Tạp chí Xã Hội

Tạp chí Xã Hội

By RFI Tiếng ViệtSociety & Culture
Download on the App Store

Tạp chí Xã Hội episodes

  • Anh quốc: Thủ tướng Burnham muốn tăng số trường dạy nghề cho thanh thiếu niên

    Một trong những quyết sách của thủ tướng Anh, Andy Burnham, khi lên nhậm chức giữa năm nay, 2026, là điều chỉnh hệ thống giáo dục trên cấp phổ thông ở Anh, nhằm tăng số trường nghề, các khóa đào tạo kỹ năng thực tiễn cho thanh thiếu niên, thay vì chỉ tập trung vào cấp đại học. Ông Burnham, cựu thị trưởng Manchester, còn muốn dư luận thay đổi nhãn quan, không nên coi đại học là con đường tiến thân duy nhất cho thế hệ trẻ.

    Vậy sáng kiến về chính sách giáo dục mới này của ông có gì đặc biệt và liệu có giúp thay đổi nền kinh tế Anh quốc? Thông tin viên Nguyễn Giang từ Luân Đôn đã theo dõi chủ đề này.

    RFI: Đầu tiên xin anh cho biết vì sao ông Burnham nêu ra ưu tiên về học nghề hơn là học đại học?

    Nguyễn Giang: Đầu tiên phải nói là thời điểm thủ tướng Andy Burnham đưa ra chính sách “thay đổi cơ bản hệ thống giáo dục” ở cấp trên phổ thông tại Anh, đã đánh trúng vào một mong đợi của công chúng và các bậc cha mẹ ở Anh về một sự thay đổi lớn.

    Ngay trong tuần ông Burnham lên nhậm chức ngày 20/07/2026, phủ thủ tướng Anh (hôm 26/07) đã tung ra nghị trình thay đổi 4 lĩnh vực: quốc phòng, phân quyền cho các địa phương, an sinh xã hội, và giáo dục dạy nghề (vocational education). Như thế, về mức độ ưu tiên thì chiến lược cải tổ giáo dục được đặt ngang hàng với quốc phòng.  

    Có lý do trực tiếp và gián tiếp cho chính sách giáo dục ưu tiên trường nghề hơn trước đây.

    Một là, về tác động trực tiếp, dư luận Anh đang lo lắng về làn sóng sa thải giảng viên, giáo sư hàng chục đại học diễn ra hơn 2 năm qua. Chỉ mùa hè năm nay, có tin nói hàng vạn giảng viên, nhân viên các đại học đã, đang và sắp mất việc, vì ngân sách của khoảng 120 đại học ở Anh bị thâm hụt. Điều này không chỉ khiến người ta lo ngại về sự lãng phí đầu tư quốc gia vào giáo dục đại học (higher education)  nói chung, mà còn khiến người ta lo ngại cho tương lai của thanh thiếu niên ở Anh nói riêng. Đây chính là câu hỏi dài hơi hơn: bằng đại học nay có giá trị gì? Thực tế là trong khi thị trường lao động sau đại dịch COVID-19 vẫn yếu, việc áp dụng AI (trí tuệ nhân tạo) khiến nhiều ngành học bị mất giá. Hệ quả là sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường vẫn thất nghiệp khá nhiều. 

    Ngoài ra, về mặt xã hội, ở Anh hiện có nhóm NEET (Not in Education, Employment and Training), gồm 1,02 triệu thanh thiếu niên 16-24 tuổi không học hành, không làm gì cả, đang là gánh nặng lớn cho ngân sách. Chính phủ bỏ ra hàng năm 125 tỷ bảng để chu cấp cho họ.

    Vì thế, chính ông Burnham đã nêu ra chính sách là “coi các trường nghề có uy tín, có giá trị ngang các trường đại học”, để mở một lối đi rộng hơn cho các bạn trẻ không vào đại học. Ông cũng nói nước Anh “đi vào con đường sai lầm” là quảng bá quá mức cho đại học (overpromote universities) và phê phán văn hóa gây sức ép lên học sinh, sinh viên và gia đình của họ bởi “các xưởng thi cử” (exam factories).

    Chính phủ Anh nêu ví dụ về Hà Lan và Đức, nơi có các trường nghề mạnh và nền công nghiệp địa phương phát triển, và muốn Anh học theo các nước đó.

    RFI: Như thế có phải từ trước tới nay các trường dạy nghề ở Anh bị cho là kém hơn đại học? Anh có thể giải thích vì sao có sự phân biệt đó?

    Nguyễn Giang: Vương quốc Anh thực ra chỉ có chừng 160 đại học được công nhận là ‘university’ (đại học tổng hợp), và khoảng vài chục viện đại học có chứng chỉ tương đương, tạm cho là 200 cả thảy. Các cơ sở này, tuy nhiên, đào tạo ra ít nhất là 2,5 triệu sinh viên tốt nghiệp mỗi năm, với đầu vào chừng 2,8 triệu em nhập học niên khóa 2024-25. 

    Số trường nghề, còn gọi là ‘vocational college’ hoặc có chỗ là ‘technological college’ có từ 380 tới 400 cơ sở trên cả nước nhưng chỉ đào tạo khoảng 1,6 triệu học viên mỗi năm. Họ dạy các nghề dịch vụ như chăm sóc sức khỏe (làm y tá, hộ lý), thiết kế công nghiệp (industrial design), công nghệ thông tin, xây dựng. Sự khác biệt với đại học là các trường nghề nhận học viên từ 16 tuổi. 

    Ở Anh hiện nay, học sinh sau lớp 10 không muốn học tiếp hệ dự bị đại học để lên university thì chọn trường nghề. Họ học từ năm 16 đến 18 tuổi (3 năm) rồi nhận vị trí thực tập ở các bệnh viện, công trường, công ty.

    Lý do lịch sử, phân biệt giai cấp khiến trường nghề không có uy tín như trường đại học. Ở đây còn có định kiến trong xã hội Anh cho rằng trường nghề là chỗ “đón sinh viên thi trượt” (fallback option) cho những bạn không vào được đại học. Các vị trí nghề nghiệp sau trường nghề thường gắn với lao động không hẳn là chân tay, nhưng không phải là công việc mang tính trí thức, học thuật (academic), nên có sự phân biệt đối xử.

    RFI: Chính sách của ông Burnham có gì mới với các trường dạy nghề, thưa anh?

    Nguyễn Giang: Đầu tiên, phủ thủ tướng Anh muốn áp dụng trên cả nước Anh chương trình dạy nghề mà ông Burnham đã áp dụng ở Manchester, gọi là Manchester Baccalaureate (Mbacc). 

    Tôi có tìm hiểu chương trình này, hiện mới triển khai tới năm thứ 2, như một phần của Viễn kiến 2030 cho đại đô thị Manchester, thì thấy có nhiều điểm thú vị.

    Thứ nhất, họ coi Giáo dục, Việc làm và Kỹ năng (Education, Work and Skills) là một chuỗi liên kết, chứ không phải cứ dạy rồi sau đó ai tốt nghiệp ra trường tự đi mà tìm việc. Ở Manchester, họ làm ngược lại, chọn xuất phát điểm là thị trường việc làm, kết nối ngay với các doanh nghiệp, các công ty dịch vụ giao thông, y tế, thiết kế đô thị, và dựa trên nhu cầu việc làm mới xác định các nhóm kỹ năng, từ đó xây dựng chương trình học (curriculum) và chọn cách đào tạo cho học viên. Người ta nhấn mạnh tới các kỹ năng thiết thực, chứ không học lý thuyết suông nữa.

    Thứ nhì, để thành công thì ba bên đều cam kết với nhau: công ty cam kết sẽ tuyển nếu bên đào tạo dạy được những học viên theo chương trình; trường nghề sẽ phải làm những gì thị trường yêu cầu; và học viên, sau khi làm bài thẩm định (quiz) về kỹ năng cá nhân, sở thích, sẽ ghi danh chọn khóa học họ muốn. Hệ thống tất nhiên không  bắt công ty A phải tuyển học viên B… hay bắt ai phải chọn việc này, việc kia, nhưng đảm bảo sẽ cho người học con đường tới việc làm tốt (guarantee a clear line of sight to good jobs).

    Kinh nghiệm của Manchester là công ty, cơ sở lao động tới trường cấp II, trình bày, chia sẻ với các học sinh ở tuổi chọn chỉ GCSE (chứng chỉ tốt nghiệp phổ thông) về các chương trình thực tập. Các em nào ở tuổi mới có 14-15 đã muốn chọn học nghề và đi thực tập, để năm 16 tuổi có chứng chỉ, rồi đi làm luôn, được khuyến khích.

    Điểm thứ ba, mà tôi thấy quan trọng là khi cho triển khai McBacc ra cả nước, chính phủ Anh muốn kỹ năng số (digital skills), vốn thân thuộc với thế hệ này, phải trở thành một phần của chương trình đào tạo.

    Để triển khai cải cách này, chính phủ Anh cũng sẽ bỏ vào nhiều tỷ bảng từ nay tới 2030 để hỗ trợ việc phối hợp giữa cơ sở cung cấp việc làm và cơ sở đào tạo (employment-education alignment). Thiếu hai mắt xích này thì cải cách trở nên vô nghĩa.

    RFI: Theo những đánh giá sơ bộ tại Anh quốc, cách tăng uy tín và nội dung thiết thực cho trường nghề, cùng đầu tư của chính phủ,  có đem lại kết quả hay không?

    Nguyễn Giang: Hiện còn quá sớm để đánh giá chương trình tăng giá trị thực tiễn và uy tín của trường nghề tại Anh có hiệu quả tới mức nào. Một đánh giá sơ bộ của nhà báo Rachel Sylvester đăng trên tờ The Observer tại một số trường ở Manchester cho thấy các trường tham gia chương trình McBacc sớm trong 18 tháng qua, thì có 0% học sinh lớp 10 bỏ học, so với con số 3,8% ở các trường còn lại. 

    Các báo khác ở Anh bình luận rằng việc triển khai ra cả nước mô hình nói trên sẽ còn phụ thuộc nhiều vào cấu trúc kinh tế từng vùng miền. Ví dụ, ở các làng quê thì nhu cầu tuyển người làm nông nghiệp rất ít, vì đó thường là các doanh nghiệp gia đình. Ở các nơi thất nghiệp đang cao sẵn rồi thì việc ưu tiên chọn các thiếu niên 17-18 tuổi vào làm sẽ khiến lứa người thất nghiệp cao tuổi hơn, già hơn phản đối. Cần phải nói là để thành công thì chính phủ cần bỏ ra rất nhiều tiền. Chỉ riêng các khoản đầu tư công để tạo ra cấu trúc vận hành kiểu mới ở Manchester (Greater Manchester Combined Authority), gồm cả đầu tư vào đào tạo tay nghề cho giới trẻ, đã lên tới 10 tỷ bảng Anh trong những năm qua. Triển khai ra cả nước sẽ cần những khoản tiền đầu tư công khổng lồ.

    Viễn kiến của ông Burnham dù sao cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh cho cả hệ thống giáo dục Anh lâu nay đầu tư quá nhiều vào khối đại học, mỗi năm cho ra trường vô số người trẻ chỉ nắm được các lý thuyết xã hội, mà thiếu kỹ năng thực hành. Điều chắc chắn là dù nhanh hay chậm thì trong vòng 4-5 năm tới, hệ thống này sẽ phải thay đổi và vai trò của các trường nghề sẽ được đề cao hơn, giúp giáo dục và đào tạo bám sát thực tiễn kinh tế hơn.   

    10 min
  • Thị trường lao động quốc tế và xu hướng dịch chuyển lao động phổ thông Việt Nam

    Thị trường lao động quốc tế đang chứng kiến sự dịch chuyển đáng kể của lao động phổ thông Việt Nam trong những năm gần đây, nhất là từ sau đại dịch Covid-19. Bên cạnh các thị trường quen thuộc tại châu Á, nhiều điểm đến mới tại châu Âu, Úc và Bắc Mỹ đang dần trở nên hấp dẫn hơn, phản ánh sự thay đổi cả về nhu cầu tuyển dụng và chính sách nhập cư của các quốc gia tiếp nhận.

    Để hiểu thêm về sự thay đổi này, RFI đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Đức Việt, tổng giám đốc của công ty phát triển nguồn nhân lực MD Việt Nam, chuyên về dịch vụ giới thiệu nguồn nhân lực ra nước ngoài.

    RFI : Xu hướng dịch chuyển các thị trường lao động nước ngoài đối với lao động phổ thông Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra như thế nào ?

    GĐ.Nguyễn Đức Việt : Trong khoảng vài năm trở lại đây, đặc biệt là sau dịch Covid thì xu hướng dịch chuyển của lao động Việt Nam ra quốc tế đã thay đổi khá nhiều và khá là rõ nét.

    Thị trường truyền thống thì trước đây bao gồm ví dụ Nhật Bản. Trong nhiều năm, con số chúng ta có là từ khoảng 50.000 đến 80.000 lao động sang làm việc ở hạng mục là lao động phổ thông. Ngoài ra, còn có thêm những lao động có tay nghề. Đài Loan thì cũng đều đặn hàng năm có từ khoảng 40.000 đến khoảng 70.000 lao động mới sang làm việc. Hàn Quốc thì có thể sẽ ít hơn và tùy theo những hạn mức mà chính phủ Hàn Quốc cấp cho Việt Nam. Hiện nay, thường là các đơn vị chủ quản của nhà nước là những đơn vị triển khai chính, gồm visa E9 - chương trình EBS, hoặc visa E8 là chương trình thời vụ 5 tháng hoặc 8 tháng.

    Đấy có thể nói là ba thị trường truyền thống nhất mà nhiều năm qua Việt Nam đang đưa người lao động đi nước ngoài và có sự quản lý rất chặt chẽ của nhà nước. Hiện nay thì chúng tôi thấy đang có sự mở rộng rất mạnh mẽ sang những quốc gia đặc biệt là ở châu Âu, ví dụ như Đức, Hungary, Ba Lan hay Nga. Ngoài ra, cũng có một số quốc gia khác được gọi là phát triển rất là tốt, như Úc hay Canada.

    Nguyên nhân dịch chuyển đến các quốc gia này thì chủ yếu là do nhu cầu nhân lực tại đó, dân số già hóa, thiếu hụt lao động nhiều, và có một đặc thù khác là người trẻ tại các nước này ít tham gia vào những công việc như sản xuất xây dựng hay những công việc về dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

    Một số nước cũng mở cửa cho những loại hình visa lao động nhiều hơn, đặc biệt là thủ tục xin visa có thể đơn giản hơn với người lao động Việt Nam. Một số quốc gia tiên tiến ở trung tâm châu Âu, như Đức chẳng hạn, họ mở cửa thì những quốc gia xung quanh cũng thu hút nhân lực và thoải mái hơn trong các chính sách tiếp cận lao động.

    Đâu là lý do dẫn đến sự dịch chuyển này ? Sự dịch chuyển thị trường này chỉ đơn giản là sự dịch chuyển về địa lý hay là về cả tính chất công việc ?

    Sự thay đổi ở đây là về tính chất công việc và tính chất về thu nhập. Theo ý kiến cá nhân của tôi thì sự dịch chuyển này là do ở những thị trường truyền thống với người lao động Việt Nam thì thu nhập không đáp ứng được tốt như trước. Trước đây, khi người lao động Việt Nam đi theo những chương trình như của Đài Loan, Nhật Bản thì họ có thu nhập có thể nói là chênh lệch rất cao so với làm công nhân ở Việt Nam. Người lao động đi 2-4 năm là hoàn toàn có thể có một lượng tích lũy về tài chính khá tốt và có thể phát triển thêm hoặc xây dựng nhà cửa chẳng hạn. Gần đây, tỷ giá của đồng Yen Nhật giảm sút rất nhiều, thế nên lựa chọn đi những thị trường như Nhật Bản thì dần dần trở lên không còn thu hút đối với người lao động Việt Nam.

    Và đối với thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan thì đó thường là những thị trường về lao động cơ bản. Và khi những thị trường châu Âu, hay Úc, Canada mà thiếu lao động và họ mở cửa tiếp nhận lao động thì nhận được chào đón khá là mạnh mẽ từ phía nguồn nhân lực Việt Nam, trong đó có cả những nguồn lực có tay nghề, biết ngôn ngữ, thậm chí là có trình độ.

    Vậy những thị trường truyền thống của lao động Việt Nam hiện nay đang thay đổi ra sao về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận ? Theo ông, thị trường nào đang có xu hướng siết chặt hơn và thị trường nào thì đang mở rộng cơ hội cho lao động phổ thông Việt Nam hơn ?

    Trong vài năm trở lại đây thì các thị trường truyền thống đang tuyển lao động Việt Nam thì họ vẫn duy trì được nhu cầu tuyển dụng rất lớn. Tuy nhiên, do sự thiếu hụt và chính sách đang thay đổi nhiều, nên họ chuyển từ tuyển dụng ngắn hạn thành tiếp nhận người lao động dài hạn.

    Có thể thấy điển hình là những thị trường như Nhật Bản, trước đây họ chỉ tiếp nhận những chương trình lao động phổ thông với hợp đồng 3 năm. Gần đây, họ đã chuyển sang những chương trình dài hơn. Người lao động có thể gia hạn thêm 2 năm, có thể nối visa lâu dài và có thể dễ dàng thi để chuyển giai đoạn và có thể ở lại định cư, cũng như bảo lãnh gia đình.

    Hay những thị trường như Hàn Quốc mở cửa tiếp nhận nhiều hơn những ngành nghề và số lượng. Họ tiếp nhận lao động không chỉ ở Việt Nam, mà cả từ nhiều thị trường ở Đông Nam Á, như Thái Lan, Indonesia. Nhật Bản thì mấy năm trở lại đây thì cũng tập trung tiếp nhận rất nhiều ở những thị trường mới như Indonesia, Myanmar hay Nepal chẳng hạn.

    Đâu là những yếu tố đang thúc đẩy sự dịch chuyển này : chi phí đi xuất khẩu lao động hay chính sách nhập cư của nước sở tại … ?

    Tôi nghĩ là có nhiều yếu tố cùng tác động. Nhưng trong đó lớn nhất thì là sự thiếu hụt của nhóm lao động trẻ tham gia những công việc phổ thông dẫn đến là các quốc gia thì có những chính sách nhập cư thoáng hơn, thu hút lao động nhiều hơn. Khi các quốc gia có những chính sách thuận lợi thì đồng nghĩa với việc các đơn vị cung ứng chuyên nghiệp có thể quảng bá, triển khai dễ dàng và thuận lợi. Thế nên, chi phí người lao động bỏ ra khi được tham gia ở những đơn vị cung ứng chuyên nghiệp thì chắc chắn cũng thấp hơn.

    Một yếu tố khác : Gần đây tôi thấy là, ví dụ thị trường Đức, rất giống với thị trường Nhật 15 năm trước. Có nghĩa là, trước kia khi chúng tôi triển khai thị trường Nhật Bản, để thuyết phục một xí nghiệp có thể tiếp nhận một người lao động, đặc biệt là người lao động đầu tiên, thì rất là khó, bởi vì khi nhân viên người Nhật, hay quản lý, hay lãnh đạo, không quen với sự hiện diện của lao động nước ngoài trong doanh nghiệp thì tâm lý họ rất e ngại. Dù thuyết phục thế nào họ cũng không nhận. Nhưng khi có những xí nghiệp đã tiếp nhận một số lao động và đánh giá khá cao, mọi việc thuận lợi, thì những nhóm công ty khác bắt đầu nhìn vào và có thể dễ dàng tiếp nhận hơn, và trở thành một trào lưu. Có nghĩa là các doanh nghiệp và các chủ xí nghiệp sử dụng lao động họ rất muốn thử.

    Và tôi đang thấy thị trường Đức đang có yếu tố khá là tương đồng như vậy. Có rất nhiều nhà hàng của Đức bây giờ đang tuyển dụng du học sinh Việt Nam hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam. Người Đức, người châu Âu khi đến một cửa hàng và gặp những phục vụ người Việt Nam thì họ có vẻ đã quen hơn rất là nhiều.

    Thời trước, Việt Nam cũng đã xuất khẩu rất nhiều lao động sang các nước ở Đông Âu, trong đó có Đức. Theo ông, yếu tố lịch sử đó có thể là một thuận lợi để bây giờ các công ty của Việt Nam, ví dụ như công ty phát triển nguồn nhân lực MD Việt Nam, có thể dễ dàng hơn, gặp thuận lợi hơn để đưa lao động sang Đức ?

    Đúng như vậy. Trước đây, cộng đồng Việt Nam ở những quốc gia châu Âu thì cũng sinh hoạt rất sôi động. Tuy nhiên, do chính sách nhập cư vẫn còn tương đối hạn chế. Gần đây, khi chính sách nhập cư được mở hơn thì phát triển thêm, nhiều người thân quen, nhiều nhóm người lao động mới được giới thiệu. Đặc biệt là có một nhóm người Việt đã thành công ở những quốc gia châu Âu, nên có những xí nghiệp rất muốn tiếp nhận, sử dụng và hỗ trợ cho nhóm người lao động Việt Nam. Và gần đây, họ cũng dễ dàng tuyển và thủ tục tuyển cũng đơn giản hơn. Việc sử dụng lao động cũng cơ bản hơn, tạo thuận lợi cho nhóm lao động Việt Nam bây giờ có thể ra nước ngoài làm việc.

    Vậy còn về chất lượng, lao động Việt Nam hiện nay có đáp ứng được yêu cầu ngày càng khác biệt giữa các thị trường hay không ?

    Thực tế thì rất khó để lao động Việt Nam có thể ngay lập tức đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là thị trường châu Âu. Tuy nhiên, lao động Việt Nam luôn có tính cách rất cầu thị, rất chăm chỉ và sáng tạo trong công việc. Tốc độ làm việc cũng như năng suất lao động thường được cải thiện rất nhanh. Đây là một đặc điểm mà chủ sử dụng lao động hoàn toàn có thể chấp nhận khi tiếp nhận những nguồn lực lao động lâu dài.

    Vậy còn về các hạn chế, theo quan sát đánh giá của ông thì lao động Việt Nam có những hạn chế nào đặc biệt hay không ? Ví dụ như về ngôn ngữ hay về tinh thần kỷ luật ?

    Ngôn ngữ và ngoại hình có thể nói là hạn chế lớn nhất mà lao động Việt Nam đang gặp phải. Còn các vấn đề liên quan đến tính cách, kỷ luật thì chúng tôi có thể dễ dàng đào tạo cho người lao động được.

    Tầm vóc của người Việt Nam tương đối nhỏ và khi họ làm ở những dây chuyền sản xuất, hay phục vụ chẳng hạn thì có gì đó cảm thấy không phù hợp, người châu Âu chưa thấy quen mắt. Nhưng với sức khỏe thì tôi nghĩ người Việt Nam hoàn toàn có thể thích nghi và làm tốt được. Đấy gần như đi vào thói quen, là đặc trưng của lao động Việt Nam khi ra nước ngoài làm việc.

    Các doanh nghiệp phát triển nguồn nhân lực như MD Việt Nam thì phải điều chỉnh như thế nào về chiến lực đào tạo và tuyển chọn để thích ứng với sự thay đổi của các thị trường tiếp nhận ?

    Vâng thực tế thì khi tuyển chọn, chúng tôi luôn dựa vào những yêu cầu của công việc và đặc trưng của xí nghiệp. Mỗi xí nghiệp, mỗi công việc thì đều có những điểm đặc biệt và chúng tôi sẽ dựa vào công việc nhiều hơn, để làm sao người lao động có thể thích nghi và quen với tay nghề.

    Nhưng có một thuận lợi khá rõ là những ứng viên khi tham gia những thị trường châu Âu thì thường được đào tạo và có bằng cấp cao đẳng hoặc đại học trở lên và họ có năng lực học tiếng cho nên học tay nghề, học công việc rất nhanh và họ có định hướng rất cụ thể khi ra nước ngoài. Họ xác định là sẽ đi nước ngoài trong một thời gian dài. Về đào tạo thì chúng tôi cũng tạo điểm nhấn vào việc này khá nhiều, xây dựng cho họ một môi trường học tập và đào tạo để có thể thích nghi lâu dài với quốc gia tiếp nhận. Người lao động không chỉ tập trung vào ngoại ngữ, mà chúng tôi sẽ phải trang bị tốt hơn cho họ về pháp luật hay văn hóa, quyền và nghĩa vụ của họ khi làm việc ở những môi trường, đặc biệt là châu Âu, vốn là nơi rất đa phong cách, đa văn hóa.

    Về cấp độ nhà nước thì hiện nay nhà nước Việt Nam có những hiệp định hay thỏa thuận nào với các quốc gia tiếp nhận lao động phổ thông ? Các cơ chế này hỗ trợ doanh nghiệp cũng như người lao động ra sao ?

    Thứ trưởng bộ Lao động Thương binh và Xã hội, năm 2025 đã sát nhập vào bộ Nội Vụ, có rất nhiều biên bản ghi nhớ để hai quốc gia, hai bộ có thể xúc tiến và đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Trong đó, các doanh nghiệp cần phải có giấy phép và khi triển khai thì cần phải báo cáo đầy đủ và chúng tôi cũng phải thực hiện những đợt tập huấn, những hướng dẫn và phải đảm bảo những tiêu chí rất cụ thể cho mỗi thị trường.

    Đối với các thị trường truyền thống thì người lao động sang thì ít nhiều sẽ được đảm bảo tốt hơn, với các chính sách, ví dụ như thị trường Nhật chẳng hạn, năm 2016 sau khi hai bên ký kết thì người lao động được nhận lương tháng, nhà ở phải đảm bảo nhiều tiêu chí, các đơn vị triển khai bắt buộc phải đảm bảo năng lực chuyên môn. Điều đó có nghĩa là quốc gia ký những thỏa thuận rất sát sao, không phải là trả lương theo giờ nữa mà là bắt buộc phải trả lương theo tháng và có các chế độ phúc lợi.

    Hiện nay, những thị trường châu Âu cũng chưa thực sự có những hỗ trợ sát sao như vậy. Và tôi nghĩ là để thực hiện những chương trình sát sao như vậy thì cũng hơi khó.

    Nhưng phía Cục Quản lý Lao động Ngoài nước thì cũng có những đợt tập huấn, hướng dẫn để triển khai những chương trình như chương trình xuất khẩu lao động sang Đức. Chúng tôi cũng đã tham gia những buổi hội thảo do Cục Quản lý lao động ngoài nước đứng ra tổ chức để các doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận với những doanh nghiệp Đức để có thể triển khai, hoặc họ cũng có những lưu ý nhất định để các doanh nghiệp chúng tôi cần phải chú trọng để tránh rủi ro cho người lao động.

    RFI chân thành cảm ơn ông Nguyễn Đức Việt, tổng giám đốc công ty phát triển nguồn nhân lực MD Việt Nam đã tham gia chương trình !

    15 min
  • Thiếu sinh viên, các đại học Anh đua nhau hạ điểm tuyển sinh và giảm học phí

    Hè năm 2026 tại Anh xuất hiện hiện tượng mới là các trường đại học ráo riết tuyển sinh bằng cách giảm học phí cho sinh viên nước ngoài, đồng thời hạ điểm chuẩn để tuyển thêm sinh viên Anh. Mục tiêu là giúp nhiều trường đại học ở Anh có thu nhập để bù vào thâm hụt ngân sách trong cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra. Thế nhưng, hậu quả có phải sẽ là chất lượng đại học Anh quốc sụt giảm?

    Thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn, trước hết cho biết một số nét chính làm thay đổi bức tranh mùa tuyển sinh ở các đại học Anh quốc năm nay.

    TTV. Nguyễn Giang : Đây là hai câu chuyện, nhưng đúng là như hai mặt của một đồng xu mà chúng ta đang chứng kiến trong hệ thống đại học Anh năm nay. Thứ nhất ngay trong nhóm Russell Group, quy tụ 24 đại học hàng đầu ở Anh, đã có nhiều trường hạ điểm tuyển sinh với các học sinh tốt nghiệp trung học để tăng số sinh viên nhập học năm thứ nhất. Thứ nhì là các trường nổi tiếng cũng như ít nổi tiếng ở Anh đua nhau giảm học phí cho sinh viên nước ngoài học hệ postgraduate, đa số là lấy bằng thạc sĩ, có chỗ giảm đi 6.000-8.000 bảng/năm. 

    Về việc giảm điểm cho sinh viên nội địa, trước đây, để vào những trường xếp hạng cao thì học sinh cần điểm hệ dự bị đại học A-Level ba môn là các điểm AAB hay ABB, tùy ngành. Nay thì ba điểm B (BBB) cũng trúng tuyển. Lấy ví dụ, ĐH Queen Mary University of London đã hạ điểm tuyển sinh từ ABB xuống BBC cho các ngành xã hội và khoa học. ĐH Liverpool giảm tương tự, còn ĐH York vẫn giữ điểm ABB/AAB nhưng thông báo sẽ linh hoạt hơn khi xét đơn ở mức điểm thấp hơn.

    RFI Tiếng Việt : Anh có thể giải thích rõ hơn về cấu trúc điểm tuyển sinh vào đại học ở Anh ?

    Vâng, để vào đại học ở Anh, khi học ở hệ dự bị đại học (A-Level), các em học sinh phải làm bài thi và có điểm ba môn. Tiêu chuẩn tuyển sinh thường chọn người có điểm cao nhất là A cho môn chính của ngành học (major), còn hai môn phụ có thể chỉ cần điểm AB, hay BBC. Ví dụ, muốn vào trường UCL học ngành Hóa thì điểm môn Hóa phải là A, còn hai môn khác, ví dụ toán, lý, sinh, có thể là A hoặc B, và môn thứ ba, có thể là công nghệ máy tính hay tâm lý học, chỉ cần điểm B.

    Nay, với việc hạ điểm chuẩn này thì bạn có thể vào học khoa Toán ở trường đại học với điểm môn Toán thi A-Level ở mức B, và học khoa Hóa với điểm môn Hóa chỉ là B. Tức là mức trung bình đã giảm đồng loạt.

    Với học sinh ở Anh, để vào được đại học thì có các tiêu chuẩn hay kỳ thi nào khác không ?

    Đối với học sinh nội địa ở Anh, việc vào các trường đại học đa số chỉ cần điểm tốt nghiệp phổ thông. Nhóm tiêu chuẩn đầu tiên là điểm số từ khóa dự bị đại học (A-Level) hay tú tài quốc tế (International Baccalaureate). Tức là có hai hệ học trung học ở Anh, hệ Tú tài thì theo mô hình Pháp và châu Âu; hệ A-Level là đặc thù của giáo dục Anh. Cũng cần nói thêm là ở Scotland thì có hệ điểm số riêng, gọi là Scottish Advanced Highers.

    Nhưng với các trường nổi tiếng thì trước khi trao giấy báo trúng tuyển, họ còn rà soát thêm ba nấc nữa. Một là, họ bắt học sinh làm bài thi riêng (admission test). Hai là, họ phỏng vấn ứng viên, thậm chí yêu cầu nộp một bài viết trước phỏng vấn, rồi mới xét tiếp. Đây là bộ lọc ở mức cao hơn.

    Theo tôi được biết, các trường hàng đầu như ĐH Oxford, Cambridge, Imperial College London và UCL đều không chỉ nhìn vào điểm số thi tốt nghiệp phổ thông mà còn yêu cầu ứng viên làm thêm bài sát hạch riêng. Ngoài ra, Oxford và Cambridge, cùng gần như tất cả các trường y ở Anh, đều phỏng vấn ứng viên. Có nơi họ còn muốn xem cả điểm thi hệ GCSE (tốt nghiệp lớp 10) để lọc thêm một lần nữa. Tôi xin nói các đại học Anh đều là các cơ sở giáo dục công ích nhưng tự chủ về tài chính và cách tuyển sinh nên họ có những yêu cầu tiêu chuẩn khác nhau.

    Điều giống nhau là năm nay rất nhiều trường (có số liệu nói 17 trong số 24 đại học thuộc nhóm Russell Group danh tiếng), đã tự hạ các điểm chuẩn đầu vào, tức là gỡ bỏ tấm lá chắn đem lại danh tiếng lâu nay của họ, ít ra là về độ khó của việc trúng tuyển, để chạy theo con số sinh viên.

    Thế còn việc giảm học phí (tuition fee discount) để mời thêm sinh viên nước ngoài thì sao?

    Có thể thấy rõ là các trường đang gặp khó khăn về tài chính thì đã làm động tác “đại hạ giá” tiền học phí cho sinh viên nước ngoài, thường từ 16 tới 20 nghìn bảng/năm. Ví dụ ĐH Aberdeen ở Scotland vốn đang phải tái cấu trúc, sa thải hơn 100 giảng viên và nhân viên để tiết kiệm 10 triệu bảng Anh từ nay tới 2028, thì công bố học phí cho sinh viên quốc tế hệ thạc sĩ giảm đi 8.000 bảng. Đây là con số kỷ lục.

    Còn ĐH Nottingham tthif giảm ‘tự động’ cho sinh viên nước ngoài mỗi người 3.000 bảng/năm. Đây cũng là đại học đang thua lỗ sau các cú đầu tư mở rộng trường ở cơ sở tại Trung Quốc và Malaysia. Khủng hoảng tài chính của ĐH Nottingham thì cả nước Anh đã biết. Họ bị thâm hụt ngân sách trên 80 triệu bảng và đe dọa sa thải 2700 nhân viên và giảng viên.

    ĐH Kent, gần nhà tôi, thì nêu rõ họ giảm học phí thêm 5.000 bảng cho sinh viên từ 14 nước, gồm Trung Quốc, Nigeria, Việt Nam và Pakistan. Xin nhắc rằng ĐH Kent hiện đang tồn tại ở dạng được ghép vào cùng ĐH Greenwich ở Luân Đôn để cứu vãn ngân sách, đi kèm một kế hoạch sa thải khá nhiều giảng viên.

    Điều này cho thấy hạ giá tiền học là cách các đại học Anh phải làm để không phá sản chứ không phải là họ ưu ái gì cho sinh viên nước ngoài.

    Có phải đây là xu hướng làm giảm chất lượng giáo dục đại học ở Anh?

    Đã có những ý kiến như vậy, nhưng nhóm Russell Group, qua lời bà Joanna Burton, giám đốc đại diện cho họ, nói rằng “việc nhận đủ sinh viên sẽ giúp tạo ra sự bền vững về tài chính” và tiêu chuẩn học đại học sẽ không hề giảm.

    Thế nhưng, các đại học Anh đang nhấn mạnh hai diễn ngôn mới. Một là, theo họ, hạ điểm chuẩn là cách mở rộng cơ hội cho các học sinh từ tầng lớp xã hội không được ưu tiên, tạm hiểu là con nhà nghèo, tầng lớp lao động và một số nhóm sắc tộc. Hai là các đại học đang chuyển cách tuyển sinh từ điểm số thuần túy sang cách chọn các em “có tiềm năng thành công” (potential to succeed), theo một bài của nữ nhà báo Alexa Philips, chuyên về giáo dục, viết trên trang iPaper (07/08/2026).

    Theo anh, những thay đổi lớn này cũng sẽ có những hệ quả trong ngắn hạn và dài hạn ?

    Đúng thế. Ngay lập tức thì chính sách tuyển sinh dễ hơn trước về điểm số đã làm tăng số sinh viên nhận giấy báo trúng tuyển đại học ở Anh lên cao hơn trước tới 100 nghìn. Năm nay, bước vào niên khóa 2026/2027, học kỳ mùa thu này, có tới 1,3 triệu sinh viên vào các đại học Anh. Đây là sinh viên nội địa, học hệ cử nhân (bachelor: ba năm ở Anh và bốn năm ở Scotland).

    Điều đáng chú ý là sự phân hóa. Năm nay, sinh viên Anh là lứa đầu tiên phải đóng học phí tăng từ trên 9.000 bảng lên hơn 10.000 bảng. Nhờ vậy, có thể các đại học Anh có tiếng tăm nhất sẽ có nguồn thu. Nhưng các đại học kém hạng hơn thì lại có thể tiếp tục bị thâm hụt ngân sách. Lý do rất đơn giản thôi: khi các đại học hàng đầu hạ điểm chuẩn thì họ sẽ giành sinh viên từ khối mà đáng ra chỉ đủ điểm vào các trường thứ hạng thấp hơn. Những trường thứ hạng thấp sẽ thua trong cuộc chạy đua này. Tức là phân hóa thứ bậc trong số 165 đại học ở Anh sẽ diễn ra khốc liệt hơn.

    Về lâu dài thì câu chuyện ‘bằng đại học đem lại việc làm hay không’ sẽ tiếp tục được bàn tới ở Anh. Vì số sinh viên nhập học đông như vậy mỗi năm, sẽ tạo ra một số lượng hàng triệu người trẻ trong vài ba năm, cùng gia nhập thị trường lao động vốn đã rất yếu ở Anh. Các ngành nghề đang được dạy và học ở đại học Anh cũng đang phân hóa qua quá trình tuyển sinh. Các trang chuyên ngành cho hay, các môn sinh ngữ, xã hội nhân văn, máy tính đang mất khách kinh khủng. Các ngành khoa học tự nhiên có vẻ vẫn thu hút sinh viên nhiều hơn.

    Thế còn hiện tượng đại học Anh giảm học phí để nhận sinh viên nước ngoài ‘bằng mọi giá’ có tác động thế nào tới chính ngành giáo dục đại học?

    Hiện chưa có số liệu nói niên khóa này, việc giảm học phí có làm số sinh viên nước ngoài, đại đa số là học hệ thạc sĩ (master’s), tăng lên hay không? Theo tôi tìm hiểu ở các trang chuyên trợ giúp du học với các em từ Việt Nam thì có vẻ như mấy lý do: quy chế visa khó khăn hơn, chi phí sinh hoạt ở Anh cao hơn và quan trọng là học ở Anh xong ra trường khó kiếm việc tại chỗ, đang khiến các bậc phụ huynh ở Việt Nam tìm sang các thị trường du học ngoài Anh. Họ tìm đến Úc, New Zealand, Đài Loan, Malaysia, và cả Trung Quốc. Học phí và giá sinh hoạt ở các nơi đó đều thấp hơn ở Anh. Số sinh viên Trung Quốc sang Anh du học cũng giảm đều từ mấy năm qua. 

    Ý kiến chung tại Anh, như của ông Julian Westwood, giám đốc S Squared Insights, chuyên về mảng giáo dục nói trên trang Financial Times, cho rằng với sinh viên nước ngoài, các đại học Anh nay đang dịch chuyển từ mô hình ‘học bổng chuyên sâu, số lượng ít, sang tuyển sinh đại trà bằng học phí hạ giá đồng loạt’. Ông nói chiến lược này có rủi ro cao. Vì khi cả học phí và số sinh viên nước ngoài cùng giảm thì về lâu dài tình hình sẽ rất khó khăn.

    Một số ý kiến  khác, phê phán nặng hơn, như của một đại diện công ty tư vấn đại học The Brand Education nói với tờ Telegraph rằng đây là cách các đại học Anh tự đưa mình vào ngõ cụt, cùng kéo nhau xuống dốc (a race to the bottom). Cuộc chiến hạ giá, giành sinh viên của họ sẽ phản tác dụng, và vì họ giảm cả tiêu chuẩn đầu vào cho sinh viên nước ngoài, nên chất lượng sẽ đi xuống đồng loạt.

    10 min
  • Ngành điện ảnh AI ba “không” của Trung Quốc : Không diễn viên, không biên kịch, không đạo diễn

    Nhiều tên tuổi lớn trong lĩnh vực công nghệ và truyền thông của Trung Quốc đang dồn lực vào lĩnh vực điện ảnh. Trong tháng 9 vừa qua, nền tảng video ngắn Kuaishou đã công bố kế hoạch hỗ trợ các phim ngắn nhiều tập được tạo bằng trí tuệ nhân tạo, trong khi bộ phận video của tập đoàn công nghệ Tencent đã phát động một “cuộc thi làm phim ngắn AI”. 

    Trước đó hồi tháng 3, nền tảng phát trực tuyến iQIYI đã ra mắt một công cụ có tên Nadou Pro, cung cấp cơ sở dữ liệu hình ảnh và giọng nói của các diễn viên để làm phim với trí tuệ nhân tạo mà không cần thuê diễn viên. Những công ty như ByteDance cũng đang phát triển những nền tảng phức hợp, sử dụng trí tuệ nhân tạo, có khả năng quản lý toàn bộ quy trình sản xuất, từ viết kịch bản cho đến phân phối phim. Trong cuộc chạy đua công nghệ đó, các AI ngày càng được đầu tư và phát triển, còn những diễn viên, biên kịch và đạo diễn lại bị bỏ lại phía sau.

    Không cần diễn viên

    Cuối tháng Ba vừa qua, nền tảng chiếu phim trực tuyến iQIYI, thường được so sánh như Netflix của Trung Quốc, đã công bố việc xây dựng một cơ sở dữ liệu tập hợp hình ảnh và giọng nói của khoảng một trăm diễn viên, những người đồng ý “bán” dữ liệu nghe nhìn của mình, để trí tuệ nhân tạo sử dụng trong quá trình làm phim. Các diễn viên được quay từ mọi góc độ, và giọng nói của họ được ghi âm trong nhiều điều kiện khác nhau. AI sẽ ghi nhớ, tổng hợp và trích xuất các dữ liệu này để tự tạo ra các dữ liệu kỹ thuật số như biểu cảm khuôn mặt, chuyển động môi, cử chỉ, ngữ điệu và cách nói chuyện.

    Một khi đã tích lũy đủ dữ liệu, AI có thể tạo ra những cảnh quay mới mà không cần diễn viên thực sự xuất hiện tại trường quay hoặc thu âm lời thoại mới, như thể chính diễn viên đang trực tiếp nói và diễn xuất. Cuối cùng, các diễn viên tự đào tạo bản sao kỹ thuật số của chính mình, rồi những bản sao này thay thế họ; trong khi các công ty sản xuất tiếp tục chỉ sử dụng “diễn viên AI” và sa thải những con người ban đầu. Vậy là không còn cần đến những khoản ngân sách khổng lồ để thuê diễn viên, thuê phim trường hay di chuyển đến các bối cảnh tự nhiên, cũng không còn phải xử lý những vấn đề về lịch trình hay bảo hiểm của các ngôi sao điện ảnh lớn. Giờ đây, với một câu lệnh được đưa ra, AI có thể cho diễn viên “diễn” bất cứ khi nào và theo bất cứ cách nào.  

    Cũng chẳng cần biên kịch và đạo diễn

    Sáng tạo vốn là một khả năng đặc biệt của con người mà AI không có được. Vậy thì phải chăng những công việc yêu cầu tính sáng tạo cao như biên kịch hay đạo diễn dường như không phải đối mặt với nỗi lo bị AI thay thế ? Thực tế hiện nay tại ngành công nghiệp làm phim Trung Quốc lại cho thấy điều ngược lại. Đúng là AI vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tạo ra các sản phẩm điện ảnh dài và công phu. Trả lời tờ South China Morning Post, nhà sản xuất phim Liu Zhanhao nhận định rằng việc duy trì tính nhất quán của nhân vật và bối cảnh, diễn giải những văn bản phức tạp và khắc phục giới hạn về độ dài của các đoạn video vẫn là những điểm nghẽn lớn mà “bộ não” của trí tuệ nhân tạo chưa vượt qua được.

    Tuy nhiên xu hướng hiện nay ở Trung Quốc lại không phải là tạo ra các tác phẩm phim dài với những nội dung sâu sắc và sáng tạo. Với sự ra đời của Tiktok, xu hướng làm phim ngắn khoảng vài chục giây đến một vài phút cho mỗi tập và theo dạng quay dọc để phù hợp với màn hình điện thoại đang lên ngôi. Financial Times dẫn số liệu từ Hiệp hội Dịch vụ Phát sóng Trực tuyến Trung Quốc, cho biết trong quý I năm 2026, khoảng 128.000 phim ngắn nhiều tập đã được phát hành tại Trung Quốc, cao hơn hơn ba lần so với tổng số của cả năm trước, và 95% trong số đó được tạo ra bằng AI. Yêu cầu tối quan trọng với những nội dung này đó là phải kịch tính, phải cho khán giả thấy cao trào ngay lập tức để giữ chân họ, với các tập thường kết thúc ở đúng thời điểm người xem muốn biết chuyện gì xảy ra tiếp theo. Xung đột phải mạnh hơn, nhân vật phải cực đoan hơn, cú trả thù phải nhanh hơn. Còn sự tinh tế trong cách kể chuyện và chọn góc quay, hay những diễn biến tâm lý phức tạp của con người, rồi thậm chí là tính logic trong mạch chuyện đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu.

    Nhà sản xuất Liu nhận xét : “Khán giả đang xem những gì mà chúng tôi gọi là các bộ phim thỏa mãn kiểu ‘tắt não’. Họ muốn những cú twist, những tình tiết bi kịch hóa, sự cường điệu.” Trong khi đó Ivy Yang, nhà sáng lập công ty tư vấn Wavelet Strategy, cho rằng phim ngắn sẽ dần biến thành những nội dung AI rập khuôn, sản xuất hàng loạt. Bà Yang nhận định rằng logic sản xuất hiện giờ là “với chi phí thấp nhất, tốc độ nhanh nhất và những cú hích dopamine mạnh nhất.” Lướt một loạt các bộ phim ngắn của Trung Quốc có thể thấy một vài mô-típ quen thuộc như một vị tổng giám đốc trẻ tuổi, giàu có và độc đoán yêu một cô gái nghèo, hay những người bị làm nhục rồi quay trở lại phục thù, chủ tịch giả nghèo bị khinh thường sau đó tiết lộ thân phận thật, v.v. Những nội dung gần như y hệt nhau và không có gì sáng tạo nhưng lại giúp khán giả giải trí mà không yêu cầu phải động não hay kiên nhẫn chờ tình tiết mới. Và theo bà Yang những công thức lặp đi lặp lại này thì AI có thể dễ dàng sao chép và tạo ra kịch bản và cảnh quay mới từ những nội dung cũ với chỉ một câu lệnh.

    Hiện thực hóa giấc mơ tự làm phim 

    Điểm sáng rõ ràng nhất mà các công cụ AI đem tới cho các nhà làm phim đó là việc tiết kiệm thời gian và công sức. Financial Times dẫn lời ông Shen Yang, giáo sư tại Đại học Thanh Hoa kiêm giám đốc công ty hoạt hình AI Zeelin, nếu như vào năm 2024, việc sản xuất một bộ phim dài 3 đến 5 phút sẽ cần 5 người trong 3 tháng, thì ngày nay chỉ cần một nhân viên làm việc trong khoảng một đến hai ngày. Chi phí sản xuất cũng chỉ bằng khoảng 10% so với khi có sự tham gia của con người, ở mức 600-800 nhân dân tệ cho mỗi phút.

    Hơn thế, với những nhà làm phim độc lập, sự xuất hiện của AI cũng mang tới những thay đổi lớn. Thông thường để sản xuất một bộ phim sẽ cần tới một ê-kíp quay phim, máy móc thiết bị, số lượng diễn viên nhất định, xe di chuyển tới các địa điểm quay, v.v. mà những thứ này thì không phải nhà làm phim độc lập nào cũng có thể xoay sở được. Do vậy mà nhà làm phim người Đức Mark Wachholz cho rằng AI làm giảm những rào cản vốn khiến nhiều người có ý tưởng nhưng không đủ nguồn lực để bước vào ngành điện ảnh.

    Đồng quan điểm, ông Nicolas Guyon, nhà báo và chuyên gia huấn luyện trí tuệ nhân tạo nhận định trên RFI Pháp ngữ : “AI có thể tạo ra một cuộc cách mạng với ngành công nghiệp điện ảnh. Tôi cho rằng AI sẽ giúp cho tất cả mọi người đều có thể sản xuất phim. Tôi thường nói rằng trí tuệ nhân tạo sẽ giúp giúp ngành điện ảnh trở nên tốt hơn, nhanh hơn, rẻ hơn và dễ tiếp cận hơn. Giờ đây một thiếu niên với chiếc máy tính được hỗ trợ bởi AI có thể trở thành một nhà làm phim. Chỉ cần từ những câu lệnh, AI có thể tạo ra các hình ảnh, các cảnh phim chất lượng. Thực tế thì từ hai năm trở lại đây chúng ta đã thấy sự tiến bộ không ngừng của công cụ này. Trong năm 2023, 2024, các hình ảnh do AI tạo ra đã trở nên thực hơn rất nhiều. Còn đến năm 2025, tôi nghĩ đây thực sự là một năm của video. Các công cụ tạo video tích hợp AI đã không ngừng tiến bộ và tạo ra các video chân thực. Từ đó, chúng ta ai cũng có thể trước hết là tạo ra các bộ phim ngắn và sau đó thậm chí là cả các tác phẩm dài.”

    Vậy là giờ đây, bất cứ ai có ý tưởng đều có thể thử nghiệm ý tưởng đó mà không cần có ngân sách khủng để chi trả cho trường quay, diễn viên hay cả một ê-kíp làm phim hùng hậu. Nền tảng chiếu phim iQIYI của Trung Quốc cho rằng đây sẽ là xu hướng trong tương lai và tự định hình mình như một nền tảng chia sẻ phim do các cá nhân tạo ra, thay vì các hãng phim truyền thống. Theo FranceInfo, sự phát triển này gợi nhớ đến cuộc cách mạng YouTube, khi các video do các cá nhân tự làm ra đã vượt qua nội dung do các đài truyền hình sản xuất. Từ đây, một loại hình nghề nghiệp mới đã mở ra : nhà sáng tạo nội dung video. 

    Lo ngại về môi trường, bản quyền và làn sóng thất nghiệp 

    Bên cạnh những người lạc quan tin tưởng vào sự cộng tác giữa trí tuệ con người và trí tuệ của máy tính, nhiều người khác có phần e dè hơn, đặc biệt khi xét đến những hiểm họa về môi trường, nguy cơ đánh cắp dữ liệu và bản quyền, cũng như làn sóng sa thải hàng loạt.

    Ông Guillaume Grallet, tổng biên tập chuyên mục Khoa học và Công nghệ của báo Le Point, khách mời thường trực trong chương trình Khoa học Tech24 của kênh France 24 nhận định : “Việc tiêu thụ năng lượng đã bùng nổ. Số năng lượng cần thiết để Chat-GPT thực hiện một câu lệnh cao gấp 100 lần so với việc tra cứu thông tin trên Google. Còn nếu muốn tạo một hình ảnh hay một video, khối lượng CO2 tạo ra cho môi trường cũng tăng lên đáng kể. Tôi xin trích dẫn một nghiên cứu của trường Bách Khoa Paris Polytechnique về chủ đề này, theo đó việc sử dụng Chat-GPT khiến khối lượng CO2 thải ra môi trường đã tăng lên gấp ba lần và lượng tiêu thụ điện năng bùng nổ tại Mỹ.”

    Trong khi đó, Elizabeth Le Hot, tổng giám đốc Adami (Tổ chức Dân sự về Quản lý Quyền của Nghệ sĩ biểu diễn và Nhạc sĩ) tập trung vào nỗi lo về việc các nghệ sĩ bị đánh cắp hình ảnh, âm thanh và cả sự sáng tạo. Trả lời RFI Pháp ngữ, bà nói : “Các nghệ sĩ đang cảm thấy vô cùng lo lắng về AI. Chúng tôi đã phỏng vấn họ hồi tháng 10 năm ngoái, 79% trong số họ cảm thấy rằng AI mang lại nhiều mối đe doạ hơn là lợi ích. Họ bày tỏ nỗi lo về việc AI bắt chước theo hình ảnh và giọng nói của một nghệ sĩ để tạo ra các cảnh phim mà không được sự cho phép của họ. Rồi còn cả các nhà soạn nhạc lo lắng về việc các tác phẩm của mình bị đánh cắp.”

    Ngoài ra còn phải kể tới làn sóng thất nghiệp đang tràn vào ngành sản xuất phim ngắn. Kênh Channel New Asia kể về câu chuyện của anh Xu Peng, từng là một diễn viên phim ngắn có tiếng tại Trung Quốc, giờ về quê bán rau. Trong năm 2025, nam diễn viên này đóng vai chính trong hàng loạt bộ phim ngắn, với lịch trình kín mít từ 15-16 tiếng quay phim mỗi ngày, Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi khi AI có thể tự tạo ra các cảnh quay mới bằng ngân hàng dữ liệu về biểu cảm khuôn mặt, dáng đi và giọng nói của các diễn viên. Xu Peng từ chỗ kín lịch giờ thất nghiệp. Sau khi hoàn thành bộ phim ngắn cuối cùng vào đầu năm nay, anh đã thu dọn đồ đạc để trở về quê nhà ở vùng nông thôn Sơn Đông và bán rau tại một chợ địa phương.

    Theo Channel New Asia, Xu Peng không phải là diễn viên duy nhất bị ảnh hưởng bởi sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực của mình. Theo các báo cáo gần đây, phim ngắn do AI tạo ra đã ảnh hưởng đến gần hai triệu việc làm trong ngành công nghiệp phim ngắn của Trung Quốc. Trước đây, các diễn viên phim ngắn hàng đầu từng kiếm được tới 20.000 nhân dân tệ mỗi ngày, nhưng hiện nay nhiều người phải vật lộn để tìm việc ngay cả với mức lương 1.200 nhân dân tệ một ngày.

    10 min
  • Trung Quốc và tham vọng đưa người máy từ phim viễn tưởng ra đời thực

    Với tham vọng trở thành cường quốc robot, Trung Quốc đã đầu tư mạnh vào ngành công nghiệp đầy tiềm năng này trong thời gian gần đây. Từ các xưởng sản xuất robot quy mô lớn đến các « trường đào tạo robot », Bắc Kinh hiện được cho là đang dẫn đầu ngành, khi thường xuyên ra mắt những kỹ năng mới của người máy, liên tục phá vỡ các kỷ lục.

    Vào năm 2050 theo ước tính của Morgan Stanley, thế giới dự kiến có khoảng 1 tỷ người máy.  90% trong số đó sẽ thay thế các công việc thủ công và lặp đi lặp lại trong công nghiệp. Và Trung Quốc sẽ sở hữu đội quân robot lớn nhất thế giới với hơn 302 triệu robot hình người. Các hãng robot của Trung Quốc như Unitree, Agibot, UBTech hiện đang thống trị thị trường toàn cầu.

    Bắc Kinh cũng mạnh mẽ thúc đẩy thị trường mới nổi này. Robot được cho là giải pháp hữu hiệu đối với các vấn đề như thiếu hụt lao động trong tương lai, cải thiện năng suất… Các robot không chỉ đảm đương các công việc thủ công, mà cả phần giải trí thể thao.

    Các kỷ lục về khả năng của robot liên tục bị phá vỡ. Ví dụ như người máy A2 của Agibot, đi bộ 100 km từ Tô Châu đến Thượng Hải, lập kỉ lục Guiness vào năm 2025. Vào tháng 08/2026, robot Superman của Unitree đã đạt tốc độ chạy 12,66 mét/ giây, khiến cổ phiếu công ty này tăng vọt gần 500 %. Vào tháng 8 vừa qua, một lần nữa các người máy Trung Quốc lại gây bất ngờ bởi các màn trình diễn thể thao tại Thế vận hội người máy (World Humanoid Robot Games) ở Bắc Kinh.

    Không chỉ trong khả năng vận động, các công ty như UBTech cũng đã cho ra mắt hồi tháng Sáu 2026 mô hình người máy có thể cá nhân hóa, hướng tới việc đưa người máy trở thành người bạn đồng hành, kết hợp Trí tuệ Nhân tạo (AI) để có thể trò chuyện như ChatGPT. Sản phẩm chưa chính thức ra thị trường đã nhận được hơn 13 000 đơn đặt hàng (có giá từ 15 000 euro đến 125 000 euro).

    Theo The Economist, các công ty Trung Quốc dự trù bán 50 000 robot trong năm nay, cao gấp 3 lần so với năm ngoái. Ngoài việc phát triển phần cứng, các công ty cũng chạy đua trong việc phát triển phần mềm, tích hợp các công nghệ cho phép robot linh hoạt hơn, có thể nghe, nhìn, nhận biết đồ vật và không gian tốt hơn.

    Trung Quốc cũng đang dẫn đầu trong việc thu thập dữ liệu, nhằm cải tiến người máy. Ví dụ như tại Trung tâm đào tạo người máy ở Hồ Bắc, hơn 100 robot dành hàng giờ mỗi ngày để quan sát bắt chước con người. Ước tính có khoảng 50 cơ sở đào tạo đã được xây dựng trong hai năm qua, và hơn 30 cơ sở khác đang trong quá trình xây dựng, phần lớn được Nhà nước Trung Quốc tài trợ, theo The Econonomist.

    Không chỉ dừng lại ở thị trường Trung Quốc, hiện 90 % các robot hình người trên toàn thế giới được bán ra sản xuất tại Trung Quốc. Tại hội chợ công nghệ Viva Tech diễn ra ở Paris, Pháp vào mùa hè 2026, « Robot có mặt khắp nơi », như nhận định của một khách tham quan. Gian triển lãm của hãng Trung Quốc Agibot luôn tấp nập người xem các màn trình diễn của những người máy, được ví như những ngôi sao của sự kiện, trình diễn các màn vũ đạo sôi động.

    Nhân sự kiện này RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn đại diện của Agibot ở Pháp, ông Pierre Asséo.

    Được thành lập vào năm 2023, Agibot nay đã được biết đến rộng rãi trong ngành công nghiệp robot. Liệu ông có thể nói về những tiến bộ về công nghệ đối với người máy mà công ty đã thực hiện gần đây nhất ?

    Qua từng năm, chúng tôi đã đạt được những cải tiến đáng kinh ngạc trong công nghệ di chuyển và vận hành cho robot. Mẫu người máy này được thiết kế theo phong cách thân thiện, gần gũi, trang bị 2 camera trước trán, 2 camera trước ngực, và đặc biệt là một camera phía sau đầu ; điểm mà con người không có giúp nó quan sát toàn diện phía sau. Cảm biến Lidar ở giữa thân cho phép nó định vị không gian. Nếu tôi lập trình sẵn bản đồ triển lãm và yêu cầu người máy đi tới gian hàng SNCF, nó có thể tự di chuyển đến đó chính xác.

    Về độ linh hoạt, mẫu robot này có tới 29 độ tự do (tương ứng với số khớp động cơ). Động cơ càng ngày càng mượt mà và chuẩn xác, thậm chí đủ sức xoạc chân ngang.

    Tại triển lãm này, chúng tôi mang đến những dòng robot rất hợp cho mảng giải trí, tiếp đón hay sự kiện, vì ngoài khả năng vũ đạo điêu luyện, chúng còn giao tiếp rất tốt. Còn dòng robot đằng xa kia thì chuyên phụ trách việc nâng hạ, vận chuyển hàng hóa nặng.

    Mọi người phản ứng thế nào về công nghệ này?

    Thường có hai luồng thái độ: nhiều người rất hào hứng, nhưng cũng không ít người e ngại. Một phần do ảnh hưởng từ điện ảnh và phim viễn tưởng, khiến người ta có cảm giác là người máy đang bước ra khỏi màn ảnh để đi vào đời thực, và thường trong phim thì chúng hay gây sợ hãi. Tuy nhiên, điều cốt lõi chúng tôi cần truyền tải là: người máy sinh ra là để phục vụ và hỗ trợ con người.

    Hãy nhìn vào thực tế, riêng ngành vệ sinh công nghiệp tại Pháp hiện đang thiếu hụt tới 100.000 nhân sự. Rất nhiều công việc nặng nhọc dễ gây chấn thương cơ - xương - khớp mà người máy có thể đảm nhiệm tốt hơn con người. Trong các môi trường độc hại, nguy hiểm, thay vì rủi ro tính mạng con người, dùng máy móc là giải pháp tối ưu. Chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mới, đó là kỷ nguyên của AI hiện hình (AI incarnée). Những gì mọi người  thấy hôm nay mới chỉ là khởi đàu của một thời đại robot mà 20 năm nữa nhìn lại, chúng ta sẽ coi đó là những nét sơ khai nhất.

    Việc kết hợp các mô hình Trí tuệ Nhân tạo vào người máy, giúp chúng học hỏi nhanh hơn, giải quyết nhiều bài toán vận động phức tạp. Khi ông đề cập đến AI hiện hình, Agibot định vị mình như thế nào trong cuộc đua này ?

    Hệ sinh thái Trí tuệ Nhân tạo hiện hình gồm hai phần phần cứng (máy móc) và phần mềm (các mô hình AI đóng vai trò như bộ não). Agibot tập trung sản xuất phần cứng, đồng thời hợp tác với các nhà phát triển mô hình AI. Tại Pháp, có không ít doanh nghiệp tiềm năng trong lĩnh vực này.

    Ngành robot tương lai là một chuỗi liên kết hoàn chỉnh: chúng ta cần chuyên viên lắp đặt, bảo trì, lẫn kỹ sư lập trình. Do đó, sự phát triển này không tiêu diệt mà chuyển dịch việc làm. Sẽ có rất nhiều ngành nghề mới xuất hiện nhờ sự bùng nổ của robot.

    Nhiều ông lớn AI như OpenAI hay Anthropic từng quan ngại về rủi ro và kiến nghị tạm dừng nghiên cứu. Agibot nhìn nhận vấn đề này ra sao?

    Hiện tại, Trí tuệ Nhân tạo hiện hình mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Dù người máy đã làm được một số việc, nhưng danh sách những điều chúng chưa thể làm đuợc vẫn còn rất dài. Chúng ta vẫn còn đủ thời gian để tính toán và cân nhắc các quan ngại này.

    Agibot kỳ vọng gì vào tương lai của ngành công nghiệp robot ?

    Dự báo đến năm 2050, toàn cầu sẽ có khoảng 1 tỷ robot, và Agibot quyết tâm trở thành một trong những thương hiệu dẫn đầu. Đây là thị trường hứa hẹn sẽ vượt cả quy mô ngành ô tô. Trước áp lực dân số già hóa cùng sự bứt phá của ngành cơ - điện tử và AI, chắc chắn robot sẽ bước ra khỏi màn ảnh để hiện diện trong cuộc sống thường nhật của chúng ta.

    Lịch sử robot hình người

    Trên thực tế, robot hình người đã ra đời từ những năm 1970. Các nhà nghiên cứu tại đại học Waseda của Nhật Bản đã giới thiệu mẫu người máy đầu tiên trên thế giới - WABOT-1, gồm các « khung xương » bằng kim loại và cần đến 45 giây để thực hiện một bước chân.

    Đến những năm 2000, người máy Asimo của Honda có thể đi bộ bằng hai chân, dù khó giữ được thăng bằng. Đến năm 2016, mô hình Atlas của Boston Dynamics đã cho thấy những tiến bộ về khớp động cơ và thuật toán, với những pha nhào lộn parkour.

    Xét đến sự trỗi dậy của ngành công nghiệp người máy ở Trung Quốc, ông Tịch Việt (Xi Yue) nhà sáng lập của Robot Era, có trụ sở tại Bắc Kinh, nhận định, đà phát triển từ 12-18 tháng qua, được thúc đẩy bởi ba yếu tố :  Môi trường chính sách hỗ trợ và nguồn vốn dồi dào, chuỗi cung ứng phần cứng vững chắc và phần mềm cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Sự kết hợp của ba yếu tố giúp ngành này được « nâng lên tầng cao chưa từng có ».

    Người máy được cấu tạo bởi phần cứng, bao gồm phần khớp nối động cơ, dây điện, bộ truyền động, hộp số, và quan trọng nhất là chip điện tử. Vốn có ngành công nghiệp ô tô điện phát triển mạnh, Trung Quốc cũng có lợi trong việc sản xuất những linh kiện robot, với nhiều chi tiết tương tự như trong động cơ ô tô điện.

    Liên quan đến phần mềm, « các bộ não AI » phân tích dữ liệu ngày càng siêu việt, giúp chuyển các lệnh sang hành động dễ dàng. Tuy nhiên, dù đã có nhiều cải tiến, nhưng điểm yếu của các người máy Trung Quốc là không được tiếp cận vào các loại chip điện tử tiên tiến từ các công ty như Nvidia. Người máy Trung Quốc vẫn gặp khó khăn trong di chuyển, đặc biệt là khi tương tác với nhóm người dễ tổn thương như người già và trẻ em. Thời lượng của bình điện cũng là một điểm yếu khác, thường chỉ kéo dài vài giờ.

    Hiện nay, Hoa Kỳ được cho là chiếm ưu thế về năng lực robot điều khiển bằng AI. Các công ty như Tesla và Boston Dynamics vẫn là những nhà sản xuất tiên tiến nhất thế giới về khả năng nhận thức, mô phỏng và tự động ở mức độ cao hơn.

    10 min
  • Tăng học phí, giảm trợ cấp : Pháp “bớt” hào phóng với sinh viên ngoại quốc?

    Mùa khai giảng 2026 tại Pháp chứng kiến nhiều thay đổi trong các quy định với sinh viên ngoại quốc. Chính phủ của thủ tướng Sébastien Lecornu quyết định tăng mức chứng minh tài chính đối với sinh viên ngoài khối Liên Hiệp Châu Âu lên thành 10.000 euro/năm, tức mức tăng gần 40% ; các trường đại học tăng học phí lên gấp gần 16 lần và đặc biệt là huỷ bỏ trợ cấp nhà ở cho sinh viên.

    Những biện pháp được áp dụng từ năm học mới này khiến nhiều du học sinh, bao gồm cả những sinh viên Việt Nam tại Pháp, không khỏi hoang mang. 

    Vậy đâu là những thay đổi cụ thể ? Vì sao Pháp dường như không còn hào phóng với sinh viên ngoại quốc ? Và sinh viên Việt tại Pháp cảm thấy ra sao trước những quy định mới này ? 

    Tăng mức chứng minh tài chính 

    Theo thông tin trên trang web của chính phủ Pháp, kể từ ngày 01/08/2026, các sinh viên muốn xin visa du học Pháp hoặc các sinh viên đã ở Pháp và muốn gia hạn thẻ cư trú cho năm học tới sẽ phải chứng minh sở hữu mức tài chính tối thiểu là 877 euro/tháng, so với mức cũ là 615 euro. Sinh viên có thể chứng minh bằng tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản tiết kiệm với số dư trên 10.000 euro, bằng sao kê tài chính cho thấy người nhà chuyển vào ít nhất 877 euro/tháng, hoặc hợp đồng lao động với mức lương cao hơn con số này. Theo quy định mới của chính phủ Pháp, mức chứng minh tài chính tối thiểu cũ 615 euro đã được đưa ra kể từ ngày 31/12/2002 và giữ nguyên kể từ đó tới nay. Do vậy, nó không còn phản ánh được chi phí sinh hoạt thực tế ở Pháp hiện giờ. 

    Với những người đang ở Việt Nam và có dự định du học Pháp, điều này phần nào cũng khiến họ dè chừng. Nếu như trước đây họ chỉ cần chứng minh có khoảng 7.300 euro trong tài khoản để làm visa du học, giờ các gia đình sẽ cần tới gần 10.500 euro. 

    Còn với những sinh viên đang sống tại Pháp và muốn tiếp tục việc học của mình, mức chứng minh này khiến họ hoặc phải xin hỗ trợ từ gia đình, hoặc phải đi làm nhiều hơn. Mức 877 euro tương đương 60% mức lương tối thiểu tại Pháp. Tuy nhiên, Pháp cũng quy định các sinh viên ngoài EU chỉ được đi làm 60% tổng số giờ làm việc hàng năm, để tránh việc sinh viên bỏ học để đi làm. Như vậy có nghĩa là nếu không có hỗ trợ từ gia đình, các sinh viên bắt buộc phải đi làm số giờ tối đa được chính quyền cho phép thì mới có thể đạt mức chứng minh tài chính. Không thể đi làm quá số giờ quy định, nhưng cũng không thể đi làm ít hơn số giờ đó, nhiều sinh viên trong cảnh tiến thoái lưỡng nan. 

    Hơn nữa, việc phải đi làm nhiều giờ nhất có thể gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc học và cuộc sống cá nhân của các sinh viên. Trả lời RFI Việt Ngữ, bạn An chia sẻ về những vất vả trong quá trình vừa học vừa làm của mình : 

    "Thực ra khi mình xác định sang Pháp là mình sẽ theo đuổi việc học để giành được điểm số cao nhất, rồi sau đấy sẽ tìm được học bổng để học lên những bậc cao hơn. Nhưng quả thực là khi mình dành thời gian tất cả các buổi tối để đi làm thêm thì mình thực sự gặp khó khăn khi đến mùa ôn thi hoặc chỉ đơn giản là làm bài tập nhóm vì lịch học bên Pháp rất nặng và thay đổi thường xuyên. Nhìn chung, mình gặp rất nhiều khó khăn trong việc cân bằng giữa việc học và việc đi làm. Nhiều khi có những buổi học phát sinh, mình không thể xoay sở kịp và đã bị ông chủ dọa cho nghỉ việc vì có lịch học bất thường. Còn vào mùa ôn thi, để có thời gian thì mình bắt buộc phải ôn vào buổi đêm. Và buổi đêm khi mà cơ thể đã hoàn toàn mệt mỏi sau cả ngày làm việc rồi thì mình cũng không còn đủ minh mẫn nữa, mặc dù mình cũng cố gắng hết sức lược qua bài để ôn thi, nhưng chất lượng ôn thi cũng không thực sự cao. Nên là mình cũng chỉ đủ điểm để qua môn thôi chứ cũng chưa được như kỳ vọng của mình."

    Tăng học phí 

    Theo thông báo từ chính phủ Pháp, kể từ mùa khai giảng năm 2026 này, phần lớn sinh viên ngoài khối Liên Hiệp Châu Âu sẽ phải trả 2.895 euro mỗi năm cho bậc cử nhân, so với 178 euro đối với sinh viên Pháp và các nước châu Âu khác, và 3.941 euro cho bậc thạc sĩ, so với 254 euro. Quy định sẽ áp dụng cho tất cả các sinh viên không phải công dân của một quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu, Khu vực Kinh tế Châu Âu, Thụy Sĩ, Andorra hoặc không cư trú tại Québec (Canada). Ngoài ra, một số trường hợp đặc biệt như sinh viên có học bổng ; sinh viên có thẻ cư trú 10 năm hoặc sinh viên đã khai báo thuế ở Pháp trong hơn 2 năm cũng sẽ được miễn trừ khỏi mức tăng này. 

    Theo bộ trưởng Giáo dục Đại học Pháp Philippe Baptiste, trong vòng hai đến ba năm, biện pháp này có thể tạo ra khoảng 250 triệu euro ngân sách mỗi năm cho các trường đại học. Cần phải nhắc lại rằng kể từ năm 2019, chính phủ Pháp đã đưa ra kế hoạch điều chỉnh tăng học phí cho sinh viên ngoài EU. 

    Tuy nhiên, đa số các trường khi đó đã phản đối, coi đây là biện pháp phân biệt đối xử và không áp dụng mức học phí mới này với các sinh viên nước ngoài. Các cơ sở giáo dục tại Pháp cũng lo ngại rằng việc tăng học phí sẽ làm giảm mức hấp dẫn của trường trong mắt các sinh viên quốc tế. Do vậy mà theo bộ trưởng Baptiste, sau bảy năm kế hoạch được đưa ra, tính đến nay chỉ có 10% sinh viên quốc tế phải chịu mức học phí khác với sinh viên châu Âu. Trong bối cảnh đó, ông Baptiste, trong cuộc phỏng vấn với tờ Le Parisien hôm 20/04, khẳng định sẽ chấm dứt tình trạng này. 

    Vậy việc tăng học phí này ảnh hưởng ra sao đến các sinh viên Việt Nam tại Pháp ? Dự định theo học thạc sĩ trong tương lai, bạn Nam cho biết mức học phí mới khiến bạn khá hoang mang khi sẽ phải vừa đi học vừa đi làm để giảm sức ép tài chính cho gia đình. Trả lời phỏng vấn RFI Việt Ngữ, bạn Nam nói :

    "Đối với chương trình cử nhân trước của mình thì lịch học thay đổi mỗi tuần nên không thể làm cố định được chỗ nào. Còn về chương trình dự bị tiếng của mình thì mình học ít tín chỉ hơn nên vẫn có thể đi làm được. Nhưng trong tương lai với chương trình học thạc sĩ thì thời gian học sẽ nhiều hơn và cần nhiều nỗ lực hơn cho việc học nên mình khá đắn đo về việc làm thêm."

    Tuy nhiên điều này không ngăn cản việc bạn tiếp tục muốn theo học bậc thạc sĩ tại Pháp. Bạn Nam chia sẻ :

    "Bởi vì mình đã theo Pháp từ đầu và đây cũng là thông tin mới nên mình cũng chưa nghĩ tới việc thay đổi quá nhiều. Việc theo học ở nước ngoài (nước không phải Pháp) thì mình cũng thấy đó cũng là một lựa chọn hay, nhưng mình thấy đang quen môi trường ở đây rồi nên không muốn thay đổi nhiều. Theo mình được biết thì một số nước xung quanh đây như Đức và Ý cũng có mức học phí khá là thấp và cũng có quyền lợi cho sinh viên khá là tốt. Nhưng chắc mình sẽ suy nghĩ thêm vì mình đã theo học Pháp rồi nên không muốn thay đổi nữa. Còn nếu tình hình (tài chính) không cho phép thì mình sẽ về Việt Nam."

    Nhưng bỏ trợ cấp cho sinh viên 

    Từ lâu nay, các sinh viên đến Pháp nếu phải thuê chỗ ở để đi học đều được Quỹ Trợ Cấp Gia Đình (CAF) hỗ trợ tiền thuê nhà, có khi lên tới 50% số tiền phải trả hàng tháng. Tuy nhiên, chính phủ Pháp thông báo kể từ ngày 01/07 năm nay, các sinh viên quốc tế ngoài EU sẽ không còn được nhận khoản trợ cấp nhà ở này nữa. Chỉ những sinh viên có học bổng, có hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề hoặc hợp đồng đào tạo nghề, cũng như sinh viên tị nạn mới được tiếp tục nhận trợ cấp này.

    Khi được hỏi việc Pháp cắt trợ cấp nhà ở ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống, bạn Linh cho biết :

    "Nếu không có CAF thì tiền nhà của mình đã khoảng 500-600, nghĩa là khá là khó để mà chi trả được các khoản tiền cả cho việc học và việc sinh hoạt. Mình nghĩ sẽ phải thắt lưng buộc bụng, không đi đâu hết. Tuy nhiên vẫn sẽ có những khoản mà mình không dự trù được, những lúc như thế thì mình vẫn cần sự giúp đỡ của gia đình. Mình còn được gia đình hỗ trợ khá nhiều. Trong khi đó bạn cùng nhà của mình còn không nhận được nhiều hỗ trợ từ gia đình và cũng không thể đi làm thêm nhiều do lịch học không cho phép. Nên bạn ấy hầu như phải dựa vào các hội hỗ trợ sinh viên của trường, của thành phố. Bạn ấy sẽ đi xin đồ ăn được hỗ trợ mỗi tuần như thế để sống. Mình nghĩ là không chỉ các sinh viên Việt Nam mà cả các sinh viên quốc tế cũng sẽ gặp khó khăn với mức tăng học phí và bị cắt giảm các hỗ trợ xã hội."

    Trả lời kênh LPC ngày 29/06, bộ trưởng bộ Nhà ở của Pháp, ông Vincent Jeanbrun đã biện minh cho biện pháp này bằng cách đưa ra "các thỏa thuận có đi có lại". Theo đó, khi sinh viên Pháp học tập tại một quốc gia cho phép họ tiếp cận hỗ trợ nhà ở, sinh viên từ quốc gia này cũng sẽ được chính phủ Pháp hỗ trợ. Tuy nhiên điều đáng nói là loại thỏa thuận này tồn tại chủ yếu giữa các nước châu Âu, còn các nước ngoài khối thì ít hơn nhiều. 

    Đối mặt với khoản nợ công khổng lồ, ưu tiên của chính phủ Pháp hiện nay là tiết kiệm ngân sách. Theo ông Jeanbrun, việc bỏ hỗ trợ nhà ở đối với những sinh viên không phải công dân châu Âu có thể mang lại 200 triệu euro một năm cho nước Pháp.

    Ngược lại, các tổ chức hỗ trợ sinh viên lên án chính sách "phân biệt đối xử", một bước tiến nữa hướng tới khái niệm "ưu tiên quốc tịch" mà phe cực hữu ưa chuộng, vốn chủ trương hạn chế quyền tiếp cận hỗ trợ nhà ở cho sinh viên nước ngoài. Manon Moret, tổng thư ký hội sinh viên tại Pháp UNEF, phản đối : "Đây là cách nhượng bộ trước những yêu cầu của phe cực hữu, những người đã tìm cách áp đặt chúng trong nhiều năm và giờ đây ngay cả trong một chính phủ không tự coi mình là cực hữu". 

    Từ việc tăng mức chứng minh tài chính, tăng học phí đến giảm trợ cấp, chính phủ Pháp dường như đã "bớt" hào phóng với sinh viên ngoài khối EU. Đối mặt với các khoản nợ khổng lồ, nước Pháp loay hoay tìm cách cắt giảm ngân sách. Tuy nhiên, điều này cũng khiến cuộc sống của các sinh viên nước ngoài tại đây trở nên khó khăn hơn, đồng thời phần nào khiến Pháp trở nên kém hấp dẫn hơn trong mắt sinh viên quốc tế. 

    10 min
  • Từ vườn rau đến bàn ăn Michelin: Làn sóng nông sản châu Á được sản xuất tại Pháp

    Những cọng rau muống, trái khổ qua hay củ gừng mang hương vị châu Á được trồng tại Pháp đang dần tìm được vị trí trong bức tranh ẩm thực đa dạng tại Pháp. Tại Blois, trại rau nông sản hữu cơ "Made in France" của Masato Fujisaki không chỉ phục vụ người dân địa phương, mà còn trở thành cảm hứng sáng tạo cho nhà hàng đạt sao Michelin.

    Với khoảng 1500m2 nhà kính và hơn 7500 m2 đất hoa màu, nông trại của Masato trồng hàng chục rau củ quả các loại, và được biết đến với những hương vị từ châu Á, từ rau húng quế phảng phất vị thơm mát đến khóm gừng cay nồng chờ ra củ, và cả thửa rau mồng tơi cần thu hoạch. Mỗi vụ, Masato đều thử trồng thêm một loại rau củ mới, giới thiệu cho người tiêu dùng tại Pháp. Năm nay, anh thử dựng những giàn gỗ trồng khổ qua. Anh nói : « Hiện mới là đầu mùa thu hoạch. Khổ qua khá được ưa chuộng ở Nhật Bản. Tôi cũng biết nhiều khách hàng Trung Quốc và Việt Nam ưa thích. Nhưng hiện là đầu mùa, cây vẫn chưa cho ra nhiều trái. Trong khi giàn dưa chuột Nhật Bản ngay bên cạnh đã cho nhiều quả. Tôi cũng chưa có kỹ thuật nữa. Còn ở phía bên kia là giống dưa gang của châu Á, vẫn cần phải đợi thêm thời gian vì tôi mới trồng thử năm đầu tiên ».

    Từng là kỹ sư thiết kế cảnh quan, Masato Fujisaki đã quyết định chuyển nghề sang trồng rau, sau chuyến thực tập 6 tháng tại một trang trại ở Nhật Bản, quê hương của cha anh. Từ năm 2019, với sự hỗ trợ từ thành phố Blois và quyên góp của nhiều nhà hảo tâm, dự án xây nhà kính, trồng rau sạch, rau châu Á của Masato đã được khởi xướng, đưa những loại rau châu Á, vốn thường được gắn mác nhập khẩu vào các khu chợ của thành phố vùng Loir-et-Cher.

    Trả lời RFI Tiếng Việt, anh giải thích : « Trong chuyến thực tập ở Nhật Bản, tôi phát hiện ra rằng rau củ quả của châu Á rất đa dạng và có hương vị riêng. Ví dụ như dưa chuột của Nhật Bản có mùi hương thơm hơn, giòn hơn. Cà tím cũng có vỏ mỏng hơn, phần ruột mềm hơn do đó chế biến cũng dễ hơn. Vì vậy tôi nhận thấy rằng nếu trồng được chúng ở Pháp thì sẽ rất thú vị, vì có thể tiêu dùng sản phẩm được sản xuất tại Pháp, và là những rau củ quả sạch, hữu cơ. Tôi cũng đã gặp gỡ nhiều người trồng rau châu Á, họ đã trồng thành công những loại cây này ở Pháp và tôi cũng muốn thử sức. Như vậy, tôi cũng sẽ tạo ra được sự khác biệt cho các sản phẩm tôi trồng so với đồ bán ở trong các chuỗi siêu thị. Mục tiêu của tôi là thu hút khách hàng bằng những loại rau củ độc đáo và thú vị hơn về mặt hương vị. Điều quan trọng là những loại rau tươi, được thu hoạch và bán ngay trong ngày”.

    Trong khu chợ bán đồ hữu cơ (bio) tại thành phố Blois, mỗi chiều thứ Sáu, nhiều người đã xếp hàng mua rau ngay sau khi xe tải chở rau đến, chủ yếu là những khách quen. Masato không chỉ bán rau, mà đôi khi bán cả công thức nấu ăn, giới thiệu về các loại rau củ của vườn, đặc biệt là các loại rau không được nhiều người Pháp biết đến, ví dụ như rau mồng tơi. Anh chia sẻ : “Tôi đã rất bất ngờ, vì ban đầu bán loại rau này không dễ, nó có nhựa rất dính, nhưng hoá ra nhiều người lại thích rau này và trở thành khách quen. Có những người biết đến rau này là nhờ sạp hàng của tôi. Tôi cũng rất ngạc nhiên khi thấy rau mùi bán rất chạy. Trong khi cách nay 20 năm, loại rau thơm này không được biết đến nhiều ở Pháp. Có lẽ rau muống hay rau mồng tơi, một ngày nào đó sẽ trở nên phổ biến hơn, nhất là với những mùa hè ngày càng nóng nực.”

    Rau muống được đưa vào bàn ăn đạt sao Michelin

    Ngoài việc thu hoạch rau củ đem bán ở các khu chợ địa phương, Masato cũng có những khách hàng quen thuộc, đến mua rau tận vườn. Hàng tuần, thậm chí là hàng ngày, bếp trưởng Anthony Maubert đến nông trại của Masato, tự tay chọn lựa các loại rau cho thực đơn của nhà hàng ASSA.

    Trong phòng lạnh tại nhà kho cạnh vườn rau, Masato giới thiệu cho ông Maubert những loại rau củ mới vừa được thu hoạch.

    « Bây giờ bắt đầu mùa thu hoạch khổ qua, có ít gai nhọn hơn », Masato nói. Ông Anathony hỏi : « Còn chỗ cà trắng này thì sao ? »

    « Tôi thử trồng loại cà này, nhưng tôi sẽ không trồng tiếp vì cây cho ra rất ít trái, chỉ vài quả một tuần », Masato giải thích.

    Nằm cạnh bờ sông Loire, nhà hàng được Michelin trao tặng 1 sao và vừa giành giải Gault & Millau Vàng hồi đầu năm nay, vinh danh những ẩm thực địa phương độc đáo, sáng tạo nhất với các món ăn kết hợp mỹ vị đông tây và chủ yếu lấy cảm hứng từ ẩm thực Nhật Bản. Thực đơn được thay đổi hàng ngày, dựa trên các sản phẩm rau rủ có sẵn tại nông trang của Masato hoặc các thực phẩm từ các nhà cung cấp khác.

    Vị đầu bếp người Pháp giải thích : « Bởi vì chúng tôi luôn thích ứng với những gì có trong vườn của Masato, nếu trái chưa chín thì chúng tôi không lấy. Chúng tôi thích ứng với tự nhiên, có gì thì nấu ấy, và đó cũng là tiêu chí được viết trong menu của chúng tôi. Ngay cả với cá cũng vậy, tôi không đặt hàng cá nào mà xem họ đánh được loại cá nào thì tôi chế biến cá đó. Do đó nhà hàng của chúng tôi giống như là tập thể thao hàng ngày để làm việc tốt nhất có thể với các sản phẩm khác nhau mỗi ngày ».

    Trong căn bếp của nhà hàng, tất cả đều đến từ vườn rau của Masato, từ củ tỏi cho đến trái ớt, bí ngòi, cà chua hay các hương liệu khác. « Rau củ quả trong vườn của Masato là nền tảng trong cách nấu ăn của tôi », ông Anthony khẳng định.

    Điều đặc biệt là dưới bàn tay tài ba của vị đầu bếp người Pháp, rau muống, một loại rau quen thuộc trong các bữa ăn hàng ngày tại các gia đình Việt Nam cũng như nhiều nước Đông Nam Á, trở thành một loại bánh đậm vị. Vẫn với sắc xanh tự nhiên, nhưng rau muống được xay nhuyễn và kết hợp với nhiều hương liệu khác, được đưa vào thực đơn khai vị của nhà hàng vào mùa hè, với cách bày trí sang trọng, mãn nhãn thực khách. Đầu bếp giải thích : « Chúng tôi cố gắng tôn trọng sản phẩm và làm gia tăng giá trị của chúng và nhất là không khiến các thực khách bị sốc. Ví dụ rau muống, tôi không đem xào với tỏi, mà chúng tôi muốn ‘bứt phá giới hạn’, chế biến ra món ăn ở tầm cao hơn. Tôi không nấu món Á, tôi chỉ thể hiện nó theo cách của riêng mình. Tôi nghĩ mình vẫn giữ trọn cốt cách của ẩm thực Pháp, thông qua khẩu vị và cảm nhận của cá nhân. Với thực khách người Pháp, họ sẽ cảm thấy một chút lạ lẫm, ngỡ ngàng bởi các hương vị phương Đông, còn với thực khách châu Á, họ lại tìm thấy những hương vị quen thuộc, nhưng rồi cũng đầy bất ngờ khi chúng lại được đặt trọn trong một kết cấu ẩm thực Pháp. Mục đích của tôi là tạo ra sự bất ngờ cho thực khách và đưa họ vào một chuyến hành trình vị giác, kể cả với những người dân địa phương, vốn là nhóm khách hàng cốt lõi của chúng tôi. »

    Xu hướng đồ Made in France và thách thức khí hậu

    Tại Pháp, số lượng nhà hàng ẩm thực châu Á chiếm khoảng 13 % thị trường, với mức tăng trưởng 25% trong vòng 5 năm qua, với khoảng 20 000 cơ sở trên khắp cả nước. Các nhà kinh doanh ẩm thực cũng ngày càng đa dạng, chiến lược hơn, chọn phục vụ các món ăn theo vùng miền, ví dụ như có nhà hàng chuyên phục vụ món Tứ Xuyên, Mãn Châu, hay chuyên về bánh bao như chuỗi nhà hàng Bao Family.

    Nhà bình luận ẩm thực, sáng lập bảng xếp hạng Foodie, ông Emmanuel Rubin, từng nhận định với RFI Tiếng Việt : “Tôi cho rằng thế kỷ 21, với quá trình toàn cầu hoá, tác động nhiều đến nền ẩm thực. Nhiều đầu bếp Pháp cũng quan tâm đến ẩm thực, cách chế biến và nguyên liệu từ châu Á. Những đời sau, thế hệ thứ 2 thứ 3 của những người nhập cư châu Á, muốn kể một câu chuyện ẩm thực độc đáo, chân thật và minh bạch hơn. Phải nói rằng là ngày nay, các quán ăn châu Á phục vụ đồ ngon hơn rất nhiều so với cách đây 30 năm, vốn không đầu tư vào cách phục vụ cũng như trang trí mà chỉ chủ yếu phục vụ kiều bào.”

    Mạng xã hội cũng góp phần đưa các món ăn châu Á phổ biến hơn. Ví dụ influencer có ảnh hưởng như Impératrice Wu, với hơn 1 triệu người theo dõi khắp các nền tảng mạng xã hội. Influencer người Pháp gốc Trung Quốc chuyên đăng tải các nội dung về món ăn châu Á, giới thiệu thực đơn của các nhà hàng khác nhau.

    Do đó, nhu cầu nhập nguyên liệu, rau củ quả châu Á cũng gia tăng. Ngoài các hãng chuyên bán lẻ hàng châu Á như Tang Frère hay Paris Store vốn được cộng đồng người châu Á biết đến rộng rãi, nhiều người trẻ thường là những người nhập cư thế hệ thứ hai hoặc thứ ba tìm cách đa dạng hóa nguồn cung, thay vì nhập khẩu như Masato.

    Những gián đoạn về cung ứng, hậu cần do đại dịch Covid-19 gây ra cũng là một trong những nguyên nhân khởi xướng nhiều sáng kiến sản xuất tại địa phương.

    Ví dụ cửa hàng tạp hóa trên mạng Kin Epicerie của Allison Petillot, người Pháp gốc Việt. Cô trực tiếp liên hệ với những nhà sản xuất nước mắm, đậu phụ, nấm hương, nước tương đậu nành,… từ khắp nơi ở Pháp và bán trên mạng, và đề xuất cho người tiêu dùng bán những giỏ rau củ, hương liệu,…được sản xuất tại Pháp.

    Tuy nhiên, trồng các loại rau củ có xuất xứ từ nơi khác ở Pháp không phải dễ dàng. Anh Masato chia sẻ : “ Thời tiết là một trong những thách thức lớn nhất, sau đó là việc làm sao để cây trồng có thể kháng cự được sâu bệnh. Đối với hầu hết những loại rau củ này, tôi cần phải bảo đảm thời tiết nóng, do đó đa số tôi trồng chúng dưới nhà kính, như rau húng, rau mồng tơi, rau muống,… Tôi cũng thường xuyên dùng các loại lưới để phủ bóng, giữ độ ẩm và che nắng.”

    Trước tình trạng biến đổi khí hậu, tại nhiều khu vực ở Pháp, thời tiết trở nên nóng hơn, mùa hè kéo dài hơn, gần giống với thời tiết ở các nước nhiệt đới. Đây cũng được coi là một trong những nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất trồng các loại rau củ nguồn gốc châu Á. Tuy nhiên Masato cũng lưu ý rằng, khi thời tiết nóng lên đến 40 độ C, các loại rau trồng dưới nhà kính, được bảo vệ tốt cũng khó có thể sinh trưởng tốt, và "người nông dân phải luôn tìm cách thích ứng".

    9 min
  • « Viện Quý tộc » : Cuộc cải tổ kết thúc chế độ quý tộc cha truyền con nối trong Thượng Viện Anh

    Trong tháng 5/2026, chính phủ Anh thực hiện nốt cuộc cải cách Viện Quý tộc (House of Lords), đưa hết các nhà quý tộc có quyền kế vị ra khỏi cơ quan lập pháp tương đương Thượng nghị viện, chấm dứt bảy thế kỷ truyền thống chính trị - văn hóa Anh.

    Câu chuyện này có ý nghĩa ra sao và cuộc cải cách do đảng Lao động Anh thực hiện có thực sự dân chủ hóa hệ thống lập pháp ở Vương quốc Anh ? Mời quý vị theo dõi phần giải thích từ thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn.

    ----- ***** -----

    RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Gianh. Đầu tiên xin anh cho biết dự án « Cải tổ Viện Quý tộc Vương quốc Anh » gồm những nét chính nào ?

    TTV. Nguyễn Giang : Vâng, đầu tiên tôi xin nói đây là cuộc cải tổ lần thứ 2 mà bộ máy chính trị Anh thực hiện để xóa dần đi di sản thời phong kiến có từ năm 1066 ở Anh. Cả hai lần đều là sáng kiến của đảng Lao động Anh (Labour). Lần trước sau khi ông Tony Blair lên làm thủ tướng nhờ phe Lao động thắng cử năm 1997, thì tới năm 1999, chính phủ và Hạ viện Anh đã thông qua Luật Cải tổ House of Lords lần một, đuổi ra khỏi Viện Quý tộc 759 vị quý tộc có quyền kế vị nhiều đời và chỉ giữ lại 92 vị.

    Nói ngắn gọn thì họ thuộc về 600 dòng họ quý tộc thực thụ còn lại ở Anh. Đây là nhóm có quyền kế vị (hereditary nobility), tức là đời cha chết đi thì các tước như công tước, hầu tước, bá tước, nam tước, đi kèm lâu đài, điền sản họ sở hữu từ nhiều thế kỷ được truyền lại cho con trai cả (theo luật ưu tiên trưởng nam-primogeniture), và những người kế vị này sẽ bầu chọn lẫn nhau để nghiễm nhiên thừa hưởng ghế trong The House of Lords, như một đặc quyền.

    Năm nay, chính phủ của đảng Lao động do Sir Keir Starmer làm thủ tướng, thực hiện cam kết tranh cử là cải tổ Viện Quý tộc. Hạ viện Anh đã thông qua luật hồi tháng Ba, xóa vĩnh viễn quyền kế vị các ghế dành cho quý tộc trong House of Lords. Thế nhưng, để xoa dịu sự phản đối của 92 vị còn lại, thì Văn phòng Phủ Thủ tướng đồng ý để 26 người quay lại giữ ghế trong Viện Quý tộc nhưng phải đổi áo, nhận bổ nhiệm là Lord một đời, do các đảng chính trị bổ nhiệm vào. Họ sẽ ở đó cho tới cuối đời và sau đó thì chỉ có các Thượng nghị sĩ (life peers) còn hoạt động trong Viện Quý tộc. Hiện con số những người không phải quý tộc có quyền kế vị là chừng 800, cũng rất đông.

    Dư luận Anh lâu nay ủng hộ việc cả tổ House of Lords. Một khảo sát do Đại học University College London (UCL) thực hiện giữa năm 2025 cho thấy 60% người dân muốn loại các vị quý tộc cha truyền con nối ra khỏi cơ quan này và chỉ có 22% không ủng hộ cải cách. Điều đáng nói nữa là 79% ủng hộ việc tước quyền của Thủ tướng Anh bổ nhiệm người thân tín vào House of Lords. Ví dụ như Lord Peter Mandelson, được đảng Lao Động và thủ tướng Keir Starmer đề cử, và có tước quý tộc một đời. Nay ông ta dính vào tai tiếng Epstein ở Mỹ, và bị cảnh sát điều tra, nhưng tước Lordship của ông ta vẫn còn đó.  Những chuyện như vậy khiến dư luận bất bình. Những người chỉ trích nói đây là một dạng đặc quyền, đặc lợi được trao tặng trọn đời nhờ thân quen.

    Anh có thể giải thích thêm về hai loại quý tộc, nhóm có quyền kế vị (hereditary peers) và nhóm chỉ nhận tước phong một đời (life peers) được không ?

    Cho tới nay chế độ phong kiến ở Anh để lại chừng 600 gia đình nhà quý tộc thực thụ, sở hữu chừng 800 tước hiệu, công tước, hầu tước, bá tước, nam tước. Số gia tộc ít hơn số tước hiệu vì một số nhà sở hữu cả tước công và tước hầu, tước bá, theo lãnh địa mà họ làm chủ. Ví dụ Công tước xứ Norfolk (Edward Fitzalan-Howard) đồng thời là bá tước xứ Surrey (Earl of Surrey).

    Hai vùng đất này ở hai chỗ khác nhau. Số quý tộc này không tăng, không giảm trong nhiều thế kỷ qua vì được truyền từ đời này sang đời kia, và theo nguyên tắc ưu tiên trưởng nam, nên con trai cả sẽ thừa hưởng tước vị đó chứ tước vị không được chia ra cho các con. Riêng quý tộc Scotland trong một số trường hợp được truyền lại tước vị cho con gái cả, nếu nhà quý tộc chết đi mà không có con trai.

    Hàng năm Hoàng gia phong tặng chừng 2000 huân huy chương, tước vị khác nhau, từ huy chương Thành viên Đế quốc Anh (MBE-Member of the British Empire), danh hiệu Sĩ quan Đế quốc Anh (OBE-Officer of the British Empire), cao nhất trong nhóm này là Chỉ huy của Đế quốc Anh (CBE-Commnader of the British Empire), cho tới danh hiệu Hiệp sĩ (Knight) như cầu thủ David Beckham, ca sĩ Elton John được trao.

    Nam tước là cấp thấp nhất trong 5 tước quý tộc Anh và mỗi năm có khoảng 25-50 người được Hoàng gia phong tặng. Nam tước (baron) hoặc nữ nam tước (baroness) thường được chọn nhờ công trạng hoặc do Thủ tướng chỉ định. Họ được quyền ngồi vào House of Lords.

    Vì sao Anh quốc phải cải cách Viện Quý tộc vào lúc này ?

    Nguồn gốc của Viện Quý tộc có từ Thế kỷ 11 khi Hội đồng Phụ chính Đại thần (Curia Regis) được Vua « William – Nhà chinh phạt » thành lập để tư vấn cho vua. Xin nhắc đây là vị vua từ Pháp sang chiếm đảo Anh và ngai vàng Anh nên ông ấy áp dụng các cơ chế phong kiến từ Pháp, xóa đi các hội đồng quý tộc nhỏ lẻ theo vùng miền của người Anglo-Saxon, và cho một nhóm nhỏ gồm các nam tước (barons) và các lãnh đạo giáo hội cấp cao (giám mục) vào hội đồng này. Họ đóng vai trò cố vấn cho nhà vua về việc thu thuế và ban hành luật pháp. Đây chính là "hạt giống" đầu tiên của Thượng viện.

    Từ thế kỷ 13, khi Bản Hiến chương Tự do (Magna Carta) được ký kế năm 1215, buộc nhà vua phải tham vấn ý kiến của các quý tộc trước khi thu thuế vì Hội đồng này mở rộng cho đại diện các gia tộc hùng mạnh, giàu có nhất của nước Anh, gồm các công tước, bá tước, hầu tước...vào ngồi. Đến năm 1295, Vua Edward I triệu tập ‘Model Parliament’ (Nghị viện Kiểu mẫu). Lần đầu tiên, ngoài các quý tộc và giới tăng lữ còn có đại diện của quý tộc-quân sự thấp hơn (hiệp sĩ- knights) và và thị dân tham dự. Nghị viện Anh như thế có cả hai nhóm, cao thấp khác nhau.

    Sang thế kỷ 14, vào khoảng năm 1341 thì viện này tách ra làm hai : House of Lords tập trung các đại quý tộc, tăng lữ và House of Commons còn gọi là Viện Thứ dân, gồm các hiệp sĩ (giới võ sĩ có ngựa chiến, gươm kiếm đánh thuê cho đại quý tộc) và là đại diện dân địa phương các quận hạt, đa số là thị dân.

    Nhu cầu cải tổ Viện Quý tộc để biến nó thành Thượng Nghị Viện (Senate) như ở Pháp, Mỹ và nhiều nước châu Âu khác đã được bàn đến hơn 30 năm qua. Lý do là một nền dân chủ thì không thể nào duy trì cơ chế cho ai đó hưởng đặc quyền làm nhà lập pháp cao cấp (tương đương chức Thượng nghị sĩ) theo kiểu cha truyền con nối, mà phải được bầu cử, hoặc ít ra là bổ nhiệm nhờ công trạng, thành tích cá nhân với quốc gia.

    Như vậy, so với các nước châu Âu khác thì Anh Quốc là quốc gia duy nhất có Viện Quý tộc vẫn tồn tại ?

    Đúng vậy, chúng ta phải nhắc rằng đây là một di sản lâu đời, có ít nhất gần 1000 năm tuổi, nhưng là di sản đem từ Pháp sang. Mà nước Pháp sau Cách mạng 1789 đã xóa sổ hoàn toàn tầng lớp quý tộc. Nước Đức từng là đế chế mà cũng xóa danh hiệu quý tộc, từ đầu thế kỷ 20. Nên ngày nay ai có nhận danh xưng nam tước, bá tước, ví dụ ‘Graf von’ gì đó thì phải gắn vào họ, và để xưng hô mang tính cá nhân, còn về mặt pháp lý, không có ai là bá tước, công tước gì ở Đức nữa cả. Ngay cả các nước Bắc Âu có vua nhưng cũng không còn tầng lớp quý tộc được quyền chính trị như ở Anh. Các nước Đông Âu một thời theo ý thức hệ công nông, xã hội chủ nghĩa thì đã xóa hẳn chức danh quý tộc từ lâu rồi. Chỉ riêng Anh quốc vẫn có Hoàng gia và các tước quý tộc kế vị, cùng quý tộc phong tặng.

    Anh có thể giải thích thêm là Anh quốc muốn cải tổ Viện Quý tộc thì mục đích cuối cùng của họ là gì ?

    Mục tiêu sẽ là dần dần biến House of Lords thành một thượng viện thực thụ như ở các nước khác. Tức là trong hệ thống dân chủ đại nghị thì thượng viện thường ít quyền hơn hạ viện nhưng đóng vai trò giám sát, chất vấn lại các đảng chính trị trong hạ viện để công tác soạn thảo, thông qua các bộ luật được tốt hơn. Thượng Viện, như ở Hoa Kỳ, còn đóng vai trò định hướng chính sách ngoại giao.

    Còn hiện nay, bước cải tổ năm nay mới chỉ giảm đi số nhà quý tộc có quyền kế vị. Viện Quý tộc ở Anh vẫn có quá nhiều thành viên, đa số các các vị được các đảng phái đề cử vào và nhà vua tấn phong. Con số này hiện vẫn là trên 800. Điều này gây ra ba vấn đề : Một là thiếu chỗ ngồi. Trụ sở Nghị viện Anh, gồm lưỡng viện Quốc hội, trong Cung điện Westminster ở Luân Đôn chỉ có 400 ghế cho House of Lords, nên khi nào có quá 400 vị tới dự họp thì một số phải đứng.

    Thứ hai, làm thành viên Viện Quý tộc là việc làm mang tính đóng góp, không ăn lương, chỉ được trả tiền theo giờ họp nên thực ra không thu hút được nhân tài. Thứ ba là vị trí không có nhiệm kỳ, nên ngoài 80 tuổi, vẫn có tên trong Viện Quý tộc và không dự họp vì sức khỏe yếu thì cũng không sao. Cả ba điều này khiến Viện Quý tộc chưa thể vận hành chuyên nghiệp, chuyên trách như một Thượng viện thực thụ.  

    Hiện có yêu cầu giảm số thành viên xuống khoảng 600 và đặt ra tuổi hưu ở tuổi 80. Kể cả khi đạt được điều đó thì Viện Quý tộc vẫn là cơ quan khác lạ so với sinh hoạt chính trị-xã hội ở Anh, vì tuổi hưu chung là 67, thì tại sao làm thành viên House of Lords lại có thể, (hoặc bị buộc phải) làm việc tới 80. Rất nhiều câu hỏi chưa có lời đáp.

    12 min
  • Du lịch một mình nhưng vẫn có "hội" : Xu hướng đang bùng nổ tại Pháp

    “Xách ba lô lên, bạn đồng hành đã có chúng tôi lo” (Prends ton sac à dos, on amène les amis), “Du lịch theo nhóm nhỏ cùng bạn đồng trang lứa” (Voyagez en petits groupes, avec des personnes de votre âge)... Những khẩu hiệu ấn tượng trong tàu điện ngầm Paris phản ánh một xu hướng đang bùng nổ tại Pháp : Du lịch một mình nhưng không cô đơn. Rất nhiều công ty lữ hành nắm bắt trào lưu mới, đặc biệt bùng nổ sau đại dịch Covid-19, để tổ chức tour cho “nhóm độc thân xa lạ”.

    Theo khảo sát được đăng trên Facebook của ngân hàng CIC ngày 09/07/2026, 74% người Pháp từng đi du lịch một mình năm 2026. Du lịch một mình trở thành xu hướng, biểu tượng của tự do, độc lập thay vì bị nhìn theo kiểu “ế nên mới phải đi một mình” như trước đây.

    Những người đi du lịch một mình là ai ? Léa Bensadoun, phụ trách phát triển khu vực châu Á/châu Âu tại công ty lữ hành Les Covoyageurs hoạt động từ 14 năm nay, trả lời câu hỏi của RFI Tiếng Việt tại Hội chợ Du lịch Thế giới 2026 (Salon Mondial du Tourisme Paris) :

    “Ngay từ những ngày đầu thành lập công ty, chúng tôi nhận thấy nhu cầu thực sự từ nhóm khách du lịch một mình. Sau đó, nhu cầu du lịch một mình hoặc là giữa những người đi du lịch một mình đặc biệt bùng nổ, nhất là sau đại dịch Covid-19. Khách hàng của chúng tôi không chỉ là những người độc thân mà còn là những người ở thời điểm muốn du lịch nhưng không có bạn bè hoặc người thân sắp xếp được thời gian đồng hành. Họ mong muốn tham gia các chuyến đi theo nhóm mà không nhất thiết phải đi theo cặp hoặc gia đình. Đối tượng khách hàng của chúng tôi thường là từ 35 đến 55 tuổi”.

    Tự đi vì lên hẹn đi cùng còn khó hơn trúng số

    Sau nhiều năm bị phong tỏa, hạn chế đi lại, khó khăn kinh tế vì đại dịch Covid-19, nhiều người ưu tiên trải nghiệm cá nhân và không muốn trì hoãn các kế hoạch chỉ vì “rảnh cùng lúc” đôi khi còn “khó hơn trúng số”. Nhiều mô hình du lịch dành riêng cho khách đi một mình đã bùng nổ, theo giải thích của Léa Bensadoun :

    “Du lịch một mình đang thực sự trở thành một xu hướng ngày càng phổ biến. Đây là năm thứ ba chúng tôi tham gia Hội chợ Du lịch Thế giới và mỗi năm, gian hàng của chúng tôi đều thu hút nhiều khách tham quan hơn. Đặc biệt, lần này, nhiều người chia sẻ rằng ngay khi tới đây, họ chủ động tìm kiếm các công ty chuyên tổ chức các chuyến đi dành cho du khách đi một mình. Tại triển lãm năm ngoái (2025), khái niệm du lịch một mình cũng đã được đưa vào các hoạt động tương tác. Chúng tôi nhận thấy xu hướng này đang phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh mọi thông tin và dịch vụ đều dễ dàng tiếp cận trực tuyến, ý tưởng được du lịch cùng những người độc thân khác ngày càng trở nên hấp dẫn và độc đáo”.

    Có thể thấy bốn lý do chính, được trang Tourisme Digital thống kê, giải thích cho xu hướng du lịch một mình : tận hưởng tự do, tập trung vào bản thân, người thân không rảnh vào thời điểm đó, có cơ hội gặp gỡ và kết nối với những người cùng sở thích, cùng ngân sách. Những công ty lữ hành chuyên về mô hình du lịch này trở cầu nối cho những khách hàng đi một mình mà không cô đơn. Vậy làm thế nào để tạo ra sự hòa thuận giữa những thành viên là người hoàn toàn xa lạ với nhau ?

    “Trên trang web của công ty chúng tôi, những người quan tâm hoặc đã đăng ký một chuyến đi có thể kết nối và trao đổi với nhau ngay từ trước khi khởi hành. Khi tạo tài khoản, khách hàng có thể gửi tin nhắn riêng cho những thành viên khác có cùng sở thích hoặc cùng tham gia một hành trình. Từ đó, các nhóm trao đổi nhanh chóng được hình thành, cho phép mọi người làm quen và chia sẻ thông tin liên lạc. Chúng tôi nhận thấy nhiều du khách trò chuyện với nhau từ rất sớm, giúp xóa bỏ cảm giác e ngại và tạo sự gắn kết trước chuyến đi. Ngoài ra, vì các gói du lịch thường đã bao gồm vé máy bay, chúng tôi khuyến khích khách hàng lựa chọn cùng một chuyến bay để có cơ hội gặp gỡ và làm quen với nhau ngay trước khi tới điểm du lịch”.

    90 điểm đến trên website nhưng khách hàng vẫn “phải lòng” Việt Nam

    Thành công của loại hình du lịch này được thể hiện qua doanh thu ngày càng tăng tại Pháp, ví dụ năm 2024 đạt 48,9 triệu đô la và đến năm 2030 có thể đạt đến 114 triệu đô la, tương đương với mức tăng 15,2% hàng năm. Nhật Bản là điểm đến số 1 cho những du khách Pháp du lịch một mình từ 30 đến 40 tuổi. Đây cũng là điểm đến hàng đầu của công ty Les Covoyageurs :

    “Về nguyên tắc, chúng tôi chủ động đề xuất các điểm đến. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, chúng tôi cũng triển khai các bảng khảo sát để thu thập ý kiến từ khách hàng. Nhờ chương trình khách hàng thân thiết trên website, nhiều du khách thường xuyên quay lại sử dụng dịch vụ của chúng tôi, và chúng tôi đã tham khảo ý kiến của họ về những tính năng mới cũng như các điểm đến mà họ quan tâm nhất. Chính từ những phản hồi này, chúng tôi nhận thấy một số điểm đến đang thu hút sự quan tâm đặc biệt, chẳng hạn Nhật Bản, nơi liên tục nằm trong nhóm được khách hàng yêu thích nhất.

    Trên các ấn phẩm quảng bá, chúng tôi thường ưu tiên giới thiệu những điểm đến chủ lực, tức là các điểm đến có lượng đặt chỗ cao nhất trong năm. Đây cũng thường là những nơi mà nhiều khách hàng lần đầu trải nghiệm hình thức du lịch theo nhóm dành cho người đi một mình lựa chọn, có thể kể đến Việt Nam, Tanzania hoặc Albania tại châu Âu vào mùa hè”.

    Việt Nam nằm trong số 90 điểm đến của công ty và luôn là lựa chọn ưu tiên của khách hàng. Léa Bensadoun có câu trả lời cho lựa chọn này :

    “Đây là một câu chuyện khá thú vị. Ngay từ khi thành lập công ty, chúng tôi đã thiết lập quan hệ hợp tác với đối tác La Palanche Voyage và mối quan hệ đó vẫn được duy trì bền chặt cho đến ngày nay. Tôi nghĩ chính mối quan hệ này giúp chúng tôi quảng quảng hình ảnh Việt Nam, hiện trở thành điểm đến được đặt nhiều nhất trên website của chúng tôi, trên tổng số gần 90 điểm đến của công ty”.

    Được tự do nhưng không phải tự lo mọi thứ

    Được tự do đi du lịch một mình, không phải phụ thuộc vào lịch trình, ngân sách hoặc sở thích của người khác nhưng nhiều du khách cũng không muốn cô đơn. Và đây chính là điểm được các công ty tour solo khai thác. Họ giúp khách được tự do nhưng không phải tự lo mọi thứ : từ phương tiện, chỗ ở, lịch trình đến hướng dẫn viên và các hoạt động nhóm, như trường hợp công ty Les Covoyageurs.

    “Chúng tôi tự thiết kế, xây dựng và đưa các chương trình du lịch lên website, vì vậy mọi khách hàng đặt tour đều được hưởng trọn gói các hoạt động và dịch vụ đã được lên kế hoạch sẵn. Tuy nhiên, cũng có nhiều khách hàng đề nghị được khởi hành từ một sân bay địa phương thay vì từ Paris. Chúng tôi hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu đó và cung cấp các gói du lịch không bao gồm vé máy bay, với mức giá được điều chỉnh tương ứng.

    Ngoài ra, đối với những khách muốn kéo dài thời gian lưu trú hoặc đến điểm đến sớm hơn trước khi tour bắt đầu, chúng tôi có thể sắp xếp lại lịch trình bay phù hợp. Tất cả đều được đáp ứng theo nhu cầu của từng người. Hiện nay, chúng tôi cũng ghi nhận xu hướng ngày càng nhiều khách du lịch một mình tự tổ chức một phần hành trình của họ tại một số quốc gia và chỉ tham gia các chương trình của chúng tôi trong một giai đoạn nhất định. Trong những trường hợp như vậy, chúng tôi bỏ phần vé máy bay và chỉ cung cấp các dịch vụ tại chỗ”.

    Đối với những người lần đầu đi một mình, việc có một đơn vị tổ chức đứng phía sau còn tạo cảm giác an toàn và yên tâm hơn. Các công ty tour solo cũng tập trung vào những phân khúc khách hàng nhất định, ví dụ Road Scholar chuyên về du lịch solo cho người lớn tuổi, WeRoad tập trung vào nhóm khách hàng từ 25-35 tuổi, Les Covoyageurs tập trung vào nhóm khách hàng 35-55 tuổi…

    “Chúng tôi hoạt động mạnh trên mạng xã hội, như Instagram, TikTok và Facebook. Bên cạnh đó, công ty chúng tôi cũng thường xuyên được giới thiệu trên các chương trình phát thanh và truyền hình. Chẳng hạn, đài truyền hình TF1 thường xuyên đến phỏng vấn và thực hiện các phóng sự về mô hình kinh doanh của chúng tôi bởi vì chúng tôi là một trong những đơn vị tiên phong và gần như duy nhất tại Pháp chuyên tổ chức các chuyến du lịch dành riêng cho những người đi du lịch một mình”.

    Thành công của mô hình du lịch solo nằm ở một nghịch lý khá thú vị : Khách hàng mua tour vì muốn đi một mình, nhưng họ lại muốn có cơ hội kết nối với những người giống mình. Xu hướng này ngày càng phát triển mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ dân số người cao tuổi thuộc thế hệ Baby Boom và thực tế là một phần ba người trưởng thành ở Pháp sống độc thân.

    Tháng 01/2026, Skyscanner công bố khảo sát, theo đó 43% khách du lịch một mình nhằm mục đích thư giãn và nạp lại năng lượng. Họ không muốn chờ đến lúc người thân “rảnh” để cùng thực hiện. “Và các nhà điều hành du lịch rõ ràng đã hiểu điều này bằng cách điều chỉnh các dịch vụ của họ để thu hút nhóm khách hàng này”, theo bà Christel Marzullo, giám đốc Hội chợ Du lịch Thế giới.

    10 min
  • Từ "địa ngục Joseon" đến "cường quốc tự tử" - lối thoát nào cho Hàn Quốc

    Một nghịch lý đặc biệt trong tiếng Hàn là từ 자살 – “tự tử” – khi đọc ngược lại sẽ thành 살자, nghĩa là “hãy sống” hoặc “chúng ta cùng sống nhé”. Cách chơi chữ này từng được sử dụng như một lời động viên: khi ý nghĩ tuyệt vọng xuất hiện, hãy thử đảo ngược nó để nhắc mình rằng vẫn phải tiếp tục sống. Thế nhưng tại một xã hội thường bị người trẻ mỉa mai gọi là “địa ngục Joseon”, việc lựa chọn sống đôi khi cũng trở thành một cuộc đấu tranh đầy mệt mỏi.

    Áp lực học tập, cạnh tranh việc làm, giá nhà đắt đỏ, nợ nần, làm việc quá sức, sự cô đơn và nỗi sợ bị bỏ lại phía sau khiến nhiều người cảm thấy dù đã cố gắng đến đâu, cuộc sống vẫn không trở nên dễ dàng hơn. 

    Quốc gia có tỉ lệ tự tử số 1 trong nhóm OECD

    Hàn Quốc được biết đến với kỳ tích kinh tế, công nghệ hiện đại và sức ảnh hưởng mạnh mẽ của làn sóng Hallyu. Tuy nhiên, quốc gia này đã duy trì tỷ lệ tự tử cao nhất OECD trong hơn hai thập niên. Năm 2024, tỷ lệ tự tử của Hàn Quốc là 23 - 28 người / 100.000 dân, tùy theo tiêu chuẩn tính toán. Tuy nhiên dù tính toán theo phương pháp nào thì tỉ lệ tự tử của Hàn Quốc vẫn cao hơn gấp đôi mức trung bình của khối, điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Vì vậy, tự tử tại Hàn Quốc không còn là bi kịch cá nhân mà đã trở thành một vấn đề y tế công cộng và xã hội. 

    Áp lực thay đổi theo từng giai đoạn của cuộc đời

    Theo thống kê của Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Hàn Quốc năm 2021, các vấn đề tâm lý và tâm thần chiếm tỷ lệ lớn nhất, với khoảng 40%, tiếp theo là khó khăn kinh tế và sinh kế với khoảng 25%, theo sau đó là bệnh tật (18%), gia đình (7%), và áp lực công việc (~4%). Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng cũng thay đổi rõ rệt theo từng độ tuổi. 

    Ở thanh thiếu niên và người trẻ, nguy cơ thường gắn với áp lực học tập, bắt nạt, khó tìm việc, thu nhập bấp bênh và tương lai thiếu ổn định; trong khi người trung niên chịu sức ép lớn từ sinh kế, nợ nần và trách nhiệm gia đình. Với người cao tuổi, bệnh tật, nghèo đói và cô đơn là những yếu tố nổi bật. Nam giới có tỷ lệ tự tử cao hơn do thường phải gánh kỳ vọng về vai trò trụ cột nhưng lại ít chia sẻ cảm xúc và ngại tìm kiếm sự hỗ trợ, khiến khủng hoảng khó được phát hiện sớm. 

    Xã hội đầy sự thù ghét

    Nhà văn đoạt giải Nobel Han Kang cho rằng tình trạng thù ghét ngày càng lan rộng tại Hàn Quốc và trên thế giới là một thách thức mà xã hội phải cùng nhau vượt qua. Phát biểu bên lề Liên hoan Avignon, bà nhấn mạnh rằng đây là thời điểm con người cần nghiêm túc suy nghĩ về cách thoát khỏi sự chia rẽ và tìm một hướng đi khác, thay vì tiếp tục chìm sâu trong “kỷ nguyên thù ghét”.

    Tại Hàn Quốc, sự thù ghét không chỉ thể hiện qua xung đột giới tính, thế hệ, khu vực hay chính trị mà còn lan rộng trên mạng xã hội dưới hình thức bôi nhọ, bình luận ác ý và tấn công tập thể. Trong một xã hội vốn chịu nhiều áp lực về thành tích, kinh tế và sự cô đơn, những cuộc công kích này có thể làm trầm trọng thêm khủng hoảng tâm lý ở người dễ tổn thương.

    Năm 2022, một nữ streamer từng bị các “cyber wrecker” đăng tải nội dung cắt ghép, giật gân và kích động đám đông công kích dù cô đã lên tiếng giải thích. Những lời miệt thị tiếp tục lan rộng trước khi cô qua đời do tự tử, cho thấy bạo lực trực tuyến có thể để lại hậu quả nghiêm trọng ngoài đời thực. Không thể quy một bi kịch cho riêng một nguyên nhân, nhưng việc liên tục bị hàng nghìn người chế giễu, phán xét và cô lập có thể đẩy một người đến cảm giác tuyệt vọng sâu sắc. 

    Bắt nạt từ trường học đến nơi làm việc

    Bắt nạt, đặc biệt là bắt nạt trên mạng, là một trong những yếu tố xã hội có thể làm gia tăng nguy cơ khủng hoảng tâm lý và ý nghĩ tự tử ở thanh thiếu niên Hàn Quốc. Nghiên cứu của giáo sư Choi Jung-ah thuộc Đại học Kyungil, thực hiện trên 3.775 học sinh trung học cơ sở, cho thấy ngay cả khi đã tính đến các yếu tố như trầm cảm, căng thẳng và lòng tự trọng, nạn nhân của bắt nạt trực tuyến và phân biệt đối xử vẫn có nguy cơ xuất hiện ý nghĩ tự tử cao hơn đáng kể.

    Bắt nạt không chỉ xuất hiện trong trường học hay trên mạng mà còn tồn tại tại nơi làm việc. Hai trường hợp nhân viên Naver qua đời vào năm 2021 và 2022 đều được gia đình và công đoàn liên hệ với tình trạng chèn ép, khối lượng công việc quá mức và việc phản ánh không được xử lý thỏa đáng. Các vụ việc cho thấy khi tiếng nói của người lao động bị xem nhẹ, môi trường làm việc độc hại có thể làm trầm trọng thêm khủng hoảng tinh thần và dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

    Theo hãng tin MBC, văn hóa bắt nạt “taeum” trong ngành điều dưỡng Hàn Quốc đã được liên hệ với nhiều trường hợp nhân viên y tế qua đời sau thời gian chịu áp lực và chèn ép tại nơi làm việc. Các vụ việc của nữ điều dưỡng Park Sun-wook năm 2018, Seo Ji-yoon năm 2019 và Kang Soo-bin năm 2026 cho thấy tình trạng mắng nhiếc, cô lập, giao việc quá sức và xử lý khiếu nại thiếu hiệu quả vẫn kéo dài. Giới chuyên gia cho rằng cần giảm khối lượng công việc, bảo vệ người tố cáo và xử lý nghiêm hành vi bắt nạt để ngăn những bi kịch tương tự tái diễn. 

    Áp lực công việc

    Khác với bắt nạt mang tính trực tiếp, kiệt sức nghề nghiệp có thể hình thành từ khối lượng công việc kéo dài, thiếu quyền tự chủ và môi trường tổ chức không thân thiện. Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Frontiers in Public Health vào tháng 9.2023 do hai bác sĩ tâm thần học Hàn Quốc Jeon Sang-won và Cho Sung-jun thực hiện trên hơn 13.000 lao động thuộc nhiều lĩnh vực như sản xuất, tài chính, dịch vụ, phân phối, xây dựng và hành chính công cho thấy áp lực công việc kéo dài và tình trạng kiệt sức nghề nghiệp có thể làm gia tăng đáng kể nguy cơ xuất hiện ý nghĩ tự tử ở người lao động. 

    Kết quả cho thấy những người rơi vào trạng thái kiệt quệ về thể chất và cảm xúc có nguy cơ xuất hiện ý nghĩ tự tử cao hơn 36% nếu đã mắc trầm cảm và cao hơn 77% ngay cả khi không mắc trầm cảm. Nguy cơ đặc biệt gia tăng ở những người không thể tự chủ trong công việc hoặc làm việc trong môi trường thiếu thân thiện. Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng kiệt sức nghề nghiệp cần được xem là một dấu hiệu cảnh báo quan trọng, không chỉ ở nhân viên y tế mà trong mọi ngành nghề. 

    Chênh lệch giàu nghèo sâu sắc

    Tỷ lệ tự tử cao tại Hàn Quốc không chỉ liên quan đến sức khỏe tâm thần mà còn phản ánh khoảng cách giàu nghèo và một xã hội đặt nặng địa vị, thu nhập và tài sản. Những người làm công việc có vị thế thấp hoặc thu nhập bấp bênh thường dễ bị coi thường và chèn ép.

    Theo Yonhap, văn hóa “gapjil - 갑질” – lạm dụng quyền lực của người ở vị trí cao hơn, giàu hơn – thể hiện rõ qua các vụ nhân viên bảo vệ chung cư bị cư dân lăng mạ, hành hung và đối xử như người hầu. Trong một trường hợp, biểu ngữ tưởng niệm một bảo vệ tự tử sau thời gian bị ngược đãi còn bị tháo xuống vì cư dân lo ảnh hưởng đến giá trị căn hộ. Sự việc cho thấy tài sản đôi khi được đặt cao hơn phẩm giá và sinh mạng của người lao động.

    Cũng theo Yonhap, áp lực kinh tế cũng có thể đẩy các gia đình yếu thế vào bế tắc, như trường hợp một người cha thất nghiệp đã tự tử cung với bốn đứa con của mình dù đã nhận một phần hỗ trợ phúc lợi. Thủ tục phức tạp, nguồn trợ giúp hạn chế và tâm lý xấu hổ khiến nhiều người không tiếp tục tìm kiếm hỗ trợ và tự tử là một giải pháp mà họ nghĩ tới khi bất lực.

    Một xã hội thành công nhưng ngày càng cô đơn

    Sự phát triển nhanh chóng của Hàn Quốc đã làm thay đổi sâu sắc cấu trúc gia đình và cộng đồng. Gia đình nhiều thế hệ dần được thay thế bằng gia đình hạt nhân và hộ độc thân; người trẻ rời quê lên thành phố, người cao tuổi sống một mình ngày càng nhiều, trong khi áp lực công việc khiến các mối quan hệ gia đình và xã hội dần trở nên lỏng lẻo.

    Sự cô đơn đặc biệt nguy hiểm đối với những người vừa trải qua điều trị tâm thần. Khi rời bệnh viện, họ có thể quay trở lại căn nhà trống vắng và tiếp tục đối mặt với nợ nần, thất nghiệp, bệnh tật hoặc mâu thuẫn gia đình, nhưng không có người thường xuyên theo dõi và hỗ trợ. Vì vậy, xuất viện không đồng nghĩa với việc nguy cơ đã chấm dứt; ngược lại, đây có thể là giai đoạn người bệnh cảm thấy cô độc và dễ tổn thương nhất.

    Theo OECD, năm 2023, tỷ lệ tử vong do tự tử trong vòng một năm sau khi điều trị nội trú tâm thần tại Hàn Quốc là 6,9 trên 1.000 bệnh nhân, thuộc mức cao nhất trong các quốc gia được so sánh. Thực trạng này cho thấy khoảng trống lớn giữa bệnh viện và cộng đồng: nếu thiếu nhân viên quản lý trường hợp, dịch vụ chăm sóc tại địa phương và sự phối hợp lâu dài với gia đình, người có nguy cơ cao có thể nhanh chóng bị bỏ lại một mình sau thời gian điều trị ngắn ngủi. 

    Hiệu ứng Werther và trách nhiệm của truyền thông

    Nhiều nghiên cứu tại Hàn Quốc cho thấy sự ra đi của người nổi tiếng có thể làm gia tăng hành vi tự tử trong công chúng, hiện tượng được gọi là “hiệu ứng Werther”. Một nghiên cứu của các bác sĩ thuộc Bệnh viện Đại học Kosin và Đại học Dong-A đã phân tích hơn 1.000 trường hợp tự gây thương tích hoặc có hành vi tự tử được tiếp nhận tại bốn trung tâm cấp cứu ở Busan trong giai đoạn 2007–2009, sau sự ra đi của một nữ diễn viên nổi tiếng và một cựu tổng thống. Trong 60 ngày sau hai sự kiện, số bệnh nhân trung bình mỗi ngày tăng khoảng 30–40%; tỷ lệ phải điều trị tại khoa hồi sức tích cực cũng tăng gần gấp đôi. 

    Một nghiên cứu khác của Đại học Korea, phân tích biến động tỷ lệ tự tử trong cộng đồng sau 10 vụ tự tử của người nổi tiếng giai đoạn 1994–2005, cũng ghi nhận mức gia tăng có ý nghĩa thống kê. Tác động rõ nhất xuất hiện sau sự ra đi của nữ diễn viên Lee Eun-ju, đặc biệt ở người trẻ, người có trình độ đại học và nhân viên văn phòng. Tỷ lệ tự tử cũng tăng sau một số trường hợp người nổi tiếng khác, cho thấy mức độ ảnh hưởng có thể khác nhau tùy sức lan tỏa của từng sự kiện. Xu hướng này thường đạt mức cao nhất trong tháng đầu tiên, giảm dần ở tháng thứ hai và trở lại mức thông thường sau khoảng ba tháng.

    Các kết quả cho thấy người đang gặp khủng hoảng có thể tự đồng nhất mình với nhân vật nổi tiếng, từ đó làm tăng nguy cơ hành vi bắt chước, nhất là khi truyền thông đưa tin dày đặc, giật gân hoặc lãng mạn hóa bi kịch. 

    Chuyển đổi chứ không phải phòng ngừa

    Dù tình trạng tự tử tại Hàn Quốc đã ở mức đáng báo động trong nhiều năm, vấn đề này vẫn chưa được chính quyền ưu tiên tương xứng. Chỉ khoảng 10% nghị sĩ tham gia diễn đàn phòng chống tự tử, trong khi sự quan tâm từ cấp lãnh đạo cao nhất còn hạn chế. Hàn Quốc đã có đường dây nóng và trung tâm hỗ trợ, nhưng khả năng tiếp nhận, hướng dẫn can thiệp và theo dõi lâu dài vẫn chưa đáp ứng nhu cầu.

    Bên cạnh đó, sức khỏe tinh thần chưa được xã hội coi trọng như sức khỏe thể chất, khiến nhiều người ngại tìm kiếm sự giúp đỡ. So với nhiều nước OECD, hệ thống phòng chống tự tử của Hàn Quốc còn thiếu sự phối hợp, nhân lực và trách nhiệm rõ ràng. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy Hàn Quốc cần coi đây là nhiệm vụ quốc gia, tăng đầu tư và xây dựng hệ thống hỗ trợ liên tục từ bệnh viện đến cộng đồng. 

    Khủng hoảng tự tử không thể được giải quyết chỉ bằng những lời động viên, đường dây tư vấn hay các chiến dịch ngắn hạn. Điều cần thiết là một sự chuyển đổi sâu rộng trong cấu trúc và văn hóa xã hội. Hàn Quốc cần rời xa mô hình lấy hiệu suất, thành tích và lợi nhuận làm thước đo duy nhất, để tiến tới một xã hội đặt con người, sự chăm sóc và phẩm giá ở vị trí trung tâm. Một quốc gia bao dung không đánh giá con người dựa trên nghề nghiệp, thu nhập, giới tính, tuổi tác, ngoại hình hay hoàn cảnh sống; đồng thời phải bảo đảm rằng người yếu thế được tiếp cận phúc lợi mà không cảm thấy xấu hổ hoặc bị loại trừ.

    Từ giáo dục, lao động đến chính sách và ngân sách, mục tiêu giảm tỷ lệ tự tử phải được hiểu là một cam kết làm cho xã hội bớt khắc nghiệt và nhân ái hơn. Đảo ngược hai âm tiết có thể biến 자살 thành 살자. Nhưng để biến tuyệt vọng thành hy vọng, Hàn Quốc cần nhiều hơn một cách chơi chữ: cần xây dựng một xã hội thực sự khiến mỗi người cảm nhận được giá trị của mình và biết rằng luôn có một nơi để tìm kiếm sự giúp đỡ.

    12 min

About Tạp chí Xã Hội

From the publisher's feed

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

More shows like Tạp chí Xã Hội

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ by SBS

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ

29 Listeners

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

220 Listeners

Tạp chí Âm Nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Âm Nhạc

2 Listeners

Tạp chí Tiêu Điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Tiêu Điểm

0 Listeners

Tạp chí Khoa Học Môi Trường by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Khoa Học Môi Trường

0 Listeners

Tạp chí Văn Hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Văn Hóa

0 Listeners

Spiderum Official by Spiderum

Spiderum Official

25 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí Thể Thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Thể Thao

0 Listeners

Tạp chí Kinh Tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Kinh Tế

0 Listeners

Tạp chí Đặc Biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Đặc Biệt

0 Listeners

điêu khắc bản thân by Chuyện đời Sales

điêu khắc bản thân

1 Listeners

5 Phút Chuyện Thị Trường by 5 Phút Chuyện Thị Trường cùng Vũ Kim Hạnh

5 Phút Chuyện Thị Trường

0 Listeners

Tieng Viet Oi by Tieng Viet Oi

Tieng Viet Oi

0 Listeners