Tạp chí văn hóa

Tạp chí văn hóa

By RFI Tiếng ViệtArts
Download on the App Store

Tạp chí văn hóa episodes

  • Galerie BAO: Đem nghệ thuật đương đại Việt Nam đến với công chúng Paris

    Galerie BAO, gallery dành cho nghệ thuật đương đại Việt Nam tại Paris, do giám tuyển Lê Thiên Bảo thành lập cách đây 2 năm, vừa khai trương cơ sở mới tại số 49 Avenue Pamentier Paris 11, ngày 12/09/2025, với một cuộc triển lãm kết hợp nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật sắp đặt của nghệ sĩ Việt Nam Hằng Hằng, hiện sống tại Paris.

    Lê Thiên Bảo tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý thị trường Nghệ thuật Quốc tế tại École D'art et De Culture (EAC) Paris và đã làm việc với các gallery ở Pháp trước khi tự thành lập một gallery riêng mang tên Galerie BAO vào năm 2023. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 10/09, giám tuyển Lê Thiên Bảo cho biết: 

    "Hoạt động đầu tiên Gallerie BAO diễn ra vào năm 2023 tại số 15 rue Beautreillis, Paris. Lúc đó là vừa mới hết đại dịch Covid, em sang Pháp thì thấy là ở Pháp gần như không có một chỗ nào để cho nghệ thuật đương đại Việt Nam, đặc biệt là các bạn trẻ, trưng bày, cũng như là để công chúng Pháp, Việt Kiều, hay là người từ Việt Nam sang đây có thể xem được.

    Hầu hết các nghệ thuật  từ Việt Nam mà mọi người biết đến ở Pháp là thông qua Bảo tàng Guimet, hoặc Bảo tàng Cernuschi và đó hầu hết là những nghệ thuật liên quan đến đồ thủ công, Indochine ( Đông Dương ), đồ cổ nhiều hơn là nghệ thuật đương đại. Khái niệm của mọi người về nghệ thuật  đương đại Việt Nam vẫn còn rất là mơ hồ, do đó em có ý tưởng về một không gian Galerie BAO. Khi mở ra thì nó chỉ có 20 mét vuông.  Đó là lý do sau hai năm mình phải dời dời chỗ. Bây giờ đây là chỗ mới ở Avenue Parmentier, có hơn 60 mét vuông ở mặt bằng và ở dưới tầng hầm mình có 30 m2 nữa, để thực hiện tất cả những triển lãm tương đối nhiều tham vọng hơn và ủng hộ những nghệ sĩ trẻ hơn như Hằng Hằng.

    Tìm được một cơ sở như vậy ở Paris cũng không phải là đơn giản, bởi vì Paris rất là đắt đỏ, với tiền thuê cơ sở này và tất cả những chi phí liên quan. Như vậy khó khăn ban đầu chắc là rất nhiều?

    Đúng là có rất nhiều khó khăn ban đầu, tuy nhiên những khó khăn đó đều có thể giải quyết được hết, nếu như mình có một cộng đồng phía sau mình. Tại vì thật ra em được sự ủng hộ rất nhiều từ các nghệ sĩ địa phương cũng như cộng đồng người Việt ở đây và công chúng, kể cả công chúng Pháp. Sau hai năm hoạt động thì Gallerie BAO đã có được một tiếng vang tương đối tốt trong giới chuyên môn ở Pháp, do đó mình cũng có thể bán các tác phẩm được. Chủ yếu là mình bán về Châu Á như là Singapore. Bán cho Pháp thì ít thôi, tại vì thật ra công chúng Pháp rất là khắt khe và rất khó tham gia vào thị trường này. 

    Tất cả những chi phí đó hầu hết là đều tự em bỏ ra, tự em vận hành trước và sau đó thì từ từ mình bán tác phẩm, bắt đầu mình mới có thu nhập thêm để xây dựng các chương trình. Lúc mới mở thì không dám làm một chương trình triển lãm như thế này đâu. Ví dụ như triển lãm của Hằng Hằng thì hầu hết là performance ( trình diễn ) và một trải nghiệm rất là immersif ( nhập vai ), hầu như là sẽ không bán được. Đó cũng là một bài toán cân đối giữa thu nhập và chất lượng tác phẩm. 

    Theo lời giám tuyển Lê Thiên Bảo, trước nghệ sĩ Hằng Hằng, Gallerie BAO đã tổ chức những triển lãm cho các nghệ sĩ đến từ Việt Nam như Nguyễn Duy Mạnh, Trương Công Tùng, Lêna Bùi, hầu hết đều làm triển lãm riêng. Những nghệ sĩ khác thì được Lê Thiên Bảo hỗ trợ để làm triển lãm riêng ở những bảo tàng lớn của châu Âu. Bên cạnh đó, Galerie BAO cũng phối hợp với các gallery lớn hơn để giám tuyển những triển lãm nhóm của các nghệ sĩ  Bùi Công Khánh, Nguyễn Thị Châu Giang.

    Vậy thì Galerie BAO dựa trên những tiêu chí nào để tuyển chọn những nghệ sĩ Việt Nam sang đây trưng bày các tác phẩm? Lê Thiên Bảo giải thích: 

    "Khi làm việc thì em lựa chọn trên tiêu chí đầu tiên, đó phải là tác phẩm tốt và phải có sự bền bỉ. Người ta thường nói đùa: " Phong độ là nhất thời nhưng đẳng cấp là mãi mãi". Tức là năng lượng sáng tác phải bền vững, chứ không phải là một người chỉ có một tác phẩm xuất sắc theo kiểu "ăn may". Mình phải có kinh nghiệm trong nghề để nhìn ra được khả năng thăng tiến của người nghệ sĩ đó về lâu dài.

    Thứ hai là cách làm việc của nghệ sĩ đó phải chuyên nghiệp. Tại vì khi em mang họ qua Pháp thì sẽ có rất nhiều cam kết ràng buộc về mặt sản xuất tác phẩm, sáng tác, cũng như về lâu dài mình phải có chiến lược cùng với nhau, thì đầu tiên là tính người phải hợp cái đã.

    Thứ ba là họ có thực sự nghiêm túc muốn trở thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp hay không? Tại vì nếu như đây chỉ là một cuộc chơi kiểu như "weekend artist" thì mình cũng không có hứng thú. Là một gallery chuyên nghiệp thì em phải tìm kiếm nghệ sĩ chuyên nghiệp.

    Nghệ sĩ hiện giờ, như anh thấy đó, họ làm nghệ thuật với sân khấu, với sắp đặt, với trình diễn, với video, với hàng trăm ngàn thứ khác rất là hứng thú. Em nghĩ là người Pháp cần phải thoát ra khỏi định kiến của họ, cũng như cái nhìn cũ của họ về Việt Nam. Mình không phải là một đất nước exotic, với những thứ xinh đẹp, dễ thương, như họ vẫn luôn kỳ vọng tìm được.

    Thật ra thì em đã có tín hiệu tiếp nhận rất tốt rồi. Lúc nào gallery của em cũng kín khách. Vernissage ( tiếp tân khai mạc triển lãm ) lúc nào cũng kín khách và lúc nào phần lớn cũng là người Pháp.

    Gallerie BAO cũng đã có mặt ở các fair ( hội chợ) quan trọng về nghệ thuật Châu Á,như là Asia Now mà ba năm nay, năm nào em cũng tham dự. Hoặc là các fair như là Lille Art Up! ở Lille, Pháp, hoặc là cuối năm nay em sẽ đi  tham dự Art Cologne ở Đức. Không chỉ ở Pháp mà ở Châu Âu, trong sự tiếp nhận nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật đương đại Việt Nam, mọi người cực kỳ tò mò, hứng thú và cởi mở. Lúc nào mình cũng có khán giả.

    Cái quan trọng là mình phải đủ dũng khí và đủ tâm huyết để bày ra những triển lãm thật sự tốt, tốt cho mình và tốt với  cái chuẩn của mình, chứ không phải là nhìn theo cái chuẩn của Pháp.

    Nhưng, theo Lê Thiên Bảo, để một gallery nghệ thuật đương đại tồn tại lâu dài tại Paris là một thử thách lớn lao: 

    "Thật ra đối với em, Paris là một thuận lợi, một cơ hội, cũng là một thử thách rất lớn. Ở Paris, anh sẽ gặp được mọi người. Vào dịp có các art fair ( hội chợ nghệ thuật ), có  các sự kiện quan trọng nhất như Art Basel Paris, mọi người đều sẽ đến Paris. 

    Còn khó khăn là gì? Ở đây mỗi tuần có thể có đến mấy trăm vernisage. Tại sao người ta phải đi vernisage của mình? Trong một môi trường cạnh tranh như vậy, mình cần phải làm tốt hơn nữa, để đưa cái chất lượng đến, để người ta thấy triển lãm như vậy mà do một người Việt Nam làm. Em lớn lên ở Việt Nam, học tập ở Việt Nam và chỉ mới sang Pháp có 5 năm thôi. Thật ra em cũng chỉ là một cái nhánh rất nhỏ, rất là bé như hạt cát, của cộng đồng Việt Nam thôi. Còn rất nhiều những người rất tài giỏi ở Việt Nam cũng như là ở Pháp, mọi người đều ấp ủ rất nhiều dự định.

    Dù muốn dù không, chưa có gallery nào thứ hai như vậy. Người ta đến đây sẽ có ấn tượng đầu tiên về cộng đồng này, nên mình muốn làm thật tốt, để cho người ta tò mò và tiếp tục khám phá thêm ở Việt Nam còn cái gì nữa hay không?"

    Với tham vọng quảng bá rộng rãi nghệ thuật đương đại của Việt Nam, Lê Thiên Bảo đã không ngần ngại cho sơn toàn màu xanh dương từ thảm trải nền nhà đến tường của Galerie BAO để đón tiếp cuộc triển lãm và trình diễn của nghệ sĩ Hằng Hằng, mang tên "La Raison est un Chien. La Raison est une Fleur" (Lý Do Là Một Con Chó.  Lý Do Là Một Bông Hoa ), từ ngày 12/09  đến 4/10/25. Hằng Hằng xuất thân từ Trường Cao đẳng Quốc gia Nghệ thuật Trang trí ở Paris. Trong bộ trang phục công nhân để trình diễn cùng với hai nghệ sĩ khác, Hằng Hằng cho biết vì sao cô đã chuyển từ ngành kiến trúc sang ngành nghệ thuật: 

    "Em đã bắt đầu bằng việc học kiến trúc một năm rưỡi ở Việt Nam. Sau đấy thì mới  phát hiện ra là mình có rất nhiều cảm giác và cảm xúc với làm việc trong không gian. Không gian đây không chỉ là những thứ mình có thể chạm được, mà nó có thể là mùi hương, có thể là ánh sáng. Thế là em quyết định sang Pháp, được gia đình ủng hộ, để học về ngành thiết kế sân khấu phối cảnh. Ngành này giúp cho em tưởng tượng làm những cái điêu khắc không chỉ là những thứ mình có thể chạm được, mà mình có thể điêu khắc nó trong các không gian cụ thể khác nhau, xử lý cả âm thanh, ánh sáng, mùi hương, cảm giác trong không gian đấy. Từ đấy thì nó tạo ra những cái tác phẩm khác nhau dựa trên những cái mà mình đã được đào tạo và những cái gì mình cảm nhận.

    Thật ra kiến trúc có khá nhiều yếu tố cũng liên quan đến ngành tạo ra những khung cảnh như nhà hát, nhưng có một sự khác biệt đó là những khung cảnh này thường rất là phù du. Mình có thể làm được nó một vài lần và sau này nó biến mất như trong một cảnh phim chẳng hạn. Em thích sự sáng tạo liên tục, thích được làm mới liên tục, được làm việc với nhiều không gian khác nhau, còn kiến trúc cũng rất là thú vị nhưng mình luôn luôn phải nghĩ nó sẽ phải tồn tại lâu dài như thế nào.

    Sự phù du này cũng là một sự thú vị. Và nó mở ra rất nhiều thứ, bởi vì trong ngành này ví dụ như mình có thể làm một vở kịch, mình có thể làm việc với cả đạo diễn và phải đọc text, mình phải tìm hiểu. Mỗi lần là mình lại phải học những thứ mới, không bao giờ giống nhau cả. Đôi khi mình phải làm việc với nhà văn, với những người làm âm thanh ánh sáng. Với lại nó cũng khá là trừu tượng và em thích sự trừu tượng đó hơn”

    Trong màn biểu diễn "La Raison est un Chien. La Raison est une Fleur" tại Galerie BAO ngày 10/09/2025, thông qua các tác phẩm sắp đặt và trình diễn nhập vai, Hằng Hằng khám phá những câu chuyện nhỏ, ký ức giác quan và kho lưu trữ gia đình. Tác phẩm của cô xóa nhòa ranh giới giữa thực tại và trí tưởng tượng, ký ức và hiện tại, cá nhân và cộng đồng.

    Các tác phẩm của Hằng Hằng đã được trưng bày tại Documenta 15, Đức, một trong những sự kiện nổi bật nhất của nền nghệ thuật đương đại thế giới, cũng như tại Nhà hát Théâtre de l'Aquarium, Paris, tại Bảo tàng Linden, Đức, tại trung tâm nghệ thuật Poush, ngoai ô Paris, và hiện đang được trưng bày tại Triển lãm Nghệ thuật Setouchi Triennale 2025. Năm nay, Hằng Hằng cũng là một trong những người đoạt Giải thưởng Dogma của Dogma Collection, Sài Gòn. Triển lãm tại Galerie BAO đánh dấu một cột mốc quan trọng tại Paris, nơi mà Hằng Hằng hiện đang sinh sống.

    Nghệ sĩ Hằng Hằng giải thích về màn trình diễn này của cô:

    "Nó là từ đến từ một câu chuyện của ông ngoại kể khi em được về Việt Nam. Ông kể là ngôi nhà này một thời gian đã bị chuyển thành một nhà giam nhỏ của làng đấy. Lúc đấy, em chắc là 25 tuổi, em cảm thấy: Ôi, sao đến bây giờ mà mình vẫn chưa biết gì về ngôi nhà của mình!.

    Em bắt đầu tìm hiểu, bằng nhiều cách khác nhau, kể cả qua tài liệu, chuyện gì đã xảy ra trong ngôi nhà này. Và em phát hiện ra là nó liên quan đến rất nhiều yếu tố khác nhau. Có những câu chuyện kể từ gia đình, từ những ký ức của gia đình đôi khi bị thay đổi theo thời gian.

    Từ những câu chuyện kể của mọi người, em quan tâm đến nhiều hơn đến những câu chuyện nhỏ, chứ không phải là câu chuyện lớn mà mình đọc được trong sách vở. Nó tạo ra những cái tưởng tượng rõ ràng hơn từ nhiều phía, từ nhiều câu chuyện khác nhau. Mình chưa bao giờ gặp một số người trong gia đình, chỉ được nghe kể và mình có những cái tưởng tượng và tạo ra những cái mình mong muốn để làm nên tác phẩm.

    Trong lúc tìm hiểu về ngôi nhà này thì bố lại quyết định phá nhà và em quyết định ngay lập tức là mình phải giữ lại ( hình ảnh của ngôi nhà ) cùng với những yếu tố mình đã tìm được trước rồi. Lúc đấy em ở Pháp. Em chỉ hướng dẫn bạn quay phim và yêu cầu mọi người một điều duy nhất là để cái bàn thờ luôn ở đấy, cho đến khi mình phải bỏ, không thể để được nữa.

    Tên phim là "100 năm 3 ngày 30 phút", 100 năm tồn tại của một ngôi nhà, có rất nhiều ký ức và dấu vết ở đấy. Sau đấy thì nó biến mất trong vòng 3 ngày. Và 30 phút là 30 phút của bộ phim. Nó rất là phù du,  luôn có cái tính phù du vào đấy. Và em nhận ra cái mình gây dựng, mình tạo ra, mình phá nó đi, xong mình lại tạo ra. Và nó không bao giờ kết thúc. Nó chồng chất lên nhau."

    13 min
  • Xuôi theo dòng nước cùng nghệ sĩ dương cầm Pháp gốc Rumani : từ sông Loire đến sông Cửu Long

    Dana Ciocarlie đến với giới yêu nhạc cổ điển tại Việt Nam lần đầu tiên từ 28/11 đến 07/12/2025. Chuyến lưu diễn bắt đầu bằng buổi hòa nhạc tại thủ đô Hà Nội cùng Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia VNSO (Vietnam Symphony Orchestra) ngày 28/11/2025, tiếp theo là 4 buổi độc tấu xoay quanh chủ đề sông nước qua các thành phố : Huế (02/12), Đà Nẵng (03/12), Hồ Chí Minh (06/12) và Đà Lạt (07/12). Đồng thời, bà sẽ tham gia giảng dạy hai buổi Master-class cho sinh viên Học viện Âm nhạc Huế và Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh.

    Dana Ciocarlie trưởng thành từ Học viện Âm nhạc Quốc gia Bucarest, trường Âm nhạc « Alfred Cortot » tại Paris, Nhạc viện Cao học Quốc gia Paris. Từng là học trò của Victoria Melki, Dominique Merlet và từng đoạt các giải quốc tế lừng lẫy tại Zwickau, Zurich, Leipzig. Bà được giới yêu nhạc cổ điển biết đến qua bộ CD tập họp các tác phẩm chọn lọc của Robert Schumann, thu âm trực tiếp từ 15 buổi trình diễn trong suốt 4 năm. Từ năm 2022, bà tiếp tục hành trình thu âm trực tiếp các concertos của Mozart cùng dàn nhạc Open Chamber Orchestra do Yair Benaim chỉ huy.

    Cho đến nay, bà đã có cho riêng mình hơn 20 đĩa nhạc độc tấu và hợp tấu. Bà thường xuyên được mời lưu diễn qua nhiều quốc gia và hợp tác với nhiều nhạc sĩ, nghệ sĩ từ nhiều nước: Thụy Sĩ, Rumani, Mỹ, Nhật, Trung Hoa, Canada, Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha,.. Là một giáo viên tận tâm với cách giảng dạy đặc sắc, hiện Dana Ciocarlie là giáo sư nhạc thính phòng và piano tại Nhạc viện Quốc gia Lyon, trường Âm nhạc Alfred Cortot và Nhạc viện Quận 19 tại Paris. Nhiều sinh viên được bà đào tạo đoạt các giải dương cầm hay nhạc thính phòng quốc tế với thứ hạng cao.

    Theo dòng nước, từ sông Loire đến sông Mê Kông

    Dự án « Theo dòng chảy, từ sông Loire đến sông Cửu Long » xuất phát từ ý tưởng của hiệp hội Novelette, Dana Ciocarlie cùng Anne Nguyen, một người bạn Việt-Pháp của bà. Chương trình này được Viện Pháp tại Việt Nam và Trung tâm Quốc gia Âm nhạc Pháp tích cực hỗ trợ về mặt nghệ thuật lẫn tài chính.

    Có trụ sở đặt tại Monteaux, bên bờ sông Loire, hiệp hội Novelette lấy dòng sông làm nguồn cảm hứng đồng thời ưu tư về các vấn đề sinh thái, giáo dục, âm nhạc và thi ca. Còn được gọi là sông Mê Kông/Mékong, Cửu Long vốn giữ vai trò huyết mạch trong đời sống của người Việt Nam, từng nuôi dưỡng hai nền kinh tế và văn hóa của đất nước. « Cửu Long » (chín con rồng) tượng trưng chín cửa sông đổ ra biển và sức mạnh của thiên nhiên lẫn tiềm năng phát triển của các vùng đất ven sông.

    Tuy nhiên, dòng sông này đã và đang phải đối mặt với những áp lực lớn: biến đổi khí hậu, phát triển thủy điện, tranh đấu xuyên biên giới, nguy cơ sinh thái… Năm 2025 cũng là năm Viện Pháp tại Việt Nam hợp tác với nhiều đơn vị chức năng Việt Nam trong dự án « Sống cùng các dòng sông » bao gồm sông Mê Kông và sông Hồng, nhằm nâng cao và bảo vệ các dòng sông Việt Nam, để ứng phó với những thử thách không ngừng nghỉ về nhiều mặt : kinh tế, xã hội, môi trường (lũ lụt, hạn hán, nước biển ngày càng dâng cao, các hiện tượng thời tiết cực đoan). Dự án kêu gọi sự tham gia của nhiều chuyên gia từ hai phía Pháp – Việt và mở rộng 3 lĩnh vực : khoa học – môi trường, đô thị - quy hoạch, giáo dục – đào tạo.

    Chương trình này song hành cùng dự án nêu trên, nhân đó tạo điều kiện cho việc kết hợp, giao lưu hai nền văn hóa và âm nhạc Pháp-Việt vốn đã được thai nghén từ 2 năm trước, sau rất nhiều tìm hiểu qua hình ảnh và lịch sử của 2 dòng sông. Dự án sẽ đưa khán thính giả vào một hành trình xuyên thời gian, từ năm 1800 đến nay, xuôi theo dòng nước, từ Loire đến Mê Kông. « Nước » là điểm nhấn nhằm nêu lên các thách thức về sinh thái, kinh tế, chính trị hay văn hóa.

    Tình bạn Việt - Pháp

    « Theo dòng chảy » đưa chúng ta hòa nhập vào một hành trình âm nhạc, xây dựng cầu nối và trí tưởng tượng giữa hai dòng sông, như thể chúng ta cùng đến từ một dòng nước, một dòng máu, một nhịp đập, một dân tộc, một đất nước.  Dự án này phản ánh những cam kết đã được đưa ra tại Hội nghị Đại dương Liên Hiệp Quốc vào ngày 5 tháng 6 vừa qua tại thành phố Nice mà nghệ sĩ Dana Ciocarlie cùng một số nghệ sĩ khác được dịp trình diễn trước một cử tọa lên đến 15 ngàn người bao gồm các nghiên cứu gia, nguyên thủ quốc gia, các đại biểu từ hệ thống Liên Hiệp Quốc, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức tài chính, học viện, xã hội dân sự v v…

    Trong chuyến lưu diễn sắp tới, nghệ sĩ Dana Ciocarlie sẽ độc tấu các tác phẩm của Henri Dutilleux, Francis Poulenc và Emmanuel Chabrier, lấy cảm hứng từ di sản sông Loire, cũng như các tác phẩm đương đại như « Đại dương » của Tôn Thất Tiết và « Ra khơi » của Edith Canat de Chizy, mang âm hưởng nước và thơ. Chương trình sẽ càng thêm phong phú trong bầu không khí du dương và gợi cảm từ các tác phẩm « Khúc dạo đầu » của Élise Bertrand, « Những ngày mưa » của Marie Jaëll, và « Phù du » của Philippe Hersant, lấy cảm hứng từ thơ haiku Nhật Bản. Các tác phẩm tiêu biểu của Ravel, Debussy, Enesco và Fauré sẽ gợi thêm hình ảnh, màu sắc, âm hưởng của nước và thiên nhiên.

    Trả lời RFI Tiếng Việt, Dana Ciocarlie cho biết bà cảm thấy mình có nhu cầu truyền tải và chia sẻ kinh nghiệm qua việc dạy học. « Chính nhu cầu chia sẻ này đã thúc đẩy tôi đi lưu diễn; trong cuộc đời nghệ sĩ của tôi, khía cạnh này là một trong những phần phong phú nhất, cả về mặt nhân văn lẫn nghề nghiệp, và tôi đặc biệt trân trọng việc gặp gỡ các nhạc sĩ trẻ ở những quốc gia tôi đến thăm. ».

    Bà còn cho biết tình bạn Việt-Pháp đã cho bà ý tưởng giảng dạy Master-class cho các học sinh trường nhạc ở Huế và Saigon, đồng thời mang âm nhạc về Việt Nam, tập trung vào hai chủ đề chính : vai trò của một nữ nghệ sĩ ủng hộ âm nhạc của các nhà soạn nhạc nữ ngày nay và vai trò của một sứ giả, làm cầu nối giữa hai dòng sông. « Trong ba năm qua, tôi rất may mắn được hợp tác chặt chẽ và thu âm các tác phẩm của hai nữ nhạc sĩ thuộc hai thế hệ khác nhau : Edith Canat de Chizy, một học viện gia, và Elise Bertrand, một nhạc sĩ trẻ. Những khoảnh khắc bên họ đã mang lại cho tôi nhiều cảm hứng và soi sáng thêm sự nghiệp trình diễn của tôi. »

    Phải nói là dịp gần nhất Việt Nam đón tiếp một nữ nghệ sĩ Pháp là vào năm 2016, Célimène Daudet, tức đã 9 năm kể từ lần đó.

    Chương trình biểu diễn này sẽ không dừng ở đây. Trong tương lai sẽ có một dự án tương tự được thực hiện ở vùng Centre-Val de Loire, nơi hoạt động của hiệp hội Novelette.

    Mời các độc giả/thính giả đón xem hình ảnh tin tức từ chuyến đi sắp tới của nghệ sĩ Dana Ciocarlie qua trang văn hóa của RFI Tiếng Việt nhé.

    10 min
  • Phổ biến văn hóa và “xuất khẩu” liên hoan: Thành công của Festival d’Avignon

    Từ 3.000 khán giả trong những năm đầu thành lập, Festival d’Avignon 2025 thu hút hơn 500.000 khán giả chỉ trong ba tuần tháng 07. Tổng cộng 43 buổi diễn, hai triển lãm và hơn 200 sự kiện lớn nhỏ trong chương trình chính thức “IN” và 1.785 vở diễn trong chương trình biểu diễn phi chính thức “OFF” được tổ chức song song. Cả thành phố Avignon trở thành sân khấu ngoài trời, những con phố nhộn nhịp từ sáng đến khuya trong tiếng nhạc, tiếng rao quảng cáo buổi diễn và không khí hội hè.

    Tại sao Liên hoan Avignon lại thành công như vậy? Hiện tại, chưa có thống kê chính thức về mùa liên hoan 2025 nhưng các nhà tổ chức khẳng định thành công hơn năm 2024. Số lượng khách đến Avignon năm 2025 đạt mức kỷ lục từ năm 2016. Những con số này cũng khẳng định danh tiếng của liên hoan trên quy mô thế giới, mô hình tổ chức. Mô hình Festival d’Avignon đã được “xuất khẩu” sang nhiều nước, như Đức, Scotland, Mêhicô và kể cả Việt Nam với Festival Huế đầu những năm 2000.

    Biến Liên hoan Avignon thành hiện tượng văn hóa quần chúng

    Trả lời RFI Tiếng Việt tại Avignon, giáo sư sử học Antoine de Baecque, trường Sư phạm Ulm, phụ trách triển lãm Les Clés du Festival (Những chìa khóa của Liên hoan), do Hội Jean Vilar đồng tổ chức với Thư viện Quốc gia Pháp - BNF, nhấn mạnh yếu tố đầu tiên giải thích cho thành công này là biến Festival d’Avignon thành “hiện tượng nghệ thuật quần chúng”, thành một “thói quen văn hóa” :

    “Liên hoan Avignon đã trở thành một sự kiện văn hóa lớn ở Pháp vào mùa hè và vẫn luôn thu hút các tệp khán giả rất đa dạng. Có khoảng 40 vở diễn trong chương trình chính thức “IN” và gần 1.800 vở diễn trong chương trình phi chính thức “OFF” vào mỗi kỳ Festival được tổ chức tháng 07 hàng năm. Liên hoan đã thu hút đông đảo công chúng. Đây là điều mà Jean Vilar mong muốn và được tất cả các giám đốc Liên hoan sau này duy trì”.

    Thành công rực rỡ của năm 2025 còn được giải thích qua việc tổ chức cùng lúc hai Festival chính thức “IN” và không chính thức “OFF”. “Đông công chúng sẽ bảo đảm lợi ích về văn hóa và kinh tế”, theo giám đốc Liên hoan Avignon, nhà soạn kịch người Bồ Đào Nha Tiago Rodrigues. Trước tiên là cho các nhà làm du lịch, nhà hàng, khách sạn, lưu trú. Tiếp theo là tạo nguồn thu chủ lực cho thành phố và ban tổ chức để chuẩn bị cho kỳ liên hoan sau, cũng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Giám đốc Tiago Rodrigues khẳng định Festival d’Avignon đã khiến mỗi euro tài trợ công được lời gấp 6 lần, “khi một du khách đến liên hoan chi 10 euro, thì hai euro dành cho festival, 8 euro còn lại là cho địa phương”.

    Tuy nhiên, để sự kiện văn hóa trở thành nguồn thu chủ lực là cả một quá trình dài biến Liên hoan thành hoạt động văn hóa quần chúng, phổ quát, để kịch, sân khấu chạm tới khán giả. Nhà phê bình điện ảnh, sử gia Antoine de Baecque giải thích :

    “Mong muốn của Jean Vilar, người từng chỉ đạo Nhà hát Bình dân Quốc gia, là phổ biến đến công chúng, cho nên ông chủ trương tiếp cận những người thường không đến nhà hát, những người phần nào sợ sân khấu hoặc nói rằng “Ôi, chuyện đó không dành cho tôi, nó quá phức tạp”. Đi tìm khán giả, có nghĩa là phải có chính sách trong các công đoàn vào thời điểm đó.

    Hiện tại, việc này được truyền tải rất nhiều thông qua trường học, học sinh, sinh viên hoặc người đã nghỉ hưu để thu hút họ, không phải chỉ tới một lần mà khi đã tới rồi, đôi khi họ sẽ quay lại, để theo thời gian, họ trở thành người hâm mộ sân khấu. Nhưng đúng, một trong những đặc điểm của Liên hoan Avignon ngay từ những ngày đầu tới nay, đó là mang đến sân khấu đương đại nhất, có thể nói là sân khấu tiên phong, tới đông đảo khán giả. Đây chính là điều làm nên thành công của Liên hoan Avignon”.

    Để sân khấu “dễ hiểu” với công chúng

    Không chỉ dừng ở sân khấu với những sáng tác của mình, Jean Vilar, người được coi là cha đẻ của Festival d’Avignon, đã nảy ra ý tưởng mời những tác giả khác và đưa nhảy, múa vào Liên hoan ngay những năm 1966-1967, cộng tác với nghệ sĩ múa nổi tiếng Maurice Béjart. Festival d’Avigonon hiện trở thành điểm tham chiếu cho vũ đạo. Và trang phục biểu diễn được Jean Vilar chú trọng ngay những ngày đầu để làm cầu nối, truyền tải điều tưởng chừng là trừu tượng tới khán giả, theo giải thích của sử gia Antoine de Baecque :

    “Rất nhiều lần Jean Vilar dàn dựng sân khấu với những thứ rất đơn giản, với những mảng màu rực rỡ, ấn tượng, ví dụ trang phục có vai trò rất quan trọng. Và chủ ý của mỗi lần như vậy là đem đến cho đông đảo khán giả những tác phẩm kinh điển tuyệt vời, có rất kịch của Shakespeare, của Molière.

    Có thể thấy là có những cuộc hội ngộ giữa khán giả với những tác phẩm cổ điển. Không có chuyện dễ dãi chiều theo ý khán giả hoặc đề xuất những điều dễ dàng, đó là những tác phẩm khó, nhưng chính bởi vì khó nên công chúng cũng quan tâm để nâng cao văn hóa. Liên hoan Avignon không giống trên truyền hình, người ta xem những chương trình đòi hỏi khắt khe, thậm chí đôi khi là hơi khiêu khích, gây phản ứng, nhưng công chúng cũng thích điều đó, đến Avignon cũng vì điều đó”.

    Công chúng không chỉ đơn thuần là khán giả, thụ động mà được coi là một nghệ sĩ khác, tham gia vào đời sống Liên hoan Avignon. Vẫn nhà sáng lập Jean Vilar nảy ra ý tưởng giao lưu với công chúng, qua chương trình Les Rencontres du Verger (tạm dịch : Gặp nhau trong vườn) trong vườn của cung điện giáo hoàng. Từ đó, Liên hoan luôn là một địa điểm đặc biệt cho các cuộc gặp gỡ, đối thoại chính thức và không chính thức giữa khán giả, người dân địa phương và nghệ sĩ.

    Cả thành phố biến thành sân khấu lớn ngoài trời

    Một điểm đặc biệt khác, có một không hai, là cả thành phố Avignon trở thành một nhà hát khổng lồ. Bất kỳ ngóc ngách nào cũng có thể trở thành sân khấu. Áp phích quảng cáo của chương trình “OFF” được giăng trên cây, dán kín trên trường, dọc các hàng rào, phấp phới trên các ban công, cửa sổ... Bước qua cổng thành, du khách bị bất ngờ vì những “bức tranh tường” rực rỡ, đặc sắc. Rồi những tiếng rao, biểu diễn múa, tiếng  trống, tiếng nhạc... tất cả để nhằm thu hút sự chú ý của người qua đường, những khán giả tương lai. Hơn 1.200 đoàn kịch, gần 1.800 buổi diễn trong chương trình "OFF" ở hơn 250 địa điểm. Những con số này cho thấy sự cạnh tranh gay gắt giữa các đoàn kịch và quy mô tổ chức của liên hoan. Sử gia Antoine de Baecque giải thích :

    “Chương trình của một liên hoan Avignon thường được chuẩn bị từ một năm trước. Còn địa điểm thường được dựng trước hai, ba tháng, bắt đầu từ tháng 4 để sẵn sàng vào cuối tháng 6 khi các đoàn nghệ sĩ biểu diễn đến tập dượt. Điều đặc biệt ở Avignon là không có nơi nào, trước đó được coi là dành cho sân khấu. Nhà thờ, công trình, tu viện, phòng tập thể dục, trường trung học, thậm chí là các mỏ trước đây cũng có thể được biến thành sân khấu. Tất cả phải được hoàn thiện hiệu quả, bởi vì những chương trình được tổ chức ở Avignon thường là những chương trình có công nghệ cao với những đạo diễn tài ba hiện nay”.

    Thành công vượt khỏi biên giới

    Liên hoan Avignon còn là nơi phản ánh những chủ đề chính trị, xã hội. Năm 2025 cũng không phải là ngoại lệ. Nhiều cuộc tập hợp, tuần hành ủng hộ người dân Palestine cũng được tổ chức. Ngoài ra, nội dung và hình thức kịch cũng cho thấy chủ trương hướng ra thế giới của Liên hoan. Rất nhiều vở diễn, tác phẩm nước ngoài được mời đến trình diễn, giới thiệu tại Avignon. Mỗi năm là một ngôn ngữ được chọn làm khách mời danh dự. Sau năm 2025 đề cao tiếng nói và văn hóa Ả Rập, Hàn Quốc sẽ là khách mời của Liên hoan 2026. Mô hình Liên hoan Avignon đã được “xuất khẩu” sang nhiều nước, theo giải thích của giáo sư Antoine de Baecque :

    “Liên hoan Avignon có thể được coi là một mô hình. Có rất nhiều bản sao Liên hoan Avignon, ví dụ ở Edinburgh, Scotland hoặc ở Mêhicô. Đây là một khuôn khổ được tạo ra để có thể sao chép ở hầu hết mọi nơi trên thế giới.

    Điều thú vị là Việt Nam thỉnh thoảng cũng xuất hiện ở Avignon. Có nhiều thời điểm nghệ thuật truyền thống Việt Nam được giới thiệu ở Avignon, như trong những năm 1980. Hoặc gần đây có vở kịch Sài Gòn của Caroline Guiela Nguyen. Câu chuyện diễn ra tại một nhà hàng Việt Nam, giữa Việt Nam và Pháp và Paris, cho thấy một chút về những diễn biến trong thời kỳ thuộc địa và cho đến ngày nay, giữa Việt Nam và Pháp. Đó là một vở kịch rất quan trọng trong lịch sử Liên hoan”.

    Trước đó, Việt Nam cũng xuất hiện trong OFF những năm 2009 với vở tuồng Ti An Antigone Việt Nam do nhà hát Monte-Charge của thành phố Pau (miền nam Pháp) dàn dựng với Nhà hát Tuồng Việt Nam, hoặc năm 2011 với vở hài Nhẫn và Dương do hai nghệ sĩ thuộc Liên đoàn Xiếc Hà Nội và hai nhạc công thuộc Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

     

    Mô hình Festival d’Avignon cũng được “du nhập” vào Việt Nam. Sau thành công của Liên hoan gặp gỡ Huế 1992 giữa thành phố Huế và CoDev (Hội đồng vùng Paris mở rộng), tỉnh Thừa Thiên-Huế cũng muốn tổ chức một liên hoan có quy mô, chất lượng cao để quảng bá văn hóa, truyền thống ra quốc tế và giao lưu với các đoàn khách mời thế giới. Festival Pháp-Việt đầu tiên được tổ chức năm 2000, thu hút 30 đoàn nghệ sĩ Việt Nam và Pháp, hơn 410.000 khách tham quan. Đến năm 2010, sự kiện được đổi tên thành Festival Huế. Đến năm 2025, Festival Huế được xây dựng theo định hướng bốn mùa, tổ chức sự kiện, lễ hội liên tục trong cả năm, để tránh “bội thực” vào mùa hè, phù hợp với đặc trưng của một thành phố Festival mà cố đô theo đuổi.

    10 min
  • Từ Việt Nam qua Pháp đến Mỹ: Thăng trầm của một gia đình theo bốn cuộc chiến trong vở kịch Hongaï

    Trụ sở của SDECE (Service de Documentation Extérieure et de Contre-Espionnage), cơ quan tình báo đối ngoại quân đội Pháp) tại Paris, Rose McConaughey vừa từ miền Bắc Việt Nam trở về và báo cáo về cuộc “chạm trán” với Florence, một điệp viên Pháp nằm vùng ở nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ gần 30 năm. Tại sao Florence không còn cung cấp tin tức từ vài năm qua ? Florence đã phản bội ? Vở kịch Hongaï (Hòn Gai) của đoàn Collectif Rue 46 được bắt đầu trong bối cảnh như vậy.

    Những lời kể của Rose được chuyển cảnh, thành thực tế, từ Paris sang Hà Nội, từ văn phòng của SDECE sang nhà của Florence. Cả vở kịch có 15 giai đoạn, 50 nhân vật, ba lục địa Á, Âu, Mỹ. Khán giả được đưa từ Việt Nam của những năm 1970 ngược lại Pháp trong giai đoạn giữa hai Thế Chiến, rồi lại sang New York trong những năm 1950. Tất cả liên quan đến một gia đình Pháp-Việt sống ở Hòn Gai đầu thế kỷ 20. Cuộc sống an nhàn, bình yên của họ trở nên sóng gió, bị thay đổi hoàn toàn vì những biến động của thế giới, vì những sự kiện lịch sử.

    Cảm nhận chung của khán giả khi Hongaï hạ màn là hồi hộp, bất ngờ đến phút chót. Một vở kịch nhưng đầy kịch tính, diễn biến nhanh như một bộ phim trinh thám, gián điệp.

    Một bức tranh lịch sử được dàn dựng rất sáng tạo và thành công, sự đan xen khéo léo giữa các nhân vật ở nhiều độ tuổi khác nhau trong cùng một cảnh, không làm người xem bị mất phương hướng cùng với những lời thoại đẹp và diễn xuất của diễn viên”.

    Hongaï là một vở diễn rất khác so với những gì chúng ta thường thấy ở thể loại này. Cốt truyện tinh tế và thú vị, dàn dựng mạch lạc và hiệu quả, các diễn viên nhập vai một cách xuất sắc, tràn đầy năng lượng!

    (Ý kiến của khán giả trên trang BilletReduc)

    Đằng sau thành công này là đoàn kịch Collectif Rue 46 và tác giả, đạo diễn kiêm diễn viên La Belle Époque. Tại Liên hoan Avignon 2025, RFI Tiếng Việt đã gặp và phỏng vấn La Belle Époque và nghệ sĩ Franck Milin, nhập vai điệp viên Florence trong Hongaï.

    RFI : Xin chào anh La Belle Époque và Franck Milin. Hongaï là một câu chuyện được nghiên cứu theo chiều hướng lịch sử. Ý tưởng được hình thành như thế nào ?

    La Belle Époque : Về cơ bản, tôi muốn một câu chuyện kể về một người đi tìm một người đã mất tích từ lâu, từ cả hàng chục năm trước. Về một nơi xa xôi nào đó, tôi nghĩ có thể chọn giữa Nam Mỹ hoặc châu Á. Tôi bị cuốn theo hướng châu Á ngay bởi vì bà tôi sinh ra ở Việt Nam, nên điều đó rất có ý nghĩa với tôi. Và thế là hình thành câu chuyện kể về việc đi tìm một người mất tích từ lâu ở Việt Nam.

    Ngay sau đó, tôi nảy ra ý tưởng về gián điệp vì tôi đam mê những câu chuyện gián điệp. Tôi đã nghe rất nhiều podcast của Radio France có tên là Espion, une histoire vraie (Điệp viên, một câu chuyện có thật). Đó là những câu chuyện có thật, khá hấp dẫn bởi vì hành trình của những điệp viên đó khá là lãng mạn. Qua những câu chuyện đó, tôi cũng hiểu được rằng đôi khi động cơ của họ mang tính ý thức hệ ít hơn là cảm xúc, và chúng gắn liền với cuộc đời, tình yêu và gia đình.

    Thế là tôi tự nhủ đó sẽ là một câu chuyện gián điệp, sẽ có cựu điệp viên người Pháp, Gustave Duong, mật danh Florence, nằm vùng từ thời chiến tranh Đông Dương. Tiếp theo là có thêm điệp viên CIA, Rose McConaughey, được cử thay mặt cho Cơ quan tình báo đối ngoại của Pháp - SDECE để hồi hương hoặc giết chết Florence. Phải kiểm tra xem điệp viên nằm vùng đó có phải là kẻ phản bội hay không. Và đó là điểm khởi đầu của câu chuyện, và cuộc gặp gỡ giữa hai điệp viên này. Chúng ta bước vào cuộc sống, quá khứ của họ và khám phá ra rất nhiều điều.

    RFI : Có 30 nhân vật, trải qua 15 thời kỳ khác nhau và trên ba lục địa (Á, Âu, Mỹ). Làm thế nào để có thể thay đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, bởi vì hiểu được một chút về lịch sử gia đình hoặc một giai đoạn đã là phức tạp trong khi ở đây, vở kịch có đến 15 giai đoạn khác nhau ?

    La Belle Époque : Thực ra, viết về cuộc đời của các nhân vật, của hai nhân vật chính, mới là điều khó nhất, làm sao cho được mạch lạc từ đầu đến cuối. Sau khi tôi viết xong, chúng tôi trộn mọi thứ một chút, theo kiểu cảnh này sẽ hợp với chỗ này, cảnh kia hợp với chỗ kia. Đó là kiểu hiệu ứng mà tôi muốn, có nghĩa là nhảy từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, từ thập niên 1930 sang 1950, từ đầu thế kỷ chuyển sang những năm 1970. Khán giả có thể thấy mất phương hướng một chút nhưng thường thì vẫn hiểu được mọi chuyện vào cuối vở kịch.

    RFI : Điều gây ấn tượng cho khán giả là bối cảnh và giai đoạn được thay đổi rất nhanh trên sân khấu nhỏ, trong thời gian rất ngắn.

    Franck Milin : Đó là nhờ khâu dàn dựng và ánh sáng, đặc trưng cho một địa điểm, một khoảnh khắc cụ thể, và cả nhịp độ trong hậu trường nữa. Hãy đến hậu trường xem chuyện gì diễn ra đằng sau cánh gà (cười) ! Các màn thay trang phục, chuyển âm nhạc nhanh một cách kinh ngạc.

    RFI : Ngoài ra còn có thể thấy những lời giải thích giống như trong phim hành động, tình báo CIA của Mỹ, ví dụ tại địa điểm này, giai đoạn này hoặc ngày tháng này… để khán giả theo được mạch câu chuyện.

    Franck Milin : Chính xác. Đó là nhờ dàn dựng, theo kiểu kết hợp kịch và một chút điện ảnh qua kiểu thông báo các địa điểm.

    La Belle Époque : Đúng vậy. Có một khía cạnh rất điện ảnh trong đó, như Franck đã nói, với rất nhiều âm nhạc, nhịp độ khá nhanh, và rất nhiều video. Tôi thực sự thích điều đó, tôi rất thích phim truyền hình, điện ảnh, và tôi muốn thêm một chút khía cạnh đó vào kịch.

    RFI : Khán giả như bị cuốn vào một bộ phim gián điệp với rất nhiều chi tiết hoặc thông tin lịch sử dù là câu chuyện hư cấu. Anh đã làm việc như thế nào về mặt đó ?

    La Belle Époque : Tôi tìm kiếm rất nhiều về lịch sử. Thực ra, tất cả các nhân vật đều là hư cấu và không tồn tại nhưng tất cả các sự kiện trong vở kịch là thật. Cho nên mọi ngày tháng, thậm chí mọi thời điểm, đều được xác minh. Ví dụ việc ký kết Hiệp ước Đức-Liên Xô, Thế Chiến II kết thúc, tiếp theo là việc ký kết Hiệp định Paris chấm dứt Chiến tranh Việt Nam vào ngày 27/01/1973 mở ra trang mới. Mỗi bước ngoặt trong kịch đều trùng với ngày tháng của các sự kiện lịch sử lớn.

    Franck Milin : Chúng tôi, với tư cách là diễn viên, cũng phải tự tìm hiểu một chút. Trước một kịch bản với cốt truyện chứa nhiều yếu tố lịch sử, chúng tôi cũng phải chú ý đến những gì mình đang diễn. Thêm vào đó, đoàn kịch của chúng tôi gồm những người đam mê lịch sử.

    RFI : Về mặt kỹ thuật, hoàn toàn có thể hóa thân thành nhiều nhân vật khác nhau nhờ hóa trang. Nhưng làm thể nào để sống trong nhân vật đó, thể hiện được nhân vật đó trong khi một nghệ sĩ đảm nhiệm nhiều vai và thời gian chuyển vai rất nhanh và rất ngắn ?

    La Belle Époque : Mỗi lần như vậy, cần phải tự hỏi nhân vật này là ai, động cơ của họ là gì, và phải thể hiện nhân vật đó như thế nào. Đó là cả một công trình nghiên cứu. Chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian cho nó.

    Vở kịch là một sáng tác cho Liên hoan Avignon. Đây là lần đầu tiên chúng tôi tham gia Liên hoan này. Nhưng chúng tôi đã chuẩn bị cho vở kịch này trong suốt hai năm và làm việc rất nhiều. Tôi bắt đầu viết vào tháng 06/2023, có nghĩa là được hai năm rồi. Và sau đó, chúng tôi bắt tay vào việc từ đầu năm 2024. Và sau đó, tất cả chúng tôi đều tự hỏi bản thân rất nhiều, thử thách bản thân về các nhân vật.

    Franck Milin : Chúng tôi dành rất nhiều tâm huyết cho tất cả những nhân vật phụ. Về những nhân vật chính, tôi nghĩ rằng trong quá trình xây dựng nhân vật với tư cách là diễn viên, hành trình của họ khá rõ ràng và nhanh chóng. Còn những nhân vật phụ, những người thêm thắt những chi tiết nhỏ vào câu chuyện chúng tôi kể, thì vẫn cần thêm một chút công sức trên sân khấu, một chút suy ngẫm cá nhân của diễn viên, và thảo luận với đạo diễn. Đó là một quá trình xây dựng nhân vật, hiểu thêm một chút những thách thức của từng người.

    RFI : Vở kịch mang tên Hongaï nhưng người ta có cảm giác không có mối liên hệ nào với câu chuyện gián điệp. Tuy nhiên, khi xem vở kịch, người ta hiểu rằng đó là nơi câu chuyện bắt đầu.

    La Belle Époque : Đúng vậy, Hòn Gai là nơi bà tôi sinh ra. Rồi Chiến tranh Đông Dương nổ ra, bà rời Đông Dương vào năm 1951 cùng với gia đình. Và họ chưa bao giờ trở lại, mặc dù nơi đó là cả tuổi thơ của họ.

    Tôi lớn lên đắm chìm trong câu chuyện phi thực dân hóa giữa Pháp và Việt Nam. Và sự kiện đó đã truyền cảm hứng cho câu chuyện này bởi vì cuộc sống của bà tôi và người thân bị đảo lộn bởi những sự kiện của thế kỷ 20. Tôi không muốn kể câu chuyện của tổ tiên mình, mà là câu chuyện của tất cả những người đã sống qua những biến động lớn, các cuộc chiến tranh thế giới, Chiến tranh Lạnh, phi thực dân hóa… Và đó chính là nguồn cảm hứng cho câu chuyện.

    Vậy nên, tên vở kịch là Hongaï như một lời tri ân. Và nó như một lời mời chu du, cho nên tấm áp phích của vở kịch được lấy hình ảnh vịnh Hạ Long. Thực ra, đúng như chị nói, người ta hiểu được ý nghĩa khi xem vở kịch. Tôi muốn nói với khán giả rằng trong câu chuyện Hongaï, đó là nơi mọi thứ bắt đầu và cũng là nơi mọi thứ kết thúc.

    RFI : Tên của đoàn kịch Collectif Rue 46 cũng gây tò mò. Tại sao lại là tập thể - collectif ? Và tại sao lại là Rue 46 ?

    Franck Milin : Nhóm đã tồn tại khoảng mười năm. Tại sao lại là “tập thể” mà không phải là “hội”, bởi vì đó là một gia đình phát triển qua từng dự án. Tôi coi đó là một gia đình mà vai trò của mỗi người không phải là cố định. Nghĩa là, họ có thể là diễn viên trong dự án này, rồi lại là đạo diễn trong một dự án khác, hoặc là quản lý sân khấu hoặc thiết kế bối cảnh. Có nghĩa là vai trò luôn luôn thay đổi.

    La Belle Époque : Ví dụ, tôi đóng trong Richard III của Shakespeare. Tôi đóng cùng Franck và Cyrielle Buquet, hai nghệ sĩ đóng nhân vật chính trong Hongaï. Chúng tôi vẫn đổi vai tùy theo dự án.

    Franck Milin : Và tên của nhóm ra đời từ trải nghiệm sân khấu đầu tiên mà chúng tôi thực hiện cùng nhau, đó là vở 46, Wessex Grove, được Jean-Philippe Brayé chuyển thể và đạo diễn từ tác phẩm The Homecoming của Harold Pinter. Và đó là lý do tại sao tên của nhóm được gọi là Collectif Rue 46.

    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn La Belle Époque và Franck Milin, đoàn kịch Collectif Rue 46.

    12 min
  • Album Medusa - Quái vật 30 năm tuổi đời

    Album Medusa của diva Annie Lennox chính thức bước sang tuổi 30 vào năm 2025. Tuyển tập ca khúc trong Medusa đã nghĩa lại cover tác phẩm kinh điển qua nhãn quan của diva hàng đầu.

    Tầm vóc diva nước Anh

    Anniex Lennox là trụ cột, ca sỹ/nhạc sỹ chính của nhóm nhạc Eurythmics, Anh Quốc cùng với tay guitar kiêm nhạc sỹ Dave Steward. Bộ đôi gặt hái thành công vang dội trong thập niên 1980 nhờ các bản hit như Sweet Dream, Here comes the rain theo trào lưu synth-pop, new wave.

    Sinh năm 1954 tại Aberdeen, Scotland (Anh), bà tạo ấn tượng mạnh nhờ phong cách nổi loạn: tóc ngắn, nhuộm màu cam, mắt tô chì đen lạnh lùng. Sau thành công của nhóm Eurythmics, Annie Lennox tách ra hát solo bằng album kinh điển Diva (1992). Abum này được giới phê bình và khán giả đón nhận nồng nhiệt với nhiều bản hit như Why (Tại sao), Walking on broken glass (Bước trên thủy tinh vỡ). Nhờ chất giọng contralto, Annie có dấu riêng bản sắc giọng và ca khúc đậm chất thơ với nhà sản xuất Stephen Lipson. Các ca khúc gắn tới tên tuổi bà được chăm chút kỹ lưỡng từ giai điệu, ca từ, phối khí. Đáng chú ý  Annie Lennox là đồng tác giả sáng tác nhiều ca khúc trong album Diva.

    Album Medusa gây tranh cãi

    Medusa, album solo thứ hai trong sự nghiệp của nữ diva Scotland, sản xuất năm 1995 lại tạo nên tranh luận trái chiều. Toàn bộ album hát lại (cover) các tác phẩm kinh điển của Neil Young, Bob Marley, Al Green. Hình bìa album, Annie Lennox hóa thân thành quái vật Medusa có sức mạnh “hóa đá” người nghe. Tờ AllMusic cho rằng Annie Lennox chọn đôi giày quá rộng và quá sức của diva, nên chăng tập trung vào một thể loại có thế mạnh. Tờ Rollingstone ưu ái hơn với album Medusa, cho rằng nỗ lực của Annie Lennox ngang ngửa album solo đầu tay Diva. Ca khúc mở màn và đinh nhất của album là No More I love you (Em không còn yêu anh) hát lại của nhóm Lover Speaks. Bản gốc của nhóm nhạc Anh chỉ lọt vào hạng 58 bảng xếp hạng Anh Quốc, nên rất ít tiếng tăm.

    Nhờ bàn tay phù thủy nhà sản xuất Stephen, bản cover có cấu trúc rõ nét và mạch lạc. Diva thể hiện lối hát liêu trai cùng chất giọng đặc trưng. Bà đẩy được cao trào bản nhạc, luyến láy và tạo được bản sắc cá nhân. Lớp phối khí dày và chất giọng diva bay bổng trong bản cover mà khán giả quên hẳn bản gốc. Ca khúc leo lên hạng nhì bảng xếp hạng Anh và giành giải Grammy 1995 – Trình diễn pop xuất sắc nhất. Ví dụ này cho thấy sự độc đáo trong cách làm mới ca khúc nhờ khai thác giai điệu cốt lõi và thế mạnh của ca sỹ thể hiện.

    Thành công thương mại

    Album gặt hái thành công thương mại đáng kể nhờ bản hit No more I love you. Album đứng thứ 11 trong bảng xếp hạng Billboard 200 album bán chạy nhất tại Mỹ cùng năm. Con dao hai lưỡi của No more I love you khiến cho các đĩa đơn tiếp theo trong album bị đặt lên bàn cân. Đĩa đơn thứ hai, A Whiter Shade of Pale, hát lại bản gốc nhóm rock Anh, Procol Harum năm 1967. Bản nhạc gốc có giai điệu khá hấp dẫn với ca từ khó hiểu với nhiều tầng lớp ẩn dụ văn học. Đại ý tình cảm nam nữ phát sinh sau khi đã say men trong bữa tiệc đêm hè. Bản phối tao nhã nhờ tiếng keyboard nền nã làm nền chắc chắn cho giọng ca Annie.

    Một tác phẩm khác được bà hát lại, Take me to the river (Đưa em tới con sông) của Al Green. Bản nhạc gốc được thể hiện theo thể loại R&B và soul còn diva kịch tính hơn với chất pop/rock. Trong Don’t let it bring you down (Đừng để điều đó khiến bạn thất vọng), nhà sản xuất đem tới hơi thở mới cho bản gốc của nam rocker Neil Young. Phần intro (mở bài) có giai điệu rất bắt tai và phần kết thúc có độ ngân nga kéo dài. Chất giọng nữ cao của Annie làm chủ được cuộc chơi, phơi bày được giai điệu cuốn hút nhất.

    Kỹ thuật và bản năng âm nhạc

    Đề cập tới phổ âm nhạc rất rộng trong album, Annie chia sẻ : “Album tuyển chọn những bài hát tôi bị thu hút bởi nhiều lý do. Tôi không chọn dựa trên chủ đề hay nội dung cụ thể mà chỉ là bản năng âm nhạc hơn là sự tính toán. Tôi rất biết ơn cơ hội này vì sản phẩm này thực sự là lao động nghệ thuật đích thực.” Giải thích của Annie cho thấy bản năng nghệ thuật mạnh mẽ của bà kết hợp cùng kỹ thuật đỉnh cao.

    Thách thức của tác phẩm kinh điển của nhóm pop/rock thập niên 1960,70 như The Clash, Temptation, Paul Simon không làm nản lòng Annie. Tuy là album cover, nữ diva biết cách phiên dịch ngôn ngữ và giai điệu âm nhạc theo bản sắc của riêng bà. Tờ Metro Weekly cho rằng bà thâu tóm được giai điệu chủ đạo bài hát và thể hiện chất giọng đặc biệt của mình trên nền giai điệu cô đọng đó. Bản nhạc Train in vain hay I can’t get next to you là món ăn mới lạ cho những khán giả quen thuộc công thức gốc nhờ tiết tấu beat mạnh mẽ và guitar Tây Ban Nha.

    Không thể phủ nhận vai trò nhà sản xuất Stephen trong việc chế biến “bữa tiệc” âm thanh phong phú trong Downtown Lights hay The Thin Line Between Love and Hate (Ranh giới giữa yêu và hận thù). Đĩa đơn thứ ba của album, Waiting in vain (Chờ đợi vô vọng) là thành công khác của album. Annie thể hiện bản tình ca rất nền nã, lắng đọng trên giai điệu guitar so với bản nhạc raggage gốc của Bob Marley. Nếu đặt các bản gốc và bản cover cạnh nhau, khán giả mới cảm nhận sự khác biệt và mức độ sáng tạo đỉnh cao. Cho dù làm mới ở mức độ nào, người nghe nhận ra chất giọng và lối thể hiện dấu ấn cá nhân của Annie Lennox. Bản phối mới có sự đầu tư kỹ lưỡng , tính toán tỷ mỉ sao thể hiện ý đồ của nữ diva.

    Ba thập kỷ trôi qua, album Medusa (1995) được đánh giá là một trong các sản phẩm xuất sắc trong sự nghiệp solo của diva Annie Lennox. Tuyển tập ca khúc trong Medusa định nghĩa lại một cách hoàn hảo thế nào là hát lại những bản nhạc kinh điển. Không nhiều nghệ sỹ xuất sắc hơn Annie Lennox, làm mới toàn diện, chắt chiu linh hồn bài hát gốc. Quan trọng nhất, nữ điva thể hiện bản sắc cá nhân nổi bật.

    (Theo All Music, Metro Weekly, Rollingstone, Wikipedia)

    10 min
  • Quảng bá du lịch qua lăng kính phim ảnh

    Phim ảnh không chỉ là phương tiện giải trí, mà còn là một công cụ quảng bá khá hữu hiệu giúp phát triển ngành du lịch. Theo khảo sát gần đây của mạng đặt phòng Expedia, điện ảnh và phim truyền hình đã trở thành nguồn thúc đẩy du lịch hàng đầu, mạnh hơn cả mạng xã hội. Phim ảnh mở ra nhiều cơ hội quảng bá hình ảnh của các vùng miền, con người và văn hóa, nhờ tạo thêm thiện cảm mà thuyết phục du khách đến thăm một đất nước.

    Phim chiếu rạp hay phim truyền hình nhiều tập, nhờ vào lối kể chuyện hấp dẫn, dễ lôi cuốn khán giả vào những hành trình thú vị, thường khác xa với cuộc sống thường ngày. Những cảnh phim đẹp thường gợi lên trong lòng khán giả mong muốn ghé chân đến thăm những nơi họ từng được xem trong phim. Trên thế giới, có rất nhiều nước đang khai thác tiềm năng của phim ảnh để thu hút khách du lịch.

    Thực tế cho thấy trong những năm 2001-2004 , số du khách quốc tế đến thăm New Zealand đã tăng 50%, nơi từng quay loạt phim thần thoại « The Lord of the Rings » (Chúa tể các chiếc nhẫn). Còn tại Vương quốc Anh, trong giai đoạn 2011-2014, loạt phim phù thủy « Harry Potter » đã nhân lên hơn gấp đôi số du khách nước ngoài đến thăm các phim trường tại Anh. Các phong cảnh tuyệt đẹp ở Croatia, Iceland hay Bắc Ai Len cũng thu hút đông đảo khách du lịch sau khi các mùa phim « Game of Thrones » (Trò chơi vương quyền) chinh phục khán giả toàn cầu.

    Trong những năm gần đây, Hàn Quốc là quốc gia châu Á gặt hái nhiều thành quả trong việc thúc đẩy du lịch nhờ các loạt phim truyền hình như « Intaewon Class », Cung nữ « Dae Jang-Geum », « Moon Lovers : Scarlet Heart » (Người tình ánh trăng) và nhất là ba mùa phim « Squid Game » (Trò chơi con mực). Các bộ phim này chẳng những lôi cuốn được nhiều khách du lịch mà còn giúp phổ biến ẩm thực của xứ bình minh yên tĩnh.

    Còn tại Việt Nam, nhiều phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ nhưng không kém phần thơ mộng tại Quảng Bình, Ninh Bình, Phú Yên đã thuyết phục nhiều đoàn phim quốc tế chọn làm bối cảnh bấm máy quay phim. Sau những bộ phim nổi tiếng như « Người tình » và « Đông Dương » của thập niên 1990, khán giả nước ngoài khám phá phong cảnh Việt Nam dưới một góc nhìn mới qua phim « Kong : Đảo đầu lâu » và gần đây hơn nữa là bộ phim « Hành trình tình yêu của một du khách » (A tourist's guide of Love) do Netflix quay tại Hà Nội, Sài Gòn, Hà Giang và Hội An. Phim này lọt vào danh sách các bộ phim được xem nhiều nhất tại gần 90 quốc gia trên Netflix, nhờ những cảnh quay chỉn chu mà góp phần gầy dựng thêm hình ảnh và uy tín của Việt Nam trong mắt khách du lịch nước ngoài.

    Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng thành công trong việc quảng bá du lịch nhờ vào phim ảnh. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, cô Nawel Chaouni, giảng viên ngành truyền thông, thông tin tại Đại học Clermont Auvergne, cho biết các quốc gia hay vùng miền cần phải có tầm nhìn xa để tránh rơi vào thế thụ động, không đáp ứng kịp thời nhu cầu  của du khách :

    Đúng vậy, phim ảnh đã góp phần thay đổi nhận thức và giúp quảng bá những điểm đến ít nổi tiếng trước đây. Ban đầu, các địa điểm quay phim chủ yếu được coi là bối cảnh đơn thuần, các đoàn phim thường chọn những nơi vắng người để tiện bề quay phim. Các quốc gia đã mất một thời gian khá dài trước khi nhận thức được về tiềm năng quảng bá du lịch của phim ảnh. Hiện tượng này trở nên rõ nét sau các loạt phim « Trò chơi vương quyền » hoặc « Chúa tể các chiếc nhẫn ». Các chính quyền địa phương lúc bấy giờ mới nhận thấy được cơn sốt mà phim ảnh có thể tạo ra nơi giới hâm mộ, từ đó mà các điểm đến thu hút được thêm nhiều du khách.

    Quả thật là các chuyên viên làm việc trong ngành du lịch, cần phải phản ứng nhanh. Họ cần phải biết thích nghi với tình huống mới, điều chỉnh cơ cấu cũng như cách tổ chức để đáp ứng nhu cầu trước cơn sốt của người hâm mộ. Qua các nền tảng trực tuyến, một bộ phim có thể thành công rất nhanh chóng nhờ vào mức độ lan truyền trên mạng xã hội. Một loạt phim có thể tạo nên cơn sốt toàn cầu chỉ trong vài tuần, thậm chí chỉ trong vài ngày. Đó là trường hợp của các mùa phim « Emily in Paris » hay « Another Self » Đi tìm chính mình (tựa tiếng Pháp là Le chemin de l'Olivier) trên mạng Netflix.

    Một cách cụ thể, các hội đồng thành phố cần tổ chức các tour tham quan có hướng dẫn, thiết lập các tấm bảng chỉ dẫn để tạo ra cơ hội cho du khách đi xem những địa điểm từng được quay phim. Và quan trọng hơn hết, cần phải cải thiện cơ sở hậu cần, từ việc mở thêm các nơi lưu trú, tăng cường các dịch vụ ăn uống, vận chuyển, để tránh cho du khách bị thất vọng, xem cảnh phim rất đẹp nhưng đến khi trải nghiệm, lại không hay một chút nào.

    Về điểm này, có thể nói là loạt phim The White Lotus (Khu nghĩ dưỡng Bạch Liên) đã khiến cho một số điểm đến ở Thái Lan như Phuket, Krabi hay Samui càng thêm đông khách. Một cách tương tự, các mùa phim « Another Self », do được quay tại thị trấn ven biển Ayvalik, phía tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ, đã thu hút nhiều khách du lịch nước ngoài, nhưng thành phố nhỏ với 36 ngàn dân này lại không đủ phòng khách sạn để tiếp đón nhiều lượt khách cùng một lúc. Theo cô Nawel Chaouni, giảng viên Đại học Clermont Auvergne, quan hệ tương tác giữa phim ảnh và du lịch góp phần tạo thêm  tầm ảnh hưởng của các nền tảng trực tuyến nhưng đông thời khiến một số điểm đến bị quá tải.

    "Các nền tảng trực tuyến chuyên sản xuất các loạt phim ăn khách, bây giờ cũng bắt đầu lao vào khai thác du lịch, qua việc tổ chức các tour tham quan theo chủ đề phim ảnh. Đây là một bước ngoặt khá bất ngờ. Các nền tảng trước kia vốn chỉ là đơn vị phân phối phim và nội dung trực tuyến. Giờ đây, các nền tảng này cũng đang trở thành một nhân tố tham gia trực tiếp vào việc phát triển du lịch. Có thể nhận thấy mối quan hệ hợp tác để tạo thêm những hình thức trải nghiệm mới. Giới hâm mộ chia sẻ, bình luận và tạo thêm nội dung để thúc đẩy các cộng đồng trên mạng xã hội. Những cộng đồng này hiện diện ở khắp nơi, được hỗ trợ bởi các nền tảng.

    Các nền tảng phân phối pim dựa vào các cộng đồng fan đông đảo để cung cấp ban đầu là những sản phẩm « ăn theo » có gắn thương hiệu của phim ảnh, giờ đây chuyển qua khai thác thêm các dịch vụ như bán tour tham quan theo chủ đề phim ảnh, để tạo cơ hội cho người xem muốn trải nghiệm những khoảnh khắc y như trong những bộ phim yêu thích của họ.

    Quảng bá du lịch qua phim ảnh giống như một  « mỏ vàng »mà nhiều nước muốn khai thác. Tuy nhiên, hiện giờ, quan hệ giữa hai ngành du lịch và điện ảnh, vẫn chỉ dừng lại ở những cái bắt tay ngẫu nhiên. Về điểm này, cần có tính chủ động và một chiến lược dài hạn, một nguồn kinh phí đầu tư bài bản nhằm tạo thêm hiệu quả, quản lý các luồng du khách để tránh bị quá tải. 

    Chẳng hạn như tại Pháp, hầu như vùng miền nào cũng đều tổ chức thêm các sinh hoạt như chiếu phim miễn phí, liên hoan ca nhạc, triển lãm chuyên đề. Các chương trình ấy thường đề cao di sản văn hóa của từng vùng miền, đồng thời là tủ kính trưng bày để quảng bá thêm cho ngành du lịch, xây dựng hình ảnh đẹp vẫn chưa đủ, mà còn phải biết làm hài lòng du khách nước ngoài, thuyết phục họ nên trở lại, dù chỉ sau một lần đến". 

    10 min
  • [Superstrat[ : Đi tìm nguồn cội múa châu Phi qua nhãn quan của một biên đạo người Pháp gốc Việt

    [Superstrat[ là một trong bốn tiết mục nhảy, múa được giới thiệu đến công chúng và các nhà chuyên nghiệp sáng 15/07/2025 trong khuôn khổ chương trình La belle scène saint-denis (09-18/07) tại Liên hoan Avignon. Tác giả kiêm biên đạo múa Anne Nguyen tiếp tục hành trình tìm nguồn cội của các phong cách nhảy đường phố, trong đó có hip-hop, mà những mối liên hệ giữa văn hóa và bản sắc trong xã hội đương đại ngày nay.

    Trong [Superstrat[, giai điệu, các giai đoạn, thời kỳ và động tác, cử chỉ “đối thoại” với nhau để đưa khán giả khám phá di sản của cộng đồng người Mỹ gốc Phi. Chủ ý của vở múa được truyền tải đến khán giả qua màn biểu diễn đầy sức thuyết phục và trình độ chuyên môn của nghệ sĩ người Côte d’Ivoire (Bờ Biển Ngà) Mark-Wilfried Kouadio, nghệ danh “Willy Kazzama”.

    RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn Anne Nguyen và Mark-Wilfried Kouadio sau buổi biểu diễn.

    RFI : Trước tiên xin hỏi Anne Nguyen, tên tác phẩm [Superstrat[ có ý nghĩa như thế nào ? Tác phẩm lấy nguồn cảm hứng từ đâu ?

    Anne Nguyen : [Superstrat[ là một từ bổ nghĩa cho “substrat” (nền tảng), có nghĩa là những ngôn ngữ nước ngoài đã ảnh hưởng đến ngôn ngữ chính. Ý tưởng của vở diễn là thể hiện toàn bộ ảnh hưởng của các làn sóng di cư đến văn hóa của một đất nước, tiếp theo là những thay đổi về lãnh thổ ảnh hưởng đến cách mà mọi thứ biến đổi, cụ thể trong trường hợp vở [Superstrat[ là thể hiện sự giao thoa, cùng với những điệu nhảy truyền thống của châu Phi đến Hoa Kỳ, châu Mỹ với những điệu nhảy hip hop, sau đó châu Âu cũng học hỏi và cũng có làn sóng nhập cư từ châu Phi.

    Thực sự là còn cả chặng đường dài để đưa tất cả những nền văn hóa này vào đúng bối cảnh. Những nền văn hóa này vẫn lưu thông với nhau và là một phần của ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng ngày nay, bởi vì đó là những ngôn ngữ rất phong phú, chịu ảnh hưởng của rất nhiều quốc gia  có chung lịch sử.

    RFI : Mỗi sáng tác đều có một câu chuyện. Chị kể câu chuyện của mình như thế nào trong [Superstrat[ khi múa, nhảy là một bộ môn nghệ thuật trừu tượng ? Làm thế nào truyền tải được câu chuyện của mình đến khán giả ?

    Anne Nguyen : Múa gần như là ngôn ngữ nguyên thủy của cơ thể. Và đối với tôi, sử dụng nhảy và múa giúp tôi giao tiếp với mọi người, vừa đầy cảm xúc, vừa ẩn dụ, triết lý và cũng mang tính xã hội hơn. Điều này còn tùy thuộc vào nơi mà mọi người muốn hiểu sự việc. Dù sao, đối với tôi, nhảy và múa thực sự mang tính phổ quát, truyền thống. Khi tìm hiểu kỹ nguồn gốc của những điệu nhảy này, người ta sẽ thấy những ảnh hưởng truyền thống. Ví dụ tôi bắt đầu với nhảy hip-hop, breakdance, đến từ châu Phi bởi vì từng có chế độ nô lệ ở Mỹ và thường thì chính những người thuộc tầng lớp này của xã hội đã sáng tạo nên những điệu nhảy đường phố đó. Vì vậy, càng quan tâm đến nguồn gốc của điệu nhảy, tôi càng bị thu hút bởi những điệu nhảy truyền thống.

    Chủ đề của tác phẩm là thực hiện hành trình đi tìm gốc gác đó, khai thác kho tài năng của một vũ công vừa nhảy đường phố, vừa giữ nét truyền thống châu Phi để qua đó tạo nên mối liên hệ giữa truyền thống và hiện đại. Thông điệp thực sự mà tôi muốn truyền tải, đó là chúng ta không phải lựa chọn giữa truyền thống và hiện đại, hay chối bỏ một trong hai. Mà ngược lại, phải lèo lái và tạo ra những điều tạo nên bản sắc, di sản của chúng ta và tự hào về di sản của chúng ta, để từ đó tạo nên điều gì đó với sự hiện đại và kỹ thuật mới… Song song đó cũng phải hiểu rằng có một số điều hơi bảo thủ, hơi bất biến và chúng ta không nên cố gắng biến đổi chúng quá nhiều.

    Trong [Superstrat[ có một góc nhìn về truyền thống, về hiện đại để đi hướng đến bản sắc hiện đại, cho thấy chúng ta là con người của ngày hôm nay, của những năm 2025. Chúng ta chứa đầy những ảnh hưởng từ tổ tiên, nhưng cũng từ những điều đã được biến đổi trong quá trình di cư, pha trộn dân cư. Chúng ta có thể là tổng hợp của tất cả những điều đó và không được quên quá khứ.

    RFI : Trong sáng tác của chị có rất nhiều kiểu nhảy, có cũ, có mới, làm thế nào để tạo nên sự hài hòa của những điệu nhảy này trong [Superstrat[ ?

    Anne Nguyen : Từ khi thành lập đoàn múa năm 2005, tôi đã tạo ra khoảng hai mươi chương trình, đôi khi tôi sử dụng một điệu nhảy duy nhất. Nhưng đúng là ngay cả các điệu nhảy thành thị của người Mỹ gốc Phi cũng đã là sự kết hợp của một số điệu nhảy với nhau vì một điệu nhảy thực ra chỉ là một bước, một chuyển động nhỏ. Sau đó, khi kết hợp một số điệu nhảy từ cùng một khu vực, cùng một thời đại lại với nhau (bởi vì người ta vẫn nhảy chúng) và với âm nhạc thì tạo ra một phong cách, có thể nói như vậy.

    Ngay cả khi tôi chỉ sử dụng phong cách hip-hop, thực ra ở trong đã có nhiều lịch sử, nguồn gốc khác nhau, cho nên rất đa dạng và rất tinh tế. Ví dụ, trong sáng tác [Superstrat[, tôi nghĩ là vũ công phải thực hiện ít nhất hai mươi điệu nhảy, thậm chí nhiều hơn, có thể từ 20 đến 40 điệu nhảy, kết hợp giữa các điệu nhảy truyền thống và nhảy đường phố Tây Phi và điệu nhảy đường phố của người Mỹ gốc Phi, trong đó có hip-hop. Vì vậy, thực sự rất khó để dàn dựng các vũ điệu đó mà không bị pha trộn và cũng rất khó khi cố tạo không gian cho từng thể loại cùng với ý nghĩa của nó, bởi vì cho thấy được chủ đích đằng sau mỗi điệu nhảy là điều quan trọng. Ngoài ra còn có một cách nữa, đó là lắng nghe tiếng nhạc hoặc âm thanh, cho nên cũng phải đầu tư công sức cho âm nhạc.

    Tôi luôn cố gắng sử dụng nhảy như một ngôn ngữ, ở cấp độ ẩn dụ. Ví dụ, một điệu nhảy chiến tranh có thể kể điều gì ? Vào thời điểm nào của vở diễn thì có thể đưa vũ điệu chiến tranh vào để thể hiện sự chiếm hữu lãnh thổ hoặc bản sắc của mình ? Hoặc khi nào thì cho vào một điệu nhảy hơi “tán tỉnh” một chút để tạo mối quan hệ với công chúng ? Đó chính là cách xây dựng nhân vật.

    Tôi tìm tòi trong những chủ đích của các điệu nhảy để kể một chút về hành trình của nhân vật, người đang cố để khán giả hiểu mình và cũng đang cố tìm kiếm bản sắc của mình, người bị giằng xé giữa việc trở về với tổ tiên, khát vọng hướng tới hiện đại, tương lai… mà thực ra là đang phần nào tìm cách hòa giải trong tất cả những yếu tố đó. Đó là cả quá trình kịch tính, đầy cảm xúc, với không gian và mối quan hệ với chính mình.

    RFI : Câu hỏi tiếp theo được dành cho nghệ sĩ Mark-Wilfried Kouadio, nghệ danh “Willy Kazzama”. Anh là nhân vật duy nhất trong vở diễn. Làm thế nào để truyền tải được ý tưởng của tác giả đến công chúng ?

    Mark-Wilfried Kouadio : Tôi là nghệ sĩ múa chuyên nghiệp, người Côte d’Ivoire, tôi là việc với Anne Nguyen từ khá lâu. Giữa chúng tôi có sự đồng điệu nên mọi chuyện diễn ra tốt đẹp. Đối với tôi, khá là dễ để thực hiện những gì Anne muốn làm, dù là về nhảy truyền thống hay đương đại châu Phi, có rất nhiều mối liên hệ giữa văn hóa hip-hop, có nghĩa là văn hóa Mỹ gốc Phi. Vì Anne khởi đầu sự nghiệp từ bộ môn này nên có thể tìm được mối liên hệ. Cho nên những gì Anne đề xuất, chúng tôi đưa ra thảo luận để tìm ra giải pháp hay nhất. Châu Phi rất đa dạng về nhảy và múa, đến từ hơn 50 nước. Tôi sinh ra ở Côte d’Ivoire, Tây Phi, khu vực có rất nhiều thể loại nhảy, tôi đề xuất những gì mình biết, sau đó chúng tôi tìm ra những gì phù hợp với ý tưởng của Anne và làm việc cùng nhau.

    RFI : Như Anne nói, trong [Superstrat[, anh thể hiện từ 20 đến 40 kiểu nhảy, kết hợp những động tác dẻo và khéo léo, uyển chuyển nhưng đầy mạnh mẽ. Anh thể hiện dấu ấn riêng của mình như thế nào trong tác phẩm ?

    Mark-Wilfried Kouadio : Nhảy đã là một bộ môn thể thao, cần phải làm chủ nhịp tim, dẻo dai, khéo léo. Dấu ấn riêng của tôi trong tác phẩm, đó chính là bản sắc văn hóa châu Phi của mình. Ngay từ lúc nhỏ, tôi đã nhảy, sau đó đi theo con đường chuyên nghiệp, dù cách đây không lâu. Tôi biết những hạn chế về cơ thể của mình, biết cách làm thế nào sử dụng cơ thể của mình cho nên khi Anne yêu cầu thực hiện một động tác, tôi biết phải làm như thế nào, còn nếu không được thì sẽ tìm giải pháp thay thế. Tôi tập luyện nhảy đường phố và một số kiểu nhảy của Côte d’Ivoire và một số nước Tây Phi. Và vì trong nhảy có những động tác tương đồng, có những năng lượng giống nhau cho nên khá là đơn giản khi làm nổi bật những ý tưởng của Anne và truyền tải chúng đến khán giả và những người yêu bộ môn này.

    RFI : Về âm nhạc, như chị nói ở trên, âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong [Superstrat[, rất độc đáo, thể hiện rõ bản sắc châu Phi.

    Anne Nguyen : Vâng, chính xác. Đó là một sáng tác độc đáo của Grégoire Letouvet và Pierre Demange. Từ bản piano chuẩn bị trước, Grégoire Letouvet đặt những đồ vật nhỏ để điều chỉnh một chút âm thanh, mang hơi hướng điện tử. Còn Pierre Demange, chơi bộ gõ và trống, thì phụ trách phần nhịp điệu, nhất là của Tây Phi và kết hợp một số nhịp điệu mà vũ công Willy Kazzama, người Bờ Biển Nga (Côte d’Ivoire), biết. Ý tưởng ở đây là kết hợp ảnh hưởng của những nhịp điệu truyền thống với những dấu ấn của âm nhạc Mỹ gốc Phi, từng chứng kiến sự xuất hiện của hip-hop vào những năm 1960 và 70, trong khi người ta vẫn nói thời kỳ đó thiên về blues-soul nhiều hơn. Nếu nhìn vào nguồn gốc của tất cả những thể loại này, thì đó chính là những bản nhạc tâm linh của người da đen, được những người nô lệ hát để động viên nhau trên cánh đồng, hoặc Gospel trong nhà thờ.

    Ngoài ra, thông qua âm nhạc và nhảy, cũng cho thấy thực ra chúng ta không sáng tạo bất cứ thứ gì. Mọi điều được cho là hiện đại, có thể khiến chúng ta nghĩ về một phong cách âm nhạc nào đó, thực ra nếu nghe kỹ, thì chỉ được biến đổi và đều đến từ tổ tiên của chúng ta. Không có gì mất đi, không có gì được tạo ra, tất cả đều chuyển biến, đó là ý tưởng của tác phẩm [Superstrat[.

    Đối với cá nhân tôi, tôi thấy cần phải nhắc đến hip-hop vào thời điểm này bởi vì hip-hop được đưa vào Thế vận hội Paris 2024. Có rất nhiều cuộc tranh luận về việc liệu hip-hop có phải là một nghệ thuật hay không, có phải là một môn thể thao hay không, hoặc tranh luận về những tên tuổi trong lĩnh vực này. Có thể là phong trào được đặt tên, được hình thành cũng với những mốc thời gian hoặc tên tuổi lớn nhưng thực ra đều có nguồn gốc xa xưa. Cho nên, đối với tôi, cần phải cho thấy điều này, nếu không, người ta luôn áp đặt cho chúng ta những khuôn khổ, những cái tên, phong cách này hoặc phong cách kia và tạo ấn tượng rằng nó thuộc về một giới tinh hoa trong khi trên thực tế, khi chúng ta hiểu rằng mọi thứ đến từ rất rất xa, từ truyền thống, thì tất cả đều thuộc về mọi người. Văn hóa chỉ là sự chiếm đoạt, đồng cảm với người khác và chia sẻ để tái tạo những điều mới mẻ, thông qua âm nhạc, thông qua nhảy, múa. Đó phần nào là thông điệp mà tôi muốn truyền tải.

    RFI : Cuối cùng, phải nói đến trang phục biểu diễn rất độc đáo. Willy Kazzama, trang phục có ý nghĩa biểu tượng như thế nào ?

    Mark-Wilfried Kouadio : Trang phục lấy cảm hứng từ xu hướng “Sape”, phong cách ăn mặc lịch lãm trong thập niên 1960. Chúng tôi muốn làm nổi bật trang phục và các nhân vật lịch sử người Mỹ gốc Phi, cũng như các giá trị văn hóa châu Phi. Và vì như tôi nói ở trên, tôi là người Côte d’Ivoire nên chúng tôi in trên quần của trang phục biểu diễn một số mặt nạ tượng trưng cho trí tuệ, nhà vua, thậm chí là các vị thần - điều rất quan trọng ở châu Phi, để thể hiện những giá trị văn hóa châu Phi của chúng tôi, cũng như các giá trị của cộng đồng người Mỹ gốc Phi đã góp phần vào sự phát triển hoặc thậm chí là sự sáng tạo ra điệu nhảy này, hoặc phong cách âm nhạc, văn hóa Mỹ gốc Phi. Ngoài ra, chúng tôi cũng may quần rộng hơn để cử động thoải mái, còn áo sơ mi thể hiện cho vẻ thành thị, lịch lãm theo phong cách “Sape”.

    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn biên đạo Anne Nguyen và nghệ sĩ Mark-Wilfried Kouadio của đoàn Compagnie par Terre.

    13 min
  • François Bibonne và hành trình nối tiếp “Once Upon a Bridge in Vietnam”

    Sau thành công không ngờ đến của bộ phim tài liệu “Once Upon a Bridge in Vietnam” ( Ngày xưa có một chiếc cầu ở Việt Nam ), đạo diễn trẻ mang hai dòng máu Pháp Việt François Bibonne sắp tái ngộ khán giả với phần hai của bộ phim "Once Upon a Bridge II". Bibonne hy vọng bộ phim sẽ được trình làng vào tháng 11 năm nay.

    Ban đầu Bibonne dự định làm một bộ phim về bóng đá Việt Nam, nhưng cuối cùng anh vẫn lồng vào đó âm nhạc, phong cảnh, văn hóa Việt Nam, như là sự tiếp nối của một cuộc hành trình tìm về nguồn.  Phạm vi của "Once Upon a Bridge II" được mở rộng hơn, hành trình trải dài từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định đến những vùng xa xôi như Bình Liêu (Quảng Ninh) và Pleiku.

    Lần này, theo lời François Bibonne, trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ từ Hà Nội, bộ phim sẽ mang tính chất cá nhân hơn, đạo diễn trở thành như là một "nhân vật chính" trong phim:

    “Khi làm bộ phim đầu tiên, tôi thực sự không muốn mình ở trong đó, tôi chỉ là một người quay phim. Nhưng rồi tôi nhận thấy điều mà mọi người quan tâm đó là bộ phim được hiện thân, nghĩa là có một nhân vật chính, có thể tạo ra mối liên hệ giữa tất cả các cảnh này, vì có rất nhiều chủ đề khác nhau, làm sao có thể diễn đạt, dung hòa tất cả những mối liên hệ này. 

    Nói chung, đây là sự trở lại với nguồn gốc Việt Nam, thông qua nhân vật tôi, vì bà tôi là người Việt Nam, nên tôi là người Pháp gốc Việt. Và tôi tạo ra mối liên hệ giữa tất cả những câu chuyện nhỏ mà chúng ta tìm thấy trong mọi bộ phim tài liệu, đôi khi với những hình ảnh có tôi xuất hiện trong đó. Tôi cũng sẽ không xuất hiện nhiều đâu. 

    Nhưng khi tôi làm một đoạn phim giới thiệu, tôi phải đặt mình vào cảnh một chút để kích hoạt câu chuyện, nếu không thì chỉ lồng tiếng thôi. Nhưng thực sự, ngoài bản thân tôi, tôi nghĩ nhân vật chính, đó là Việt Nam.” 

    Như đã nói ở trên, ban đầu François Bibonne dự định làm một bộ phim tài liệu về bóng đá Việt Nam, nhưng cuối cùng anh quyết định là phim sẽ không bám vào thời sự của môn bóng tròn, mà sẽ là một bộ phim "phi thời gian tính":

    "Khi tôi đến Việt Nam để thực hiện dự án mới này, thực ra tôi đã bắt đầu theo dõi đội tuyển quốc gia, đã có rất nhiều trận thua vào thời điểm đó. Vì vậy, tôi hơi xuống tinh thần. Tôi vẫn muốn làm bộ phim này, nhưng nói ít hơn về đội tuyển quốc gia và thời gian đó người dân cũng bớt hồ hởi với bóng đá.

    Thế rồi gần đây, họ đã giành được chức vô địch Đông Nam Á. Họ có một huấn luyện viên mới là người Hàn Quốc và đã gặt hái rất nhiều thành công. Mọi người thực sự tin tưởng vào đội tuyển quốc gia và thực sự đang có một điều gì đó rất tích cực. Bối cảnh rất thuận lợi cho dự án của tôi.

    Thật ra dầu sao thì tôi không bị ảnh hưởng bởi thời sự, bởi vì tôi làm một bộ phim tài liệu điện ảnh hơn là một bộ phim tài liệu về các vấn đề thời sự, vì vậy có thể nói rằng, những gì tôi làm gần như là phim tài liệu hư cấu, một dự án dài hạn, mà tôi hy vọng sẽ là phi thời gian tính, bất kể các sự kiện hiện tại. Giống như bộ phim trước, đó là một bộ phim mà tôi nghĩ chúng ta cũng có thể xem sau nay, không nhất thiết phụ thuộc vào các sự kiện hiện tại."

    Trên con đường tìm về nguồn khi thực hiện bộ phim "Once Upon a Bridge II", đạo diễn trẻ Bibonne đã có dịp đến Hải Phòng, thành phố quê hương của người bà:

    “Tôi chưa từng đến đó, mặc dù thành phố Hải Phòng là nơi bà tôi sinh ra, đúng hơn bà sinh ra ở một ngôi làng nhỏ không xa Hải Phòng, nhưng là trong khu vực đó. Vì vậy, nó vẫn rất mang tính biểu tượng. Đến Hải Phòng là một trải nghiệm với nhiều cảm xúc mạnh mẽ, vì nguồn gốc của tôi là từ đó. Chứ bóng đá không liên quan gì đến bà tôi. Điều thú vị nữa là tìm thấy chính mình, trong một môi trường mà trước đó tôi không biết, và đó là điều tôi muốn khám phá thông qua âm nhạc. Nhưng tôi nghĩ rằng đây là những khám phá về khắp mọi miền đất nước, không nhất thiết phải liên quan trực tiếp đến bà tôi. Tôi đã đến  khá nhiều nơi mà bà nghĩ là đã từng đến, nhưng vì nó cũng rất xa ngay cả trong ký ức của bà, nên tôi không chắc có đúng như thế không.

    Tôi biết là bà tôi có gia đình ở Hải Phòng, nhưng thực sự rất khó tìm được họ.Tôi thích mọi thứ bên bờ biển, mà Hải Phòng thì cũng bờ biển, cho nên có điều gì đó rất đặc biệt. Rồi có các tòa nhà từ thời thuộc địa Pháp, hải cảng, v.v. Có một nền văn hóa địa phương cũng rất đặc biệt. Ở Pháp, bà tôi ở cũng từng sống ở miền nam bên bờ biển, có lẽ vì vậy bà thích Hải Phòng. Cuộc sống ở đây ít hối hả hơn so với Hà Nội và tôi cũng thực sự thích điều đó.”

    François Bibonne cho biết trong quá trình làm phim, anh cũng đã đến Pleiku, đến Kontum và đã gặp người sắc tộc thiểu số Ba Na, rồi đến Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, miền Bắc Việt Nam, gần Trung Quốc. Ở vùng đó, Bibonne đã gặp người dân tộc Sán Chay, họ đã hát cho anh nghe một bài hát rất hay. Có những khám phá, những giao lưu văn hóa và đối với anh bóng đá trở thành như là một cái cớ để dẫn đến những cuộc gặp gỡ đó.

    Bibonne tiếp tục đưa âm nhạc truyền thống Việt Nam vào "Once Upon a Bridge II", tiếp tục kết nối những nhạc cụ dân tộc với những nhạc cụ phương Tây. 

    Thực hiện bộ phim tiếp nối “Once Upon a Bridge in Vietnam”, François Bibonne cũng vẫn gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ đã được biết đến nhiều qua bộ phim đầu tay, anh cũng được hỗ trợ nhiều hơn:

    “Khó khăn đầu tiên là có được sự thoải mái trong một môi trường xa lạ, đó là bóng đá. Vì vậy, tôi đã phải tìm hiểu rất nhiều, thậm chí nói chuyện với bạn bè ở Pháp, hiểu rõ hơn về bóng đá và nắm được những điều cơ bản, v.v. Tiếp đến là vấn đề về kỹ thuật, vì quay phim bóng đá rất phức tạp. Ta không thể quay bằng camera từ khán đài, mà phải cố vào được trong sân để quay cận cảnh các cầu thủ, một thao tác mang tính kỹ thuật rất cao. 

    Và sau đó, cũng như mọi người Pháp, mọi người nước ngoài, trong cuộc sống hàng ngày ở Việt Nam, luôn có vấn đề về hàng rào ngôn ngữ. Tôi đang học tiếng Việt, ngày càng giỏi hơn, nhưng vẫn chưa đủ để thực hiện các cuộc phỏng vấn. 

    Ngoài ra còn có vấn đề về ngân sách, hiện giờ tôi phải bỏ tiền túi ra và tôi rất muốn sau này tìm được các nhà tài trợ, nhưng tôi tự tin hơn. Nhờ thành công của bộ phim trước, tôi ngày càng được mọi người biết đến tôi  và tôi hy vọng tìm được một nhà phát hành ở Pháp, có thể là kênh TV5 Monde hay một kênh nào đó. Các nhà báo ở Việt Nam, những người có đầu óc rất cởi mở, sẽ giúp tôi tiếp cận những thứ mà trước đây tôi có thể không có. Thêm vào đó, tôi đã định cư ở Việt Nam trong thời gian dài, trong khi trước đây tôi làm phim trong thời kỳ đại dịch. Vì vậy, bây giờ bối cảnh vẫn thuận lợi hơn.”

    François Bibonne cho biết: "Tôi đã quay được hai phần ba, gần ba phần tư, những gì tôi muốn. Vì vậy, tôi nghĩ có thể hoàn tất việc quay mọi thứ tôi cần vào khoảng tháng 9 và có thể hoàn thành việc biên tập phim vào khoảng tháng 11. Và biết đâu có thể kịp để gởi nó đến Liên hoan điện ảnh châu Á Vesoul!" 

    Bộ phim đầu tay "Once Upon a Bridge in Vietnam" của Bibonne đã từng được trình chiếu tại Liên hoan Vesoul năm 2023, tranh giải trong hạng mục Phim tài liệu. Tuy không nhận được giải nào, nhưng qua Liên hoan này mà chàng đạo diễn trẻ mang hai giòng máu Pháp-Việt được công chúng quốc tế biết đến nhiều hơn. "Once Upon a Bridge in Vietnam" đã từng đoạt giải Phim tài liệu ngắn hay nhất tại Liên hoan Phim Los Angeles 2022. Phim còn đã được trình chiếu ở rất nhiều nơi tại Việt Nam, Pháp, Anh và Hoa Kỳ. 

    "Once Upon a Bridge in Vietnam" đã được phát trên hai nền tảng phát trực tuyến lớn tại Việt Nam FPT Play và Galaxy Play. Anh hy vọng là bộ phim thứ hai cũng sẽ được chiếu trên hai nền tảng đó. Nhưng François Bibonne cho biết ở Pháp, anh vẫn chưa tìm được nhà phân phối cho bộ phim đầu tiên, vì phải đáp ứng rất nhiều yêu cầu. Tuy nhiên, nhà đạo diễn trẻ vẫn không nản chí, tin tưởng là sẽ làm được. 

    9 min
  • Pháp : 80 năm thành lập tủ truyện trinh thám Série Noire

    Tựa đề chữ vàng in trên bìa sách toàn một màu đen. Chỉ cần liếc nhìn qua, giới độc giả ghiền truyện trinh thám đều nhận ra ngay bộ sưu tập « Série Noire » của nhà xuất bản Pháp Gallimard. Năm 2025 đánh dấu đúng 80 năm ngày ra đời của tủ sách nổi tiếng Série Noire, mà bạn đọc ở Pháp thường gọi nôm na là « tiểu thuyết đen ».  

    Tủ sách « Série Noire » ra đời vào mùa hè năm 1945, theo đề xuất của dịch giả Marcel Duhamel. Ngoài đời là bạn thân của nhà văn Jacques Prévert và thi hào Raymond Queneau, ông Duhamel đã thuyết phục nhà xuất bản Gallimard cho ra mắt một bộ sưu tập hoàn toàn mới thời hậu chiến, để giới thiệu với bạn đọc ở Pháp những tiểu thuyết trinh thám tiêu biểu của Anh-Mỹ qua việc dịch các tác giả trứ danh như Peter Cheyney, Raymond Chandler hay Don Tracy … 

    Mãi đến 3 năm sau (1948), theo sáng kiến của giám đốc điều hành nhà xuất bản Claude Gallimard, bộ sưu tập này mới bắt đầu phát triển mạnh, tăng số lượng bản in cũng như các tựa sách phát hành mỗi năm. Nhờ vào sự hưởng ứng của bạn đọc, tủ truyện « Série Noire » đã thành công nhanh chóng. Hơn một ngàn đầu sách được xuất bản trong 2 thập niên đầu tiên, mỗi năm sách đều bán được hơn cả triệu bản. 

    Thành công của thể loại văn học này lúc đầu luôn gắn liền với trào lưu phim trinh thám của Mỹ, còn được gọi là « film noir » chủ yếu nói về các vụ án và tội phạm, thế giới băng đảng và xã hội đen. Trong thời hậu chiến (1945-1952) các rạp chiếu phim Pháp chủ yếu khai thác phim trinh thám do Hollywood sản xuất từ những năm trước, nhưng vì đang có chiến tranh, khán giả Pháp chưa có dịp xem. 

    Kể từ năm 1953 trở đi, làng phim Pháp mới bắt đầu khai thác mạnh mẽ dòng phim này. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, nhà phê bình kiêm sử gia Alban Cerisier cho biết, ngay từ những năm 1950, tủ sách « Série Noire » đã gợi hứng cho các đạo diễn Pháp thực hiện nhiều bản phóng tác, đưa các bộ tiểu thuyết đen lên màn ảnh rộng, tạo ra một sự hợp tác chặt chẽ, vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay :

    « Đúng vậy, đó là một mối quan hệ tuyệt vời, góp phần làm nên tên tuổi và uy tín của bộ sưu tập Série Noire. Mối quan hệ giữa tủ sách trinh thám và màn ảnh lớn đã tồn tại trong nhiều thập niên qua. Khi mới được thành lập, tủ sách này chủ yếu quảng bá các tiểu thuyết “đen” và dòng phim trinh thám theo kiểu Mỹ. Trong giai đoạn này, phải kể đến phim The Maltese Falcon (Chim ưng Malta) với Humphrey Bogart trong vai chính, This gun for hire (Kẻ giết mướn) với Alan Ladd và Veronica Lake. Những thập niên sau đó, có The Unseen (Sát thủ giấu mặt) và nhất là The Big Sleep (Giấc ngủ ngàn thu), dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Raymond Chandler qua hai phiên bản, với Humphrey Bogart, cũng như Robert Mitchum trong vai chính. 

    Thời hậu chiến, làng phim Pháp chủ yếu khai thác phim Mỹ. Năm 1953 đánh dấu một cột mốc quan trọng, khi điện ảnh Pháp trở nên tự lập hơn, bắt đầu chuyển thể các bộ tiểu thuyết thành phim trinh thám. Đó là trường hợp của bộ phim "Touchez pas au grisbi" (tạm dịch Coi chừng chết … vì tiền) của đạo diễn Pháp Jacques Becker. Đây là phiên bản điện ảnh của quyển tiểu thuyết đen cùng tên của Albert Simonin. Bộ phim đánh dấu ngày trở lại của Jean Gabin sau nhiều năm vắng bóng và sự xuất hiện lần đầu tiên của Lino Ventura trên màn ảnh lớn. Trong mắt giới phê bình, "Touchez pas au grisbi” là tác phẩm khởi đầu cho trào lưu quay các bộ phim noir theo kiểu Pháp, hầu hết các tên tuổi lớn sau này đều tham gia như Jeanne Moreau, Jean-Paul Belmondo hay Alain Delon … » 

    Nhìn lại tủ truyện « Série Noire », trong số cả chục ngàn quyển tiểu thuyết được phát hành, đã có hơn 500 đầu sách đã được chuyển thể lên màn ảnh. Có thể nói là mỗi thập niên đều có những bộ phim ăn khách, phóng tác từ tiểu thuyết trinh thám. Theo sử gia Alban Cerisier, những thập niên sau 1950, đã cho ra đời nhiều tác phẩm quan trọng của những tên tuổi hàng đầu trong làng điện ảnh : 

    « Kể từ sau những năm 1950, dòng phim trinh thám hình sự đã có một số thay đổi về mặt đề tài để phán ánh những biến chuyển xã hội, nội dung phim cũng mang nhiều tính thời sự hơn. Một trong những gương mặt quan trọng trong giai đoạn này chính là ngôi sao màn bạc Pháp Alain Delon. Ông quan tâm nhiều đến thể loại hình sự cũng như dòng phim đen. Trong vai trò của một nhà sản xuất (nhiều hơn là diễn viên), Alain Delon đã giúp phổ biến thêm nhiều quyển tiểu thuyết qua phim ảnh. Trong giai đoạn này có thể nhắc đến “Mort d'un pourri” (Cái chết của một kẻ hám lợi), tiểu thuyết của Raf Vallet từng được Georges Lautner chuyển thể thành phim trinh thám với Alain Delon trong vai chính. 

    Thật ra, kể từ những năm 1965 trở đi, dòng phim noir không còn đơn thuần nói về thế giới của những kẻ lừa đảo, những tên côn đồ đâm thuê chém mướn … Những hình tượng ấy dần dần những chỗ lại cho những nhân vật phức tạp hơn về mặt tâm lý, qua tài viết kịch bản và dựng phim của làn sóng đạo diễn với phong cách mới như Truffaut, Godard, hay Melville. Đạo diễn François Truffaut đã tặng cho Jeanne Moreau một vai diễn để đời khi chuyển thể tiểu thuyết “The Bride wore black” (Áo tang ngày cưới) của William Irish, kể lại kế hoạch trả thù của một cô dâu, sau khi chứng kiến cảnh chồng mình bị sát hại ngay trong đám cưới. 

    Đạo diễn Melville tặng cho Jean Paul Belmondo một vai diễn xuất sắc trong phim "Le Doulos". Trong tiếng lóng, từ này hiểu theo nghĩa đen là cái mũ phớt, còn hiểu theo nghĩa bóng là kẻ chỉ điểm. Sự xuất hiện của Melville, Lautner, hay Truffaut (rất ngưỡng mộ đạo diễn Hitchcock) đã mang đến một luồng sinh khí mới cho thể loại phim trình thám, khi họ phản ánh các chủ đề mang tính thời sự xã hội, đi sâu hơn vào các đề tài tham nhũng, khi mọi giới, nhất là những người có quyền, càng dễ bị đồng tiền chi phối ». 

    Sau các đề tài chính trị xã hội, tủ truyện Série Noire cũng từng gặt hái khá nhiều thành công khi khai thác mạch truyện gián điệp. Trong một thời gian dài, nhà xuất bản Gallimard được quyền khai thác tủ sách James Bond (sau này mới đến phiên nhà xuất bản Robert Laffon), có lẽ cũng vì thế nhiều đầu sách của điệp viên 007 đã được đăng trong bộ sưu tập tiểu thuyết đen Série Noire. Nhà phê bình Alvan Cerisier giải thích về các trào lưu làm phim :

    « Các tác giả cũng như dịch giả của tủ truyện Série Noire sống với thời đại của họ. Dĩ nhiên là bộ truyện của Ian Fleming đã có nhiều bản phóng tác sang tiếng Pháp. Về mặt phiên bản điện ảnh, có hai tựa phim James Bond mà các bạn đọc tiếng Pháp tìm thấy trong tủ sách Série Noire. Đó là bộ phim « Diamonds are forever » (Điệp vụ kim cương) với Sean Connery, và sau đó là « Moonraker » (Căn cứ không gian) với Roger Moore. Có thể nói là thành công của James Bond đánh dấu thời kỳ huy hoàng của tiểu thuyết cũng như phim gián điệp. Ngoài ra, phim ảnh có tác động tích cực trong việc phổ biến sách truyện. Tính trung bình, một quyển tiểu thuyết trinh thám được xem là rất ăn khách khi bán được khoảng 100.000 bản. Đến khi được chuyển thể lên màn ảnh lớn, bộ phim có khả năng thu hút hàng triệu lượt người xem và trong số này sẽ có nhiều khán giả tìm đọc tiểu thuyết gốc. Mối quan hệ chặt chẽ ấy vẫn tồn tại cho đến ngày nay. 

    Việc chuyển thể sách thành kịch bản phim, nhiều hay ít, là tùy theo nhu cầu, chứ chưa bao giờ dừng lại. Chẳng hạn như phim « Zulu » với Orlando Bloom và Forest Whitaker trong vai chính, dựa theo tiểu thuyết của Caryl Férey. Đạo diễn Guillermo del Toro từng thử sức với phim trinh thám khi chuyển thể lên màn ảnh quyển tiểu thuyết đen « Nightmare Alley » (Con hẻm ác mộng) với Bradley Cooper trong vai chính. Ngoài ra, còn phải kể đến dòng truyện trinh thám đến từ vùng đất lạnh như trường hợp của nhà văn người Na Uy JoNesbo từng thành công với « The Snowman » (Sát nhân Người tuyết) với Michael Fassbender. Trong số các nhân vật nổi tiếng thích đọc Série Noire tại Pháp, có các nhà văn Jacques Prévert, Jean Giono, hay nghệ sĩ điêu khắc Giacometti.

    Có thể nói là chừng nào vẫn còn nhiều bạn đọc ghiền tiểu thuyết trinh thám, thì dòng phim hồi hộp hình sự vẫn còn nhiều kịch bản hay để dựng thành phim chiếu rạp cũng như phim truyền hình ».

    10 min
  • Nét thanh lịch kinh điển của hiệu thời trang Lanvin

    Lanvin là một trong những hiệu thời trang lâu đời nhất của Pháp, được nhà thiết kế Jeanne Lanvin thành lập tại Paris vào năm 1889, trước Chanel (1910) và Dior (1947). Tuy là người tiên phong, Jeanne Lanvin lại thường nằm trong cái bóng của Chanel hoặc Dior, có lẽ cũng vì Lanvin không giỏi bằng hai công ty kia trong cách thu hút giới truyền thông.

    Gần 140 năm sau ngày được thành lập, hiệu thời trang Lanvin trở thành chủ đề quyển sách của nhà văn Jérôme Picon, do nhà xuất bản Flammarion phát hành. Mang tựa đề « Jeanne Lanvin », quyển tiểu sử làm sống lại gương mặt tiên phong của ngành thời trang hạng sang của Pháp, hành trình sáng tạo của một phụ nữ có nếp sống kín đáo nhưng lại có tầm nhìn xa.

    Sinh trưởng tại Paris (1867-1946), Jeanne Lanvin từ thời còn nhỏ đã đam mê may vá, thêu thùa. Bà vào nghề làm nón mũ và phụ kiện thời trang từ năm 13 tuổi. Năm 1889 là cột mốc quan trọng trong đời bà Lanvin. Nhờ biết làm ăn dành dụm, bà mở cửa hàng đầu tiên trên dãy phố Faubourg Saint -  Honoré vào năm 22 tuổi, từ mũ nón mở rộng sang thiết kế áo quần trẻ em, rồi sau đó là thời trang phái nữ. Sau hai thập niên hoạt động trong nghề, Jeanne Lanvin chính thức được kết nạp làm thành viên Nghiệp đoàn các nhà thiết kế Pháp (do Charles Frederick Wortk đề xướng) : Bộ sưu tập thời trang Lanvin năm 1909 phong phú da dạng, bao trùm mọi lứa tuổi chứ không còn đơn thuần là áo quần dành riêng cho một đối tượng.

    Trong số những khách hàng quen thuộc của Lanvin có nhà văn Anna de Noailles, diễn viên kiêm ca sĩ Yvonne Printemps hay kịch tác gia Sacha Guitry ... Cũng chính Jeanne Lanvin đã thiết kế bộ y phục màu xanh lục cho văn hào Pháp Edmond Rostand, tác giả của Cyrano de Bergerac, khi ông gia nhập Hàn lâm viện. Trả lời phỏng vấn ban Pháp ngữ RFI, nhà văn Jérôme Picon chuyên nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật, từng viết tiểu sử của các văn hào Marcel Proust và Victor Hugo, cho biết lý do nào ông thực hiện một quyển sách về bà Jeanne Lanvin:

    Tôi đã có ý tưởng viết về bà Lanvin, sau khi có cơ hội đọc và xem nhiều tài liệu quan trọng trong một kho lưu trữ đã có từ lâu nhưng hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Kho tài liệu này phản ánh những chuyển biến của ngành thời trang cao cấp qua nhiều thập niên, nhưng không hiểu vì lý do nào mà cho tới giờ vẫn chưa được khai thác nhiều.

    Quan trọng hơn nữa chính là phong cách của Jeanne Lanvin, một phụ nữ với cuộc sống kín đáo, nhưng lại có khá nhiều giai thoại lý thú để kể về bà. Trước hết đó là câu chuyện khá phi thường về hiệu thời trang do một phụ nữ sáng lập. Trước khi các thuật ngữ chuyên ngành tiếp thị ra đời, bà Jeanne Lenvin đã biết tiếp cận những khách hàng khá giả giàu có, dựa vào nhu cầu của họ để sáng chế ra nhiều dòng sản phẩm khác nhau. Từ nón mũ và áo quần trẻ em, bà chuyển sang thiết kế thời trang phái nữ cũng như phái nam.

    Bên cạnh đó, bà còn cho sản xuất nước hoa, phân phối tủ giường, bàn ghế và dòng sản phẩm trang trí nội thất sang trọng ...Vào giữa những năm 1920, Paris là tủ kính trưng bày các sản phẩm thời trang, trở thành biểu tượng của sự thanh lịch và là nơi xuất phát của nhiều trào lưu thẩm mỹ. Trong bối cảnh ấy, Jeanne Lanvin đã cố gắng để lại dấu ấn của mình. Tuy không sản xuất đại trà, không khuếch trương thành một tập đoàn lớn, Lanvin đã làm ăn thành công, thực hiện được tất cả những mong muốn vào thời của mình.

    Nói như vậy, phải chăng Lanvin là một trong những gương mặt tiên phong của ngành thời trang cao cấp của Pháp đầu thế kỷ XX ? Vai trò của Jeanne Lanvin có quan trọng như Elsa Shiaparelli hay Coco Chanel ? Nhà văn Jérôme Picon nhận xét :

    Quả thật Jeanne Lanvin là một trong những người đi đầu ngành thời trang, thậm chí ta có thể nói rằng bà Lanvin đã mở đường cho lớp đi sau, trong đó có Coco Chanel (1910) và Elsa Shiaparelli (1927). Bà Lanvin đã thành công trong việc xây dựng một thế giới xung quanh các bộ sưu tập thời trang của mình, đặc biệt là trong những năm 1920, bà đã có một tầm nhìn xa, tìm cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên nhiều phương diện, trước khi ngành xa xỉ phẩm thực sự ra đời. Về điểm này có thể nói bà là một doanh nhân thực thụ. Sinh thời, bà đã gầy dựng được cả một sự nghiệp đồ sộ : từ một thợ làm nón rất nghèo, bà đã tích lũy được một khối tài sản khổng lồ, nhờ biết nắm bắt thị hiếu của khách hàng và đầu tư vào những ngành nghề sinh lời cao.

    Gần 140 năm sau ngày được thành lập, hiệu thời trang Lanvin hiện còn lưu lại được những gì ? Theo tác giả Jérôme Picon, một trong những nghịch lý của hiện tượng Lanvin đó là tuy có rất nhiều tài liệu lưu trữ về sự nghiệp của bà, đời tư của nhân vật nổi tiếng này vẫn còn nhiều nét bí ẩn :

    Có lẽ phần thú vị nhất, sinh động nhất khi nhắc đến cuộc đời của bà Jeanne Lanvin, vẫn là mối quan hệ của nhà thiết kế với đứa con gái ruột của mình. Sinh thời, Marguerite Lanvin còn được gọi là Marie Blanche, vừa là hình mẫu lý tưởng, vừa là tình thương cao quý nhất. Có lẽ cũng vì thế suốt đời, bà Lanvin đã cống hiến hầu như mọi tác phẩm cho đứa con gái.

    Sinh thời, thời trang Lanvin thành công rực rỡ cho đến ngày qua đời của nhà sáng lập vào năm 1946. Con gái của bà Lanvin lên thay mẹ tiếp quản điều hành công ty nhưng không thành công như ban đầu. Tưởng chừng như chìm dần vào lãng quên, thời trang Lanvin lại huy hoàng một lần nữa khi nhà thiết kế Alber Elbaz được tập đoàn l'Oréal bổ nhiệm làm giám đốc nghệ thuật. Với phong cách thiết kế đơn giản nhưng đầy nét quyến rũ thanh lịch, sang trọng, Alber Elbaz được xem là người thừa kế xứng đáng nhất tư duy thẩm mỹ của Lanvin. Hiện giờ, vẫn còn nhiều sản phẩm Lanvin thịnh hành trên thị trường quốc tế, trong đó có nước hoa Arpège, từng được sáng chế cách đây gần một thế kỷ, vào năm 1927 nhân dịp sinh nhật 30 tuổi của con gái Marguerire Lanvin (1897-1958), sau này trở thành (Marie-Blanche de Polignac) vợ của bá tước Jean de Polignac. Năm 1927 gắn liền với một trong những thời kỳ huy hoàng nhất của hiệu thời trang Lanvin.

    Khi Jeanne Lanvin chào đời vào năm 1867, không có bà tiên nào đã ban phúc trên chiếc nôi của cô bé gái. Xuất thân từ một gia đình nghèo, không được học chữ, Jeanne buộc phải đi làm từ năm 13 tuổi. Nhưng cũng chính sự chịu khó ấy đã giúp bà gầy dựng cả một sự nghiệp thời trang. Lanvin giờ đây không thể tách rời khỏi những thương hiệu vĩ đại của làng thời trang cao cấp và hiện là công ty lâu đời nhất của Pháp vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay. Nếu như Chanel thiết kế trang phục phụ nữ theo cách nhìn của một người đàn bà tự chủ và độc lập, thì Lanvin thiết kế quần áo theo cách nhìn lý tưởng của một người mẹ. Tất cả những thiếu thốn trong tuổi thơ, bà Lanvin sẽ bù đắp cho đứa con gái. Các nhà thiết kế đi sau nhờ biết duy trì tư duy sáng tạo này mà đã khôi phục được vầng hào quang sáng ngời của một hiệu thời trang lâu đời. 

    9 min

About Tạp chí văn hóa

From the publisher's feed

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

More shows like Tạp chí văn hóa

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí tiêu điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí tiêu điểm

0 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners