Tạp chí văn hóa

Tạp chí văn hóa

By RFI Tiếng ViệtArts
Download on the App Store

Tạp chí văn hóa episodes

  • Triều đình Huế qua lăng kính của nghệ sĩ Việt và Pháp cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20

    Một hoàng đế Việt Nam bộ hành đến đàn Nam Giao làm lễ tế trời. Một phái bộ Pháp được triều Nguyễn đón tiếp. Chân dung từng thành viên của phái bộ do chánh sứ Phan Thanh Giản dẫn đầu đến Paris đàm phán chuộc lại ba tỉnh miền Tây... Tác giả những hình ảnh quý hiếm này là các họa sĩ và nhiếp ảnh gia người Việt, Pháp và được giới thiệu trong triển lãm “Cái nhìn giao thoa về triều đình Huế” (Regards croisés sur la Cour impériale de Huế), Bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac từ ngày 06/03 đến 30/06/2025.

    Những nghệ sĩ vô danh ghi lại lịch sử

    Không có quy mô lớn, triển lãm giới thiệu đến công chúng bối cảnh sáng tác những tác phẩm đó trong môi trường thuộc địa và triều đình Huế không ngừng thu hút sự tò mò của người Pháp. Được thể hiện qua lăng kính của các nghệ sĩ Pháp, Việt, các tác phẩm được đặt cạnh nhau mà không đối lập nhau để người xem có thể hiểu rõ hơn về động lực, mục đích của từng tác giả. Và đặc biệt hơn nữa, họ đều là những người vô danh.

    Caroline Herbelin, tiến sĩ lịch sử nghệ thuật, giảng viên Đại học Albany, Mỹ, đồng phụ trách triển lãm với Sarah Ligner - quản lý di sản Bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac, giải thích với RFI Tiếng Việt :  

    “Mục đích của chúng tôi là trưng bày các tác phẩm có từ trước khi Trường Mỹ thuật Đông Dương thành lập vào năm 1924 đánh dấu sự khởi đầu cho nghệ thuật hiện đại ở Đông Dương. Qua triển lãm nhỏ này, chúng tôi hy vọng người xem sẽ khám phá ra những họa sĩ ít được biết đến như Nguyễn Văn Nhân, Tôn Thất Sa hay Nguyễn Thứ. Chúng tôi biết được đôi chút thông tin về tiểu sử vì họ tham gia vào Hội Những người bạn Cố đô Huế, được thành lập năm 1913 để đề cao di sản văn hóa Huế.

    Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm được trưng bày đều vô danh. Điều này là do tính chất công việc ban đầu. Những tác phẩm này không phải do các nghệ sĩ - theo định nghĩa phương Tây - tạo ra mà là các công chức hoặc viên chức cấp cao. Họ được đào tạo bài bản về quan chức triều đình, kể cả việc thành thạo thư pháp, hội họa và họ thực hiện những tác phẩm này song song với công việc. Ngoài ra còn có một số tác phẩm có thể được thực hiện bởi các nghệ nhân từ các xưởng chế tác hoàng gia”.

    Về phía các nghệ sĩ hoặc người Pháp đặt hàng, khó có thể tách bạch sự say mê với nghi lễ quân chủ, sự trân trọng về văn hóa và vẻ đẹp, sự quan tâm tìm tòi tài liệu và mục đích tuyên truyền. Còn người nghệ sĩ Việt Nam đáp ứng mong đợi của người đặt hàng, nhưng không để bị phục tùng. Họ đưa vào đó cách nhìn riêng, diễn giải lại văn hóa của họ thông qua các quy tắc và phong tục mới. Có thể thấy điều này, cũng như sự khác biệt của hội họa truyền thống Việt Nam, trong tác phẩm khổ lớn Lễ tiếp đón quan chức Pháp ở triều đình Huế (Réception de personnalités françaises à la cour de Huế), theo giải thích của Caroline Herbelin :

    “Điều thú vị là với những tác phẩm có hai kiểu khổ này, người ta thấy được những yếu tố vẫn có trong hội họa dân gian Việt Nam, ví dụ tranh khắc dân gian, khắc chữ phổ biến ở xứ Huế, và đáng chú ý là các vùng phẳng có màu sắc tươi sáng. Tác phẩm “Lễ tiếp đón quan chức Pháp ở triều đình Huế” không sử dụng bóng và hầu như không tạo khối, trái với những gì người ta thấy có trong hội họa châu Âu.

    Nhưng thú vị nữa là cũng có thể thấy những yếu tố trong hội họa Trung Quốc thời bấy giờ, đặc biệt là cảm hứng từ tranh xuất khẩu của Trung Quốc, từ cuối thế kỷ 18 và được làm riêng cho thị hiếu châu Âu. Do đó có thể thấy trong những tác phẩm ở Việt Nam có điểm tương đồng phần nào, đặc biệt là việc sử dụng phối cảnh, phẳng, khổ hình chữ nhật, vuông dễ vận chuyển, thường được đóng khung để treo cố định trên tường. Những điểm này khác hẳn với những bức tranh cổ điển ở Việt Nam, thường là tranh cuộn theo chiều dọc và chiều ngang, không treo hoặc trưng bày cố định được”.

    Phá vỡ uy nghi, đưa triều đình đến gần thần dân

    Các tác phẩm được chia ra làm ba chủ đề trong triển lãm : Nghi lễ và nghi thức ; Quyền lực và phô trương ; Tiếp xúc và hợp tác. Lễ tế trời ở đàn Nam Giao được tái hiện trong tác phẩm “Đoàn rước đến đàn Nam Giao” do Nguyễn Thiện Thủ, đội trưởng lính canh hộ thành, vẽ màu nước, mực Tàu trên giấy vào cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 là tác phẩm hiếm hoi phác họa cuộc sống, hoạt động của triều đình, một trong những chủ đề thu hút sự hiếu kỳ của người Pháp khi mới tới Việt Nam. Sau này, nhiếp ảnh làm đảo lộn hoàn toàn mối quan hệ giữa thường dân và hoàng đế, triều đình. Theo giải thích của Caroline Herbelin, sự thay đổi này phần nào là do người Pháp sắp đặt :

    “Cần phải hình dung rằng các buổi lễ, nghi thức là những thời khắc rất quan trọng để khẳng định quyền lực của triều Nguyễn. Đó là thời điểm duy nhất mà một bộ phận dân chúng có thể tiếp xúc, dù là từ rất xa, với hoàng đế và triều đình và phải làm một cách cực kỳ kín đáo, không được phép lại gần, nhất là không được nhìn thẳng.

    Với những bức ảnh này, điều cấm kỵ bị phá vỡ theo một cách nào đó, nhất là người Pháp cho thấy rõ là họ tìm cách kiểm soát hình ảnh của chế độ quân chủ. Cụ thể là vào năm 1886, Pháp gửi tới Bộ Lễ yêu cầu được chụp bức ảnh đầu tiên của hoàng đế, lúc đó là vua Đồng Khánh. Chúng ta thấy là người Pháp khuyến khích giảm mức độ thiêng liêng về hình ảnh của hoàng đế như thế nào. Mục đích là hiện đại hóa hình ảnh của hoàng đế, đồng thời để Pháp thể hiện rằng họ là người bảo vệ các vị vua nhà Nguyễn”.

    Khoảng cách giữa hoàng đế và thần dân trong các dịp lễ hội được thu hẹp hơn. Điều này được thấy rõ trong album ảnh “Lễ tế Nam Giao do Bảo Đại, hoàng đế An Nam, chủ trì” của Tang-Vinh năm 1933.

    “Lễ tế trời ở đàn Nam Giao, một trong những nghi lễ thiêng liêng nhất thời nhà Nguyễn. Qua các bức ảnh, người ta thấy vua Bảo Đại trong từng bước tiến hành buổi lễ này. Điều ngạc nhiên là có thể thấy vua Bảo Đại đi bộ và gần như đứng giữa đám đông, lại là với người châu Âu đi cùng với con nhỏ, v.v. Chúng ta thấy có sự thay đổi thực sự giữa hình tượng một vị vua gần như không bao giờ nhìn thấy được và hình ảnh cho thấy sự giảm mức thiêng liêng về vị thế của hoàng đế, cũng như hình ảnh hiện đại của chế độ quân chủ.

    Điều thú vị hơn nữa là bộ ảnh này do một nhiếp ảnh gia người Việt, tên là Tang-Vinh (tên được ghi trên sách), thực hiện. Ông là một trong số ít nhiếp ảnh gia người Việt có mặt tại Huế. Vào thời điểm đó, trong những năm 1930, chỉ có ba nhiếp ảnh gia. Và đó cũng là điều chúng tôi muốn thể hiện trong triển lãm nhỏ này, rằng có sự tiếp thu các kỹ thuật châu Âu, nhưng hoàn toàn không phải là thụ động. Người Việt Nam thực sự tiếp thu các kỹ thuật của châu Âu một cách tự nguyện và biến chúng thành của mình”.

    Triều đình Huế trong lăng kính của nghệ sĩ Pháp

    Ngay từ thế kỷ 17, Việt Nam và Pháp đã có những tiếp xúc nghệ thuật đầu tiên nhờ công sức phổ biến kỹ thuật vẽ tranh phương Tây của các nhà truyền giáo. Khách tham quan có thể khám phá một bất ngờ về một vị quan thời Gia Long nhưng là người Pháp Jean-Baptiste Chaigneau (1769-1832). Ông đến Việt Nam năm 1794, tham gia quân đội của vua Gia Long, lấy tên Việt là Nguyễn Văn Thắng và lập gia đình ở Việt Nam. Năm 1805 đã có một bức tranh về vị quan gốc Pháp này. Tranh gốc bị thất lạc nhưng một bản sao được họa sĩ Paul Sarrut tái bản năm 1923 trong Tập san Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Huế).

    Một tài liệu hiếm khác là bộ ảnh về phái đoàn Phan Thanh Giản ở Paris. Theo Caroline Herbelin, tập ảnh do Jacques-Philippe Potteau, thành viên Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Pháp, thực hiện theo yêu cầu của hoàng đế Napoleon III.

    “Năm 1863, phái đoàn Việt Nam do Phan Thanh Giản dẫn đầu đến Pháp để đàm phán lại Hòa ước Nhâm Tuất (Hiệp ước Sài Gòn 1862). Những bức ảnh này vẫn được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, nhờ đó mà có Bảo tàng Quai Branly có nhiều bản sao. Đó là lần đầu tiên người ta chụp ảnh các quan triều đình Việt Nam nhằm mục đích về nhân chủng học. Những bức ảnh đó được lan truyền rộng rãi ở cả châu Âu và Việt Nam”.

    Cho đến thời điểm đó, chân dung của hoàng đế và các chức sắc cấp cao đều có chức năng đặc biệt và không được phép trưng bày trước công chúng. Nhờ nhiếp ảnh, cảnh vật và cuộc sống trong hoàng cung - vốn không thể hình dung được đối với dân thường - có thể được các nghệ sĩ tái hiện bên ngoài hoàng cung. Nhiếp ảnh đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hình ảnh về triều đình.

    Tất cả những tác phẩm trưng bày trong triển lãm “Cái nhìn giao thoa về triều đình Huế” có từ đâu ? Caroline Herbelin giải thích :

    “Tất cả các tác phẩm đều đến từ bộ sưu tập của Bảo tàng Quai Branly. Chúng đến từ nhiều nguồn khác nhau, từ bộ sưu tập của Bảo tàng Con người (Musée de l’Homme), quỹ triển lãm thuộc địa, bộ sưu tập của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp. Nhưng điều thú vị là hầu hết các các tác phẩm này có một điểm chung là yếu tố quân sự. Các họa sĩ Pháp, họa sĩ nghiệp dư Bolliand hay Paul Sarrut đều là quân nhân. Còn về phía các tác phẩm Việt Nam, phần lớn chúng đến từ các bộ sưu tập cá nhân của các quân nhân, bởi vì những tác phẩm đó được làm riêng cho người châu Âu”.

    Tất cả những tác phẩm được trưng bày đều được thống kê trong cơ sở dữ liệu của Bảo tàng Quai Branly và trang web về triển lãm cùng với lời giới thiệu. Người xem có thể truy cập và có thể tìm thấy dưới dạng ảnh số. Triển lãm là bước đầu của một dự án đang được thực hiện. Hai nhà đồng phụ trách Sarah Ligner và Caroline Herbelin hy vọng có thể kết hợp với đồng nghiệp để tổ chức một triển lãm tương tự ở Việt Nam, nơi cũng lưu trữ rất nhiều hình ảnh và để hình về triều đình Huế được lan truyền.

    10 min
  • Pháp : Trào lưu chuyển thể thành phim các bộ truyện kinh điển

    Mặc dù chỉ giành được hai giải César trên tổng số 14 đề cử, nhưng bộ phim Pháp thắng lớn trong năm vừa qua vẫn là « Bá tước Monte Cristo », phóng tác từ truyện của văn hào Dumas. Nam diễn viên Pierre Niney đã không lầm khi đăng tin nhắn trên mạng xã hội Instagram : phần thưởng lớn nhất vẫn là tình cảm ưu ái của khán giả. Về điểm này, bộ phim đã lập kỷ lục với hơn 9 triệu lượt người xem.

    Thành công tột bậc của « Bá tước Monte Cristo » (Le Comte de Monte Cristo) đã tạo thêm cơ hội cho các nhà sản xuất lao vào khai thác kho truyện kinh điển của Pháp. Sau loạt phim truyền hình « Nautilus » phóng tác từ bộ tiểu thuyết « Hai vạn dặm dưới đáy biển » (20.000 lieues sous les mers) của Jules Verne, đã có hai tập « Ba chàng lính ngự lâm » (Les trois mousquetaires) trên màn ảnh rộng. Năm nay, có nhiều dự án sắp được cho ra mắt. Đầu tiên hết là bản điện ảnh mới của Những người khốn khổ (Les Misérables) dựa theo kiệt tác của văn hào Victor Hugo, với Vincent Lindon trong vai chính. Đây sẽ là phiên bản phóng tác thứ 32 trong gần một thế kỷ qua.

    Kế đến có dự án « Truy lùng Fantômas », dựa theo bộ truyện nhiều kỳ đăng trên báo vào những năm 1910 của hai tác giả Pierre Souvestre và Marcel Allain. Phiên bản nổi tiếng trước đây là vào giữa những năm 1960, với vua hề Louis de Funès và tài tử Jean Marais trong vai chính. Còn bản mới được giao cho đạo diễn Frédéric Tellier (Vụ án SK1) và có khả năng Vincent Cassel sẽ đảm nhận vai chính.

    Hợp tác giữa ngành xuất bản và các hãng phim

    Cuối cùng và quan trọng không kém là dự án quay phim « Bóng ma trong nhà hát » (Le Fantôme de l'Opéra) dựa theo quyển tiểu thuyết nhiều kỳ đăng trên báo của Gaston Leroux vào năm 1909. Tác phẩm nổi tiếng này đã trở thành nguồn cảm hứng cho hàng chục phiên bản chuyển thể kể cả điện ảnh, truyền hình và nhạc kịch. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là hầu hết các bản phóng tác đều do các đạo diễn nước ngoài thực hiện (Anh, Mỹ hay Ý). Đây là lần đầu tiên bộ phim sẽ được quay bằng tiếng Pháp với dàn diễn viên trẻ như Deva Cassel, Julien de Saint Jean (từng thành công trong Monte Cristo) và Romain Duris (vai chính trong phim tiểu sử về Gustave Eiffel). Phiên bản điện ảnh mới lấy cảm hứng từ câu chuyện tình bí ẩn trong nhà hát Opéra Garnier của Paris lộng lẫy xa hoa vào cuối thế kỷ XIX, kết hợp hai thể loại tâm lý hồi hộp với phim huyền ảo theo kiểu « Twilight ».

    Theo Trung tâm Điện ảnh Quốc gia CNC, trong gần một thập niên vừa qua, đã có hơn 1.400 bộ phim điện ảnh cũng như truyền hình là các bản phóng tác từ tiểu thuyết, tính trung bình có khoảng 70 tác phẩm được chuyển thể mỗi năm. Theo cô Jessy Neau, giáo sư khoa Văn học so sánh tại trường đại học Poitiers, hiện tượng chuyển thể sách thành phim đã có từ lâu, nhưng lại đặc biệt tăng mạnh trong những năm gần đây, nhờ vào sự hợp tác chặt chẽ giữa ngành xuất bản và các nhà làm phim. Trào lưu này vừa giúp công chúng khám phá lại các tác phẩm văn học nhưng đồng thời là động lực kinh tế đẩy nền điện ảnh ra khỏi vòng khủng hoảng.

    « Theo khảo sát gần đây của Trung tâm Điện ảnh Quốc gia, ta có thể nhận thấy, 20% các bộ phim được cho ra mắt ở Pháp, tức 1/5 đều được chuyển thể từ sách in. Mặc dù các kịch bản gốc, không dựa vào tiểu thuyết hay truyện ngắn vẫn còn giành ưu thế, nhưng rõ ràng là kịch bản phóng tác đang dần lớn mạnh, đóng một vai trò quan trọng hơn. Điều này chủ yếu là do sự thành công tại các rạp chiếu phim của các tác phẩm điện ảnh phóng tác từ các quyển tiểu thuyết nổi tiếng. Sở dĩ có nhiều tựa sách được chuyển thể lên màn ảnh rộng là vì kể từ hơn một thập niên qua, hai ngành xuất bản sách và sản xuất phim đã xích lại gần nhau để hợp tác chặt chẽ hơn nữa.

    Bằng chứng là kể từ 10 năm nay, trong khuôn khổ liên hoan Cannes, hội chợ phim đã cho ra đời sự kiện « Shoot the Book ». Chương trình này tuyển chọn kỹ lưỡng rồi giới thiệu với giới sản xuất những tựa sách có cốt truyện hấp dẫn, có nội dung phù hợp để chuyển thể thành phim. Đằng sau chương trình « Shoot the Book », có sự tham gia của Hiệp hội SCELF (Société civile des Éditeurs de Langue Françaises) bao gồm hơn 300 nhà xuất bản tiếng Pháp. Ngoài liên hoan phim Cannes, tổ chức này còn hiện diện tại Hội chợ sách Paris. Điều đó cho thấy nỗ lực chuyên nghiệp hóa của ngành xuất bản, một mặt tạo cơ hội chuyển thế một số tiểu thuyết mới lên màn ảnh lớn, đồng thời khai thác lại những tác phẩm kinh điển. Có thể nói là các kịch bản phóng tác đang dần lớn mạnh trở lại một phần là cũng nhờ vào chương trình này, tạo thêm sự kết nối giữa văn học và điện ảnh ».

    Phim Pháp : 70 kịch bản phóng tác mỗi năm

    Vao lúc các rạp chiếu phim vẫn chưa tìm lại được mức hoạt động bình thường như vào năm 2019, ngành sản xuất hơn bao giờ hết vẫn cần có những tác phẩm điện ảnh có đủ sức lôi kéo khán giả vào rạp. Việc tận dụng khai thác những câu chuyện nổi tiếng với dàn diễn viên quen thuộc lại hợp với nhiều đối tượng, thay vì phải chia thành nhiều phân khúc. Theo giáo sư Jessy Neau, yếu tố này giải thích phần nào vì sao các nhà phim Pháp không muốn đầu tư vào các dự án có nhiều rủi ro, mà lại chọn những bộ phim chuyển thể từ các tác phẩm văn học kinh điển.

    « Năm vừa qua đánh dấu sự trở lại trên màn ảnh lớn của nhiều bộ phim dựng từ các tiểu thuyết kinh điển : Ba chàng lính ngự lâm cũng như Bá tước Monte Cristo của Alexandre Dumas, bộ phim Vỡ mộng dựa theo Les Illusions Perdues của văn hào Balzac … Sở dĩ các nhà biên kịch nối lại với các bộ tiểu thuyết nổi tiếng hay các tác phẩm văn học đồ sộ có từ thế kỷ XIX, là vì các bộ truyện này rất hay và dễ hiểu đối với mọi người. Thời kỳ Covid đã gây khá nhiều thiệt hại cho ngành điện ảnh, giờ đây để thu hút đông đảo khán giả trở lại các rạp chiếu phim, các nhà sản xuất trông cậy rất nhiều vào các tác phẩm phù hợp với mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến giới cao niên.

    Thị trường phim ảnh được chia thành nhiều phân khúc : Giới trẻ thích xem phim giải trí « thương mại », còn giới lớn tuổi thì lại chuộng phim « nghệ thuật » hơn. Trường hợp của bộ phim Bá tước Monte Cristo hội tụ cả hai yếu tố này, phim lộng lẫy hoành tránh đủ để thu hút giới trẻ đã quen xem thể loại hành động blockbuster, bộ phim cũng có cốt truyện hay và có đủ chiều sâu để nhắm vào đối tượng cao tuổi. Xa hơn nữa, nhờ vào kinh phí đầu tư, phim trở nên hấp dẫn cho thành phần khán giả nào mê phim cổ trang, gọi là xưa nhưng vẫn hợp với mọi thời ».

    Sự khởi sắc của những phiên bản phóng tác có nguy cơ làm thụt lùi các kịch bản nguyên tác. Liệu điều này có ảnh hưởng tới công việc của những người viết kịch bản hay chăng. Theo cô Jessy Neau, giảng viên đại học Poitiers, ngành làm phim đủ rộng lớn để cho các nhà viết kịch bản gốc vẫn còn đất dụng võ. Trước mắt, các serie truyền hình đều đang tuyển dụng các tài năng soạn kịch bản nguyên tác.

    « Cũng cần biết rằng kịch bản nguyên tác hay phóng tác đều cần đến các nhà biên kịch. Trong trường hợp của một tác phẩm gốc, đội ngũ sáng tạo phải viết kịch bản từ đầu đến cuối. Còn trong phóng tác, các nhà biên kịch cũng phải nỗ lực rút ngắn một bộ tiểu thuyết dày đặc thành một kịch bản vài chục trang. Dĩ nhiên là sự lớn mạnh của phim phóng tác khiến nhiều người lo ngại kịch bản gốc đang bị thụt lùi, trong khi thể loại này được đánh giá có nhiều sức sáng tạo hơn. Công việc phóng tác có thể ảnh hưởng tới những người viết kịch bản gốc, họ ít có cơ hội hơn, thế nhưng các xu hướng thịnh hành này cũng chỉ là nhất thời.

    Có khá nhiều nhà biên kịch chuyển từ điện ảnh sang truyền hình. Thời kỳ Covid làm gia tăng sức hấp dẫn của các bộ phim truyền hình nhiều tập, và các tác giả lao vào khai thác thị trường này. Hình thức phim dài nhiều tập hay nhiều mùa cũng bảo đảm việc làm cho họ trong một thời gian, để phát huy ý tưởng thành một kịch bản gốc xuất sắc. Nhìn chung, ngành sản xuất phim vẫn cần có cả hai, cho dù trên màn ảnh lớn tại Pháp hiện nay, ăn khách nhất vẫn là những bộ phim xuyên thế hệ, chỉ một tác phẩm duy nhất nhưng lại nhắm cùng lúc vào nhiều thành viên trong cùng một gia đình. Điều đó giải thích vì sao các nhà biên kịch vẫn đang khai thác mạnh kho tiểu thuyết kinh điển của Pháp ».

    10 min
  • Guy Savoy, đầu bếp Pháp đầu tiên được bầu vào Viện Hàn lâm Mỹ thuật

    Lần đầu tiên trong lịch sử Pháp, một đầu bếp trứ danh và đồng thời là một trong những gương mặt tiêu biểu của làng ẩm thực Pháp, ông Guy Savoy được bầu vào Viện Hàn lâm Mỹ thuật hồi trung tuần tháng 11/2024. Qua động thái chưa từng có này, Viện Hàn lâm đã công nhận ẩm thực như một môn nghệ thuật theo đúng nghĩa của từ, ngang tầm với hội họa, điêu khắc hoặc kiến trúc.

    Sự kiện một đầu bếp gia nhập Viện Hàn lâm Mỹ thuật, một định chế hơn 200 tuổi, nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành ẩm thực nói chung, góp phần tạo thêm ảnh hưởng của Pháp thông qua các biểu tượng văn hóa nghệ thuật. Nói cách khác, khái niệm ẩm thực từ nay được xem là một trong những trụ cột của « quyền lực mềm » của nước Pháp trên toàn thế giới. Không phải ngẫu nhiên lễ trao giải La Liste hàng năm, danh sách bao gồm 1.000 nhà hàng ngon nhất thế giới được tổ chức tại bộ Ngoại Giao Pháp - Quai d'Orsay, điều đó nêu bật tầm ảnh hưởng của ẩm thực trong việc củng cố hình ảnh và gây dựng uy tín của nước Pháp ở nước ngoài.

    Vào nghề ẩm thực từ năm 16 tuổi, ông Guy Savoy ban đầu theo học nghề làm bánh ngọt và chocolat với thầy Louis Marchand, sau đó chuyển sang học nghề nấu ăn với hai anh em Trois Gros tại thị trấn Roanne. Bạn học « cùng bếp » với ông Guy Savoy lúc bấy giờ chính là ông Bernard Loiseau và đôi bạn đều trở nên nổi tiếng từ giữa những năm 1970 trở đi. Trong vòng 50 năm sự nghiệp, tên tuổi của Guy Savoy được gắn liền với nhiều giải thưởng có uy tín, trong đó có danh hiệu « Nhà hàng ngon nhất thế giới » theo bảng xếp hạng La Liste trong 7 năm liền, dành cho nhà hàng mang tên ông nằm trên tầng một của Viện Bảo tàng « La Monnaie de Paris ».

    Guy Savoy : « Nhà hàng ngon nhất thế giới » trong 7 năm liền

    Mặc dù bị ban điều hành sách hướng dẫn Michelin tước mất ngôi sao thứ ba trong năm vừa qua, nhưng tài năng của ông Guy Savoy vẫn tiếp tục tỏa sáng nhờ lối tiếp cận khác thường, cách nấu ăn độc đáo, luôn đì tìm thế cân bằng giữa truyền thống và sáng tạo. Trong số các món ăn tiêu biểu nhất của ông (signature), có món súp atisô với nấm truffle đen, rắc một chút phô mai ăn kèm với bánh brioche nướng phồng, xốp mềm.

    Về mặt lịch sử, nước Pháp gồm 5 viện hàn lâm tập hợp dưới định chế Institut de France, trong đó lâu đời nhất vẫn là Viện Hàn lâm Pháp được thành lập năm 1635, tức cách đây gần 4 thế kỷ. Kế đến có các Viện Hàn lâm Văn học (1663), Khoa học (1666), Khoa học Đạo đức và chính trị (1795), và cuối cùng đến phiên Viện Hàn lâm Mỹ thuật (Beaux-Arts) được thành lập vào năm 1816, chủ yếu bao gồm các môn nghệ thuật cổ điển như hội họa, điêu khắc, âm nhạc hay kiến trúc …

    Hai thế kỷ sau ngày được thành lập (1816), Viện Hàn lâm Mỹ thuật cuối cùng cũng đã công nhận ẩm thực có giá trị ngang tầm với nhiều môn nghệ thuật. Ông Guy Savoy trở thành đầu bếp đầu tiên khoác lên vai bộ « trang phục » màu xanh lục, trong tiếng Pháp họ còn được gọi là « bất tử » (les immortels). Trả lời phỏng vấn RFI Pháp ngữ, đầu bếp Guy Savoy đã cho biết cảm tưởng của ông cũng như quá trình xin gia nhập Viện Hàn lâm Mỹ thuật :

    « Tôi biết được tin này hôm 13/11/2024. Dĩ nhiên, trước đó tôi đã nộp hồ sơ xin gia nhập Viện Hàn lâm Mỹ thuật và cuộc vận động để được kết nạp làm thành viên đã kéo dài trong hai năm, tính từ năm 2022. Vào thời bấy giờ, một số viện sĩ không hiểu vì sao ẩm thực Pháp đã được công nhận như một bộ môn nghệ thuật, từng được Unesco xếp vào hàng di sản văn hóa thế giới, nhưng vẫn chưa có một gương mặt nào đại diện cho ngành ẩm thực tại Viện Hàn lâm Mỹ thuật. Để được kết nạp, ứng cử viên phải nhận được đa số phiếu bầu của hơn 50 thành viên áo xanh thuộc Viện Hàn lâm Mỹ thuật.

    Đây là một bước tiến tuyệt vời không những cho ngành ẩm thực mà còn thể hiện « nghệ thuật sống » theo quan niệm của người Pháp. Bản thân tôi vẫn tự xem mình là một nghệ nhân, chỉ có Viện Hàn lâm Mỹ thuật mới có thẩm quyền xem một nghề thủ công có xứng đáng được gọi là nghệ thuật hay không. Sự kiện này rất quan trọng vì nó mở đường cho việc kết nạp những nghệ nhân sau này (làm rất nhiều nghề khác nhau dù ở trong cùng một ngành ẩm thực) ».

    Khi nhận được tin ông được kết nạp làm thành viên Viện Hàn lâm Mỹ thuật, ông Guy Savoy đã nghĩ đầu tiên hết tới song thân, những người từng luôn khuyến khích ông thực hiện giấc mơ của mình. Nhưng đồng thời, ông cũng nghĩ tới những người đã khuyên ông nên từ bỏ nghề nấu ăn, đầu bếp người Pháp cho biết vì sao ông lại không nản chí :

    « Dĩ nhiên, đầu tiên, tôi nghĩ tới ngay bố mẹ tôi, chỉ tiếc rằng ông cụ bà cụ đã không còn sống trên đời, để cùng chia sẻ với tôi niềm vui hôm nay. Nhưng ngay sau cảm tưởng thích thú ngạc nhiên trong những giây phút đầu tiên, tôi lại nghĩ đến tất cả những khó khăn rào cản trong quá khứ, để cho tôi có được ngày hôm nay. Bỗng nhiên, bao kỷ niện thời niên thiếu lại ùa về trong tâm trí. Tôi nhớ lại thời tôi còn ở trường trung học, lớp 9 hay lớp 10 ở thị trấn Bourgoin-Jallieu (cách thành phố Lyon khoảng 40 cây số về phía đông nam). Ở tuổi 16, tôi chưa bao giờ bị ở lại lớp, nhưng không hiểu vì sao các thầy lại xếp tôi vào diện học trò dốt. Phải nói rằng lúc ấy, tôi chỉ có đủ điểm trung bình, ít quan tâm đến việc học chữ mà lại thích học nghề.

    Tôi còn nhớ là hồi đó, lớp tôi có 27 học sinh và tôi là người duy nhất biết rõ mình muốn theo đuổi nghề nào, trong khi đại đa số bạn cùng lớp đều không biết họ sẽ học ngành gì. Ngoại trừ bố mẹ tôi, hầu như chẳng có ai từ thầy cô cho đến bạn bè, khuyến khích tôi theo đuổi chuyện học nghề. Tôi hy vọng là tình hình giờ đây đã tốt hơn trước rất nhiều và quan niệm về chuyện học nghề đã thay đổi theo một chiều hướng tích cực hơn. Bởi vì vào thời của tôi, mọi gia đình khuyên con học thành bác sĩ, kỹ sư, chứ không có cha mẹ nào muốn con mình học nghề nấu ăn hay làm bánh mì.

    Do vậy, nếu có bậc phu huynh hay thầy cô nào đang nghe chương trình này, tôi hy vọng rằng các bậc người lớn sẽ khuyến khích con cái hay học trò của mình cố gắng thực hiện điều các em mong muốn thay vì làm cho các em xuống tinh thần, đến nỗi phải nản chí bỏ cuộc. Hãy cố gắng lên, cứ thử làm đi, đó mới là điều quan trọng ».

    Giá trị ẩm thực từ Brillat-Savarin đến Alexandre Dumas

    Thà muộn còn hơn không, hai thế kỷ sau ngày được thành lập, Viện Hàn lâm Mỹ thuật cuối cùng cũng vinh danh một đầu bếp. Nhưng theo ông Guy Savoy, trước ông, đã có một số gương mặt đại diện cho ngành ẩm thực Pháp đã xin được kết nạp, nhưng vì một lý do nào đó lại không thành công.

    « Trong quá khứ, đã có một số người đã thử xin gia nhập Viện Hàn lâm Mỹ thuật, nhưng lại gặp thất bại. Theo tác giả Jean-Claude Ribaut, tác giả của quyển « Dictionnaire gourmand du bien boire et bien manger » (Từ điển về Nghệ thuật ăn uống) do nhà xuất bản Du Rocher phát hành, sinh thời tên tuổi của Jean Anthelme Brillat-Savarin (1755-1826) từng được nhiều lần nhắc tới như người rất xứng đáng gia nhập Viện Hàn lâm Mỹ thuật. Lúc còn sống, ông là một thẩm phán kiêm chính trị gia tài ba, khi đến cuối đời, dù khá muộn nhưng độc giả mới phát hiện tài năng của ông chẳng những giỏi nấu ăn mà còn là một tác giả chuyên viết về ẩm thực. Có thể là vào thời bấy giờ, vốn kiến thức về ẩm thực ít được coi trọng như bây giờ. Có ý kiến cho rằng ẩm thực cũng như truyện tranh thuộc vào hàng thứ yếu so với các môn nghệ thuật khác, nhưng tôi lại không nghĩ như vậy. Theo tôi, ẩm thực đã có giá trị từ lâu, nhưng ít được công nhận có lẽ vì chưa đến thời. Và giờ đây chính là lúc để tôi cảm ơn các viện sĩ đã tạo cơ hội công nhận giá trị của nghệ thuật ẩm thực ».

    Cũng qua quyển từ điển của tác giả Jean-Claude Ribaut, người đọc khám phá rằng trong lịch sử Pháp, đã có khá nhiều nhân vật biết nấu ăn và đồng thời có một vốn kiến thức sâu rộng nếu không nói là uyên bác về ẩm thực. Về điểm này, có thể thấy là Brillat-Savarin, tác giả của quyển « Physiologie du goût » xuất bản vào năm 1825, không khác gì cho lắm văn hào Alexandre Dumas, từng viết quyển Từ điển lớn về ẩm thực « Le Grand dictionnaire de Cuisine », xuất bản vào năm 1870. Những quyển sách phê bình hay nghiên cứu của các tác giả này đã thực sự giúp ngành ẩm thực Pháp vươn lên một tầm cao mới, tỏa vầng hào quang sáng chói. 

    10 min
  • Phim « Dans la cuisine des Nguyễn » : Chuyện đôi đũa lệch trong gia đình gốc Việt

    « Dans la cuisine des Nguyễn » (Trong căn bếp gia đình họ Nguyễn) là tựa đề bộ phim của đạo diễn Stéphane Lý Cường. Năm nay 52 tuổi, anh từng tốt nghiệp khoa điện ảnh tại đại học Brooklyn (Mỹ) và trường cao đẳng Fémis (Pháp) chuyên về hình ảnh và âm thanh. Sau nhiều năm làm đạo diễn và sáng tác cho sân khấu kịch nghệ, lần đầu tiên anh Stéphane Lý Cường dấn thân sang ngành quay phim truyện.

    Dưới dạng nhạc kịch, đan xen tài tình những cảnh quay có đối thoại với các màn ca múa, bộ phim « Dans la cuisine des Nguyễn » kể lại câu chuyện của Yvonne Nguyễn (Clotilde Chevalier thủ vai), một phụ nữ trẻ người Pháp gốc Việt, nuôi mộng trở thành diễn viên chuyên nghiệp. Ước mơ của Yvonne làm cho mẹ cô (diễn viên Trần Nghĩa Ánh) thất vọng. Bà hy vọng Yvonne sớm lấy được một ông chồng có địa vị cao trong xã hội, nhưng trước mắt bà muốn con gái mình về làm chủ quán ăn gia đình.

    Đằng sau căn bếp của nhà họ Nguyễn, thực ra là câu chuyện phổ quát của nhiều cộng đồng người nhập cư. Những điểm bất đồng trong lối suy nghĩ thường làm nảy sinh mâu thuẫn gia đình. Chênh lệch tuổi tác cùng với khác biệt văn hóa Âu-Á khiến quan hệ thêm xung khắc giữa các thành viên sống chung một nhà.

    Bằng lối kể chuyện ít khi nào trực diện nhưng không kém phần tinh tế, đạo diễn Stéphane Lý Cường phác họa được câu chuyện của những đôi « đũa lệch » : mẹ « hiền » càng khuyên bảo, con gái càng cứng đầu, không phải mẹ đặt đâu, Yvonne cũng ngồi đó. Xen kẽ lời thoại khôi hài với những khoảnh khắc cảm động, hai mẹ con cũng phải tìm cách bù đắp khoảng cách chênh lệch, chấp nhận sự khác biệt để có thể hòa thuận gần gũi bên nhau.

    RFI : Nhân dịp ra mắt bộ phim « Dans la cuisine des Nguyễn » (Trong căn bếp gia đình họ Nguyễn), anh Stéphane Lý Cường đã có nhã ý ghé thăm ban Việt ngữ RFI. Thưa anh, được biết là sau nhiều năm hoạt động nhiều năm trong lãnh vực kịch nghệ, anh vừa chuyển sang thực hiện bộ phim đầu tay. Bước đầu này có ý nghĩa gì đối với anh ?

    Stéphane Lý Cường : Điều quan trọng nhất ở đây là tôi muốn kể lại một câu chuyện gia đình gốc Việt trên màn ảnh rộng : tôi sinh ra và lớn lên tại Pháp, bố mẹ tôi đều là người Việt. Nhưng qua phim ảnh, nhất là tại các rạp chiếu phim, những câu chuyện gia đình người Việt ở Pháp hiếm khi nào được nhắc tới, nếu không nói là chưa bao giờ, cho dù cộng đồng Việt Nam là một phần quan trọng trong xã hội Pháp. Tôi nghĩ đã đến lúc nên chia sẻ những câu chuyện như vậy. Cho dù cộng đồng châu Á có nhiều hình ảnh tích cực, thường được xem là hội nhập tốt, nhưng trong xã hội vẫn còn một số hành động phân biệt đối xử cũng như những định kiến về cộng đồng người châu Á.

    Về mặt nghề nghiệp, quả thực là tôi đã làm việc nhiều năm trong làng kịch nghệ, nhưng niềm đam mê lớn nhất của tôi vẫn là nghệ thuật thứ 7. Sau khi tốt nghiệp trường điện ảnh, cuộc sống lại đẩy đưa tôi đến với sân khấu kịch, nay tôi muốn tìm lại niềm đam mê điện ảnh đầu đời.

    RFI: Từ ý tưởng nhen nhúm ban đầu cho đến khi được viết thành kịch bản rồi quay phim cho màn ảnh lớn, một dự án có thể đòi hỏi rất nhiều thời gian. Anh còn nhớ ngẫu hứng làm phim đã nảy sinh từ lúc nào ?

    Stéphane Lý Cường : Cách đây hơn 10 năm, tôi đã sáng tác và dàn dựng một vở kịch mang tựa đề « Cabaret jaune citron », kể lại câu chuyện của Yvonne Nguyễn, một phụ nữ khoảng 30 tuổi nuôi mộng thành danh trong làngsân khấu nhạc kịch, nhưng gia đình lại đặt vào cô nhiều niềm hy vọng khác, từ đó mới nảy sinh những xung đột trong quan hệ gia đình. Vào thời bấy giờ, tôi đã muốn nói về thế hệ được nuôi dưỡng trong hai nền văn hóa khác nhau. Khi ta còn nhỏ, điều này được xem là một thách thức. Nhiều đứa bé do muốn lớn lên như bao trẻ em Pháp khác,nên ban đầu có thể không chấp nhận hay chối bỏ nét khác biệt văn hóa từ gia đình mình.

    Thế nhưng khi lớn lên, nền văn hóa kép ấy lại là một dịp may. Làm thế nào để tìm ra bản sắc của mình, mà vẫn dung hoà được cả hai nền văn hóa Pháp-Việt, giữa nơi sinh và nguồn gốc gia đình. Bộ phim « Dans la cuisine des Nguyễn » (Trong căn bếp gia đình họ Nguyễn) là dịp để cho tôi đi xa hơn nữa, khai thác đề tài này một cách thấu đáo, sâu sắc hơn. Do vậy, có thể nói là ý tưởng làm phim đã nhen nhúm cách đây 12 năm.

    RFI : Trong phim, nhân vật Yvonne Nguyễn đã nghe mẹ cô nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần : con nên chọn công việc này, con nên lấy anh kia làm chồng. Vấn đề là cô Yvonne Nguyễn không phải là dạng người ngoan hiền, dễ bảo. Vậy thì câu chuyện của Yvonne có phần nào giống như trường hợp của anh ?

    Stéphane Lý Cường : Trong phim này, có vài nét giống như câu chuyện đời tôi. Tôi sinh ra trong một gia đình có 8 người con, được dạy dỗ theo nề nếp truyền thống. Bố tôi tương đối cởi mở và để cho tôi theo đuổi các ngành nghệ thuật. Mẹ tôi thì khắt khe hơn, nhưng có lẽ cũng vì tôi là con trai út, cho nên tôi không chịu quá nhiều áp lực như các anh chị cả. Cho dù mẹ tôi hằng mơ ước sẽ có một bác sĩ trong gia đình, nhưng rốt cuộc trong 8 người con, không có đứa nào học đỗ ngành y.

    Khi biên soạn kịch bản phim, do cốt truyện có nhiều nét hư cấu, cho nên tôi đã nhấn mạnh đến sự chênh lệch giữa hai mẹ con Yvonne. Nhưng đó là mẫu số chung của nhiều gia đình nhập cư và điều này càng rõ nét hơn trong các gia đình gốc Việt. Mâu thuẫn gia đình thường nảy sinh từ sự khác biệt trong quan điểm của hai thế hệ, cha mẹ muốn con đỗ đạt thành tài, trở thành bác sĩ, kỹ sư. Trong khi con cái lại thường có những khát vọng, hoài bão khác hẳn. Khi còn nhỏ, tôi đã từng nghe cha mẹ tôi nhắc đến điều này rất nhiều lần.

    RFI : Trong bộ phim do anh thực hiện, ngoài nữ diễn viên Phạm Linh Đan trong vai nữ ca sĩ Trúc Đào, còn có sự tham gia khá bất ngờ của đạo diễn Thomas Joly. Anh đã gặp anh Thomas Joly trong hoàn cảnh nào ?

    Stéphane Lý Cường : Hầu như mọi người giờ đây đều biết đến đạo diễn Thomas Joly, vì anh Thomas đã dàn dựng toàn bộ những buổi lễ khai mạc cũng như bế mạc Thế vận hội Olympic và Paralympic. Tôi đã quan tâm theo dõi sự nghiệp của Thomas cách đây 10 năm, thời anh làm đạo diễn đồng thời diễn vai trong vở kịch Vua Richard đệ tam (Richard III). Cũng may là tôi có một người bạn nghệ sĩ quen biết Thomas, và gợi ý tôi nên gửi kịch bản phim cho anh ấy.

    Trong phim, anh Thomas Joly vào vai một đạo diễn Pháp thực hiện các đợt casting để tuyển lựa thành phần diễn viên cho một dự án nhạc kịch. Tại Pháp, Thomas Joly nổi tiếng như một đạo diễn, nhưng ít ai biết rằng anh ấy cũng thích làm diễn viên. Có lẽ cũng vì vậy mà sau khi đọc kịch bản xong, Thomas Joly đã nhận lời đóng phim, xuất hiện trong chuyến phiêu lưu điện ảnh đầu tiên của tôi trong vai tròđạo diễn.

    RFI: Sau khi được công chiếu tại nhiều liên hoan phim như Vevey (Thụy Sĩ), Saint Jean de Luz hay Compiègne (Pháp), bộ phim của anh đã đoạt được khá nhiều giải thưởng tại các liên hoan. Anh có thể kể lại cho thính giả đài RFI vài kỷ niệm đẹp với công chúng, khán giả đã đón nhận bộ phim của anh như thế nào ?

    Stéphane Lý Cường : Quả thực là mỗi lần đi dự các liên hoan, bộ phim đều được công chúng hưởng ứng nhiệt tình, làm tôi vui mừng xúc động. Nếu phải chọn một khoảnh khắc duy nhất để lại nhiều kỷ niệm đẹp thì đó sẽ là liên hoan « Paris Courts Devant » hồi trung tuần tháng Giêng năm 2025.

    Cả hai suất phim đều chật kín chỗ ngồi, đa số khán giả đã có những phản ứng một cách tích cực và tự nhiên trong những cảnh phim hài hước hay trong những đoạn cảm động. Sự hiện diện sau suất chiếu phim của hầu hết các diễn viên cùng với tôi, để trao đổi với công chúng tham dự liên hoan đã tạo ra nhiều giây phút cảm thông khó tả giữa đoàn phim với khán giả. Các suất chiếu phim này đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng khó phai.

    RFI: Vào ngày 5 tháng 3, phim ra mắt khán giả tại các rạp chiếu phim ở Pháp, Bỉ và Thụy Sĩ. Trong thời gian tới, anh và nhóm sản xuất có dự định đưa bộ phim này về trình chiếu tại Việt Nam ?

    Stéphane Lý Cường : Dĩ nhiên là tôi hy vọng bộ phim này sẽ có cơ hội ra mắt khán giả ở Việt Nam. Chúng tôi đã gửi tác phẩm đến một liên hoan phim ở Việt Nam với hy vọng ban tổ chức sẽ tuyển lựa phim để đưa vào chương trình chính thức. Nếu điều đó không xẩy ra thì đoàn làm phim vẫn hy vọng trong tương lai tổ chức các suất chiếu phim trong khuôn khổ hợp tác với các cơ quan văn hóa như Viện Pháp tại Việt Nam.

    Bản thân tôi hy vọng bộ phim sẽ được cho ra mắt tại Việt Nam bất kể khán giả là người Việt hay kiều dân Pháp sinh sống và làm việc ở ViệtNam, vì bộ phim này trước hết là một tác phẩm dành cho mọi thành phần khán giả.

    Xin thành thật cảm ơn anh Stéphane Lý Cường đã nhận trả lời phỏng vấn ban Việt ngữ RFI.

    10 min
  • Nhạc Pháp lời Việt: Patricia Carli, tác giả của "Mưa trên biển vắng" và "Muôn đời thiết tha"

    Cho dù tên tuổi của Patricia Carli có lẽ vẫn chưa quen thuộc lắm với công chúng, nhưng giới yêu nhạc Pháp chắc hẳn đã từng nghe qua những bản nhạc của tác giả này qua nhiều giọng ca nổi tiếng như Dalida hay Mireille Mathieu. Một số bài hát do Patricia Carli đồng sáng tác cũng đã được đặt thêm lời Việt chẳng hạn như những giai điệu « Tất cả cho anh » hay « Muôn đời thiết tha ».

    Tên thật là Rosetta Ardito, Patricia Carli sinh (năm 1938) tại thành phố Taranto, thuộc vùng Puglia miền nam nước Ý. Khi lớn lên, cô theo gia đình sang Bỉ định cư, nơi cha cô được tuyển làm thợ mỏ. Đến tuổi trưởng thành, Patricia bắt đầu đi hát, tham gia các liên hoan địa phương nhưng không cho bố mẹ hay biết. Bất chấp lời khuyên can của gia đình, cô quyết định rời nước Bỉ đến Pháp lập nghiệp.

    Thời gian đầu ở Paris tương đối khó khăn. Ban ngày, Patricia làm công việc rửa chén phụ bếp trong các quán ăn. Buổi tối, cô tham gia các buổi casting, ghi tên vào các cuộc thi hát với hy vọng ký được hợp đồng ghi âm điã nhạc. Dip may đến với Patricia Carli khi cô ngẫu nhiên gặp Nicole Barclay, vợ của nhà sản xuất nổi tiếng Eddie Barclay. Nhờ vào sự gửi gấm của hai vợ chồng Barclay, Patricia được giới thiệu với nhóm sáng tác của nhà sản xuất Léo Missir vào đầu những năm 1960. Sau vài lần ghi âm không thành công, ca sĩ Patricia Carli thành danh vào năm 1963 với nhạc phẩm « Demain tu te marries » (Ngày mai anh lên xe hoa) từng được ca sĩ Lê Thu Imbert Nguyễn phóng tác sang lời Việt.

    Trên đà thành công, Patricia Carli ghi âm bản nhạc Je suis à toi (Em thuộc về Anh). Đây là phiên bản  phóng tác tiếng Pháp của nhạc phẩm tiếng Ý Non ho l’eta per amarti, từng đoạt giải nhất vào đầu năm 1964 nhân kỳ liên hoan ca nhạc thành phố San Remo. Đĩa hát thứ ba cũng ăn khách không kém mang tựa đề « Ce que tu es pour moi ». Bài này thường được ghi chép sai thành « Tout ce que tu peux être pour moi ». Đây cũng là một phiên bản tiếng Pháp từ tình khúc tiếng Ý « Tu si na cosa grande » của Domenico Modugno. Có lẽ cũng vì Patricia là người gốc Ý cho nên trong giai đoạn đầu sự nghiệp, cô thường hay chọn phóng tác những lời ca gần gũi nhất với mình.

    Bài này từng đặt thêm nhiều lời Việt. Lời đầu tiên của Julie Quang có tựa đề « Anh là tất cả » do Minh Xuân ghi âm. Lời thứ nhì là của tác giả Vũ Xuân Hùng, phóng tác thành nhạc phẩm « Muôn đời thiết tha » do ca sĩ Ngọc Lan trình bày.  Đang trên đỉnh thành công, bất đồng lại nảy sinh giữa Patricia Carli với nhà sản xuất Léo Missir. Hai người đã sống chung với nhau trong nhiều năm, quan hệ tình cảm khi xấu đi ảnh hưởng đến sự hợp tác của họ. Vào đầu những năm 1970, Patricia Carli mới chuyển qua sáng tác cho các nghệ sĩ cùng thời, kể cả Dalida (Comme tu dois avoir froid), Mireille Mathieu (Donne ton coeur, donne ta vie), Christian Delagrange (Sans toi je suis seul) hay Daniel Guichard (La tendresse) …. Sau khi ly hôn, Patricia Carli ít còn gặp ông Léo Missir và chủ yếu hợp tác với các tác giả như Eddy Marnay hay Gérard Gustin. Cô thành công với những nhạc phẩm như « Pour la vie, l’éternité » hay « Vivre pour toi, mourir pour toi » (1974). Nhạc phẩm này từng được dịch sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Tất cả cho anh » do Kiều Nga trình bày.

    Tuy thành công nhờ soạn nhạc và đặt lời cho nhiều bài hát ăn khách, nhưng vào giữa những năm 1970, Patricia Carli lâm bệnh năng và buộc phải ngừng hẳn mọi công việc trong vòng 4 năm. Đến năm 1978, căn bệnh có dấu hiệu thuyên giảm nên Patricia cho phát hành ca khúc « L'homme sur la plage » (Cô đơn trên bãi biển) và một cách bất ngờ đĩa hát này lại gặt hái được nhiều thành công lớn.

    Nhưng niềm vui không được bao lâu. Chỉ vài năm sau, căn bệnh ung thư tái phát và kể từ đó, các sáng tác của nghệ sĩ này trở nên khan hiếm.  Patricia Carli xa lánh hẳn ánh đèn sân khấu và ống kính truyền hình. Album cuối cùng của Patricia Carli được phát hành vào năm 2000, xen kẽ những bản nhạc nổi tiếng với một số bài hát mới. Nhân dịp này, cô đã nhận được giải thưởng dành cho những ngòi bút sáng tác xuất sắc của hiệp hội các tác giả Pháp Sacem. Patricia Carli nay đã về hưu và sống tại miền nam nước Pháp, ở vùng Roquebrune Cap Martin, gần Monte Carlo.

    Trong số các bài hát rất nổi tiếng của Patricia Carli có nhạc phẩm « Je n’pourrai jamais t'oublier ». Patricia đồng sáng tác bài này với tác giả trẻ tuổi người Bulgary Emil Dimitrov cho nữ danh ca Nicoletta vào năm 1970. Giai điệu này sau đó được tác giả Nhật Ngân phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Mưa trên biển vắng », từng được nhiều nghệ sĩ ghi âm trong đó có Ngọc Lan, Như Quỳnh, Thùy Dung ..... Gương mặt của Patricia Carli có lẽ vẫn còn  xa lạ với công chúng, nhưng các giai điệu lại rất quen thuộc với giới yêu nhạc Pháp. Cho dù người phải đi xa, nhưng tim vẫn còn tất cả, chỉ nghe một lần thoáng qua, muôn đời bỗng dưng thiết tha.

    10 min
  • Pháp : Trí tuệ nhân tạo tác động thế nào đến ngành sản xuất trò chơi điện tử ?

    Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo có thể ảnh hưởng đến khoảng 40% việc làm trên toàn thế giới, theo một báo cáo do Qũy Tiền tệ Quốc tế công bố hồi đầu năm 2024. Cụ thể hơn, các ứng dụng AI đã bắt đầu thay thế một số công việc trong lãnh vực game video.

    Các công ty chuyên sản xuất trò chơi điện tử thực sự đang phải đối mặt với những thách thức từ sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo AI. Dù có tay nghề, nhưng nhiều chuyên viên vẫn có nguy cơ bị mất việc làm.

    Cũng như ngành điện ảnh có nhiều khâu sản xuất, nghề chế tạo trò chơi điện tử là một xưởng công nghiệp tập hợp cùng lúc nhiều kỹ năng chuyên môn. Để làm một trò chơi video, êkíp cần có các nghệ sĩ đồ họa, nhà thiết kế bối cảnh, họa sĩ vẽ nhân vật và minh họa cốt truyện. Bên cạnh đó, có các nhà biên kịch, chuyên soạn kịch bản hay viết lời thoại. Vai trò của các nhà phát triển phần mềm và các lập trình viên cũng quan trọng không kém, các chuyên viên này có nhiệm vụ viết mã lập trình mà máy có thể hiểu được. Trong các dự án có kinh phí đầu tư cao, nhóm sản xuất sẽ cần đến những diễn viên vào vai (một hay nhiều) nhân vật trong game, hoặc cho mượn giọng đọc để lồng tiếng cũng như kể chuyện. Hầu như tất cả các công việc kể trên đều bị ảnh hưởng bởi trí tuệ nhân tạo. Ở mọi khâu sản xuất, nhóm chế tạo trò chơi video đã có thể giao một phần công việc cho trí tuệ nhân tạo, thay vì huy động nhiều nhân viên.

    Chẳng hạn như thay vì sử dụng cùng lúc 6 hoặc 7 nghệ sĩ để thiết kế khung cảnh, vẽ phông nền cho một trò chơi điện tử, một số chủ công ty sản xuất game video lại tuyển một êkíp nhỏ hơn, chỉ với 1 hoặc 2 nhà phát triển phần mềm, họ sẽ được hỗ trợ bởi một ứng dụng Generative AI, còn được gọi là « AI tạo sinh », dựa vào mô hình học sâu để phát triển dữ liệu tổng hợp, văn bản, hình ảnh, video tùy theo yêu cầu của người dùng. Trong trò chơi điện tử, thay vì dùng họa sĩ vẽ phông nền, nhóm sản xuất có thể sử dụng AI tạo sinh để dựng cảnh đường phố với muôn ánh đèn, vẽ cảnh biển xanh bao la gợn sóng, đồi núi trùng điệp mênh mông.

    Tập đoàn Ubisoft, công ty sản xuất trò chơi điện tử lớn nhất tại Pháp với hơn 1.200 nhân viên, đã sử dụng công nghệ AI tạo sinh để hỗ trợ khâu biên kịch trong phần viết đối thoại. Nhưng một số tập đoàn khác còn muốn đi xa hơn nữa. Tại hội chợ hàng điện tử dành cho người tiêu dùng Consumer Electronics Show, tổ chức đầu tháng Giêng tại Las Vegas, tập đoàn công nghệ Nvidia tuyên bố cung cấp cho các nhà lập trình những công cụ để tạo ra các nhân vật trong thế giới video điện tử có khả năng tương tác trực tiếp và trả lời những thắc mắc của người chơi game.

    Các hãng sản xuất game NetEase và Tencent của Trung Quốc, cũng như Ubisoft của Pháp, đã ký hợp đồng với Nvidia mua quyền sử dụng công cụ AI tạo sinh này. Ngay cả các lập trình viên, dù có giỏi cách mấy cũng không thoát khỏi tầm ảnh hưởng ngày càng lớn của trí tuệ nhân tạo.

    Hàng ngàn người bị mất việc làm trong năm 2024

    Nhờ vào mô hình học sâu, AI tạo sinh đã có thể bắt đầu thay thế con người, học ngôn ngữ lập trình để viết những chuỗi mã hóa. Trước hiện tượng AI được phát triển nhanh chóng, mạng Steam, chuyên phân phối và quản lý bản quyền công nghệ số và các trò chơi trên máy tính, buộc phải cập nhật các quy tắc sử dụng. Kể từ nay, các hãng sản xuất game video sẽ phải nói rõ trò chơi của họ có chứa AI hay không và trí tuệ nhân tạo được sử dụng trong khâu nào, dưới hình thức gì.

    Về điểm này, những người lạc quan nhất cho rằng trí tuệ nhân tạo AI sẽ đỡ bớt phần nào « gánh nặng » cho các lập trình viên, họ có thể tránh những công việc đơn điệu, lặp đi lặp lại cùng một thao tác, để tập trung nhiều hơn vào những khâu đòi hỏi tính sáng tạo. Thế nhưng, cũng có nhiều người, nhất là giới nghệ sĩ minh họa và thiết kế phong cảnh, tỏ vẻ bi quan trước câu hỏi : liệu công việc của họ có còn tồn tại trong thời gian tới ?

    Dù muốn hay không, câu hỏi này được đặt ra vào lúc các tập đoàn sản xuất game video tiếp tục tiến hành các đợt sa thải nhân viên. Mặc dù doanh thu các công ty vẫn ở một mức tương đối cao, nhưng trên phương diện quốc tế, lại có 8.500 nhân viên bị sa thải vào năm 2022, 10.500 trong năm 2023 và 14.600 người bị mất việc làm trong năm 2024. Phải chăng đó là do công nghệ AI tạo sinh ? Theo cô Héloïse Linossier, thành viên sáng lập trang thông tin Origami, chuyên về các trò chơi điện tử, thực tế không đơn giản như vậy :

    Ngành sản xuất game video đã bội thu vì nhu cầu chơi game video đã tăng mạnh trong thời Covid-19. Sau đại dịch, doanh thu trở lại mức bình thường, tuy vẫn cao nhưng không còn dồi dào như trước. Sau vài năm tuyển dụng nhiều nhân viên để đáp ứng nhu cầu tăng vọt, nay các công ty bước vào một chu kỳ khác. Các đợt sa thải mạnh hiện nay cho thấy các hoạt động đang bị chậm lại, ngành sản xuất trò chơi video lâm vào « bế tắc ». Theo tôi, đầu tiên hết đây là một vấn đề về mặt điều chỉnh lại cơ cấu, khi mức cung vượt mức cầu.

    Bên cạnh đó, còn có vấn đề đầu tư « không đúng chỗ ». Thời kỳ bội thu đã khiến cho nhiều tập đoàn không có truyền thống sản xuất trò chơi video, bỗng dưng lao vào khai thác mảng dịch vụ chơi game. Đó là trường hợp của Facebook, Amazon hay Google đều đã chuyển sang ngành này, nhưng công việc kinh doanh của họ gặp thất bại, và điều đó dẫn tới việc đóng cửa một số hãng chuyên sản xuất trò chơi.

    Xu hướng hiện giờ là các trò chơi ngày càng đòi hỏi nhiều nguồn tài chính, việc đầu tư vì thế cũng trở nên rủi ro hơn. Tập đoàn Microsoft Gaming thông qua hai chi nhánh Xbox và Activision Blizzard đã sa thải 2.500 nhân viên, Unity cắt giảm 1.800 việc làm. Sony Playstation cũng sa thải 1.120 nhân viên. Trong bối cảnh ấy, một số chủ công ty chuyển qua dùng công nghệ AI thay vì tuyển nhân viên. Có thể nói là trí tuệ nhân tạo khiến tình hình chung trở nên khó khăn và phức tạp hơn, nhưng không phải là nguyên nhân đầu tiên giải thích cho các đợt sa thải.

    Còn theo anh Antoine Dieulesaint, đại diện công đoàn nhân viên ngành trò chơi điện tử STJV, ngành này đã đầu tư nhiều trong giai đoạn 2019-2022 nhưng lại thiếu chiến lược dài hạn. 

    Ngành sản xuất trò chơi điện tử đã bội thu vào thời Covid, do các hộ gia đình có nhu cầu giải trí cao khi phải ở nhà. Tình trạng này đã thu hút khá nhiều công ty tập đoàn, đầu tư ồ ạt vào việc phát triển đủ loại game video, nhưng lại không có kế hoạch cụ thể và định hướng ưu tiên phát triển. Thế nhưng, thời kỳ bội thu không được bao lâu, trong khi các tập đoàn đã mua lại nhiều công ty sản xuất nhỏ, tuyển dụng thêm nhiều nhân viên. Các tập đoàn lớn nhanh, nhưng lại không vững, nguồn tài chính dư dả nhưng lại không có chiến lược dài hạn. Do các dự án phát triển chỉ được dự trù trong hai hoặc ba năm, không có kế hoạch rút lui an toàn, cho nên thời hậu Covid, khi nhu cầu tiêu thụ hàng giải trí đột ngột giảm mạnh, các tập đoàn đành phải bỏ ngang một số dự án, số nhân viên được tuyển trong thời gian qua cũng trở thành một gánh nặng, dự án không còn bao nhiêu trong khi số người làm lại quá nhiều.

    Vai trò trí tuệ nhân tạo ngày càng mạnh trong sản xuất 

    Công nghệ AI tạo sinh phát triển nhanh đến mức gây nhiều lo lắng trong giới diễn viên chuyên đóng vai các nhân vật trong game video, cho mượn giọng nói hay cho thu hình gương mặt của họ qua công nghệ máy quét ba chiều. Trong số này có nam diễn viên Zeke Alton, chuyên thu hình và ghi âm cho ngành sản xuất trò chơi video. Với tư cách là thành viên của Liên đoàn Mỹ Sag-Aftra, anh Zeke Alton đã từng cảnh báo về cách dùng công nghệ AI tạo sinh trong phim ảnh cũng như trong ngành game video.

    Nếu bạn dùng máy quét khuôn mặt của mình để thu hình cho một trò chơi video điện tử, thì trước hết bạn nên cẩn thận, đọc kỹ mọi chi tiết trước khi ký tên vào hợp đồng. Sẽ không có vấn đề gì khi bạn hạn chế quyền sử dụng hình ảnh (hay giọng nói) của bạn trong một trò chơi cụ thể nhất định. Thế nhưng, bạn nên cẩn thận để tránh nhượng quyền sử dụng hình ảnh của mình một cách vô thời hạn và tuyệt đối tránh việc khai thác trên nhiều sản phẩm khác nhau. Các diễn viên nào mới vào nghề thường thiếu kinh nghiệm, nếu không biết đề phòng, họ có nguy cơ chịu những thiệt thòi nghiêm trọng … Trên lãnh vực này, các nhà phát triển trò chơi video thực ra đã bắt đầu dùng công nghệ AI để tạo ra gương mặt con người cũng như giọng nói. Chẳng hạn như công ty Studios Replica đã dựa vào trí tuệ nhân tạo để cung cấp những giọng đọc, thậm chí những tiếng nói với cách phát âm theo từng địa phương, vùng miền. Công nghệ này giờ đây có thể tái tạo một nhân vật nói tiếng Anh với giọng Ấn, gần giống như người thật. Nhờ mô hình học sâu, trí tuệ nhân tạo đã được cải tiến khá nhanh, âm thanh giọng nói ít còn « máy móc » như trước.

    Riêng tại Pháp, ngành công nghiệp trò chơi điện tử thu về hơn 6 tỷ euro trong năm 2024, tức cao hơn gấp 3 lần so với doanh thu của ngành điện ảnh. Trò chơi video ngày nay là thị trường giải trí đầu tiên, nhưng một phần do mức cầu suy giảm, cộng thêm những tác động về mặt việc làm của công nghệ AI, cho nên ngay cả những công ty lớn hàng đầu như Ubisoft của Pháp đã buộc phải cắt giảm khoảng 400 việc làm, tức 1/3 số nhân viên, và thông báo hôm 27 tháng Giêng vừa qua về việc đóng cửa xưởng sản xuất ở Leamington tại Vương quốc Anh, sau hai cơ sở khác tại San Francisco và Osaka trong năm 2024. Theo giới chuyên gia, trí tuệ nhân tạo có lẽ sẽ gây thêm nhiều tác động đến các ngành nghề trong làng giải trí, các công ty sản xuất game video nên chăng cần lên kế hoạch đào tạo thích ứng, để chuyển đổi dần công việc của giới nhân viên.

    10 min
  • Những khúc Xuân Ca trong làng nhạc cổ điển

    Nhà soạn nhạc người Ý Antonio Vivaldi không phải là kẻ si tình duy nhất trao trọn trái tin cho Nàng Xuân. Bản Symphonie số 1 của nhạc sĩ người Đức Robert Schumann cũng mang tên Xuân. Trong sự nghiệp ngắn ngủi, nhạc sĩ dương cầm Mendelssohn đã để lại cho hậu thế khúc Xuân Ca. Vũ điệu mùa Xuân của tác giả người Pháp Debussy là sự vui tươi trong một ngày mới. Nhịp điệu dồn dập, thôi thúc trong Lễ Đăng Quang Mùa Xuân của Stravinsky hừng hực nhựa sống.

    Ý xuân trong những khúc xuân ca

    Nhưng đâu cần phải mang tên Xuân mới là là hơi thở mùa xuân. Nhạc phẩm Die Moldau mang tên con sông Vltava chảy qua thành phố Praha, Tiệp Khắc đã trở một trong những biểu tượng lớn nhất của Mùa Xuân nhờ nhà soạn nhạc Bedrich Smetana (1824-1881).

    Vlatava là con sông dài nhất, hơn 430 km, của Tiệp Khắc và dưới thời kỳ còn bị vương quốc Áo đô hộ, con sông được biết đến nhiều hơn dưới tên gọi là dòng Die Moldau. 

    Nhạc sĩ Smetana năm 1874, trên đỉnh cao danh vọng, đã mang hết bầu nhiệt huyết để soạn một tuyển tập nhạc gồm 6 bản, mà trong đó Die Moldau được biết đến nhiều hơn cả. Khúc nhạc này nổi tiếng nhờ giai điệu du dương, bay bổng nhẹ nhàng với một vài nốt nhạc dễ nghe, dễ nhớ. Dường như giai điệu ấy bắt nguồn từ một bài hát dân gian, đậm tình dân tộc của người dân sứ Tiệp. 

    Nhưng không chỉ có thế. Trong tác phẩm này Smetana thả bước theo hai dòng suối nhỏ ở thượng nguồn sâu thẳm trong vùng Bohemia : hai mạch nước quấn vào nhau thành một con sông nấp mình trong rừng sâu, đem nước sống tưới mát đồng cỏ, làng quê, vươn ra đến thành phố trước khi hòa nhập vào với con sông lớn Elbe … Trong suốt hành trình đó, có tiếng suối reo, có đám cưới đồng quê, có ánh trăng vàng… Nước có lúc hiền hoà, khi thì cuồng nhiệt siết chảy như như thác đổ …

    Khát vọng tự do

    Nhạc sĩ Bedrich Smetana sinh ra trong một gia đình đông con tại thị trấn Litomysl vùng Bohemia Tiệp Khắc. Là một người có tinh thần yêu nước cao, ông sớm sáng tác những khúc quân ca, hòa mình với cuộc nổi dậy năm 1848 bùng lên tại Praha. … Smetana cũng đã trải qua một thời gian dài ở Thụy Điển trước khi về điều hành trường nhạc và một nhà hát ở thủ đô Tiệp Khắc… Từ thập niên 1860 ông ấp ủ dự án sáng tác một tập nhạc với những bài ca yêu nước. Năm 1874 ông bắt đầu soạn tuyển tập lấy tên là Ma Vlast, Tổ Quốc Tôi. 

    Trong nhạc phẩm Die Moldau Smetana mượn hình ảnh con sông hiền hòa để nói lên khát vọng tự do của cả một dân tộc. Cũng chính vì thế mà bản nhạc này luôn đồng hành với người dân Tiệp Khắc trong mỗi cuộc đấu tranh : Thập niên 1940, Die Moldau là biểu tượng kháng chiến của người dân Tiệp chống Đức Quốc Xã. Nhạc phẩm này hành với phong trào nổi dậy Mùa Xuân Praha năm 1968 chống lại bàn tay sắt của Liên Xô. Cũng ca khúc này trở thành biểu tượng của cuộc Cánh Mạng Nhung 1989 lật đổ chế độ Cộng Sản.

    Từ năm 1946 bản Die Moldau luôn là tác phẩm đầu tiên trỗi lên vào mỗi lễ hội âm nhạc Festival Mùa Xuân Praha, được tổ chức đúng ngày giỗ nhạc sĩ Bedrich Smetana 12 tháng 5 hàng năm. Tháng 5 ở Tiệp vẫn còn là mùa xuân…

    Vỗ cánh chim bay

    Chim hót trên cành hay con chim rời tổ cũng là biểu tượng của mùa xuân. Phải chăng vì thế mà nhạc phẩm ít được biết đến The Lark Ascending của nhà soạn nhạc người Anh Raph Vaughan Williams (1872-1958) được xem là một trong những khúc xuân ca độc đáo nhất. Đến với tác phẩm này, ta không khỏi nghĩ đến bài thơ của Huy Cận được sáng tác năm 1964 : 

    « Con chim chiền chiện

    Bay vút, vút cao

    Lòng đầy yêu mến

    Khúc hát ngọt ngào  (…)

    Con chim chiền chiện,

    Hồn xanh quê nhà

    Sáng nay lại hót,

    Tưng bừng lòng ta » 

    Được xem là một trong những nhà soạn nhạc có ảnh hưởng lớn nhất của Anh Quốc ở nửa đầu thế kỷ XX, Raph Vaughan Williams lấy nguồn cảm hứng từ hình cảnh con chim rời tổ, tự do bay lượn, ca hát trên trời cao khi ông sáng tác bản concerto The Lark Ascending. Tiếng vĩ cầm ở đây thánh thót như tiếng chim, « vút, vút cao » để một ngày nào nó « tung cánh chim tìm về tổ ấm »  …

    Bảo Giao hưởng Đồng quê 

    Bức họa đồng quê, cảnh sông nước hữu tình, tiếng chim hót… cũng gợi lên hình ảnh mùa xuân trong lòng nhạc sĩ Beethoven (1770-1827) khi ông soạn bản Giao Hưởng Đồng Quê -La Symphonie Pastorale. Đây là bản giao hưởng số 6, được soạn cùng lúc với bản Symphonie số 5 mà chính tác giả đã gọi là bản Giao Hưởng của Định Mệnh. Beethoven trong vai nhạc trưởng đã điều khiển dàn nhạc suốt hơn 4 giờ đồng hồ trong đêm 22/12/1808. Một chương trình quá dài khiến cả hai bản giao hưởng rất nổi tiếng của ông đã bị nhiều tiếng chê bai. Khán giả thành Vienne khi đó hoàn toàn lạnh nhạt với hai trong số 9 bản symphonie mang tên Beethoven.

    Trở lại với bản Giao Hưởng Đồng Quê : khác với thường lệ đây là một bản Symphonie gồm đến 5 phần, ngay từ khuông nhạc đầu teien, tác giả đã đưa người nghe bước vào một khung trời bình yên, nơi có nắng ấm. nhạc phẩm này như một bức họa đồng quê : ta trông thấy Beethoven thả bước trên những cánh đồng, hương cỏ và những nụ hoa chớm nở chào đón khách bộ hành.

    Những con lạch tưới mát ruộng đồng, những bầy sơn ca, họa mi, chim sáo hòa vang tiếng hót.. Những đôi trai gái cười vui dưới bóng hàng cây ...  Rồi những hạt mưa xuân, giông tố, chim muông thu mình vào tổ.. .. những hạt mưa nhẹ dần, những mầm cây đâm trồi nẩy lộc … 

    10 min
  • “Ngày xưa” trong nghệ thuật kịch Pháp-Việt ngày nay

    “Thuở ấy, chưa có gì được sinh ra, thế gian còn hỗn độn. Thế rồi trời đất phân đôi, mặt trăng mặt trời được sinh ra, và Con người xuất hiện. Họ đã phải đấu tranh cho vùng đất của mình, với sự giúp đỡ của Đức Phật”. Vở kịch Ngày xưa bắt đầu như vậy, theo lời dẫn nhập của người kể chuyện, tại nhà hát của trường quốc tế Pháp Alexandre Yersin, tại Hà Nội, ngày 22/09/2024.

    Thế nhưng đội ngũ nghệ sĩ chuyên nghiệp gốc Việt và Pháp đã giới thiệu câu chuyện theo cách nhìn độc đáo, kết hợp sân khấu truyền thống với kịch hiện đại, thêm những yếu tố hài hước "nhằm mục đích giao thoa hai nền văn hóa thông qua ngôn ngữ, truyền thống âm nhạc và thẩm mỹ quan của họ”.

    Nhóm nghệ sĩ ATH đã chuyển thể thành sân khấu ba sự tích dân gian Thần trụ trời, Con rồng cháu tiên và Sự tích trầu cau được trích từ cuốn Đầm Nhất Dạ và các truyền thuyết khác của Việt Nam của nhà văn Trần Huy Minh. Cả ba câu chuyện mang đậm tính truyền thuyết và có một điểm chung nổi bật : sự kết hợp giữa trí tưởng tượng, chủ nghĩa siêu thực và hiện thực. Trả lời RFI Tiếng Việt, đạo diễn người Pháp Quentin Delorme, người sáng lập xưởng ATH (Atelier théâtre de Hanoi - Drama and Arts Space), giải thích về lựa chọn này :

    "Khi mới đến Việt Nam (cách đây 15 năm), tôi rất quan tâm đến truyện cổ tích và thần thoại Việt Nam. Điều đầu tiên mà tôi thấy và đến giờ vẫn ám ảnh tâm trí là làm nghệ thuật như thế nào để nghệ thuật phổ cập hơn một chút. Khi đọc những câu chuyện đó, tôi từng bước khám phá thế giới đó, đồng thời so sánh với truyện cổ tích ở những nước khác. Ví dụ truyện đầu tiên - Thần Trụ trời - trong vở kịch, nói về Trái đất được hình thành như thế nào. Tôi rất ấn tượng : Làm thế nào mà cùng lúc, ở những nơi khác nhau trên thế giới, người ta  lại tưởng tượng ra được gần như giống nhau về cách trời đất được hình thành, dù từ ngữ khác nhau. Cho nên tôi rất chú ý đến việc có thể sử dụng những câu chuyện cổ tích Việt Nam như thế nào, khiến chúng được phổ biến rộng rãi hơn, tới mọi lứa tuổi, để họ thực sự thấy được tính phổ quát này vượt qua cả phạm vi Việt Nam, nói về nhân loại nói chung".

    Cách dẫn chuyện độc đáo

    Ba câu chuyện riêng lẻ lần lượt được mở ra và cùng nhau cộng hưởng, được xâu chuỗi qua lời người dẫn chuyện một cách rất tự nhiên. Nhưng vai trò của người dẫn chuyện không chỉ dừng ở đó mà còn có nhiều yếu tố bất ngờ. Đạo diễn Quentin Delorme cho biết ý tưởng đằng sau lựa chọn này :

    "Đối với tôi, người kể chuyện thực sự quan trọng trong câu chuyện bởi vì họ là một nhân vật đặc biệt không chỉ đơn thuần là một nghệ sĩ đến kể chuyện mà song hành cùng các nghệ sĩ giúp câu chuyện trở nên sống động. Ngoài ra, tôi thực sự thích nói về “sân khấu trong sân khấu”, cũng như ý tưởng người kể chuyện, đạo diễn và người tạo ra những câu chuyện đó, mang chúng đến với khán giả, giống như một đạo diễn trau chuốt chương trình và thổi hồn cho câu chuyện. Thông qua nhân vật người kể chuyện, thực sự còn có câu chuyện về "sân khấu trong sân khấu".

    Một điểm gây bất ngờ khác là những phân cảnh, lên đến cao trào, bỗng nhiên quay ngoắt trở lại với thế giới hiện đại, khiến khán giả ngỡ ngàng và bật cười, nhưng cũng suy ngẫm, liên tưởng câu chuyện trong quá khứ với thực tại. Ẩn ý đằng sau điểm độc đáo này là gì ?

    "Theo tôi, các câu chuyện cổ tích luôn được tái tạo theo kiểu chúng ta nói rằng những câu chuyện cách đây một hoặc hai thế kỷ không còn phù hợp với ngày nay. Cho nên phải rũ bỏ tư tưởng đó, khiến chúng trở nên hợp thời hơn và hấp dẫn hơn cho các thế hệ ngày nay, giúp họ biết rằng những câu chuyện này là hiện tại, chúng đang tồn tại và nói về chúng ta. Và việc đưa tất cả những yếu tố hiện đại vào cũng nhằm để nói rằng các câu chuyện cần thời gian để tạo dựng lại và để nói trong buổi diễn rằng chúng tôi ở đây để kể lại, còn các bạn đã xem, đến lượt các bạn tiếp tục giúp những câu chuyện đó phát triển, kể lại chúng và tái tạo chúng".

    Chuẩn mực quá khứ nhìn từ hiện tại

    Vai trò, thiên chức của người phụ nữ ngày xưa cũng được đề cập trong vở kịch với một góc nhìn thực tế hơn, đương đại hơn : Tại sao cứ phải quyết định rằng phụ nữ phải lập gia đình ? Tại sao họ luôn phải nghĩ cho người khác trước khi nghĩ cho bản thân ?... Đó là những vấn đề nhận được nhiều tranh luận hiện nay.

    "Về điểm này, tôi muốn nói là khá riêng tư. Xã hội phụ hệ đã được nói từ lâu ở khắp nơi. Trong thời gian rất dài, chúng ta đã thấy thế mạnh của đàn ông. Đối với tôi, nói về vấn đề này trong các vở kịch của mình là điều quan trọng để mọi người nhận thức được bởi vì chúng ta đã bị gắn chặt trong những xã hội coi trọng chế độ phụ hệ. Ở Việt Nam có ít tranh luận thực sự về chủ đề này hơn ở Pháp. Cả vở diễn Ngày xưa, hoặc kể cả khi người ta nói về những câu chuyện cổ tích kiểu như vậy, đều bị mối quan hệ này ảnh hưởng, như trong truyện về Âu Cơ và Lạc Long Quân, cũng rất gia trưởng. Cho nên đối với tôi, cần phải đặt ra những câu hỏi như vậy, tự nhủ là đến một thời điểm nào đó không truyền tải hoàn toàn trọn vẹn và đặt câu hỏi : nếu những câu chuyện này do phụ nữ viết thì sao ? Những câu chuyện này không được nghĩ ra trong một xã hội phụ hệ thì sẽ như thế nào? Và tiếp theo sẽ là những câu hỏi : Chúng ta nên thay đổi điều gì ? Và đặt những câu hỏi này như thế nào với công chúng để suy nghĩ về vị trí của phụ nữ trong tất cả những chuyện này ?".

     

    Một chủ đề khác, dù chưa được nêu rộng rãi ở Việt Nam, nhưng được tranh luận khá sôi nổi ở Pháp và một số nước châu Âu, đó là những câu chuyện cổ tích, thần thoại đề cao sự báo thù, “ác giả ác báo”, đôi khi rất độc ác của những nạn nhân. Liệu tư tưởng đó còn phù hợp với thời hiện tại, với cách giáo dục ngày nay ? Liệu có nên kể chuyện theo một cách khác hoặc có cách đề cập khác ?

    "Đúng, tôi nghĩ là xã hội hiện đại ngày nay cần diễn giải lại những câu chuyện cổ tích này, cần bắt đầu thay đổi một chút về những chuẩn mực đạo đức được đưa ra vì chúng ta thấy rằng chúng không còn hợp thời và không còn tương ứng với sự phát triển của xã hội. Đây cũng là điều chúng tôi đề cập trong các cuộc trao đổi về lựa chọn thay đổi nghệ thuật của mình, nói rằng chúng tôi ở đây không phải là để lặp lại những gì vẫn được làm. Đối với tôi, việc tự cho phép thay đổi như vậy thực sự rất cần thiết và thú vị hơn nữa là khi diễn vở kịch ở Việt Nam, nơi có một bộ phận xã hội còn bảo thủ hơn. Có nhiều người bảo là chúng tôi không được phép chỉnh sửa truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ chẳng hạn. Nhưng theo tôi, điều này không công bằng, vì ngược lại, các thế hệ tương lai phải diễn giải lại tất cả những câu chuyện này".

    Trong thông cáo ngày 10/09/2024 giới thiệu vở diễn Ngày xưa, ATH và đối tác là Viện Pháp - Institut français, giải thích “các sáng tạo nghệ thuật dựa trên các sự tích và câu chuyện thần thoại dường như rất cần thiết”, “vào thời điểm mà xã hội chúng ta đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của chủ nghĩa cá nhân, của chủ nghĩa tiêu dùng cùng sự xâm lấn của công nghệ”. Bởi vì đó là “sự tích tạo cầu nối giữa quá khứ và hiện tại”, nhắc nhở chúng ta về nguồn cội, “bởi vì sự tích là nền tảng văn hóa”, “mang tính phổ quát” bởi chúng đề cập đến những câu hỏi lớn của đời người (con người đến từ đâu, sinh ra thế nào, các mối quan hệ ruột thịt, tình cảm…). Vậy kịch bản được viết như thế nào để truyền đạt những suy nghĩ đó ?

    "Thường thì tôi và các diễn viên vẫn ứng biến. Tôi đưa ra những ý tưởng, được coi là cơ sở cho các cuộc đối thoại, và các diễn viễn gần như bắt đầu ứng biến. Điều thú vị ở chỗ có những diễn viên chỉ nói tiếng Pháp hoặc tiếng Anh và một số chỉ nói tiếng Việt, vì vậy họ cùng nhau ứng biến. Điều cốt lõi là hiểu được nhau. Tôi làm việc theo cách ứng biến này rất nhiều với người kể chuyện, cũng là đồng giám đốc ATH. Và đến lúc phải viết lại thì tất cả chúng tôi cùng viết trên sân khấu".  

    Vở diễn chạm đến mọi lứa tuổi

    Vở diễn Ngày xưa không bị hạn chế trong một không gian nhỏ của sân khấu kịch. Đạo diễn Quentin Delorme và các nghệ sĩ đã thực hiện được lời hứa “Một trải nghiệm sân khấu độc đáo cho mọi lứa tuổi” vì khán giả tới buổi diễn trong nhà hát của trường quốc tế Pháp Alexandre Yersin là những bé chỉ vài tuổi đến những bậc cao niên, người Việt và người Pháp. Họ đến với gia đình, thậm chí ba thế hệ hoặc những nhóm bạn trẻ.

    "Khó khăn đầu tiền đến trước khi vở diễn ra đời, có nghĩa là, chắc chắn vở kịch bằng tiếng Việt sẽ khiến một số người không hiểu. Sau đó, có rất nhiều phản hồi của khán giả - điều mà chúng tôi hài lòng - rằng dù họ không hiểu tiếng Việt nhưng họ gần như được xem một vở diễn bằng tiếng Pháp hoặc bằng tiếng Anh. Và ngược lại, nhiều người Việt nói với chúng tôi là dù họ không biết tiếng Pháp hay tiếng Anh những họ cũng hiểu hết câu chuyện. Đó thực sự là một thách thức với chúng tôi và chúng tôi khá hài lòng là vượt qua được".  

    Ngoài tài năng của các nghệ sĩ, đạo diễn Quentin Delorme cho biết thành công của vở diễn còn nhờ vào đội ngũ kỹ thuật làm việc với cường độ gấp đôi, trong suốt hơn ba tháng. Nhờ đó, khán giả như bước vào một cuộc du hành ảo diệu, kỳ thú nhờ các hình thức biểu đạt đa dạng, mới mẻ, độc đáo nhờ kết hợp những hình thức âm nhạc, trình chiếu video, truyện tranh, nghệ thuật múa rối, sân khấu được thiết kế đặc sắc, nét truyền thống Việt Nam nổi bật thêm trên nền kỹ thuật hiện đại.

    10 min
  • 150 năm nhà hát Garnier Paris : Ngôi nhà sáng tác tuyệt vời của các môn nghệ thuật sân khấu

    Năm 2025 đánh dấu 150 năm xây dựng Nhà Hát Opera Garnier, một trong những biểu tượng của Paris, là mái nhà chung của nhiều thể loại nghệ thuật sân khấu và cũng là chiếc nôi sáng tác của nhiều nghệ sĩ trên thế giới. Kiến trúc độc đáo của Nhà Hát Garnier là nguồn cảm hứng cho rất nhiều các công trình khác trên toàn thế giới, từ ở Úc đến Ukraina và mãi đến tận Brazil … Nhưng quen thuộc nhất với người Việt chúng ta là Nhà Hát Lớn ở Hà Nội, một phiên bản thu nhỏ của Opera Paris.

    Một dự án suýt chết yểu

    Ngày 05/01/1875, sau 15 năm xây dựng với nhiều gian truân, Opera Garnier chính thức được khai sinh. Trong tiếng nhạc của khúc dạo đầu vở opera Guillaume Tell của nhạc sĩ người Ý, Gioachino Rossini, tổng thống Pháp Mac Mahon trịnh trọng đón 2.000 thượng khách từ khắp châu Âu đến dự lễ khánh thành Nhà Hát nhưng đã quên mời kiến trúc sư Charles Garnier, cha để của công trình đến dự. Charles đã phải tự mua vé vào cửa nhưng phải ngồi ở một góc khuất rất xa sân khấu. May mà có người nhận ra ông, nên Garnier cuối cùng đã có được một chỗ ngồi khả dĩ hơn.

    Ngược thời gian, năm 1860 Garnier đã đánh bại 170 đối thủ -mà trong đó có những tên tuổi lẫy lừng, như Viollet le Duc, để giành được dự án xây dựng Nhà Hát Lớn Paris. Đây là một kế hoạch của hoàng đế Napoléon III và đó phải là một công trình phản ánh quyền lực mềm của Nước Pháp. Charles Garnier khi đó mới 35 tuổi và chưa được mấy ai biết đến.

    Nhưng rồi Đệ Nhị Đế Chế Pháp sụp đổ sau thất bại ê chề trong trận đánh Sedan. Hoàng đế lưu vong Napoléon qua đời tại Luân Đôn năm 1873. Công trình xây dựng Nhà hát mà ông chủ xướng dở dang. Trong cuộc nổi dậy Công Xã Paris năm 1871 nhà hát đang xây dở thậm chí bị trưng dụng để chứa đạn dược và lương thực …

    1873 chẳng may opera trên con đường Le Pelletier, nơi các giới chức sang trọng của cả thủ đô Paris lui tới đã bị thần hỏa ghé thăm. Kinh đô ánh sáng cần có một nhà hát xứng tầm. Tổng thống Mac Mahon quyết định làm sống lại công trình mang tên kiến trúc sư Garnier. Cuối tháng 12/1874 Charles Garnier hoàn thành nhiệm vụ trong một thời gian ngắn kỷ lục 18 tháng.  

    Một viên ngọc sáng của Kinh Đô Ánh Sáng

    Ngay những giờ phút bắt đần ngự tọa giữa lòng Paris, nhà hát mang tên kiến trúc sư Garnier đã chinh phục công chúng từ mặt tiền bề thế cho đến cấu trúc của giàn sân khấu.

    Cuối thế kỷ 19 nhà hát Paris là nơi duy nhất được thiết kế với ý tưởng, tự thân công trình kiến trúc này đã là một dạng sân khấu để bắt mọi người phải dồn hết chú ý về đây. Ý tưởng táo bạo thứ hai của Garnier là dựng ngay ở bên trong nhà hát những bậc cầu thang uy nghi để cả Paris cùng biết rằng ai đã có vé mời đi xem và nghe những vở opera nổi tiếng của từ Bizet đến Wagner, từ Rossini đến Bellini…

    Khán giả Pháp còn nhớ mãi buổi trình diễn để đời của nữ danh ca người Hy Lạp, Maria Callas năm 1964 trong vai Norma của vở opera cùng tên do nhà soạn nhạc người Ý Vincenzo Bellini sáng tác năm 1831. Vở Norma được xem là một trong những tác phẩm « đẹp nhất » của dòng nhạc Opera Ý và khán giả Paris nổi tiếng là khó tính đã chờ đợi rất nhiều ở diva Maria Callas

    Nơi khai sinh bản Boléro 

    Cũng tại nhà hát Garnier, tháng 11 năm 1928 nhạc sĩ Maurice Ravel ra mắt công chúng lần đầu tiên bản nhạc Boléro. Trên sân khấu, vũ sư người Nga Ida Rubinstein thể hiện vai một cô gái gitane trên một chiếc bàn ở quán rượu trong làn điều boléro lập đi lập lại như nỗi ám ảnh dục vọng.

    Người khen, kẻ chê chẳng ngờ bản Boléro của Ravel trở thành một hiện tượng : Ma lực của tác phẩm phầm này lan rộng ra khắp hành tình. Đến này cứ trung bình 10 phút, đâu đó trên thế giới bản Boléro lại được trỗi lên trên sân khấu.

    Thánh đường của nghệ thuật

    Opera Garnier là điểm giao lưu của nhiều thể loại nghệ thuật sân khấu, là chiếc nôi sáng tác cho nhiều thế hệ : Trường dậy múa ba-lê lâu đời của Pháp được nhà vua Louis thứ XIV lập ra từ năm 1713 đã được chuyển hẳn về nhà hát Garnier cho mãi đến năm 1987. Học viên của trường, thoắt ẩn, thoắt hiện, với những bước chân êm như nhung di chuyển trong các hành lang, tổng cộng dài đến 17 km bên trong tòa nhà được mệnh danh là lòng 17 « Les petits rats de l’Opéra ».

    Cũng nhà hát này nơi ngôi sao trên vòm trời nghệ thuật Liên Xô, vũ công ba-lê Rudolf Noureev tái sinh. Sinh ra và lớn lên tại Liên Xô, trong lần lưu diễn tại Paris năm 1961, Noureev đã vượt rào xin tị nạn tại Pháp. Với tài nghệ xuất chúng, ông thường xuyên là khách mời danh dự trong các chương trình của Opera Paris. Được xem là một trong những nhà biên đạo múa tài hoa nhất của thể kỷ XX, nghệ sĩ Liên Xô này được mời điều hành nhà hát Garnier trong thập niên 1980 và ông đã đặt thêm một viên đá cho thánh đường của nghệ thuật trên quê hương của Hector Berlioz.

    Điểm hẹn của nhạc-thơ và hội họa

    Một nghệ sĩ tài hoa khác đã cống hiến rất nhiều cho Nhà Hát Garnier là danh họa Marc Chagall (1987-1985). Là một người Do Thái, sinh ra tại Bélarus ông chạy trốn chế độ cộng sản Liên Xô, định cư rội nhập tịch Pháp năm 1937. Đến dự buổi gala vinh danh tổng thống Perou ở nhà hát Garnier năm 1960, tình cờ Chagall đã được bộ trưởng Văn Hóa Pháp André Malraux đề nghị ông khoác một chiếc áo mới cho trần nhà của phòng diễn của Opera đã bị màu thời gian che khuất.

    Chagall 77 tuổi đã quá nổi tiếng trong làng hội họa thế giới do dự nhưng rồi vì nể lời Malraux, một nhà văn lớn của Pháp mà ông luôn ngưỡng mộ … nên Chagall đã nhận lời.

    Họa sĩ Marc Chagall đã vẽ không công. Năm 1964 khi tác phẩm hoàn tất và được treo lên trần phòng diễn Opera de Paris, Chagall nhắc lại đây mà món quà danh họa người Belarus này hiến dâng cho nước Pháp để tỏ lòng biết ơn kinh đô ánh sáng đã mở rộng vòng tay cho một nghệ sĩ lưu vong đi tìm tự do.  

    Tác phẩm của Chagall thu gọn trong một vòng tròn 220 mét vuông chung quanh chùm đèn pha lê 8 tấn rưỡi. Những tiết họa của Chagall gợi lại những biểu tượng của nước Pháp từ Tháp Eiffel đến Nhà Hát Garnier. Là người say mê với âm nhạc, Marc Chagall dùng những sắc mầu tươi sáng để thổi hồn vào những tác phẩm của những nhà soạn nhạc mà ông ngưỡng mộ : từ Mozart đến Beethoven, từ Wagner đến Berlioz, Ravel, Debussy và đương ông đã không quên những nhạc sĩ lẫy lừng nhất của nền âm nhạc Nga như Tchaikovsky hay Moussorgski …

    Cần nói thêm rằng danh họa Chagall không chỉ giam mình trong hội họa. Ông là người đã vẽ phông cho sân khấu và những bộ trang phục cho biết bao nhiêu vở opera nổi tiếng ở những sàn diễn từ New York đến Paris. Ông cũng là tác giả của rất nhiều những tấm kính cửa sổ trang trí ở nhà thờ trên đất Pháp.

    Năm 1964 hoàn thành nhiệm vụ, nhà hát Garnier có một phông trần mới rực rỡ sắc mầu. Điều thú vị ở đây là vào thời điểm đó, trước khi công chúng và báo chí được tận mắt chiêm ngưỡng trần nhà mới ở Opera Garnier dưới những đường cọ của Chagall thì người họa sĩ nhập cư này đã bị chê bại thậm tệ. Người ta không ngần ngại chỉ trích Chagall « lầm cẩm » vẽ và pha màu một cách ngớ ngẩn như để « bôi tro trắt trấu » vào một tượng đài văn hóa của Paris …

    Cá nhân danh họa người Do Thái này đã hơn một lần bị xúc phạm. Người ta tấn công luôn cả vào André Malraux, người đã đặt hàng họa sĩ Chagall

    Nhưng rồi ngày 23/09/1964, hai ngàn quan khách, các nhà báo, các nhà phê bình khét tiếng Paris ngỡ ngàng trước một tác phẩm vừa sống động vừa tràn ngập ý thơ đúng theo tinh thần của Charles Garnier năm nào : để « Cung điện Garnier » mãi mãi là thánh đường của các thể loại ghệ thuật kiến trúc, âm nhạc, hội họa và sân khấu…

    10 min
  • Nhạc Pháp lời Việt : « Xin đừng xa anh », tưởng nhớ giọng ca Alain Delorme

    Năm 2025 đánh dấu 5 năm ngày nam ca sĩ người Pháp Alain Delorme qua đời. Sinh thời, ông là ca sĩ chính của nhóm Crazy Horse, thành công nhờ đi biểu diễn và ghi âm những bản nhạc trữ tình, tiêu biểu của thập niên 1970. Tuy sinh trưởng ở Pháp (thành phố Roubaix), nhưng Alain Delorme lại thành công nhiều hơn tại vương quốc Bỉ, Hà Lan và một số nước thuộc khối Pháp ngữ.

    Nhắc tới Crazy Horse, không nên nhầm lẫn ban nhạc này (gồm 4 thành viên Pháp và Bỉ) với một nhóm nhạc khác cùng tên người Mỹ chuyên đi biểu diễn nhạc country rock với danh ca kỳ cựu Neil Young. Ngoài ra, « Crazy Horse » cũng được đặt tên cho sân khấu vũ kịch ở thủ đô Paris, nổi tiếng không kém gì nhà hát Moulin Rouge hoặc Paradis Latin. 

    Vào đầu những năm 1970, Alain Delorme (1949-2020) tên thật là Alain Verstraete, cùng với 3 người bạn có cùng niềm đam mê chơi nhạc từ thuở thiếu thời, thành lập nhóm Crazy Horse. Ban nhạc này chủ yếu đi biểu diễn trong các buổi dạ hội, tiệc cưới hay các đêm khiêu vũ ngoài trời, tại các tỉnh miền bắc nước Pháp. Tài nghệ chơi nhạc của họ lọt vào tai các nhà sản xuất. Ở lứa tuổi 20, các thành viên của nhóm Crazy Horse (ngoài Alain Delorme còn có tay đàn ghi ta Johny Callens, sau này đi hát với nghệ danh Johny Fostier, tay đàn bass Dominique Barbe và tay trống Freddy de Jonghe), ký hợp đồng ghi âm đầu tiên với hãng đĩa Elver ở thành phố Mouscron do nhà sản xuất người Bỉ, Marcel De Keukeleire, quản lý.

    Ngay lập tức, ban nhạc gặt hái thành công bước đầu nhờ nhạc phẩm « J'ai tant besoin de toi » (I need you so much). Đây là bản phóng tác tiếng Pháp của một bản nhạc ăn khách tiếng Hà Lan (Ik ben verliefd op jou) do nam ca sĩ người Bỉ Paul Severs trình bày. Ca khúc đầu tay này giúp cho nhóm Crazy Horse lập kỷ lục số bán vào năm 1971, với hơn một triệu bản. Thành công này mở đường cho ban nhạc trẻ ghi âm nhiều bài hát ăn khách khác, chẳng hạn như « Un jour sans toi » (Một ngày vắng em), « Ne rentre pas ce soir » (Đêm nay em đừng về) và nhất là « L'amour, la première fois ». Bản nhạc này từng được phóng tác nhiều lần sang tiếng Việt. Lời phóng tác đầu tiên « Tình yêu đầu đời » là của tác giả Nhật Ngân. Lời Việt thứ nhì có tựa đề là « Ái ân lần đầu » là của tác giả Vũ Xuân Hùng.

    Nhờ những giai điệu say đắm nhẹ nhàng, hát với phong cách trữ tình lãng mạn, Alain Delorme và nhóm Crazy Horse đầu thập niên 1970 trở thành một hiện tượng trong làng nhạc nhẹ, thực sự chinh phục được nhiều bạn trẻ. Trên thị trường Bỉ và các nước nói tiếng Pháp, nhóm này đã bán được gần 5 triệu đĩa nhạc (45 vòng), sự nghiệp của họ không ngừng phát triển trong 4 năm liền, một cách nhanh chóng.

    Tuy nhiên, cũng như nhiều nhóm nhạc nổi tiếng khác, thành công cũng làm nảy sinh nhiều mối bất đồng giữa các thành viên (chủ yếu là giữa 2 ca sĩ Alain Delorme và Johny Fostier) và cũng chính sự bất đồng sâu rộng này khiến cho nhóm không thể tái hợp, dù đã có cơ hội trở lại dưới ánh đèn sân khấu một thời gian sau, vào cuối thập niên 1990, đầu những năm 2000.

    Khai thác đà thành công của nhóm, ca sĩ Alain Delorme tách ra riêng và bắt đầu sự nghiệp hát solo vào năm 1975. Ông thay đổi phong cách biểu diễn, chuyển qua hát nhạc pop với những nhịp điệu sôi động hơn thay vì ghi âm các tình khúc nhạc nhẹ. Trong giai đoạn này, Alain Delorme khá thành công với các nhạc phẩm như « Livre d'amour » (Tình sử), « Le premier pas » (Bước đầu) và nhất là « Romantique avec toi » (Lãng mạn bên em) …

    Từ đầu thập niên 1980 trở đi, sự nghiệp của Alain Delorme có dấu hiệu lu mờ, có lẽ vì ông không chuyển hướng kịp thời, với sự xuất hiện của thế hệ tác giả trẻ tuổi, đầy tài năng và nhiệt huyết mới (Goldman, Berger, Balavoine …) Alain Delorme dần dần biến mất khỏi làng nhạc, cho dù để kiếm sống, ông vẫn tiếp tục đi biểu diễn tại các liên hoan, nhạc hội ở các tỉnh miền Bắc nước Pháp.

    Alain Delorme chỉ xuất hiện trở lại trên đài truyền hình vào giữa những năm 2000 (2007-2008) trong chương trình ca nhạc « Les Années Bonheur » (Những năm tháng hạnh phúc) của Patrick Sébastien. Đó cũng là thời kỳ ông trở lại dưới ánh đèn sân khấu khi tham gia các chuyến lưu diễn « Âge tendre et Tête de bois » (Tuổi xanh cứng đầu khó bảo), tập hợp những giọng ca một thời vang bóng như Catherine Lara (Nuit magique), Jean François Michael (Adieu jolie Candy) hay Patrick Juvet (Où sont les Femmes) …

    Trong lúc ông đang chuẩn bị bộ tuyển tập kỷ niệm 50 năm đi hát bao gồm cả hai giai đoạn sự nghiệp, Alain Delorme lại đột ngột qua đời do lên cơn đau tim, vào mùa hè năm 2020, ở tuổi 70. Trong số những bài hát gắn liền với tên tuổi của ông có nhạc phẩm « Ne laisse pas ma vie sans toi » (Đừng để đời anh vắng em). Bài này từng được phóng tác sang tiếng Việt thành giai điệu « Đừng xa em », qua phần trình bày của nữ danh ca Ngọc Lan. Thành danh nhờ chất giọng trong sáng, Alain Delorme thuộc cùng một trường phái với những nghệ sĩ người Bỉ với phong cách lãng mạn như Art Sullivan (Adieu sois heureuse) nhưng về mặt sáng tác, ca từ cũng như ý tứ chưa phong phú và sâu sắc bằng ngòi bút của nam danh ca kiêm tác giả Salvatore Adamo : Người đi cho nắng mau phai, tháng ngày mọc cỏ hoang dại, vắng ai đời anh xanh mãi, rêu phong ngàn nhánh u hoài ...

    10 min

About Tạp chí văn hóa

From the publisher's feed

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

More shows like Tạp chí văn hóa

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí tiêu điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí tiêu điểm

0 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners