
Sign up to save your podcasts
Or


Biển và đại dương là « cột sống kinh tế của toàn cầu », mang lại việc làm cho trên dưới 200 triệu người, là nơi vận chuyển 90 % thương mại của thế giới và bảo đảm đến 90 % dịch vụ kết nối trong thời đại công nghệ số. Không gian biển đã trở thành nơi mà những lợi ích kinh tế, những tham vọng chính trị và quân sự đan chặt vào nhau. Kèm theo đó là nguy cơ xung đột vũ trang.
Trước tình hình Trái đất đang bị thu hẹp dưới gánh nặng dân số, nhu cầu về lương thực thực phẩm, về tài nguyên, về năng lượng tăng nhanh, viễn cảnh làm chủ các nguồn tài nguyên còn vùi rất sâu trong lòng biển càng hấp dẫn.
25.000 tỷ đô la tiềm năng kinh tế từ đại dươngNếu là một quốc gia trên hành tinh, biển cả và đại dương sẽ là 1 trong 5 nền kinh tế phồn thịnh nhất, giàu có hơn cả Nga hay Brazil. Đây cũng là nơi mà tiềm năng về kinh tế ước tính lên tới 25.000 tỷ đô la. Để so sánh, GDP của Việt Nam là 480 tỷ đô la (2024).
Trước ngày khai mạc Hội Nghị Đại Dương Liên Hiệp Quốc UNOC3, đồng chủ tịch diễn đàn tại Monaco, quy tụ các doanh nghiệp, giới đầu tư và nhất là các ngân hàng, Pascal Lamy thẩm định tiềm năng kinh tế và tài chính có thể rút ra từ biển cả lên tới 25.000 tỷ đô la.
Báo cáo gần đây nhất của Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OCDE) ghi nhận trong suốt giai đoạn từ 1992 đến 2020 « hơn 100 triệu việc làm trên thế giới » là trực tiếp gắn liền với biển cả. Con số này có lúc vượt quá ngưỡng 150 triệu .
Còn theo nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc, « biển và đại dương bảo đảm sinh tồn cho ít nhất 3 tỷ người trên hành tinh, là nguồn cung cấp chất đạm cho 17 % nhân loại » đó là chưa kể đến « rất nhiều những lĩnh vực kinh tế trực tiếp hay gián tiếp gắn liền với đại dương », bao gồm các hoạt động khai thác dầu mỏ và khoáng sản ở ngoài khơi, kể cả năng lượng hóa thạch và tái tạo, ngành đóng tàu cũng như lĩnh vực viễn thông qua hệ thống cáp ngầm …
Trọng lượng kinh tế của không gian biển càng lớn thì lại càng đặt ra nhiều thách thức từ việc khai thác, quản lý, tài nguyên xa bờ, cũng như ở sát bờ duyên hải... Thêm vào đó là những vấn đề đối với môi trường.
Quan trọng hơn nữa là, trong bối cảnh cạnh tranh gia tăng dưới áp lực kinh tế, biển và đại dương càng lúc càng bị đe dọa.
Quyền tự do lưu thông trên biển bị thu hẹpTrả lời đài nhà báo Marie France Châtin của RFI Pháp ngữ trong chương trình Địa Chính trị, Nicolas Mazzuchi, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Hàng Hải, trước hết nhấn mạnh đến mối đe dọa do quyền tự do lưu thông trên biển đang bị thu hẹp dần vì lý do địa chính trị, cũng như do các dự án công nghiệp trên biển.
« Thực sự ra biển, đại dương là không gian rộng mở cho mọi hình thức giao lưu. Nhưng nhưng giờ đây chúng ta đang chứng kiến hiện tượng gọi là « lãnh thổ hóa không gian biển » tức là một số các hoạt động hàng hải bị gián đoạn tại một số khu vực. Thí dụ như Hồng Hải đã bị phe Houthi -Yemen khủng bố, tàu bè không dám qua lại …Hay là ở Biển Đông nơi Trung Quốc áp đặt những yêu sách về chủ quyền và đã xây dựng các cơ sở quân sự tại một số hòn đảo …, cho nên việc di chuyển trong khu vực này trở nên phức tạp hơn. Bên cạnh đó, tự do hàng hải cũng bị thu hẹp lại một khi mà chúng ta đặt các cơ sở khai thác dầu khí ở ngoài khơi, hay phát triển các chương trình đặt cáp quang dướng lòng biển để phục vụ ngành viễn thông … Những cơ sở hạ tầng đó cản trở tàu thuyền qua lại ».
Chuyên gia Virginie Saliou của Viện Nghiên Cứu Chiến Lược - Học Viện Quân Sự Pháp giải thích thêm :
« Quyền tự do lưu thông là cốt lõi trong luật biển quốc tế mà đến nay các quốc gia ít nhiều tuân thủ. Nước nào cũng muốn được tự do giao thương, tự do ra vào các hải cảng, tự do khai thác các nguồn tài nguyên biển. Ngày nay chúng ta đang đứng trước một cuộc cạnh tranh trên tất cả mọi lĩnh vực với những rủi ro xuất phát từ việc chúng ta ngày càng lệ thuộc vào không gian biển. Chẳng hạn như không thể để cho tàu bè tự do đi lại trong một vùng biển mà ở đó những cánh quạt đã được dựng lên để khai thác năng lượng gió. Bên cạnh đó là những rủi ro liên quan đến môi trường, khí hậu và nhất là trong việc bảo vệ tài nguyên. Tôi muốn nói đến tình trạng khai thác thủy sản quá đà và các hoạt động đánh bắt trái phép … Thêm vào đó là những nguy cơ khác như các vụ hải tặc, hiểm họa khủng bố trên biển, hay là nguy cơ xung đột trên biển do các quốc gia đang lao vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt »
Công nghệ mới - thách thức mới về an ninhCũng trên đài RFI Pháp ngữ, Thierry Duchesne, giám đốc ban nghiên cứu chiến lược hàng hải thuộc Quỹ Địa Trung Hải, nhấn mạnh đến những « công cụ mới » như drone biển, một lợi thế chưa từng có để phục vụ các hoạt động khai thác và phát triển tài nguyên, vừa giám sát các cơ sở hạ tầng trong lòng biển. Nhưng đây cũng là những phương tiện được các tổ chức tội phạm hay các quốc gia thù nghịch khai thác:
« Các công nghệ hiện đại đã đưa thế giới biển vào một kỷ nguyên hoàn toàn mới. Công nghệ phát triển drone biển đang chuyển biến rất nhanh và Pháp có những lá chủ bài trong lĩnh vực này. Chính sự hiện diện của công cụ mới này càng lúc càng đặt ra những thách thức. Chẳng hạn như drone biển có thể được sử dụng cho các hoạt động phi pháp. Các tổ chức mafia đã khai thác để chuyển hàng lậu. Trong bối cảnh mà chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào các hệ thống cáp quang dưới lòng biển trong các lĩnh vực viễn thông và công nghệ số, các hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt đi qua lòng biển, đây cũng là một thách thức đối với an ninh quốc gia ».
Tái vũ trang không gian biểnTrong bối cảnh đó, Nicolas Mazzuchi, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Hàng Hải, không ngần ngại nói đến chiến lược « tái vũ trang các vùng biển và đại dương » mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang theo đuổi :
« Nhìn vào tình hình địa chiến lược và các lực lượng hải quân trên thế giới, từ khoảng một chục năm trở lại đây, chúng tôi ghi nhận xu hướng tái vũ trang các không gian biển. Tức là đang có một sự phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng trên toàn cầu. Khuynh hướng này rõ rệt hơn ở một số khu vực như Đông Bắc Á. Đây là nơi mà Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc nâng cao tiềm lực hải quân, còn Mỹ thì gia tăng hiện diện trong vùng Ấn Độ -Thái Bình Dương. Nhưng xin lưu ý rằng Ấn Độ -Thái Bình Dương không phải là khu vực duy nhất lao vào một cuộc chạy đua vũ trang trên không gian biển. Tại Địa Trung Hải hay Châu Mỹ Latinh, hiện tượng này cũng đã được ghi nhận. Tất cả cũng chỉ vì tự do giao thương, tự do đi lại ».
Chiến tranh Ukraina là một trận chiến trên biểnVẫn theo chuyên gia này, trong chiều hướng đó, chiến tranh Ukraina đang hoành hành ở Hắc Hải trước hết là một cuộc chiến trên biển, do đã ảnh hưởng trực tiếp đến các luồng giao thương, đến xuất khẩu nông phẩm, ngũ cốc, đến năng lượng của cả hai bên tham chiến Nga và Ukraina, cũng như của nhiều quốc gia xuất khẩu dầu khí tại Trung Á …
Cuộc chiến mà tổng thống Vladimir Putin khơi mào từ tháng 2/2025 từng làm gián đoạn giao thương ở Hắc Hải, từng ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động xuất nhập khẩu nông phẩm, phân bón… của nhiều nước ở Châu Phi và Trung Cận Đông…
« Việc vận chuyển nguyên liệu thô qua Biển Đen bị trở ngại, không chỉ đối với phía Ukraina mà cả với phía Nga, đặc biệt là qua hải cảng Novorossiysk, nơi trung chuyển một lượng rất lớn dầu khí của Nga và của cả khu vực Trung Á. Cảng này là cửa ngõ chính để đưa hàng hóa, nguyên liệu sang châu Âu. Ngoài năng lượng, ngũ cốc của Ukraina cũng phải đi qua Biển Đen. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra trong trường hợp các bên tham chiến mở một cuộc đổ bộ nhắm vào cảng Odessa của Ukraina. Do vậy, chiến tranh Ukraina thực chất là một cuộc chiến trên biển, đụng chạm trực tiếp đến quyền tự do hàng hải và tự do giao thương ».
Nguy cơ chiến tranh thương mại toàn diệnNhà nghiên cứu Virginie Saliou kết luận: Chỉ cần đóng cửa một vài hài cảng, một eo biển như Ormuz hay Đài Loan, Malaka là cũng đủ để đẩy toàn thế giới vào một cuộc chiến thương mại toàn diện.
« Cả thế giới phụ thuộc vào các hoạt động giao thương hàng hải. Chính vì thế mà các vùng biển rộng lớn càng trở thành những mục tiêu hấp dẫn khi cần gây thiệt hại cho mậu dịch toàn cầu. Điều này đã được chứng minh tại Hồng Hải. Ngoài ra còn có nhiều hiện tượng khác nữa, như là cuộc chạy đua tái vũ trang để khẳng định chủ quyền trên biển, vì những lợi ích kinh tế và an ninh. Hệ quả kèm theo các các mối căng thẳng trên biển gia tăng là nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang. Chính vì thế phải phát triển tiềm năng của hải quân … Riêng về điểm này, Pháp có hẳn một chiến lược, có những phương tiện và kinh nghiệm mà nhiều quốc gia khác chưa có, hoặc là có nhưng chưa được cọ sát với thực tế ».
Trong một bài tham luận năm 2022 đăng trên trang nhà của Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp, Julia Tasse phân tích : Biển và đại dương càng lúc càng quan trọng về địa chính trị, bởi nhân loại đã « gần đụng ngưỡng các giới hạn khai thác tài nguyên trên đất liền, công luận bắt đầu quan tâm đến các hoạt động khai thác trên biển ». Mỗi quốc gia « huy động sức mạnh để lao vào một cuộc chạy đua tìm kiếm tài nguyên, để giành giật từ các đàn cá đến kim loại hiếm, dầu hỏa, khí đốt… » Cuộc chạy đua tìm kiếm tài nguyên đó vừa khơi lại những hiềm khích trong quá khứ lịch sử, vừa biện minh cho các chính sách bành trướng các vùng biển …
Trong « trò chơi nguy hiểm này », các nước lớn thường có chung một chiến thuật : « đặt quốc tế trước sự đã rồi ». Chỉ cần nhìn vào các khoản đầu tư quân sự của Trung Quốc trong 2 hay 3 thập niên gần đây cũng đủ nhận thấy điều đó.
Đến nay, Matxcơva chịu 17 đợt trừng phạt của Liên Hiệp Châu Âu và đánh mất thị trường lớn nhất mua vào dầu hỏa và khí đốt là khối này. Kinh tế của Nga « thấm mệt » nhưng tránh được khủng hoảng nhờ « đảo lại các ưu tiên trong bang giao » và trông cậy vào các nền kinh tế đang trỗi dậy mà đứng đầu là Trung Quốc.
Viễn cảnh một hiệp định ngừng bắn cho Ukraina còn xa vời tạm xua tan hy vọng của điện Kremlin là Mỹ với vai trò đầu tầu, thuyết phục được phương Tây dỡ bỏ dần các biện pháp phong tỏa nhắm vào nước Nga.
Đầu tháng 2/2025 thủ tướng Mikhail Michoustin đầy tự tin thông báo với tổng thống Vladimir Putin tăng trưởng của Nga trong năm 2024 đạt 4,1 %, « đỉnh cao từ năm 2010 ». Cùng lúc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dự báo GDP của Nga năm nay « tăng nhanh hơn hẳn so với Anh, Pháp hay Đức ».
Trong khi đó, báo chí và các nhà quan sát của phương Tây thường xuyên đánh giá kinh tế của nước Nga đang « thấm đòn » sau ba năm chiến tranh và không nhận được đầu tư trực tiếp Âu-Mỹ, của Úc hay Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc …
Trả lời đài RFI tiếng Việt, nhà nghiên cứu Igor Delanoë, phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga, cộng tác viên của Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược – IRIS nhìn nhận, kinh tế Nga tránh được khủng hoảng, cho dù dân chúng phải đối mặt với lạm phát và gần 30 % lãi suất ngân hàng.
« Kinh tế Nga đã kết thúc năm 2024 với mức tăng trưởng hơn 4%. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hiện vẫn dự báo GDP của nước này tăng 3,8%. Có thể nói mức tăng trưởng như vậy là khá tốt, nhất là trong những điều kiện hiện tại như chúng ta đã biết với các biện pháp trừng phạt mà phương Tây đã ban hành.
Tuy nhiên, vấn đề của Nga là lạm phát vẫn ở mức rất cao – theo thống kê là vào khoảng 10%. Nhưng cũng tùy theo mặt hàng. Đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày, giá cả thậm chí tăng cao hơn nhiều. Thí dụ như là giá trứng, hay khoai tây, một số thực phẩm thiết yếu hay hàng tiêu dùng…
Đây quả thực là một vấn đề nghiêm trọng. Cùng lúc lãi suất của Ngân Hàng Trung Ương Nga dao động ở mức 21-22 % và trên thực tế, các doanh nghiệp và tư nhân phải đi vay với lãi suất khoảng 25 - thậm chí là 28 %. Trong hoàn cảnh đó, mọi dự án đầu tư hay kế hoạch đi vay tín dụng để mua nhà đều bị đóng băng ».
Những khó khăn nói trên không dẫn tới « khủng hoảng trong xã hội » bởi vì như Igor Delanoë ghi nhận, từ 3 năm qua, dân cư ở thủ đô Matxcơva và các thành phố lớn vẫn sinh hoạt gần như bình thường, không bị chiến tranh đe dọa.
Tuy nhiên, ở những khu vực sát với biên giới Ukraina như ở Briansk, Belgorod hay tại bán đảo Crimée thì khác : đây là những nơi dân cư bị bom và drone của Ukraina đe dọa.
Thâm hụt trong cán cân chi tiêuNhưng gần đây, một thách thức khác đang đặt ra cho chính quyền của tổng thống Putin. Vào lúc các phí tổn chiến tranh không ngừng gia tăng, thu nhập của nhà nước Nga lại sụt giảm vì dầu hỏa mất gia và cùng lúc đồng tiền rúp tăng giá so với đô la và euro. Igor Delanoë phân tích :
« Từ đầu 2025, giá dầu khá thấp chỉ hơn 60 đô la một thùng, trong lúc các dự báo của Matxcơva căn cứ vào giá dầu từ 65 đến 69 đô la/ thùng. Thêm vào đó, đơn vị tiền tệ của Nga tăng giá (từ 80 cho đến 90 rúp đổi lấy một đô la). Thu nhập của các tập đoàn năng lượng, của nhà xuất khẩu Nga vì được thanh toán bằng rúp, nên qua đó bị sụt giảm.
Trong dự luật ngân sách được đã hoàn tất hồi mùa thu 2024, Matxcơva giả định giá dầu là 69 đô la/thùng, nên bội chi ngân sách cho năm nay sẽ tăng lên thêm, tương đương với 1,7% GDP. Nhiều nước châu Âu sẽ hài lòng với mức thâm hụt này, nhưng đối với Matxcơva thì đây là một gánh nặng nhưng mà Nga hoàn toàn đủ sức cáng đáng ».
« Nga đã có những bước chuẩn bị từ trước »Vậy thì những bí quyết nào cho phép Nga vẫn giữ được tăng trưởng ở mức khá cao như vừa nói ? Nhà nghiên cứu Pháp, Igor Delanoë trả lời :
« Ở đây có ba yếu tố. Thứ nhất, Matxcơva đã có một sự chuẩn bị từ trước. Thứ hai là đã thiết lập các mạng lưới giao thương song song để lách lệnh trừng phạt và thứ ba là từ đầu cuộc chiến đến nay, Nhà nước liên tục ồ ạt đầu tư vào kinh tế.
Về điểm đầu tiên, Nga đã chuẩn bị từ năm 2014, kể từ khi bị phương Tây trừng phạt do sáp nhập bán đảo Crimée của Ukraina. Chính phủ đã có hẳn một loạt công cụ để tăng cường khả năng tự chủ. Thí dụ Nga cho phổ biến các thẻ ngân hàng nội địa thay cho thẻ Visa hay Mastercard – vốn phụ thuộc vào các hệ thống ngân hàng của Âu Mỹ. Cùng lúc Matxcơva cũng giảm bớt lệ thuộc vào đồng đô la, chuyển sang dùng nhân dân tệ của Trung Quốc nhiều hơn và tích trữ vàng.
Điểm thứ nhì là từ năm 2022, Nga đã thiết lập cả một mảng giao dịch không chính thức với nhiều đối tác để lách lệnh trừng phạt. Cũng chính vì thế mà Trung Quốc đã nhanh chóng trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của Matxcơva. Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đạt ngưỡng 240 tỷ đô la. Sau Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ đứng thứ nhì và thứ ba trong số các bạn hàng của Nga.
Ấn Độ chủ yếu mua vào dầu hỏa và than đá. Còn Thổ Nhĩ Kỳ là nơi trung chuyển ngũ cốc và nông phẩm của Nga đến các đối tác thứ ba … Ngoài ra, chúng tôi ghi là nhận giao thương giữa Matxcơva với các quốc gia nhỏ hơn như Armenia hay Các Tiểu Qương Quốc Ả Rập Thống Nhất cũng đã tăng mạnh trong ba năm trở lại đây.
Cuối cùng là vai trò hàng đầu của nhà nước qua các khoản đầu tư mà chủ yếu là để huy động nền kinh tế phục vụ cho mục đích chiến tranh từ tháng 2/2022 khi Matxcơva khởi động cuộc chiến ở Ukraina. »
Các « hạm đội ma » bảo đảm 70 % xuất khẩu dầu hỏa của NgaTheo một nghiên cứu của trường cao đẳng kinh tế Ukraina, Kiyv School of Economics, 70 % xuất khẩu dầu thô của Nga được trung chuyển quan đường biển nhờ các « hạm đội tàu ma », và 95 % khối lượng này được dành để bán cho Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ.
Nếu như vào thời điểm 2021, trước khi tổng thống Vladimir Putin tấn công Ukraina, gần 50 % tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga là để phục vụ các thị trường tại toàn châu Âu, trong đó bao gồm luôn cả Ukraina và Bélarus, thì đến cuối 2023, tình hình đã hoàn toàn thay đổi.
Igor Delanoë, thuộc Đài Quan Sát Pháp-Nga tuy nhiên nhấn mạnh, dầu khí vẫn là một nguồn thu rất lớn đối với nước Nga, giúp quốc gia này « trang trải phần lớn các phí tổn chiến tranh ». Song song với dầu khí, Nga đã đẩy mạnh các lĩnh vực xuất khẩu khác như là nông phẩm, hay phân bón, hóa chất…
Đó là những mặt hàng mà đến nay Âu, Mỹ không hề áp đặt lệnh cấm vận. Cũng chuyên gia người Pháp này lưu ý rằng « những lĩnh vực này không chỉ đem lại thu nhập cho Matxcơva mà còn là những đòn bẩy mở rộng ảnh hưởng địa chính trị của Nga – đặc biệt là ở châu Phi và các khu vực khác trên thế giới ».
Một trật tự mới trên bàn cờ thương mại của MatxcơvaVới chiến tranh Ukraina và các biện pháp trừng phạt phương Tây ban hành, trọng tâm kinh tế và thương mại của Nga đã nhanh chóng xoay trục sang châu Á :
« Thực tế đã có những quan hệ đối tác kinh tế gia tăng đáng kể trong thời gian gần đây. Như vừa nói, Nga hiện có các đối tác thương mại hàng đầu là Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng cũng cần chú ý đến một số quốc gia khác đã từ lâu được theo dõi sát sao như Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) trong khu vực vùng Vịnh. Ngoài ra, các nước thuộc không gian hậu Xô Viết như Armenia cũng đã trở thành đối tác thương mại quan trọng, do họ là những trung gian, những mắt xích trong chuỗi cung ứng của Nga...
Nếu nhìn xa hơn nữa chúng ta thấy rằng Matxcơva đang nỗ lực đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế với nhiều khu vực khác trên thế giới để lấp vào chỗ trống mà các đối tác phương Tây để lại. Riêng với khu vực châu Á, ngoài Trung Quốc ra thì chính quyền của ông Putin đã thúc đẩy quan hệ với Indonesia, thành viên mới trong khối các nền kinh tế đang trỗi dậy BRICS.
Mối quan hệ với Việt Nam cũng đã được thúc đẩy trở lại. Đương nhiên là phải kể đến hợp tác càng lúc càng chặt chẽ giữa Nga và Bắc Triều Tiên. Tất cả những động thái này nhằm giảm bớt mức độ phụ thuộc vào một mối quan hệ đối tác châu Á duy nhất là Trung Quốc ».
Theo một nghiên cứu gần đây của Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp, IFRI vì chính sách « xoay trục » trên bàn cờ thương mại này, mà châu Phi đang « đội sổ » trong số 10 ưu tiên của Nga về đối ngoại, nay đã « nhảy vọt lên hạng thứ 6 ». Nếu như Matxcơva « ưu tiên » cung cấp nông phẩm và ngũ cốc cho nhiều nước châu Phi như Somalia, Mali, hay Burkina Faso… vì lý do nhân đạo, thì trong chiều ngược lại, nhiều quốc gia trên châu lục này là những mỏ vàng thực thụ của các tập đoàn khai thác khoáng sản Nga như Nord Gold hay Emiral Resources… Đó là chưa kể đến những thương vụ mua bán vũ khí giữa các tập đoàn của Nga với các giới tướng lĩnh ở châu Phi.
Mỹ sẽ an toàn hơn với dự án « Mái vòm vàng » mà tổng thống Donald Trump vừa loan báo ? « Chiến tranh các vì sao » đầu thập niên 1980 thời Reagan đã đẩy Liên Xô vào một cuộc chiến tiêu hao. Bốn chục năm sau, Nhà Trắng muốn sử dụng lại chiến thuật này để nhắm vào mục tiêu quan trọng nhất là Bắc Kinh. Nhưng với những phương tiện tài chính, kỹ thuật nào và điều gì sẽ xẩy ra nếu Trung Quốc, Nga tăng tốc trong cuộc chạy đua vũ trang trên không gian.
Tổng thống Hoa Kỳ thứ 47, Donald Trump, hôm 20/05/202 chính thức thông báo một kế hoạch « rất quan trọng cho thành công và sự tồn tại » của nước Mỹ : Golden Dome hay Mái vòm vàng, một lá chắn « có khả năng chận bắn tên lửa xuất phát từ bất cứ nơi nào trên Trái đất, kể cả phóng đi từ không gian ». Theo lời nguyên thủ Mỹ, lá chắn tên lửa này huy động « hàng ngàn vệ tinh hiện đại nhất, sử dụng công nghệ tối tân nhất », cho phép bắn chặn « mọi loại tên lửa », kể cả tên lửa siêu thanh có mang theo đầu đạn hạt nhân nhắm vào Hoa Kỳ, với mức độ tin cậy « gần 100 % ».
Donald Trump hy vọng Mái vòm vàng sẽ bắt đầu hoạt động trước khi ông mãn nhiệm. Phí tổn chương trình ước tính lên tới 175 tỷ đô la và ngay lập tức Washington sẵn sàng huy động 25 tỷ đô la để « khởi động dự án ».
Vòm vàng cao cấp hơn vòm sắt của IsraelMái vòm vàng Donald Trump vừa trình bày gồm ba điểm then chốt : thứ nhất đây là một lá chắn chống tên lửa, dựa theo mô hình mái vòm sắt của Israel, nhờ đó mà Nhà nước Do Thái đã hủy diệt được gần hết tên lửa của Iran bắn vào lãnh thổ Israel hồi năm 2024 trong các đợt căng thẳng tưởng chừng dẫn tới chiến tranh. Nhưng giới phân tích cũng lưu ý rằng, vòm sắt đó của Israel vẫn bị rocket của Hamas xuyên thủng trong loạt tấn công đẫm máu hồi tháng 10/2023.
Điểm thứ nhì, chính quyền Trump kỳ vọng Mái vòm vàng do hiện đại hơn, quy mô hơn vòm sắt của Nhà nước Do Thái nên sẽ hiệu quả hơn, với khả năng bảo vệ « gần như 100 % » toàn bộ lãnh thổ Hoa Kỳ, lớn gấp 450 lần lãnh thổ Israel. Vòm vàng sẽ chặn được đủ loại tên lửa từ « tên lửa đạn đạo, hành trình, tên lửa đạn đạo xuyên lục địa có thể mang theo đầu đạn hạt nhân và tên lửa siêu thanh cũng như drone ».
Điểm quan trọng thứ ba là khả năng « phát hiện » trước khi bất kỳ một tên lửa nào bay tới lãnh thổ của Mỹ nhờ « hàng ngàn vệ tinh » trên quỹ đạo, và hệ thống vệ tinh dày đặc đó cho phép nhanh chóng « can thiệp », kể cả từ không gian để tiêu hủy mối nguy hiểm đó.
Mỹ sẽ vi phạm luật pháp quốc tế ?Điểm sau cùng này là một điều mới và rất quan trọng về mặt quân sự và an ninh đối với toàn thế giới, theo giải thích của tướng Dominique Trinquand. Ông từng đứng đầu một ủy ban quân sự của Pháp bên cạnh Liên Hiệp Quốc.
« So sánh mái vòm vàng của Mỹ với vòm sắt của Israel hơi khập khiễng. Đây là sự tiếp nối của Chiến tranh các vì sao mà cố tổng thống Ronald Reagan đã khởi động năm 1983. Hệ thống của Mỹ cho phép quan sát và nhận diện các tên lửa. Vấn đề đầu tiên ở đây là phát hiện sớm chừng nào tốt chừng nấy các tên lửa, để có thể chận được tên lửa đó. Chính ở giai đoạn bắn chặn tên lửa này, có một sự mập mờ : chúng ta đã sử dụng vệ tinh để nhận diện tên lửa, rồi huy động tên lửa từ trên mặt đất để tiêu hủy tên lửa của đối phương. Đây là điều hiển nhiên không gây tranh cãi. Tuy nhiên bắn hạ một tên lửa từ trên không gian sẽ là điều mà công ước quốc tế không cho phép. Như vậy là chúng ta sẽ vượt quá khuôn khổ pháp lý hiện hành. Điểm cuối cùng tôi xin lưu ý, chính tổng thống Trump cũng nhìn nhận Mái vòm vàng chỉ tiến gần đến mức hiệu quả 100 %. Có nghĩa là nước Mỹ vẫn không được bảo vệ hoàn toàn và điềm mà Hoa Kỳ lo ngại sợ hơn cả là tên lửa siêu thanh với đầu đạn hạt nhân ».
Giới hạn về kỹ thuậtLãnh thổ Israel chỉ bằng 1/450 diện tích của Hoa Kỳ. Vòm sắt của Nhà nước Do Thái chỉ đủ sức chống đỡ rocket, tên lửa đạn đạo tầm ngắn phóng đi từ các nước « lân cận » và đã không hiệu quả 100 % như đã thấy. Dự án của tổng thống Trump có tham vọng chặn luôn cả các tên lửa tầm xa, tên lửa hành trình và liên lục địa …. Vậy Mỹ sẽ phải sử dụng những kỹ thuật nào ? Và làm sao để có thể « phát hiện » các tên lửa được cho là đang chuẩn bị nhắm tới lãnh thổ Hoa Kỳ, hay khi chúng vừa được phóng đi ? Theo nhà báo Caroline Bruneau, của tạp chí chuyên đề Aerospatium, trước mắt đây hãy còn là một « vùng sương mù » :
« Sẽ rất thú vị khi chúng ta nhìn vào danh sách các công ty đăng ký đấu thầu, tham gia dự án – Hiện có khoảng 180 tập đoàn đã đăng ký và như vậy họ sẽ phải cung cấp thông tin về kỹ thuật sẽ sử dụng …Trước mắt đã có một số công nghệ để bắt chận tên lửa, thí dụ như công nghệ GBMD tức là hệ thống tên lửa đánh chặn tên lửa đạn đạo của Hoa Kỳ để chặn tên lửa Bắc Triều Tiên. Tỷ lệ thành công là 57 % tức là còn rất thấp để bảo vệ an ninh cho Hoa Kỳ. Dự án Mái vòm vàng sử dụng kỹ thuật nào để bắt chận tên lửa siêu thanh ? Hiện tại chưa thể trả lời câu hỏi này. Chỉ biết rằng đây là một dự án khổng lồ, rất tốn kém. Chi phí dự trù là 175 tỷ đô la nhưng theo giới trong ngành Mái vòm vàng có thể vượt ngưỡng 500 tỷ đô la và còn hơn thế nữa. Mỹ muốn huy động số tiền khổng lồ nói trên vì đánh giá là mức đe dọa đối với an ninh quốc gia thực sự to lớn và có thực ».
Nguy cơ chạy đua vũ trang trên không gian và khai tử nguyên tắc cơ bản của thuyết răn đeChuyên gia về các vấn đề vũ khí răn đe và hệ thống chống tên lửa, Etienne Marcuz, thuộc Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược FRS của Pháp lưu ý : để phát hiện và chặn trước một tên lửa phóng đi từ một quốc gia rộng lớn như Trung Quốc hay Nga, « giải pháp duy nhất của Hoa Kỳ là sử dụng vệ tinh có trang bị tên lửa chống tên lửa ». Nói cách khách là Mỹ sẽ phải gài đặt sẵn các thiết bị quân sự trên không gian. Vấn đề đặt ra là nếu Hoa Kỳ làm được việc này hay nghĩ tới giải pháp này, thì có nghĩa là Nga và Trung Quốc cũng có phương tiện để « phát triển vũ khí trên không gian nhằm bắn chặn, hoặc phá hủy các phương tiện quân sự của Mỹ ». Nói cách khác, với Mái vòm vàng, Donald Trump như thể khuyến khích các đối thủ cùng « quân sự hóa không gian ».
Theo bà Laurence Nardon điều hành chương trình nghiên cứu về châu Mỹ tại Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI Mái vòm vàng nguy hiểm ở một điểm khác nữa : trong học thuyết về vũ khí răn đe đến nay các cường quốc hạt nhân bị trói buộc bởi nguyên tắc mà chuyên gia này gọi là « thế cân bằng của sự sợ hãi kinh hoàng (l'équilibre de la terreur) ».
Nguyên tắc đó đơn giản là mỗi bên đều biết rằng hạt nhân chỉ là vũ khí răn đe, sử dụng đến công cụ « chết người này » để tiêu diệt đối phương, tức là cũng tự giết mình. Nhưng Mái vòm vàng của tổng thống Trump có nguy cơ khai tử nguyên tắc đến nay vẫn trói buộc các cường quốc nguyên tử với nhau này.
Mỹ đang có những ưu tiên cấp bách hơnChuyên gia về an ninh cũng thuộc viện IFRI, Léo Péria Peigné có đồng quan điểm và giải thích thêm rằng, tham vọng trang bị một Mái vòm vàng cho Hoa Kỳ vào thời điểm này là một tính toán kém thực tế:
« Một hệ thống chống tên lửa hiệu quả sẽ làm thay đổi tương quan giữa những phương tiện tấn công và phòng thủ trong thuyết răn đe hạt nhân. Vấn đề đặt ra là trong lĩnh vực hạt nhân, Hoa Kỳ đang gặp nhiều vấn đề về tài chính, cũng như ở khâu hiện đại hóa kho tên lửa đạn đạo … Những tên lửa hiện có, trên nguyên tắc đã phải được tân trang lại từ lâu nay để có thể vẫn được sử dụng cho đến năm 2050, bởi Mỹ không kịp để có thêm vũ khí với công nghệ mới. Do vậy câu hỏi đặt ra là dự án của ông Trump sẽ tốn bao nhiêu tiền và tìm nguồn tài trợ ở đâu ra ?
Quân đội Hoa Kỳ đang có những nhu cầu rất lớn và đó là những nhu cầu hoàn toàn khác hẳn so với mục tiêu xây dựng Mái vòm vàng. Nhu cầu của Lầu Năm Góc thích hợp hơn để đối phó với mối đe dọa xuất phát từ Trung Quốc hiện nay. Ngành công nghiệp đóng tàu của Mỹ hiện trong tình trạng thảm hại. Để phát triển các chương trình cho bên bộ binh, Hoa Kỳ cũng đang gặp khó khăn để thay thế một số các thiệt bị có từ thời Chiến tranh lanh. Trong hoàn cảnh đó, chi ra từ 800 đến 1.000 tỷ đô la cho Mái vòm vàng, tôi nghĩ là Lầu Năm Góc không mấy hài lòng, cho dù bộ Quốc Phòng đang chịu áp lực lớn của tổng thống Trump đi chăng nữa ».
Mỹ đủ sức « cản đường » Trung Quốc ?Vào lúc Nhà Trắng khẳng định Mái vòm vàng sẽ bảo vệ nước trước mọi hình thức tấn công, nhưng các chuyên gia quốc tế đồng loạt cho rằng, ông Trump vẫn hoài niệm thời kỳ « vàng son » dưới thời tổng thống Ronald Reagan (1980-1988) và kế hoạch bị bỏ dở « Chiến tranh các vì sao » nhằm hủy hoại sức lực của Liên Xô. Trump giờ đây cũng muốn lôi kéo Trung Quốc vào một cuộc chạy đua công nghệ và không gian với hy vọng làm hao mòn sức lực của đối phương. Tướng Dominique Trinquand nguyên trưởng phái đoàn Pháp bên cạnh Liên Hiệp Quốc nhắc lại :
« Chúng ta thường nhắc đến Chiến tranh các vì sao, thời tổng tống Reagan và những hệ quả trực tiếp và gián tiếp. Đừng quên rằng, chính cuộc chạy đua vũ trang quá tốn kém đó đã buộc Liên Xô phải bỏ cuộc. Giờ đây Mỹ muốn ‘bổn cũ soạn lại’. Câu hỏi đặt ra là liệu rằng Mái vòm vàng của ông Trump có làm cạn kiệt các nguồn tài chính của Trung Quốc hay không. Một khi mà Donald Trump công bố kế hoạch lá chắn chống tên lửa của Mỹ thì Trung Quốc lập tức lên tiếng ».
Léo Péria Peigné chuyên nghiên cứu về an ninh của viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp cho rằng chỉ cần nhìn vào những thành tựu của Trung Quốc cả về công nghiệp lẫn trong lĩnh vực công nghệ cao, nước cờ đó không còn tính thời sự, đơn giản là Mỹ đang phụ thuộc vào một số nguyên liệu thiết yếu của Trung Quốc như kim loại hiếm.
« Nếu chúng ta nhìn lại Chiến tranh các vì sao hồi thập niên 1980 : khi đó mục tiêu của Mỹ là khai thác công nghệ cao của mình để hủy hoại sức lực của Liên Xô. Giờ đây, đối thủ của Washington là Bắc Kinh. Với tiềm năng cả về công nghệ lẫn công nghiệp mà Trung Quốc đang có, không biết rằng chính sách của Hoa Kỳ có còn tính thời sự nữa hay không. Để thực hiện Mái vòm vàng, các nhà sản xuất công nghiệp của Hoa Kỳ không hoàn toàn tự chủ mà phải dựa vào một số sản phẩm của Trung Quốc và đó là những mặt hàng khó có thể thay thế. Đây thực sự là một câu hỏi lớn đang đặt ra ».
Cuối cùng, tướng Trinquand nhận xét, Mái vòm vàng để lộ rõ chiến lược quân sự của Mỹ với khá nhiều mâu thuẫn và cả những tác động kèm theo.
« Công nghệ và khối lượng tên lửa của Bắc Triều Tiên không trực tiếp đe dọa Hoa Kỳ. Ngược lại, tiềm năng quân sự của Trung Quốc là một mối nguy hiểm. Tuy nhiên cũng phải đặt lại vấn đề trong tầm nhìn chung của Washington về an ninh : thứ nhất Mỹ quan niệm Trung Quốc là đối thủ thực thụ, là mối đe dọa số 1. Điểm thứ nhì là để tự vệ, Hoa Kỳ chủ trương tự cô lập mình với phần còn lại của thế giới, một dạng như là chính sách bảo hộ trong lĩnh vực quân sự. Đương nhiên là điều này bắt buộc châu Âu phải rà soát lại chính sách an ninh và chiến lược phòng thủ. Châu Âu không có khả năng để cũng trang bị một lá chắn chống tên lửa quá đắt đỏ như của Mỹ ».
Dự án Mái vòm vàng của Mỹ đang đặt ra nhiều câu hỏi và thậm chí một số nhà phân tích cho rằng, tổng thống Trump đang cho công luận Hoa Kỳ « ăn bánh vẽ » khi ồn ào bảo đảm rằng lá chắn chống tên lửa ông sắp trang bị cho đất nước là « hàng cao cấp » nên sẽ rất hiệu quả. Nguy hiểm ở đây là cái « bánh vẽ » đó tạo ra ảo tưởng trong công luận là an ninh của Hoa Kỳ sẽ được bảo vệ gần như là 100 %. Còn với những đối thủ của nước Mỹ thì Mái vòm vàng là cơ hội để tăng tốc các dự án phát triển công nghệ quân sự, kể cả các chương trình quân sự hóa không gian.
Có nhiều khả năng cuộc « đình chiến thương mại Mỹ -Trung 90 ngày sẽ kéo dài hơn dự kiến » do đôi bên cùng cần thời gian để « trừng phạt » đối phương khi mà hai kinh tế Hoa Kỳ và Trung Quốc « gắn kết quá chặt chẽ vào nhau ». Nhiều yếu tố trói tay Washington. Có thể nhiều đối tác của Mỹ theo chân Bắc Kinh, cứng giọng khi đàm phán với tổng thống Trump.
Hơn một tháng chiến tranh thuế quan Mỹ-Trung cao trào, Washington và Bắc Kinh tạm hủy phần lớn những biện pháp « trừng phạt đối phương » trong 90 ngày, tức là đến giữa tháng 7/2025. Đây là một trong hai thành quả cụ thể nhất mà Hoa Kỳ và Trung Quốc đã đạt được sau đối thoại hôm 10/05/2025 tại Genève, Thụy Sĩ.
Sau những thông báo ồn ào, hiện tại hàng Trung Quốc bán sang Mỹ chỉ bị áp thuế 30 % chứ không phải là 145 % hay 80 % như Nhà Trắng từng đe dọa. Về phía Bắc Kinh, Trung Quốc cũng chỉ đánh thuế 10 % hàng « made in USA » bán sang Hoa Lục chứ không phải là 125 % như đã loan báo.
Mỹ đang áp dụng đúng mô hình kinh tế của Trung QuốcTrả lời RFI tiếng Việt hôm 16/05/2025, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế CERI trường Khoa Học Chính Trị Sciences Po. Paris, giáo sư Stéphanie Balme trước hết nhấn mạnh đến những « tiến bộ nhanh chóng » mà hai phái đoàn, của Mỹ do bộ trưởng Tài Chính Scott Bessent dẫn đầu và của Trung Quốc do phó thủ tướng Trung Quốc Hà Lập Phong làm trưởng đoàn, đã đạt được sau vòng đàm phán cấp cao đầu tiên.
Chuyên gia Stéphanie Balme nêu lên một nghịch lý : Mỹ có khuynh hướng đi theo mô hình kinh tế của Bắc Kinh.
« Quả thực là chúng ta đã bất ngờ thấy các bên đạt được thỏa thuận quá nhanh. Tuy nhiên xung khắc vẫn còn đó. Chưa có gì được giải quyết dứt điểm. Chỉ biết rằng trên nguyên tắc Mỹ và Trung Quốc có 90 ngày để thương lượng. Hiện tại, họ đã đồng ý trên hồ sơ ma túy tổng hợp : Đây là một điểm rất quan trọng đối với Hoa Kỳ. Còn trong lĩnh vực thuế quan, hai quốc gia này cùng chấp nhận giảm thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng. Nhưng Mỹ và Trung Quốc vẫn là những đối thủ thương mại.
Đơn giản là hai nền kinh tế này quá lệ thuộc vào nhau. Washington chỉ trích Bắc Kinh trợ cấp cho các hoạt động kinh tế của Trung Quốc, tạo cạnh tranh bất bình đẳng và giờ đây Trung Quốc sử dụng sức mạnh kinh tế như một công cụ phục vụ các mục đích địa chính trị để làm bá chủ thế giới. Đương nhiên, điểm bất đồng then chốt này vẫn tồn tại. Nhưng điều đáng ghi nhận ở đây là mô hình kinh tế của Hoa Kỳ giờ đây càng lúc càng được rập khuôn theo mô hình của Trung Quốc. Có nghĩa là chính quyền Trump cũng đang sử dụng chính sách kinh tế để củng cố cho sức mạnh của Hoa Kỳ ».
Ba điểm kẹt của MỹBáo tài chính Nhật Bản Nikkei Asia hôm 13/05/2025 trích lời giám đốc trung tâm nghiên cứu Mỹ, Michael Hirson đưa ra ba yếu tố thúc đẩy Nhà Trắng nhanh chóng « nhượng bộ » Bắc Kinh sau khi đã khuấy động một cuộc « chiến tranh thuế quan » : Tổng thống Trump ý thức được là các doanh nhân Mỹ chưa sẵn sàng để sản xuất trên đất Mỹ mà không cần nhập khẩu nguyên liệu và phụ từng của nước ngoài.
Người tiêu dùng ở Mỹ cần hàng rẻ của Trung Quốc - mà bằng chứng rõ rệt nhất là, dù có đánh thuế hàng Trung Quốc đến 145 % trong 2 tuần lễ cuối tháng 4/2025, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Hoa Kỳ vẫn tăng, tuy là có tăng chậm hơn so với cùng thời kỳ năm 2023. Do vậy đòn thuế hải quan tổng thống Trump nhắm vào Trung Quốc trước hết lại giáng vào mãi lực của các hộ gia đình Mỹ.
Điểm sau cùng, là đòn thuế đối ứng của Washington ảnh hưởng đến lãi suất đi vay ngân hàng của Mỹ. Vì ba điểm này, tổng thống Hoa Kỳ lập tức thay đổi lập trường.
Phía Bắc Kinh cũng đã có một số nhượng bộ : Trung Quốc cam kết kiểm soát chặt chẽ hơn các mạng lưới bất hợp pháp chế biến và cung cấp ma túy tổng hợp fentanyl dẫn tới những tác động tai hại trong xã hội của Hoa Kỳ. Bắc Kinh cũng đã lập tức ngừng hạn chế xuất khẩu một số kim loại hiếm sang Mỹ, tạm ngừng điều tra về hoạt động của trên dưới 30 doanh nghiệp Mỹ…
Nhưng đó chỉ là những dấu hiệu hòa hoãn bề ngoài. Tuần trước, bộ Thương Mại Trung Quốc quyết định « tăng cường các biện pháp giám sát ở mọi khâu để ngăn chặn mọi hoạt động mua bán bất hợp pháp đất hiếm và kim loại hiếm », « tăng tốc các thủ tục cần thiết » để thay thế nông phẩm của Mỹ bằng đậu tương, đậu nành, ngô hay dầu thực vật của Achentina và Brazil…
Chiến thuật « câu giờ »Vậy một cách cụ thể Mỹ và Trung Quốc cần những gì để đạt đến một giải phát « lâu bền hơn » trên mặt trận thương mại ? Giáo sư trường Khoa Học Chính Trị Paris Sciences Po, bà Stéphanie Balme trả lời :
« Trước hết, phía Mỹ giải thích với công luận trong nước rằng thỏa thuận với Trung Quốc là một thành tích lịch sử, thể hiện khả năng và vai trò đầu tầu của Hoa Kỳ trong các vòng thương thuyết với Bắc Kinh. Trên thực tế, hiện đang thiếu nhiều công cụ cho phép đôi bên khép lại xung đột.
Đầu tiên hết là một cơ chế điều tiết mức thâm hụt thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Thiếu sót thứ hai là cả hai quốc gia này chưa xác định được một hình thức đối thoại song phương phù hợp để giải quyết tranh chấp. Điều duy nhất phái đoàn Mỹ và Trung Quốc đã đạt được tại Genève - Thụy Sĩ (10/05/2025) là đôi bên thống nhất về một mức thuế rất cụ thể, như đã biết và họ thông báo rằng các biên độ thuế quan mới sẽ được áp dụng từ ngày 14/05/2025 để cho Washington và Bắc Kinh có thời gian 90 ngày đàm phán.
(…) Không khó để mỗi bên chứng minh với công luận trong nước là họ đã thành công. Trong khi đó chúng ta biết rằng, trước khi bắt đầu đàm phán, Mỹ đã nhượng bộ khi loan báo giảm thuế hải quan đánh vào hàng điện tử Trung Quốc.
Về phía Bắc Kinh cũng vậy. Các phương tiện truyền thông Trung Quốc dễ dàng chứng minh là đối phương đã lùi bước. Nhưng theo tôi vấn đề chính là khả năng đàm phán thực thụ của mỗi bên khá hạn hẹp khi mà kinh tế Mỹ và Trung Quốc quá phụ thuộc vào nhau. Điều đó có nghĩa là trừng phạt đối phương thì mình cũng mang họa. Do vậy có khả năng là ‘hiệp định đình chiến song phương’ được ấn định 90 ngày sẽ được triển hạn và đấy sẽ là mục tiêu của cả Washington lẫn Bắc Kinh ».
Kịch bản quá mới mẻ với cả hai bênTheo giáo sư Stéphanie Balme trung tâm CERI -Sciences Po. Paris, đôi bên cùng tìm kế hoãn binh :
« Đôi bên cùng đang mò mẫm để tìm ra giải pháp, nên cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ cùng cần có thời gian để thẩm định tình hình, để đánh giá hậu quả quyết định của mình đối với đối phương. Để rồi từ đó lại tiếp tục mở ra các vòng thương thuyết khác (…) Thời hạn 30 ngày quá ngắn ngủi để quan sát một cách thấu đáo các hậu quả. Sáu tháng thì lại lâu quá cho nên 3 tháng, tức là 90 ngày, có thể là thời gian thích hợp để quan sát tình hình trước khi khởi động một chu kỳ đàm phán mới ».
Có một điều chắc chắn là như tờ Nikkei Asia ghi nhận : « lệnh hưu chiến » trong 90 ngày mà Hoa Kỳ và Trung Quốc vừa đạt được do là một giải pháp « tạm thời », mong manh và mỗi bên đều có thể « đổi ý » bất cứ lúc nào, cho nên « các doanh nghiệp Mỹ đang hối hả mua thêm hàng của Trung Quốc ». Các công ty xuất nhập khẩu ở Thâm Quyến đang « làm việc hết công suất để gửi hàng sang Hoa Kỳ ». Các tập đoàn vận chuyển đường biển cũng chờ đợi « trong ba tháng sắp tới đây và có thể là đến cuối năm, sẽ rất bận rộn ».
ASEAN, « trên đe dưới búa »Cùng lúc, bà Stéphanie Balme khuyến cáo các quốc gia Đông Nam Á nên khẩn trương đa dạng hóa quan hệ thương mại, để giải tỏa bớt áp lực kép từ phía Hoa Kỳ và Trung Quốc. Chính quyền Trump và chính sách « thuế đối ứng » đã mạnh tay nhất với rất nhiều nước trong ASEAN.
« Căng thẳng mới Mỹ càng gia tăng, Trung Quốc càng phải đa dạng hóa các nguồn tiêu thụ hàng xuất khẩu của mình. Bắc Kinh cần nương nhẹ các đối tác thương mại, mà đầu tiên hết là những đối tác gần gũi về mặt địa lý. Tại Đông Bắc Á, Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nền kinh tế công nghiệp có mức phát triển đã rất cao. Ít có hy vọng Seoul hay Tokyo ồ ạt mua thêm hàng Trung Quốc.
Trái lại những quốc gia Đông Nam Á thì đang lo. Từ Phililppines đến Việt Nam, Cam Bốt, Miến Điện, Thái Lan … cũng bị thuế hải quan quan Mỹ tác động, bây giờ lại thêm áp lực của Bắc Kinh vì Trung Quốc cần tìm kiếm các thị trường xuất khẩu nữa thì họ sẽ gặp nhiều khó khăn.
Việt Nam chẳng hạn vừa phải chịu áp lực từ chính sách thuế quan của Mỹ, vừa chịu sức ép của các nhà sản xuất Trung Quốc, thành thử tôi hy vọng, đây là thời điểm thuận lợi giúp cho Việt Nam chẳng hạn đẩy mạnh giao thương với Liên Âu, xem Bruxelles như một yếu tố cho để giảm bớt mức độ phụ thuộc vào thị trường của Trung Quốc hay của Hoa Kỳ ».
Thế giới có còn vội để đàm phán với Trump ?Vào lúc tổng thống Trump khoe có đến « 200 quốc gia trên thế giới (?) » xin được đàm phán về thuế quan với Washington, báo Singapore, The Strait Times ngày 19/05/2025 đặt câu hỏi : không biết rằng thái độ cứng rắn của Trung Quốc có là một bài học đối với nhiều quốc gia trước khi đối thoại với Mỹ về chính sách thuế hải quan hay không ?
Stephen Olson, từng là một nhà đàm phán thương mại của Hoa Kỳ và hiện đang nghiên cứu tại viện ISEAS của Singapore cho rằng sau đối thoại Mỹ-Trung ở Genève vừa qua, nhiều quốc gia sẽ « nhận thấy Donald Trump bắt đầu ý thức được là ông đã có những đòi hỏi quá đáng ». Điều này sẽ làm « thay đổi tương quan lực lượng » khi những quốc gia đó phải đàm phán với siêu cường kinh tế số 1 thế giới.
Ứng viên tổng thống Hàn Quốc đang dẫn đầu cuộc đua, Lee Ja Myung cho biết ông « không vội đàm phán » với Mỹ. Nhật Bản một đối tác thương mại quan trọng khác của Washington cũng không « vội vàng » như những tuyên bố cách nay vài tuần.
Vào lúc tổng thống Trump khẳng định là New Delhi « sẵn sàng giảm tất cả mọi hàng rào thuế quan đánh vào hàng Mỹ » thì ngoại trưởng Ấn Độ cho rằng còn quá sớm để đưa ra nhận định như trên.
Marko Papic, thuộc cơ quan tư vấn GeoMacro-BCA Research, trụ sở tại Montréal, Canada được tờ báo Singapore trích dẫn kết luận « Sẽ có nhiều quốc gia học hỏi kinh nghiệm từ Trung Quốc trong nghệ thuật đàm phán với tổng thống Trump. Bài học đó là bình tĩnh và giữ vững lập trường ». Đương nhiên không phải ai cũng có thể áp dụng được công thức đó. Tất cả còn tùy thuộc trọng lượng kinh tế của một quốc gia trên bàn cờ thương mại với Hoa Kỳ.
Bắc Kinh và Matxcơva đẩy mạnh hợp tác ở Bắc Cực, được cho là nơi có 25 % dự trữ dầu khí của thế giới chưa khai thác. Đây cũng là một vị trí chiến lược cho phép rút ngắn lộ trình giao thương hàng hải giữa Nga với Trung Quốc, phục vụ chiến lược xoay trục sang châu Á của tổng thống Vladimir Putin. Chiến tranh Ukraina càng kéo dài, bang giao Nga - Trung càng thắm thiết.
Chủ tịch Trung Quốc là thượng khách của tổng thống Nga Vladimir Putin tại Matxcơva nhân lễ kỷ niệm 80 năm chiến thắng Đức Quốc Xã hôm 09/05/2025.
Sau trên dưới 50 lần tiếp xúc kể từ khi hai nhà lãnh đạo này lên cầm quyền, đôi bên phô trương những cử chỉ thân mật của những người bạn « lâu năm », của một mối bang giao « đang ở cấp cao nhất trong lịch sử ». Giới quan sát cho rằng đây là một màn trình diễn có phối hợp của đôi bên vào lúc Nga và phương Tây vẫn đối đầu với nhau về chiến tranh Ukraina, còn Trung Quốc thì đang đọ sức với Hoa Kỳ trong một cuộc chiến thương mại.
Bên cạnh những tuyên bố chung « phản đối các biện pháp đơn phương hạn chế trao đổi về mậu dịch và tài chính » toàn cầu-ngụ ý nhắm vào Mỹ và phương Tây, Nga và Trung Quốc cam kết mở rộng việc sử dụng đồng nội tệ trong các giao dịch song phương, để bớt lệ thuộc vào đô la Mỹ. Matxcơva và Bắc Kinh « tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại và khoa học công nghệ » đồng thời kêu gọi tránh biến trí tuệ nhân tạo thành một công cụ phục vụ « những tham vọng chính trị và mưu đồ bá quyền ».
Trong số các hồ sơ hợp tác song phương, chủ đề nổi cộm hơn cả đó là các chương trình hợp tác Nga-Trung tại Bắc Cực, một khu vực « rất gần với lãnh thổ của Hoa Kỳ ».
Cách nay ba năm, phát biểu trên đài truyền hình nhà nước, tổng thống Vladimir Putin đã nhấn mạnh : « Mở rộng hành lang giao thương qua Bắc Cực là rất quan trọng, vì qua đó chúng ta có thể khai thác trọn vẹn tiềm năng xuất khẩu của Nga, hoạt động một cách có hiệu quả, đặc biệt là trong các dịch vụ giao thương với Đông Nam Á ».
Chuyên gia về an ninh, quốc phòng Nga Isabelle Facon thuộc Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược của Pháp trong một bài phân tích gần đây (Nga và Trung Quốc tại Bắc Cực : những tính toán hai mặt và bó buộc của Matxcơva) lưu ý : Từ 2016 đôi bên đã « đẩy mạnh hợp tác ở Bắc Cực trong khuôn khổ chương trình Arktika do Matxcơva khởi xướng với mục đích chia sẻ và đẩy mạnh những trao đổi về khoa học kỹ thuật ».
Nga thì tìm kiếm các mối đối tác mới, còn Trung Quốc thì muốn mở rộng ảnh hưởng tại một vùng biển được coi là mang tính chiến lược về quân sự-do sát cạnh lãnh thổ Hoa Kỳ, và nhất là về mặt thương mại.
Sự hiện diện của tàu phá băng Trung QuốcTạp chí tài chính Mỹ Forbes tiết lộ từ tháng 7/2024 ba tàu phá băng của Trung Quốc đã được triển khai đến khu vực. Hai tháng sau, Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ đưa tin tàu Trung Quốc đi qua « Tuyến Đường Hàng Hải Phương Bắc do Nga kiểm soát. Tàu chở hàng của Nga để bán sang Châu Âu và Châu Á, bất chấp các lệnh trừng phạt Âu Mỹ đã ban hành từ khi tổng thống Putin xâm lược Ukraina ».
Tại Bắc Cực, Nga chiếm thế áp đảo, kiểm soát 45 % các vùng nước của Bắc Băng Dương, và 53 % các bờ biển. Vị trí áp đảo này hơn hẳn so với những quốc gia khác trong khu vực như Hoa Kỳ, Canada, Na Uy, Đan Mạch (với hòn đảo Groenland), Phần Lan, Thụy Điển, Iceland. Vào lúc Trái đất đang bị hâm nóng, khối lượng băng tuyết tại đây đã tan 40 % so với thời điểm 1980 các tuyến đường hàng hải và viễn cảnh khai thác tài nguyên càng trở nên hấp dẫn hơn.
Để duy trì thế thượng phong, Matxcơva từ hơn chục năm nay đã tìm cách lôi kéo Trung Quốc vào cuộc, bởi tuyến đường hàng hải phương Bắc cho phép thu ngắn đáng kể hành trình đưa hàng hóa của Nga sang Trung Quốc hay châu Âu, thay vì phải đi qua Kênh Đào Suez hay Sừng Châu Phi.
Tuần báo Courrier International trích dẫn phân tích của chuyên gia về địa chính trị Viện nghiên cứu Na Uy (Fridtjof Nansen Institute) Andreas Osthagen : « Một số khu vực tại Bắc Cực được cho là rất giàu các tài nguyên mà đến nay chưa được khai thác. Đây là một vùng còn rất nghèo nàn về cơ sở hạ tầng, các cơ sở về năng lượng tại đây còn kém mở mang. Do vậy các tập đoàn công nghiệp quốc tế ngại đến đây hoạt động. Cả khu vực Bắc Cực chưa được khai thác đúng mức (...) Trong khu vực thì không mấy khi có chuyện tranh chấp về lãnh thổ, hay tranh chấp về các đường biên giới và tranh chấp chủ quyền, nhưng phải hiểu Bắc Cực là một không gian mang tính chiến lược cao, chủ yếu liên quan đến vấn đề quyền chủ quyền (…)
Khi NATO tổ chức tập trận chung với các nước liên quan thì lập tức Nga cũng có hành động tương tự tại khu vực này để khẳng định quyền chủ quyền (…) Căng thẳng có phần gia tăng từ khi Phần Lan gia nhập Liên Minh Bắc Đại Tây Dương cho nên Nga càng khẩn trương hơn tìm kiếm các mối liên minh mới. Đầu tiên hết trong số này là Trung Quốc. Về phía Bắc Kinh thì ông Tập Cận Bình muốn mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực cũng như ở khắp nơi trên thế giới. Bắc Kinh đẩy mạnh đầu tư và thúc đẩy dự án con đường tơ lụa qua Bắc Cực. »
Lợi ích về tài nguyênNăm 2008, Cơ Quan Địa Chất Hoa Kỳ USGS thẩm định hiện có ít nhất 10 % trữ lượng dầu hỏa và 30 % trữ lượng về khí đốt của thế giới vẫn còn ngủ yên ở Bắc Cực. Vào lúc Trung Quốc vừa là nguồn tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới, lại vừa dồi dào các phương tiện cả về tài chính lẫn kỹ thuật, hợp tác Nga Trung là kịch bản lý tưởng.
Vấn đề đặt ra là tới nay, Nga cũng như 7 quốc gia còn lại bao quanh Bắc Băng Dương đều không có nhiều phương tiện để thăm dò, khai thác các nguồn tài nguyên này, một phần do thời tiết khí hậu khắc nghiệt chưa cho phép, một phần do chính những thẩm định về tiềm năng của khu vực cũng chưa được xác định một cách vững chắc.
Trong khi đó, như vừa giải thích, « căng thẳng về địa chính trị gia tăng giữa Mỹ và Nga »,đặc biệt là từ khi Phần Lan gia nhập Liên Minh Bắc Đại Tây Dương, Matxcơva lôi kéo thêm Bắc Kinh về phía mình ở một vùng biển ngay sát cạnh Hoa Kỳ : Eo biển Bering nằm cách Bắc Cực khoảng 100 km về phía nam. Khoảng cách giữa bờ biển ở cực đông của vùng Tchoukota thuộc về nước Nga và vùng duyên hải ở cực tây bang Alaska của Hoa Kỳ chỉ là 85 km.
Cho nên, việc cặp bài trùng Nga-Trung Quốc tăng cường hiện diện ngay sát cạnh lãnh thổ và lãnh hải Hoa Kỳ là một yếu tố chiến lược mà cả Matxcơva lẫn Bắc Kinh đều không thể bỏ qua.
Một chút nghi kỵ Nga-TrungTuy nhiên, bà Isabelle Facon Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược của Pháp trong bài tham luận trên Đài Quan Sát Bắc Cực đã lưu ý : Thứ nhất Trung Quốc là đối tác quan trọng nhất, nhưng không phải là vị khách duy nhất được tổng thống Vladimir Putin mời tham gia cùng « thăm dò » tài nguyên ở Bắc Cực. Chủ nhân điện Kremlin đã mời từ Ấn Độ đến Hàn Quốc, Nhật Bản đồng hành. Tại thượng đỉnh APEC ở Bali-Indonesia, năm 2013 cũng ông Putin đã mời « các đối tác kinh tế trong khu vực cùng phát triển dự án Tuyến Đường Hàng Hải Phương Bắc ».
Thứ nhì, về phía Trung Quốc, ông Tập Cận Bình cũng không đợi đến chiến tranh Ukraina năm 2022 mới quan tâm đến Bắc Cực. Bắc Kinh cũng không chỉ trông cậy vào Nga như « cánh cổng duy nhất mở ra Bắc Băng Dương ».
Theo nhà nghiên cứu Isabelle Facon, do nhu cầu tiên thụ năng lượng quá lớn, Bắc Kinh từng « mở rộng bang giao » với các thành viên Hội Đồng Bắc Cực, từ Đan Mạch đến Iceland hay Na Uy. Hành động này khiến Matxcơva hoài nghi và cho rằng Trung Quốc lại áp dụng chiến thuật « chia để trị » và bắt đầu xem Bắc Kinh như một mối thách thức tiềm tàng.
Ngày 25/04/2023 Nga và Trung Quốc đã ký kết hiệp ước Mourmansk, tên một hải cảng của Nga hướng ra Bắc Băng Dương. Văn bản này trước hết là « một thông điệp mà Matxcơva và Bắc Kinh gửi tới tất cả các thành viên khác trong Hội Đồng Bắc Cực (vốn đã ngừng liên hệ với Nga từ khi nổ ra chiến tranh Ukraina), đứng đầu là Hoa Kỳ. Thông điệp ấy là « giờ đây, nước Nga đã sẵn sàng thách thức NATO trong khu vực chiến lược và nhạy cảm này », theo ghi nhận của tuần báo The Times.
Do vậy, việc lôi kéo Trung Quốc về phía mình ở Bắc Cực chỉ là một sự tiếp nối của chính sách « Chinh phục lại Bắc Cực » mà Matxcơva đã từng bước hình thành từ đầu những năm 2010, có thể là « trước đó nữa ».
Nga đang tận dụng việc khai thác Con Đường Hàng Hải Phương Bắc để đưa dầu hỏa nhanh hơn đến tay khách hàng lớn nhất là Trung Quốc. Trong tính toán này, Nga có thêm một đồng minh bất ngờ và quý giá đó là yếu tố thời tiết : do hiện tượng khí hậu bị hâm nóng làm tan băng, giao thương trong vùng biển sát Bắc Cực này càng được thuận lợi.
Nga mới là yếu tố quan trọng nhất trong thỏa thuận khoáng sản mà Mỹ vừa ký với Ukraina cho dù « thuần túy về kinh tế viễn cảnh cùng khai thác tài nguyên với Kiev, thực chất không nhiều nhưng đôi bên cùng rất hài lòng ». Tiềm năng về khoáng sản và đất hiếm của Ukraina tuy chưa được thẩm định chính xác nhưng chính quyền Volodymyr Zelensky thuyết phục Mỹ « không bỏ rơi » Ukraina. Nga không thoải mái trước mối quan hệ tốt đẹp Mỹ-Ukraina.
« Ukraina có đất hiếm, họ có rất nhiều thứ mà những quốc gia khác không có được. Họ có nhiều tài nguyên phong phú. Chúng ta đã ký một thỏa thuận và trên nguyên tắc chúng ta sẽ thu hồi lại số tiền 350 tỷ đô la đã cấp cho Ukraina. (…) Tôi không gây ra cuộc chiến này. Đó là di sản của Biden. Mục tiêu của tôi là khép lại chiến tranh ».
Tổng thống Mỹ Donald Trump qua điện thoại tuyên bố như trên hôm 30/04/2025 về thỏa thuận khoáng sản vừa đạt được với Ukraina. Đây là một món quà ông Volodymyr Zelensky gửi tặng đúng dịp 100 ngày tỷ phú Hoa Kỳ trở lại Nhà Trắng.
Sau nhiều tháng căng thẳng, quan hệ Kiev - Washington có phần lắng dịu từ khi đôi bên « thành lập một quỹ đầu tư chung » để thu hút đầu tư cho các dự án đồng khai thác khoáng sản, dầu hỏa và khí đốt của Ukraina. Cả Hoa Kỳ lẫn Ukraina cùng khẳng định đây là một thắng lợi « to lớn về mặt ngoại giao » và kinh tế.
Tổng thống Volodymyr Zelensky cũng hài lòng không kém : « So với tài liệu ban đầu, văn bản mới vừa thông qua đã có nhiều sửa đổi. Đây là một thỏa thuận thực sự công bằng, mở đường cho những dự án đầu tư rất lớn trên lãnh thổ Ukraina và cho phép hiện đại hóa guồng máy sản xuất của chúng ta ».
Theo giới phân tích, tổng thống Ukraina có lý khi ông nói đến « một thỏa thuận công bằng » do « kiểm soát các nguồn tài nguyên khoáng sản, cơ sở hạ tầng và tài nguyên thiên nhiên thuộc thẩm quyền, của Kiev », vì Ukraina và Mỹ mỗi bên kiểm soát 50 % số vốn trong quỹ đầu tư chung, bảo đảm một sự « bình đẳng trong các quyết định hợp tác sau này ». Điểm thứ ba và cũng là mục tiêu mà tổng thống Volodymyr Zelensky theo đuổi từ ít nhất 2 năm nay, đó là huy động vốn cho công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh. Về điểm này, nhà báo người Ukraina, Marianna Perebenesiuk trên đài truyền hình France 24 phân tích :
« Đây là một thắng lợi ngoại giao không thể chối cãi mà thành công quan trọng nhất là Kiev giải tỏa được căng thẳng với Washington (…) và cũng phải nói là từ hai năm nay tổng thống Volodymyr Zelensky vận động quốc tế đầu tư vào đất nước ông trong giai đoạn tái thiết sau chiến tranh, nhưng chẳng ai dám vào. Giờ đây coi như sự hiện diện của Hoa Kỳ dỡ bỏ được những hoài nghi về an ninh tại Ukraina ».
Đòn mặc cả của Trump với Kiev và Matxcơva ?Vào lúc một số nhà quan sát ghi nhận với thỏa thuận ký kết tại Washington hôm 30/04/2025, Nhà Trắng không đưa ra những « cam kết cụ thể » bảo đảm an ninh cho Ukraina. Bộ trưởng Tài Chính Mỹ Scott Bessent không cùng quan điểm. Ông khẳng định trong cuộc họp báo tại Washington với phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Kinh Tế Ukraina Yulia Svyrydenko :
« Thỏa thuận đạt được hôm nay (30/04) là một tín hiệu rõ ràng gửi đến các nhà lãnh đạo Nga : Chính quyền Trump cam kết một cách lâu dài ủng hộ tiến trình hòa bình trên cơ sở một đất nước Ukraina tự do, có chủ quyền và thịnh vượng. Đã đến lúc cuộc chiến khốc liệt này phải chấm dứt. Hoa Kỳ và Ukraina nóng lòng khởi động lại mối đối tác về kinh tế vốn có từ trước đến nay vì lợi ích của công dân hai nước ».
Có hai điểm quan trọng nhất đối với Kiev ở đây : một là sự hiện diện của Mỹ trên lãnh thổ Ukraina qua các chương trình khai thác tài nguyên mà mục tiêu chính là để « Nga từ bỏ ý đồ lại xâm lược Ukraina ».
Lý do thứ hai là ngay sau khi thỏa thuận khoáng sản song phương được ký kết, hôm 02/05/2025 bộ Ngoại Giao Mỹ đồng ý khởi động lại các thương vụ xuất khẩu thiết bị và phụ tùng quân sự cho Ukraina. Hợp đồng đầu tiên dưới thời chính quyền Trump trị giá hơn 310 triệu đô la. Trước đó vài giờ, Nhà Trắng thông báo với Hạ Viện về hợp đồng bán vũ khi cho Ukraina trị giá hơn 50 triệu đô la. Cùng lúc nhiều nguồn tin thông thạo tại Washington xác nhận chính quyền Trump « bật đèn xanh » cho việc chuyển hai hệ thống phòng không Patriot của Mỹ cho Kiev… và những khoản « viện trợ quân sự mới này được tính vào khoản đóng góp của Hoa Kỳ cho quỹ đầu tư chung với Ukraina ». Nói cách khác, cung cấp thêm vũ khí cho Ukraina không phải là một món quà mà Washington « tặng không » cho tổng thống Zelensky.
Dù vậy, chỉ nội việc Mỹ nối lại các chương trình chuyển giao vũ khí và thiết bị cho Ukraina, chắc chắn Matxcơva không hài lòng. Nhà báo Maryse Burgot của đài truyền hình nhà nước Pháp France 2 nhiều lần sang tận Ukraina tác nghiệp phân tích :
« Muốn diễn giải thỏa thuận này thế nào đi chăng nữa, trong mọi trường hợp, hợp tác Mỹ và Ukraina không là một tin vui đối với nước Nga. Matxcơva không thể hài lòng với sự hiện diện của người Mỹ trên lãnh thổ Ukraina. Công luận có thể đánh giá thỏa thuận khoáng sản vừa rồi không có thực chất và cũng có thể rồi cũng sẽ thất bại tựa như thỏa thuận cũng chính quyền Trump ở nhiệm kỳ trước đã đạt được với Afghanistan, nhưng rồi đã hoàn toàn bế tắc.
Tuy nhiên, đối với ông Trump, đây là một điểm cụ thể trên hồ sơ Ukraina mà Nhà Trắng đã đạt được sau 100 ngày ông trở lại cầm quyền và đừng quên rằng, nếu đôi bên không đạt được thỏa thuận đó thì Washington sẽ không bao giờ tha thứ cho ông Zelensky. Cũng vì muốn đạt được một kết quả cụ thể để khoe thành tích với cử tri, Donald Trump đã ráo riết đàm phán từ nhiều tháng qua để đạt cho bằng được một thỏa thuận dù là thực chất không nhiều. Cùng lúc, phía Mỹ không đưa ra những bảo đảm về an ninh cho Ukraina nhưng nội viễn cảnh Mỹ đầu tư vào Ukraina cũng khiến Vladimir Putin bực mình ».
Cũng trên đài truyền hình France24, ông Guillaume Ancel một chuyên gia độc lập về quân sự thẳng thắn cho rằng về kinh tế, thực chất của các chương trình hợp tác trong tương lai không nhiều bởi dự trữ về khoáng sản của Ukraina « chưa được thẩm định một cách chính xác. Hơn nữa, phần lớn các vùng giàu tài nguyên tập trung ở miền đông và nam Ukraina, nơi quân đội Nga đang chiếm đóng ».
« Cân nhắc về lợi ích kinh tế thì thỏa thuận này hoàn toàn là một màn lừa đảo vì hai lý do. Thứ nhất là bản thân Ukraina cũng không biết một cách chính xác về trữ lượng khoáng sản trên lãnh thổ của mình. Chính vì thế mà Kiev đòi được quyền quyết định là sẽ khai thác các loại tài nguyên nào và ở những khu vực nào. Lý do thứ hai, là trong thỏa thuận mới đạt được phía Mỹ nói rõ là các doanh nghiệp chỉ dấn thân vào Ukraina một khi quốc gia này vãn hồi hòa bình. Đừng quên rằng, song song với các cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Ukraina thì chính quyền Trump cũng đang thương lượng với Matxcơva về khoáng sản. Mỹ cũng muốn hợp tác với Vladimir Putin để khai thác đất hiếm của Nga. Nói như vậy để thấy thỏa thuận đạt được hôm 30/04/2025 vừa rồi chỉ quan trọng về hình thức và cả hai bên đều hài lòng ».
Đàm phán song song Nga - Mỹ về khoáng sảnVậy có thể nói thỏa thuận khoáng sản giữa Kiev và Washington hôm 30/04/2025 trước hết nằm trong chiến thuật của mỗi bên để thuyết phục công luận trong nước ? Theo giới quan sát, điều này hoàn toàn đúng : Ukraina muốn chứng tỏ « không bán rẻ tài nguyên cho Hoa Kỳ », mặc dù Mỹ là điểm tựa tài chính và quân sự.
Về phía Hoa Kỳ, Nhà Trắng cũng đang có nhiều tính toán : Chỉ vài ngày sau cuộc điện đàm giữa tổng thống Donald Trump và Vladimir Putin, chủ nhân điện Kremlin hôm 24/02 cho biết Nga sẵn sàng thảo luận với Washington để « phát triển công nghiệp khai thác đất hiếm ». Tại Washington, chính tổng thống Trump cũng đã xác nhận đang hướng tới « nhiều dự án đầu tư quan trọng về kinh tế với nước Nga ».
Theo nghiên cứu của Cơ Quan Địa Chất Hoa Kỳ USGS, trữ lượng về đất hiếm của Nga đứng hàng 5 trên thế giới, sau Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ và Úc nhưng tiềm năng của Nga (3,9 triệu tấn) « cao gấp đôi so với của Hoa Kỳ (1,8 triệu tấn) ».
Phát ngôn viên của điện Kremlin Dmitri Peskov quả quyết « người Mỹ cần đất hiếm của Nga và chúng ta có rất nhiều để cung cấp cho họ ».
Theo tạp chí Grand Continent, chuyên về địa chính trị, Matxcơva đã mang đất hiếm ra để « nhử » Mỹ ngay từ vòng đàm phán song phương đầu tiên tại Ryiad hôm 18/02/2025 và về phía Washington, ông Trump cũng đang « trông thấy tiềm năng rất lớn của Nga, một quốc gia rộng lớn phong phú về tài nguyên mà Hoa Kỳ có thể tận dụng ».
Rõ ràng là trên hồ sơ đất hiếm và khoáng sản, Nga mới là yếu tố quan trọng trong mỗi nước cờ của các bên và trước mắt có những phân tích cho rằng rất có thể Mỹ dùng Ukraina như một lá bài để thương lượng với Nga về những hồ sơ khác, còn quan trọng hơn cả vấn đề đất hiếm, nhất là khi bản thân Ukraina cũng không biết rõ về tiềm năng đất hiếm và những « khoáng sản chiến lược » đang có trong tay.
Washington lúng túng vì Bắc Kinh hạn chế xuất khẩu sang Mỹ ít nhất 7 kim loại hiếm, đó là những chất liệu « thiết yếu » chế tạo động cơ phản lực, drone, robot, tên lửa và các thiết bị không gian và công cụ kết nối khác.
Từ ngày 04/04/2025, 16 tập đoàn Mỹ trong các lĩnh vực quốc phòng, các hãng sản xuất máy bay tự hỏi liệu sẽ cầm cự được bao lâu trước khi chuỗi sản xuất bị gián đoạn vì thiếu kim loại hiếm nhập khẩu từ Trung Quốc ? Bắc Kinh không chỉ nhắm tới Washington mà còn cảnh cáo luôn cả Liên Hiệp Châu Âu.
Trong trận thương chiến Mỹ -Trung, Washington chỉ tập trung khai thác đòn thuế quan. Bắc Kinh có nhiều lá chủ bài trong tay, trong đó có « đất hiếm », bởi Trung Quốc sản xuất hơn 60 % nguyên liệu này và tinh lọc 90 % kim loại hiếm cho toàn cầu.
Chiến thuật con trăn : từ từ siết chặt vòng vâyTừ cuối 2024, Trung Quốc đã cấm bán sang Mỹ 2 trong số 17 loại đất hiếm là gallium và germanium, dùng để sản xuất chíp điện tư, hệ thống radar và vệ tinh. Hôm 04/04/2025 Bắc Kinh hạn chế cấp giấy phép cho các nhà xuất khẩu Trung Quốc cung cấp 7 mặt hàng trong đó có những chất như samarium, gadolinium, terbium hay yttrium… thuộc dòng « kim loại nặng ». Washington khó tìm nguồn thay thế.
Bài toán khó ở đây đối với Hoa Kỳ là để chế tạo một chiến đấu cơ F-35, tập đoàn Lockheed Martin cần 408 kg đất hiếm, và sẽ phải huy động đến gần 4.200 kg đất hiếm để có được một chiếc tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân lớp Virginia.
Benjamin Louvet, quản lý quỹ đầu tư chuyên về khoáng sản, OFI Asset Management, tại Paris trước hết lưu ý : 17 loại đất hiếm, trong đó 15 chất thuộc dòng kim loại, tuy là một thị trường rất nhỏ nhưng lại là chìa khóa công nghiệp và công nghệ của thế giới
« Đây là một thị trường rất nhỏ, chưa đến 4 tỷ đô la mỗi năm trên toàn cầu. Tuy chỉ thu hẹp trong 4 tỷ đô la, nhưng đất hiếm lại có những tác động vô cùng lớn : Không thể thiếu để sản các bộ vi xử lý microprocessor, để chế tạo tên lửa, radar tia hồng ngoại để nhìn thấy trong đêm mà quân đội sử dụng … »
Trung Quốc giữ thế độc quyền nhờ phương TâyVấn đề đặt ra là một lĩnh vực « chiến lược như vậy » đối với toàn thế giới lại được đặt tất cả ở Trung Quốc. Benjamin Louvet giải thích :
« Trong một thời gian dài và cho đến những năm 90 Mỹ chiếm ưu thế trên thị trường này. Trong lúc Pháp đứng đầu ở khâu tinh chế. 50 % đất hiếm trên thế giới được chắt lọc từ nhà máy của Rhône Poulenc gần thành phố La Rochelle. Thế nhưng rồi mảng công nghiệp này bị lãng quên vì là nguồn gây ô nhiễm. Trung Quốc đã thay thế, lấp vào chỗ trống, và thành công nhờ có giá thành rẻ hơn. Hệ quả là ngày nay, về đất hiếm -nhất là kim loại nặng, Trung Quốc hoàn toàn thống lĩnh thị trường toàn cầu : tinh chế hơn 90 % tổng lượng đất hiếm để cung cấp cho toàn cầu (…) »
Bắc Kinh đã biến đất hiếm thành một công cụ « quân sự »Chuyên gia Vincent Donnen đồng sáng lập viên một cơ quan tư vấn trong lĩnh vực đất hiếm tại Genève - Thụy Sĩ được nhật báo Le Temps (15/04/205) trích dẫn, thì Bắc Kinh « muốn giữ lại những kim loại nặng, vừa hiếm lại vừa mang tính chiến lược … để đáp ứng nhu cầu của nền công nghiệp quốc phòng » Trung Quốc. Vẫn theo chuyên gia này, hạn chế xuất khẩu đất hiếm cho Hoa Kỳ vừa là nhằm trả đũa và răn đe Washington về chính sách bảo hộ « cuồng loạn » của tổng thống Trump và các cộng sự, vừa là một thủ đoạn về địa chính trị Bắc Kinh không chỉ nhắm tới Hoa Kỳ mà còn nhiều quốc gia khác trên thế giới- đứng đầu là châu Âu.
Theo Vincent Donnen, Trung Quốc cần xuất khẩu vào lúc mà thị trường Mỹ đang từng bước đóng cửa với hàng Made in China, Bắc Kinh đã chuyển hướng nhắm tới thị trường Liên Hiệp Châu Âu. Coi đây là điểm tiêu thụ chính để nuôi dưỡng cỗ máy sản xuất và tăng trưởng cho Trung Quốc. Nếu Bruxelles cũng gây khó khăn cho hàng của Trung Quốc thì coi chừng cũng sẽ mất các nguồn cung ứng về kim loại hiếm. Có nghĩa là chiến lược « tự chủ » về công nghệ quốc phòng, về năng lượng hạt nhân của Liên Âu cũng sẽ bị đe dọa.
Điều đáng ngại ở đây là quan sát từ Genève, Vincent Donnen tuyệt nhiên không thấy Bruxelles tích trữ hay tăng kho dự trữ chiến lược về đất hiếm để đề phòng mất nguồn cung ứng từ Trung Quốc.
Âu-Mỹ cũng rất lơ là với khâu tái xử lý đất hiếm do công việc này quá tốn kém mà « không bõ công ». Thí dụ như một màn ảnh phẳng 1 mét vuông chỉ chứa 0,7 g indium. Cho dù indium « đắt hơn vàng », nhưng với số lượng màn ảnh phẳng mà người dân Pháp thải ra hàng năm, có nhặt nhạnh lại thì cũng chỉ thu về được một khối lượng indium chỉ khoảng 30.000 euro/một năm. Đó là số tiền quá ít ỏi để Pháp đầu tư vào nhân sự và mở nhà máy tái xử lý các màn ảnh phẳng.
« Tiên trách kỷ, hậu trách nhân »Nhà báo Guillaume Pitron, tác giả cuốn « Chiến tranh Kim loại hiếm, Mặt trái của Tiến trình Chuyển đổi Năng lượng và Kỹ thuật số » vừa được tái xuất bản và cập nhật,lưu ý : tổng thống Hoa Kỳ « có công đưa vấn đề đất hiếm, kim loại hiếm trở lại trung tâm bàn cờ địa chính trị khi đòi kiểm soát đất hiếm » của Ukraina, chiếm đoạt Groendland hòn đảo hiện thuộc về Đan Mạch.
Cũng chính cuộc chiến thương mại mà Nhà Trắng khơi mào nên toàn thế giới bắt đầu chú ý đến « hồ sơ đất hiếm ».
Năm 2019 trả lời RFI tiếng Việt Guillaume Pitron, từng nhận định : phong tỏa đất hiếm, tức là biến cuộc chiến thương mại thành chiến tranh công nghệ với Hoa Kỳ. Đó là lằn rănh đỏ Bắc Kinh sẽ không dám vượt qua. Tình hình đã thực sự thay đổi từ đó đến nay. Dám dùng đòn hiểm này để đương đầu với Mỹ, vì Trung Quốc đã có cả một sự chuẩn bị dài hơi từ thập niên 1980 :
« Từ thập niên 1980, Trung Quốc đã hiểu rằng khoáng sản là vàng, hay đúng hơn là dầu hỏa của thế kỷ 21. Năm 1992, Đặng Tiểu Bình đã đến thăm một mỏ đất hiếm ở khu tự trị Nội Mông, miền bắc Trung Quốc và ông đã tuyên bố đại để là "Trung Đông có dầu mỏ, Trung Quốc có đất hiếm." Từ thời điểm đó, người ta đã hiểu rằng đây là vấn đề địa chính trị.
Bắc Kinh đã nhanh chóng nhận ra rằng những kim loại này chính là vàng đen mới và cực kỳ thiết yếu cho các công nghệ tương lai. Trái lại, phương Tây ngủ quên, và họ an tâm với mô hình toàn cầu hóa (…) »
Mọi người yên tâm mua đất hiếm của Trung Quốc với giá chỉ bằng một nửa. Bằng lòng vì Trung Quốc chấp nhận hy sinh môi trường và trả lương thấp cho nhân công để cung cấp kim loại hiếm cho phương Tây hưởng lợi. Âu-Mỹ cũng không sợ bị bắt chẹt vì tin rằng đã có Tổ Chức Thương Mại Thế Giới bảo đảm nguyên liệu thô được vận chuyển một cách linh hoạt, không lo bị tắc nghẽn. Nhưng từ 2010 khi Bắc Kinh bắt đầu dùng đất hiểm như một công cụ nhắm vào Mỹ và Nhật Bản thì công luận quốc tế mới bắt đầu thức tỉnh (…) Chính sách của Donald Trump ‘America First’ đương nhiên không thể chấp nhận để phải phụ thuộc vào khoáng sản của Trung Quốc ».
Ảo vọng hòa bình nhờ khoáng sản UkrainaChính vì ý thức được sai lầm để lãng phí 40 năm và bị Trung Quốc qua mặt, nên Hoa Kỳ nói riêng, phương Tây nói chung hối hả đầu tư và nhìn về phía Ukraina với những nguồn khoáng sản dồi dào. Trên nguyên tắc trong tuần 21-27/04, Washington và Kiev tiếp tục đàm phán và hy vọng chóng đạt được « một thỏa thuận về khoáng sản ». Đến nay tổng thống Donald Trump vẫn đòi Ukraina trả 500 tỷ đô la bằng kim loại hiếm để « bù lại » khoản viện trợ quân sự mà Washington đã chu cấp cho Kiev từ 2022.
Theo quan điểm của nhà báo chuyên về hồ sơ đất hiếm, Guillaume Pitron, khoáng sản có thể là một chìa hóa dẫn tới hòa bình cho Ukraina khi có sự can thiệp của Hoa Kỳ, cho dù đó là một tính toán dài hơi :
« Thực ra, chúng ta cần quay lại những điều cơ bản về khai thác khoáng và địa chất. Trước tiên, cần phải tiến hành các công trình khảo sát và thăm dò. Phải cập nhật các bản đồ khoáng sản – mà ở Ukraina, dữ liệu về khoáng sản chưa được cập nhật đầy đủ. Vậy nên, bước đầu là phải thẩm định xem lãnh thổ này có chứa những loại khoáng sản nào và chúng nằm ở đâu để có thể khai thác.
Sau đó, từ thời điểm phát hiện một mỏ cho đến khi bắt đầu khởi động nhát cuốc đầu tiên để khai thác, Cơ quan Năng lượng Quốc tế ước chừng, trung bình, phải mất 16 năm rưỡi. Cũng có thể là giai đoạn này được xúc tiến nhanh hơn, nhưng về cơ bản, phải tính đến mốc khoảng năm 2041 trở đi mới có thể nói đến chuyện khai thác khoáng sản của Ukraina, mà đặc biệt là những mỏ lithium, đất hiếm mà người Mỹ quan tâm ».
Guillaume Pitron cho rằng nếu có sự tham gia của các nhà đầu tư Mỹ vì lợi ích kinh tế thì Ukraina đương nhiên được hưởng hòa bình trong từ 30 đến 40 năm. Bởi vì « người Mỹ sẽ không đầu tư hàng tỷ đô la cho một khoảng thời gian dài như vậy mà không được bảo đảm là họ sẽ thu lại được cả vốn lẫn lời. Các hãng Mỹ cũng không thể có lãi nếu chiến tranh lại xảy ra ở Ukraina ». Theo quan điểm của nhà báo người Pháp này, « khai thác khoáng sản sẽ đem lại ổn định về địa chính trị và hòa bình » cho Ukraina.
Trong tuần lễ từ ngày 07-13/2025 thị trường chứng khoán toàn cầu trồi sụt thất thường và bị chấn động vi « trận bão thương mại » xuất phát từ thủ đô Washington. Công luận thế giới tập trung vào chiến tranh thương mại không hồi kết giữa Mỹ và Trung Quốc, nhưng « đó mới chỉ là tiền đề cho một chiến lược quy mô hơn, nguy hiểm hơn ». Mang nợ nhiều nhất trên thế giới, Hoa Kỳ muốn hình thành một trật tự mới về tiền tệ và tài chính.
RFI mời giáo sư Eric Monnet, trường kinh tế Paris School of Economics giải thích về « chiến thuật nguy hiểm » đó của chính quyền Trump mà mục tiêu sau cùng là « tái cơ cấu núi nợ » 30.000 tỷ đô la của Hoa Kỳ.
Mỹ lấn cấn vì núi nợ 30.000 tỷ đô laĐầu tuần trước, lãi suất tín dụng mà Hoa Kỳ phải đi vay đã đột ngột tăng mạnh : lãi suất tín dụng 10 năm « tăng gần nửa điểm » trong vài giờ đồng hồ trong đêm 9-10/04, làm dấy lên viễn cảnh quốc gia mang nợ lớn nhất thế giới phải đối mặt với một « cuộc khủng hoảng niềm tin », thiếu hụt thanh khoản. Nhiều tờ báo tài chính quốc tế nói đến « một làn gió hoảng loạn » đã thổi đến Nhà Trắng trong vài giờ và chính điểm này đã buộc tổng thống Donald Trump phải tạm hoãn cuộc chiến thương mại với toàn cầu (ngoại trừ với Trung Quốc).
Hãng tin Mỹ Bloomberg xác nhận hiện tượng một số chủ nợ của Washington « ồ ạt bán đi Treasuries - công trái phiếu » của Hoa Kỳ mà họ đang nắm giữ. Mãi tận Singapore, cơ quan môi giới Lombard Odier cũng nói đến « một cuộc đình công từ phía các chủ nợ cho Hoa Kỳ vay mượn tiền ». Tại Nhà Trắng, các cộng tác viên và cố vấn tài chính, tiền tệ của tổng thống Donal Trump ghi nhận « nhiều hoạt động bất thường, bán đi công trái phiếu của Mỹ ». Hiện tượng này « xuất phát từ châu Á » vào lúc mà Nhật Bản và Trung Quốc là hai chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Hoa Kỳ
Cùng lúc tỷ giá hối đoái của đô la Mỹ sụt giảm. Tổng thống Donald Trump muốn giữ giá đô la ở mức thấp để thúc đẩy xuất khẩu, hay chính xác hơn là để thu hẹp thâm hụt mậu dịch của nền kinh tế số 1 toàn cầu với rất nhiều các bạn hàng trên thế giới - đứng đầu là Trung Quốc.
Vậy thì tại sao Nhà Trắng đã vội lùi bước trên vấn đề thuế quan khi chiến dịch « Ngày Giải Phóng » nước Mỹ của ông Trump mới chỉ vừa có hiệu lực lúc 00 giờ ngày 09/04 ?
Trả lời RFI Việt ngữ, giáo sư Eric Monnet, giảng dậy tại trường kinh tế Paris School of Economics, trước hết trở lại với mục tiêu chính của cuộc chiến thương mại Mỹ đang khơi mào với quá nhiều những thông báo ồn ào để rồi cũng Nhà Trắng lại đính chính sau đó hay thay đổi ý kiến vào giờ chót.
Eric Monnet : « Thật khó để biết Hoa Kỳ thực sự đang tính toán những gì, nhưng ít nhất chúng ta có thể suy luận mục tiêu chính : Họ muốn có một cán cân thương mại thặng dư. Tức là xuất khẩu nhiều hơn là nhập khẩu. Điều đã được chứng minh trong các phát biểu của Trump, cũng như trong các thống kê ông đã trình bày. Hoa Kỳ muốn chấm dứt tình trạng nhập siêu, chinh phục lại vị trí của một cường quốc thương mại. Thế nhưng Washington tuyệt đối không khuyến khích dân chúng hạn chế mua hàng của nước ngoài mà lại chọn giải pháp trừng phạt các bạn hàng của Mỹ, để cộng đồng quốc tế giảm xuất khẩu vào Mỹ.
Có hai vũ khí để giảm tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới vào Hoa Kỳ : một là các hàng rào quan thuế như đã được đề cập đến rất nhiều. Biện pháp thứ hai là phá giá đồng tiền Mỹ so với các đơn vị ngoại tệ khác. Nhưng đến nay biện pháp này chưa được sử dụng cho dù đã được chính quyền Trump nói tới khá nhiều ».
Tăng sức hấp dẫn của hàng Mỹ, « dìm hàng ngoại »Việc làm yếu đi đồng đô la đơn giản chỉ làm cho hàng Mỹ rẻ hơn so với hàng của những nơi khác bán sang Hoa Kỳ. Chính quyền Washington qua đó kỳ vọng hàng Mỹ có sức thu hút cao hơn, để có thể xuất khẩu dễ hơn, đồng thời thì hàng nhập vào Hoa Kỳ trở nên đắt đỏ hơn, nên dân Mỹ sẽ chuộng đồ nội địa. Mục tiêu phá giá đồng tiền, hay ít ra là giữ giá đồng đô la ở mức thấp để kích thích xuất khẩu của Mỹ, được coi là « giai đoạn 2 » của một chiến lược « rộng lớn » và nguy hiểm đối với thế giới. Kế hoạch đó do 2 nhân vật chủ xướng. Người thứ nhất là bộ trưởng Tài Chính Scott Bessent và Stephen Miran cố vấn cho ông Trump. Miran hoạt động trong hậu trường. Tháng 11/2024 đã công bố một cặn kẽ những bước để thực hiện điều mà « chiến lược gia » về tiền tệ và tài chính này báo trước sẽ là một « cuộc Big bang ».
3 giai đoạn của một cuộc cách mạng tiền tệKế hoạch mang tên ông Miran gồm : Ở giai đoạn 1, Mỹ mở một cuộc thương chiến « tàn khốc » đến nỗi, tất cả các đối thủ phải cầu cạnh Washington. Khi đó ở giai đoạn 2, Hoa Kỳ đồng ý nhượng bộ với điều kiện các « chủ nợ » phải bán bớt đồng đô la, qua đó giảm tỷ giá hối đoái của đồng tiền Mỹ. Ở giai đoạn cuối cùng Washington đòi các chủ nợ thay thế công trái phiếu của Mỹ họ đang nắm giữ để bằng những « công trái có giá trị cả trăm năm ».
Giai đoạn 3 này mới là mục tiêu sau cùng chiến lược gia tài chính của Donald Trump, Stephen Miran nhắm tới : Đây là giải pháp cho phép « giảm nhẹ gánh nặng nợ nần » của nước Mỹ, giảm bớt lãi suất tín dụng mà hàng năm chính quyền Liên Bang vẫn phải thanh toán cho các chủ nợ nước ngoài mà đứng đầu là Nhật Bản, Trung Quốc và Liên Hiệp Châu Âu.
Giáo sư kinh tế Eric Monnet, trường Paris School of Economics phân tích tiếp :
Eric Monnet : « Có hai cách để làm giảm giá trị đồng đô la : đầu tiên là nới lỏng chính sách tiền tệ, đòi Ngân Hàng Trung Ương giảm lãi suất chỉ đạo. Và chúng ta đã thấy rằng Trump đang gây áp lực, đặc biệt là qua những phát biểu trên mạng xã hội để Cục Dự Trữ Liên Bang Fed, giảm lãi suất. Cách thứ nhì để giảm giá đồng tiền và đây là kế hoạch thực sự của Stephen Miran. Ông này chủ trương Mỹ đàm phán với những quốc gia đang nắm giữ nhiều đô la, như Châu Âu, Trung Quốc hay Nhật Bản để đạt được một thỏa thuận dẫn đến việc giảm giá trị đồng đô la so với các đồng tiền lớn khác ».
Thuế hải quan : vũ khí để mặc cảĐòi các quốc gia khác đến thảo luận với Hoa Kỳ, nhưng đổi lại Mỹ cũng phải nhượng bộ : tức là khi các quốc gia khác đồng ý duy trì một « đồng đô la yếu », họ được lợi gì ?
Eric Monnet : « Chính xác là như vậy và cũng vì thế mà chiến lược của Mỹ trước hết là phải dùng đòn thuế hải quan để áp đặt với thế giới luật chơi. Bắt mọi người phải thương thuyết, để rồi sau đó, trong một giai đoạn thứ hai, Hoa Kỳ dùng đòn thuế quan như công cụ đòi các quốc gia khác chấp nhận việc giảm giá trị tỷ giá hối đoái, tức là giảm giá trị đồng đô la.
Và đó là điều mà họ gọi là Thỏa Thuận Mar A Lago (dinh thự riêng của Donald Trump ở bang Florida). Cho tới nay thỏa thuận Mar A Lago chưa hiện hữu, đây mới chỉ là một kế hoạch. Ý tưởng ở đây là Trump cũng thực hiện một thỏa thuận, đàm phán về tỷ giá hối đoái tương tự như Thỏa Thuận Plaza hồi năm 1985 đạt được dưới chính quyền của tổng thống Ronald Reagan. Plaza là tên một khách sạn ở New York và cũng chính tại đây Washington và các đối tác đã đồng ý giảm tỷ giá hối đoái của đô la ».
Vẫn trong cuộc trả lời dành cho RFI Tiếng Việt hôm 10/04/205 vừa qua, giáo sư Monnet nói đến tính khả thi của kế hoạch mà tổng thống Trump và các cộng tác viên của ông gọi là « Thỏa thuận Mar A Lago ».
Eric Monnet : « Kế hoạch này có khả thi hay không, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình thế giới đến lúc đó, tức là liệu rằng chiến tranh thương mại Mỹ gây nên sẽ làm rối loạn toàn cầu tới mức nào, kinh tế của thế giới có nguy cơ bị xuống dốc quá hay không… Nếu tình hình quá tồi tệ, thì điều đình hạ giá đô la có thể là cánh cửa duy nhất để khôi phục một chút mô hình đa phương trong một thế giới ngày càng hỗn loạn trước mắt, đây là điều có thể xảy ra nhưng không phải là vào thời điểm hiện tại và chắc chắn là không phải theo các điều khoản mà Mỹ đang áp đặt với thế giới như hiện nay. Đương nhiên thỏa thuận quốc để giảm giá đồng đô la sẽ bất lợi cho các quốc gia khác trên thế giới ».
Nguy cơ Mỹ không còn làm chủ tình hìnhĐiều khó hiểu ở đây là vào lúc chính quyền Mỹ tìm cách giữ giá đồng đô la thấp so với các ngoại tế khác trên thế giới (euro, franc Thụy Sĩ, yen hay nhân dân tệ…) thế nhưng Nhà Trắng bị đẩy vào thế bất an, khi đồng đô la trượt giá và trước tin dường như Trung Quốc -và có thể là cả Nhật Bản, đang mạnh tay bán ra công trái phiếu của Hoa Kỳ.
Giáo sư Eric Monnet thận trọng phân tích về hiện tượng đó :
Eric Monnet : « Thực ra hiện tại rất khó để nói chính xác liệu Trung Quốc có bán trái phiếu kho bạc Mỹ hay không. Các dữ liệu trước mắt chưa cho phép tôi khẳng định điều đó. Trái lại, mối đe dọa đó là có thật. Tức là Trung Quốc, cũng như nhiều ngân hàng trung ương khác trên thế giới đang nắm giữ rất nhiều trái phiếu nợ của Mỹ như một khoản dự trữ ngoại tệ. Những quốc gia này hoàn toàn có thể bán ra những công trái đó của Hoa Kỳ, giới hạn dự trữ bằng đô la để đi mua các ngoại tệ khác, có thể là euro chẳng hạn.
Đây là kịch bản từ lâu nay Hoa Kỳ đã lo sợ và cũng là lý do tại sao Donald Trump từng dọa nạt thế giới, kể cả Bắc Kinh là nếu mà các quốc gia này bán trái phiếu kho bạc Mỹ thì ông Trump sẽ lại càng tăng thuế hải quan. Nhưng một khi Nhà Trắng đã ấn định những mức thuế hải quan quá cao đi mất rồi, chúng ta tự hỏi điều gì thực sự có thể ngăn cản các quốc gia này bán đô la.
Trong đêm 9 rạng sáng 10 tháng 4/2025 (theo giờ Paris) một khối lượng lớn công trái phiếu của Mỹ được bán ra, đô la mất giá. Cùng lúc lãi suất ngân hàng Mỹ phải đi vay tăng mạnh, làm tăng chi phí nợ của Hoa Kỳ. Tuy nhiên đây là con dao hai lưỡi vì trong trường hợp của Trung Quốc, ồ ạt bán đi đô la, tiền Mỹ mất giá, tức là đồng tiền Trung Quốc bị đẩy lên cao. Điều này bất lợi cho xuất khẩu của Trung Quốc do vậy Ngân hàng trung ương đã phải can thiệp tìm cách giữu tỷ giá hối đoái ở mức thấp so với đồng tiền của Hoa Kỳ. Nước cờ đó không có lợi gì cho Bắc Kinh. Nhưng những giao động trong tuần qua cho thấy chúng ta đã bước vào một thế giới mà ở các bên luôn chủ trương dùng sức mạnh để áp đặt chính sách kinh tế ».
Mục tiêu của Mỹ : Phá giá đồng đô laTheo quan niệm của ông trùm tiền tệ đứng trong bóng tối cố vấn cho tổng thống Trump là do quy chế của đơn vị đồng tiền dự trữ và là thước đo lường các luồng thương mại cho toàn cầu mà đô la của Mỹ bị nâng giá một cách « bất công, cướp đi hàng triệu công việc làm của người lao động Hoa Kỳ », thành thử điều đơn giản là Mỹ cần « bắt các nền kinh tế khác trên thế giới đóng góp hay đúng hơn là trả giá khi họ sử dụng đô la như một đơn vị tiền tệ dự trữ ».
Một đồng đô la mềm giá tăng sức cạnh tranh của hàng công nghiệp made in USA và sẽ bóp ngạt các đối thủ cạnh tranh của Hoa Kỳ. Trước mắt Thỏa thuận tiền tệ Mar A Lago của chiến lược gia kinh tế Miran vẫn còn là một « kế hoạch » còn đang được hình thành, nhưng đã để lộ rõ những điều như sau : Thứ nhất, chính quyền Trump có khuynh hướng « mặc cả với thế giới bằng sức mạnh » nhưng không chắc sẽ đem lại những kết quả như mong muốn.
Thứ hai, như kinh tế gia Nicolas Véron được báo Les Echos (17/03/2025) trích dẫn đã nhận định, chủ trương kết hợp các đòn thuế quan mạnh tay và hù dọa của chính quyền Trump, mới chỉ chưa đầy 100 ngày ở Nhà Trắng, đã hủy hoại hết các mối liên minh gắn chặt siêu cường thương mại và nền kinh tế số 1 toàn cầu với những nước bạn thân thiết nhất như Canada, Mêhicô, Liên Âu và cả nhiều đồng minh của Mỹ ở Châu Á. Chưa biết sẽ có Thỏa Thuận Mar A Lago nào hay không để thay thế Thỏa Thuận Plaza chỉ biết rằng trước mắt, nước Mỹ của Donald Trump không còn nhiều đồng minh.
Điểm thứ ba là Hoa Kỳ sẵn sàng thay đổi luật chơi về tài chính và thương mại, khai tử mô hình do chính Washington đã tạo ra, miễn là làm sao có lợi cho nước Mỹ.
« Chiến đấu đến cùng » khi bị tấn công, « đáp trả tương xứng thuế đối ứng » của Mỹ và áp dụng đúng phương pháp của Washington để bảo vệ quyền lợi : Trung Quốc đã chọn giải pháp đối đầu trong cuộc chiến thuế quan với chính quyền Trump.
Trong chưa đầy một tuần lễ, Trung Quốc chuyển từ « thế thủ » sang « thế công ». Trên nguyên tắc, kể từ 0 giờ ngày 10/04/2025 hàng Mỹ nhập khẩu vào Hoa Lục bị đánh thuế 34 % « tương tự » như hàng « made in China » bán sang Hoa Kỳ.
Chỉ 48 giờ sau màn trình diễn của Donald Trump ở Nhà Trắng, mở màn một cuộc chiến thương mại với toàn cầu, tại Bắc Kinh bộ Thương Mại « đáp lễ » bằng hàng rào quan thuế. Trung Quốc cho mở điều tra nhắm vào hơn một chục doanh nghiệp Mỹ và hạn chế xuất khẩu 7 kim loại hiếm thiết yếu cho công nghệ cao và thiết bị điện tử trong dự án sản xuất chiến đấu cơ đời mới F-47 vừa được Washington rầm rộ loan báo.
Sau một dịp nghỉ cuối tuần dài ngày, quay lại thủ đô Washington tổng thống Hoa Kỳ nổi đóa thấy Bắc Kinh chọn giải pháp đối đầu. Donald Trump chỉ trích Trung Quốc đi « nhầm đường » và đòi tăng thêm 50 % thuế hải quan nhắm vào hàng « made in China », bên cạnh mức thuế 54 % sắp bị áp dụng từ 0 giờ ngày 09/04, theo giờ của Washington. Lập tức Bắc Kinh khẳng định « trong tư thế sẵn sàng, quyết đấu đến cùng ».
Trung Quốc « de-risking » với MỹCơ quan tư vấn Capital Economics, trụ sở tại Luân Đôn đánh giá, lãnh đạo Trung Quốc nhận thấy rằng « kinh tế nước này đủ vững chắc để cưỡng lại mọi thủ đoạn của Donald Trump ».
Bên cạnh những lập luận mang tính tuyên truyền, giới tài chính đồng loạt cho rằng, « Trung Quốc đã rút kinh nghiệm từ cuộc chiến thương mại lần trước với chính quyền Trump và có những bước chuẩn bị kỹ hơn ».
Kế hoạch Made in China 2025 của chủ tịch Tập Cận Bình đã đem lại những kết quả cụ thể : Trung Quốc dẫn đầu một số lĩnh vực công nghệ mới, không chỉ là « công xưởng sản xuất hàng rẻ » mà đã trực tiếp cạnh tranh với các đối thủ ở Hoa Kỳ từ ô tô điện đến trí tuệ nhân tạo. Công cụ thông minh DeepSeek made in China đã khiến thế giới công nghệ ở Thung Lũng Silicon choáng váng.
Trong lĩnh vực vệ tinh không gian, tháng 11/2024 Brazil đã ký hợp đồng với Qiafan, một công ty khởi nghiệp « vô danh » lấn sân của Elon Musk cung cấp các dịch vụ vệ tinh
Về công nghệ bán dẫn, Trung Quốc cũng không còn hoàn toàn lệ thuộc vào các nhà cung cấp phương Tây. Trong số các nhà sản xuất máy bay dân sự, Airbus của châu Âu và Boeing của Mỹ không còn trong thế độc quyền từ khi dòng Comac C919 của Trung Quốc bắt đầu xuất hiện… Một điểm khác nữa cho phép ông Tập Cận Bình tự tin lao vào cuộc đọ sức với Washington : Nhà cung cấp thiết bị viễn thông Hoa Vi vẫn tồn tại và thịnh vượng đó là trước các đòn trừng phạt liên tiếp của hai đời tổng thống Mỹ, Donald Trump và Joe Biden.
Thị phần của Mỹ với Trung Quốc bị thu hẹpĐành rằng Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại quan trọng thứ ba của Hoa Kỳ sau Mêhicô và Canada, nhưng nếu như hồi 2017, hơn 20 % kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đổ về Mỹ, nay tỷ lệ đó rơi xuống còn chưa đầy 15 % theo các số liệu của Hải Quan Trung Quốc được tuần báo Anh The Economist trích dẫn. Nói cách khác về xuất nhập khẩu Trung Quốc ít lệ thuộc hơn vào Mỹ so với 8 năm về trước.
Báo Nhật Nikkei Asia trích lời bà Vương Đan, giám đốc công ty tư vấn Eurasia Group trụ sở tại Singapour, hồi 2017 « tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Hoa Kỳ chiếm khoảng 4 % GDP, nay tỷ lệ này chỉ còn là 3 % ».
Ngoài ra, để tiếp tục thâm nhập thị trường Mỹ, Bắc Kinh đã khai thác chiến lược « Trung Quốc +1 » qua một sô trung gian như Ấn Độ, hay Việt Nam và nhất là Mêhicô... Trong các khoản giao dịch hàng hóa Mỹ-Trung, cho đến hiện tại, Trung Quốc chủ yếu mua vào nông phẩm và năng lượng của Hoa Kỳ. Trước mắt, về dầu khí Bắc Kinh có thể trông cậy vào Nga. Về nông phẩm, ngũ cốc, Brazil và Achentina đã thu hẹp thị phần của các nông gia Hoa Kỳ, những thành phần cử tri ủng hộ Donald Trump.
Đất hiếm, tiền tệ, công cụ pháp lý : những loại vũ khí trong tay Trung QuốcKinh nghiệm từ « cuộc thương chiến lần thứ nhất » cũng do chính quyền Trump khởi động hồi 2018-2019 Trung Quốc đã tăng tốc chiến lược « tách rời khỏi » Hoa Kỳ cả về công nghệ lẫn thương mại. Và đó cũng là điểm khởi đầu cho phép nền kinh tế thứ hai toàn cầu không hề mặc cảm khi phải đương đầu với siêu cường số 1 thế giới. Do vậy Trung Quốc chuyển từ thế « thủ » sang thế tấn công ».
Mỹ phụ thuộc vào đất hiếm để sản xuất các vật dụng kết nối, điện ô tô điện, vũ khí, vệ tinh... Do vậy, trong số các đòn đáp trả Donald Trump « Giải Phóng » Hoa Kỳ, Bắc Kinh đã loan báo thông báo « hạn chế » xuất khẩu 7 kim loại hiếm sang Mỹ.
Một công cụ khác trong tay Bắc Kinh là phá giá đồng tiền quốc gia để hàng Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ vẫn hấp dẫn. Ngân Hàng Trung Ương đang hướng tới giải pháp này.
Thế rồi Trung Quốc cũng dùng lá bài « an ninh quốc gia » để điều tra các tập đoàn Mỹ xuất khẩu một số mặt hàng « lưỡng dụng » sang Hoa Lục, cũng khai thác công cụ pháp lý « chống cạnh tranh bất bình đẳng » để trừng phạt các doanh nghiệp của Hoa Kỳ. Điều đó không cấm cản các giới chức Bắc Kinh vẫn khẳng định Trung Quốc là một « mảnh đất màu mỡ cho các nhà đầu tư quốc tế »
Chiến tranh tâm lýVào lúc tại Hoa Kỳ, giới đầu tư « nhốn nháo » vì chính sách thuế quan của Donald Trump, nhiều nhà tỷ phú hàng đầu (Bill Ackmann, Larry Fink ..), những người từng ủng hộ ông Trump trong cuộc tranh cử tổng thống 2024 kêu gọi Washington « dừng tay » thì thứ trưởng Thương Mại Trung Quốc tiếp đại diện nhiều tập đoàn Mỹ như của hãng xe Tesla hay tập đoàn bảo hiểm GE Healthcare…
Ông Lăng Kích (Ling Jie) đưa ra thông điệp : Trung Quốc là « điểm đầu tư lý tưởng, an toàn và đầy hứa hẹn với các tập đoàn nước ngoài, với các doanh nghiệp của Mỹ ». So với thời điểm hôm 20/01/2025, ngày ông tổng thống Trump nhậm chức, 180 tỷ đô la tài sản của ba doanh nhân Mỹ giàu nhất hành tinh đã tan thành mây khói. Cổ phiếu của tập đoàn Apple mất giá trong nhiều phiên giao dịch liên tiếp từ khi Nhà Trắng loan báo áp thuế 34 % hàng từ Trung Quốc nhập khẩu sang Hoa Kỳ, do 85 % các sản phẩm mang nhãn hiệu quả táo do nhân công Trung Quốc tạo ra để cung phục vụ các khách hàng Mỹ. Cũng chính vì biện pháp thuế sắp tới của tổng thống Trump mà dân Mỹ đua nhau sắm điện thoại thông minh trước khi giá mỗi chiếc iPhone trên thị trường đắt thêm từ 200 đến 300 đô la.
Vỏ quýt dầy, móng tay nhọnSong bên cạnh những tuyên bố mạnh mẽ cả từ phía Bắc Kinh lẫn Washington, thực tế không thể chối cãi là tổng thống Mỹ đã mở một cuộc thương chiến với toàn cầu Trung Quốc là mục tiêu chính bị nhắm tới. Thiệt hại đầu tiên hết và nghiêm trọng nhất đè nặng lên hai nước liên quan. Nhà Trung Quốc học Valérie Niquet, thuộc Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược của Pháp nhấn mạnh đến điểm kẹt của Bắc Kinh trong cuộc đọ sức này :
« Từ lâu nay ai cũng biết Trung Quốc bị thiệt hai nhiều trong cuộc đọ sức với Hoa Kỳ. Tập Cận Bình và những người tiền nhiệm đã đề ra mục tiêu điều chỉnh lại và lấy lại cân bằng trong mô hình phát triển, để cỗ máy sản xuất ít ngốn năng lượng hơn, để tiêu thụ nội địa là lực đẩy cho tăng trưởng của Trung Quốc. Nhưng từ đó đến nay, Bắc Kinh vẫn chưa thực hiện được mục tiêu này. Trung Quốc kỳ vọng bơt bị phụ thuộc vào xuất khẩu nhưng cho đến hiện tại thì xuất khẩu vẫn là đầu tàu kinh tế và Trung Quốc phụ thuộc nhiều hơn vào các thị trường nước ngoài, nhất là hai thị trường phát triển nhất là Mỹ và châu Âu. Nếu Hoa Kỳ đóng cửa thị trường, thì tác động đầu tiên đè năng lên người tiêu dùng ở Mỹ nhưng Trung Quốc cũng bị vạ lây »
Nguy cơ bấn ổn nội địa Trung QuốcCuộc chiến thương mại phiên bản 2 của ông Trump nổ ra vào lúc kinh tế Trung Quốc vẫn chưa phục hồi sau đại dịch COVID 19 và chưa thoát khỏi khủng hoảng địa ốc kéo dài. Valérie Niquet :
« Chiến tranh kinh tế gia tăng cường độ giữa hai siêu cường thế giới này đã bắt đầu dẫn tới những hệ quả đối với toàn cầu chứ không chỉ giới hạn ở Hoa Kỳ và Trung Quốc. Bắc Kinh đã có các biện pháp trả đũa : áp thuế 34 % lên tất cả các mặt hàng Mỹ như đã loan báo. Tuy nhiên nếu chúng ta nhìn vào các sản phẩm của Trung Quốc bán sang Hoa Kỳ thì tổng cộng hàng Trung Quốc bị đánh thuế hải quan hơn 60 %. Không mấy khi tôi bênh vực cho Trung Quốc, nhưng phải công nhận rằng, mức thuế này là quá nặng và bị tung ra vào thời điểm bất lợi cho Trung Quốc. Kinh tế nước này đang đình đốn và từ nhiều năm qua, Trung Quốc vẫn chưa hoàn thành mục tiêu tăng tiêu thụ nội địa để bớt phụ thuộc vào xuất khẩu như vừa nói. Thành thử quyết định của Washington tuần trước, có nguy cơ gây bất ổn trong xã hội Trung Quốc và nguy cơ này là rất, rất lớn » .
Tác động đối với Trung Quốc cũng sẽ mạnh hơn so với cuộc chiến thương mại hồi 2018-2019 do Hoa Kỳ cũng đã rút kinh nghiệm trong thương lượng với Bắc Kinh. Trong kế hoạch thuế quan lần này, châu Á là khu vực bị đánh nặng nhất. François Monnier, tổng biên tập tuần báo Investir chuyên về đầu tư :
« Chúng ta thấy rõ mục tiêu của Donald Trump là để chuẩn bị cho một cuộc đối đầu với Trung Quốc. Chính vì thế mà Washington đánh thuế rất nặng vào các nước châu Á : Trung Quốc bị 34 % nhưng các nước châu Á khác cũng chịu mức thuế rất cao, tránh để Bắc Kinh sử dụng lại chiến lược Trung Quốc + 1, tức là di dời sản xuất sang các quốc gia chung quanh. Chúng ta thấy Việt Nam bị đánh thuế 46 %. Ở nhiệm kỳ đầu chính quyền Trump đã phạm phải sai lầm chỉ tập trung vào Trung Quốc và do vậy mà các doanh nghiệp nước này chuyển hướng đầu tư sang Việt Nam để từ Việt Nam, xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Lần này chúng ta thấy Mỹ tấn công một cách toàn diện vào châu Á ».
Ngày 30/03/2025 các quan chức cao cấp ba nước Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, ba nhà vô địch về xuất khẩu của châu Á họp tại Seoul và bàn về kế hoạch « hợp tác », hướng tới một « khu vực tự do mậu dịch » ba bên. Như thể dưới tác động của « trận bão » mang tên Trump, Tokyo, Bắc Kinh và Seoul tạm gạt sang một bên các bất đồng để cứu nguy kinh tế.
Cũng dưới tác động của « Ngày Giải Phóng », Washington tạo cơ hội để Liên Hiệp Châu Âu và Trung Quốc tìm được một sân chơi chung. Thủ tướng Lý Cường và chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, Ursula Von der Leyen trong cuộc điện đàm hôm 08/04 đã nhấn mạnh đến « trách nhiệm của Liên Âu tránh gây thêm căng thẳng thương mại toàn cầu ». Đây cũng có thể là cơ hội để làm sống lại thỏa thuận đầu tư mà Bruxelles và Bắc Kinh đã ký vội vào cuối 2020 nhưng từ đó đến này hoàn toàn bị lãng quên.
Sau cùng như báo The Economist nhận định chính sách thuế quan của ông Trump đẩy lạm phát ở Hoa Kỳ lên cao, dân Mỹ càng khó cai nghiện « hàng rẻ Trung Quốc »
Nhưng Trung Quốc ý thức rằng, chiến tranh thương mại Washington khai mào có sức công phá rất lớn nếu như Donald Trump hủy hoại kinh tế Hoa Kỳ. Nền kinh tế số 1 thế giới bị đình đốn hay suy thoái thì sẽ là « một thảm họa » với hàng ngàn, hàng chục ngàn công ty Trung Quốc gia công cho các hãng của Mỹ. Các nhà xuất khẩu Trung Quốc cũng bị kéo vào vòng xoáy khủng hoảng vì cho đến nay chưa một thị trường nào trên thế giới, kể cả tại 27 nước Liên Âu có được sức mua mạnh như của 350 triệu dân Mỹ.
Ngày 02/04 được gọi là « Ngày Giải Phóng » Hoa Kỳ khỏi tình trạng hàng sản xuất ở nước ngoài tràn vào Mỹ, chấm dứt tình trạng thế giới « cướp tài sản và công việc làm của người Mỹ, hủy hoại nền công nghiệp Mỹ». Tổng thống Trump trông cậy vào chiếc đũa thần « thuế đối ứng ». Với Nhà Trắng, thuế hải quan là công cụ hiệu quả nhất để bảo đảm an ninh kinh tế cho Hoa Kỳ đang bị Châu Á và Châu Âu đe dọa.
Nhưng 24 giờ đồng hồ trước khi có hiệu lực vào ngày 02/04/2025, kế hoạch « Giải Phóng » nước Mỹ vẫn là một ẩn số. Những quốc gia nào, những mặt hàng nào trong tầm ngắm của chính quyền Trump ? Bên cạnh câu hỏi ai được ai thua trong cuộc chiến thương mại « toàn diện » này, quan trọng hơn nữa là Washington đang hình thành một trật tự mới về mậu dịch, để Hoa Kỳ chiếm lại thế thượng phong trước Châu Á và Châu Âu.
Cho đến trước ngày Hoa Kỳ công bố chiến lược thương mại « giải phóng nước Mỹ », giao dịch trên các sàn chứng khoán từ Âu sang Á và cả ở Hoa Kỳ đều trong tình trạng « tê liệt ». Cho đến phút chót, mỗi nhà lãnh đạo tại các quốc gia xuất siêu sang Hoa Kỳ vẫn kỳ vọng đạt được một thỏa thuận với Washington nhờ có « quan hệ tốt với tổng thống Trump ». Chỉ có một số rất ít như Canada hay Trung Quốc đã dứt khoát chọn giải pháp đối đầu.
Trump hay « Mr. 25 % »Donald Trump sẽ « giải phóng nước Mỹ » như thế nào ? Từ ngày trở lại cầm quyền hôm 20/01/2025, ông chỉ sử dụng một phương pháp : uy hiếp các quốc gia giao thương với Hoa Kỳ.
Chủ nhân Nhà Trắng quan niệm những quốc gia có thặng dư mậu dịch với Mỹ là do « ăn bám » Hoa Kỳ, do « lạm dụng lòng tốt của nước Mỹ ». Danh sách này bao gồm các nước từ Liên Hiệp Châu Âu đến Hàn Quốc, Nhật Bản, Brazil, Ấn Độ …
Từ đầu tháng 2/2025, Mỹ đã hai lần tăng thuế nhập khẩu nhắm vào hàng Trung Quốc ( 10 rồi 20 %). Từ ngày 12/03/2025, nhôm và thép của thế giới xuất khẩu sang Hoa Kỳ đã bị đánh thuế 25 %, cho dù các nhà sản xuất ở Mỹ chỉ đủ sức cung ứng 50 % nhu cầu tiêu thụ nội địa.
Eva Morletto, thông tín viên tại Paris của tờ báo Ý Grazia, trên đài RFI nói đến hệ quả tai hại khi Mỹ tăng thuế 25 % đánh vào ngành xuất khẩu của Ý: « Rượu vang của Ý cũng bị nhắm tới, 25 % xuất khẩu của Ý hướng về thị trường Mỹ. Nếu bị đánh thuế 25 %, thiệt hại đối với các nhà sản xuất của sẽ lên tới 500 triệu euro. Các mặt hàng xa xỉ cũng bị nhắm tới. Hiện tại, Roma đang cân nhắc giải pháp nào thích hợp hơn cả để đối phó với chính sách bảo hộ của Donald Trump. Nguy hiểm ở đây là thị trường bị đẩy vào cảnh bấp bênh, không biết tương lai ra sao. Các doanh nghiệp không dám mạnh dạn đầu tư ».
Ba thay đổi lớnTình huống lại càng bấp bênh hơn nữa, do trên nguyên tắc, ít nhất ba thay đổi lớn đánh dấu cột mốc 02/04/2025 : Washington tăng thêm 25 % thuế nhắm vào tất cả xe hơi sản xuất ở ngoại quốc bán sang Hoa Kỳ. Xe của châu Âu, Hàn Quốc và Nhật Bản, xe Mỹ sản xuất từ các nhà máy ở Mêhicô, xe Mỹ sử dụng phụ tùng nhập từ Canada là những nạn nhân hàng đầu.
Canada và Mêhicô, hai đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ (75 % và 80 % xuất khẩu của hai quốc gia này là để phục vụ thị trường Mỹ), đang lo lắng hơn cả, vì trên nguyên tắc kể từ ngày 02/04/2025 Washington đánh thuế thêm 25 % vào hàng của hai quốc gia này xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
« Cái đinh cuối cùng đóng xuống cỗ quan tài của WTO »Biện pháp thứ ba là Mỹ áp dụng chính sách « thuế đối ứng » mà giới trong ngành gọi là « một quả bom tấn, một loại vũ khí hủy diệt hàng loạt hay cái đinh cuối cùng đóng xuống cỗ quan tài của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO ».
Nguyên tắc của loại « vũ khí hủy diệt hàng loạt » này khá đơn giản : nếu một nước như Ấn Độ áp dụng mức thuế nhập khẩu 40 % vào một mặt hàng của Mỹ, thì Washington cũng đáp trả « tương ứng » vào cùng mặt hàng này của Ấn Độ thâm nhập thị trường Hoa Kỳ. Nếu xe của Mỹ bán sang châu Âu bị đánh thuế 5 % thì không có lý do gì xe của châu Âu xuất sang Hoa Kỳ chỉ bị thuế 3,4 %.
Theo thẩm định của Phòng Thương Mại Quốc Tế International Chamber of Commerce (ICC), trụ sở tại Paris, để áp dụng chính sách « thuế đối ứng » Washington cần lập tức điều chỉnh mức thuế hải quan của « 13.000 mặt hàng trên thế giới do các nhà cung cấp từ 200 quốc gia khác nhau » bán sang Hoa Kỳ. ICC là một tổ chức quy tụ 14 triệu doanh nghiệp xủa 170 quốc gia.
Thuế đối ứng « giải phóng » nước Mỹ hay chỉ là « bánh vẽ » ?Donald Trump quả quyết đánh thuế hàng nhập khẩu cho phép thu về « hàng chục tỷ, thậm chí là cả ngàn tỷ đô la » cho nước Mỹ. Người Mỹ đã bị « lạm dụng ». Tổng thống Mỹ dự trù, với món tiền khổng lồ đó, chính phủ sẽ giảm thuế cho các hộ gia đình và doanh nghiệp, tăng chi phí xã hội và quốc phòng …
Cố vấn thương mại của Nhà Trắng, Peter Navarro, chừng mực hơn khi cho rằng « dưới sự dẫn dắt sáng suốt của tổng thống » khi sử dụng các đòn thuế quan, « ngân sách Hoa Kỳ mỗi năm thu về được thêm 600 tỷ đô la. Đây là một món tiền rất lớn nếu so sánh với tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ năm 2022 là 3.200 tỷ đô la ».
Trái lại, theo một nghiên cứu của đại học Yale, với mức thuế hải quan 25 %, thu nhập của các hộ gia đình Mỹ sẽ bị sụt giảm từ 2.700 đô la đến 3.000 đô la mỗi năm. Tăng thuế 25 % đánh vào trái cây của Mehicô báng sang Hoa Kỳ thì người tiêu dùng Mỹ sẽ phải mua hoa quả với giá đắt hơn 25 %.
Kịch bản có thể còn tệ hơn nữa nếu như các bạn hàng của Hoa Kỳ « ăn miếng trả miếng » đáp trả chính sách bảo hộ của ông Trump.
Cái giá mà các doanh nghiệp Mỹ phải trả cũng sẽ đắt không kém. Cho đến ngày 01/04/2025, Canada đã đánh thuế vào 40 tỷ đô la hàng Mỹ và dự trù tăng thuế nhập khẩu nhắm vào 280 tỷ đô la hàng Mỹ nhập vào Canada. Mêhicô trong thế yếu, vì xuất khẩu lệ thuộc đến 80 % vào Mỹ, nên đang chờ đợi để đàm phán.
Trung Quốc đã tăng 10 và 15 % thuế nhắm vào hàng Mỹ và thậm chí là « đánh luôn cả vào nông phẩm của Hoa Kỳ », một điểm nhạy cảm về mặt chính trị đối với Donald Trump. Châu Âu đã đáp trả biện pháp của Mỹ đánh thuế nhôm thép và tiếp tục phối hợp tìm cách trả đũa cân xứng.
Nhưng các cố vấn kinh tế và thương mại của Nhà Trắng và tổng thống Hoa Kỳ xem những tác động này chỉ là tạm thời trước khi kinh tế Mỹ trở lại thời kỳ cực thịnh.
Lionel Zinsou, chủ tịch trung tâm nghiên cứu Terra Nova, trên đài truyền hình Arte, ghi nhận Bruxelles cũng có những công cụ để chống lại chính sách bảo hộ của Hoa Kỳ : « Mỹ luôn nghĩ là họ bị thiệt thòi, Liên Hiệp Châu Âu gây trở ngại cho tăng trưởng và sự phát triển của Hoa Kỳ. Đúng là về hàng hóa, Mỹ bị thâm hụt mậu dịch với Châu Âu, nhưng nhìn đến các dịch vụ thì không. Liên Hiệp Châu Âu lệ thuộc vào công nghệ kỹ thuật số của Hoa Kỳ, vào các hệ thống phân phối phim của Mỹ … Nhìn chung, mậu dịch hai chiều tương đối khá cân bằng. Trong điều kiện đó, Bruxelles cũng có điều kiện để đáp trả các đòn trừng phạt của Washington. Nếu Châu Âu đáp trả bằng cách trừng phạt các tập đoàn công nghệ số thì đây sẽ là một vố đau đối với Hoa Kỳ và chính quyền Trump ý thức được điều đó ».
Bảo hộ : Trump chỉ là một sự tiếp nốiGrégory Vanel, giáo sư kinh tế Đại Học Kinh Doanh Grenoble, nhấn mạnh về thương mại, chính sách bảo hộ của ông Trump chỉ là một sự tiếp nối từ nhiều đời tổng thống Hoa Kỳ : « Donald Trump phần nào là người kế thừa hai thập niên chính sách đối ngoại của Mỹ với nghi vấn về vị trí của Hoa Kỳ trên bàn cờ thương mại và kinh tế thế giới. Từ thời tổng thống Barack Obama, khi ông quyết định xoay trục sang châu Á, đến nay, chúng ta thấy rõ sự đối đầu giữa Mỹ với Trung Quốc, mà hiển nhiên hơn cả là trên hồ sơ Đài Loan. Washington và Bắc Kinh đọ sức với nhau về công nghệ bán dẫn. Cũng đã có một sự tiếp nối trong chính sách thương mại dưới thời chính quyền Biden với chính sách của ông Trump, thể hiện qua quyết tâm gạt bỏ các định chế đa quốc gia. Về mặt kỹ thuật mà nói thì coi như Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế đã bị khai tử. Với chính quyền Trump, biện pháp thế đối ứng là cái đinh cuối cùng đóng vào quan tài để chôn WTO ».
Một trật tự mới về thương mại toàn cầuTrả lời đài RFI từ thủ đô Washington, nơi đặt trụ sở quỹ nghiên cứu German Marshall Fund of the United States, bà Alix Franguel Alves đưa ra một nhận xét khác, cho rằng chính sách thuế quan của ông Trump trước hết nhằm lấy lại vị trí trung tâm trên bàn cờ thương mại thế giới, vào lúc mà Hoa Kỳ trong thế nhập siêu kinh niên, thâm hụt mậu dịch của Mỹ năm 2024 lên tới 3.000 tỷ đô la. Trên bàn cờ thương mại toàn cầu, Mỹ chỉ còn chiếm 13 %.
« Rất rõ ràng là, đối với Donald Trump, chính sách bảo hộ America Business First hoàn toàn phù hợp với tầm nhìn của ông về quan hệ quốc tế. Hàng rào quan thuế là công cụ điều khiển chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với phần còn lại của thế giới, bất luận đó là đồng minh hay là các đối thủ của Mỹ. Do vậy, chiến tranh thương mại, theo ông, là một chiến lược cho phép Washington sử dụng tất cả những công cụ có sẵn trong tay để phục vụ lợi ích của Hoa Kỳ và bảo đảm an toàn về kinh tế cho nước Mỹ. Hiểu theo nghĩa đó, Donald Trump đánh thuế hàng nhập khẩu vào Mỹ không chỉ nhằm thu hẹp nhập siêu hay để làm sống lại cả mảng công nghiệp của quốc gia này và đưa các nhà máy trở về nước Mỹ. Ông Trump coi đây là một công cụ, một vũ khí để tự vệ trong bối cảnh địa chính trị nhiễu nhương hiện nay. Và theo quan điểm của chủ nhân Nhà Trắng, mối đe dọa về thương mại và kinh tế lớn nhất chính là Châu Âu, là an ninh của châu lục này cũng như chiến tranh Ukraina ».
Trước chính sách bảo hộ của Mỹ, phần còn lại của thế giới từ Âu sang Á đều đã có những bước chuẩn bị. Từ năm 2017, Liên Âu đàm phán về 8 thỏa thuận tự do mậu dịch và vừa khởi động lại đối thoại trong lĩnh vực này với Malaysia.
Trung Quốc chạy nước rút để thông qua những thỏa thuận « đối tác chưa từng có », nhất là với các nước châu Á. Vào lúc tại Washington, tổng thống Trump ồn ào đe dọa đánh thuế toàn cầu, Bắc Kinh âm thầm ký kết thêm những thỏa thuận đối tác khác, như vừa đạt được với quần đảo Cook ở mãi tận Nam Thái Bình Dương. Trung Quốc cũng vừa khởi động đàm phán với Kirghistan tại Trung Á.
Cũng chính sách bảo hộ này của Mỹ đã thúc đẩy Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc xích lại gần nhau sau cuộc họp cuối tuần qua tại Seoul, để hướng tới « đàm phán về một thỏa thuận tự do mậu dịch » giữa ba quốc gia Đông Bắc Á này.
Thế rồi, trong lúc Hoa Kỳ bắt thế giới phải chạy theo những thông báo « sốc » gần như hàng ngày của Donald Trump, Bắc Kinh đã từng bước xây dựng mạng lưới công nghiệp và công nghệ để chuẩn bị đối đầu với Mỹ. Điển hình là Trung Quốc đã hiện diện trong các lĩnh vực tưởng chừng Hoa Kỳ đang dẫn đầu, như trí tuệ nhân tạo, với sự xuất hiện bất ngờ của DeepSeek, hay Trung Quốc vừa loan báo đầu tư đến hơn 40 tỷ đô la để cũng có được bí quyết như của tập đoàn Hà Lan ASML trong lĩnh vực sản xuất máy chế tạo bọ điện tử tiên tiến nhất.
Sau cùng, khi nước Mỹ khai thác chiến thuật « hù dọa và o ép » các đối tác bằng sức mạnh kinh tế, thì sau này khó ai có thể trách Trung Quốc cũng dùng lại lá bài này với các quốc gia trong khu vực, từ Đài Loan đến các quốc gia Đông Nam Á …
From the publisher's feed
Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

221 Listeners

2 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

25 Listeners

2 Listeners

7 Listeners

5 Listeners

12 Listeners

7 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

46 Listeners

1 Listeners

24 Listeners

6 Listeners