực chúng ta muốn đầu tư. Đây có thể là thời điểm tốt để dấn thân vào thị trường Mỹ. Rõ ràng là vậy, vì nền kinh tế hiện nay là một nền kinh tế theo mô hình chữ K : Nghĩa là một phần dân số, 10% người giàu nhất, chi tiêu rất nhiều vì giá trị cổ phiếu họ nắm giữ đã tăng mạnh. Trái lại, phần còn lại của dân số, đặc biệt là càng xuống các nhóm thu nhập thấp, thì tình hình càng khó khăn từ khi ông Trump trở lại cầm quyền. Vì vậy nếu chúng ta nhắm tới tầng lớp 10 % dầu có nhất, thậm chí là 1 % những tài sản đồ sộ nhất ở Mỹ, thì hãy nên đầu tư vào Hoa Kỳ ».  

    RFI : Chân thành cảm ơn Jean-François Boittin, đại diện MEDEF các doanh nhân Pháp tại thủ đô Washington.

    9 min
  • Đất hiếm : Trung Quốc và chiến lược nắm vai trò then chốt trong chuỗi cung ứng toàn cầu

    Khoáng sản hiếm : 30 năm là thời gian cần thiết để Trung Quốc trở thành nguồn cung cấp gần như độc quyền của thế giới. Vì chấp nhận nhiều hy sinh,  tận dụng những sai lầm của phương Tây không muốn hứng chịu ô nhiễm, Bắc Kinh đặt mình vào thế trung tâm và khiến Bruxelles, Washington lo lắng trước mỗi quyết định về kim loại chiến lược ? Các câu hỏi này được đặt ra vào lúc Âu - Mỹ hối hả tìm kiếm các nguồn cung cấp bổ sung, hóa giải thế gần như độc quyền của Trung Quốc.

    Sau nhiều tuần lễ căng thẳng, cả Liên Hiệp Châu Âu lẫn Hoa Kỳ cùng phấn khởi đón nhận tin Trung Quốc tạm ngừng trong một năm quyết định hạn chế xuất khẩu đất hiếm. Tổng thống Donald Trump tiếp tục khẳng định đây là một thắng lợi quan trọng mà ông đạt được sau cuộc họp với chủ tịch Tập Cận Bình cuối tháng 10/2025. Tại Bruxelles, lãnh đạo châu Âu vừa công bố kế hoạch « RESourceEU » để giảm bớt phụ thuộc vào khoáng sản hiếm của Trung Quốc, vừa tự tin hơn một chút khi bước vào bàn đàm phán.

    Đầu thập niên 1990, Mỹ, nhờ có các mỏ ở Mountain Pass, bang California, là quốc gia khai thác các mỏ đất hiếm lớn nhất thế giới.

    « Trung Đông có dầu mỏ, Trung Quốc có đất hiếm ». Năm 1992, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã có câu nói để đời và từ đó Bắc Kinh đưa các kim loại hiếm vào danh sách « tài nguyên chiến lược quốc gia », cấm các công ty nước ngoài khai thác. Trung Quốc cũng bắt đầu quản lý nghiêm ngặt hơn các hoạt động xuất khẩu.

    Tuy giàu tài nguyên, nhưng ngành công nghiệp đất hiếm nước này - từ khâu khai thác, đến tinh chế, tìm kiếm thị trường, Trung Quốc khi đó còn bỡ ngỡ và phải học hỏi kinh nghiệm của Hoa Kỳ.

    Đó cũng là thời điểm, Bắc Kinh và Washington chưa ý thức được là để chế tạo một chiến đấu cơ F-35 chẳng hạn, ngay cả tập đoàn Mỹ Lockheed Martin cũng sẽ phải cần đến hơn 400 kg đất hiếm !

    Sai lầm « trao trứng cho ác »

    Vì chạy theo lợi nhuận, tận dụng hàng rẻ Trung Quốc, đồng thời tập trung hơn vào lĩnh vực chỉ sản xuất xe hơi, hãng General Motors đã dễ dàng chuyển nhượng lại Magnequench, một « ông lớn » trong lĩnh vực chế tạo nam châm Neodyme cho quỹ đầu tư Trung Quốc Sextant. Hai trong số các nhà lãnh đạo quỹ này chính là con rể của ông Đặng Tiểu Bình.

    Nam châm Neodyme (NdFeB) có lực từ mạnh nhất hiện nay, với kích thước nhỏ và trọng lượng nhẹ phù hợp với các thiết bị cần được thu nhỏ rất được ưa chuộng trong lĩnh vực từ ô tô điện đến công nghệ quốc phòng hay y tế.

    Chính quyền của tổng thống Bill Clinton đã không phản đối dự án chuyển nhượng « viên ngọc quý » trong một lĩnh vực nhạy cảm như vậy cho đối tác Trung Quốc với giá 70 triệu đô la khi đó. Cùng lúc, Sextant đã mời các chuyên viên Hoa Kỳ cùng xây dựng phiên bản Trung Quốc của Magnequench tại Thiên Tân và cơ sở này « lớn gấp 3 lần » so với kế hoạch ban đầu. Chỉ khi đó, các kỹ sư Mỹ được mời cộng tác mới ý thức được là họ đã « tự tay thắt vòng treo cổ chính mình ».   

    Nhìn rộng hơn, chuyên gia Mathieu Xémard, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Liên Ngành về Quốc Phòng và An Ninh (CIEDS) - Viện Bách Khoa Institut Polytechnique, lưu ý Trung Quốc học hỏi từ đầu đến cuối các công đoạn trong một nền công nghiệp còn mới mẻ này. Họ không chỉ hài lòng với các khâu khai thác, mà còn « hấp thụ » các kỹ thuật tinh chế của Mỹ, cho đến khi « nắm giữ toàn bộ chuỗi sản xuất trong lĩnh vực đất hiếm và nhất là nam châm » thu hẹp khoảng cách với Hoa Kỳ.

    Những tên tuổi lớn của Mỹ trong ngành bị « hàng rẻ Trung Quốc nhấn chìm », lần lượt bị khai tử. Mountain Pass bị lãng quên trong hàng chục năm.

    Phát triển kiểu « con nhà nghèo »

    Ở góc đài bên kia, Trung Quốc càng lúc càng tự tin với chiến lược phát triển bài bản. Vào lúc Âu - Mỹ phải tuân thủ các chuẩn mực môi trường, Trung Quốc chấp nhận trả giá đắt và không phải chịu áp lực từ các hội đoàn tổ chức bảo vệ thiên nhiên như của phương Tây.

    Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng đã sớm ý thức rằng « chìa khóa của sức mạnh công nghiệp nằm ở việc làm chủ quá trình tinh chế và xử lý hóa học các kim loại đất hiếm ». Đó là những « công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao, mà các nước phương Tây đã bỏ qua vì chi phí quá cao và ô nhiễm môi trường » như nhà nghiên cứu John Seaman, Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI ghi nhận trong bài viết « Khoáng sản chiến lược : Vai trò then chốt của Trung Quốc ».

    Hệ quả kèm theo là sau hơn 3 thập niên, « 90% quá trình tinh chế đất hiếm trên thế giới hiện nay được thực hiện tại Trung Quốc ». Không là quốc gia duy nhất trên thế giới có đất hiếm ( Úc, Brazil, Congo, Miến Điện, Pháp, Đức…), không là nhà sản xuất duy nhất cho toàn cầu (Úc, Brazil...), nhưng Trung Quốc đã nắm giữ lấy vị trí trung tâm trên bàn cờ chiến lược này.

    Vẫn nhà nghiên cứu John Seaman giải thích thêm : Thành công này không phải ngẫu nhiên mà có. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã vừa hỗ trợ mạnh mẽ ở các khâu nghiên cứu và tài trợ cho các doanh nghiệp nội địa, đồng thời lại hợp nhất ngành công nghiệp thành một số tập đoàn nhà nước khổng lồ và nhất là dùng các biện pháp có sẵn trong tay để đánh gục mọi đối thủ.

    Mỗi khi một đối thủ phương Tây cố gắng hồi sinh lại một khu khai thác, thì lập tức Bắc Kinh tăng sản lượng, làm sụt giá thị trường và khiến các dự án nước ngoài không còn hấp dẫn. Đó luôn là một dạng « kim chỉ nam » trong chiến lược phát triển công nghệ đất hiếm của Trung Quốc từ Đặng Tiểu Bình đến Tập Cận Bình.

    Hơn nữa, qua việc « kiểm soát từ đầu chí cuối chuỗi sản xuất  » trong lĩnh vực nhạy cảm này, Bắc Kinh đạt được cùng lúc 2 mục tiêu. Trước hết là bảo đảm chuỗi cung ứng cho các tập đoàn quốc gia trong những lĩnh vực « then chốt » : y tế, công nghệ hàng không không gian, bình điện ô tô, công nghiệp vũ khí, năng lượng hạt nhân, điện thoại thông minh… Mục tiêu thứ nhì là nhờ thế độc quyền đó mà Trung Quốc mặc nhiên « chi phối » luôn cả các mảng công nghiệp nhạy cảm nhất của Âu - Mỹ và qua đó là cả một phần « an ninh » của phương Tây.

    Đến lượt Hoa Kỳ chạy nước rút để « thu hẹp khoảng cách » với Trung Quốc

    Trong bối cảnh căng thẳng địa-chính trị gia tăng, đặc biệt là cuộc đọ sức giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc vì một trật tự mới cho thế giới về kinh tế cũng như địa chính trị, « bảo đảm an ninh về tài nguyên, bảo đảm các nguồn cung ứng về khoáng sản hiếm, về các nguyên liệu chiến lược » trở thành « tâm điểm » trong chính sách công nghiệp của cả Âu, Mỹ lẫn Trung Quốc. (John Seaman, IFRI).

    Đây chính là động lực để phương Tây hối hả « hồi sinh » mảng công nghệ này. Nhưng trớ trêu thay sau hơn 30 năm chuyển giao các bí quyết thành công cho Trung Quốc giờ đây đến lượt Hoa Kỳ « chạy nước rút để thu hẹp khoảng cách ».

    Từ 2010, lần đầu tiên, Bắc Kinh dùng đất hiếm như một công cụ địa chiến lược trừng phạt Nhật Bản khẳng định chủ quyền với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Mỹ và châu Âu đã trông thấy viễn cảnh « một cuộc chiến đất hiếm » đang hình thành.

    Nhưng không dễ để khởi động lại một cỗ máy đồ sộ trong trạng thái « ngủ đông » trong nhiều năm.

    Cuối tháng10/2025, Bruxelles mới công bố kế hoạch « RESourceEU ». Mãi đến 2025, Nhà Trắng hối hả ký các thỏa thuận cung ứng với Úc và nhiều nước Trung Á, châu Phi. Washington cùng lúc thông báo những dự án như xây dựng nhà máy tách quặng đất hiếm nặng tại Louisiana hay tham gia đầu tư 400 triệu đô la vào công ty khai thác mỏ MP Materials ở Mountain Pass. Song giới trong ngành cảnh báo « không dễ phá vỡ vòng vây kiên cố » mà Bắc Kinh đã dày công xây dựng.

    Thoát khỏi cái bẫy đất hiếm của Trung Quốc hiện tại là một thách thức đối với phương Tây. Trên đài phát thanh France Inter, Bart Sap, chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Umicore, chuyên về sản xuất và tái xử lý rác kim loại, báo động về tính cấp bách để « thoát Trung » của châu Âu. Ông đồng thời nêu lên một giải pháp cụ thể để đạt được mục tiêu đó : 

    « Chúng ta biết hiện tại Trung Quốc đang thống lĩnh thị trường kim loại hiếm. Cần nhấn mạnh là Bắc Kinh đang tận dụng lợi thế này như một vũ khí thương mại khi quyết định hạn chế xuất khẩu. Vậy câu hỏi đặt ra với châu Âu là khối này muốn tự chủ hơn hay vẫn bị để phụ thuộc vào nguồn cung cấp châu Á này. Sự phụ thuộc đó liên quan đến công nghệ chế tạo bình điện ô tô, tức là đến khả năng đi lại của các công dân châu Âu, và cũng liên quan luôn cả đến tính tự chủ và độc lập của châu lục này về mặt công nghệ trong nhiều lĩnh vực từ công nghệ không gian, quốc phòng đến công nghệ kết nối, và khả năng chuyển đổi sang năng lượng xanh (...).

    Theo đánh giá của Umicore, cuối cùng châu Âu cũng đã ý thức được là họ cần khoáng sản hiếm và cần thay đổi chiến lược trên phương diện này. Tôi nghĩ rằng, Bruxelles cần đưa ra một chính sách chung liên quan đến vấn đề tái xử lý rác thải để thu hồi lại lượng đất hiếm trong các sản phẩm. Hiện tại, Liên Hiệp Châu Âu xuất khẩu 72% rác thải có khoáng sản hiếm. Đây là một sự lãng phí khủng khiếp. Nhu cầu cấp bách hiện nay là làm thế nào để giữ lại rác thải để tự xử lý, thu hồi lại khối lượng những nguyên liệu chiến lược. Điều đó có nghĩa là Liên Hiệp Châu Âu phải hỗ trợ cho những nước thành viên trong việc tác xử lý rác thải. Châu Âu hiện tại có công nghệ khá tốt trong lĩnh vực này, chỉ cần có một luật chơi chung để tất cả cùng ngừng xuất khẩu rác thải công nghiệp đi nơi khác ».

    30 năm trước đây, cái bẫy kim loại hiếm Trung Quốc bắt nguồn từ chỗ Âu Mỹ vừa muốn nhanh chóng có lãi, dễ dàng sử dụng « hàng rẻ » Trung Quốc mà lại không mang tiếng gây ô nhiễm môi trường. Giờ đây, ngay cả trong khâu tái xử lý kim loại hiếm từ rác công nghiệp, châu Âu và Hoa Kỳ lại một lần nữa « đùn đẩy » mảng này đi nơi khác. Chung quy cũng là do vì « sợ bẩn và sợ tốn », châu Âu cho là « không bõ » để đầu tư vào các nhà máy tái xử lý rác công nghiệp.

    Về phía Hoa Kỳ, trước khi lao vào một cuộc đọ sức với Trung Quốc thì mới nhận ra rằng Washington đang thiếu mất một vũ khí lợi hại và đã lỡ « trao trứng cho ác » để giờ đây rơi vào thế bị động trước mỗi quyết định của Bắc Kinh về « những khoáng sản chiến lược ».

    10 min

About Tạp chí Kinh Tế

From the publisher's feed

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

More shows like Tạp chí Kinh Tế

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

221 Listeners

Tạp chí Âm Nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Âm Nhạc

2 Listeners

Tạp chí Tiêu Điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Tiêu Điểm

0 Listeners

Tạp chí Khoa Học Môi Trường by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Khoa Học Môi Trường

0 Listeners

Tạp chí Văn Hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Văn Hóa

0 Listeners

Spiderum Official by Spiderum

Spiderum Official

25 Listeners

Tâm Sự Tài Chính by Trịnh Công Hoà

Tâm Sự Tài Chính

2 Listeners

Huynh Duy Khuong Show by Huỳnh Duy Khương

Huynh Duy Khuong Show

7 Listeners

Sách Nói Chất Lượng Cao by Voiz FM

Sách Nói Chất Lượng Cao

5 Listeners

More Perspectives by Duy Thanh Nguyen

More Perspectives

12 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

7 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí Thể Thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Thể Thao

0 Listeners

Tạp chí Xã Hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Xã Hội

0 Listeners

Tạp chí Đặc Biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Đặc Biệt

0 Listeners

Better Version by Better Version

Better Version

46 Listeners

điêu khắc bản thân by Chuyện đời Sales

điêu khắc bản thân

1 Listeners

Nguyễn Hữu Trí Podcast by Nguyễn Hữu Trí

Nguyễn Hữu Trí Podcast

24 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners