Tạp chí xã hội

Tạp chí xã hội

By RFI Tiếng ViệtSociety & Culture
Download on the App Store

Tạp chí xã hội episodes

  • Ngành điện ảnh AI ba “không” của Trung Quốc : Không diễn viên, không biên kịch, không đạo diễn

    Nhiều tên tuổi lớn trong lĩnh vực công nghệ và truyền thông của Trung Quốc đang dồn lực vào lĩnh vực điện ảnh. Trong tháng 9 vừa qua, nền tảng video ngắn Kuaishou đã công bố kế hoạch hỗ trợ các phim ngắn nhiều tập được tạo bằng trí tuệ nhân tạo, trong khi bộ phận video của tập đoàn công nghệ Tencent đã phát động một “cuộc thi làm phim ngắn AI”. 

    Trước đó hồi tháng 3, nền tảng phát trực tuyến iQIYI đã ra mắt một công cụ có tên Nadou Pro, cung cấp cơ sở dữ liệu hình ảnh và giọng nói của các diễn viên để làm phim với trí tuệ nhân tạo mà không cần thuê diễn viên. Những công ty như ByteDance cũng đang phát triển những nền tảng phức hợp, sử dụng trí tuệ nhân tạo, có khả năng quản lý toàn bộ quy trình sản xuất, từ viết kịch bản cho đến phân phối phim. Trong cuộc chạy đua công nghệ đó, các AI ngày càng được đầu tư và phát triển, còn những diễn viên, biên kịch và đạo diễn lại bị bỏ lại phía sau.

    Không cần diễn viên

    Cuối tháng Ba vừa qua, nền tảng chiếu phim trực tuyến iQIYI, thường được so sánh như Netflix của Trung Quốc, đã công bố việc xây dựng một cơ sở dữ liệu tập hợp hình ảnh và giọng nói của khoảng một trăm diễn viên, những người đồng ý “bán” dữ liệu nghe nhìn của mình, để trí tuệ nhân tạo sử dụng trong quá trình làm phim. Các diễn viên được quay từ mọi góc độ, và giọng nói của họ được ghi âm trong nhiều điều kiện khác nhau. AI sẽ ghi nhớ, tổng hợp và trích xuất các dữ liệu này để tự tạo ra các dữ liệu kỹ thuật số như biểu cảm khuôn mặt, chuyển động môi, cử chỉ, ngữ điệu và cách nói chuyện.

    Một khi đã tích lũy đủ dữ liệu, AI có thể tạo ra những cảnh quay mới mà không cần diễn viên thực sự xuất hiện tại trường quay hoặc thu âm lời thoại mới, như thể chính diễn viên đang trực tiếp nói và diễn xuất. Cuối cùng, các diễn viên tự đào tạo bản sao kỹ thuật số của chính mình, rồi những bản sao này thay thế họ; trong khi các công ty sản xuất tiếp tục chỉ sử dụng “diễn viên AI” và sa thải những con người ban đầu. Vậy là không còn cần đến những khoản ngân sách khổng lồ để thuê diễn viên, thuê phim trường hay di chuyển đến các bối cảnh tự nhiên, cũng không còn phải xử lý những vấn đề về lịch trình hay bảo hiểm của các ngôi sao điện ảnh lớn. Giờ đây, với một câu lệnh được đưa ra, AI có thể cho diễn viên “diễn” bất cứ khi nào và theo bất cứ cách nào.  

    Cũng chẳng cần biên kịch và đạo diễn

    Sáng tạo vốn là một khả năng đặc biệt của con người mà AI không có được. Vậy thì phải chăng những công việc yêu cầu tính sáng tạo cao như biên kịch hay đạo diễn dường như không phải đối mặt với nỗi lo bị AI thay thế ? Thực tế hiện nay tại ngành công nghiệp làm phim Trung Quốc lại cho thấy điều ngược lại. Đúng là AI vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tạo ra các sản phẩm điện ảnh dài và công phu. Trả lời tờ South China Morning Post, nhà sản xuất phim Liu Zhanhao nhận định rằng việc duy trì tính nhất quán của nhân vật và bối cảnh, diễn giải những văn bản phức tạp và khắc phục giới hạn về độ dài của các đoạn video vẫn là những điểm nghẽn lớn mà “bộ não” của trí tuệ nhân tạo chưa vượt qua được.

    Tuy nhiên xu hướng hiện nay ở Trung Quốc lại không phải là tạo ra các tác phẩm phim dài với những nội dung sâu sắc và sáng tạo. Với sự ra đời của Tiktok, xu hướng làm phim ngắn khoảng vài chục giây đến một vài phút cho mỗi tập và theo dạng quay dọc để phù hợp với màn hình điện thoại đang lên ngôi. Financial Times dẫn số liệu từ Hiệp hội Dịch vụ Phát sóng Trực tuyến Trung Quốc, cho biết trong quý I năm 2026, khoảng 128.000 phim ngắn nhiều tập đã được phát hành tại Trung Quốc, cao hơn hơn ba lần so với tổng số của cả năm trước, và 95% trong số đó được tạo ra bằng AI. Yêu cầu tối quan trọng với những nội dung này đó là phải kịch tính, phải cho khán giả thấy cao trào ngay lập tức để giữ chân họ, với các tập thường kết thúc ở đúng thời điểm người xem muốn biết chuyện gì xảy ra tiếp theo. Xung đột phải mạnh hơn, nhân vật phải cực đoan hơn, cú trả thù phải nhanh hơn. Còn sự tinh tế trong cách kể chuyện và chọn góc quay, hay những diễn biến tâm lý phức tạp của con người, rồi thậm chí là tính logic trong mạch chuyện đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu.

    Nhà sản xuất Liu nhận xét : “Khán giả đang xem những gì mà chúng tôi gọi là các bộ phim thỏa mãn kiểu ‘tắt não’. Họ muốn những cú twist, những tình tiết bi kịch hóa, sự cường điệu.” Trong khi đó Ivy Yang, nhà sáng lập công ty tư vấn Wavelet Strategy, cho rằng phim ngắn sẽ dần biến thành những nội dung AI rập khuôn, sản xuất hàng loạt. Bà Yang nhận định rằng logic sản xuất hiện giờ là “với chi phí thấp nhất, tốc độ nhanh nhất và những cú hích dopamine mạnh nhất.” Lướt một loạt các bộ phim ngắn của Trung Quốc có thể thấy một vài mô-típ quen thuộc như một vị tổng giám đốc trẻ tuổi, giàu có và độc đoán yêu một cô gái nghèo, hay những người bị làm nhục rồi quay trở lại phục thù, chủ tịch giả nghèo bị khinh thường sau đó tiết lộ thân phận thật, v.v. Những nội dung gần như y hệt nhau và không có gì sáng tạo nhưng lại giúp khán giả giải trí mà không yêu cầu phải động não hay kiên nhẫn chờ tình tiết mới. Và theo bà Yang những công thức lặp đi lặp lại này thì AI có thể dễ dàng sao chép và tạo ra kịch bản và cảnh quay mới từ những nội dung cũ với chỉ một câu lệnh.

    Hiện thực hóa giấc mơ tự làm phim 

    Điểm sáng rõ ràng nhất mà các công cụ AI đem tới cho các nhà làm phim đó là việc tiết kiệm thời gian và công sức. Financial Times dẫn lời ông Shen Yang, giáo sư tại Đại học Thanh Hoa kiêm giám đốc công ty hoạt hình AI Zeelin, nếu như vào năm 2024, việc sản xuất một bộ phim dài 3 đến 5 phút sẽ cần 5 người trong 3 tháng, thì ngày nay chỉ cần một nhân viên làm việc trong khoảng một đến hai ngày. Chi phí sản xuất cũng chỉ bằng khoảng 10% so với khi có sự tham gia của con người, ở mức 600-800 nhân dân tệ cho mỗi phút.

    Hơn thế, với những nhà làm phim độc lập, sự xuất hiện của AI cũng mang tới những thay đổi lớn. Thông thường để sản xuất một bộ phim sẽ cần tới một ê-kíp quay phim, máy móc thiết bị, số lượng diễn viên nhất định, xe di chuyển tới các địa điểm quay, v.v. mà những thứ này thì không phải nhà làm phim độc lập nào cũng có thể xoay sở được. Do vậy mà nhà làm phim người Đức Mark Wachholz cho rằng AI làm giảm những rào cản vốn khiến nhiều người có ý tưởng nhưng không đủ nguồn lực để bước vào ngành điện ảnh.

    Đồng quan điểm, ông Nicolas Guyon, nhà báo và chuyên gia huấn luyện trí tuệ nhân tạo nhận định trên RFI Pháp ngữ : “AI có thể tạo ra một cuộc cách mạng với ngành công nghiệp điện ảnh. Tôi cho rằng AI sẽ giúp cho tất cả mọi người đều có thể sản xuất phim. Tôi thường nói rằng trí tuệ nhân tạo sẽ giúp giúp ngành điện ảnh trở nên tốt hơn, nhanh hơn, rẻ hơn và dễ tiếp cận hơn. Giờ đây một thiếu niên với chiếc máy tính được hỗ trợ bởi AI có thể trở thành một nhà làm phim. Chỉ cần từ những câu lệnh, AI có thể tạo ra các hình ảnh, các cảnh phim chất lượng. Thực tế thì từ hai năm trở lại đây chúng ta đã thấy sự tiến bộ không ngừng của công cụ này. Trong năm 2023, 2024, các hình ảnh do AI tạo ra đã trở nên thực hơn rất nhiều. Còn đến năm 2025, tôi nghĩ đây thực sự là một năm của video. Các công cụ tạo video tích hợp AI đã không ngừng tiến bộ và tạo ra các video chân thực. Từ đó, chúng ta ai cũng có thể trước hết là tạo ra các bộ phim ngắn và sau đó thậm chí là cả các tác phẩm dài.”

    Vậy là giờ đây, bất cứ ai có ý tưởng đều có thể thử nghiệm ý tưởng đó mà không cần có ngân sách khủng để chi trả cho trường quay, diễn viên hay cả một ê-kíp làm phim hùng hậu. Nền tảng chiếu phim iQIYI của Trung Quốc cho rằng đây sẽ là xu hướng trong tương lai và tự định hình mình như một nền tảng chia sẻ phim do các cá nhân tạo ra, thay vì các hãng phim truyền thống. Theo FranceInfo, sự phát triển này gợi nhớ đến cuộc cách mạng YouTube, khi các video do các cá nhân tự làm ra đã vượt qua nội dung do các đài truyền hình sản xuất. Từ đây, một loại hình nghề nghiệp mới đã mở ra : nhà sáng tạo nội dung video. 

    Lo ngại về môi trường, bản quyền và làn sóng thất nghiệp 

    Bên cạnh những người lạc quan tin tưởng vào sự cộng tác giữa trí tuệ con người và trí tuệ của máy tính, nhiều người khác có phần e dè hơn, đặc biệt khi xét đến những hiểm họa về môi trường, nguy cơ đánh cắp dữ liệu và bản quyền, cũng như làn sóng sa thải hàng loạt.

    Ông Guillaume Grallet, tổng biên tập chuyên mục Khoa học và Công nghệ của báo Le Point, khách mời thường trực trong chương trình Khoa học Tech24 của kênh France 24 nhận định : “Việc tiêu thụ năng lượng đã bùng nổ. Số năng lượng cần thiết để Chat-GPT thực hiện một câu lệnh cao gấp 100 lần so với việc tra cứu thông tin trên Google. Còn nếu muốn tạo một hình ảnh hay một video, khối lượng CO2 tạo ra cho môi trường cũng tăng lên đáng kể. Tôi xin trích dẫn một nghiên cứu của trường Bách Khoa Paris Polytechnique về chủ đề này, theo đó việc sử dụng Chat-GPT khiến khối lượng CO2 thải ra môi trường đã tăng lên gấp ba lần và lượng tiêu thụ điện năng bùng nổ tại Mỹ.”

    Trong khi đó, Elizabeth Le Hot, tổng giám đốc Adami (Tổ chức Dân sự về Quản lý Quyền của Nghệ sĩ biểu diễn và Nhạc sĩ) tập trung vào nỗi lo về việc các nghệ sĩ bị đánh cắp hình ảnh, âm thanh và cả sự sáng tạo. Trả lời RFI Pháp ngữ, bà nói : “Các nghệ sĩ đang cảm thấy vô cùng lo lắng về AI. Chúng tôi đã phỏng vấn họ hồi tháng 10 năm ngoái, 79% trong số họ cảm thấy rằng AI mang lại nhiều mối đe doạ hơn là lợi ích. Họ bày tỏ nỗi lo về việc AI bắt chước theo hình ảnh và giọng nói của một nghệ sĩ để tạo ra các cảnh phim mà không được sự cho phép của họ. Rồi còn cả các nhà soạn nhạc lo lắng về việc các tác phẩm của mình bị đánh cắp.”

    Ngoài ra còn phải kể tới làn sóng thất nghiệp đang tràn vào ngành sản xuất phim ngắn. Kênh Channel New Asia kể về câu chuyện của anh Xu Peng, từng là một diễn viên phim ngắn có tiếng tại Trung Quốc, giờ về quê bán rau. Trong năm 2025, nam diễn viên này đóng vai chính trong hàng loạt bộ phim ngắn, với lịch trình kín mít từ 15-16 tiếng quay phim mỗi ngày, Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi khi AI có thể tự tạo ra các cảnh quay mới bằng ngân hàng dữ liệu về biểu cảm khuôn mặt, dáng đi và giọng nói của các diễn viên. Xu Peng từ chỗ kín lịch giờ thất nghiệp. Sau khi hoàn thành bộ phim ngắn cuối cùng vào đầu năm nay, anh đã thu dọn đồ đạc để trở về quê nhà ở vùng nông thôn Sơn Đông và bán rau tại một chợ địa phương.

    Theo Channel New Asia, Xu Peng không phải là diễn viên duy nhất bị ảnh hưởng bởi sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực của mình. Theo các báo cáo gần đây, phim ngắn do AI tạo ra đã ảnh hưởng đến gần hai triệu việc làm trong ngành công nghiệp phim ngắn của Trung Quốc. Trước đây, các diễn viên phim ngắn hàng đầu từng kiếm được tới 20.000 nhân dân tệ mỗi ngày, nhưng hiện nay nhiều người phải vật lộn để tìm việc ngay cả với mức lương 1.200 nhân dân tệ một ngày.

    10 min
  • Trung Quốc và tham vọng đưa người máy từ phim viễn tưởng ra đời thực

    Với tham vọng trở thành cường quốc robot, Trung Quốc đã đầu tư mạnh vào ngành công nghiệp đầy tiềm năng này trong thời gian gần đây. Từ các xưởng sản xuất robot quy mô lớn đến các « trường đào tạo robot », Bắc Kinh hiện được cho là đang dẫn đầu ngành, khi thường xuyên ra mắt những kỹ năng mới của người máy, liên tục phá vỡ các kỷ lục.

    Vào năm 2050 theo ước tính của Morgan Stanley, thế giới dự kiến có khoảng 1 tỷ người máy.  90% trong số đó sẽ thay thế các công việc thủ công và lặp đi lặp lại trong công nghiệp. Và Trung Quốc sẽ sở hữu đội quân robot lớn nhất thế giới với hơn 302 triệu robot hình người. Các hãng robot của Trung Quốc như Unitree, Agibot, UBTech hiện đang thống trị thị trường toàn cầu.

    Bắc Kinh cũng mạnh mẽ thúc đẩy thị trường mới nổi này. Robot được cho là giải pháp hữu hiệu đối với các vấn đề như thiếu hụt lao động trong tương lai, cải thiện năng suất… Các robot không chỉ đảm đương các công việc thủ công, mà cả phần giải trí thể thao.

    Các kỷ lục về khả năng của robot liên tục bị phá vỡ. Ví dụ như người máy A2 của Agibot, đi bộ 100 km từ Tô Châu đến Thượng Hải, lập kỉ lục Guiness vào năm 2025. Vào tháng 08/2026, robot Superman của Unitree đã đạt tốc độ chạy 12,66 mét/ giây, khiến cổ phiếu công ty này tăng vọt gần 500 %. Vào tháng 8 vừa qua, một lần nữa các người máy Trung Quốc lại gây bất ngờ bởi các màn trình diễn thể thao tại Thế vận hội người máy (World Humanoid Robot Games) ở Bắc Kinh.

    Không chỉ trong khả năng vận động, các công ty như UBTech cũng đã cho ra mắt hồi tháng Sáu 2026 mô hình người máy có thể cá nhân hóa, hướng tới việc đưa người máy trở thành người bạn đồng hành, kết hợp Trí tuệ Nhân tạo (AI) để có thể trò chuyện như ChatGPT. Sản phẩm chưa chính thức ra thị trường đã nhận được hơn 13 000 đơn đặt hàng (có giá từ 15 000 euro đến 125 000 euro).

    Theo The Economist, các công ty Trung Quốc dự trù bán 50 000 robot trong năm nay, cao gấp 3 lần so với năm ngoái. Ngoài việc phát triển phần cứng, các công ty cũng chạy đua trong việc phát triển phần mềm, tích hợp các công nghệ cho phép robot linh hoạt hơn, có thể nghe, nhìn, nhận biết đồ vật và không gian tốt hơn.

    Trung Quốc cũng đang dẫn đầu trong việc thu thập dữ liệu, nhằm cải tiến người máy. Ví dụ như tại Trung tâm đào tạo người máy ở Hồ Bắc, hơn 100 robot dành hàng giờ mỗi ngày để quan sát bắt chước con người. Ước tính có khoảng 50 cơ sở đào tạo đã được xây dựng trong hai năm qua, và hơn 30 cơ sở khác đang trong quá trình xây dựng, phần lớn được Nhà nước Trung Quốc tài trợ, theo The Econonomist.

    Không chỉ dừng lại ở thị trường Trung Quốc, hiện 90 % các robot hình người trên toàn thế giới được bán ra sản xuất tại Trung Quốc. Tại hội chợ công nghệ Viva Tech diễn ra ở Paris, Pháp vào mùa hè 2026, « Robot có mặt khắp nơi », như nhận định của một khách tham quan. Gian triển lãm của hãng Trung Quốc Agibot luôn tấp nập người xem các màn trình diễn của những người máy, được ví như những ngôi sao của sự kiện, trình diễn các màn vũ đạo sôi động.

    Nhân sự kiện này RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn đại diện của Agibot ở Pháp, ông Pierre Asséo.

    Được thành lập vào năm 2023, Agibot nay đã được biết đến rộng rãi trong ngành công nghiệp robot. Liệu ông có thể nói về những tiến bộ về công nghệ đối với người máy mà công ty đã thực hiện gần đây nhất ?

    Qua từng năm, chúng tôi đã đạt được những cải tiến đáng kinh ngạc trong công nghệ di chuyển và vận hành cho robot. Mẫu người máy này được thiết kế theo phong cách thân thiện, gần gũi, trang bị 2 camera trước trán, 2 camera trước ngực, và đặc biệt là một camera phía sau đầu ; điểm mà con người không có giúp nó quan sát toàn diện phía sau. Cảm biến Lidar ở giữa thân cho phép nó định vị không gian. Nếu tôi lập trình sẵn bản đồ triển lãm và yêu cầu người máy đi tới gian hàng SNCF, nó có thể tự di chuyển đến đó chính xác.

    Về độ linh hoạt, mẫu robot này có tới 29 độ tự do (tương ứng với số khớp động cơ). Động cơ càng ngày càng mượt mà và chuẩn xác, thậm chí đủ sức xoạc chân ngang.

    Tại triển lãm này, chúng tôi mang đến những dòng robot rất hợp cho mảng giải trí, tiếp đón hay sự kiện, vì ngoài khả năng vũ đạo điêu luyện, chúng còn giao tiếp rất tốt. Còn dòng robot đằng xa kia thì chuyên phụ trách việc nâng hạ, vận chuyển hàng hóa nặng.

    Mọi người phản ứng thế nào về công nghệ này?

    Thường có hai luồng thái độ: nhiều người rất hào hứng, nhưng cũng không ít người e ngại. Một phần do ảnh hưởng từ điện ảnh và phim viễn tưởng, khiến người ta có cảm giác là người máy đang bước ra khỏi màn ảnh để đi vào đời thực, và thường trong phim thì chúng hay gây sợ hãi. Tuy nhiên, điều cốt lõi chúng tôi cần truyền tải là: người máy sinh ra là để phục vụ và hỗ trợ con người.

    Hãy nhìn vào thực tế, riêng ngành vệ sinh công nghiệp tại Pháp hiện đang thiếu hụt tới 100.000 nhân sự. Rất nhiều công việc nặng nhọc dễ gây chấn thương cơ - xương - khớp mà người máy có thể đảm nhiệm tốt hơn con người. Trong các môi trường độc hại, nguy hiểm, thay vì rủi ro tính mạng con người, dùng máy móc là giải pháp tối ưu. Chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mới, đó là kỷ nguyên của AI hiện hình (AI incarnée). Những gì mọi người  thấy hôm nay mới chỉ là khởi đàu của một thời đại robot mà 20 năm nữa nhìn lại, chúng ta sẽ coi đó là những nét sơ khai nhất.

    Việc kết hợp các mô hình Trí tuệ Nhân tạo vào người máy, giúp chúng học hỏi nhanh hơn, giải quyết nhiều bài toán vận động phức tạp. Khi ông đề cập đến AI hiện hình, Agibot định vị mình như thế nào trong cuộc đua này ?

    Hệ sinh thái Trí tuệ Nhân tạo hiện hình gồm hai phần phần cứng (máy móc) và phần mềm (các mô hình AI đóng vai trò như bộ não). Agibot tập trung sản xuất phần cứng, đồng thời hợp tác với các nhà phát triển mô hình AI. Tại Pháp, có không ít doanh nghiệp tiềm năng trong lĩnh vực này.

    Ngành robot tương lai là một chuỗi liên kết hoàn chỉnh: chúng ta cần chuyên viên lắp đặt, bảo trì, lẫn kỹ sư lập trình. Do đó, sự phát triển này không tiêu diệt mà chuyển dịch việc làm. Sẽ có rất nhiều ngành nghề mới xuất hiện nhờ sự bùng nổ của robot.

    Nhiều ông lớn AI như OpenAI hay Anthropic từng quan ngại về rủi ro và kiến nghị tạm dừng nghiên cứu. Agibot nhìn nhận vấn đề này ra sao?

    Hiện tại, Trí tuệ Nhân tạo hiện hình mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Dù người máy đã làm được một số việc, nhưng danh sách những điều chúng chưa thể làm đuợc vẫn còn rất dài. Chúng ta vẫn còn đủ thời gian để tính toán và cân nhắc các quan ngại này.

    Agibot kỳ vọng gì vào tương lai của ngành công nghiệp robot ?

    Dự báo đến năm 2050, toàn cầu sẽ có khoảng 1 tỷ robot, và Agibot quyết tâm trở thành một trong những thương hiệu dẫn đầu. Đây là thị trường hứa hẹn sẽ vượt cả quy mô ngành ô tô. Trước áp lực dân số già hóa cùng sự bứt phá của ngành cơ - điện tử và AI, chắc chắn robot sẽ bước ra khỏi màn ảnh để hiện diện trong cuộc sống thường nhật của chúng ta.

    Lịch sử robot hình người

    Trên thực tế, robot hình người đã ra đời từ những năm 1970. Các nhà nghiên cứu tại đại học Waseda của Nhật Bản đã giới thiệu mẫu người máy đầu tiên trên thế giới - WABOT-1, gồm các « khung xương » bằng kim loại và cần đến 45 giây để thực hiện một bước chân.

    Đến những năm 2000, người máy Asimo của Honda có thể đi bộ bằng hai chân, dù khó giữ được thăng bằng. Đến năm 2016, mô hình Atlas của Boston Dynamics đã cho thấy những tiến bộ về khớp động cơ và thuật toán, với những pha nhào lộn parkour.

    Xét đến sự trỗi dậy của ngành công nghiệp người máy ở Trung Quốc, ông Tịch Việt (Xi Yue) nhà sáng lập của Robot Era, có trụ sở tại Bắc Kinh, nhận định, đà phát triển từ 12-18 tháng qua, được thúc đẩy bởi ba yếu tố :  Môi trường chính sách hỗ trợ và nguồn vốn dồi dào, chuỗi cung ứng phần cứng vững chắc và phần mềm cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Sự kết hợp của ba yếu tố giúp ngành này được « nâng lên tầng cao chưa từng có ».

    Người máy được cấu tạo bởi phần cứng, bao gồm phần khớp nối động cơ, dây điện, bộ truyền động, hộp số, và quan trọng nhất là chip điện tử. Vốn có ngành công nghiệp ô tô điện phát triển mạnh, Trung Quốc cũng có lợi trong việc sản xuất những linh kiện robot, với nhiều chi tiết tương tự như trong động cơ ô tô điện.

    Liên quan đến phần mềm, « các bộ não AI » phân tích dữ liệu ngày càng siêu việt, giúp chuyển các lệnh sang hành động dễ dàng. Tuy nhiên, dù đã có nhiều cải tiến, nhưng điểm yếu của các người máy Trung Quốc là không được tiếp cận vào các loại chip điện tử tiên tiến từ các công ty như Nvidia. Người máy Trung Quốc vẫn gặp khó khăn trong di chuyển, đặc biệt là khi tương tác với nhóm người dễ tổn thương như người già và trẻ em. Thời lượng của bình điện cũng là một điểm yếu khác, thường chỉ kéo dài vài giờ.

    Hiện nay, Hoa Kỳ được cho là chiếm ưu thế về năng lực robot điều khiển bằng AI. Các công ty như Tesla và Boston Dynamics vẫn là những nhà sản xuất tiên tiến nhất thế giới về khả năng nhận thức, mô phỏng và tự động ở mức độ cao hơn.

    10 min
  • Tăng học phí, giảm trợ cấp : Pháp “bớt” hào phóng với sinh viên ngoại quốc?

    Mùa khai giảng 2026 tại Pháp chứng kiến nhiều thay đổi trong các quy định với sinh viên ngoại quốc. Chính phủ của thủ tướng Sébastien Lecornu quyết định tăng mức chứng minh tài chính đối với sinh viên ngoài khối Liên Hiệp Châu Âu lên thành 10.000 euro/năm, tức mức tăng gần 40% ; các trường đại học tăng học phí lên gấp gần 16 lần và đặc biệt là huỷ bỏ trợ cấp nhà ở cho sinh viên.

    Những biện pháp được áp dụng từ năm học mới này khiến nhiều du học sinh, bao gồm cả những sinh viên Việt Nam tại Pháp, không khỏi hoang mang. 

    Vậy đâu là những thay đổi cụ thể ? Vì sao Pháp dường như không còn hào phóng với sinh viên ngoại quốc ? Và sinh viên Việt tại Pháp cảm thấy ra sao trước những quy định mới này ? 

    Tăng mức chứng minh tài chính 

    Theo thông tin trên trang web của chính phủ Pháp, kể từ ngày 01/08/2026, các sinh viên muốn xin visa du học Pháp hoặc các sinh viên đã ở Pháp và muốn gia hạn thẻ cư trú cho năm học tới sẽ phải chứng minh sở hữu mức tài chính tối thiểu là 877 euro/tháng, so với mức cũ là 615 euro. Sinh viên có thể chứng minh bằng tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản tiết kiệm với số dư trên 10.000 euro, bằng sao kê tài chính cho thấy người nhà chuyển vào ít nhất 877 euro/tháng, hoặc hợp đồng lao động với mức lương cao hơn con số này. Theo quy định mới của chính phủ Pháp, mức chứng minh tài chính tối thiểu cũ 615 euro đã được đưa ra kể từ ngày 31/12/2002 và giữ nguyên kể từ đó tới nay. Do vậy, nó không còn phản ánh được chi phí sinh hoạt thực tế ở Pháp hiện giờ. 

    Với những người đang ở Việt Nam và có dự định du học Pháp, điều này phần nào cũng khiến họ dè chừng. Nếu như trước đây họ chỉ cần chứng minh có khoảng 7.300 euro trong tài khoản để làm visa du học, giờ các gia đình sẽ cần tới gần 10.500 euro. 

    Còn với những sinh viên đang sống tại Pháp và muốn tiếp tục việc học của mình, mức chứng minh này khiến họ hoặc phải xin hỗ trợ từ gia đình, hoặc phải đi làm nhiều hơn. Mức 877 euro tương đương 60% mức lương tối thiểu tại Pháp. Tuy nhiên, Pháp cũng quy định các sinh viên ngoài EU chỉ được đi làm 60% tổng số giờ làm việc hàng năm, để tránh việc sinh viên bỏ học để đi làm. Như vậy có nghĩa là nếu không có hỗ trợ từ gia đình, các sinh viên bắt buộc phải đi làm số giờ tối đa được chính quyền cho phép thì mới có thể đạt mức chứng minh tài chính. Không thể đi làm quá số giờ quy định, nhưng cũng không thể đi làm ít hơn số giờ đó, nhiều sinh viên trong cảnh tiến thoái lưỡng nan. 

    Hơn nữa, việc phải đi làm nhiều giờ nhất có thể gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc học và cuộc sống cá nhân của các sinh viên. Trả lời RFI Việt Ngữ, bạn An chia sẻ về những vất vả trong quá trình vừa học vừa làm của mình : 

    "Thực ra khi mình xác định sang Pháp là mình sẽ theo đuổi việc học để giành được điểm số cao nhất, rồi sau đấy sẽ tìm được học bổng để học lên những bậc cao hơn. Nhưng quả thực là khi mình dành thời gian tất cả các buổi tối để đi làm thêm thì mình thực sự gặp khó khăn khi đến mùa ôn thi hoặc chỉ đơn giản là làm bài tập nhóm vì lịch học bên Pháp rất nặng và thay đổi thường xuyên. Nhìn chung, mình gặp rất nhiều khó khăn trong việc cân bằng giữa việc học và việc đi làm. Nhiều khi có những buổi học phát sinh, mình không thể xoay sở kịp và đã bị ông chủ dọa cho nghỉ việc vì có lịch học bất thường. Còn vào mùa ôn thi, để có thời gian thì mình bắt buộc phải ôn vào buổi đêm. Và buổi đêm khi mà cơ thể đã hoàn toàn mệt mỏi sau cả ngày làm việc rồi thì mình cũng không còn đủ minh mẫn nữa, mặc dù mình cũng cố gắng hết sức lược qua bài để ôn thi, nhưng chất lượng ôn thi cũng không thực sự cao. Nên là mình cũng chỉ đủ điểm để qua môn thôi chứ cũng chưa được như kỳ vọng của mình."

    Tăng học phí 

    Theo thông báo từ chính phủ Pháp, kể từ mùa khai giảng năm 2026 này, phần lớn sinh viên ngoài khối Liên Hiệp Châu Âu sẽ phải trả 2.895 euro mỗi năm cho bậc cử nhân, so với 178 euro đối với sinh viên Pháp và các nước châu Âu khác, và 3.941 euro cho bậc thạc sĩ, so với 254 euro. Quy định sẽ áp dụng cho tất cả các sinh viên không phải công dân của một quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu, Khu vực Kinh tế Châu Âu, Thụy Sĩ, Andorra hoặc không cư trú tại Québec (Canada). Ngoài ra, một số trường hợp đặc biệt như sinh viên có học bổng ; sinh viên có thẻ cư trú 10 năm hoặc sinh viên đã khai báo thuế ở Pháp trong hơn 2 năm cũng sẽ được miễn trừ khỏi mức tăng này. 

    Theo bộ trưởng Giáo dục Đại học Pháp Philippe Baptiste, trong vòng hai đến ba năm, biện pháp này có thể tạo ra khoảng 250 triệu euro ngân sách mỗi năm cho các trường đại học. Cần phải nhắc lại rằng kể từ năm 2019, chính phủ Pháp đã đưa ra kế hoạch điều chỉnh tăng học phí cho sinh viên ngoài EU. 

    Tuy nhiên, đa số các trường khi đó đã phản đối, coi đây là biện pháp phân biệt đối xử và không áp dụng mức học phí mới này với các sinh viên nước ngoài. Các cơ sở giáo dục tại Pháp cũng lo ngại rằng việc tăng học phí sẽ làm giảm mức hấp dẫn của trường trong mắt các sinh viên quốc tế. Do vậy mà theo bộ trưởng Baptiste, sau bảy năm kế hoạch được đưa ra, tính đến nay chỉ có 10% sinh viên quốc tế phải chịu mức học phí khác với sinh viên châu Âu. Trong bối cảnh đó, ông Baptiste, trong cuộc phỏng vấn với tờ Le Parisien hôm 20/04, khẳng định sẽ chấm dứt tình trạng này. 

    Vậy việc tăng học phí này ảnh hưởng ra sao đến các sinh viên Việt Nam tại Pháp ? Dự định theo học thạc sĩ trong tương lai, bạn Nam cho biết mức học phí mới khiến bạn khá hoang mang khi sẽ phải vừa đi học vừa đi làm để giảm sức ép tài chính cho gia đình. Trả lời phỏng vấn RFI Việt Ngữ, bạn Nam nói :

    "Đối với chương trình cử nhân trước của mình thì lịch học thay đổi mỗi tuần nên không thể làm cố định được chỗ nào. Còn về chương trình dự bị tiếng của mình thì mình học ít tín chỉ hơn nên vẫn có thể đi làm được. Nhưng trong tương lai với chương trình học thạc sĩ thì thời gian học sẽ nhiều hơn và cần nhiều nỗ lực hơn cho việc học nên mình khá đắn đo về việc làm thêm."

    Tuy nhiên điều này không ngăn cản việc bạn tiếp tục muốn theo học bậc thạc sĩ tại Pháp. Bạn Nam chia sẻ :

    "Bởi vì mình đã theo Pháp từ đầu và đây cũng là thông tin mới nên mình cũng chưa nghĩ tới việc thay đổi quá nhiều. Việc theo học ở nước ngoài (nước không phải Pháp) thì mình cũng thấy đó cũng là một lựa chọn hay, nhưng mình thấy đang quen môi trường ở đây rồi nên không muốn thay đổi nhiều. Theo mình được biết thì một số nước xung quanh đây như Đức và Ý cũng có mức học phí khá là thấp và cũng có quyền lợi cho sinh viên khá là tốt. Nhưng chắc mình sẽ suy nghĩ thêm vì mình đã theo học Pháp rồi nên không muốn thay đổi nữa. Còn nếu tình hình (tài chính) không cho phép thì mình sẽ về Việt Nam."

    Nhưng bỏ trợ cấp cho sinh viên 

    Từ lâu nay, các sinh viên đến Pháp nếu phải thuê chỗ ở để đi học đều được Quỹ Trợ Cấp Gia Đình (CAF) hỗ trợ tiền thuê nhà, có khi lên tới 50% số tiền phải trả hàng tháng. Tuy nhiên, chính phủ Pháp thông báo kể từ ngày 01/07 năm nay, các sinh viên quốc tế ngoài EU sẽ không còn được nhận khoản trợ cấp nhà ở này nữa. Chỉ những sinh viên có học bổng, có hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề hoặc hợp đồng đào tạo nghề, cũng như sinh viên tị nạn mới được tiếp tục nhận trợ cấp này.

    Khi được hỏi việc Pháp cắt trợ cấp nhà ở ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống, bạn Linh cho biết :

    "Nếu không có CAF thì tiền nhà của mình đã khoảng 500-600, nghĩa là khá là khó để mà chi trả được các khoản tiền cả cho việc học và việc sinh hoạt. Mình nghĩ sẽ phải thắt lưng buộc bụng, không đi đâu hết. Tuy nhiên vẫn sẽ có những khoản mà mình không dự trù được, những lúc như thế thì mình vẫn cần sự giúp đỡ của gia đình. Mình còn được gia đình hỗ trợ khá nhiều. Trong khi đó bạn cùng nhà của mình còn không nhận được nhiều hỗ trợ từ gia đình và cũng không thể đi làm thêm nhiều do lịch học không cho phép. Nên bạn ấy hầu như phải dựa vào các hội hỗ trợ sinh viên của trường, của thành phố. Bạn ấy sẽ đi xin đồ ăn được hỗ trợ mỗi tuần như thế để sống. Mình nghĩ là không chỉ các sinh viên Việt Nam mà cả các sinh viên quốc tế cũng sẽ gặp khó khăn với mức tăng học phí và bị cắt giảm các hỗ trợ xã hội."

    Trả lời kênh LPC ngày 29/06, bộ trưởng bộ Nhà ở của Pháp, ông Vincent Jeanbrun đã biện minh cho biện pháp này bằng cách đưa ra "các thỏa thuận có đi có lại". Theo đó, khi sinh viên Pháp học tập tại một quốc gia cho phép họ tiếp cận hỗ trợ nhà ở, sinh viên từ quốc gia này cũng sẽ được chính phủ Pháp hỗ trợ. Tuy nhiên điều đáng nói là loại thỏa thuận này tồn tại chủ yếu giữa các nước châu Âu, còn các nước ngoài khối thì ít hơn nhiều. 

    Đối mặt với khoản nợ công khổng lồ, ưu tiên của chính phủ Pháp hiện nay là tiết kiệm ngân sách. Theo ông Jeanbrun, việc bỏ hỗ trợ nhà ở đối với những sinh viên không phải công dân châu Âu có thể mang lại 200 triệu euro một năm cho nước Pháp.

    Ngược lại, các tổ chức hỗ trợ sinh viên lên án chính sách "phân biệt đối xử", một bước tiến nữa hướng tới khái niệm "ưu tiên quốc tịch" mà phe cực hữu ưa chuộng, vốn chủ trương hạn chế quyền tiếp cận hỗ trợ nhà ở cho sinh viên nước ngoài. Manon Moret, tổng thư ký hội sinh viên tại Pháp UNEF, phản đối : "Đây là cách nhượng bộ trước những yêu cầu của phe cực hữu, những người đã tìm cách áp đặt chúng trong nhiều năm và giờ đây ngay cả trong một chính phủ không tự coi mình là cực hữu". 

    Từ việc tăng mức chứng minh tài chính, tăng học phí đến giảm trợ cấp, chính phủ Pháp dường như đã "bớt" hào phóng với sinh viên ngoài khối EU. Đối mặt với các khoản nợ khổng lồ, nước Pháp loay hoay tìm cách cắt giảm ngân sách. Tuy nhiên, điều này cũng khiến cuộc sống của các sinh viên nước ngoài tại đây trở nên khó khăn hơn, đồng thời phần nào khiến Pháp trở nên kém hấp dẫn hơn trong mắt sinh viên quốc tế. 

    10 min
  • Từ vườn rau đến bàn ăn Michelin: Làn sóng nông sản châu Á được sản xuất tại Pháp

    Những cọng rau muống, trái khổ qua hay củ gừng mang hương vị châu Á được trồng tại Pháp đang dần tìm được vị trí trong bức tranh ẩm thực đa dạng tại Pháp. Tại Blois, trại rau nông sản hữu cơ "Made in France" của Masato Fujisaki không chỉ phục vụ người dân địa phương, mà còn trở thành cảm hứng sáng tạo cho nhà hàng đạt sao Michelin.

    Với khoảng 1500m2 nhà kính và hơn 7500 m2 đất hoa màu, nông trại của Masato trồng hàng chục rau củ quả các loại, và được biết đến với những hương vị từ châu Á, từ rau húng quế phảng phất vị thơm mát đến khóm gừng cay nồng chờ ra củ, và cả thửa rau mồng tơi cần thu hoạch. Mỗi vụ, Masato đều thử trồng thêm một loại rau củ mới, giới thiệu cho người tiêu dùng tại Pháp. Năm nay, anh thử dựng những giàn gỗ trồng khổ qua. Anh nói : « Hiện mới là đầu mùa thu hoạch. Khổ qua khá được ưa chuộng ở Nhật Bản. Tôi cũng biết nhiều khách hàng Trung Quốc và Việt Nam ưa thích. Nhưng hiện là đầu mùa, cây vẫn chưa cho ra nhiều trái. Trong khi giàn dưa chuột Nhật Bản ngay bên cạnh đã cho nhiều quả. Tôi cũng chưa có kỹ thuật nữa. Còn ở phía bên kia là giống dưa gang của châu Á, vẫn cần phải đợi thêm thời gian vì tôi mới trồng thử năm đầu tiên ».

    Từng là kỹ sư thiết kế cảnh quan, Masato Fujisaki đã quyết định chuyển nghề sang trồng rau, sau chuyến thực tập 6 tháng tại một trang trại ở Nhật Bản, quê hương của cha anh. Từ năm 2019, với sự hỗ trợ từ thành phố Blois và quyên góp của nhiều nhà hảo tâm, dự án xây nhà kính, trồng rau sạch, rau châu Á của Masato đã được khởi xướng, đưa những loại rau châu Á, vốn thường được gắn mác nhập khẩu vào các khu chợ của thành phố vùng Loir-et-Cher.

    Trả lời RFI Tiếng Việt, anh giải thích : « Trong chuyến thực tập ở Nhật Bản, tôi phát hiện ra rằng rau củ quả của châu Á rất đa dạng và có hương vị riêng. Ví dụ như dưa chuột của Nhật Bản có mùi hương thơm hơn, giòn hơn. Cà tím cũng có vỏ mỏng hơn, phần ruột mềm hơn do đó chế biến cũng dễ hơn. Vì vậy tôi nhận thấy rằng nếu trồng được chúng ở Pháp thì sẽ rất thú vị, vì có thể tiêu dùng sản phẩm được sản xuất tại Pháp, và là những rau củ quả sạch, hữu cơ. Tôi cũng đã gặp gỡ nhiều người trồng rau châu Á, họ đã trồng thành công những loại cây này ở Pháp và tôi cũng muốn thử sức. Như vậy, tôi cũng sẽ tạo ra được sự khác biệt cho các sản phẩm tôi trồng so với đồ bán ở trong các chuỗi siêu thị. Mục tiêu của tôi là thu hút khách hàng bằng những loại rau củ độc đáo và thú vị hơn về mặt hương vị. Điều quan trọng là những loại rau tươi, được thu hoạch và bán ngay trong ngày”.

    Trong khu chợ bán đồ hữu cơ (bio) tại thành phố Blois, mỗi chiều thứ Sáu, nhiều người đã xếp hàng mua rau ngay sau khi xe tải chở rau đến, chủ yếu là những khách quen. Masato không chỉ bán rau, mà đôi khi bán cả công thức nấu ăn, giới thiệu về các loại rau củ của vườn, đặc biệt là các loại rau không được nhiều người Pháp biết đến, ví dụ như rau mồng tơi. Anh chia sẻ : “Tôi đã rất bất ngờ, vì ban đầu bán loại rau này không dễ, nó có nhựa rất dính, nhưng hoá ra nhiều người lại thích rau này và trở thành khách quen. Có những người biết đến rau này là nhờ sạp hàng của tôi. Tôi cũng rất ngạc nhiên khi thấy rau mùi bán rất chạy. Trong khi cách nay 20 năm, loại rau thơm này không được biết đến nhiều ở Pháp. Có lẽ rau muống hay rau mồng tơi, một ngày nào đó sẽ trở nên phổ biến hơn, nhất là với những mùa hè ngày càng nóng nực.”

    Rau muống được đưa vào bàn ăn đạt sao Michelin

    Ngoài việc thu hoạch rau củ đem bán ở các khu chợ địa phương, Masato cũng có những khách hàng quen thuộc, đến mua rau tận vườn. Hàng tuần, thậm chí là hàng ngày, bếp trưởng Anthony Maubert đến nông trại của Masato, tự tay chọn lựa các loại rau cho thực đơn của nhà hàng ASSA.

    Trong phòng lạnh tại nhà kho cạnh vườn rau, Masato giới thiệu cho ông Maubert những loại rau củ mới vừa được thu hoạch.

    « Bây giờ bắt đầu mùa thu hoạch khổ qua, có ít gai nhọn hơn », Masato nói. Ông Anathony hỏi : « Còn chỗ cà trắng này thì sao ? »

    « Tôi thử trồng loại cà này, nhưng tôi sẽ không trồng tiếp vì cây cho ra rất ít trái, chỉ vài quả một tuần », Masato giải thích.

    Nằm cạnh bờ sông Loire, nhà hàng được Michelin trao tặng 1 sao và vừa giành giải Gault & Millau Vàng hồi đầu năm nay, vinh danh những ẩm thực địa phương độc đáo, sáng tạo nhất với các món ăn kết hợp mỹ vị đông tây và chủ yếu lấy cảm hứng từ ẩm thực Nhật Bản. Thực đơn được thay đổi hàng ngày, dựa trên các sản phẩm rau rủ có sẵn tại nông trang của Masato hoặc các thực phẩm từ các nhà cung cấp khác.

    Vị đầu bếp người Pháp giải thích : « Bởi vì chúng tôi luôn thích ứng với những gì có trong vườn của Masato, nếu trái chưa chín thì chúng tôi không lấy. Chúng tôi thích ứng với tự nhiên, có gì thì nấu ấy, và đó cũng là tiêu chí được viết trong menu của chúng tôi. Ngay cả với cá cũng vậy, tôi không đặt hàng cá nào mà xem họ đánh được loại cá nào thì tôi chế biến cá đó. Do đó nhà hàng của chúng tôi giống như là tập thể thao hàng ngày để làm việc tốt nhất có thể với các sản phẩm khác nhau mỗi ngày ».

    Trong căn bếp của nhà hàng, tất cả đều đến từ vườn rau của Masato, từ củ tỏi cho đến trái ớt, bí ngòi, cà chua hay các hương liệu khác. « Rau củ quả trong vườn của Masato là nền tảng trong cách nấu ăn của tôi », ông Anthony khẳng định.

    Điều đặc biệt là dưới bàn tay tài ba của vị đầu bếp người Pháp, rau muống, một loại rau quen thuộc trong các bữa ăn hàng ngày tại các gia đình Việt Nam cũng như nhiều nước Đông Nam Á, trở thành một loại bánh đậm vị. Vẫn với sắc xanh tự nhiên, nhưng rau muống được xay nhuyễn và kết hợp với nhiều hương liệu khác, được đưa vào thực đơn khai vị của nhà hàng vào mùa hè, với cách bày trí sang trọng, mãn nhãn thực khách. Đầu bếp giải thích : « Chúng tôi cố gắng tôn trọng sản phẩm và làm gia tăng giá trị của chúng và nhất là không khiến các thực khách bị sốc. Ví dụ rau muống, tôi không đem xào với tỏi, mà chúng tôi muốn ‘bứt phá giới hạn’, chế biến ra món ăn ở tầm cao hơn. Tôi không nấu món Á, tôi chỉ thể hiện nó theo cách của riêng mình. Tôi nghĩ mình vẫn giữ trọn cốt cách của ẩm thực Pháp, thông qua khẩu vị và cảm nhận của cá nhân. Với thực khách người Pháp, họ sẽ cảm thấy một chút lạ lẫm, ngỡ ngàng bởi các hương vị phương Đông, còn với thực khách châu Á, họ lại tìm thấy những hương vị quen thuộc, nhưng rồi cũng đầy bất ngờ khi chúng lại được đặt trọn trong một kết cấu ẩm thực Pháp. Mục đích của tôi là tạo ra sự bất ngờ cho thực khách và đưa họ vào một chuyến hành trình vị giác, kể cả với những người dân địa phương, vốn là nhóm khách hàng cốt lõi của chúng tôi. »

    Xu hướng đồ Made in France và thách thức khí hậu

    Tại Pháp, số lượng nhà hàng ẩm thực châu Á chiếm khoảng 13 % thị trường, với mức tăng trưởng 25% trong vòng 5 năm qua, với khoảng 20 000 cơ sở trên khắp cả nước. Các nhà kinh doanh ẩm thực cũng ngày càng đa dạng, chiến lược hơn, chọn phục vụ các món ăn theo vùng miền, ví dụ như có nhà hàng chuyên phục vụ món Tứ Xuyên, Mãn Châu, hay chuyên về bánh bao như chuỗi nhà hàng Bao Family.

    Nhà bình luận ẩm thực, sáng lập bảng xếp hạng Foodie, ông Emmanuel Rubin, từng nhận định với RFI Tiếng Việt : “Tôi cho rằng thế kỷ 21, với quá trình toàn cầu hoá, tác động nhiều đến nền ẩm thực. Nhiều đầu bếp Pháp cũng quan tâm đến ẩm thực, cách chế biến và nguyên liệu từ châu Á. Những đời sau, thế hệ thứ 2 thứ 3 của những người nhập cư châu Á, muốn kể một câu chuyện ẩm thực độc đáo, chân thật và minh bạch hơn. Phải nói rằng là ngày nay, các quán ăn châu Á phục vụ đồ ngon hơn rất nhiều so với cách đây 30 năm, vốn không đầu tư vào cách phục vụ cũng như trang trí mà chỉ chủ yếu phục vụ kiều bào.”

    Mạng xã hội cũng góp phần đưa các món ăn châu Á phổ biến hơn. Ví dụ influencer có ảnh hưởng như Impératrice Wu, với hơn 1 triệu người theo dõi khắp các nền tảng mạng xã hội. Influencer người Pháp gốc Trung Quốc chuyên đăng tải các nội dung về món ăn châu Á, giới thiệu thực đơn của các nhà hàng khác nhau.

    Do đó, nhu cầu nhập nguyên liệu, rau củ quả châu Á cũng gia tăng. Ngoài các hãng chuyên bán lẻ hàng châu Á như Tang Frère hay Paris Store vốn được cộng đồng người châu Á biết đến rộng rãi, nhiều người trẻ thường là những người nhập cư thế hệ thứ hai hoặc thứ ba tìm cách đa dạng hóa nguồn cung, thay vì nhập khẩu như Masato.

    Những gián đoạn về cung ứng, hậu cần do đại dịch Covid-19 gây ra cũng là một trong những nguyên nhân khởi xướng nhiều sáng kiến sản xuất tại địa phương.

    Ví dụ cửa hàng tạp hóa trên mạng Kin Epicerie của Allison Petillot, người Pháp gốc Việt. Cô trực tiếp liên hệ với những nhà sản xuất nước mắm, đậu phụ, nấm hương, nước tương đậu nành,… từ khắp nơi ở Pháp và bán trên mạng, và đề xuất cho người tiêu dùng bán những giỏ rau củ, hương liệu,…được sản xuất tại Pháp.

    Tuy nhiên, trồng các loại rau củ có xuất xứ từ nơi khác ở Pháp không phải dễ dàng. Anh Masato chia sẻ : “ Thời tiết là một trong những thách thức lớn nhất, sau đó là việc làm sao để cây trồng có thể kháng cự được sâu bệnh. Đối với hầu hết những loại rau củ này, tôi cần phải bảo đảm thời tiết nóng, do đó đa số tôi trồng chúng dưới nhà kính, như rau húng, rau mồng tơi, rau muống,… Tôi cũng thường xuyên dùng các loại lưới để phủ bóng, giữ độ ẩm và che nắng.”

    Trước tình trạng biến đổi khí hậu, tại nhiều khu vực ở Pháp, thời tiết trở nên nóng hơn, mùa hè kéo dài hơn, gần giống với thời tiết ở các nước nhiệt đới. Đây cũng được coi là một trong những nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất trồng các loại rau củ nguồn gốc châu Á. Tuy nhiên Masato cũng lưu ý rằng, khi thời tiết nóng lên đến 40 độ C, các loại rau trồng dưới nhà kính, được bảo vệ tốt cũng khó có thể sinh trưởng tốt, và "người nông dân phải luôn tìm cách thích ứng".

    9 min
  • « Viện Quý tộc » : Cuộc cải tổ kết thúc chế độ quý tộc cha truyền con nối trong Thượng Viện Anh

    Trong tháng 5/2026, chính phủ Anh thực hiện nốt cuộc cải cách Viện Quý tộc (House of Lords), đưa hết các nhà quý tộc có quyền kế vị ra khỏi cơ quan lập pháp tương đương Thượng nghị viện, chấm dứt bảy thế kỷ truyền thống chính trị - văn hóa Anh.

    Câu chuyện này có ý nghĩa ra sao và cuộc cải cách do đảng Lao động Anh thực hiện có thực sự dân chủ hóa hệ thống lập pháp ở Vương quốc Anh ? Mời quý vị theo dõi phần giải thích từ thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn.

    ----- ***** -----

    RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Gianh. Đầu tiên xin anh cho biết dự án « Cải tổ Viện Quý tộc Vương quốc Anh » gồm những nét chính nào ?

    TTV. Nguyễn Giang : Vâng, đầu tiên tôi xin nói đây là cuộc cải tổ lần thứ 2 mà bộ máy chính trị Anh thực hiện để xóa dần đi di sản thời phong kiến có từ năm 1066 ở Anh. Cả hai lần đều là sáng kiến của đảng Lao động Anh (Labour). Lần trước sau khi ông Tony Blair lên làm thủ tướng nhờ phe Lao động thắng cử năm 1997, thì tới năm 1999, chính phủ và Hạ viện Anh đã thông qua Luật Cải tổ House of Lords lần một, đuổi ra khỏi Viện Quý tộc 759 vị quý tộc có quyền kế vị nhiều đời và chỉ giữ lại 92 vị.

    Nói ngắn gọn thì họ thuộc về 600 dòng họ quý tộc thực thụ còn lại ở Anh. Đây là nhóm có quyền kế vị (hereditary nobility), tức là đời cha chết đi thì các tước như công tước, hầu tước, bá tước, nam tước, đi kèm lâu đài, điền sản họ sở hữu từ nhiều thế kỷ được truyền lại cho con trai cả (theo luật ưu tiên trưởng nam-primogeniture), và những người kế vị này sẽ bầu chọn lẫn nhau để nghiễm nhiên thừa hưởng ghế trong The House of Lords, như một đặc quyền.

    Năm nay, chính phủ của đảng Lao động do Sir Keir Starmer làm thủ tướng, thực hiện cam kết tranh cử là cải tổ Viện Quý tộc. Hạ viện Anh đã thông qua luật hồi tháng Ba, xóa vĩnh viễn quyền kế vị các ghế dành cho quý tộc trong House of Lords. Thế nhưng, để xoa dịu sự phản đối của 92 vị còn lại, thì Văn phòng Phủ Thủ tướng đồng ý để 26 người quay lại giữ ghế trong Viện Quý tộc nhưng phải đổi áo, nhận bổ nhiệm là Lord một đời, do các đảng chính trị bổ nhiệm vào. Họ sẽ ở đó cho tới cuối đời và sau đó thì chỉ có các Thượng nghị sĩ (life peers) còn hoạt động trong Viện Quý tộc. Hiện con số những người không phải quý tộc có quyền kế vị là chừng 800, cũng rất đông.

    Dư luận Anh lâu nay ủng hộ việc cả tổ House of Lords. Một khảo sát do Đại học University College London (UCL) thực hiện giữa năm 2025 cho thấy 60% người dân muốn loại các vị quý tộc cha truyền con nối ra khỏi cơ quan này và chỉ có 22% không ủng hộ cải cách. Điều đáng nói nữa là 79% ủng hộ việc tước quyền của Thủ tướng Anh bổ nhiệm người thân tín vào House of Lords. Ví dụ như Lord Peter Mandelson, được đảng Lao Động và thủ tướng Keir Starmer đề cử, và có tước quý tộc một đời. Nay ông ta dính vào tai tiếng Epstein ở Mỹ, và bị cảnh sát điều tra, nhưng tước Lordship của ông ta vẫn còn đó.  Những chuyện như vậy khiến dư luận bất bình. Những người chỉ trích nói đây là một dạng đặc quyền, đặc lợi được trao tặng trọn đời nhờ thân quen.

    Anh có thể giải thích thêm về hai loại quý tộc, nhóm có quyền kế vị (hereditary peers) và nhóm chỉ nhận tước phong một đời (life peers) được không ?

    Cho tới nay chế độ phong kiến ở Anh để lại chừng 600 gia đình nhà quý tộc thực thụ, sở hữu chừng 800 tước hiệu, công tước, hầu tước, bá tước, nam tước. Số gia tộc ít hơn số tước hiệu vì một số nhà sở hữu cả tước công và tước hầu, tước bá, theo lãnh địa mà họ làm chủ. Ví dụ Công tước xứ Norfolk (Edward Fitzalan-Howard) đồng thời là bá tước xứ Surrey (Earl of Surrey).

    Hai vùng đất này ở hai chỗ khác nhau. Số quý tộc này không tăng, không giảm trong nhiều thế kỷ qua vì được truyền từ đời này sang đời kia, và theo nguyên tắc ưu tiên trưởng nam, nên con trai cả sẽ thừa hưởng tước vị đó chứ tước vị không được chia ra cho các con. Riêng quý tộc Scotland trong một số trường hợp được truyền lại tước vị cho con gái cả, nếu nhà quý tộc chết đi mà không có con trai.

    Hàng năm Hoàng gia phong tặng chừng 2000 huân huy chương, tước vị khác nhau, từ huy chương Thành viên Đế quốc Anh (MBE-Member of the British Empire), danh hiệu Sĩ quan Đế quốc Anh (OBE-Officer of the British Empire), cao nhất trong nhóm này là Chỉ huy của Đế quốc Anh (CBE-Commnader of the British Empire), cho tới danh hiệu Hiệp sĩ (Knight) như cầu thủ David Beckham, ca sĩ Elton John được trao.

    Nam tước là cấp thấp nhất trong 5 tước quý tộc Anh và mỗi năm có khoảng 25-50 người được Hoàng gia phong tặng. Nam tước (baron) hoặc nữ nam tước (baroness) thường được chọn nhờ công trạng hoặc do Thủ tướng chỉ định. Họ được quyền ngồi vào House of Lords.

    Vì sao Anh quốc phải cải cách Viện Quý tộc vào lúc này ?

    Nguồn gốc của Viện Quý tộc có từ Thế kỷ 11 khi Hội đồng Phụ chính Đại thần (Curia Regis) được Vua « William – Nhà chinh phạt » thành lập để tư vấn cho vua. Xin nhắc đây là vị vua từ Pháp sang chiếm đảo Anh và ngai vàng Anh nên ông ấy áp dụng các cơ chế phong kiến từ Pháp, xóa đi các hội đồng quý tộc nhỏ lẻ theo vùng miền của người Anglo-Saxon, và cho một nhóm nhỏ gồm các nam tước (barons) và các lãnh đạo giáo hội cấp cao (giám mục) vào hội đồng này. Họ đóng vai trò cố vấn cho nhà vua về việc thu thuế và ban hành luật pháp. Đây chính là "hạt giống" đầu tiên của Thượng viện.

    Từ thế kỷ 13, khi Bản Hiến chương Tự do (Magna Carta) được ký kế năm 1215, buộc nhà vua phải tham vấn ý kiến của các quý tộc trước khi thu thuế vì Hội đồng này mở rộng cho đại diện các gia tộc hùng mạnh, giàu có nhất của nước Anh, gồm các công tước, bá tước, hầu tước...vào ngồi. Đến năm 1295, Vua Edward I triệu tập ‘Model Parliament’ (Nghị viện Kiểu mẫu). Lần đầu tiên, ngoài các quý tộc và giới tăng lữ còn có đại diện của quý tộc-quân sự thấp hơn (hiệp sĩ- knights) và và thị dân tham dự. Nghị viện Anh như thế có cả hai nhóm, cao thấp khác nhau.

    Sang thế kỷ 14, vào khoảng năm 1341 thì viện này tách ra làm hai : House of Lords tập trung các đại quý tộc, tăng lữ và House of Commons còn gọi là Viện Thứ dân, gồm các hiệp sĩ (giới võ sĩ có ngựa chiến, gươm kiếm đánh thuê cho đại quý tộc) và là đại diện dân địa phương các quận hạt, đa số là thị dân.

    Nhu cầu cải tổ Viện Quý tộc để biến nó thành Thượng Nghị Viện (Senate) như ở Pháp, Mỹ và nhiều nước châu Âu khác đã được bàn đến hơn 30 năm qua. Lý do là một nền dân chủ thì không thể nào duy trì cơ chế cho ai đó hưởng đặc quyền làm nhà lập pháp cao cấp (tương đương chức Thượng nghị sĩ) theo kiểu cha truyền con nối, mà phải được bầu cử, hoặc ít ra là bổ nhiệm nhờ công trạng, thành tích cá nhân với quốc gia.

    Như vậy, so với các nước châu Âu khác thì Anh Quốc là quốc gia duy nhất có Viện Quý tộc vẫn tồn tại ?

    Đúng vậy, chúng ta phải nhắc rằng đây là một di sản lâu đời, có ít nhất gần 1000 năm tuổi, nhưng là di sản đem từ Pháp sang. Mà nước Pháp sau Cách mạng 1789 đã xóa sổ hoàn toàn tầng lớp quý tộc. Nước Đức từng là đế chế mà cũng xóa danh hiệu quý tộc, từ đầu thế kỷ 20. Nên ngày nay ai có nhận danh xưng nam tước, bá tước, ví dụ ‘Graf von’ gì đó thì phải gắn vào họ, và để xưng hô mang tính cá nhân, còn về mặt pháp lý, không có ai là bá tước, công tước gì ở Đức nữa cả. Ngay cả các nước Bắc Âu có vua nhưng cũng không còn tầng lớp quý tộc được quyền chính trị như ở Anh. Các nước Đông Âu một thời theo ý thức hệ công nông, xã hội chủ nghĩa thì đã xóa hẳn chức danh quý tộc từ lâu rồi. Chỉ riêng Anh quốc vẫn có Hoàng gia và các tước quý tộc kế vị, cùng quý tộc phong tặng.

    Anh có thể giải thích thêm là Anh quốc muốn cải tổ Viện Quý tộc thì mục đích cuối cùng của họ là gì ?

    Mục tiêu sẽ là dần dần biến House of Lords thành một thượng viện thực thụ như ở các nước khác. Tức là trong hệ thống dân chủ đại nghị thì thượng viện thường ít quyền hơn hạ viện nhưng đóng vai trò giám sát, chất vấn lại các đảng chính trị trong hạ viện để công tác soạn thảo, thông qua các bộ luật được tốt hơn. Thượng Viện, như ở Hoa Kỳ, còn đóng vai trò định hướng chính sách ngoại giao.

    Còn hiện nay, bước cải tổ năm nay mới chỉ giảm đi số nhà quý tộc có quyền kế vị. Viện Quý tộc ở Anh vẫn có quá nhiều thành viên, đa số các các vị được các đảng phái đề cử vào và nhà vua tấn phong. Con số này hiện vẫn là trên 800. Điều này gây ra ba vấn đề : Một là thiếu chỗ ngồi. Trụ sở Nghị viện Anh, gồm lưỡng viện Quốc hội, trong Cung điện Westminster ở Luân Đôn chỉ có 400 ghế cho House of Lords, nên khi nào có quá 400 vị tới dự họp thì một số phải đứng.

    Thứ hai, làm thành viên Viện Quý tộc là việc làm mang tính đóng góp, không ăn lương, chỉ được trả tiền theo giờ họp nên thực ra không thu hút được nhân tài. Thứ ba là vị trí không có nhiệm kỳ, nên ngoài 80 tuổi, vẫn có tên trong Viện Quý tộc và không dự họp vì sức khỏe yếu thì cũng không sao. Cả ba điều này khiến Viện Quý tộc chưa thể vận hành chuyên nghiệp, chuyên trách như một Thượng viện thực thụ.  

    Hiện có yêu cầu giảm số thành viên xuống khoảng 600 và đặt ra tuổi hưu ở tuổi 80. Kể cả khi đạt được điều đó thì Viện Quý tộc vẫn là cơ quan khác lạ so với sinh hoạt chính trị-xã hội ở Anh, vì tuổi hưu chung là 67, thì tại sao làm thành viên House of Lords lại có thể, (hoặc bị buộc phải) làm việc tới 80. Rất nhiều câu hỏi chưa có lời đáp.

    12 min
  • Du lịch một mình nhưng vẫn có "hội" : Xu hướng đang bùng nổ tại Pháp

    “Xách ba lô lên, bạn đồng hành đã có chúng tôi lo” (Prends ton sac à dos, on amène les amis), “Du lịch theo nhóm nhỏ cùng bạn đồng trang lứa” (Voyagez en petits groupes, avec des personnes de votre âge)... Những khẩu hiệu ấn tượng trong tàu điện ngầm Paris phản ánh một xu hướng đang bùng nổ tại Pháp : Du lịch một mình nhưng không cô đơn. Rất nhiều công ty lữ hành nắm bắt trào lưu mới, đặc biệt bùng nổ sau đại dịch Covid-19, để tổ chức tour cho “nhóm độc thân xa lạ”.

    Theo khảo sát được đăng trên Facebook của ngân hàng CIC ngày 09/07/2026, 74% người Pháp từng đi du lịch một mình năm 2026. Du lịch một mình trở thành xu hướng, biểu tượng của tự do, độc lập thay vì bị nhìn theo kiểu “ế nên mới phải đi một mình” như trước đây.

    Những người đi du lịch một mình là ai ? Léa Bensadoun, phụ trách phát triển khu vực châu Á/châu Âu tại công ty lữ hành Les Covoyageurs hoạt động từ 14 năm nay, trả lời câu hỏi của RFI Tiếng Việt tại Hội chợ Du lịch Thế giới 2026 (Salon Mondial du Tourisme Paris) :

    “Ngay từ những ngày đầu thành lập công ty, chúng tôi nhận thấy nhu cầu thực sự từ nhóm khách du lịch một mình. Sau đó, nhu cầu du lịch một mình hoặc là giữa những người đi du lịch một mình đặc biệt bùng nổ, nhất là sau đại dịch Covid-19. Khách hàng của chúng tôi không chỉ là những người độc thân mà còn là những người ở thời điểm muốn du lịch nhưng không có bạn bè hoặc người thân sắp xếp được thời gian đồng hành. Họ mong muốn tham gia các chuyến đi theo nhóm mà không nhất thiết phải đi theo cặp hoặc gia đình. Đối tượng khách hàng của chúng tôi thường là từ 35 đến 55 tuổi”.

    Tự đi vì lên hẹn đi cùng còn khó hơn trúng số

    Sau nhiều năm bị phong tỏa, hạn chế đi lại, khó khăn kinh tế vì đại dịch Covid-19, nhiều người ưu tiên trải nghiệm cá nhân và không muốn trì hoãn các kế hoạch chỉ vì “rảnh cùng lúc” đôi khi còn “khó hơn trúng số”. Nhiều mô hình du lịch dành riêng cho khách đi một mình đã bùng nổ, theo giải thích của Léa Bensadoun :

    “Du lịch một mình đang thực sự trở thành một xu hướng ngày càng phổ biến. Đây là năm thứ ba chúng tôi tham gia Hội chợ Du lịch Thế giới và mỗi năm, gian hàng của chúng tôi đều thu hút nhiều khách tham quan hơn. Đặc biệt, lần này, nhiều người chia sẻ rằng ngay khi tới đây, họ chủ động tìm kiếm các công ty chuyên tổ chức các chuyến đi dành cho du khách đi một mình. Tại triển lãm năm ngoái (2025), khái niệm du lịch một mình cũng đã được đưa vào các hoạt động tương tác. Chúng tôi nhận thấy xu hướng này đang phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh mọi thông tin và dịch vụ đều dễ dàng tiếp cận trực tuyến, ý tưởng được du lịch cùng những người độc thân khác ngày càng trở nên hấp dẫn và độc đáo”.

    Có thể thấy bốn lý do chính, được trang Tourisme Digital thống kê, giải thích cho xu hướng du lịch một mình : tận hưởng tự do, tập trung vào bản thân, người thân không rảnh vào thời điểm đó, có cơ hội gặp gỡ và kết nối với những người cùng sở thích, cùng ngân sách. Những công ty lữ hành chuyên về mô hình du lịch này trở cầu nối cho những khách hàng đi một mình mà không cô đơn. Vậy làm thế nào để tạo ra sự hòa thuận giữa những thành viên là người hoàn toàn xa lạ với nhau ?

    “Trên trang web của công ty chúng tôi, những người quan tâm hoặc đã đăng ký một chuyến đi có thể kết nối và trao đổi với nhau ngay từ trước khi khởi hành. Khi tạo tài khoản, khách hàng có thể gửi tin nhắn riêng cho những thành viên khác có cùng sở thích hoặc cùng tham gia một hành trình. Từ đó, các nhóm trao đổi nhanh chóng được hình thành, cho phép mọi người làm quen và chia sẻ thông tin liên lạc. Chúng tôi nhận thấy nhiều du khách trò chuyện với nhau từ rất sớm, giúp xóa bỏ cảm giác e ngại và tạo sự gắn kết trước chuyến đi. Ngoài ra, vì các gói du lịch thường đã bao gồm vé máy bay, chúng tôi khuyến khích khách hàng lựa chọn cùng một chuyến bay để có cơ hội gặp gỡ và làm quen với nhau ngay trước khi tới điểm du lịch”.

    90 điểm đến trên website nhưng khách hàng vẫn “phải lòng” Việt Nam

    Thành công của loại hình du lịch này được thể hiện qua doanh thu ngày càng tăng tại Pháp, ví dụ năm 2024 đạt 48,9 triệu đô la và đến năm 2030 có thể đạt đến 114 triệu đô la, tương đương với mức tăng 15,2% hàng năm. Nhật Bản là điểm đến số 1 cho những du khách Pháp du lịch một mình từ 30 đến 40 tuổi. Đây cũng là điểm đến hàng đầu của công ty Les Covoyageurs :

    “Về nguyên tắc, chúng tôi chủ động đề xuất các điểm đến. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, chúng tôi cũng triển khai các bảng khảo sát để thu thập ý kiến từ khách hàng. Nhờ chương trình khách hàng thân thiết trên website, nhiều du khách thường xuyên quay lại sử dụng dịch vụ của chúng tôi, và chúng tôi đã tham khảo ý kiến của họ về những tính năng mới cũng như các điểm đến mà họ quan tâm nhất. Chính từ những phản hồi này, chúng tôi nhận thấy một số điểm đến đang thu hút sự quan tâm đặc biệt, chẳng hạn Nhật Bản, nơi liên tục nằm trong nhóm được khách hàng yêu thích nhất.

    Trên các ấn phẩm quảng bá, chúng tôi thường ưu tiên giới thiệu những điểm đến chủ lực, tức là các điểm đến có lượng đặt chỗ cao nhất trong năm. Đây cũng thường là những nơi mà nhiều khách hàng lần đầu trải nghiệm hình thức du lịch theo nhóm dành cho người đi một mình lựa chọn, có thể kể đến Việt Nam, Tanzania hoặc Albania tại châu Âu vào mùa hè”.

    Việt Nam nằm trong số 90 điểm đến của công ty và luôn là lựa chọn ưu tiên của khách hàng. Léa Bensadoun có câu trả lời cho lựa chọn này :

    “Đây là một câu chuyện khá thú vị. Ngay từ khi thành lập công ty, chúng tôi đã thiết lập quan hệ hợp tác với đối tác La Palanche Voyage và mối quan hệ đó vẫn được duy trì bền chặt cho đến ngày nay. Tôi nghĩ chính mối quan hệ này giúp chúng tôi quảng quảng hình ảnh Việt Nam, hiện trở thành điểm đến được đặt nhiều nhất trên website của chúng tôi, trên tổng số gần 90 điểm đến của công ty”.

    Được tự do nhưng không phải tự lo mọi thứ

    Được tự do đi du lịch một mình, không phải phụ thuộc vào lịch trình, ngân sách hoặc sở thích của người khác nhưng nhiều du khách cũng không muốn cô đơn. Và đây chính là điểm được các công ty tour solo khai thác. Họ giúp khách được tự do nhưng không phải tự lo mọi thứ : từ phương tiện, chỗ ở, lịch trình đến hướng dẫn viên và các hoạt động nhóm, như trường hợp công ty Les Covoyageurs.

    “Chúng tôi tự thiết kế, xây dựng và đưa các chương trình du lịch lên website, vì vậy mọi khách hàng đặt tour đều được hưởng trọn gói các hoạt động và dịch vụ đã được lên kế hoạch sẵn. Tuy nhiên, cũng có nhiều khách hàng đề nghị được khởi hành từ một sân bay địa phương thay vì từ Paris. Chúng tôi hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu đó và cung cấp các gói du lịch không bao gồm vé máy bay, với mức giá được điều chỉnh tương ứng.

    Ngoài ra, đối với những khách muốn kéo dài thời gian lưu trú hoặc đến điểm đến sớm hơn trước khi tour bắt đầu, chúng tôi có thể sắp xếp lại lịch trình bay phù hợp. Tất cả đều được đáp ứng theo nhu cầu của từng người. Hiện nay, chúng tôi cũng ghi nhận xu hướng ngày càng nhiều khách du lịch một mình tự tổ chức một phần hành trình của họ tại một số quốc gia và chỉ tham gia các chương trình của chúng tôi trong một giai đoạn nhất định. Trong những trường hợp như vậy, chúng tôi bỏ phần vé máy bay và chỉ cung cấp các dịch vụ tại chỗ”.

    Đối với những người lần đầu đi một mình, việc có một đơn vị tổ chức đứng phía sau còn tạo cảm giác an toàn và yên tâm hơn. Các công ty tour solo cũng tập trung vào những phân khúc khách hàng nhất định, ví dụ Road Scholar chuyên về du lịch solo cho người lớn tuổi, WeRoad tập trung vào nhóm khách hàng từ 25-35 tuổi, Les Covoyageurs tập trung vào nhóm khách hàng 35-55 tuổi…

    “Chúng tôi hoạt động mạnh trên mạng xã hội, như Instagram, TikTok và Facebook. Bên cạnh đó, công ty chúng tôi cũng thường xuyên được giới thiệu trên các chương trình phát thanh và truyền hình. Chẳng hạn, đài truyền hình TF1 thường xuyên đến phỏng vấn và thực hiện các phóng sự về mô hình kinh doanh của chúng tôi bởi vì chúng tôi là một trong những đơn vị tiên phong và gần như duy nhất tại Pháp chuyên tổ chức các chuyến du lịch dành riêng cho những người đi du lịch một mình”.

    Thành công của mô hình du lịch solo nằm ở một nghịch lý khá thú vị : Khách hàng mua tour vì muốn đi một mình, nhưng họ lại muốn có cơ hội kết nối với những người giống mình. Xu hướng này ngày càng phát triển mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ dân số người cao tuổi thuộc thế hệ Baby Boom và thực tế là một phần ba người trưởng thành ở Pháp sống độc thân.

    Tháng 01/2026, Skyscanner công bố khảo sát, theo đó 43% khách du lịch một mình nhằm mục đích thư giãn và nạp lại năng lượng. Họ không muốn chờ đến lúc người thân “rảnh” để cùng thực hiện. “Và các nhà điều hành du lịch rõ ràng đã hiểu điều này bằng cách điều chỉnh các dịch vụ của họ để thu hút nhóm khách hàng này”, theo bà Christel Marzullo, giám đốc Hội chợ Du lịch Thế giới.

    10 min
  • Từ "địa ngục Joseon" đến "cường quốc tự tử" - lối thoát nào cho Hàn Quốc

    Một nghịch lý đặc biệt trong tiếng Hàn là từ 자살 – “tự tử” – khi đọc ngược lại sẽ thành 살자, nghĩa là “hãy sống” hoặc “chúng ta cùng sống nhé”. Cách chơi chữ này từng được sử dụng như một lời động viên: khi ý nghĩ tuyệt vọng xuất hiện, hãy thử đảo ngược nó để nhắc mình rằng vẫn phải tiếp tục sống. Thế nhưng tại một xã hội thường bị người trẻ mỉa mai gọi là “địa ngục Joseon”, việc lựa chọn sống đôi khi cũng trở thành một cuộc đấu tranh đầy mệt mỏi.

    Áp lực học tập, cạnh tranh việc làm, giá nhà đắt đỏ, nợ nần, làm việc quá sức, sự cô đơn và nỗi sợ bị bỏ lại phía sau khiến nhiều người cảm thấy dù đã cố gắng đến đâu, cuộc sống vẫn không trở nên dễ dàng hơn. 

    Quốc gia có tỉ lệ tự tử số 1 trong nhóm OECD

    Hàn Quốc được biết đến với kỳ tích kinh tế, công nghệ hiện đại và sức ảnh hưởng mạnh mẽ của làn sóng Hallyu. Tuy nhiên, quốc gia này đã duy trì tỷ lệ tự tử cao nhất OECD trong hơn hai thập niên. Năm 2024, tỷ lệ tự tử của Hàn Quốc là 23 - 28 người / 100.000 dân, tùy theo tiêu chuẩn tính toán. Tuy nhiên dù tính toán theo phương pháp nào thì tỉ lệ tự tử của Hàn Quốc vẫn cao hơn gấp đôi mức trung bình của khối, điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Vì vậy, tự tử tại Hàn Quốc không còn là bi kịch cá nhân mà đã trở thành một vấn đề y tế công cộng và xã hội. 

    Áp lực thay đổi theo từng giai đoạn của cuộc đời

    Theo thống kê của Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Hàn Quốc năm 2021, các vấn đề tâm lý và tâm thần chiếm tỷ lệ lớn nhất, với khoảng 40%, tiếp theo là khó khăn kinh tế và sinh kế với khoảng 25%, theo sau đó là bệnh tật (18%), gia đình (7%), và áp lực công việc (~4%). Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng cũng thay đổi rõ rệt theo từng độ tuổi. 

    Ở thanh thiếu niên và người trẻ, nguy cơ thường gắn với áp lực học tập, bắt nạt, khó tìm việc, thu nhập bấp bênh và tương lai thiếu ổn định; trong khi người trung niên chịu sức ép lớn từ sinh kế, nợ nần và trách nhiệm gia đình. Với người cao tuổi, bệnh tật, nghèo đói và cô đơn là những yếu tố nổi bật. Nam giới có tỷ lệ tự tử cao hơn do thường phải gánh kỳ vọng về vai trò trụ cột nhưng lại ít chia sẻ cảm xúc và ngại tìm kiếm sự hỗ trợ, khiến khủng hoảng khó được phát hiện sớm. 

    Xã hội đầy sự thù ghét

    Nhà văn đoạt giải Nobel Han Kang cho rằng tình trạng thù ghét ngày càng lan rộng tại Hàn Quốc và trên thế giới là một thách thức mà xã hội phải cùng nhau vượt qua. Phát biểu bên lề Liên hoan Avignon, bà nhấn mạnh rằng đây là thời điểm con người cần nghiêm túc suy nghĩ về cách thoát khỏi sự chia rẽ và tìm một hướng đi khác, thay vì tiếp tục chìm sâu trong “kỷ nguyên thù ghét”.

    Tại Hàn Quốc, sự thù ghét không chỉ thể hiện qua xung đột giới tính, thế hệ, khu vực hay chính trị mà còn lan rộng trên mạng xã hội dưới hình thức bôi nhọ, bình luận ác ý và tấn công tập thể. Trong một xã hội vốn chịu nhiều áp lực về thành tích, kinh tế và sự cô đơn, những cuộc công kích này có thể làm trầm trọng thêm khủng hoảng tâm lý ở người dễ tổn thương.

    Năm 2022, một nữ streamer từng bị các “cyber wrecker” đăng tải nội dung cắt ghép, giật gân và kích động đám đông công kích dù cô đã lên tiếng giải thích. Những lời miệt thị tiếp tục lan rộng trước khi cô qua đời do tự tử, cho thấy bạo lực trực tuyến có thể để lại hậu quả nghiêm trọng ngoài đời thực. Không thể quy một bi kịch cho riêng một nguyên nhân, nhưng việc liên tục bị hàng nghìn người chế giễu, phán xét và cô lập có thể đẩy một người đến cảm giác tuyệt vọng sâu sắc. 

    Bắt nạt từ trường học đến nơi làm việc

    Bắt nạt, đặc biệt là bắt nạt trên mạng, là một trong những yếu tố xã hội có thể làm gia tăng nguy cơ khủng hoảng tâm lý và ý nghĩ tự tử ở thanh thiếu niên Hàn Quốc. Nghiên cứu của giáo sư Choi Jung-ah thuộc Đại học Kyungil, thực hiện trên 3.775 học sinh trung học cơ sở, cho thấy ngay cả khi đã tính đến các yếu tố như trầm cảm, căng thẳng và lòng tự trọng, nạn nhân của bắt nạt trực tuyến và phân biệt đối xử vẫn có nguy cơ xuất hiện ý nghĩ tự tử cao hơn đáng kể.

    Bắt nạt không chỉ xuất hiện trong trường học hay trên mạng mà còn tồn tại tại nơi làm việc. Hai trường hợp nhân viên Naver qua đời vào năm 2021 và 2022 đều được gia đình và công đoàn liên hệ với tình trạng chèn ép, khối lượng công việc quá mức và việc phản ánh không được xử lý thỏa đáng. Các vụ việc cho thấy khi tiếng nói của người lao động bị xem nhẹ, môi trường làm việc độc hại có thể làm trầm trọng thêm khủng hoảng tinh thần và dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

    Theo hãng tin MBC, văn hóa bắt nạt “taeum” trong ngành điều dưỡng Hàn Quốc đã được liên hệ với nhiều trường hợp nhân viên y tế qua đời sau thời gian chịu áp lực và chèn ép tại nơi làm việc. Các vụ việc của nữ điều dưỡng Park Sun-wook năm 2018, Seo Ji-yoon năm 2019 và Kang Soo-bin năm 2026 cho thấy tình trạng mắng nhiếc, cô lập, giao việc quá sức và xử lý khiếu nại thiếu hiệu quả vẫn kéo dài. Giới chuyên gia cho rằng cần giảm khối lượng công việc, bảo vệ người tố cáo và xử lý nghiêm hành vi bắt nạt để ngăn những bi kịch tương tự tái diễn. 

    Áp lực công việc

    Khác với bắt nạt mang tính trực tiếp, kiệt sức nghề nghiệp có thể hình thành từ khối lượng công việc kéo dài, thiếu quyền tự chủ và môi trường tổ chức không thân thiện. Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Frontiers in Public Health vào tháng 9.2023 do hai bác sĩ tâm thần học Hàn Quốc Jeon Sang-won và Cho Sung-jun thực hiện trên hơn 13.000 lao động thuộc nhiều lĩnh vực như sản xuất, tài chính, dịch vụ, phân phối, xây dựng và hành chính công cho thấy áp lực công việc kéo dài và tình trạng kiệt sức nghề nghiệp có thể làm gia tăng đáng kể nguy cơ xuất hiện ý nghĩ tự tử ở người lao động. 

    Kết quả cho thấy những người rơi vào trạng thái kiệt quệ về thể chất và cảm xúc có nguy cơ xuất hiện ý nghĩ tự tử cao hơn 36% nếu đã mắc trầm cảm và cao hơn 77% ngay cả khi không mắc trầm cảm. Nguy cơ đặc biệt gia tăng ở những người không thể tự chủ trong công việc hoặc làm việc trong môi trường thiếu thân thiện. Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng kiệt sức nghề nghiệp cần được xem là một dấu hiệu cảnh báo quan trọng, không chỉ ở nhân viên y tế mà trong mọi ngành nghề. 

    Chênh lệch giàu nghèo sâu sắc

    Tỷ lệ tự tử cao tại Hàn Quốc không chỉ liên quan đến sức khỏe tâm thần mà còn phản ánh khoảng cách giàu nghèo và một xã hội đặt nặng địa vị, thu nhập và tài sản. Những người làm công việc có vị thế thấp hoặc thu nhập bấp bênh thường dễ bị coi thường và chèn ép.

    Theo Yonhap, văn hóa “gapjil - 갑질” – lạm dụng quyền lực của người ở vị trí cao hơn, giàu hơn – thể hiện rõ qua các vụ nhân viên bảo vệ chung cư bị cư dân lăng mạ, hành hung và đối xử như người hầu. Trong một trường hợp, biểu ngữ tưởng niệm một bảo vệ tự tử sau thời gian bị ngược đãi còn bị tháo xuống vì cư dân lo ảnh hưởng đến giá trị căn hộ. Sự việc cho thấy tài sản đôi khi được đặt cao hơn phẩm giá và sinh mạng của người lao động.

    Cũng theo Yonhap, áp lực kinh tế cũng có thể đẩy các gia đình yếu thế vào bế tắc, như trường hợp một người cha thất nghiệp đã tự tử cung với bốn đứa con của mình dù đã nhận một phần hỗ trợ phúc lợi. Thủ tục phức tạp, nguồn trợ giúp hạn chế và tâm lý xấu hổ khiến nhiều người không tiếp tục tìm kiếm hỗ trợ và tự tử là một giải pháp mà họ nghĩ tới khi bất lực.

    Một xã hội thành công nhưng ngày càng cô đơn

    Sự phát triển nhanh chóng của Hàn Quốc đã làm thay đổi sâu sắc cấu trúc gia đình và cộng đồng. Gia đình nhiều thế hệ dần được thay thế bằng gia đình hạt nhân và hộ độc thân; người trẻ rời quê lên thành phố, người cao tuổi sống một mình ngày càng nhiều, trong khi áp lực công việc khiến các mối quan hệ gia đình và xã hội dần trở nên lỏng lẻo.

    Sự cô đơn đặc biệt nguy hiểm đối với những người vừa trải qua điều trị tâm thần. Khi rời bệnh viện, họ có thể quay trở lại căn nhà trống vắng và tiếp tục đối mặt với nợ nần, thất nghiệp, bệnh tật hoặc mâu thuẫn gia đình, nhưng không có người thường xuyên theo dõi và hỗ trợ. Vì vậy, xuất viện không đồng nghĩa với việc nguy cơ đã chấm dứt; ngược lại, đây có thể là giai đoạn người bệnh cảm thấy cô độc và dễ tổn thương nhất.

    Theo OECD, năm 2023, tỷ lệ tử vong do tự tử trong vòng một năm sau khi điều trị nội trú tâm thần tại Hàn Quốc là 6,9 trên 1.000 bệnh nhân, thuộc mức cao nhất trong các quốc gia được so sánh. Thực trạng này cho thấy khoảng trống lớn giữa bệnh viện và cộng đồng: nếu thiếu nhân viên quản lý trường hợp, dịch vụ chăm sóc tại địa phương và sự phối hợp lâu dài với gia đình, người có nguy cơ cao có thể nhanh chóng bị bỏ lại một mình sau thời gian điều trị ngắn ngủi. 

    Hiệu ứng Werther và trách nhiệm của truyền thông

    Nhiều nghiên cứu tại Hàn Quốc cho thấy sự ra đi của người nổi tiếng có thể làm gia tăng hành vi tự tử trong công chúng, hiện tượng được gọi là “hiệu ứng Werther”. Một nghiên cứu của các bác sĩ thuộc Bệnh viện Đại học Kosin và Đại học Dong-A đã phân tích hơn 1.000 trường hợp tự gây thương tích hoặc có hành vi tự tử được tiếp nhận tại bốn trung tâm cấp cứu ở Busan trong giai đoạn 2007–2009, sau sự ra đi của một nữ diễn viên nổi tiếng và một cựu tổng thống. Trong 60 ngày sau hai sự kiện, số bệnh nhân trung bình mỗi ngày tăng khoảng 30–40%; tỷ lệ phải điều trị tại khoa hồi sức tích cực cũng tăng gần gấp đôi. 

    Một nghiên cứu khác của Đại học Korea, phân tích biến động tỷ lệ tự tử trong cộng đồng sau 10 vụ tự tử của người nổi tiếng giai đoạn 1994–2005, cũng ghi nhận mức gia tăng có ý nghĩa thống kê. Tác động rõ nhất xuất hiện sau sự ra đi của nữ diễn viên Lee Eun-ju, đặc biệt ở người trẻ, người có trình độ đại học và nhân viên văn phòng. Tỷ lệ tự tử cũng tăng sau một số trường hợp người nổi tiếng khác, cho thấy mức độ ảnh hưởng có thể khác nhau tùy sức lan tỏa của từng sự kiện. Xu hướng này thường đạt mức cao nhất trong tháng đầu tiên, giảm dần ở tháng thứ hai và trở lại mức thông thường sau khoảng ba tháng.

    Các kết quả cho thấy người đang gặp khủng hoảng có thể tự đồng nhất mình với nhân vật nổi tiếng, từ đó làm tăng nguy cơ hành vi bắt chước, nhất là khi truyền thông đưa tin dày đặc, giật gân hoặc lãng mạn hóa bi kịch. 

    Chuyển đổi chứ không phải phòng ngừa

    Dù tình trạng tự tử tại Hàn Quốc đã ở mức đáng báo động trong nhiều năm, vấn đề này vẫn chưa được chính quyền ưu tiên tương xứng. Chỉ khoảng 10% nghị sĩ tham gia diễn đàn phòng chống tự tử, trong khi sự quan tâm từ cấp lãnh đạo cao nhất còn hạn chế. Hàn Quốc đã có đường dây nóng và trung tâm hỗ trợ, nhưng khả năng tiếp nhận, hướng dẫn can thiệp và theo dõi lâu dài vẫn chưa đáp ứng nhu cầu.

    Bên cạnh đó, sức khỏe tinh thần chưa được xã hội coi trọng như sức khỏe thể chất, khiến nhiều người ngại tìm kiếm sự giúp đỡ. So với nhiều nước OECD, hệ thống phòng chống tự tử của Hàn Quốc còn thiếu sự phối hợp, nhân lực và trách nhiệm rõ ràng. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy Hàn Quốc cần coi đây là nhiệm vụ quốc gia, tăng đầu tư và xây dựng hệ thống hỗ trợ liên tục từ bệnh viện đến cộng đồng. 

    Khủng hoảng tự tử không thể được giải quyết chỉ bằng những lời động viên, đường dây tư vấn hay các chiến dịch ngắn hạn. Điều cần thiết là một sự chuyển đổi sâu rộng trong cấu trúc và văn hóa xã hội. Hàn Quốc cần rời xa mô hình lấy hiệu suất, thành tích và lợi nhuận làm thước đo duy nhất, để tiến tới một xã hội đặt con người, sự chăm sóc và phẩm giá ở vị trí trung tâm. Một quốc gia bao dung không đánh giá con người dựa trên nghề nghiệp, thu nhập, giới tính, tuổi tác, ngoại hình hay hoàn cảnh sống; đồng thời phải bảo đảm rằng người yếu thế được tiếp cận phúc lợi mà không cảm thấy xấu hổ hoặc bị loại trừ.

    Từ giáo dục, lao động đến chính sách và ngân sách, mục tiêu giảm tỷ lệ tự tử phải được hiểu là một cam kết làm cho xã hội bớt khắc nghiệt và nhân ái hơn. Đảo ngược hai âm tiết có thể biến 자살 thành 살자. Nhưng để biến tuyệt vọng thành hy vọng, Hàn Quốc cần nhiều hơn một cách chơi chữ: cần xây dựng một xã hội thực sự khiến mỗi người cảm nhận được giá trị của mình và biết rằng luôn có một nơi để tìm kiếm sự giúp đỡ.

    12 min
  • 1936-2026 : 90 năm chế độ nghỉ phép có lương và những biến chuyển trong đời sống xã hội Pháp

    Năm 2026 là đúng 90 năm chế độ nghỉ phép có lương được áp dụng rộng rãi với người lao động Pháp. Đây là di sản nổi bật của Front Populaire - Mặt trận Bình dân, một liên minh chính trị của các lực lượng cánh tả ở Pháp. Với xuất phát điểm là 2 tuần nghỉ được trả lương vào năm 1936, chế độ này đã kéo theo nhiều thay đổi trong đời sống xã hội tại Pháp, với các hoạt động giải trí, văn hóa … Du lịch đại chúng cũng dần dần phát triển.

    Để hiểu thêm chế độ nghỉ có lương tại Pháp, một cuộc cải cách mang tính cách mạng cho giới công nhân và người làm công ăn lương vào năm 1936, RFI Tiếng Việt phỏng vấn sử gia Jean Vigreux, chuyên gia về Mặt trận Bình dân, giáo sư trường Đại học Bourgogne Europe của Pháp. 

    RFI : Đâu là bối cảnh xã hội và điều kiện lao động của công nhân tại Pháp đã dẫn đến việc chính quyền thiết lập chế độ nghỉ phép có lương ? Đâu là vai trò của Mặt trận Bình dân vào năm 1936 trong việc thiết lập chế độ này ?

    Jean Vigreux : Đúng là việc tạo ra chế độ nghỉ phép được hưởng lương là rất quan trọng. Nó không hẳn là đã được lên kế hoạch hay từng đưa vào chương trình hành động của Mặt trận Bình dân. Chương trình tranh cử suy cho cùng là nhằm chống lại cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội, cải thiện điều kiện sống cho giai cấp công nhân, và có thể nói là cho người dân Pháp nói chung. Nhưng chế độ nghỉ phép có lương không có trong chương trình dự kiến từ trước.

    Và chính sự huy động được đông đảo lực lượng tham gia phong trào đấu tranh, các cuộc đình công với việc chiếm đóng nhà máy, đã khiến thỏa thuận Matignon đạt được nhanh chóng vào đêm 07, ngày 08/06 (năm 1936), một hôm sau khi Léon Blum lên nắm quyền. Chính lúc đó, giới chủ Pháp - Tổng Liên đoàn Sản xuất Pháp (Confédération générale de la production française - CGPF) và Tổng Liên đoàn Lao động - CGT) công đoàn lao động lớn nhất, cùng với chính phủ, đã chấp nhận ý tưởng thực hiện chế độ nghỉ phép có lương.

    Các điều kiện lao động khi đó như thế nào ? Trong những năm 1920 và 1930, chúng ta đã chứng kiến ​​một mô hình sản xuất kiểu « fordisation », nghĩa là công việc ngày càng được tổ chức theo kiểu sản xuất theo dây chuyền và với sự kiểm soát thời gian chặt chẽ. Khi đó người ta đã nhắc đến những hệ quả, những cái được, cái mất, những thách thức trong việc quản lý thời gian chặt chẽ như vậy.

    Một số người trong một số lĩnh vực, ngành nghề khi đó đã được hưởng kỳ nghỉ được trả lương, nhưng phần lớn người lao động và công nhân thì không. Cũng đã có những đề xuất, dự thảo luật trong những năm 1920 và 1930, nhưng chúng chưa bao giờ được thực hiện.

    Vì vậy, đây thực sự là một điều mới mẻ, một điều quan trọng. Vào thời điểm đó, cũng có thể nói rằng Pháp đang tụt hậu so với các nước khác bởi vì từ giữa thế kỷ 19 trở đi thì mới có một số công chức Nhà nước có quyền được nghỉ phép mà vẫn được hưởng lương. Và sau đó là một số người lao động nhất định, ví dụ như công nhân đường sắt. Xin nhắc lại là vào thời bấy giờ, các công ty đường sắt là của tư nhân, và mãi cho đến năm 1937 thì SNCF (Công ty Đường sắt Quốc gia Pháp) mới được thành lập.

    Nhưng mà trước đó, các công ty đường sắt tư nhân đã có chế độ nghỉ phép có lương cho công nhân, các công ty điện lực cũng tương tự.

    RFI : Pháp có đi tiên phong về áp dụng rộng rãi chế độ nghỉ phép có lương cho người lao động không ?

    Jean Vigreux : Không, Pháp không đi tiên phong. Tại nước Đức chẳng hạn, đã có nhiều người lao động được nghỉ phép mà vẫn hưởng lương hơn là ở Pháp. Vào những năm 1920 đến đầu những năm 1930, đã có hơn 12 triệu người Đức có thể được hưởng chế độ nghỉ phép có lương.

    Như vậy Pháp khi đó còn khá tụt hậu, tôi biết là có một cuộc khảo sát của Cơ quan Lao động Quốc tế cho thấy rằng ở châu Âu vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930, đã có khoảng 40% người lao động, cả nam và nữ, xin nói rõ là như vậy, được hưởng chế độ nghỉ phép có lương.

    Nói tóm lại, Pháp khi đó là nước tụt hậu về vấn đề này, chứ hoàn toàn không phải là quốc gia đi tiên phong. Quả thực là Pháp phải tìm cách lấy lại thời gian đã mất, phải chạy theo để bắt kịp với các nước khác, và đến năm 1936, nhờ thỏa thuận Matignon thì mới có chế độ nghỉ có lương.

    RFI : Quy định này đã được xã hội Pháp đón nhận ra sao ?

    Jean Vigreux : Có thể nói là chế độ nghỉ phép có lương đã được công chúng và người lao động đã lập gia đình hưởng ứng, đón chào. Quy định mới mang đến cho họ một niềm vui lớn. Thậm chí một số người đã từng nghĩ rằng sẽ không thể nào lại có chuyện « chúng ta sẽ được trả lương cho dù nghỉ phép ». Trước đấy, điều này là không khả thi.

    Chế độ nghỉ phép có lương mở ra một loạt khả năng hoàn toàn mới mẻ cho phần lớn người lao động ở Pháp, tức là họ sẽ có thể dành thời gian đó cho các hoạt động giải trí và nghỉ ngơi, nhưng đó không hẳn là như những hình ảnh quen thuộc mà chúng ta thường thấy về các kỳ nghỉ, tức là cứ nghỉ là mọi người đổ xô ra biển, lên núi bằng xe đạp đôi, hay cắm lều trại … đâu. Đối với một số người, nghỉ phép chỉ đơn giản là để nghỉ ngơi, họ nghỉ ngơi ngay ở vùng Paris, dọc theo bờ sông Marne (…) hoặc đơn giản là họ về vùng nông thôn thăm nom gia đình, bởi vì có nhiều công nhân xuất thân từ các vùng nông thôn và tỉnh lẻ của Pháp.

    Quả đúng là chế độ nghỉ phép có lương được hưởng ứng, đây là điều quan trọng, và đặc biệt là vì chính phủ Pháp đã nhanh chóng ban hành vé tàu giá rẻ để tạo điều kiện cho mọi người đi lại bằng tàu hỏa. Ngay từ cuối tháng 06/1936, đã có 600.000 vé nghỉ phép phổ thông được phát hành. Và đến năm 1938, khi Mặt trận Bình dân khép lại, con số này đã lên đến hơn 900.000, hay gần 1 triệu vé tàu giá rẻ cho người nghỉ phép, đã được phát hành. Xét từ góc độ này, thì nhìn chung chế độ nghỉ phép có lương đã được người dân đón nhận tích cực. 

    Nhưng cũng đúng là có một số sự phản kháng từ phía giới chủ, đúng là có một số người từ chối, theo một cách nào đó, nhưng trên thực tế, các thỏa ước tập thể đã được ký kết, chúng phải được triển khai và áp dụng. Nhưng đúng là có cả một luồng dư luận chống lại các cuộc đình công, chống lại phong trào công nhân, và đặc biệt là trên báo chí cực hữu, với những bức tranh biếm họa về những người đội mũ đi trên bãi biển. Nhưng đó cũng chỉ là sự phản đối của một thiểu số người Pháp thôi, chứ thực ra chế độ nghỉ phép có lương ra dời đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống người lao động.

    Đó là một cuộc cải cách thực sự mang tính cách mạng bởi vì nó dẫn đến các kỳ nghỉ, nhiều hoạt động giải trí và khởi xướng cái gọi là du lịch đại chúng, cho phép trẻ em tham gia vào các trại hè. Thực sự đó là khởi đầu của điều đã để lại dấu ấn lâu dài trong xã hội chúng ta, gần như cho đến tận ngày nay.

    RFI : Chế độ nghỉ phép được hưởng lương đã tiến triển thế nào từ năm 1936 để đạt được đến 5 tuần phép/năm như hiện nay ?

    Jean Vigreux : Vào năm 1936 thì có 2 tuần nghỉ phép có lương. Tuần thứ 3 được thêm vào năm 1956, tuần phép thứ 4 được bổ sung vào năm 1968-1969 sau các sự kiện tháng 05-06 năm 1968, và cuối cùng tuần phép thứ năm được thêm vào đầu những năm 1980, sau khi François Mitterrand (cánh tả) lên nắm quyền tổng thống và Pierre Mauroy trở thành thủ tướng. Như vậy, chế độ 5 tuần nghỉ phép có lương là kể từ năm 1982.

    Nói tóm lại là để đạt đến chế độ 5 tuần nghỉ phép có lương thì chúng ta đã phải trải qua một thời gian khá dài. Có thể nói rằng thế kỷ 20 thực sự đã phát minh ra chế độ nghỉ phép có lương, nhưng nó được hình thành dần dần chứ không phải là có ngay lập tức.

    Chế độ nghỉ phép có lương là rất quan trọng bởi vì suy cho cùng thì người Pháp rất gắn bó với chế độ nghỉ phép và vẫn được hưởng lương, không chỉ là vào mùa hè, mà cả mùa đông nữa. Tôi nhớ là vào năm ngoái (2025) thủ tướng Pháp khi đó là François Bayrou đã đề cập đến khả năng nếu người lao động từ bỏ tuần nghỉ phép thứ 5 thì họ sẽ nhận được nhiều tiền lương hơn. Thế nhưng, dự luật đã không thành công bởi vì mọi người thực sự mong muốn được hưởng kỳ nghỉ phép có lương, họ nhận thức được rằng có giờ làm việc thì cũng phải có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí.

    RFI : Khi đó, mọi người lao động tại Pháp có được hưởng chế độ nghỉ phép có lương một cách bình đẳng hay không, và giữa các lĩnh vực, ngành nghề thì sao ? Hay là có tồn tại những bất bình đẳng, tùy thuộc vào nhiều yếu tố ?

    Jean Vigreux : Năm 1936 cho phép tất cả mọi người được nghỉ phép có lương. Trong khi trước đó, kể từ năm 1853, chỉ có công chức mới được hưởng kỳ nghỉ phép có lương, hoặc trong một số ngành nghề cụ thể, như tôi đã nói ở trên, về các công ty đường sắt hoặc công ty điện lực, nhưng về sau này, nghỉ phép có lương đã được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, không phải ai cũng được hưởng, ví dụ người lao động theo thời vụ.

    Và nước Pháp thời đó vẫn là một nước thực dân, có nhiều thuộc địa, và mãi đến tháng 12/1936, thì chế độ này mới được áp dụng với mọi thuộc địa của Pháp, dù ở châu Phi hay châu Á. Nói vậy có nghĩa là ở đây có những sự bất bình đẳng, nếu nói vậy hơi mạnh thì ít nhất cũng có thể nói rằng chắc chắn là có sự khác biệt.

    Ngoài ra, cũng có những khác biệt theo ngành nghề. Ví dụ, ở nông thôn, vẫn còn đáng kể trong dưới thời Mặt trận Bình dân. Xin nhắc lại là nông nghiệp khi đó chưa được cơ giới hóa, chúng ta cần có bàn tay con người để thu hoạch củ cải đường, hay thu hoạch hoa oải hương ở miền nam đất nước, thu hoạch trái cây, làm việc trên cánh đồng nho … Và những nhân công này không thể nghỉ phép trong thời gian thu hoạch mùa màng. Mùa thu hoạch diễn ra từ tháng 6 đến tháng 9, nhưng đây mới là thời kỳ mọi người thực sự được nghỉ phép có lương.

    Như vậy là chế độ nghỉ phép có lương liên quan đến nghề nghiệp, loại hình việc làm, và tất nhiên tùy thuộc vào vùng miền, điều này cho thấy những hình thức bất bình đẳng, nhưng dần dần thì cũng được cân bằng và cho phép nhiều người nhất có thể hưởng lợi từ chế độ nghỉ phép có lương này.

    RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn sử gia Jean Vigreux, giáo sư trường Đại học Bourgogne Europe, đã tham gia chương trình !

    10 min
  • Bỉ : Kỳ nghỉ phép có lương, 90 năm thành tựu

    Tháng Bảy, tháng Tám, tắm biển, đi lên núi, ra nước ngoài, hay ở nhà… là những câu hỏi nơi cửa miệng ở công sở trước mỗi mùa hè. Ngày nay, việc đi nghỉ dài ngày đã trở nên bình thường đối với bất cứ người làm công ăn lương nào tại nhiều nước trên thế giới. Nhưng để trở thành bình thường, điều đó đã phải trải qua một tiến trình dài. Phúc lợi xã hội này chỉ mới được áp dụng ở Bỉ từ năm 1936 sau nhiều cuộc đấu tranh xã hội gay gắt.

    Khái niệm về kỳ nghỉ đã phát triển, phản ánh các xã hội khác nhau và mối quan hệ của chúng với thời gian và công việc. Từ nguyên của “vacances” trong tiếng Pháp bắt nguồn từ thời cổ đại, từ trong tiếng La tinh “vacare” có nghĩa là “trống rỗng, không người ở, nhàn rỗi”. Ngay cả ở thời kỳ này, người Hy Lạp và La Mã đã phân biệt giữa hai khoảng thời gian : lao động và nghỉ ngơi. Vì vậy, họ dùng từ negotium chỉ thời gian dành cho công việc chân tay và buôn bán và từ otium có thể tạm dịch là “thời gian rảnh rỗi”. Đây là thời gian không làm những việc chân tay và dành cho việc nghỉ ngơi, suy tư, đọc sách và các hoạt động giải trí.

    Nghỉ ngơi : Đặc quyền của giới quý tộc

    Tuy nhiên, những khoảng thời gian rảnh rỗi này là đặc quyền của một bộ phận nhỏ dân số, giới thượng lưu quý tộc. Từ thời cổ đại đến thời Trung cổ, giới thượng lưu, quý tộc và tầng lớp thượng lưu không làm việc chân tay, vì lao động bị coi thường, chỉ giành cho tầng lớp hạ lưu. Thế giới nhàn rỗi được dành riêng cho họ.

    Vào thời đó, mặc dù nghỉ ngơi tồn tại như một khái niệm, nhưng nó chưa thiết lập như một quyền và không phải ai cũng có thể đòi hỏi. Ví dụ như nô lệ và người lao động, rồi sau này là tầng lớp công nhân, không được hưởng những khoảng thời gian rảnh rỗi này. Sự phân biệt đó có cấu trúc bền vững trong các xã hội phương Tây : thời gian rảnh rỗi từ lâu vẫn là đặc quyền dành cho giới thượng lưu.

    Một bước ngoặc xảy ra vào thời Trung Cổ, đặc biệt là ở các thành thị ở Bắc Âu và những vùng mà ngày nay là Hà Lan (Pays-Bas). Các tháp chuông không đơn thuần là biểu tượng kiến trúc. Được quản lý bởi các thị trấn (communes), chúng thể hiện quyền tự chủ của các thị trấn trước các thế lực phong kiến và tôn giáo. Nhờ có tiếng chuông, giờ giấc làm việc được thông báo công khai. Thời gian bắt đầu và kết thúc ngày làm việc, cũng như giờ nghỉ giải lao, đều giống nhau cho mọi người.

    Sự phát triển này có vẻ không đáng kể. Tuy nhiên, nó lại mang đến tính quyết định : công việc đang dần được trả công dựa vào thời gian làm việc, chứ không phải dựa trên nhiệm vụ hoàn thành. Lần đầu tiên, thời gian làm việc trở nên có thể đo lường, so sánh và do đó có thể thương lượng. Sự chuyển đổi này tạo nên một trong những nền tảng của nền kinh tế hiện đại.

    Nghỉ hè để làm nông và nghỉ ngơi liên quan đến tôn giáo

    Năm 1231, Giáo hoàng Gregorio IX đã ban hành một kỳ nghỉ giữa mùa hè, từ tháng Tám đến tháng Chín, trùng với mùa thu hoạch và hái nho. Khi đó, nhiều học sinh và người học việc sẽ rời bỏ sách vở để về làm việc với cha mẹ trên các cánh đồng. Giáo hoàng đã ban hành kỳ nghỉ này để đáp trả sự tức giận của các giáo sư trong các lớp học vắng vẻ, đặc biệt là tại Đại học Paris danh tiếng. Đây thực sự không phải là kỳ nghỉ hè theo nghĩa như ngày nay và không phải thời gian cho sinh viên nghỉ ngơi, mà để họ có thời gian dành cho công việc đồng áng của gia đình.

    Cho đến thời Trung Cổ, thời gian nghỉ ngơi chủ yếu được sắp xếp theo lịch tôn giáo. Những ki-tô hữu đi lễ Chủ Nhật. Người Do Thái giữ ngày Sa-bát, trong khi cộng đồng đạo Hồi coi thứ Sáu là ngày nghỉ hàng tuần của họ. Vào thời đó, các lễ hội và các ngày lễ thiêng liêng diễn ra trong năm, mang lại những ngày nghỉ không làm việc trên đồng ruộng hay xưởng thủ công. Những ngày nghỉ này được giành cho việc thực hành tôn giáo, chứ không phải cho sự nghỉ ngơi nhàn hạ, hay không hoạt động. Chúng không phải là những ngày lễ theo nghĩa hiện đại của thuật ngữ này, mà là những thời điểm khi công việc được tạm dừng tập thể.

    Sự thay đổi thực sự bắt đầu với cuộc Cách mạng Công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII : công việc trở nên dài hơn, sự lặp đi lặp lại nhiều hơn và đòi hỏi cao hơn. Sự mệt mỏi về thể chất cũng như tinh thần trở thành một vấn đề xã hội mà các chính phủ không thể phớt lờ. Đến thế kỷ XX, kỳ nghỉ mới có hình thức như hiện nay, đặc biệt là với sự ra đời của chế độ nghỉ phép có lương.

    Tại Pháp, luật năm 1936 do Mặt Trận Bình Dân của Léon Blum ủng hộ, đánh dấu một thời điểm then chốt : Lần đầu tiên, người lao động nghỉ phép mà vẫn được trả lương. Cùng năm đó tại Bỉ, Hạ Viện đã nhất trí thông qua luật thiết lập chế độ nghỉ phép có lương. Kỳ nghỉ khi đó không còn là một thứ xa xỉ hay ngoại lệ : chúng trở thành một quyền, một nhu cầu thiết yếu, một dấu hiệu của sự tiến bộ giúp định hình các xã hội hiện đại.

    Nghỉ ngơi : Quyền lợi của người lao động

    Sau Chiến Tranh Thế Giới I, việc thành lập Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 1919 đánh dấu một bước ngoặt. Nguyên tắc thành lập của tổ chức này rất rõ ràng: “Sức lao động của con người không thể được coi là hàng hóa”.

    Một số quốc gia châu Âu sau đó đã đi tiên phong. Đức đã ban hành chế độ nghỉ phép có lương thông qua các thỏa ước tập thể ngay từ năm 1905. Anh Quốc dẫn đầu với một số bước tiến trước Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất. Áo đã thông qua luật vào năm 1919, tiếp theo đó là Ba Lan và Latvia vào năm 1922. Tại Bỉ, một số công ty lớn như Minerva Motors, Bell Telephone hay Solvay đã cho phép nhân viên nghỉ vài ngày, nhưng chỉ trong khuôn khổ các thỏa thuận của công ty.

    Bước ngoặt thực sự đã đến cách đây 90 năm. Vào tháng 6 năm 1936, sau sự nổi dậy của Mặt Trận Bình Dân Pháp, một làn sóng đình công chưa từng có đã càn quét nước Bỉ. Hơn 500.000 công nhân yêu cầu mức lương tối thiểu, tuần làm việc 40 giờ và kỳ nghỉ có lương. Đối diện với tình trạng tê liệt của đất nước và nguy cơ cực đoan hóa xã hội, chính phủ của thủ tướng Paul Van Zeeland đã triệu tập Hội nghị lao động quốc gia. Sự thỏa hiệp đã dẫn đến một bước đột phá lịch sử: Luật ngày 8/06/1936 quy định sáu ngày nghỉ phép có lương sau một năm làm việc.

    Đạo luật của thủ tướng Van Zeeland được đánh giá là khá ôn hòa. Đối với các nhà tuyển dụng, biện pháp này có vẻ dễ chấp nhận hơn so với việc giảm giờ làm nói chung. Nó chỉ làm giảm một phần nhỏ phúc lợi hàng năm trong khi vẫn cho phép tổ chức bảo trì máy móc, hoặc quản lý hàng tồn kho trong thời gian ngừng hoạt động. Đạo luật này chỉ thực sự được triển khai sau Thế Chiến II và được phát triển để đạt được 2-3-4 tuần nghỉ phép, với mức lương nghỉ phép gấp đôi như ngay nay.

    Khi kỳ nghỉ trở thành dự án xã hội

    Việc áp dụng chế độ nghỉ phép có lương không chỉ thay đổi luật lao động, mà còn làm thay đổi thái độ. Trước năm 1936, thời gian nghỉ ngơi chính của người lao động thường trùng với “ngày nghỉ Thứ Hai”, hậu quả của sự mệt mỏi hoặc làm việc quá sức vào ngày Chủ Nhật. Chế độ nghỉ phép có lương đã biến thời gian nghỉ ngơi từ một tình trạng bị áp đặt thành một quyền được công nhận.

    Tuy nhiên, sự phát triển mới này lại khiến một số thành viên thuộc tầng lớp thượng lưu lo ngại. Người lao động sẽ làm gì với thời gian rảnh rỗi này ? Nhà nước, các công đoàn và nhiều tổ chức khác sau đó đã phát triển điều mà các nhà sử học gọi là “du lịch xã hội”. Các trung tâm nghỉ dưỡng được xây dựng ở ven biển hoặc trên núi để cung cấp những hoạt động giải trí có tổ chức, đồng thời thúc đẩy sức khỏe, văn hóa và sự gắn kết xã hội.

    Vào thời điểm đó, thái độ giáo điều vẫn còn phổ biến. Người ta lo ngại về sự thiếu chính chắn của giai cấp công nhân trong việc sử dụng thời gian rảnh rỗi. Phong trào Công nhân Ki-tô giáo (MOC) chủ trương rằng những ngày nghỉ này cần được sắp xếp sao cho chúng trở thành trải nghiệm sáng tạo và mang tính giáo dục. Đó là lý do tại sao MOC đầu tư mạnh vào giáo dục và du lịch đại chúng.

    Nhưng có thời gian rảnh rỗi thôi chưa đủ. Bạn cũng cần có điều kiện để đi du lịch. Sự bùng nổ thực sự của các kỳ nghỉ với giá cả phải chăng bắt đầu sau Thế Chiến II với việc áp dụng chế độ trả lương gấp đôi trong kỳ nghỉ vào năm 1947-1948. Khoản thu nhập bổ sung này cuối cùng đã cho phép nhiều công nhân Bỉ có đủ khả năng tài chánh để đi nghỉ mát, đặc biệt là ở vùng ven biển Ostend hoặc Ardennes.

    Nhìn chung, cho đến những năm 1970, người Bỉ hiếm khi đi du lịch nước ngoài, họ dành những ngày nghỉ được trả lương của mình trong vườn nhà và chỉ thực hiện một vài chuyến đi ngắn trong nước. “Đó là vấn đề nguồn lực, nhưng cũng là vấn đề văn hóa và tư duy” nhà nghiên cứu Pierre Tilly giải thích.

    Nghỉ ngơi : Động lực kinh tế

    Khi thời gian rảnh rỗi trở nên phổ biến hơn, trở thành một động lực kinh tế mạnh mẽ. Những kỳ nghỉ được tổ chức, công viên giải trí, truyền hình, nền tảng phát trực tuyến, các sự kiện văn hóa và thể thao : toàn bộ nền kinh tế được xây dựng xung quanh hoạt động giải trí. Cá nhân không chỉ được tự do quản lý thời gian của mình, họ còn được khuyến khích sử dụng thời gian đó.

    Ngày nay, logic này đã bước vào một giai đoạn mới với nền kinh tế chú ý. Các nền tảng kỹ thuật số tìm cách nắm bắt từng phút giây rảnh rỗi bằng cách biến sự chú ý của chúng ta thành dữ liệu, lượt nhấp chuột hoặc thời gian xem có thể kiếm tiền. Thời gian rảnh rỗi, thành quả khó nhọc giành được qua một thế kỷ đấu tranh xã hội, giờ đây đã trở thành một nguồn lực kinh tế hoàn chỉnh.

    Lịch sử của thời gian rảnh rỗi không kết thúc với kỳ nghỉ có lương. Sau khi giành được quyền nghỉ ngơi, xã hội hiện đang đối diện với một câu hỏi khác : làm thế nào để duy trì chất lượng của thời gian này trước những yêu cầu không ngừng của công nghệ ?

    Đối với nhiều nhà nghiên cứu, thách thức thực sự không còn chỉ là đảm bảo thời gian rảnh rỗi, mà là làm sao để mọi người thực sự có được thời gian đó.

    Như vậy là 2000 năm sau cuộc đối đầu giữa otium và negotium, câu hỏi cuối cùng vẫn không thay đổi : liệu thời gian rảnh rỗi vẫn còn là không gian để giải phóng bản thân, hay đã trở thành một nguồn lực kinh tế mới để khai thác ?

    10 min
  • Con nuôi người Hàn ở Mỹ : Những đứa trẻ sống kiếp không quê hương

    Từ sau Chiến tranh Triều Tiên, hàng trăm nghìn trẻ em Hàn Quốc đã được đưa ra nước ngoài làm con nuôi và Mỹ là điểm đến lớn nhất. Với nhiều gia đình phương Tây, đây từng được xem là hành động nhân đạo: cứu giúp những đứa trẻ mồ côi, nghèo đói, không có tương lai trong một đất nước vừa  ra khỏi chiến tranh.

    Nhưng sau hơn 70 năm, những câu chuyện được kể lại từ chính người con nuôi Hàn Quốc cho thấy một mặt khác của lịch sử: hồ sơ bị làm sai lệch, trẻ em bị tách khỏi gia đình ruột, quốc tịch không được bảo đảm, khủng hoảng bản sắc kéo dài và nỗi đau tìm lại cội nguồn không dễ chữa lành.

    Không chỉ là câu chuyện của những đứa trẻ được đưa tới một gia đình mới, đó còn là câu chuyện của chiến tranh, nghèo đói, kỳ thị xã hội, chủ nghĩa dân tộc huyết thống, nhu cầu gia đình của phương Tây, tôn giáo, thị trường nhận con nuôi và trách nhiệm chưa hoàn tất của cả quốc gia gửi con lẫn quốc gia nhận con.

    Lịch sử nhận con nuôi Hàn - Mỹ 

    Theo Namu-Wiki, chuyên trang bách khoa toàn thư phiên bản Hàn Quốc, lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ bắt đầu trong bối cảnh Hàn Quốc kiệt quệ sau Chiến tranh Triều Tiên. Đất nước bị tàn phá, nhiều gia đình ly tán, trẻ em mồ côi và trẻ bị bỏ rơi xuất hiện khắp nơi, trong khi hệ thống phúc lợi trẻ em gần như không đủ sức bảo vệ những nhóm yếu thế nhất. Đặc biệt, trẻ lai giữa binh sĩ Mỹ và phụ nữ Hàn Quốc trở thành một trong những nhóm đầu tiên bị đẩy ra khỏi xã hội Hàn Quốc thời hậu chiến.

    Những đứa trẻ này thường bị kỳ thị kép: vừa là con của phụ nữ nghèo hoặc bị xã hội phán xét, vừa bị xem là đe dọa đối với quan niệm “dân tộc thuần chủng”. Trong xã hội Hàn Quốc lúc bấy giờ, huyết thống và gia đình phụ hệ giữ vai trò rất lớn, trẻ lai gần như không có vị trí rõ ràng. Đưa các em sang Mỹ vì thế được trình bày như một giải pháp nhân đạo, nhưng cũng đồng thời là cách Hàn Quốc loại bỏ một nhóm trẻ mà xã hội không muốn nhìn nhận.

    Ở phía Mỹ, phong trào nhận nuôi trẻ em Hàn Quốc được thúc đẩy bởi truyền thông chiến tranh, các tổ chức Cơ Đốc giáo và bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Hình ảnh trẻ em Hàn Quốc nghèo đói, mồ côi và cần được cứu giúp xuất hiện trong các chiến dịch bảo trợ, tờ rơi, ảnh chụp và phim tài liệu, tạo nên một làn sóng cảm thương trong công chúng Mỹ. Các tổ chức như World Vision và Everett Swanson Evangelistic Association, tiền thân của Compassion International, góp phần biến trẻ em Hàn Quốc thành đối tượng của các chương trình bảo trợ từ xa, rồi từ đó mở đường cho nhận con nuôi thực sự.

    Theo báo Christian Today, năm 1955, vợ chồng Harry và Bertha Holt, một cặp vợ chồng Tin Lành ở bang Oregon, nhận nuôi 8 trẻ em Hàn Quốc. Đây trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ. Từ sự kiện này, chương trình Holt Adoption Program ra đời và về sau phát triển thành một trong những tổ chức nhận con nuôi quốc tế nổi bật nhất. Theo tài liệu về lịch sử Cơ Đốc giáo trong nhận con nuôi Hàn – Mỹ, trong giai đoạn 1953–2018, khoảng 170.000 trẻ em Hàn Quốc được nhận nuôi tại hơn 29 quốc gia, trong đó Mỹ nhận hơn hai phần ba, tương đương 114.117 trẻ.

    Ban đầu, câu chuyện được kể bằng ngôn ngữ của lòng nhân đạo: trẻ em nghèo được cứu giúp, trẻ mồ côi có gia đình, những đứa trẻ không tương lai được đưa đến một đất nước giàu có hơn. Nhưng theo thời gian, khi số lượng trẻ được đưa ra nước ngoài ngày càng lớn, hệ thống ấy bắt đầu bộc lộ một bản chất phức tạp hơn nhiều.

    Con nuôi người Hàn dần bị coi như món hàng công nghiệp 

    Khi việc nhận con nuôi được đưa vào một hệ thống có nhu cầu, có tổ chức, có phí, có hồ sơ và có quy trình vận chuyển, trẻ em dần bị nhìn theo một cách khác. Các em không còn là những đứa trẻ cần được bảo vệ, mà trở thành đối tượng trong một chuỗi cung ứng xuyên quốc gia: được chọn, kiểm tra sức khỏe, lập hồ sơ, chuyển giao và đưa sang nước ngoài.

    Nghiên cứu của giáo sư Kim thuộc đại học Suwon về nhận con nuôi xuyên quốc gia cho rằng không thể chỉ nhìn hiện tượng này như một hành động nhân đạo. Ở tầng sâu hơn, đây là dòng chảy một chiều: trẻ em từ các quốc gia nghèo, hậu chiến, thiếu hệ thống phúc lợi được đưa sang các quốc gia giàu hơn, phần lớn là vào các gia đình da trắng trung lưu. Dòng chảy ấy phản ánh sự chênh lệch quyền lực giữa nước gửi con và nước nhận con, giữa gia đình nghèo không có khả năng giữ con và gia đình giàu có nhu cầu nhận con nuôi.

    Ở phía Hàn Quốc, nhận con nuôi quốc tế dần trở thành một cách xử lý những vấn đề xã hội mà nhà nước chưa đủ năng lực hoặc chưa muốn giải quyết: trẻ mồ côi, trẻ lai, trẻ bị bỏ rơi, con của phụ nữ chưa kết hôn và trẻ em từ các gia đình nghèo. Thay vì xây dựng một mạng lưới phúc lợi đủ mạnh để hỗ trợ mẹ đơn thân, phụ nữ nghèo hoặc gia đình yếu thế tiếp tục nuôi con, hệ thống lại lựa chọn con đường đưa trẻ ra nước ngoài.

    Ở phía Mỹ và các nước phương Tây, nhu cầu nhận con nuôi cũng rất lớn. Một số gia đình không thể sinh con hoặc khó nhận trẻ trong nước, trong khi trẻ em Hàn Quốc được xem là “dễ thích nghi”. Hình ảnh người châu Á chăm chỉ, ngoan ngoãn, ít gây xung đột và có thể hòa nhập tốt vào xã hội phương Tây đã được chiếu lên chính những đứa trẻ Hàn Quốc. Trong mắt một số cơ quan và gia đình nhận nuôi, trẻ Hàn Quốc trở thành nhóm “an toàn”: có hồ sơ tương đối rõ, sức khỏe được kiểm tra, quy trình xuất cảnh ổn định và ít nguy cơ tranh chấp từ cha mẹ ruột.

    Chính từ đây, ranh giới giữa “cứu giúp trẻ em” và “đáp ứng nhu cầu của người lớn” trở nên mờ nhạt. Khi trẻ em bị đánh giá qua độ tuổi, giới tính, ngoại hình, tình trạng sức khỏe, hồ sơ và khả năng thích nghi, nhận con nuôi không còn thuần túy là hoạt động bảo vệ trẻ em. Nó bắt đầu mang dáng dấp của một thị trường. Điều đau đớn là trong thị trường đó, một số đứa trẻ bị tước đi những thứ căn bản nhất: tên thật, ngày sinh thật, thông tin cha mẹ ruột, ngôn ngữ mẹ đẻ và quyền được biết vì sao mình bị đưa đi.

    Sự hỗn loạn trong hệ thống nhận con nuôi 

    Khi trẻ em bị đặt vào logic của quy trình và thị trường, sai lệch hồ sơ không còn là lỗi hành chính nhỏ. Nó có thể trở thành vết nứt đi theo một con người suốt đời.

    Một trong những ví dụ tiêu biểu là câu chuyện của đạo diễn tài liệu người Mỹ gốc Hàn Deann Borshay Liem, theo Yonhap. Bà sinh ra với tên Kang Ok-jin, nhưng được đưa sang Mỹ năm 1966 dưới cái tên Cha Jung Hee. Khi đó, một gia đình Mỹ đã hoàn tất thủ tục để nhận nuôi một bé gái tên Cha Jung Hee tại một cô nhi viện ở Jeonju. Nhưng chỉ vài ngày trước khi cha mẹ nuôi đến Hàn Quốc, cha ruột của Cha Jung Hee xuất hiện và đưa con gái về nhà.

    Trước tình huống khó xử, cô nhi viện đã chọn một bé gái khác có độ tuổi và ngoại hình tương tự, tên thật là Kang Ok-jin, rồi đưa em sang Mỹ dưới danh tính Cha Jung Hee. Trên hộ chiếu và giấy tờ xuất cảnh, đứa trẻ ấy trở thành Cha Jung Hee. Khi sang Mỹ, bà có tên mới là Deann Borshay Liem, nhưng trong nhiều giấy tờ pháp lý, dấu vết của cái tên Cha Jung Hee vẫn tiếp tục tồn tại.

    Với Liem, vấn đề không chỉ là bị đổi tên. Đó là cảm giác sống trong thân phận của một người khác. Bà từng nói mình như đang đi trong đôi giày của Cha Jung Hee, sống một cuộc đời đáng lẽ thuộc về người khác. Hành trình đi tìm “Cha Jung Hee thật” sau này trở thành nội dung bộ phim tài liệu In the Matter of Cha Jung Hee, được PBS phát sóng tại Mỹ. Bộ phim không chỉ kể về một cuộc tìm kiếm cá nhân, mà còn đặt câu hỏi lớn hơn: bao nhiêu đứa trẻ Hàn Quốc đã bị đổi tên, đổi tuổi, đổi hồ sơ để phù hợp với quá trình nhận con nuôi?

    Năm 2025, Ủy ban Sự thật và Hòa giải Hàn Quốc kết luận rằng trong nhiều vụ nhận con nuôi quốc tế từ năm 1964 đến 1999, đã có các vi phạm nhân quyền như ghi trẻ còn cha mẹ thành trẻ mồ côi, làm giả tài liệu và thậm chí thay trẻ khác trong trường hợp trẻ dự kiến xuất cảnh qua đời trước ngày đi. Ủy ban cũng chỉ trích việc chính phủ Hàn Quốc từng ưu tiên đưa trẻ ra nước ngoài thay vì củng cố hệ thống phúc lợi trẻ em trong nước. Những phát hiện này cho thấy các bi kịch như Deann Borshay Liem chắc chắn không phải chỉ là ngoại lệ hi hữu. Chúng phản ánh một thời kỳ mà trẻ em có thể bị xử lý như hồ sơ, còn hồ sơ có thể bị điều chỉnh để hệ thống tiếp tục vận hành.

    Hệ quả của trẻ em không quốc tịch

    Một hồ sơ sai có thể khiến một người đánh mất gốc gác. Nhưng với nhiều con nuôi Hàn Quốc tại Mỹ, vấn đề còn đi xa hơn: họ lớn lên mà không có quốc tịch Mỹ.

    Emily, người được nhắc đến trong các bài viết về cộng đồng con nuôi Hàn Quốc tại Mỹ, là một ví dụ. Bà được nhận nuôi ở Minnesota khi mới 3 tháng tuổi, sống cả đời như một người Mỹ, nhưng đến tuổi ngoài 60 vẫn không có quốc tịch Mỹ. Cha mẹ nuôi của bà đã không hoàn tất thủ tục nhập tịch trước khi bà trưởng thành. Kết quả là Emily gặp khó khăn trong việc gia hạn bằng lái, tiếp cận bảo hiểm y tế và luôn sống trong nỗi lo bị trục xuất về Hàn Quốc.

    Joy Alessi là một trường hợp khác từng được đài KBS nhắc đến. Bà được đưa sang Mỹ khi còn rất nhỏ và lớn lên với niềm tin mình là công dân Mỹ. Nhưng đến năm 25 tuổi, khi xin hộ chiếu để đi Mexico, bà mới biết mình không có quốc tịch Mỹ. Điều tưởng như hiển nhiên – rằng một đứa trẻ được gia đình Mỹ nhận nuôi và lớn lên ở Mỹ sẽ là người Mỹ – hóa ra lại không được pháp luật bảo đảm.

    Bi kịch này xuất phát từ lỗ hổng trong quy trình nhập tịch. Đạo luật Quốc tịch Trẻ em của Mỹ năm 2000 giúp nhiều trẻ được nhận nuôi từ nước ngoài tự động có quốc tịch nếu đáp ứng điều kiện, nhưng bộ Ngoại Giao Mỹ nêu rõ luật này có hiệu lực từ ngày 27.2.2001 và không áp dụng cho những người đã từ 18 tuổi trở lên vào thời điểm đó. Vì vậy, nhiều người Hàn Quốc được nhận nuôi trước giai đoạn này mà cha mẹ nuôi không làm thủ tục đầy đủ đã bị bỏ ngoài hệ thống.

    Với họ, không có quốc tịch không chỉ là vấn đề giấy tờ, mà còn ảnh hưởng đến quyền đi lại, việc làm, bảo hiểm, phúc lợi, quyền bầu cử và cảm giác an toàn căn bản. Một số người thậm chí đối mặt với nguy cơ bị trục xuất về Hàn Quốc, nơi họ không nói được tiếng Hàn, không có gia đình, không có ký ức và không có nền tảng sống.

    Đây là nghịch lý đau đớn của lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ: những đứa trẻ được đưa đi với lời hứa về một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng khi trưởng thành lại có thể bị chính đất nước nuôi mình lớn xem là người nước ngoài.

    Châu Âu cũng là điểm đến của những đứa trẻ bị bỏ rơi

    Mỹ là điểm đến lớn nhất của trẻ em Hàn Quốc được nhận nuôi, nhưng không phải là nơi duy nhất. Pháp, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Hà Lan và nhiều nước châu Âu khác cũng từng tiếp nhận hàng nghìn trẻ em Hàn Quốc. Vì vậy, lịch sử này không thể chỉ được gọi là vấn đề Hàn – Mỹ. Nó là một hệ thống xuyên quốc gia, trong đó trẻ em từ Hàn Quốc được đưa vào các gia đình phương Tây trong nhiều thập kỷ.

    Theo KBS, Jean-Vincent Placé là một trong những trường hợp con nuôi Hàn Quốc nổi bật tại châu Âu. Ông sinh ra với tên Kwon Oh-bok, được đưa sang Pháp làm con nuôi năm 1975 khi mới 7 tuổi. Từ một đứa trẻ Hàn Quốc tại trại trẻ ở Suwon, ông trở thành Jean-Vincent Placé, lớn lên trong một gia đình Pháp, học tập, tham gia chính trường và sau này giữ chức Bộ trưởng Cải cách Nhà nước trong chính phủ Pháp. Câu chuyện của Placé thường được nhắc đến như một ví dụ thành công: một người con nuôi Hàn Quốc hòa nhập vào xã hội mới, đạt vị trí cao và trở thành cầu nối giữa Pháp với Hàn Quốc. Nhưng ngay cả trong câu chuyện ấy cũng có một vết đứt đoạn. Placé từng cố gắng xóa ký ức về Hàn Quốc vì nghĩ mình bị quê hương bỏ rơi. Chỉ khi trưởng thành, sau khi có con và trở lại Hàn Quốc, ông mới bắt đầu quá trình hòa giải với nơi mình sinh ra.

    Ở Bắc Âu và Tây Âu, những tranh luận về nhận con nuôi quốc tế cũng ngày càng mạnh. Nhiều người con nuôi trưởng thành lên tiếng về hồ sơ bị sai lệch, thiếu thông tin về cha mẹ ruột, cảm giác bị tách khỏi ngôn ngữ và văn hóa gốc. Một số quốc gia châu Âu đã bắt đầu xem xét lại hệ thống nhận con nuôi quốc tế, sau khi các cuộc điều tra và lời kể của người trong cuộc cho thấy các sai phạm không chỉ xảy ra ở một quốc gia nhận con.

    Điều đó cho thấy vấn đề không nằm ở riêng nước Mỹ hay một vài tổ chức cụ thể. Đó là một cấu trúc rộng hơn, trong đó các nước giàu nhận trẻ em từ các nước nghèo hơn dưới danh nghĩa nhân đạo, nhưng không phải lúc nào cũng bảo đảm đầy đủ quyền lợi, danh tính và tương lai pháp lý cho đứa trẻ. 

    Cơ hội hòa giải với nơi mình sinh ra 

    Đối với nhiều người con nuôi Hàn Quốc, trưởng thành không chỉ là bước vào đời sống người lớn. Đó còn là thời điểm họ bắt đầu tự hỏi: Tôi là ai? Tên thật của tôi là gì? Tôi có cha mẹ ruột không? Vì sao tôi bị đưa đi? Và Hàn Quốc có phải là quê hương của tôi không?

    Hành trình tìm về cội nguồn có thể đem lại hy vọng, nhưng không đơn giản. Nghiên cứu về người con nuôi xuyên quốc gia cho thấy họ thường đứng giữa nhiều ranh giới: giữa gia đình nuôi và gia đình ruột, giữa văn hóa Mỹ hoặc châu Âu và nguồn gốc Hàn Quốc, giữa cơ thể châu Á và môi trường da trắng nơi họ lớn lên, giữa cảm giác được cứu giúp và cảm giác bị tước mất một phần lịch sử cá nhân.

    Khi trở về Hàn Quốc, nhiều người có thể cảm thấy nhẹ nhõm khi lần đầu được ở giữa những gương mặt giống mình. Nhưng cảm giác ấy thường chỉ kéo dài đến khi họ nhận ra mình không nói được tiếng Hàn, không hiểu đầy đủ văn hóa Hàn và không dễ được xã hội Hàn Quốc xem là “người Hàn thực sự”. Họ có ngoại hình Hàn Quốc, nhưng lại mang ngôn ngữ, thói quen và ký ức của một đất nước khác.

    Đó là lý do nhiều nghiên cứu gọi bản sắc của người con nuôi xuyên quốc gia là “bản sắc vượt biên giới”. Họ không hoàn toàn là người Mỹ, cũng không hoàn toàn là người Hàn Quốc theo nghĩa truyền thống. Họ là những con người mang trong mình nhiều lớp lịch sử: được nuôi dưỡng ở một nơi, sinh ra ở một nơi khác, mất một gia đình, có một gia đình mới, và phải tự viết lại câu chuyện đời mình từ những mảnh hồ sơ rời rạc.

    Nhưng chính quá trình ấy cũng mở ra cơ hội hòa giải. Với Deann Borshay Liem, hòa giải bắt đầu từ việc tìm lại sự thật về cái tên Cha Jung Hee. Với Jean-Vincent Placé, hòa giải bắt đầu từ chuyến trở về Suwon, nơi ông từng sống trước khi sang Pháp. Với nhiều người con nuôi khác, hòa giải có thể bắt đầu từ một tờ hồ sơ, một xét nghiệm ADN, một cuộc gặp mẹ ruột, hoặc đơn giản là quyền được nói rằng: tôi không chỉ là người được cứu giúp, tôi là người có lịch sử riêng.

    Hòa giải không có nghĩa là quên đi việc bị đưa đi. Hòa giải là được biết sự thật, được tiếp cận hồ sơ thật, được quyền lựa chọn mức độ gắn bó với Hàn Quốc và được công nhận như một con người có tiếng nói, chứ không phải như biểu tượng của lòng nhân đạo hay thành công của hệ thống nhận con nuôi.

    Cơ hội trong tương lai: từ lời xin lỗi đến trách nhiệm thực chất 

    Ngày 2.10.2025, Tổng thống Lee Jae-myung đã gửi lời xin lỗi chính thức tới những người Hàn Quốc bị đưa ra nước ngoài làm con nuôi, tới gia đình nuôi và gia đình ruột của họ. Ông nói rằng, thay mặt Hàn Quốc, ông gửi lời xin lỗi và an ủi chân thành tới những người đã chịu đau khổ, đồng thời thừa nhận nỗi bất an, đau đớn và hỗn loạn mà nhiều người con nuôi phải trải qua khi bị đưa đến một đất nước xa lạ từ khi còn quá nhỏ để nói được tiếng mẹ đẻ.

    Lời xin lỗi này được đưa ra trong bối cảnh Hàn Quốc chính thức bước vào hệ thống của Công ước Hague về nhận con nuôi quốc tế. Theo Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế tư, Công ước năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nhận con nuôi quốc tế có hiệu lực với Hàn Quốc từ ngày 1.10.2025, sau khi nước này nộp văn kiện phê chuẩn vào tháng 6 cùng năm. Công ước nhấn mạnh nguyên tắc bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ em, vai trò trách nhiệm của nhà nước và sự minh bạch trong toàn bộ quy trình nhận con nuôi.

    Tuy nhiên, lời xin lỗi chỉ có ý nghĩa nếu được nối tiếp bằng hành động cụ thể. Với những người con nuôi Hàn Quốc ở Mỹ và châu Âu, điều họ cần không chỉ là sự thừa nhận muộn màng. Họ cần quyền tiếp cận hồ sơ gốc, cơ chế sửa sai các giấy tờ bị làm giả, hỗ trợ tìm cha mẹ ruột, tư vấn tâm lý, hỗ trợ pháp lý về quốc tịch và một hệ thống minh bạch để không ai tiếp tục bị bỏ rơi trong chính lịch sử của mình.

    Hàn Quốc cũng cần nhìn lại cách xã hội từng đối xử với phụ nữ nghèo, mẹ đơn thân và trẻ em sinh ngoài hôn nhân. Nếu không có chính sách hỗ trợ để các gia đình yếu thế có thể nuôi con, việc nhận con nuôi quốc tế sẽ luôn có nguy cơ trở thành cách che giấu thất bại của phúc lợi xã hội. Bảo vệ trẻ em không thể chỉ là đưa các em đến một gia đình giàu hơn ở nước ngoài, mà trước hết phải là bảo vệ quyền được sống an toàn trong gia đình gốc, nếu điều đó còn có thể.

    Với Mỹ và các nước nhận con nuôi, trách nhiệm cũng chưa kết thúc. Một đứa trẻ được nhận nuôi từ nước ngoài phải được bảo đảm quốc tịch, quyền pháp lý và quyền được chăm sóc sau nhận nuôi. Không thể có chuyện một người được đưa sang Mỹ từ khi còn nhỏ, lớn lên như người Mỹ, rồi nhiều thập kỷ sau mới phát hiện mình không có quốc tịch và có thể bị trục xuất về một đất nước xa lạ.

    Lịch sử con nuôi Hàn – Mỹ là một vết thương khó lành không phải vì nó thuộc về quá khứ, mà vì hậu quả của nó vẫn hiện diện trong đời sống hiện tại. Nó sống trong những người không biết tên thật của mình, trong những người mang ngày sinh của người khác, trong những người đi tìm mẹ ruột bằng hồ sơ bị sai, trong những người sợ bị trục xuất khỏi đất nước đã nuôi mình lớn, và trong những người trở về Hàn Quốc nhưng không thể nói chuyện với gia đình ruột bằng cùng một ngôn ngữ.

    Điều Hàn Quốc cần làm từ nay không phải chỉ là xin lỗi vì đã từng là “quốc gia xuất khẩu trẻ em”. Điều cần thiết hơn là bảo đảm rằng những đứa trẻ từng bị đưa đi sẽ không bị bỏ rơi thêm một lần nữa – lần này là trong hành trình đi tìm sự thật, quốc tịch, bản sắc và quyền được công nhận như những con người trọn vẹn.

    13 min

About Tạp chí xã hội

From the publisher's feed

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

More shows like Tạp chí xã hội

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ by SBS

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ

29 Listeners

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

221 Listeners

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí tiêu điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí tiêu điểm

0 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Tạp chí văn hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí văn hóa

0 Listeners

Spiderum Official by Spiderum

Spiderum Official

25 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners

điêu khắc bản thân by Chuyện đời Sales

điêu khắc bản thân

1 Listeners

5 Phút Chuyện Thị Trường by 5 Phút Chuyện Thị Trường cùng Vũ Kim Hạnh

5 Phút Chuyện Thị Trường

0 Listeners

Tieng Viet Oi by Tieng Viet Oi

Tieng Viet Oi

0 Listeners