Tạp chí Kinh Tế

Tạp chí Kinh Tế

By RFI Tiếng ViệtBusiness
Download on the App Store

Tạp chí Kinh Tế episodes

  • Việt Nam thấy gì từ những mẫu số chung làm nên « kỳ tích phát triển » của Nhật Bản-Hàn Quốc ?

    Văn hóa, giáo dục, tư cách, lòng yêu nước là một phần của phép lạ kinh tế Nhật Bản. Mô hình ấy đã « lan tỏa » đến những nền kinh tế khác trong khu vực, từ Hàn Quốc đến Đài Loan hay Trung Quốc. Đang « chuẩn bị cho một kỷ nguyên mới », bắt đầu vào năm 2026, « thử xem kinh nghiệm của Nhật Bản » có thể giúp ích gì cho Việt Nam ? RFI giới thiệu Hồi Ức Đến Tương Lai- của GS Trần Văn Thọ.

    Tháng 5/2025 tiến sĩ kinh tế Trần Văn Thọ vừa cho ra mắt độc giả tại Việt Nam cuốn sách mang tựa đề Hồi Ức Đến Tương Lai - Suy ngẫm về văn hóa, giáo dục và con đường phát triển của Việt Nam - NXB Đà Nẵng. Sang Nhật du học từ năm 1968, chọn học ngành kinh tế, đặc biệt là kinh tế phát triển và kinh tế quốc tế, tác giả từng giảng dậy tại các đại học danh tiếng như Đại học Obirin và Waseda ở Tokyo. Ông nguyên là thành viên Tổ Tư Vấn Kinh Tế của nhiều thủ tướng Việt Nam, là người đóng góp rất nhiều trong quan hệ giữa hai quê hương của ông là Việt Nam và Nhật Bản. Giáo sư Thọ cũng đã cho xuất bản nhiều cuốn sách về kinh tế Nhật Bản và Việt Nam*.

    Cuốn Hồi Ức Đến Tương Lai-Suy ngẫm về văn hóa, giáo dục và con đường phát triển của Việt Nam, hơn 500 trang, tập hợp những bài viết tác giả đã cho đăng trên các tờ báo ở Việt Nam và hải ngoại. Đây là những bài viết về kinh tế, về văn hóa, văn học Việt Nam và Nhật Bản về những tấm gương sáng trong sử sách tại hai quốc gia nói trên.

    Trong khuôn khổ hạn hẹp của chương trình, xin chỉ tập trung vào những bài viết của giáo sư Trần Văn Thọ về mô hình phát triển thần kỳ Nhật Bản, Hàn Quốc ; về quá trình phát triển, về « những cơ hội bị bỏ lỡ », về « sự chuẩn bị cho một kỷ nguyên mới » của Việt Nam.

    Ở những trang đầu cuốn sách giáo sư Trần Văn Thọ viết :

    « Học tập và làm việc tại Nhật, tôi được chứng kiến giai đoạn phát triển thần kỳ của nước này và hiện tượng lan tỏa kinh tế từ Nhật sang Hàn Quốc, Đài Loan rồi đến một số nước ASEAN và Trung Quốc, tạo nên vùng kinh tế năng động châu Á Thái Bình Dương. Việt Nam nằm giữa vùng năng động này, nhưng chỉ từ khi có đổi mới chuyển sang thể chế kinh tế thị trường, chúng ta mới có điều kiện tham gia vào quá trình phân công quốc tế này (…) Tuy nhiên Việt Nam tiến hành cải cách quá chậm, một phần do một số lãnh đạo lo ngại phát triển chệch hướng, nhiều quan chức thì muốn duy trì những lợi ích từ thể chế cũ. Việt Nam đã bỏ lỡ nhiều thời cơ nên thành quả phát triển bị hạn chế nhiều. Trong khi các nước chung quanh, nhất là Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. » (tr. 21).

    Năng lực xã hội Nhật Bản

    Đi sâu hơn vào trường hợp của Nhật Bản giáo sư Trần Văn Thọ nói về bí quyết phát triển của xứ hoa anh đào : « Nhật Bản là nước đi sau trong dòng thác công nghiệp của thế giới, đã tích cực thu nhập công nghệ, chế độ và tri thức quản lý từ các nước tiên tiến Âu Mỹ và đã thành công trong việc đuổi kịp các nước đi trước ».

    Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và bài viết về thành công của Nhật Bản, về chiến lược phát triển công nghiệp của quốc gia này, riêng giáo sư Thọ, ông đã « thử tìm một nguyên nhân tổng hợp nhất » để các nước đi sau Nhật Bản có thể tham khảo.

    Nguyên nhân là cái mà tác giả gọi là « năng lực xã hội » tức là : « Năng lực và tố chất của các nhân tố cấu thành xã hội, cụ thể là chính trị gia, quan chức, lãnh đạo kinh doanh, trí thức và tầng lớp lao động. Mỗi nhân tố này phải có những tố chất nào để thúc đẩy kinh tế phát triển. » (tr.23).

    Giáo sư Thọ ở những trang 153 -154 giải thích cặn kẽ hơn : « Tố chất quan trọng nhất của một chính trị gia là năng lực lãnh đạo, của một quan chức là quản lý hành chính, của một doanh nhân là tinh thần doanh nghiệp » và không chỉ có thế : « Tố chất chung nhất của chính trị gia, của quan chức, của nhà kinh doanh Nhật Bản là lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc và phải là những người có văn hóa, có giáo dưỡng. Tố chất này biểu hiện rất rõ qua những câu chuyện về lãnh đạo chính trị, về những nhà kinh doanh tiêu biểu thời Minh Trị cũng như thời kỳ phục hưng và hậu chiến, những tố chất đó biểu hiện mạnh mẽ nhất ».

    Trong trường hợp của một nhà kinh doanh chẳng hạn, để thành công, thì cần « có tinh thần mạo hiểm, có năng lực cách tân công nghệ, tích cực khám phá thị trường, ứng dụng công nghệ để làm ra các sản phẩm và dịch vụ cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của thị trường ».

    Những nhà kinh doanh tiêu biểu của Nhật không phải chỉ có thế : « Hầu hết các nhà sáng lập những công ty tiêu biểu của Nhật hiện nay đều xuất phát từ lòng yêu nước, từ trách nhiệm xã hội » mà điển hình là câu nói để đời của đồng sáng lập viên tập đoàn Sony, Ibuka Masaru. Trong diễn văn năm 1946, giữa cảnh hoang tàn, đổ nát của đất nước một năm sau chiến tranh nhà kinh doanh này tuyên bố : « Ta phải nỗ lực đem công nghệ góp phần phục hưng tổ quốc. » (tr.154).

    Từ giữa thập niên 1950 Nhật Bản đã bước vào giai đoạn phát triển cao độ với tăng trưởng kinh tế trung bình 10% trong suốt thời gian 18 năm.

    Hàn Quốc dựng nước trên cơ sở học tập của nước ngoài

    Hàn Quốc cũng vậy, quốc gia này cũng đã làm nên phép lạ kinh tế để mới chỉ năm 1962 còn là một trong những nước nghèo nhất thế nhưng chỉ ba thập niên sau đã trở thành một quốc gia tiên tiến (1996). Giáo sư Trần Văn Thọ phân tích :

    « Hàn Quốc thành công vì hai yếu tố chính. Thứ nhất, ngay từ đầu đã có ngay sự đồng thuận của xã hội về sự cần thiết phải phát triển, phải theo kịp các nước tân tiến. Nhất là theo kịp Nhật (nước láng giềng từng đô hộ mình). Để có sự đồng thuận, năng lực, ý chí và chính sách của lãnh đạo chính trị là quan trọng nhất. Dù dưới chế độ độc tài (..) quyết tâm phát triển của lãnh đạo chính trị được thể hiện bằng các chiến lược và chính sách do lớp kỹ trị xây dựng, quan chức được tuyển chọn theo năng lực, người tài được trọng dụng. Thứ hai, Hàn Quốc đã thực hiện công nghiệp hóa trên cơ sở của học tập (…) Học tập nước ngoài và học tập để có điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế lên cao, đưa vị trí đất nước lên cao trên vũ đài thế giới ». (tr.23).

    Xác định vị trí trên thế giới bằng tinh thần dân tộc

    Giáo sư Trần Văn Thọ nhận thấy trong quá trình công nghiệp hóa, Nhật Bản, Hàn Quốc và những nước đi sau đã có nhiều mẫu số chung :

    « Lấy chủ nghĩa dân tộc để xác định vị trí của mình trên thế giới », để đề xuất chiến lược có lợi nhất cho đất nước, để động viên toàn dân đuổi kịp các nước đi trước. Các quốc gia này đều đã « đề cao chủ nghĩa phát triển » khi nhận thấy rằng « phát triển là con đường duy nhất để thoát khỏi những nguy cơ trước mắt và lâu dài ». 

    Điểm tương đồng thứ ba là các nền kinh tế đó đã « huy động các tầng lớp trí thức, kỹ trị có năng lực để hoạch định chiến lược phát triển, trọng dụng nhân tài (...) loại trừ tất cả các quan hệ họ hàng, huyết thống, bản vị địa phương và giai tầng xuất thân trong xã hội ». 

    Việt Nam đã đúng nghĩa là một quốc gia tiên tiến ? 

    Việt Nam đương nhiên là trọng tâm cuốn sách có tiểu tựa : Suy ngẫm về văn hóa, giáo dục và con đường phát triển của Việt Nam. Tác giả băn khoăn với câu hỏi : « Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 13 (tháng 1/2021) Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước tiên tiến phát triển thu nhập cao vào năm 2045 » (tr.25) nhưng Việt Nam đã « đúng nghĩa là một quốc gia tiên tiến hay chưa ? ». Cần làm những gì để đạt đến mục tiêu đó ?

    Sau đổi mới, kinh tế Việt Nam phát triển trung bình 6,5 % mỗi năm, đạt mức thu nhập trung bình thấp năm 2008 và hiện nay đang tiến đến mức thu nhập trung bình cao. Năm 2023 tổng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam là 4.316 đô la, dự kiến sẽ đạt ngưỡng trung bình cao trong vài năm tới.

    Giáo sư Thọ trong cuốn sách vừa cho ra mắt độc giả phân tích : trong trường hợp của Việt Nam, « để trở thành một quốc gia tiên tiến phát triển thu nhập cao vào năm 2045, tăng trưởng bình quân trong 20 năm tới phải là 6 % ». Để đạt được mục tiêu đó, Việt Nam cần vượt qua những rào cản mang tính « định lượng » và « chất lượng ».

    Riêng về chất lượng, tác giả nêu bật hai nhóm vấn đề cần chú ý. Nhóm 1 liên quan đến 2 « vấn đề tồn tại từ lâu nhưng chưa được giải quyết » :

    « Một là bộ máy công quyền và tình trạng giáo dục như hiện nay rất xa lạ với một nước đang trên đường tiến tới một quốc gia tiên tiến. Thu nhập ngoài lương của công chức, quan chức còn rất lớn, gây ra tệ nạn tham nhũng và làm cho bộ máy nhà nước kém hiệu quả » và « Hai là chất lượng của kinh tế thị trường cần được cải thiện sớm (..) vì hiện nay ở Việt Nam, nhiều người vẫn còn hiểu sai về kinh tế thị trường. Họ không hiểu rằng giao dịch và trao đổi (..) chỉ bền vững khi chất lượng của thị trường được bảo đảm », mà hiện tại thì chất lượng đó lại « liên quan đến chất lượng, đến sự tin cậy giữa các bên tham gia » (tr. 27).

    Nhóm vấn đề thứ hai liên quan đến hình ảnh của một đất nước và tác giả cuốn Hồi Ức Đến Tương Lai đã tóm tắt những điểm như sau mà đầu tiên hết trong nhóm này là quyền lực mềm :

    « Cho đến nay, sức mạnh kinh tế và quân sự thường được sử dụng để ảnh hưởng đến nước khác thông qua các quan hệ quốc tế về chính trị, quân sự, kinh tế gọi là sức mạnh cứng, hard power » nhưng bên cạnh đó quyền lực mềm có thể nâng cao vị trí của một quốc gia trên trường quốc tế. « Sức mạnh mềm đó thể hiện qua sức mạnh văn hóa, uy tín quốc tế và sự lôi cuốn, hấp dẫn của một quốc gia, một dân tộc » (tr.27-28). 

    Tác giả đặc biệt chú trọng đến những yếu tố chất lượng cuộc sống :

    « Cần làm cho thành quả phát triển mang lại hạnh phúc cho tuyệt đại đa số dân chúng. Nhìn chung kinh tế càng phát triển, con người càng được hạnh phúc vì thỏa mãn được các nhu cầu trong cuộc sống. Tuy nhiên cần thêm hai điều kiện : môi trường sống và tình hình phân phối thu nhập. Ô nhiễm môi trường, ách tắc giao thông..  làm giảm chất lượng cuộc sống. Phân phối thu nhập quá bất bình đẳng làm cho tầng lớp thu nhập thấp chẳng những chẳng được cải thiện mà còn cảm thấy bất mãn khi thấy xã hội bất công (...). Đây là mầm mống gây bất ổn xã hội » (tr.29).

    Tính tự chủ về kinh tế 

    Song để phát triển vững mạnh thì yếu tố quan trọng không kém là « tính tự chủ về kinh tế » của một quốc gia và tác giả so sánh :  

    « Giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế » nghĩa là làm thế nào để « tránh được các cú sốc từ sự thay đổi đột ngột trên thị trường thế giới, làm sao để kinh tế không phụ thuộc nhiều vào một nước lớn qua các kênh nhập và xuất khẩu, vay nợ, đầu tư (…) đặc biệt Việt Nam nằm cạnh một nước rất lớn và đã qua một quá trình phát triển mạnh mẽ ». Năm 2023 « dân số Trung Quốc đông gấp 14 lần Việt Nam, GDP lớn gấp 41 lần và tiềm lực về công nghệ, giáo dục và quốc phòng nằm ở vị trí siêu cường (…) trong quan hệ kinh tế, nếu Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc thì kinh tế Trung Quốc có biến động sẽ làm kinh tế Việt Nam bất ổn. Việc vay vốn nhiều từ Trung Quốc cũng có thể gây ảnh hưởng về chính trị » (tr.31).

    Đương nhiên trên con đường phát triển, do khoảng cách quá lớn trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc, Việt Nam không thể áp dụng chính sách mà Hàn Quốc đã từng đề ra để đuổi kịp Nhật Bản : 

    « Từ xưa người Triều Tiên vẫn cho mình là dân tộc có nền văn hóa cao hơn Nhật Bản, nhiều di sản văn hóa phương Đông được du nhập sang Nhật Bản qua cửa ngõ Triều Tiên, nhưng Nhật Bản lại là nước phát triển trước và từng là nước đô hộ Triều Tiên trong 35 năm (1910-1945). Sự tồn tại của một đất nước phát triển ngay bên cạnh mình, có quan hệ lịch sử phức tạp với mình đã trở thành động lực làm cho Hàn Quốc phát huy tinh thần dân tộc cao độ. Hàn Quốc đã lấy Nhật Bản làm mục tiêu để theo kịp và vượt qua. Hàn Quốc đã trở thành mô hình của một nước công nghiệp hóa đi sau trong nỗ lực tiếp cận, du nhập và hấp thu công nghệ, tri thức kinh doanh của nước ngoài, đặc biệt là Nhật Bản và Mỹ » (tr. 168).

    Trong cuốn Hồi Ức Đến Tương Lai-Suy ngẫm về văn hóa, giáo dục và con đường phát triển của Việt Nam, viết về kinh tế của giáo sư Trần Văn Thọ thường « kết nối với lịch sử, văn hóa ». Ngoài chuyên môn về « kinh tế phát triển », về « kinh tế quốc tế », ngoài công việc nghiên cứu, giảng dậy thì văn học, âm nhạc, lịch sử còn là sở trường của tác giả với những bài viết về Tự Lực Văn Đoàn, về nhà thơ Đinh Hùng, Thế Lữ về tinh thần cầu tiến của Thời Minh Trị, về Phong trào Đông Du, về nhạc phẩm Kandagawa - một trong những bản tình ca vượt thời gian của Nhật Bản... .  

    -----

    Một vài tác phẩm đã phát hành của Giáo Sư Trần Văn Thọ :

    *Công nghiệp hóa Việt Nam trong thời đại châu Á-Thái Bình Dương, NXB TP. Hồ Chí Minh (1996) 

    *Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc Gia (2005), tái bản NXB Trẻ (2006) 

    *Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam, NXB Tri Thức (2016) 

    *Kinh tế Nhật Bản giai đoạn phát triển thần kỳ 1955-1973, NXB Đà Nẵng (2021)

    11 min
  • Thượng đỉnh Alaska về Ukraina, hay thỏa thuận ngầm để đưa đầu tư Mỹ trở lại Nga ?

    Vãn hồi hòa bình tại Ukraina không phải là ưu tiên của cả Trump lẫn Putin. Trong phiên giao dịch 11/08/2025, bốn ngày trước thượng đỉnh Alaska, chỉ số chứng khoán tại Matxcơva tăng giá, phản ánh kỳ vọng của giới đầu tư Nga trước những viễn cảnh kinh tế tươi sáng hơn : Mỹ ngừng các biện pháp trừng phạt Matxcơva về việc xâm chiếm Ukraina. Chấm dứt chiến tranh Ukraina hay thảo luận để đưa đầu tư của Mỹ trở lại Nga mới là trọng tâm thượng đỉnh Trump- Putin ngày 15/08/2025 ? 

    Tháng 2/2025, một tuần lễ sau cuộc điện đàm đầu tiên giữa tổng thống Mỹ thứ 47 Donald Trump và đồng cấp Nga Vladimir Putin, Quỹ đầu tư quốc gia của Nga dự phóng « từ quý 2/2025, một số công ty Mỹ sẽ quay lại » Nga. Cuối tháng 3/2025, đặc phái viên của điện Kremlin Kirill Dmitriev khẳng định, lãnh đạo hai nước đã « bắt đầu đàm phán về hợp tác khai thác đất hiếm và các dự án khác ở Nga ». Cũng nhân vật này, được báo Anh The Guardian trích dẫn, đã đầy tự tin tuyên bố các công ty dầu khí của Hoa Kỳ « không bỏ qua cơ hội tiếp cận tài nguyên của Nga ».

    Washington dưới chính quyền Trump và điện Kremlin thẳng thắn nhìn nhận « những thỏa thuận kinh tế khổng lồ là một phần trong mối bang giao » giữa hai quốc gia, như tác giả cuốn Zero Sum: The Arc of International Business in Russia, Charles Hecker đã ghi nhận trên tạp chí tài chính Fortune.

    Đất hiếm và khoáng sản, chiêu bài của Nga dễ « dụ » Mỹ 

    Vào lúc Trung Quốc, một đối tác mật thiết của Nga, đã khai mào cuộc chiến đất hiếm với Hoa Kỳ, rồi Washington o ép Kiev để đạt cho bằng được một « thỏa thuận khổng lồ về khoáng sản » dễ dàng mở đường cho Putin dùng lá bài đất hiếm để « nói chuyện » với chủ nhân Nhà Trắng. Đầu tháng 3/2025, lãnh đạo điện Kremlin đã nhấn mạnh « sẵn sàng hợp tác với các đối tác Mỹ, gồm cả các tập đoàn nhà nước và tư nhân » trong các dự án đồng khai thác đất hiếm, và « Nga có thể giúp làm hạ nhiệt thị trường nhôm, qua việc cho phép xuất khẩu trở lại » mặt hàng này sang Hoa Kỳ.

    Tổng thống Putin đã chỉ định một người thân tín dẫn đầu phái đoàn đàm phán với Washington : Kirill Dmitriev là một chuyên gia về tài chính từng được đào tạo và giàu kinh nghiệm ở Hoa Kỳ. Ông hiện điều hành Quỹ đầu tư quốc gia của Nga và được Thời Báo Matxcơva mệnh danh là người đã « kiến tạo chiến lược mang những dự án đầy hứa hẹn ra để chiêu dụ » Donald Trump, đặc biệt là những dự án về khoáng sản, do Nga được cho là 1 trong 5 quốc gia tiềm năng nhất trên thế giới về đất hiếm. Nhà nghiên cứu Alexandra Prokopenko trong một bài viết trên trang mạng của trung tâm Carnegie Politika cảnh báo Quỹ đầu tư quốc gia của Nga có thể là « bãi đáp cho vốn đầu tư của Mỹ ». Số tiền đó sẽ được dành để « phát triển các lĩnh vực đang trong tay những nhân vật thân cận với tổng thống Vladimir Putin ».

    Vẫn Thời Báo Matxcơva nhắc lại, dưới tác động chiến tranh Ukraina và chính sách trừng phạt Matxcơva, xuất khẩu của Mỹ sang Nga năm 2024 bị đẩy xuống còn khoảng 500 triệu đô la, trái lại thì Hoa Kỳ vẫn mua vào đến 3 tỷ đô la nguyên liệu và cả năng lượng của Nga. Trước 2022, Mỹ từng là « nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất » vào Nga, tham gia nhiều tập đoàn của Nga như Yandex trong lĩnh vực tin học, hay Ozon chuyên về mua bán trên mạng.  

    Đôi bên cùng đang « diễn tuồng »

    Câu hỏi kế tiếp là liệu Nga-Mỹ có dễ hợp tác về kinh tế hay không, Maximilian Hess, sáng lập viên công ty tư vấn Ementena Advisory, Luân Đôn cho rằng « đầu tư hay hợp tác với Matxcơva sẽ không dễ, nhất là khi liên quan đến những dự án nhạy cảm » như khai thác tài nguyên quốc gia. Ngoài ra, trong một số lĩnh vực như năng lượng, Nga và Mỹ là hai đối thủ cạnh tranh trực tiếp : Washington luôn gây áp lực với Bruxelles đòi Liên Hiệp Châu Âu « mua khí hóa lỏng của Mỹ thay vì nhập khẩu nguyên liệu này của Nga ». Trong cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Ấn Độ, New Delhi cũng đang « khốn đốn » vì lách lệnh cấm vận dầu hỏa của Nga … Do vậy, những đề xuất hay tuyên bố « hợp tác Nga-Mỹ » về khoáng sản và đất hiếm « chỉ là một màn trình diễn », « thực chất không nhiều » và « môi trường làm ăn ở Nga không mấy thân thiện » như chuyên gia về Nga của viện Chatham House - Luân Đôn, Timothy Ash ghi nhận.

    Dù vậy, một bên là Vladimir Putin chính thức kêu gọi Mỹ đầu tư vào Nga và bên kia, đích thân Donald Trump (ngày 24/02/2025) xác nhận « thảo luận nghiêm túc » về những « thỏa thuận lớn để phát triển kinh tế » giữa hai nước, mọi việc đang « tiến triển tốt ». Vẫn trên mạng xã hội cá nhân, nguyên thủ Hoa Kỳ khẳng định « hợp tác kinh tế với Nga bảo đảm người dân Mỹ lấy lại được hàng chục tỷ đô la, đó là số tiền Mỹ đã viện trợ và cấp thiết bị quân sự cho Ukraina ».

    Matxcơva hiểu rằng Trump thích những « dự án chóng sinh lợi, dễ đem về lợi nhuận cao và nhất là dễ có sức thu hút các phương tiện truyền thông », như Alexandra Prokopenko phân tích.

    Còn nhìn từ Matxcơva, hợp tác với Hoa Kỳ là chìa khóa tốt nhất để phá vỡ vòng vây cấm vận của phương Tây, đồng thời tiếp cận công nghệ cao và thiết bị điện tử của Âu, Mỹ. Trong bối cảnh đó, báo tài chính Mỹ Bloomberg ngày 12/08/2025 đặt câu hỏi liệu tổng thống Trump có sẽ lại bị đồng cấp Putin « qua mặt » lần nữa tại thượng đỉnh Alaska ngày 15/08/2025?  

    Vãn hồi hòa bình cho Ukraina chỉ là một phần của thượng đỉnh Alaska  

    Trên đài truyền hình tư nhân BFM TV (ngày 09/08/2025) phóng viên Olivier Weber cũng cho rằng, chấm dứt chiến tranh Ukraina chỉ là một phần trong số các hồ sơ sẽ được Putin à Trump thảo luận tại Alaska trong vài ngày nữa. Cả hai cùng không muốn « có bất kỳ một sự hiện diện nào khác » của Liên Âu hay của quốc gia liên quan là Ukraina:

    « Donald Trump mong muốn một mối quan hệ cá nhân cực kỳ mạnh mẽ với Vladimir Putin, do đó trên nguyên tắc, tại thượng đỉnh lần này, có thể là Ukraina, Liên Âu và cả NATO cùng đứng ngoài, để chiều theo ý tổng thống Nga. Về phía Matxcơva, Putin cũng sẽ làm tất cả để Trump hài lòng vì vừa muốn Ukraina nhượng lãnh thổ và hơn thế nữa, Nga đang chờ đợi Mỹ dỡ bỏ các lệnh cấm vận. (...) Trên nguyên tắc thượng đỉnh Alaska hoàn toàn thuận lợi cho Matxcơva. (…) Điều mà Kremlin muốn tránh bằng mọi giá là Washington tăng cường các biện pháp trừng phạt, và nhất là áp dụng các biện pháp trừng phạt gián tiếp nhắm vào những khách hàng của Nga. Ấn Độ, Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ mua dầu khí của Nga với giá rẻ. Mỗi ngày Nga sản xuất 4,7 triệu thùng dầu. Thiệt hại từ đòn trừng phạt này sẽ rất nghiêm trọng.

    (…) Tổng thống Putin thừa biết lãi suất ngân hàng Nga hiện tại ở khoảng 20-21 %, tức là ở ngưỡng quá cao. Bằng mọi giá ông muốn tránh để kinh tế Nga rơi vào khủng hoảng cho hai năm sắp tới.

    (…) Tuy nhiên, đây sẽ không là một cuộc họp thượng đỉnh mang lại hòa bình, mà chỉ dẫn tới lệnh ngừng bắn và có thể là phía Nga sẽ rút quân khỏi một số vùng trên lãnh thổ Ukraina, như những thông tin hiện có do Nhà Trắng cung cấp.

    Có khả năng hai vùng Luhansk và Donetsk sẽ vẫn do Nga kiểm soát, nhưng quân Nga sẽ dừng lại ở địa điểm đang chiếm đóng, lùi bước và sẽ không đi xa hơn. Ngay cả trong việc đình chiến cũng có lợi cho phía Nga, giúp cho lực lượng quân sự của Nga lấy lại sức. Ukraina rất sợ kịch bản này. Trái lại với Mỹ, điều quan trọng là phải đạt được một chút kết quả gì đó để cho phép Trump khoe thành tích ông là một nhà trung gian hòa giải hiệu quả. Điều quan trọng nhất đối với Donald Trump là thượng đỉnh Alaska sẽ thỏa mãn được cái « tôi » quá lớn của ông ấy.

    Về phía Nga, rõ ràng là Vladimir Putin rất hài lòng khi đàm phán riêng với nguyên thủ Mỹ không qua bất kỳ một trung gian nào khác, nhất là không muốn tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky tham dự.

    Nhìn đến Ukraina, về cơ bản, việc Mỹ càng lúc càng ít cấp vũ khí cho Kiev khiến Ukraina kiệt quệ. Kiev và công luận Ukraina luôn khẳng định muốn giữ tất cả lãnh thổ. Điều này có thực tế hay không ? Tôi không dám chắc ».

    Người muốn khoe thành tích, kẻ muốn bẻ gấy vòng vây cấm vận

    Nhìn từ Mỹ, báo tài chính The Wall Street Journal trích lời Guy Anderson, chuyên theo dõi các hoạt động trong lĩnh vực công nghệ quốc phòng, khẳng định : Đối với ông Putin thì ưu tiên lần này tại Alaska không phải là Ukraina, mà là thuyết phục tổng thống Hoa Kỳ dỡ bỏ trừng phạt đang gây phương hại đến thu nhập của các tập đoàn năng lượng của nước Nga, mà đây vốn là những nguồn tài trợ cho cỗ máy chiến tranh của Matxcơva:

     « Từ khi xâm lược Ukraina, Matxcơva đã tăng chi tiêu quân sự. Hồi 2022, chi tiêu quốc phòng của Nga khoảng 50 tỷ đô la một năm. Hiện nay, ngân sách đó là 150 tỷ đô la. Dưới tác động các biện pháp trừng phạt của phương Tây, năm đó, kinh tế Nga đã suy giảm nghiêm trọng. GDP giảm 2 %. Nhưng điều thú vị là kinh tế của nước này đã nhanh chóng bật dậy trở lại. Trong khi đó Liên Âu mất hẳn thị trường của Nga. Matxcơva chuyển sang trông cậy chủ yếu vào Trung Quốc và Ấn Độ. Nhưng giờ đây, Hoa Kỳ đòi mở rộng các biện pháp trừng phạt đến các khách hàng của Matxcơva. Ấn Độ và Trung Quốc hiện đang mua vào đến 50 % tổng kim ngạch xuất khẩu dầu hỏa của Nga. Đây sẽ là một thảm họa đối với Matxcơva vì xuất khẩu năng lượng bảo đảm đến 1 phần 3 ngân sách liên bang hàng năm ».

    Tuần báo Anh The Economist ghi nhận : Thứ Sáu 08/08/2005 là hạn chót để tổng thống Mỹ đưa ra một quyết định mạnh mẽ đòi Nga ngừng chiến tranh Ukraina. Đến cuối ngày, Nhà Trắng thông báo thượng đỉnh Trump-Putin tại Alaska. Một lần nữa Trump tuyên bố rất hùng hồn, nhưng luôn áp dụng chiến thuật « dơ cao đánh khẽ » và tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nhân điện Kremlin.

    11 min
  • Anh Quốc trước thách thức chuyển đổi sang ô tô điện

    Kể từ giữa tháng 7/2025 chính phủ Anh tung ra một chương trình 650 triệu bảng, tương đương với 75 triệu đô la để tài trợ trực tiếp cho người mua xe hơi động cơ điện - EV. Tiền hỗ trợ giá mua lên tới £3.750 cho một chiếc xe điện để cả nước Anh đẩy nhanh hơn tiến trình chuyển đổi sang từ xe dùng nhiên liệu hóa thạch sang xe điện.

    Vì sao chính phủ Anh quyết định dùng ngân sách để tác động vào thị trường xe hơi như vậy?

    Chính phủ Anh sau nhiều suy tính cuối cùng cũng phải chọn biện pháp mà các nước trong Liên Hiệp Châu Âu - EU đã làm từ lâu : dùng tiền ngân sách để tác động vào thị trường xe hơi, nhằm đẩy số xe điện lên cao hơn, vì ở Anh, con số này đang quá thấp so với Liên Âu.

    Theo số liệu của Hiệp hội Sản xuất Xe hơi châu Âu (European Automobile Manufacturers’ Association-ACEA) vào hai tháng đầu năm 2025, số xe điện dùng pin (battery-electric vehicles) ở EU chiếm tới 15,2% tổng số xe hơi. Con số này tăng mạnh so với cùng kỳ của năm 2024. Nếu tính số xe động cơ hỗn hợp (hybrid-electric) thì con số là 35,2% thị phần xe hơi cá nhân.

    Còn ở Anh, các số liệu chính thức nói xe EV mới có chừng 1,3 triệu chiếc trên tổng số 35 triệu xe có đăng ký, tức là chỉ có chừng 4%. Con số có tăng, nhưng quá chậm, vì báo cáo của Quốc Hội Anh cho biết năm 2024 số xe EV trên cả nước mới chiếm có 3% thị phần xe hơi và xe hybrid được 8%.

    Trong khi đó Anh đã cam kết phi carbon (decarbonisation) vào năm 2050, còn gọi là Net Zero. Để đạt mục tiêu đó thì Anh phải có số xe không phát thải chiếm 80% thị trường xe cộ vào năm 2030. Đây là mục tiêu quá tham vọng, chỉ còn chưa đầy 5 năm nữa là phải đạt được. Nhìn lại thì mục tiêu cho năm 2024 là đẩy số xe không phát thải lên 22% thị phần xe hơi đã không đạt được rồi.

    Lý do vì sao tiến trình giảm xe xăng và xe đốt dầu diesel ở Anh chậm như vậy?

    Thực ra có nhiều lý do khách quan, ngoài ý muốn của người tiêu dùng, như một số tạp chí về xe hơi phân tích. Đó là giá xe điện, thực chất là giá cục pin, quá cao. Ví dụ dòng xe Tesla bán ở Anh với giá từ 40 nghìn đến 100 nghìn bảng, nhiều hơn từ 1/3 tới gấp hơn 3 lần thu nhập cả năm trước thuế của người lao động bình thường, nên ai mà mua nổi ? Nay, giá xe EV của Trung Quốc nhập vào Anh có rẻ hơn, cũng phải ở mức 20-30 nghìn bảng.

    Chính sách của nhà nước Anh có sự mâu thuẫn. Từ tháng 4 năm nay, xe điện không còn được miễn thuế đường, và xe mua với giá trên 40 nghìn bảng thì phải đóng thêm thuế “hàng hóa xa hoa” (luxury car fee). Nay thì chính phủ lại trợ giá gần 4.000 bảng cho một đầu xe điện mới, để khuyến  khích người ta mua nhiều hơn.

    Tình trạng là nửa năm qua thì số xe EV đăng ký tăng lên nhiều, đạt gần 150 nghìn chiếc từ đầu năm đến hết tháng 4, tức là trên đà tăng, nhưng người ta phàn nàn là xe điện mất giá rất nhanh. Giá bán xe sau 1 năm sử dụng từ lúc mới chỉ còn giá trị 50% giá ban đầu, và sau 2 năm thì chỉ còn 40% giá trị. Mua EV là chấp nhận chi phí ban đầu cao, giá bán lại (resale) thấp. Ngoài ra thì hiện cả nước Anh mới có 84 điểm sạc pin công cộng, nên cơ sở hạ tầng cần triển khai nhanh và đại trà thì mới đẩy số xe EV lên được. 

    Kế hoạch kích cầu (push demand) cho xe điện ở Anh có gì đặc biệt, so với các nước khác ?

    Theo thông báo của chính phủ thì từ ngày 17/07/2025, xe EV có giá 37.000 bảng Anh trở xuống nằm trong diện được trợ cấp giá mua. Và những xe có chỉ số kỹ thuật thân thiện với môi trường nhất sẽ nhận được mức giảm giá lớn nhất, tối đa là 3.750 bảng.

    Các nhà sản xuất ô tô có thể đăng ký nhận tài trợ và Hiệp hội Xe hơi RAC cho biết xe giảm giá sẽ bắt đầu xuất hiện tại các đại lý “trong vòng vài tuần tới”.

    Đây không phải là lần đầu tiên chính  phủ Anh can thiệp vào thị trường để thúc đẩy nhu cầu xe mới. Năm 2008, chính phủ đảng Lao động của thủ tướng Gordon Brown lần đầu cho áp dụng chế độ hỗ trợ mua xe mới, hủy xe cũ, thường là loại 7-10 năm tuổi, có động cơ thế hệ cũ, xả thải gây ô nhiễm cao. Kế hoạch đó đã giúp thu hồi và hủy tới 400 nghìn chiếc xe ô-tô cũ ở nước Anh, tất nhiên các xe mới vẫn là xe xăng hoặc dầu diesel nhưng có chỉ số phát thải thân thiện hơn với môi trường. Hiện nay, nhà nước làm hai bước. Một là cấm bán và đăng ký mới các xe có động cơ toàn bộ bằng xăng hoặc dầu diesel từ năm 2030. Hai là trợ giá để người ta mua xe điện.

    So với các nước EU khác thì Anh có vẻ chậm hơn. Pháp, Hà Lan, Bỉ, Ireland...và Đức đều đã có trợ cấp nhằm giảm chi phí mua xe điện, hoặc bù giá, hoặc miễn thuế giao thông, hoặc hỗ trợ tín dụng... Riêng Đức có dừng chương trình bù giá mua xe điện vào cuối năm ngoái để chuyển sang một hình thức khác. Nhưng nhìn chung các nước EU giàu có nhất đều đã làm. Anh Quốc đang phải chạy đua với thời gian, và tung ra chương trình trị giá 650 triệu bảng Anh có hiệu lực trong vòng ba năm tới để trợ giúp thị trường xe điện. Tất nhiên, ngoài xe điện thì các mẫu xe động cơ hỗn hợp (hybrid) cũng đang ngày càng phổ biến ở Anh và chính phủ sẽ đầu tư 63 triệu bảng để xây dựng các điểm sạc xe điện, phục vụ cho hai loại xe này.

    Không chỉ ở Anh mà ở một số nước khác, việc chuyển đổi xe xăng dầu sang xe điện đột ngột sẽ gây áp lực cho mạng lưới cung cấp điện quốc gia.

    Theo một đánh giá chuyên ngành thì nếu ngay lập tức tất cả 34 triệu xe hơi có đăng ký trên toàn Vương quốc Anh biến thành EV thì lưới điện quốc gia (UK National Grid) phải chịu tải tăng lên 30-50%. Thế nhưng việc chuyển đổi sang xe điện (EV) sẽ diễn ra một cách từ từ, có lộ trình qua nhiều năm, đồng hành với quá trình tăng công suất điện toàn quốc, nên sẽ không có vấn đề gì. Ví dụ chính phủ hiện hành công bố kế hoạch xây 5 thêm 5 nhà máy điện nguyên tử - hiện Anh có 4 nhà máy đang hoạt động, trong vòng 10-15 năm tới. Công trình lò phản ứng hạt nhân dân dụng Sizewell C ở hạt Suffolk vừa được ký lại với Pháp để cùng triển khai. Đây là công trình đã ký với Pháp 18 năm trước nhưng bị trì hoãn.

    Giờ thì được tái đầu tư để khởi động quá trình xây cất, dự kiến hoàn tất vào trong khoảng từ 9 đến 12 năm tới và sẽ cung cấp điện đủ cho 4 triệu hộ gia đình hoặc điện năng tương đương 7% công suất toàn quốc. Ngoài ra là 4 lò nhỏ gọi là module hạt nhân (Small Modular Reactors -SMRs) và mỗi lò có thể cung ứng điện cho 750 nghìn hộ gia đình. Một lò phản ứng nguyên tử nhỏ này chỉ có giá chừng 2,5 triệu bảng, tức là rất rẻ. Anh cũng như Pháp, Hoa Kỳ...là các nước đã làm chủ những công nghệ năng lượng hiện đại nhất thế giới nên họ đã làm là sẽ làm được. Các nhà máy điện nguyên tử này là nòng cốt của chiến lược Net-Zero (phát thải bằng không) của Anh.

    Nhìn từ góc độ người tiêu dùng và người lái xe, chính phủ Anh làm gì để hỗ trợ lái xe và các gia đình không có điều kiện lắp ổ sạc riêng?

    Vấn đề phiền phức hơn cả việc xây nhà máy điện nguyên tử thực ra là cơ sở hạ tầng cho đầu ra, ví dụ Anh cần thêm hàng trăm nghìn điểm sạc điện công cộng. 

    Một phần của chương trình hỗ trợ là chính phủ cấp tiền cho các địa phương sửa vỉa hè để lập ra các ống ngầm khô ráo, giúp dân kéo dây nạp điện cho xe của họ đỗ ngoài phố vào nhà. Hiện nay chỉ có người có bãi đậu xe riêng trước nhà hoặc gara riêng thì mới lắp được ổ điện chuyên dụng, chịu tải cao. Còn người dân ở chung cư, ở nhà không có chỗ đỗ xe riêng (driveway), thì không thể sạc pin cho xe điện tại nhà. Thế nên việc cải tạo vỉa hè sẽ giúp họ nạp điện qua đêm ở nhà với giá rẻ. Bởi ở Anh, giá điện về đêm rẻ hơn giá ban ngày.

    Vì về mặt kỹ thuật, xe điện muốn sạc pin nhanh thì cần voltage ở mức 400V trở lên (DC fast charging), cao hơn tiêu chuẩn ổ sạc điện dân dụng bình thường trong hộ gia đình là 120V hay 240V. Anh quốc cũng đang cho xây thêm số điểm sạc pin công cộng giá rẻ (30 xu Anh/kWh, so với giá thương mại lên tới 79 xu/kWh) từ 82 nghìn hiện nay lên thêm 100 nghìn nữa.

    Ngoài việc bỏ tiền trợ giá cho người dân mua xe điện, Anh Quốc có chính sách công nào khác thúc đẩy quá trình tiến tới Net Zero và khả năng thành công có cao không?

    Đây là quá trình có tác động sâu rộng tới sinh hoạt xã hội. Chính phủ có ý thức về điều này. Ví dụ với các điểm thiết yếu cho cuộc sống như bệnh viện công thì họ sẽ lắp thêm 1200 trạm sạc pin. Người ta cũng sẽ đặt các trạm sạc của nhà nước dọc xa lộ trên toàn quốc. Hiện tình hình là khu vực Luân Đôn và vùng phụ cận có nhiều điểm sạc pin, nhưng các vùng xa của Anh, Wales và Scotland thì rất hiếm. Muốn phổ cập xe điện thì chính phủ phải bỏ tiền đầu tư cho giao thông công cộng. Đầu tư cho xe bus chạy điện hoặc dùng động cơ hydrogen cũng sẽ được tăng lên. Cả Luân Đôn hiện nay mới có một đội xe buýt dùng động cơ đốt hydrogen, thân thiện với môi trường. Chính quyền Luân Đôn sẽ phải tăng số xe này lên. Xe taxi ở đô thị và xe cứu thương cũng được khuyến khích chuyển sang xe điện.

    Cũng cần nói là bên cạnh chính phủ thì có các sáng kiến tư nhân từ chính các tập đoàn năng lượng. Ví dụ năm 2022 tập đoàn dầu khí BP đã cam kết đầu tư 1 tỷ bảng vào mạng lưới trạm sạc pin cho xe điện.

    Anh Quốc có đạt Net-Zero vào năm 2050 hay không là câu hỏi quan trọng. Điều chắc chắn, theo như Quốc Hội đánh giá thì việc đạt mục tiêu này phụ thuộc rất nhiều vào cải tổ thị trường xe điện, vì giao thông vận tải đường bộ ở Anh đang đóng góp 54% vào toàn bộ số CO2 Anh quốc thả vào khí quyển hàng năm.

    Tóm lại là quá trình chuyển đổi từ xe đốt nhiên liệu hóa thạch sang chạy điện của Anh đã không đạt tiến độ và chiến lược vừa tung ra là cần thiết, tuy chưa rõ có đủ để tạo bước ngoặt hay là không. Thế nhưng dù sao thì chậm còn hơn không và có thể tới đây, Anh Quốc sẽ tăng tốc được quá trình này. Chúng ta hãy chờ xem.

    Sources:

    https://commonslibrary.parliament.uk/research-briefings/cbp-7480/

    https://emobilityplus.com/2025/07/15/uk-unveils-63-million-boost-for-ev-infrastructure-to-cut-charging-costs-support-nhs-fleet-electrification-and-back-green-jobs/

    https://www.autocar.co.uk/opinion/business-government-and-legislation/winners-and-losers-uks-new-ev-incentives

    https://emobilityplus.com/2022/04/05/bp-to-invest-1-billion-in-uk-ev-charging-infrastructure/

    10 min
  • Nghịch lý trong bang giao Liên Âu với Trung Quốc

    Trung Quốc có còn cần vốn đầu tư và công nghệ của Liên Hiệp Châu Âu nữa hay không ? Bắc Kinh không để « bị lừa » như châu Âu trên vấn đề chuyển giao công nghệ. Bruxelles, « tiền đầy túi, có quyền sinh sát » với hàng xuất khẩu của Trung Quốc nhưng lại trong thế yếu. Nhà nghiên cứu Isabelle Feng, Trung Tâm Asia Centre-Paris phân tích về những nghịch lý trong mối quan hệ « bất cân đối » và bất lợi cho Liên Âu sau 50 năm thiết lập bang giao.

    50 năm hành trình một cuộc « cách mạng» trong bang giao Liên Âu -Trung Quốc

    Tương quan lực lượng giữa Liên Hiệp Châu Âu và Trung Quốc trong nửa thế kỷ qua đã hoàn toàn thay đổi. Năm 1975 phó chủ tịch kiêm ủy viên châu Âu đặc trách về đối ngoại, Christopher Soames đến Bắc Kinh khởi động bang giao với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Chuyến viếng thăm này mở đường cho những « hiệp định thương mại » năm 1978 rồi « hiệp định kinh tế và thương mại » năm 1984 ». Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, tăng tốc đầu tư vào Liên Âu từ 2008 khi thế giới tư bản chao đảo vì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. 2019 Bruxelles xem Trung Quốc là một « đối tác, một đối thủ cạnh tranh có hệ thống » trước khi hướng tới mục tiêu « de-risking » giảm bớt mức độ lệ thuộc vào nền kinh tế thứ hai toàn cầu.

    Với chiến tranh Ukraina, an ninh của Liên Âu bị Nga đe dọa thì Bắc Kinh thắt chặt bang giao với Matxcơva. Vào lúc các nền công nghiệp tiên tiến toàn cầu bị các nền kinh tế đang trỗi dậy cạnh tranh mà nguy hiểm nhất là hàng rẻ Trung Quốc, Hoa Kỳ không còn che đậy chủ trương bảo hộ. Riêng Bruxelles vẫn chủ trương « mở cửa thị trường » và « tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng » giữa các nhà sản xuất vì « lợi ích của người tiêu dùng ».

    Bước vào thời kỳ công nghệ số Lục Địa Già hoàn toàn phụ thuộc vào các tập đoàn Mỹ và đã bất ngờ bị các đối thủ Trung Quốc qua mặt.

    Về thương mại, Liên Âu xuất siêu sang Mỹ nên trong tầm ngắm của chính quyền Trump ngay từ nhiệm kỳ đầu 2017-2021 và lại càng bị tấn công mạnh hơn nữa trong từ sáu tháng qua khi nhà tỷ phú địa ốc này quay lại Nhà Trắng. Cũng là nạn nhân trong chính sách bảo hộ của Washington, Bắc Kinh không còn dễ dàng xuất khẩu và đầu tư sang Mỹ nên đã tăng tốc « đổ hàng » sang châu Âu, đe dọa sự sống còn của các nhà sản xuất trên Lục Địa Già.

    « Tiền đầy túi » mà vẫn phải đi « năn nỉ »

    Với bạn hàng Trung Quốc, trao đổi mậu dịch hai chiều năm 2024 lên tới 845 tỷ đô la, nhưng Liên Âu trong thế nhập siêu : thâm hụt mậu dịch với Bắc Kinh đạt ngưỡng 300 tỷ, cao gấp đôi so với đúng 10 năm trước đó. Ý thức được mối đe dọa nay, từ 2019 Bruxelles liên tục tìm cách « giành lại chủ quyền » về công nghiệp, về công nghệ, đòi được Trung Quốc đối xử với các doanh nghiệp châu Âu « công bằng hơn » khi họ đầu tư vào Hoa Lục.

    Bất lực của một khối giàu có và thịnh vượng

    Nhưng thượng đỉnh Bắc Kinh hôm 24/07/2025 là bằng chứng rõ rệt cho thấy sự bất lực của khối 450 triệu dân có mãi lực « thừa sức » để áp đặt điều kiện với nền kinh tế thứ hai toàn cầu. Mời quý vị theo dõi phần phỏng vấn Isabelle Feng chuyên về kinh tế và chính sách đối ngoại của Trung Quốc, phó chủ nhiệm chương trình nghiên cứu thuộc trung tâm Asia Centre tại Paris.

    RFI : Kính chào Isabelle Feng, câu hỏi đầu tiên là bà đánh giá thế nào thượng đỉnh Bắc Kinh tuần qua. Trước hội nghị, trong bài tham luận đăng trên trang nhà của trung tâm nghiên cứu Asia Centre bà đã xem đây là một « thất bại được báo trước » khi Liên Hiệp Châu Âu đòi « cân bằng lại » quan hệ về kinh tế, về thương mại với Trung Quốc ?

    Isabelle Feng : « Ngay từ trước hội nghị hôm 24/07/2025, trên báo chí, các nhà phân tích đồng loạt cho rằng thượng đỉnh lần này không mang lại điều gì cụ thể. Và quả là như vậy. Rõ ràng là Bruxelles chẳng được gì khi cử phái đoàn đến Bắc Kinh. Sự kiện tuần trước chỉ là cơ hội chứng minh chính sách tuyên truyền của chủ tịch Trung Quốc rất hiệu quả. Báo chí ở Bắc Kinh nhấn mạnh rằng phái đoàn của Liên Hiệp Châu Âu đã vượt 10.000 cây số sang Trung Quốc – đây là cách nói để nhất mạnh rằng lãnh đạo châu Âu từ rất xa đến để được gặp ông Tập Cận Bình, để cho thấy người ta phải đến yết kiến ông. Các tờ báo chỉ tập trung vào những phát biểu của lãnh đạo Trung Quốc, và mãi đến tận cuối bài người ta mới nhắc qua một vài câu nói của chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, Ursula von der Leyen nhưng đấy là những tuyên bố nhạt nhẽo… Về vấn đề Ukraina châu Âu không đạt được gì cả. Trên các hồ sơ về thuế nhập khẩu về ô tô điện cũng vậy. Vào lúc Liên Âu mong muốn các tập đoàn Trung Quốc chuyển giao công nghệ chế tạo bình điện cho ô tô thì phía Bắc Kinh đã chẳng nói năng gì. Cuối cùng tuyên chung chỉ đề cập đến hợp tác chống biến đổi khí hậu, giảm phát thải carbon.

    Vì có nhắc đến vấn đề « cân bằng lại trong quan hệ giao thương kinh tế », hôm 09/07 bà von der Leyen đã có bài phát biểu và đưa ra một bản báo cáo với những lời lẽ cứng rắn và rất mạch lạc, đòi một mối quan hệ bình đẳng hơn giữa Bắc Kinh với Bruxelles. Nhưng khi nào mà còn chưa chuyển lời nói thành hành động, thì cũng không ăn thua gì cả. Hơn nữa ngay sau những tuyên bố của lãnh đạo châu Âu này thì một quan chức cao cấp của Bắc Kinh đã đáp lời bà Leyen bằng tiếng Hoa, rằng điều cần thiết hiện nay trong bang giao song phương là một sự 'cân bằng trong cách tư duy' của Bruxelles. Đây không hơn không kém là một lời thóa mạ Bắc Kinh ném vào mặt châu Âu và một sự khinh thường Bruxelles quá rõ rệt ».

    Tử huyệt của Liên Âu : Một khối không đoàn kết

    RFI : Hiện tại về công nghiệp cũng như trong nhiều lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, Trung Quốc đã vượt trội hơn cả Liên Âu, sau 50 năm « bang giao » hữu hảo. Vừa là công xưởng cung cấp hàng rẻ cho thế giới, vừa nắm giữ những lá bài then chốt như đất hiếm, Trung Quốc có còn cần đến công nghệ và vốn đầu tư của châu Âu nữa hay không ? hay Bắc Kinh chỉ còn trông thấy ở đối tác này là một thị trường để giải quyết hàng không bán được sang Hoa Kỳ ?

    Isabelle Feng : « Nhìn từ Bắc Kinh, Liên Âu có nhiều lá chủ bài trong tay nhưng Bruxelles không biết cách sử dụng hay không muốn khai thác những lợi thế đó trong quan hệ với Trung Quốc. Liên Hiệp Châu Âu là một khối 27 thành viên, với hơn 450 triệu dân và là một thị trường vừa lớn vừa có sức tiêu thụ cao. Về thương mại, Liên Âu mua hàng của Trung Quốc nhiều hơn là xuất khẩu sang nước này. Nhập siêu của Bruxelles với Bắc Kinh năm ngoái lên tới 300 tỷ đô la. Tức là Liên Âu trong thế mạnh vì nếu ngừng mua hàng của Trung Quốc là đẩy các nhà sản xuất của nước này vào thế kẹt. Vậy mà với tiềm lực kinh tế mạnh như vậy, Liên Âu lại không thể tạo ra một thế đối trọng với Trung Quốc. Ngoài ra, tuy là một khối nhưng lại không đoàn kết trước một đối tác và cũng là đối thủ như Bắc Kinh. Trung Quốc hiểu được điều đó từ lâu nay. Liên Âu cũng không khai thác được sức mua của mình để áp đặt luật thuế quan với lại Trung Quốc như điều mà Mỹ đang làm hiện nay. Châu Âu rõ ràng là người mua, có ví đầy tiền nhưng lại đi năn nỉ người bán là Trung Quốc : đây là một điều kỳ lạ ! »

    RFI : Có rất nhiều lợi thế trong tay, mà đầu tiên hết là sức mua, là thị trường chung 450 triệu dân, là vốn đầu tư, là mạng lưới công nghiệp và sức sáng tạo của các nguồn nhân lực … tại sao Liên Âu không thể áp đặt một tiếng nói chung trong quan hệ với Bắc Kinh ?

    Isabelle Feng : « Cần nhắc lại nguồn gốc của Liên Hiệp Châu Âu : ban đầu đây là một cộng đồng kinh tế. Chừng nào mà khối này vẫn chưa tìm được bản sắc riêng, chưa có chủ quyền thực thụ về quân sự và trong chính sách đối ngoại, thì Liên Âu sẽ không thể có chung một tiếng nói, dù là với Trung Quốc hay với Mỹ. Đồng thời, Liên Âu có một cấu trúc riêng, và rõ ràng là cơ chế đó không còn thích nghi với thế giới mới ngày nay. Hiện tại thế giới xoanh quanh ba trục chính là Bắc Kinh, Washington và Matxcơva. Châu Âu cố gắng khẳng định mình là cột trụ của thế giới nhưng vẫn chưa thành công.

    (...) Tôi nhớ là năm 1964 khi Pháp công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông, thu nhập bình quân đầu người một năm của Châu Âu là 1.680 đô la, tại Trung Quốc là 80 đô la. Giờ đây Trung Quốc là nền kinh tế thứ hai toàn cầu. Trong khi đó các nước châu Âu nếu xé lẻ, thì không có trọng lượng gì cả so với Trung Quốc. Vì thế nên bắt buộc khối này phải đoàn kết với nhau. Nhưng đoàn kết đó lại không tạo ra sức mạnh cho khối này vì thực tế đây là một khối bị chia rẽ. Đây là một nghịch lý và cũng là nhược điểm của Liên Âu khi mà khối này cần nhất trí để có một lập trường mạnh mẽ cả với Hoa Kỳ lẫn Bắc Kinh. Chúng ta cũng biết rằng Bắc Kinh đang yếu thế vì thị tường Mỹ đang dần dần đóng cửa với hàng Trung Quốc, cho nên hàng Trung Quốc phải đổ sang thị trường châu Âu. Bởi vì ngoài Hoa Kỳ ra thì châu Âu là thị trường có sức mua hấp dẫn nhất. Làm thế nào để hàng hóa của châu Âu có thể cạnh tranh lại được so với hàng Trung Quốc khi mà lương công nhân Trung Quốc là 2 đô la một giờ ? »

    RFI : Trong một số lĩnh vực khoa học và công nghệ mới, như bình điện cho ô tô, pin mặt trời hay trí tuệ nhân tạo, viễn thông … và không ít các tập đoàn Trung Quốc đang dẫn đầu. Một trong những đòi hỏi của Liên Âu trong mục tiêu « cân bằng hóa » quan hệ với Trung Quốc là chuyển giao công nghệ. Phản ứng của Trung Quốc ra sao ? Và trong quan hệ song phương cho những thập niên sắp tới, liệu Bruxelles còn có thể hợp tác với Trung Quốc trong những lĩnh vực nào ?

    Isabelle Feng : « Vẫn còn những lĩnh vực đôi bên có thể hợp tác. Bruxelles mong muốn các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào châu Âu – chẳng hạn như trong lĩnh vực công nghệ chế tạo các bình điện cho ô tô và nhiều ngành công nghệ cao khác. Nhưng đồng thời Liên Âu cũng muốn các hãng Trung Quốc chuyển giao công nghệ, tức là Bruxelles cũng đặt điều kiện như Bắc Kinh 20 năm về trước. Châu Âu đòi Trung Quốc chuyển giao công nghệ. Nhưng Bắc Kinh phản bác điểm này và cho là đi ngược lại với các quy định của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Hãy đợi xem liệu Bruxelles có đủ cứng rắn để áp đặt những điều kiện của mình với đối phương hay không khi biết rằng các doanh nghiệp Trung Quốc đang ráo riết đi tìm những bãi đáp mới.

    Năm 2024 hơn 170 tỷ đô la đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc rời khỏi hoa lục. Vào lúc môi trường ở Mỹ càng lúc càng kém thân thiện, các quy định nghiêm ngặt cản trở đầu tư Trung Quốc thì châu Âu là điểm đến lý tưởng. Vấn đề còn lại là Liên Hiệp Châu Âu có biết tận dụng lá bài này để mặc cả, để áp đặt luật chơi với Bắc Kinh hay không ».

    RFI Việt ngữ chân thành cảm ơn Isabelle Feng, phó chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu Á Châu Asia Centre, chuyên gia về kinh tế và quan hệ đối ngoại của Trung Quốc với Châu Âu và Hoa Kỳ.

    9 min
  • Năng lượng và công nghiệp quốc phòng : Nhiều triển vọng cho Trung Quốc trong hợp tác với Iran

    Đổi dầu lửa lấy vũ khí, thiết bị quân sự và nguyên liệu chế tạo tên lửa : Phải chăng đó sẽ là thỏa thuận sắp tới giữa Iran và Trung Quốc ? Trong hai nhà bảo trợ cho chế độ Teheran, Bắc Kinh « hơn điểm » so với Matxcơva sau chiến dịch quân sự 12 ngày đêm Iran phải đương đầu với Israel và sau đợt tấn công của Hoa Kỳ nhắm vào các cơ sở hạt nhân Iran. Cả về an ninh lẫn kinh tế Teheran trông cậy nhiều vào Bắc Kinh.

    Từ sau cuộc Cách Mạng Hồi Giáo năm 1979, rồi vụ bắt con tin Mỹ trong tòa đại sứ Teheran cho đến tận ngày hôm nay, Iran liên tục bị Hoa Kỳ và quốc tế trừng phạt. Sau giai đoạn 2015-2018 tưởng chừng phương Tây nới lỏng gọng kềm cấm vận, nhưng rồi năm 2018 Washington dưới thời tổng thống Donald Trump đã đơn phương ban hành những biện pháp nghiêm ngặt, trừng phạt Iran phát triển vũ khí hạt nhân. Một lần nữa các doanh nghiệp quốc tế vì sợ trừng phạt của Hoa Kỳ lần lượt rút lại các dự án đầu tư khỏi Iran, ngừng mọi giao dịch với quốc gia bị Washington đưa vào danh sách các « Nhà nước yểm trợ khủng bố ».

    Trả lời RFI tiếng Việt, nhà báo Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp, ban tiếng Ba Tư Vahid Shamsoddinnezhad trước hết cho biết qua về bức tranh ảm đạm của nền kinh tế Iran :

    « Hiện tại tình hình kinh tế Iran hết sức khó khăn, do bị áp lực từ các biện pháp trừng phạt. Các biện pháp trừng phạt đó chủ yếu do Mỹ ban hành và nhắm vào xuất khẩu dầu hỏa, vào ngành các khoản giao dịch tài chính. Hệ quả kèm theo là lạm phát ở mức hai con số, dao động từ 30 đến 40 % từ nhiều năm qua. Sức mua của các hộ gia đình bị chao đảo. Giá cả những mặt hàng thiết thực nhất, thuốc men, nhu yếu phẩm tăng lên đến mức chóng mặt. Cùng lúc đơn vị tiền tệ quốc gia -đồng rial, mất giá khiến hàng nhập khẩu càng thêm đắt đó. Iran rơi vào vòng luẩn quẩn của lạm phát. Đối với dân chúng, sống được qua ngày là cả một sự hy sinh to lớn. Một phần dân số bị đẩy vào cảnh nghèo khó và họ phải thích nghi với môi trường đầy bất trắc. Thất nghiệp tràn lan, lại càng khiến kinh tế thêm khó khăn ».  

    Nguy cơ khủng hoảng trong xã hội

    Thống kê gần đây nhất của Iran cho thấy 20 % thanh niên trong độ tuổi từ 19 đến 25 bị thất nghiệp, gần 35 % phụ nữ có bằng cấp bị gạt ra ngoài thị trường lao động. Cùng lúc, đơn vị tiền tệ quốc gia, đồng rial mất giá 50 % trong 6 tháng đầu năm 2025. Là một quốc gia dầu hỏa và có nhiều nguồn dự trữ về khí đốt, vậy mà Iran thường xuyên thiếu hụt năng lượng, bị mất điện nên phải đóng cửa các nhà máy, ảnh hưởng trực tiếp đến lĩnh vực sản xuất công nghiệp.

    Nhà nghiên cứu Nima Khorrami học viện OSCE Bishkek-Kyrgyzstan trên báo The Diplomat hôm 03/07/2025 khẳng định, sau 2 đợt bị Israel và Mỹ thách thức về quân sự trong tháng 6/2025, Iran đang đứng trước hai nhu cầu cấp bách : Một là chấn chỉnh kinh tế để mong « giữ được khế ước xã hội » với người dân, qua đó bảo đảm sự tồn tại cho chế độ và hai là nhanh chóng gây dựng lại cả một hệ thống an ninh đã hoàn toàn sụp đổ. Teheran thực sự cần « gấp rút » trang bị vũ khí và mua thêm các thiết bị quân sự.

    Chiếc phao kinh tế

    Trong cả hai mục tiêu này Iran kỳ vọng nhiều vào các điểm tựa là Nga và Trung Quốc. Thế nhưng Bắc Kinh có phần chiếm ưu thế. Về kinh tế Trung Quốc hơn hẳn nước Nga. Nhà báo Vahid Shamsoddinnezhad giải thích :

    « Về kinh tế, Nga và Trung Quốc là hai đối tác chính của Iran. Nhưng vai trò của Trung Quốc có phần quan trọng hơn, nếu không muốn nói đây là bình dưỡng khí duy nhất có trọng lượng. Bất chấp trừng phạt về dầu hỏa Mỹ ban hành, Trung Quốc vẫn nhập khẩu dầu của Iran với một khối lượng rất lớn và mua với giá rẻ. Bắc Kinh lách cấm vận của Mỹ. Điều đó giúp Trung Quốc vừa có dầu vừa duy trì ảnh hưởng ở khu vực Trung Đông. Về phía Teheran giao dịch với Trung Quốc nên Iran thu về ngoại tệ và tài trợ cho ngân sách quốc gia. Không có hàng của Trung Quốc thì kinh tế Iran còn bi đát hơn nữa cho dù một mình đối tác này không thể giúp Teheran giải quyết tất cả các vấn đề cơ bản vốn đã ăn sâu vào kinh tế Iran ».

    Theo báo cáo của Cơ Quan Năng Lượng Mỹ công bố hồi tháng 5/2025, xuất khẩu dầu hỏa của Iran sang Trung Quốc trong năm 2024 « cao gấp đôi so với hồi 2022 ». Iran bán dầu với giá rẻ hơn từ 6 đến 8 đô la một thùng cho bạn hàng Trung Quốc. Dù bị cấm vận, « mỗi ngày, Iran vẫn xuất khẩu từ 1,2 triệu đến 1,5 triệu thùng dầu thô mà 90 % trong số đó chỉ để bán cho Trung Quốc ».

    Iran trước thách thức « xây dựng lại » hệ thống phòng thủ

    Bất chấp thỏa thuận hợp tác chiến lược mà Teheran ký kết với Bắc Kinh hồi 2021 hay hiệp ước « đối tác an ninh » ký kết với Matxcơva đầu năm 2025 cả Trung Quốc lẫn Nga cùng khoanh tay đứng nhìn Iran một mình đương đầu với hai trong số các cỗ máy quân sự lợi hại nhất thế giới là Mỹ và Israel. Vẫn nhà báo ban tiếng Ba Tư đài RFI Vahid Shamsoddinnezhad phân tích

    « 12 ngày giao tranh với Israel đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với Iran. Chúng ta đã đề cập đến vế kinh tế, nhưng tai hại hơn nữa đối với Teheran là hệ thống phòng không của Iran hoàn toàn bị phá hủy. Chính vì thế mà Iran đã hối hả cầu viện Matxcơva để xây dựng lại hệ thống phòng thủ, mua thiết bị phòng không của Nga. Trước mắt kết quả không nhiều. Cùng lúc, Iran nhìn về phía Bắc Kinh, đặc biệt là sau khi chiến đấu cơ của Trung Quốc đã chứng minh tính hiệu quả trong cuộc xung đột giữa Pakistan và Ấn Độ hồi tháng 5/2025.  Iran mong muốn mua thiết bị quân sự của Trung Quốc và của Nga. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu rằng Bắc Kinh có sẵn sàng đáp ứng nguyện vọng đó của Teheran hay không, trong bối cảnh Washington  vẫn duy trì cấm vận với Iran, đồng thời quan hệ Mỹ -Trung đang rất phức tạp. Liệu Trung Quốc có sẵn sàng dương đầu với Hoa Kỳ và thỏa mãn yêu cầu của Teheran hay không ? Còn phải đợi thêm thời gian để trả lời câu hỏi này.   

    Tờ L’Orient du Jour hôm 21/07/2025 tiết lộ, vào lúc Israel vẫn thuyết phục Hoa Kỳ « đánh tiếp » vào các cơ  sở hạt nhân ủa Iran, Teheran cần vũ khí tối tân. Chiến tranh Ukraina huy động gần như toàn bộ khả năng sản xuất vũ khí và đạn dược của Nga. Matxcơva khó có thể nhanh chóng thỏa mãn đòi hỏi của Teheran. Còn lại có Trung Quốc.

    Thỏa thuận đổi dầu hỏa lấy vũ khí hiện đại ?

    Tờ báo này trích dẫn nhiều nguồn tin thông thạo từ Teheran cho biết « dường như Iran yêu cầu Bắc Kinh cung cấp nhiều loại thiết bị quân sự và vũ khí tối tân như radar giám sát đến dàn phóng tên lửa địa đối không ». Đòi hỏi này đặt Trung Quốc vào thế khó xử, sứ quán Trung Quốc tại Israel đã bác bỏ tin trên. Giáo sư Figueroa đại học Groningue -Hà Lan, được tờ báo trích dẫn giải thích : vì những liên hệ chặt chẽ về kinh tế, Bắc Kinh không thể « bỏ rơi » Iran nhưng công khai yểm trợ chính quyền của giáo chủ Khamenei về mặt quân sự là « một nước cờ mạo hiểm » : Thứ nhất, Trung Quốc cũng rất ngại phản ứng khó lường của chính quyền Mỹ trong tay ông Donald Trump. Thứ hai, là ngoài Israel ra, Bắc Kinh tuyệt đối muốn tránh làm phật lòng một quốc gia thù nghịch khác với Iran là Ả Rập Xê Út. Riyad là một nhà xuất khẩu dầu hỏa « có trọng lượng hơn nhiều so với Iran ».

    Nima Khorrami cân nhắc những được, thua nếu của Bắc Kinh trong trường hợp Trung Quốc trở thành « điểm tựa chính của Iran về an ninh, quốc phòng ».

    Bài toán của Bắc Kinh

    Giúp Iran, Trung Quốc được lợi gì ? Lợi thế đầu tiên là Trung Quốc càng thắt chặt thêm quan hệ với Iran cả về kinh tế lẫn chiến lược trong vùng eo biển Hormuz, bắt rễ vào Vịnh Ả Rập và nhất là dùng lợi thế với Teheran, kết nối một trục giao thương Irak, Iran với Pakistan … Bắc Kinh  kỳ vọng dự án xây dựng hành lang kinh tế nối liền Trung Quốc và Pakistan sẽ nhanh chóng cất cánh sau nhiều năm dậm chân tại chỗ.

    Lợi thế thứ hai là Iran cũng sẽ trở thành một đầu cầu của Bắc Kinh ở Trung Đông và vùng Vịnh.

    Điểm thứ ba đáng chú ý về mặt địa chiến lược, vẫn theo tác giả bài viết trên báo The Diplomat, là về lâu dài hợp tác với Iran góp phần giảm thiểu ảnh hưởng của Ấn Độ tại Trung Á, chận đứng tham vọng của New Delhi muốn gắn kết Ấn Độ với Trung Á và Afghanistan qua dự án « hành làng giao thương quốc tế Bắc -Nam INTSC mà ở đó Ấn Độ dự định đầu tư ồ ạt vào cảng Chabahar của Iran.

    Tuy nhiên tất cả những tính toán đó của Trung Quốc cũng cần phải cân nhắc kỹ lưỡng bởi vì theo nhà nghiên cứu Nima Khorrami, hiện tại Bắc Kinh và Nhà nước Do Thái đang có nhiều chương trình họp tác về kinh tế và công nghệ. Trung Quốc có nhiều dự án đầu tư tại Israel.

    Ngoài ra, « thân thiện » quá với Teheran, Trung Quốc có nguy cơ làm mất lòng cac quốc gia trong vùng Vịnh, vốn vẫn vẫn xem Iran là « kẻ thù ». Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất là những đối tác thương mại, và đặc biệt là những nguồn cung cấp năng lượng mà Bắc Kinh không thể bỏ qua.

    Về yếu tố Hoa Kỳ : Vào thời điểm Mỹ-Trung đang lao vào một cuộc đối đầu cả về kinh tế, quân sự và nhất là công nghệ, cung cấp vũ khí cho quốc gia bị Hoa Kỳ coi là « kẻ thù » là một nước cờ đầy mạo hiểm.

    Cuối cùng, trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh, « Iran không là đồng minh, hay đối tác ». Trung Quốc luôn coi Iran là một « mắt xích quan trọng về địa chính trị kềm tỏa ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực Trung Đông ». Do vậy cho dù có hợp tác với Iran về quân sự, quốc phòng, thì tác giả bài nghiên cứu đăng trên báo Nhật Bản The Diplomat tin rằng, Trung Quốc đủ khôn ngoan để « tiếp sức cho Iran đủ mạnh để hưởng lợi một khi mà Teheran phải phụ thuộc vào Bắc Kinh ». Cùng lúc, Bắc Kinh sẽ dừng lại đúng lúc, tránh để Iran trở thành một quốc gia quá mạnh về quân sự để có thể trở thành một mối đe dọa, gây bất ổn ở Trung Đông. Điều này sẽ trái ngược với những quyền lợi của Trung Quốc.

     

     

     

     

     

     

     

     

    11 min
  • “Nhiên liệu hàng không bền vững”: Ngày càng nhiều công ty tham gia

    Triển lãm hàng không và không gian le Bourget 2025 ( 16-22/06/2025 ) đã đặt trọng tâm vào mục tiêu phi carbon hóa hàng không để giảm bớt tác hại của ngành này đối với khí hậu của hành tinh chúng ta. Triển lãm đã là dịp để giới thiệu những tiến bộ trong việc sản xuất “nhiên liệu hàng không bền vững” ( SAF ), mà trong tương lai sẽ được sử dụng ngày càng nhiều, kết hợp với nhiên liệu hóa thạch để giảm bớt lượng khí thải gây hiệu ứng lồng kính phát ra từ máy bay.

    Giao thông hàng không trong những năm tới được dự báo là sẽ tiếp tục tăng đều đặn, với tổng số hành khách trên toàn thế giới trong năm 2025 ước tính sẽ là khoảng 5 tỷ người. Các hãng chế tạo máy bay liên tục nhận được đơn đặt mua hàng chục, thậm chí hàng trăm phi cơ mới từ các hãng hàng không để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Nhưng trong khi đó, các nhà công nghiệp phải làm sao thực hiện được cam kết đạt trung hòa carbon vào năm 2050, cho nên họ đang tăng tốc phát triển các loại nhiên liệu hàng không bền vững.

    Đây là lần thứ tư Triển lãm Le Bourget dành riêng một khu mang tên Paris Air Lab để giới thiệu những sáng chế mới, những dự án mới cho giao thông hàng không tương lai, trong đó nhiên liệu hàng không bền vững được nêu bật. 

    Trả lời RFI Việt ngữ tại khu Paris Air Lab năm nay, bà Julie Lhomme-Maublanc, đại diện công ty IFP Energies nouvelles (IFPEN), cho biết:

    “Nhiên liệu hàng không bền vững là phương tiện thiết yếu để phi carbon hóa ngành hàng không ngày nay và tương lai. Nếu không có nhiên liệu hàng không bền vững, ta sẽ không thể thành công trong việc phi carbon hóa ngành này. Có nhiều cách để sản xuất các loại nhiên liệu hàng không bền vững. Ngày nay, đã có một số loại được pha trộn với nhiên liệu hóa thạch. Liên Hiệp Châu Âu đã đưa một quy định yêu cầu tăng dần việc kết hợp các loại nhiên liệu bền vững này với nhiên liệu mà máy bay đang sử dụng. Có bốn loại nhiên liệu hàng không bền vững. Đầu tiên phải kể đến loại gọi là HEFA, dùng dầu ăn đã qua sử dụng hoặc mỡ động vật để sản xuất nhiên liệu sinh học, hiện đang được sử dụng kết hợp vào dầu hỏa. Các loại nhiên liệu bền vững khác sẽ được phát triển. Theo quy định của Liên Âu, kể từ năm 2025, nhiên liệu bền vững phải chiếm tỷ lệ 2% trong nhiên liệu máy bay.” 

    Trong số những loại nhiên liệu hàng không bền vững đang được phát triển, đầu tiên phải kể đến BTL, bà Julie Lhomme-Maublanc giải thích:

    “BTL là viết tắt của “biomass to liquid”. Đó là quá trình chuyển đổi chất thải và cặn bã sinh khối thành nhiên liệu lỏng thông qua quá trình khí hóa, sau đó là quá trình tổng hợp Fischer-Tropsch, giúp tái tạo hydrocarbon tổng hợp, có thể được kết hợp dầu hỏa được sử dụng trong máy bay ngày nay. Những dự án sử dụng công nghệ này đang trong giai đoạn phát triển. Đáng chú ý là một dự án ở miền Nam nước Pháp, dự án BioTJet, sẽ sử dụng công nghệ này và trên nguyên tắc nhà máy sẽ hoạt động kể từ năm 2028-2030. Ta cũng có thể kết hợp điện ít carbon vào quá trình khí hóa, để tăng hiệu quả của quá trình này.” 

    Loại nhiên liệu thứ hai đang được phát triển là ethanol, tương tự như ethanol, được sử dụng cho xe hơi, theo lời bà Julie Lhomme-Maublanc, đại diện công ty IFP Energies nouvelles: 

    "Cơ sở là như nhau, có nghĩa là sản xuất loại ethanol thế hệ thứ hai hoặc ethanol tiên tiến. Nhiên liệu này cũng được sản xuất từ ​​chất thải và cặn bã lâm nghiệp hoặc nông nghiệp không cạnh tranh với các nguồn tài nguyên mà chúng ta sử dụng làm thực phẩm cho con người hoặc động vật. Sau khi được sản xuất, ethanol sẽ được chuyển đổi bằng một loạt quy trình để thu được một loại nhiên liệu mà chúng ta có thể kết hợp với nhiên liệu hóa thạch. 

    Ở đây chúng tôi có trưng bày những chất thải và cặn bã, như rơm rạ, cặn bã từ tre, chất thải và cặn bã từ các hoạt động lâm nghiệp, như các mảnh vụn gỗ.” 

    Cuối cùng, là loại nhiên liệu mang tên i-Fuel, được sản xuất từ khí CO2 được thu giữ bởi các nhà máy, như giải thích của bà Julie Lhomme-Maublanc:

    “Nhóm nhiên liệu lớn thứ 4 là tất cả những gì chúng ta gọi là i-Fuel, cũng là nhiên liệu tổng hợp sẽ được sản xuất từ CO2, có thể là từ khói công nghiệp, vì vậy chúng ta cần xây dựng các hệ thống thu giữ CO2. Để sử dụng công nghệ này, chúng ta sẽ phải thiết lập các quy trình thu giữ CO2. Chúng ta sẽ thu giữ CO2 từ khói công nghiệp, từ khói phát ra từ các ngành công nghiệp sử dụng sinh khối, hoặc từ CO2 thu được trực tiếp từ khí quyển. Kể từ năm 2041, đây sẽ là điều bắt buộc, theo các quy định của Liên Hiệp Châu Âu. 

    Nước Pháp có nhiều thế mạnh trong lĩnh vực nhiên liệu hàng không bền vững. Một số dự án hiện đang được phát triển. Bây giờ chúng ta thực sự cần chuyển sang giai đoạn công nghiệp, và điều đó đòi hỏi ngành này phải tự cải tổ cơ cấu để thực hiện được mục tiêu đó. Nhưng phải có sự hỗ trợ từ chính phủ và tất cả các bên liên quan để có thể có những nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học.”

    Chính phủ Pháp trong tháng 6 vừa qua đã chính thức hóa chiến lược công nghiệp nhằm phát triển ngành nhiên liệu hàng không bền vững quốc gia có sức cạnh tranh, hướng tới đáp ứng nhu cầu trong nước và củng cố vị thế xuất khẩu của Pháp vào năm 2030. Chương dành cho nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) của Hợp đồng chiến lược cho các hệ thống năng lượng mới (CSF NSE) đã được chính phủ Pháp chính thức ký kết vào ngày 18/06/2025 với các lãnh đạo công ty hàng không, công đoàn và ngành công nghiệp. Chương này xác định lộ trình cụ thể cho giai đoạn 2024-2027, với mục tiêu là đáp ứng đầy đủ nhu cầu SAF của Pháp, đồng thời tìm các cơ hội xuất khẩu.

    Mục tiêu là vào năm 2030 Pháp sẽ tự cung tự cấp nhiên liệu hàng không bền vững, tích hợp cả nhiên liệu sinh học và nhiên liệu tổng hợp được sản xuất từ ​​hydro tái tạo và carbon dioxide thu được (eSAF và ebioSAF). Ngành công nghiệp Pháp đã bắt đầu đi theo hướng này, với một số nhà máy lọc dầu tham gia sản xuất nhiên liệu sinh học cho hàng không. Thách thức hiện nay là chuyển lộ trình này thành các dự án công nghiệp cụ thể có khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

    Ngày càng có nhiều công ty đặt cược vào nhiên liệu hàng không bền vững. Cụ thể là tại Triển lãm hàng không và không gian Le Bourget 2025, hãng Haffner Energy của Pháp, chuyên về nhiên liệu sinh học, và hãng hàng không Luxaviation của Luxembourg đã công bố một thỏa thuận hợp tác trong khuôn khổ sáng kiến SAF Zero, một sáng kiến ​​đầy tham vọng nhằm đẩy nhanh quá trình sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững. Mục tiêu của SAF Zero là tạo ra một nền tảng cho việc đầu tư và triển khai các dự án SAF quy mô lớn. Sự hợp tác giữa Luxaviation và Haffner Energy là một phần của phong trào rộng lớn hơn: Cả hai công ty đều là thành viên của dự án SkyPower, một sáng kiến ​​quốc tế để đẩy nhanh quá trình sản xuất và áp dụng SAF trên toàn thế giới. 

    Trước đây rất thận trọng về SAF, tập đoàn dầu khí TotalEnergies Pháp trong tháng 6 vừa qua thông báo họ sẽ có thể sản xuất nửa triệu tấn nhiên liệu bền vững vào năm 2028 và 1,5 triệu tấn trên toàn thế giới vào năm 2030. TotalEnergies chi ra 400 triệu euro để chuyển đổi nhà máy lọc dầu Grandpuits tại vùng Seine-et-Marne thành "nền tảng không dầu hỏa". Một phần lớn trong khoản đầu tư này sẽ được dành cho SAF. Tập đoàn Pháp cũng đã đầu tư 340 triệu euro để chuyển đổi cơ sở La Mède thành nhà máy lọc dầu sinh học. Neste, công ty Phần Lan chuyên về công nghệ tái chế dầu ăn và mỡ động vật, có kế hoạch đạt được ngưỡng 1,5 triệu tấn ngay từ năm tới. Tập đoàn Shell của Anh thì dự kiến ​​sẽ cung cấp 800.000 tấn mỗi năm bắt đầu từ năm 2025 từ cơ sở Rotterdam của họ. 

    Nhưng theo cảnh báo của nhật báo kinh tế Les Echos ngày 26/06/2025, rào cản chính đối với thị trường này vẫn là khả năng tiếp cận nguyên liệu thô. Do đó, ngành công nghiệp này đang nghiên cứu thế hệ nhiên liệu bền vững thứ hai hoặc thậm chí là thứ ba. Dự án nhà máy Lacq, cũng được công bố tại lễ khai mạc Triển lãm hàng không Paris, có kế hoạch huy động một tỷ euro  để sản xuất 110.000 tấn nhiên liệu tái tạo, bao gồm 75.000 tấn cho hàng không. Để so sánh, Neste đã đầu tư 1,9 tỷ euro vào việc mở rộng nhà máy lọc dầu Rotterdam, sẽ giúp tăng công suất của nhà máy thêm 1,3 triệu tấn mỗi năm. Đầu tư của tập đoàn Phần Lan này như vậy sẽ hiệu quả hơn gấp sáu lần.

     "Việc thu hồi chất thải, dầu đã qua sử dụng và lipid là điều cần thiết. Nhưng những nguồn tài nguyên này không phải là vô hạn", theo giải thích của ông Pascal Pénicaud, chủ tịch của Elyse Energy, công ty đang dẫn đầu dự án Lacq BioTJet. Với các đối tác của mình (Avril, Axens, BioneXt và IFP Investissements), Elyse Energy đang tập trung vào chế biến chất thải từ gỗ thành nhiên liệu bền vững. Tiềm năng này được cho là rất lớn và hiện chưa được khai thác hết, như chất thải từ ngành lâm nghiệp hoặc từ đồ nội thất. 

    Trong mọi trường hợp, các khoản đầu tư cần thiết sẽ rất lớn. Công ty Pháp Global Bioenergies ước tính họ sẽ cần tới 200 triệu euro để đưa nhà máy tương lai vào hoạt động vào khoảng năm 2028-2029. Đây là số tiền tương đương mà chính phủ Pháp đã hứa cho tất cả hoạt động sản xuất nhiên liệu sinh học trong giai đoạn 2024-2030, trong kế hoạch phi carbon hóa ngành hàng không.

    10 min
  • Anh Quốc lao vào cuộc chạy đua về công nghệ với hơn 100 tỷ đôla đầu tư

    Khai mạc Tuần lễ Công nghệ Luân Đôn (London Tech Week 09-13/06/2025), thủ tướng Anh Keir Starmer tuyên bố mở ra một chương mới, trong đó trí tuệ nhân tạo là trọng tâm, cho ngành công nghệ cao của Vương quốc Anh. Chính phủ công bố bản tổng dự toán chi tiêu công quốc gia giai đoạn 2025-2030, với con số khổng lồ là 86 tỷ bảng Anh (116 tỷ đô la) dành cho các ngành công nghệ cao, giáo dục và trí tuệ nhân tạo AI.

    Vậy tham vọng của Luân Đôn là gì và cơ hội nào để Anh Quốc trở thành cường quốc về ‘trí tuệ nhân tạo’? Tường thuật của thông tín viên tại Luân Đôn Nguyễn Giang. 

    Nguyễn Giang : Trước tiên xin giải thích rõ hơn về các con số lớn mà chính phủ Anh đưa ra để đầu tư vào phát triển công nghệ cao, gọi chung là R&D (Research & Development – Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm mới). Khoản chi của ngân sách hàng năm từ nay đến năm 2029-2030 là 22,6 tỷ bảng, và đến cuối nhiệm kỳ Quốc Hội này, tổng mức sẽ là 86 tỷ bảng Anh, tương đương 116 tỷ đô la Mỹ.

    Trong các lĩnh vực, ưu tiên hàng đầu là nghiên cứu và phát triển các cơ sở trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) để ứng dụng ngay vào giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, công nghệ tài chính (fintech). Ngoài ra, AI cũng sẽ được đưa vào như một giải pháp công nghệ nhằm giảm chi phí dài hạn cho y tế, quốc phòng và an ninh biên giới. Tôi sẽ nói rõ hơn về các ngành kỹ thuật, bộ môn khoa học, công nghệ nhận được khoản đầu tư lớn sau, nhưng tổng thể thì thông điệp của chính phủ Starmer là muốn tạo ra sự thay đổi cả về lượng và chất để đưa Anh trở thành một cường quốc hàng đầu trong cạnh tranh quốc tế về công nghệ cao và AI.

    RFI: Cụ thể hơn, Anh Quốc muốn chi tiền vào lĩnh vực nào và đặt ra các mục tiêu cụ thể ra sao?

    Nguyễn Giang : Về giáo dục, riêng khoản tiền dành cho ứng dụng AI trong giảng dạy và đào tạo nhân công có khả năng sử dụng trí tuệ nhân tạo là 2 tỷ bảng mỗi năm. Anh muốn thúc đẩy dự án AI trong giáo dục từ trung học tới đại học và sau đại học nhằm huấn luyện kỹ năng AI cho hơn 7 triệu nhân công (được hiểu là thế hệ trẻ) và đào tạo 1 triệu kỹ sư chuyên về AI trong 5 năm tới.

    Ngân sách dành cho y tế công (National Health Service – NHS) là 10 tỷ bảng để hiện đại hóa công nghệ và chuyển đổi sang công nghệ kỹ thuật số từ nay đến 2028-2029. Xin nhắc lại, ngân sách y tế công hiện đã là 29 tỷ bảng, nên khoản đầu tư thêm vào công nghệ cao cho y tế là rất lớn.

    Luân Đôn cũng sẽ hỗ trợ các công ty khởi nghiệp bằng cách điều chỉnh quy định tài chính để các ngân hàng thử nghiệm AI trong lĩnh vực fintech. Một số ngân hàng như HSBC đã sử dụng AI từ lâu, nhưng tổng thể thì thị trường fintech của Anh đã trở thành một lĩnh vực rất lớn, với hàng nghìn công ty, thu hút hàng tỷ đô la đầu tư, chủ yếu phục vụ doanh nghiệp và thương mại quốc tế, hơn là phục vụ người dân. Chính phủ muốn số hóa dịch vụ khách hàng, triển khai mạnh các ứng dụng ngân hàng (in-bank app) thay thế dịch vụ truyền thống dùng giấy tờ và thư bưu điện.

    Điều đáng chú ý là chính phủ Anh nói họ sẽ đầu tư vào AI để giải quyết nhanh hơn các hồ sơ xin tỵ nạn, tăng tốc thủ tục trục xuất người trượt tị nạn. Bộ trưởng Tài Chính Rachel Reeves cho biết, chỉ riêng việc nâng cao hiệu quả xử lý giấy tờ cư trú, tị nạn sẽ giúp tiết kiệm ngân sách khoảng 1 tỷ bảng khi chương trình này hoàn tất.

    Gần 300 triệu bảng cũng sẽ được đầu tư vào Bộ Tư lệnh An Ninh Biên Giới (thành lập năm 2024) và các đơn vị biên phòng của Anh sẽ sử dụng AI để nâng cao hiệu quả trong việc ngăn chặn người nhập cư trái phép. Thêm vào đó, Anh Quốc cũng sẽ tiến hành nghiên cứu chế tạo vũ khí sử dụng AI nhằm đảm bảo an ninh quốc gia và an ninh châu Âu.

    RFI : Để thực hiện các mục tiêu này, chính phủ Anh sẽ phải làm gì? Chiến lược của họ là gì?

    Nguyễn Giang : Chiến lược của Anh là “dựa trên vai của những người khổng lồ”. Trong Tuần lễ Công nghệ Luân Đôn, đã có hàng trăm công ty tham dự, gồm các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như Microsoft, Amazon Web Services, Google Cloud và NVIDIA. Ngay trong buổi khai mạc, thủ tướng Anh Keir Starmer đã đứng cạnh ông Jensen Huang (Hoàng Nhân Huân), tỷ phú Mỹ gốc Đài Loan, chủ hãng Nvidia. Ông Jensen Huang khen Anh có “hệ sinh thái tuyệt vời cho công nghệ trí tuệ nhân tạo”, nhưng còn thiếu cơ sở hạ tầng.

    Cụ thể, ông Jensen Huang cho biết Anh có các trường đại học hàng đầu thế giới, các nhà sáng chế, các nhà tư tưởng, và các công ty startup trong môi trường lý tưởng, nhưng thiếu một thứ quan trọng nhất là cơ sở hạ tầng cho AI. Ông cam kết sẽ đầu tư vào lĩnh vực này tại Anh, nhằm đáp ứng sự đón nhận tích cực từ công chúng dự hội nghị London Tech Week.

    Ngay lập tức, Anh Quốc sẽ dùng 10 nghìn GPU (xử lý đồ họa) của Nvidia để xây dựng một trung tâm dữ liệu lớn, phục vụ hạ tầng AI tại Loughton, Essex, phía Đông Luân Đôn. Tuy nhiên, cách làm của Anh không dựa vào một hoặc hai công ty lớn, mà phân chia thị phần cho nhiều doanh nghiệp của Mỹ, Hà Lan, và các quốc gia khác tham gia.

    Ví dụ, Vantage Data Centres sẽ xây dựng một trung tâm dữ liệu tại xứ Wales; Latos Data Centres của tỷ phú người Anh Mike Carlin cũng sẽ xây dựng trung tâm ở Wales; tập đoàn Kyndryl thành lập trung tâm tại Liverpool; trong khi Nscale (dùng GPU của Nvidia) sẽ đầu tư 2,5 tỷ USD để phát triển mạng lưới dữ liệu toàn quốc.

    Tham vọng của Anh là đến năm 2030, sẽ có tới 40 trung tâm dữ liệu chuyên về AI trên khắp đất nước.

    RFI: Vì sao chính phủ của đảng Lao Động muốn thúc đẩy số hóa và áp dụng trí tuệ nhân tạo vào thời điểm này?

    Nguyễn Giang : Ở đây chúng ta cần nhìn bức tranh toàn cảnh quốc tế, gồm mối quan hệ Anh – Liên Hiệp Châu Âu và Anh – Hoa Kỳ sau Brexit. Ngoài lý do rõ ràng là AI ngày càng đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế và giáo dục, còn có hai vấn đề lớn đặt ra thách thức cho Anh.

    Một, là thiếu hệ sinh thái hạ tầng tốt cho R&D. Nhiều nhà khoa học Anh đã từng đoạt giải Nobel, sở hữu các phát minh, sáng chế hàng đầu thế giới trong di truyền học, y sinh, điện toán, nhưng thiếu hệ sinh thái để biến các ý tưởng, bằng sáng chế thành sản phẩm thương mại. Nhiều nhà khoa học này buộc phải sang Mỹ, hoặc hợp tác với các đại học, tập đoàn công nghệ của Mỹ để phát triển sản phẩm. Chính sách của Anh nhằm xây dựng các trung tâm công nghệ như Hành lang Oxford-Cambridge nhằm kết nối các đại học danh tiếng, tạo ra sức mạnh về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo (critical mass). Trước đó, ngành xe hơi chạy động cơ điện (EV) cũng cần hạ tầng số, vệ tinh dân sự, AI, nhưng tới nay, Anh mới bắt đầu thử nghiệm xe tự lái và dự kiến đến 2027 mới chính thức cho xe tự lái hoạt động trên đường.

    Hai, là yếu tố địa chính trị. Tháng 2/2025, Pháp khai mạc Hội nghị về Trí tuệ Nhân tạo (AI Summit) và cam kết đầu tư hơn 100 tỷ euro vào AI, mong muốn dẫn đầu khối Liên Âu trong lĩnh vực này. Bruxelles còn hứa sẽ chi 200 tỷ euro cho AI. Trong khi đó, Hoa Kỳ dưới thời Donald Trump muốn bỏ ra hơn 500 tỷ đô la để dẫn đầu cuộc đua AI.

    Tuy nhiên, cả Anh và Mỹ đều từ chối ký Tuyên bố chung Paris về AI tại Paris vài tháng trước. Như vậy, Luân Đôn đã chọn hướng đi riêng, muốn có chủ quyền về AI (AI sovereignty) và không muốn bị Châu Âu kiểm soát chặt chẽ. Tổng thể, Anh mong muốn có một vị trí vững chắc trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo AI toàn cầu – của Mỹ, Trung Quốc và Liên Hiệp Châu Âu. Để đạt được điều đó, Anh Quốc sẽ kết nối với Hoa Kỳ qua các hệ thống cáp dưới biển, tăng cường khả năng tính toán của các trung tâm dữ liệu và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực AI và công nghệ cao.

    Trong bức tranh lớn, các ngành công nghệ của Vương quốc Anh đã đạt giá trị thị trường tổng hợp lên tới 1,2 nghìn tỷ đô la vào năm 2025, đứng vị trí số một trong hệ sinh thái công nghệ châu Âu. Tuy nhiên, nếu không tăng cường đầu tư, Anh Quốc sẽ gặp khó khăn cạnh tranh với các quốc gia như Pháp, Đức, Hà Lan, các nước châu Á và Mỹ, Trung Quốc.

    Năm 2023, Anh đã tổ chức Hội nghị về quản trị toàn cầu của AI tại Bletchley (tham khảo Bletchley Declaration on Frontier AI and AI Governance), nhấn mạnh nhu cầu quản lý, xây dựng khung pháp lý để giảm thiểu các rủi ro do công nghệ AI gây ra. Hiện nay, thái độ của chính giới Luân Đôn đã hướng tới đổi mới, sẵn sàng chấp nhận rủi ro để thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm, kinh tế và tăng trưởng. AI đang được xem là điểm mấu chốt để tạo đà phát triển cho kinh tế Anh trong những năm tới. Khả năng thành công của chiến lược này còn phụ thuộc vào thực tế và còn phải chờ xem.

    11 min
  • Công nghiệp quốc phòng của Ukraina : Những cơ hội cho doanh nhân Pháp

    Pháp có thể mang lại những gì cho các tập đoàn công nghiệp vũ khí của Ukraina ? Họ tìm kiếm gì và có thể học hỏi được những kinh nghiệm nào từ một quốc gia đang phải đối mặt với chiến tranh ? Phương Tây đánh cược vào một đối tác không chỉ là một « kho lương thực của thế giới », mà còn từng là « kho vũ khí » của Liên Xô. Tuy đang sa lầy trong chiến tranh, nhưng Ukraina đã khẳng định thế thượng phong trong lĩnh vực công nghệ chế tạo drone.

    Tháng 05/2025 hơn 500 doanh nghiệp tham dự diễn đàn Liên Âu-Ukraina về công nghệ quốc phòng, tổ chức tại Bruxelles. Ba tuần lễ sau đó, Paris thông báo kế hoạch một hãng xe hơi của Pháp chế tạo drone ngay trên lãnh thổ Ukraina, và được biết đó là hãng xe nổi tiếng Renault. Thông báo dự án hôm 06/06/2025, bộ trưởng Quân Lực Sébastien Lecornu đã nói đến « Một chương trình chưa từng có ». Còn trong mắt các tập đoàn công nghiệp vũ khí thì Ukraina được ví như một « phòng thí nghiệm nơi cho ra đời những sản phẩm phù hợp nhất với thực tế » của chiến tranh. Do phải đối mặt với quân đội Nga từ tháng 02/2022 ngành công nghiệp quốc phòng Ukraina, mà đặc biệt là trong lĩnh vực chế tạo drone đã chứng minh được khả năng sáng tạo, với những phương tiện hạn hẹp để có được những sản phẩm « hiệu quả » nhất và « hoàn toàn thích ứng với những đòi hỏi trên thực địa ». Đó là điểm quan trọng nhất thu hút các tập đoàn và công ty khởi nghiệp của Pháp trong lĩnh vực quốc phòng. 

    Drone và « chiến tranh du kích công nghệ »

    Trong một bài tham luận đăng trên tạp chí chuyên về địa chính trị Revue des Conflits, hồi tháng 03/2025 hai đồng tác giả, Arnaud Dassier và Mat Hauser ghi nhận drone của Ukraina đã « cho thấy tính hiệu quả trong mọi lĩnh vực (tình báo, tấn công sâu, tấn công chiến thuật, phá hủy tàu thuyền, v.v.). Chúng cũng cho phép Ukraina tiến hành một dạng ‘chiến tranh du kích công nghệ’ đủ mạnh để chặn đứng đà tiến của Nga » đặc biệt là các loại drone biển rất hiệu quả ở Hắc Hải.

    Arnaud Dassier là một doanh nhân rất năng động tại Ukraina từ 2005, còn Mat Hauser là đồng sáng lập viên công ty chuyên thu thập các thông tin về kinh tế Stratéon, trụ sở tại Paris và Stratéon tập trung quan sát những cơ hội kinh doanh tại Ukraina. 

    Trên đài truyền hình Pháp France 24 hôm 13/05/2025, Mat Hauser, giải thích vì sao các nhà sản xuất vũ khí của Pháp xem Ukraina là địa bàn hoạt động đầy hứa hẹn.

    « Chúng tôi quan niệm, do hoàn cảnh chiến tranh đẩy đưa, Ukraina đang chiếm lợi thế cực kỳ lớn trong lĩnh vực quốc phòng. Đây là cơ hội cho phép các công ty của Pháp học hỏi những kinh nghiệm của Ukraina đã được cọ sát với thực tế. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và công nghệ quốc phòng của chúng ta - còn được biết đến dưới tên gọi là một BIDT -tức là nền tảng công nghiệp và công nghệ quốc phòng, đang rất chú ý đến những chuyển động tại Ukraina. Sau hơn 3 năm chiến tranh, các doanh nghiệp Ukraina đã liên tục phải thích nghi với tình huống, phải đổi mới với rất nhiều phát minh về sản phẩm, và cũng đã phải tổ chức lại dây chuyền sản xuất sao cho có những thành phẩm nhanh hơn, hoạt động hiệu quả và luôn luôn bắt kịp những chuyển biến trên thực địa … Đương nhiên đây là những kinh nghiệm rất quý giá đối với Pháp trong lĩnh vực này ».

    Một điểm quan trọng khác thôi thúc các doanh nghiệp trong ngành của Pháp nhanh chóng tìm kiếm các đối tác Ukraina, do trong những điều kiện khan hiếm tất cả các « đầu vào/input » (vốn, nhân lực, thiết bị điện tử ...) vậy mà phía Ukraina vẫn đáp ứng nhu cầu của quân đội, cung cấp 1,4 triệu drone trong năm 2024 và có thể sẽ là 4 triệu drone trong năm nay. Trong khi đó Pháp mới chỉ đề ra mục tiêu chế tạo 700 chiếc một năm.

    Nền tảng vững chắc về công nghệ quốc phòng

    Khi còn thuộc về Liên Xô, Ukraina từng là « kho đạn » của Matxcơva, cung cấp đến 30 % vũ khí đủ loại, từ đạn dược đến thiết giáp và tên lửa cho Liên Bang Xô Viết. Giới trong ngành nhắc lại « Ukraina từng là một tên tuổi trong số các nền công nghiệp quốc phòng, trong một thời gian dài đây không chỉ là một vựa ngũ cốc của khối các nước xã hội chủ nghĩa mà còn từng được mệnh danh là kho vũ khí của Liên Xô, rồi của nước Nga khi Liên Xô tan rã. Kể từ 2015 sau khi Nga chiếm bán đảo Crimée, Ukraina mới bắt đầu ngừng cung cấp vũ khí cho Matxcơva ». 

    Ukraina cần vốn và công nghệ mới 

    Trên đài France24, Mat Hauser lưu ý, nhờ quá khứ đó mà Ukraina đã có sẵn nhiều nền tảng vững chắc trong lĩnh vực công nghệ quốc phòng, có nhiều trường đại học rất tốt để đào tạo ra các kỹ sư chuyên môn. Có điều do không còn có thể xuất khẩu cho khách hàng duy nhất là Nga từ 10 năm qua, nên các nhà sản xuất của Ukraina hơn bao giờ hết cần tìm kiếm những thị trường mới. Đương nhiên là trong giai đoạn hiện tại, chiến tranh đã hủy hoại một phần các cơ sở của Ukraina, và những nhà máy còn hoạt động là nhằm đáp ứng nhu cầu quân sự để đối đầu với lực lượng của Nga. Nhưng theo nhà quan sát này, các tập đoàn Âu Mỹ thực sự « nhìn xa hơn sau cuộc chiến với câu hỏi là làm thế nào để đổi mới nền công nghiệp quốc phòng của Ukraina ». Đồng sáng lập viên Stratéon, Mat Hauser phân tích :  

    « Ngân sách quốc phòng của Kiev hiện tại là 50 tỷ đô la cho tài khóa 2025, đó là một số tiền rất lớn nhưng vẫn chưa đủ cho phép mua tất cả những quân cụ nếu như Ukraina khai thác 100 % các khả năng sản xuất. Cụ thể là nếu như mỗi nhà máy có khả năng sản xuất ra 100 khẩu súng  thì trên thực tế họ chỉ huy động các nguồn lực để sản xuất ra 30 khẩu, vừa đủ cho nhu cầu của bên bộ Quốc Phòng. Họ dừng lại ở đó vì có sản xuất thêm nữa thì cũng không biết để làm gì khi mà Nhà nước không có phương tiện để mua thêm, khi mà các nhà máy Ukraina không được quyền xuất khẩu 70 cây súng còn lại cho bất kỳ một quốc gia nào khác. Từ khi có chiến tranh năm 2022 tổng thống Zelensky ban hành lệnh cấm xuất khẩu vũ khí để đối phó với quân Nga ».

    Kiev cần thu hút đầu tư và công nghệ để trở thành một nguồn cung cấp vũ khí cho thế giới 

    Các doanh nghiệp Ukraina sắp được cởi trói 

    Giới hạn này bị coi là một trở lực để các tập đoàn vũ khí Ukraina phát triển và vươn mình ra thế giới. Nhưng Mat Hauser tiết lộ, Kiev đang chuẩn bị một dự luật để tháo gỡ nút thắt đó. Điều này đã lập tức thu hút chú ý của các doanh nhân Pháp và châu Âu, đặc biệt là nhân diễn đàn về công nghiệp quốc phòng giữa Liên Hiệp Châu Âu và Ukraina hồi giữa tháng 5/2025 tại Bruxelles. Trong chiều hướng đó, Ukraine sẽ sớm mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Vì vậy, các công ty Mỹ, Anh và Đức đã bắt đầu định vị để mua lại các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực này.

    « Dự luật này hiện tại chưa được thông qua. Nhưng nhiều người quan niệm là để phát triển, các nhà sản xuất của Ukraina cần đi tìm những thị trường mới để xuất khẩu bởi vì không thể chỉ sản xuất để phục vụ nhu cầu nội địa. Lĩnh vực tiêu biểu nhất nói lên điều này là ngành chế tạo drone và đây cũng là chủ đề được mọi người chú ý đến nhiều hơn cả, nhưng thực ra còn phải kể đến những lĩnh vực từ chế tạo xe bọc thép, đạn dược, đến sản xuất bộ đàm với khả năng bảo mật cao hay các sản phẩm gây nhiễu sóng…  Chắc chắn là một khi kết thúc chiến tranh, Ukraina vẫn cần có được một mạng lưới công nghiệp quốc phòng vững chắc. Đây sẽ là một điều mang tính sống còn vì 2 lý do : một là phải tạo điều kiện để cho các những người lính khi giải ngũ - mà trong số này có nhiều kỹ sư, hội nhập trở lại vào đời sống chính trị của đất nước. Lý do thứ hai là cho dù có vãn hồi hòa bình, Ukraina ý thức được rằng Nga vẫn là một mối đe dọa cận kề nên cần có một nền công nghiệp quốc phòng mạnh mẽ để tự vệ ». 

    Anh, Mỹ được coi là đã nhanh chân chen vào Ukraina. Còn các công ty Pháp thì sao ? Mat Hauser trả lời : 

    «  Có nhiều cách để tiếp cận thị trường Ukraina. Đương nhiên các hãng lớn chủ trương mở công ty liên doanh. Thí dụ như đại tập đoàn Rheinmetall của Đức đã ký hợp đồng cộng tác với Ukraina cùng chế tạo xe bọc thép. Còn các hãng nhỏ thì quan tâm nhiều đến các công ty khởi nghiệp Ukraina. Gần đây, một hãng của Pháp trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo phục vụ các hoạt động quân sự đã liên hệ để cộng tác và chia sẻ kinh nghiệm với Ukraina… Nhìn chung, có khá nhiều đơn vị của Mỹ, của Đức, Anh, Đan Mạch, Hà Lan và một vài hãng của Nhật đã đầu tư vào các công ty khởi nghiệp của Ukraina, Pháp hơi chậm chân … Hình thức đầu tư này mang tính rủi ro cao bởi vì như vừa nói hiện tại các doanh nghiệp của Ukraina chưa được phép xuất khẩu tức là chỉ để phục vụ thị trường nội địa. Chiến tranh kết thúc, coi như họ mất việc. Hơn nữa chắc chắn trong số các công ty khởi nghiệp đang mọc lên, nhiều thực thể sẽ không tồn tại được một khi chấm dứt chiến tranh, thị trường vũ khí của Ukraina sẽ phải được tổ chức lại và những thực thể yếu kém nhất sẽ bị loại bỏ một cách tự nhiên. Thành thử đầu tư nhiều vào Ukraina cũng là một bài toán đầy mạo hiểm ». 

     

    Ukraina có khả năng sản xuất nhanh, nhiều và có chất lượng 

    Vũ Khí - Quốc Phòng : Ukraina, « một dạng Trung Quốc thứ hai » đe dọa châu Âu ? 

    Theo đồng sáng lập công ty chuyên thu thập các thông tin về kinh tế hướng về Ukraina, nếu như Pháp « chậm chân hay bỏ lỡ cơ hội » hơp tác với các nhà sản xuất vũ khi Ukraina, thì mối nguy hiểm hơn nữa là sắp tới « nguy cơ vũ khí và thiết bị quân sự giá rẻ của Ukraina đe dọa hàng của châu Âu và Pháp ».

    « Phía Pháp còn hơi rụt rè và chậm trễ trong việc dấn thân vào Ukraina và điều này nguy hiểm ở hai khía cạnh : một là Pháp không nắm bắt được tiềm năng của thị trường Ukraina, và hai là trong tương lai, thậm chí là với sự hỗ trợ của các doanh nghiệp phương Tây khác, Pháp có nguy cơ bị hàng của Ukraina cạnh tranh.

    Tôi xin giải thích : Trong ba năm vừa qua, Ukraina đã có những bước tiến rất xa về công nghệ chế tạo drone, về kỹ thuật …. Vậy nếu không cộng tác với họ để nắm bắt được những kinh nghiệm quý giá đó thì thật là phí !  Nhưng thành thực mà nói, đã có không ít liên hệ giữa các doanh nghiệp của Pháp và Ukraina. Hơn nữa Ukraina từng được mệnh danh là kho vũ khí của Liên Xô tức là họ đã có hẳn những nền tảng và cơ sở vững chắc về quốc phòng. Ukraina có thể sản xuất vừa nhiều vừa rẻ. Cho nên với vốn đầu tư nước ngoài, họ sẽ phát triển rất nhanh. Ngay cả trên thị trường sản xuất các hệ thống pháo tự hành 155mm mà hiện nay hệ thống CAESAR của Pháp nổi tiếng và phương Tây đã cung cấp cho Ukraina, không loại trừ khả năng Ukraina cũng sẽ có một hệ thống pháo tự hành với chất lượng gần được như của Pháp, nhưng với giá chỉ bằng một nửa, thậm chí là 1/3 so với giá mỗi chiếc Caesar. Điều đó có nghĩa là hàng của Ukraina sẽ cạnh tranh trực tiếp với vũ khí của Pháp. Tất cả vấn đề nằm ở chỗ đó, thành thử chúng ta nên cộng tác với họ hơn là để họ trở thành những đối thủ cạnh tranh sau này ». 

    9 min
  • Chiến tranh Trung Đông : Vẫn có hy vọng tránh được khủng hoảng dầu hỏa ?

    Giá dầu hỏa bị đẩy lên cao và thị trường thêm căng thẳng kể từ khi xung đột Israel-Iran khai mào. Cộng đồng quốc tế nín thở trước nguy cơ một lần nữa tăng trưởng của thế giới lại bị khủng hoảng dầu lửa nhận chìm. Chưa ai nói đến một cơn « sốt dầu » cho đến khi Mỹ « nhập cuộc » ngày 22/06/2025. Nhiều lý do giải thích cho hiện tượng nói trên, nhưng tất cả đều có thể thay đổi nhanh chóng nếu chiến tranh lan rộng. 

    Tại Matxcơva, tổng thống Vladimir Putin ắt hẳn hài lòng, vì nhờ « Sư Tử »  Israel « Vươn Mình » sang tận lãnh thổ Cộng Hòa Hồi Giáo Iran trong đợt oanh kích đêm 12 rạng sáng 13/06/2025, mà giá một thùng dầu của Nga mới ngoi lên được đến 5000 rúp. Đây là mức cao nhất từ nửa năm nay. Trong vỏn vẹn chưa đầy một tuần lễ, thu nhập từ xuất khẩu dầu lửa của Matxcơva tăng 12 %.

    Căng thẳng thì có, khủng hoảng thì chưa

    Nga là một trong những nguồn cung cấp năng lượng cho thế giới. Bất chấp chiến tranh Ukraina và các đợt trừng phạt của Âu - Mỹ, dầu khí vẫn đem về gần 1/3 thu nhập cho ngân sách của chính phủ. Đây là nguồn tài trợ cho cỗ máy chiến tranh của tổng thống Vladimir Putin.

    Ở những nơi khác trên thế giới, giá một thùng dầu Brent tăng hơn 10 % và hiện dao động ở mức khoảng 75 đô la/thùng, tương đương với giá dầu hồi tháng 1/2025 trước khi chính quyền mới ở Washington khuấy lên một cuộc chiến thương mại với gần như toàn thế giới.

    Các nhà sản xuất thì hài lòng, nhưng đối với những quốc gia phải nhập khẩu năng lượng, đứng đầu là Trung Quốc hay Nhật Bản và nhiều nước trong Liên Hiệp Châu Âu, đây là một mối đe dọa mới. Trả lời đài RFI Pháp ngữ, chuyên gia về năng lượng Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp, ghi nhận « chảo dầu ở Trung Đông có nguy cơ bốc cháy bất cứ lúc nào »:

    « Hậu quả đầu tiên đương nhiên là giá dầu hỏa tăng lên. Điều này không có gì ngạc nhiên do chuyển biến tại Trung Đông, nơi tập trung khoảng một nửa trữ lượng dầu của thế giới. Hơn nữa căng thẳng và xung đột lần này lại liên quan trực tiếp đến Iran, một nhà sản xuất dầu mỏ lớn trên thế giới. Giá dầu đã tăng ngay từ thứ Sáu 13/06/2025 sau đợt không kích đầu tiên của Israel đêm hôm trước. Trên các thị trường ở Luân Đôn hay New York, giá dầu đều tăng 7% trong phiên giao dịch hôm đó và 7% trong một ngày là mức tăng rất mạnh ».

    Những tác động cụ thể đến người tiêu dùng

    Francis Perrin giải thích cụ thể về những tác động khi giá dầu bị đẩy lên cao: 

    « Khi giá dầu tăng thì các nước nhập khẩu thấm đòn. Như trường hợp của Pháp chẳng hạn, 99 % lượng dầu tiêu thụ là phải mua của nước ngoài, có nghĩa là hóa đơn thanh toán mỗi thùng dầu sẽ đắt hơn. Điều này ảnh hưởng đến cán cân thương mại, cán cân thanh toán, cũng như đến các ngành công nghiệp cần dầu mỏ, hoặc các sản phẩm tinh chế từ dầu.

    Kế tới là tác động đối với người tiêu dùng : giá xăng dầu bị đẩy lên cao, giá dầu sưởi cũng vậy. Mỗi khi giá dầu tăng, câu hỏi đặt ra là mức độ tăng giá dầu sẽ lên đến đâu, và tác động đến giá cả ở mức độ nào, cơn sốt dầu sẽ  kéo dài trong bao nhiêu ngày. Hiện tại không thể trả lời những câu hỏi này, nhưng rõ ràng là người tiêu dùng, các nước nhập khẩu và các ngành công nghiệp cần dầu mỏ, hoặc sản phẩm tinh chế từ dầu sẽ bị ảnh hưởng. Tác động càng mạnh nếu giá dầu tăng quá cao và trong một thời gian dài. Tôi xin đưa ra một giả định để chúng ta dễ hiểu: Giả sử giá dầu tăng lên 90 đô la một thùng, hậu quả sẽ hoàn toàn khác nếu tình trạng này chỉ kéo dài hai ngày, hai tuần, hay kéo dài hai tháng, cả năm ».

    Trung Quốc thiệt hại lớn 

    Như vừa nói, Trung Quốc là nguồn tiêu thụ dầu hỏa lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ, nhưng là bên nhập khẩu nhiều dầu nhất. Nhập khẩu bảo đảm ¾ lượng dầu tiêu thụ trên cả nước. Theo Théo Nencini, chuyên nghiên cứu về quan hệ giữa Iran và Trung Quốc, Trường Khoa Học Chính Trị Grenoble, xung đột tại Trung đông hiện nay là một thách thức mới cho kinh tế và tăng trưởng Trung Quốc. Ông giải thích : « Hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu dầu lửa của Trung Quốc phải đi qua eo biển Hormuz. Tùy theo cách tính toán, Iran bảo đảm từ 12 đến 18 % nhu cầu về dầu hỏa cho Trung Quốc ».

    Từ khi lên cầm quyền năm 2012, ông Tập Cận Bình « liên tục mở rộng bang giao với Teheran » vì hai lý do : Trung Quốc và Iran cùng phản đối trật tự quốc tế trong tay Hoa Kỳ và Bắc Kinh muốn mở rộng ảnh hưởng ở Trung Đông vì mục đích địa chính trị và nhất là kinh tế.

    Năm 2016 ông Tập công du Iran. Năm năm sau đó, đôi bên ký « Hiệp định hợp tác chiến lược » trong vòng 25 năm và Bắc Kinh đã cam kết đầu tư 400 tỷ đô la trong giai đoạn này để giúp Iran phát triển kinh tế, thoát khỏi vòng vây của các biện pháp trừng phạt phương Tây. Đổi lại, Teheran ưu tiên cung cấp dầu cho Trung Quốc. Trung Quốc là khách hàng lớn nhất mua dầu hỏa của Iran.

    Giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp Francis Perrin nói rõ hơn về trọng lượng của Trung Quốc đối với thị trường dầu hỏa Iran :

    « Trong lĩnh vực dầu hỏa Iran là nhà sản xuất lớn thứ 8 thế giới và một phần lớn khối lượng sản xuất là để xuất khẩu. Iran cũng là một nguồn cung cấp quan trọng của thế giới, nhưng đã bị Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm vận trong nhiều năm và lệnh cấm đã được áp dụng trở lại hồi 2018. Trong nhiệm kỳ đầu, ông Trump đã tuyên bố kể từ ngày 05/11/2018, bất kỳ công ty hay quốc gia nào nhập khẩu dầu mỏ từ Iran sẽ bị Mỹ trừng phạt chiếu theo nguyên tắc ngoài lãnh thổ. Lập tức hầu như tất cả các quốc gia đều ngừng mua dầu từ Iran, ngoại trừ Trung Quốc. Cho đến nay, Trung Quốc vẫn là khách hàng mua dầu chủ yếu của Iran.

    Trong nhiệm kỳ 2 tổng thống Trump tuyên bố khai trừ xuất khẩu dầu của Iran trên thị trường thế giới. Tình hình đã trở nên căng thẳng hơn cho dù Mỹ và Iran đã nối lại đàm phán hạt nhân từ giữa tháng 4/2025. Dù vậy Teheran đến nay vẫn xoay xở để xuất khẩu dầu, đặc biệt là sang châu Á, mà chủ yếu là sang Trung Quốc, nguồn tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ hai thế giới và là quốc gia nhập khẩu dầu mỏ số một toàn cầu ».

    Ẩn số chung quanh eo biển Hormuz

    Vào lúc câu hỏi đang đặt ra là nếu bị đẩy vào chân tường, Iran có dám đóng cửa eo biển Hormuz hay không, giới quan sát đồng loạt trả lời là không. Chuyên gia về dầu hỏa Francis Perrin trình bày :

     « Đây sẽ là kịch bản tệ hại nhất. Eo biển Hormuz là một vị trí chiến lược. Mỗi ngày khoảng 1/5 lượng dầu tiêu thụ toàn cầu trung chuyển qua ngả này bằng các tàu chở dầu mà chúng ta gọi là tankers. 20% lượng dầu tiêu thụ trên toàn thế giới phải đi qua đây. Do vậy nếu eo biển này bị phong tỏa, thì giá dầu sẽ tăng vọt. Không ai có thể thẩm định được một cách cụ thể về mức độ tai hại, nhưng đây sẽ là một cú sốc khủng khiếp với những hậu quả khó lường. Tuy nhiên, tôi cho rằng kịch bản này không có khả năng xảy ra, ít nhất là trong thời điểm hiện tại, bởi vì phong tỏa eo biển Hormuz sẽ là một loại vũ khí hủy diệt, tức là giải pháp cuối cùng, chỉ được dùng đến khi mà sự tồn tại của chính quyền Iran bị đe dọa. 

    Chính quyền Iran không sụp đổ chỉ vì các cuộc không kích của Israel. Do vậy, nếu Iran phong tỏa eo biển Hormuz trong tương lai gần, thì ngoài các cuộc không kích của Israel, Iran sẽ phải hứng chịu thêm đòn từ phía Mỹ. Nói một cách dễ hiểu, phong tỏa eo biển Hormuz không phải là thượng sách.

    Điểm thứ nhì, phong tỏa eo biển Hormuz tức là Iran tự triệt đường xuất khẩu dầu hỏa của chính mình. Trong khi đó thì Teheran đang rất cần ngoại tệ, mà dầu hỏa là yếu tố sống còn đối với kinh tế nước này. Trong trường hợp đó, Trung Quốc cũng sẽ không thể tiếp tục mua dầu của Iran. Quốc gia Trung Đông này như vậy sẽ mất đi nguồn thu nhập và gây khó khăn cho khách hàng quan trọng nhất và gần như là duy nhất vẫn còn giao thương với Iran. Đây cũng sẽ là tính toán sai lầm, bởi Bắc Kinh là điểm tựa của Iran cả về chính trị lẫn ngoại giao. Là thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc có thể ngăn chặn các nghị quyết gây bất lợi cho Iran. Trong tình hình khó khăn hiện nay, đây không phải là lúc để Tehran làm mất lòng một trong những đồng minh hiếm hoi còn lại ».

    Iran không muốn tự sát 

    Đừng quên rằng eo biển Hormuz là cửa ngõ chung để đưa năng lượng của các quốc gia trong vùng Vịnh Ba Tư (Iran, Kweit, Ả Rập Xê Út, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Qatar) ra Ấn Độ Dương. Do vậy, nếu khóa eo biển Hormuz, chắc chắn Teheran sẽ không yên được với các nước trong vùng. Thêm một điều nữa : Để đóng cửa eo biển Hormuz, Iran sẽ phải « vi phạm chủ quyền lãnh hải của Oman ». Theo một chuyên gia của công ty chuyên cung cấp dữ liệu kinh tế và tài chính Kpler, « vi phạm toàn vẹn lãnh hải của Oman tạo cơ hội cho Hoa Kỳ can thiệp quân sự ». Khi đó « chảo dầu » của thế giới có nguy cơ « bốc cháy ».

    Đó là một thực tế hoàn toàn có thể xảy ra, nhưng giới trong ngành cũng nhắc lại: Trong cuộc chiến giữa Iran và Irak vào thập niên 1980, eo biển này đã từng bị « kẹt giữa hai làn đạn » làm xáo trộn thị trường dầu hỏa toàn cầu, gây nên một « cơn sốt dầu ». Chính vì tránh để kịch bản này tái diễn nên Hoa Kỳ đã « gài » Hạm Đội Năm tại căn cứ Manama ở Bahrain. Điều đó không cấm cản Teheran nhiều lần đe dọa đóng cửa eo biển Hormuz như vào năm 2011 hay vào năm 2019, mỗi lần quốc tế siết chặt thêm các biện pháp cấm vận. 

    Nhưng như vừa nói, phong tỏa eo biển chiến lược này sẽ là « một hành động tự sát » của chế độ thần quyền trong tay giáo chủ Khamenei.

    Một sự kềm chế từ phía Israel ? 

    Như một nhà quan sát trong ngành ghi nhận : Hơn tất cả các đời tổng thống trong lịch sử Hoa Kỳ, Donald Trump « mê tiền » và không muốn phải hy sinh các lợi ích kinh tế. Đây có thể là một cái « may » : Chính vì lợi ích kinh tế mà chủ nhân Nhà Trắng sẽ tránh để kịch bản « tệ hại nhất đó » xảy ra.

    Sau cùng, cho đến ngày 21/06/2025, tức là hơn một tuần lễ từ khi khai hỏa, quân đội Israel có nhắm vào các cơ sở năng lượng của Iran, như ở Shahran, một trong những kho dự trữ lớn nhất của Iran, nhưng đó là khu vực dự trữ dầu để cung cấp cho thị trường nội địa. Trung tâm Emirates Policy Center ghi nhận, đến nay những nhà máy dầu và kho dự trữ để xuất khẩu vẫn còn nguyên vẹn. Điển hình là nhà máy được đặt tại đảo Kharg, khu vực tây nam Iran, nơi cất giữ đến« 95 % dầu hỏa của Iran để xuất khẩu». Nếu cơ sở này bị tấn công thì Teheran « không còn một giọt dầu nào » để cung cấp cho các khách hàng.

    Dù vậy trước mắt, không ai biết trước được điều gì sẽ xảy ra, nhất là kể từ khi Mỹ huy động bom cực mạnh oanh kích các cơ sở hạt nhân của Iran. Chỉ biết rằng từ khi bị Israel tấn công hôm 13/06, trung bình Iran xuất khẩu đến 2,33 triệu thùng dầu, tăng 44 % so với cùng thời kỳ năm ngoái. Như thể Teheran gấp rút xuất khẩu và thu vào ngoại tệ tối đa, đề phòng « tình hình xấu đi thêm ».

    10 min
  • Mỹ mắc nợ 36.000 tỷ, một gánh nặng cho đồng đô la

    Kịch bản bất thường khi đồng tiền Mỹ mất giá trong lúc tình hình thế giới bất ổn hơn bao giờ hết. Phải chăng đô la không còn là « tài sản an toàn nhất » ? Câu hỏi được đặt ra một phần do trung bình cứ ba tháng một lần, gánh nợ của chính quyền liên bang lại tăng thêm 1.000 tỷ đô la. Nhờ là nền kinh tế số 1 thế giới và quy chế đặc biệt của đồng đô la, công trái phiếu bộ Tài Chính phát hành vẫn dễ dàng có người mua.

    Tình trạng này sẽ còn kéo dài được bao lâu khi mà giới tài chính ngân hàng, các nhà nghiên cứu cũng như các doanh nghiệp và giới đầu tư bắt đầu hoài nghi về tiềm năng tăng trưởng của Hoa Kỳ và chiến lược phát triển kinh tế bị coi là « mù mờ » của tổng thống Trump ?  

    Thế giới vẫn xem nợ của Mỹ là một sản phẩm tài chính an toàn ? 

    Mỹ không chỉ là nền kinh tế lớn nhất mà còn là quốc gia mang nợ nhiều nhất trên hành tinh. Trong một vài ngày nữa tổng nợ công của Hoa Kỳ sẽ đụng ngưỡng 37.000 tỷ đô la. Nợ của Mỹ như vậy lớn gấp 9 lần so với GDP Đức, nền kinh tế số 1 trong Liên Hiệp Châu Âu.

    Hôm nay 17/06/2025 là một ngày quan trọng đối với Washington do bộ Tài Chính Mỹ phát hành thêm 118 tỷ đô la công trái phiếu đủ loại (với thời hạn 3-10 và 30 năm). Câu hỏi đặt ra là chuyện gì sẽ xảy ra nếu như các ngân hàng trung ương nước ngoài, các định chế tài chính tư nhân của Mỹ và ngoại quốc « chê » hay « ngại » mua thêm vào nợ của Hoa Kỳ ?

    Một số dự báo e rằng, lãi suất tín dụng dài hạn 10 và 30 năm Mỹ phải đi vay có nguy cơ lại « vượt quá ngưỡng tâm lý » 5 %. Mới chỉ với lãi suất tín dụng 4 % mà theo thẩm định của Văn Phòng trực thuộc Hạ Viện lo về ngân sách, trong tài khóa 2025 chính phủ Liên Bang sẽ phải dành ra  952 tỷ đô la để trả tiền lãi cho các chủ nợ. Số tiền này như vậy lớn hơn cả « ngân sách của bên bộ Quốc Phòng ».

    Donald Trump, « mối đe dọa lớn nhất » đối với kinh tế Hoa Kỳ ?

    Có ít nhất ba yếu tố báo trước Mỹ sẽ phải đi vay tín dụng với lãi suất cao hơn : Thứ nhất, từ 2019 Mỹ đã phải đi vay với lãi suất càng lúc càng cao, nhưng từ khi trở lại Nhà Trắng hôm 20/01/2025 tổng thống Trump như đang « nhấn ga » mạnh hơn nữa để lao vào một bức tường. Chính sách thuế đối ứng và chiến tranh thương mại của Washington có nguy cơ đánh thẳng vào tăng tưởng của Hoa Kỳ.

    Lo ngại thứ hai là gần đến hạn định 90 ngày Donald Trump (tức là ngày 09/07/2025) để cho thế giới để đàm phán hòng tránh được những mức thuế « trên trời » từ 10 đến 50 % phụ trội mà Mỹ áp đặt. Nhưng đã gần đến cột mốc  09/07/2025 mà đến nay mới chỉ có 1 nước duy nhất là Anh Quốc chính thức đạt được đồng thuận để chỉ bị phạt 10 % thuế hải quan khi xuất khẩu  sang Mỹ.

    Một số quốc gia khác như Việt Nam, Nhật Bản thì mới chỉ « gần sắp đạt đến đích ». Hàn Quốc với một chính quyền mới của tổng thống Lee Jae Myung « cần có thời gian để nắm vững hồ sơ ».

    Indonesia thì sáng 17/06/2025 vừa tuyên bố « không cần thiết điều phái đoàn trở lại Washington để tiếp tục đàm phán vì Jakarta đã cố gắng hết sức mình. Quả bóng giờ đây ở trên sân chơi của Mỹ » …

    Với Trung Quốc chưa thể nói là Bắc Kinh và Washington đã buông vũ khí sau hai vòng đàm phán ở Genève và Luân Đôn.

    Thêm 2.400 tỷ đô la nợ trong 10 năm

    Lý do thứ ba khiến nhiều nhà đầu tư thận trọng với Hoa Kỳ chính là dự luật ngân sách Big and Beautiful Bill Act mà tổng thống Trump coi là công cụ hiệu quả để đem lại « hào quang cho nước Mỹ ». Nếu được Quốc Hội Lưỡng Viện thông qua, đạo luật này sẽ đào sâu thêm nữa 2.400 tỷ đô la nợ của chính phủ liên bang trong 10 năm sắp tới.

    Làm thế nào giải thích núi nợ đã xấp xỉ 37.000 tỷ đô la của Mỹ ? Phải chăng đó là một yếu tố đang làm suy yếu đồng đô la ?  RFI mời chuyên gia Thomas Grjebine, Trung Tâm Nghiên Cứu về Triển Vọng Kinh Tế và Thông Tin Quốc Tế của Pháp – CEPII trả lời các câu hỏi này.

    Trước hết Thomas Grjebine nhấn mạnh nhiều đời tổng thống Hoa Kỳ đều ỷ lại vào sức mạnh và đặc quyền Washington có được nhờ đồng đô la : 

    « Nợ công của Mỹ tăng mạnh trong nhiều năm do các chính quyền liên tiếp vừa mạnh tay tăng các khoản chi tiêu, vừa có những chương trình quy mô để giảm thuế - đặc biệt là dưới nhiệm kỳ đầu của ông Donald Trump. Quả thực là trong một thời gian dài Washington không xem nợ nần chồng chất là một vấn đề bởi vì Hoa Kỳ có đồng đô la, nên vẫn có thể đi vay với lãi suất không quá đắt. Trong những tuần lễ gần đây chúng ta thấy tình hình thêm căng : Mỹ đi vay tín dụng với lãi suất cao hơn - có nghĩa là Mỹ khó huy động vốn hơn và qua đó, chi phí phải thanh toán cho các chủ nợ sẽ nặng hơn. Trước mắt hiện tượng này chưa tác động đến các hộ gia đình Mỹ. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là trong tương lai xa hơn và đến một lúc nào đó chính quyền liên bang phải tăng thuế để tiếp tục trả nợ ».

    Đô la không còn là một phương tiện dự trữ an toàn ? 

    Có điều từ đầu 2025 đến nay, đô la Mỹ mất giá 9 % so với các đơn vị tiền tệ khác như đồng euro hay franc của Thụy Sĩ, bảng Anh và Yen Nhật Bản… Phải chăng đây là dấu hiệu đô la không còn là một « tài sản an toàn » vì nợ Mỹ càng lúc càng tăng nhanh và có ngy cơ « vượt ngoài tầm kiểm soát » ? Khi đó, nền kinh tế số 1 thế giới càng khó đi vay ? Thomas Grjebine, trước mắt loại trử kịch bản Mỹ khan hiếm tiền mặt. 

    « Cần nói rõ là chưa có chuyện Hoa Kỳ gặp khó khăn khi cần đi vay tín dụng, Mỹ cũng không lâm vào hoàn cảnh thiếu hụt thanh khoản và chúng ta hoàn toàn không đứng trước khủng hoảng về nợ nông như điều từng xảy ra với Hy Lạp hồi 2011. Hiện tại chúng ta mới ghi nhận hiện tượng lãi suất tín dụng tăng lên cao và sẽ đè nặng thêm nữa lên các khoản chi phí trong ngân sách của chính quyền liên bang. Nhưng còn phải kể đến vai trò của Ngân Hàng Trung Ương Mỹ : Federal Reserve có thể can thiệp bằng cánh ồ ạt mua vào các công trái phiếu mà bên bộ Tài Chính phát hành và qua đó làm hạ nhiệt tình hình. Kết luận ở đây là Hoa Kỳ không bị khủng hoảng về nợ công đe dọa »…

    Thái độ thận trọng : đô la sẽ tiếp tục mất giá   

    Thomas Grjebin giải thích thêm : « Các nhà đầu tư tiếp tục mua vào nợ của Mỹ bởi Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất, năng động nhất và phát hành nhiều công trái phiếu nhất. Nếu muốn đầu tư vào công trái phiếu, thì không có giải pháp nào để thay thế cho công trái Hoa Kỳ : Đức cũng phát hành công trái nhưng không thấm vào đâu. Hơn nữa Mỹ có đồng đô la… »  

    Đây là « đơn vị tiền tệ quốc tế thực thụ duy nhất » của thế giới. Hiện tại có một khối lượng khoảng 1.300 tỷ đô la lưu hành ở mọi nơi, ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ…

    Trên nguyên tắc, trước mọi biến động về địa chính trị, nhu cầu mua vào đô la được đẩy lên cao. Đô la tăng giá. Lần này, cho đến cuối tuần trước thế giới phải đối mặt với nhiều bất ổn như xung đột Israel và Palestine tại dải Gaza, và một cuộc chiến đã kéo dài là chiến tranh Ukraina… vậy mà đồng đô la đã liên tục trượt giá.

    Các ngân hàng lớn của Hoa Kỳ có vẻ không mấy lạc quan. Morgan Stanley chẳng hạn e rằng « từ nay đến giữa 2026 đô la có thể sẽ còn rơi mạnh hơn nữa, mất giá thêm 10 % so với thời điểm hiện tại ». Goldman Sachs cũng đánh giá tương tự và thậm chí khuyên các thân chủ nên tích trữ đồng yen và euro hơn là đô la.

    Về phần nhà nghiên cứu Thomas Grjebine của trung tâm Pháp CEPII, anh nói đến một hiện tượng « chưa từng có » :  

    « Đây là hiện tượng khá mới mẻ bởi vì từ trước đến nay mỗi lần xảy ra khủng hoảng thì thông thường đô la tăng giá. Những mối lo ngại liên quan đến thị trường tài chính hay về sức tăng trưởng của các nền kinh tế trên thế giới, thì phản ứng là mọi người đua nhau tích trữ đồng đô la hay mua vào công trái phiếu của Hoa Kỳ. Tức là đơn vị tiền tệ của Mỹ sẽ tăng giá. Nhưng lần này thì không.

    Từ nhiều tháng qua, đô la trượt giá vào lúc mà tăng trưởng toàn cầu bị đe dọa và tình hình thế giới bấp bênh hơn bao giờ hết (....) Có chiều hướng là đô la sẽ tiếp tục mất giá trong nhiều tháng bởi vì môi trường hiện tại không ổn định do có nhiều rủi ro : Chúng ta chưa biết chiến tranh thương mại sẽ đi về đâu. Donald Trump có tiếp tục đẩy cuộc chiến này lên một mức độ cao hơn nữa hay không. Thế nhưng cầm chắc là thâm hụt ngân sách của Mỹ sẽ còn tăng thêm nữa. Hiện có nhiều nghi vấn về dự luật tài chính tổng thống Trump đang ấp ủ là dự luật Big and Beautiful Act Bill. Những ngờ vực về tăng trưởng của Hoa Kỳ cũng có nguy cơ kéo tỷ giá của đô la xuống thấp ».

    Một nhà tài chính trên báo kinh tế Les Echos hôm 03/06/2026 kết luận « đô la cũng như công trái phiếu của Hoa Kỳ vốn được xem là những sản phẩm tài chính an toàn bậc nhất đang bị rớt đài ».

    10 min

About Tạp chí Kinh Tế

From the publisher's feed

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

More shows like Tạp chí Kinh Tế

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

221 Listeners

Tạp chí Âm Nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Âm Nhạc

2 Listeners

Tạp chí Tiêu Điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Tiêu Điểm

0 Listeners

Tạp chí Khoa Học Môi Trường by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Khoa Học Môi Trường

0 Listeners

Tạp chí Văn Hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Văn Hóa

0 Listeners

Spiderum Official by Spiderum

Spiderum Official

25 Listeners

Tâm Sự Tài Chính by Trịnh Công Hoà

Tâm Sự Tài Chính

2 Listeners

Huynh Duy Khuong Show by Huỳnh Duy Khương

Huynh Duy Khuong Show

7 Listeners

Sách Nói Chất Lượng Cao by Voiz FM

Sách Nói Chất Lượng Cao

5 Listeners

More Perspectives by Duy Thanh Nguyen

More Perspectives

12 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

7 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí Thể Thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Thể Thao

0 Listeners

Tạp chí Xã Hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Xã Hội

0 Listeners

Tạp chí Đặc Biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Đặc Biệt

0 Listeners

Better Version by Better Version

Better Version

46 Listeners

điêu khắc bản thân by Chuyện đời Sales

điêu khắc bản thân

1 Listeners

Nguyễn Hữu Trí Podcast by Nguyễn Hữu Trí

Nguyễn Hữu Trí Podcast

24 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners