Tạp chí văn hóa

Tạp chí văn hóa

By RFI Tiếng ViệtArts
Download on the App Store

Tạp chí văn hóa episodes

  • Pierre Bonnard, họa sĩ của những thiên đường đã mất

    Chiến tranh, thời cuộc xoay vần, nỗi bất hạnh không có chỗ đứng trong tranh của Pierre Bonnard (1867-1947). Chịu ảnh hưởng của Gauguin, của hội họa dân gian Nhật Bản, một thoáng gì của Matisse, của Renoir, nhưng Bonnard sớm khẳng định ông vẽ tranh để « tô điểm cho cuộc đời ». (Tạp chí phát lần đầu ngày 08/05/2015). 

    Tranh của Bonnard tràn đầy nhựa sống. Cảnh sinh hoạt thường ngày trên đường phố Paris, khu vườn ở Normandie hay chỉ đơn thuần là tô sữa bên cửa sổ, dưới cây cọ của Bonnard tất cả đều trở nên sống động hơn, thơ mộng hơn, xanh tươi hơn. Đằng sau ánh sáng chan hòa, những đường nét sinh động, là một thoáng lo âu, là một chút gì dễ vỡ, là « những thiên đường đã mất ».

    Bảo tàng Mussée d’Orsay quận 7 Paris tổ chức cuộc triền lãm « Pierre Bonnard, Peindre l’Arcadie » từ ngày 17/03/2015 đến 19/07/2015, quy tụ hơn 150 tác phẩm hội họa và một số những bức ảnh đen trắng tiêu biểu cho từng giai đoạn sáng tác trong hành trình nghệ thuật gần 60 năm của một họa sĩ bậc thầy cuối thế kỷ thứ XIX, nửa đầu thế kỷ XX.

    « Pierre Bonnard, Peindre l’Arcardie »

    Arcadie là một vùng núi ở miền nam Hy Lạp. Trong thần thoại, đấy là chốn thanh bình nơi địa đàng. Như tên gọi của nó, triển lãm ở bảo tàng Musée d’Orsay đã tập hợp những tác phẩm của ông phù thủy thổi nhựa sống vào trong tranh, dù đó là cảnh đồng quê vùng Normandie miền bắc nước Pháp hay là những chân trời bát ngát dưới nắng vàng rực rỡ, dưới sắc biếc của miền nam ven bờ Địa Trung Hải, hay chỉ đơn thuần là cảnh một cô gái trong buồng tắm, một bức khỏa thân bên lò sưởi, một tác phẩm nature morte hay một bức chân dung tự vẽ.

    Ở bất cứ khung trời nào, thế giới của Bonnard luôn toát lên một sự hài hòa giữa con người với cảnh vật chung quanh. Isabelle Cahn, quản thủ bảo tàng Musée d’Orsay :

    « Tranh của ông nói về sự sống, về hơi thở, về những chuyển động trong cuộc đời, về thời gian về những gì không nắm bắt được. Nhìn dưới góc độ đó, phải nói là danh họa Bonnard đã đặt ông trước một thách thức rất lớn ».

    Xem tranh của Bonnard, ta như nghe được cả tiếng lá xào xạc, tiếng chim hót, như cảm thấy được cả vị ngọt của những quả cam vàng mọng nước, hay những ngọn gió thổi vào một gian phòng …

    Để tạo được những cảm giác như vậy là cả một sự tìm tòi công phu về cách sắp đặt từng chi tiết trong tác phẩm của mình, là cách sử dụng màu sắc rất tinh vi chỉ Pierre Bonnard mới có được. Bên cạnh những gam màu nóng, như vàng, nâu, đỏ, luôn kèm theo một vài sắc tía, ngả về màu tím, xanh lơ. Chính những sắc màu đệm đó phản ảnh những giày vò nội tâm, những vết thương thầm kín mà tác giả đã cố tình không đưa vào tranh của ông.

    Giám đốc điều hành bảo tàng Bonnard tại Le Cannet, vùng Côtes d’Azur Véronique Serrano nhận xét :

    « Ông làm việc với một gam màu khá giới hạn nhưng ông đã phối hợp những màu sắc đó với nhau, để thổi hồn vào mỗi tác phẩm của mình, để mỗi tác phẩm của Bonnard đều có sức lôi cuốn lạ thường. Bonnard thường được xem là người ‘tô điểm cho cuộc sống’, là họa sĩ ‘đem lại hạnh phúc’ cho thiên hạ. Trong khi đó như chính ông đã từng tâm sự : ‘kẻ hay hát, chưa hẳn là đã yêu đời hay hạnh phúc’. Đâu đó, những bức tranh rực rỡ sắc màu như thể là cách để ông che giấu những vết thương nội tâm. Đó cũng là hình thức để ông cưỡng lại nỗi hoang mang sâu thẳm ».

    Trong gian trưng bầy đầu tiên của triển lãm « Pierre Bonnard, Peindre l’Arcadie » bảo tàng Musée d’Orsay giới thiệu đến người xem những tác phẩm trong thời kỳ Pierre Bonnard chịu ảnh hưởng rất lớn của nghệ thuật hội họa dân gian Nhật Bản với những motif đan xen vào nhau mà điển hình là bức bình phong Paravent à trois feuilles - thực hiện năm 1889. Trong đó, Bonnard mượn từ màu đỏ thẫm của hội họa Nhật Bản đến ánh trăng vàng, từ hình ảnh con chim hoàng yến, trĩ, hạc đến những bụi trúc hay cụm thạch thảo của phương đông.

    Cũng trong thời kỳ này, Pierre Bonnard đã thực hiệu nhiều bức tranh rất lạ, chẳng hạn như tác phẩm Intimité – thân mật (năm 1891), mà trong đó, ta thấy một người đàn ông ngồi hút tẩu thuốc. Bên trái là một người đàn bà chìm trong bóng tối. Ở phía trước của hai người, là một bàn tay với một tẩu thuốc pipe thứ nhì, lớn hơi quá khổ so với phần còn lại của tổng thể bức tranh. Thậm chí khi mới nhìn thoáng qua, chưa chắc ta đã trông thấy bàn tay to lớn đó và khói thuốc gần như tan trong những hình vẽ của giấy dán trên tường.

    Với Intimité, Pierre Bonnard đã đan xen những motif vào nhau, như vừa để đánh lừa người xem, nhưng vừa để tạo ra một bầu không khí cho bức tranh của mình. Ta như cảm nhận được chút gì thân mật, ấm cúng và cả mùi thơm của khói thuốc đang lan tỏa ra khắp căn phòng.

     

    Tính tinh nghịch, đùa giỡn với không gian của một Pierre Bonnard thủa trẻ được xác định một lần nữa với tác phẩm Danceuses (1896) mà ở đó tác giả vẽ những cô vũ nữ của nhà hát Opéra như thể ông chụp hình các cô từ trên cao nhìn xuống.

    Con người thầm kín của Bonnard

    Năm 1947 khi Bonnard qua đời, Pablo Picasso, một cây đại thụ khác của làng hội họa thế giới trong thế kỷ XX, thốt lên rằng : « Vẽ như Bonnard thì không phải là vẽ ». Trong mắt cha đẻ của trường phái lập thể này, Bonnard là một họa sĩ hời hợt, chỉ hướng về những đề tài mang tính nhẹ nhàng. Nhưng có lẽ tác giả của những Guernica hay Người Đàn bà Khóc đã không cảm được sự hoang mang, sự chua xót của Bonnard qua những bức chân dung tự vẽ vào năm 1930, 1931, 1939- 1945.

    Tuổi già, nỗi cô đơn, hiện rõ trên khuôn mặt của người trong gương. Đôi mắt u uẩn của Bonnard trong bức chân dung tự vẽ năm 1945 thể hiện thái độ cam chịu của một con người đã đi gần hết cuộc đời. Ở đây ta thấy Pierre Bonnard trong một chiếc áo nâu gần như một chiếc áo ca sa, trong tư thế của một nhà sư Nhật Bản. Ông hơi mỉm cười như nụ cười của Rembrandt trong bức chân dung tự họa cuối cùng.

    Nhưng bi tráng hơn cả là bức tự họa được Bonnard đặt cho cái tên Le Boxeur- Võ sĩ quyền anh. Mình trần, khuôn mặt chìm trong bóng tối, nhưng đủ để cho thấy những vết bầm dập của thời gian. Bonnard trong tư thế của một võ sĩ quyền anh, chung quanh là ánh sáng vàng nhạt. Ánh sáng nhạt và hơi bệnh hoạn đó đã được tác giả tạo lại trong một bức chân dung khác ông thực hiện năm 1939-1945. Nhưng lần này Bonnard trong gương chỉ còn là một chiếc bóng lập lờ, của một người đang gần đất xa trời.

    Marthe, nguồn sáng tác vô tận

    Đôi mắt u uẩn của Pierre Bonnard trong các bức chân dung tự họa đang nhìn thấy những gì ? Phải chăng ông đang hồi tưởng lại thân hình ngọc ngà, mềm mại, của Marthe ở độ tuổi đôi mươi ? Marthe là người mẫu, là nguồn sáng tác bất tận, là người tình và người vợ, là người theo chân ông gần suốt ¾ cuộc đời. Bà là bến đỗ, là nữ thần hộ vệ là một phần linh hồn của danh họa Pierre Bonnard.

    Nàng là người đàn bà tóc vàng ngồi bên cạnh con mèo trắng trong La Femme au Chat (1912), là chủ đề của La sieste – Giấc ngủ trưa năm 1900. Marthe là nguồn cảm hứng của cả chục bức khỏa thân trong phòng tắm mà ông miệt mài sáng tác trong hơn hai mươi năm trời. Ông đưa cặp vú căng tròn của cô vào bức họa La Cheminée- Lò sưởi năm 1916.

    Hình bóng Marthe luôn ẩn hiện trong những khu vườn của ông ở vùng Normandie hay Côtes d’Azur. Dưới bút pháp của Pierre Bonnard, thân hình của Marthe không hề có một nếp nhăn, như thế dấu ấn thời gian không đọng lại trên nước da trắng ngà của người con gái ông đã quen khi mới vừa 26 tuổi. Đôi mắt xanh lơ và thân hình quyến rũ của cô gái bán hoa vải ở phố Pigalle cũng là những cánh cổng sắt, cô lập ông với thế giới bên ngoài.

    Liên hệ giữa Bonnard với Marthe đã được đưa vào tác phẩm L’Homme et la Femme, tranh sơn dầu sáng tác năm 1900. Marthe và Pierre sau một cuộc ân ái. Người đàn bà ngồi trên giường, vuốt ve con mèo. Người đàn ông khỏa thân, trực diện với chính mình trong gương. Giữa họ là một tấm bình phong ngăn cách hai thế giới nội tâm khác biệt.

    Isabelle Cahn, quản thủ bảo tàng Musée d’Orsay nói về ảnh hưởng và vị trí của cô gái bán hoa vải, Marthe đối với Bonnard :

    « Marthe đã đem lại rất nhiều cho Bonnard về mặt cá nhân. Chàng họa sĩ trẻ tuổi con nhà lành, Pierre Bonnard đã bị thân hình gần như tuyệt hảo của cô làm choáng ngợp. Trong gần 20 năm, thân hình ngọc ngà đó không ngừng là đề tài được ông đưa vào hội họa và cả nghệ thuật nhiếp ảnh nữa. Ngược lại Bonnard ít khi tập trung vào khuôn mặt của người tình ».

    Histoire d'eau

    Loạt tranh khỏa thân trong phòng tắm thực hiện vào những thập niên 1920- 1930, chiếm riêng một gian trưng bày với chủ đề « Histoire d’eau ». Những vật dụng trong phòng tắm, từ gạch đá hoa đến giấy dán tường, từ tấm màn cửa, thảm, gương, bồn tắm … đều được tác giả bố trí như để bọc lấy một thân hình mảnh mai, thụ động. Nu dans le bain hay Nu dans la baignoire … cho thấy mức độ gần gũi giữa Bonnard với người mẫu của ông. 

     

     

    Năm 1925 Pierre Bonnard thành hôn với Marthe sau hơn 20 năm chung sống. Vài tuần lễ sau, người tình của ông, Renée Monchaty, kết liễu cuộc đời. Sau này người ta mới biết, người mẫu trong série tranh khỏa thân của Bonnard, không nhất thiết là Marthe.

    Normandie- Côtes d’Asur, chốn địa đàng

    Vào cuối đời Pierre Bonnard tâm sự « Không bao giờ có nghệ thuật nếu không có thiên nhiên ». Ánh sáng muôn màu, lung linh vì hơi nước, thay đổi từng giờ bên dòng sông Seine uốn lượn của vùng Normandie đã thuyết phục Bonnard năm 1912 mua một căn nhà trên ngọn đồi ở Vernonnet, cách không xa khu vườn Giverny của Monet.

    Hơn một chục năm sau, sắc màu của vùng nắng ấm miền nam, biển biếc của bờ Địa Trung Hải đã làm ông xiêu lòng. Bonnard tậu thêm một căn hộ thứ nhì ở Le Cannet vùng Côtes d’Azur, về ở gần Renoir. Dù rất khâm phục hai danh họa bậc thầy của trường phái ấn tượng là Renoir và Monet, nhưng khác với Monet và Renoir, Pierre Bonnard vẽ theo ký ức để, như chính ông định nghĩa : vẽ để « giữ lại một khoẳnh khắc phù du ».

     

     

    Nếu như khung trời miền Bắc là nguồn cảm hứng cho những Eté en Normandie – Mùa hè ở Normandie, Le Jardin Sauvage- Vườn hoang, Le Paradis terrestre –Địa Đàng, La Symphonie pastorale- Bản giao hưởng đồng quê, thì nắng ấm chói chang của vùng Côtes d’Azur là nơi Pierre Bonnard đã sáng tác ra những La Palme – Cành cọ (1926), L’Atelier du Mimosa (1939-1946) với những chùm mimosa vàng rực rỡ khoe sắc bên kia khung cửa sổ, là cây hạnh đào lộng lẫy trong mùa nở hoa, L’Amandier en fleur (1946-1947).

    Màu vàng và gam màu nóng vẫn là chủ đạo, nhưng Bonnard đã pha vào đó những sắc tía, xanh, tím. L’Amandier en fleur là tác phẩm cuối cùng của Pierre Bonnard. Trong đó, sắc xanh nước biển ẩn hiện bên những chùm hoa trắng. Đó cũng là những chùm hoa cuối cùng ông « tô điểm cho đời » hay đấy là những hình ảnh ông vĩnh viễn mang đi khi từ dã trần gian ? Pierre Bonnard từ trần một ngày sau khi ông hoàn tất Cây hạnh đào trong mùa nở hoa.

     

    18 min
  • Nhạc ngoại lời Việt : Những lời mê hoặc, phiên bản của Julien Doré với Sharon Stone

    « Imposteur » (Kẻ mạo danh) là tựa đề album phòng thu thứ sáu của Julien Doré. Lần này, nam ca sĩ trở lại với những bài hát cover hầu như 100% của Pháp, được xem như là sở trường của anh, kể từ khi Julien Doré thành danh trên sân khấu nhạc Pháp, cách đây gần hai thập niên.

    Vào năm 2007, nam ca sĩ Julien Doré đã đoạt được giải nhất cuộc thi hát truyền hình Nouvelle Star (phiên bản tiếng Pháp của American Idol), anh trở nên nổi tiếng nhờ nhạc phẩm « Moi, Lolita » (nguyên tác của Alizée). Khi hát bài này, nam ca sĩ đã đeo một chiếc kẹp tóc (như thể anh đang đóng vai một cô gái ngỗ nghịch lém lỉnh), kỷ niệm này đã in sâu vào tâm trí của khán giả Pháp, biểu tượng của chiếc kẹp tóc màu vàng vì thế được chọn làm hình bìa của tập nhạc cover của Julien Doré.

    Album « Imposteur » (Kẻ mạo danh) gồm 17 ca khúc chọn lọc. Phiên bản cao cấp deluxe có thêm hai bản nhạc bổ sung. Đó là giai điệu « Fais moi une place » để tưởng nhớ Françoise Hardy, đã qua đời trong năm 2024, cùng với « Elle est d'ailleurs » (Em xa nghin trùng) của Pierre Bachelet, mà làng nhạc Pháp chuẩn bị kỷ niệm 20 năm ngày giỗ trong năm tới.

    Khi ghi âm lại các bài hát ăn khách của nhiều nghệ sĩ khác, Julien Doré thường thay đổi lối tiếp cận, đem lại sự hóm hỉnh của mình, tạo thêm nhiều điệu bộ phong cách, cho dù bài hát sau đó có trở thành một tiết mục biểu diễn trên sân khấu hay không. Trên đĩa hát này, có sự góp mặt của nhóm L5 trong video clip « Toutes les femmes de ta vie » và ba bản song ca với Sharon Stone, Francis Cabrel và Hélène Ségara, vốn đã từng ghi âm trước đây nhạc phẩm « Sara perché Ti Amo »,  trên album « Amaretti » của cô, phát hành vào năm 2016.

    Trên tuyển tập album gồm các bản ghi âm lại, Julien Doré dành một vị trí quan trọng cho dòng nhạc Pháp nói chung, nhạc pop những năm 1980 nói riêng, tiêu biểu qua những giai điệu nổi tiếng như « Les démons de minuit » của nhóm Images, « Les Sunlights des Tropiques » của Gilbert Montaigné và nhất là « Mourir sur scène » (Chết trên sân khấu) của Dalida.

    Cách đây gần hai thập niên, giới yêu nhạc cũng đã khám phá giọng ca của Julien Doré qua bản cover « Chết trên sân khấu », nhân vòng chung kết cuộc thi hát truyền hình Nouvelle Star. Ở đây một lần nữa, người hâm mộ tìm lại kỷ niệm khó quên của buổi biểu diễn vào năm 2007, trên album mới của mình Julien Doré ghi âm lại bài hát « Mourir sur scène » với một bản phối mới.

    Một bản nhạc ăn khách khác của Dalida cũng thu hút được nhiều sự quan tâm trong album thứ 6 của Julien. Khi ghi âm lại nhạc phẩm « Paroles Paroles » từng được tác giả Pham Duy phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Những lời mê hoặc », nam ca sĩ đã đảo ngược phần đối đáp. Lời ca trước đây của Dalida sẽ do anh trình bày. Còn phần thoại của thần tượng điện ảnh Alain Delon lại được dành cho ngôi sao màn bạc Mỹ Sharon Stone. Ý tưởng của bản song ca này đã được giữ kín trong nhiều tháng qua.

    Theo lời kể của Julien Doré, anh đã gặp ngôi sao màn bạc Sharon Stone tại liên hoan điện ảnh Cannes cách đây vài năm. Sharon Stone đến Cannes để tổ chức các đêm dạ hội gây quỹ từ thiện. Còn Julien Doré thì được mời biểu diễn trong buổi tiệc bế mạc. Hai nghệ sĩ trò chuyện làm quen với nhau, nhưng không nghĩ là họ có dịp gặp lại. Cho đến một ngày kia, Julien liên lạc với Sharon qua mạng xã hội và ngỏ ý mời Sharon hợp tác để ghi âm bản nhạc « Paroles Paroles « (Những lời mê hoặc), điều mà Sharon Stone đã nhận lời ngay.

    Trung thành với phong cách hóm hỉnh khôi hài (Julien cố tình hát lệch nhip, hát sai một số nốt nhạc) nhưng anh vẫn tạo được những khoảnh khắc nhẹ nhàng duyên dáng trong tác phẩm. Julien Doré thử kết nối dư âm của ký ức với những khoảnh khắc hiện tại, chính cũng vì con tim luôn nhớ nhung khắc khoải, cho nên trong tâm hồn u hoài, kỷ niệm buồn vẫn chưa nhạt phai.

    10 min
  • Sài Gòn - Côn Đảo trên hành trình sáng tác của nhạc sĩ Pháp Camille Saint-Saëns

    Trong gần 80 năm sự nghiệp, Camille Saint-Saëns sáng tác hơn 600 nhạc phẩm. Trong tủ sách đồ sộ đó của nền âm nhạc Pháp, có một thoáng bóng hình thành phố Sài Gòn, thời còn là thuộc địa Đông Dương.

    Dòng chữ « Saigon, 1895, Avril » đánh dấu thời điểm Camille Saint-Saëns hoàn tất vở opéra Frédégonde trong những ngày tháng ông thả bước ở Đông Dương : Sài Gòn, Chợ Lớn, Vũng Tàu, Côn Đảo là những nơi ông đã đi qua.

    Ngày 13/02/1895 đích thân toàn quyền Đông Dương Armand Rousseau ra tận bến cảng Sài Gòn đón người bạn thân Camille Saint-Saëns. Ông lưu lại thành phố được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông vài tuần trước khi tiếp tục hành trình đến Côn Đảo, nơi một mối thâm giao là Louis Jacquet điều hành nhà tù khét tiếng Poulo Condore.

    Trong không khí của vùng nhiệt đới này Camille Saint-Saëns đã soạn nốt hai chương sau cùng trong vở ca nhạc kịch Frédégonde còn dang dở. Trong một bức thư còn lưu lại về những ngày tháng tại Đông Dương, người nhạc sĩ này đã viết « Phong cảnh Côn Sơn tuyệt đẹp, tôi chưa từng được thấy trên đời (…) Tiếc là chẳng hiểu biết gì nhiều về con người, về văn hóa và nhất là âm nhạc xứ này ».  

    Nghịch lý của người tự nhận thuộc trường phái Phương Đông

    Thật ra trước khi đặt chân đến Đông Dương, Camille Saint-Saëns từng có dịp tiếp cận với âm nhạc phương Đông nhân hội chợ triển lãm toàn cầu Exposition Universelle Paris năm 1889. Nhưng khác hẳn với nhạc sĩ Claude Debussy (1862-1918), Saint-Saëns không bị nhạc ngũ cung hay những nhạc cụ cổ truyền phương Đông làm mê hoặc. Trong một bài nghiên cứu, ông viết : âm thanh phát ra từ những nhạc cụ xa lạ ấy làm ông liên tưởng đến « tiếng mèo kêu, đến những tiếng kêu thảm khốc của những con vật bị hành hình ».  

    Những ngày tháng ở Sài Gòn, Chợ Lớn, ông đã nhiều lần đi « xem hát » và dường như chất nhạc thuần túy Á Đông đó không mảy may làm Camille Saint-Saëns thay đổi quan điểm. Nhưng điều đó không cấm cản Saint-Saëns tự nhận và được xem là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái nghệ thuật Phương Đông – Orientalisme.

    Năm 1872 vở opéra thứ ba trong sự nghiệp của Camille Saint-Saëns mang tựa đề Công Chúa Da Vàng – La Princesse Jaune, nhân vật chính trong vở ca nhạc kịch đó yêu say đắm một nàng tiên Nhật Bản dù chỉ là một mối tình trong mơ. Bản thân Saint-Saëns cả đời chưa hề đặt chân lên xứ hoa anh đào.

    Đông phương trong thế giới của Saint-Saëns

    Âm hưởng rất Á Đông, mà chúng ta vừa nghe qua trong đoạn cuối chương thứ nhì bản Concerto số 5 cho dương cầm- còn được gọi là bản Concerto Ai Cập, được Camille Saint-Saëns sáng tác tại Louxor năm 1896. Ông đã đưa giai điệu của một bản tình ca dân gian Ai Cập vào tác phẩm này. Tiếng hát của anh lái đò với thang âm ngũ cung trên xứ sở của những vị vua pharaon là tiếng gọi viễn du, là lời mời Camille Saint-Saëns neo lại con thuyền sáng tác trên dòng sông Nil.

    Bị bệnh suyễn từ bé, nhạc sĩ Camille Saint-Saëns không chịu được thời tiết của những mùa đông ẩm ướt ở Pháp nên ông rất thường tìm đến những vùng nắng ấm. Tác giả của Le Carnaval des Animaux - Lễ hội hóa trang của các loài thú, đã 15 lần đến Ai Cập, 6 lần dừng chân tại quần đảo Canarie, 19 lần sang Algeri và chính tại thủ đô Alger ông đã trút hơi thở cuối cùng ngày 16/12/1921.

    Là một nhạc sĩ phong cầm và piano, một nhạc trưởng tài hoa, một nhà soạn nhạc đa tài để lại nhiều dấu ấn trong hầu hết các thể loại âm nhạc từ thính phòng, đến giao hưởng, và kể cả trong thế giới opéra, trong suốt sự nghiệp, Camille Saint-Saëns rất thường phải sống xa nhà : ông từng biểu diễn tại Nga, hai lần sang Hoa Kỳ, lặn lội đến tận Brazil hay Achentina ...

    Khi định mệnh lần lượt cướp đi hai cậu con trai lúc tuổi còn thơ, ông không còn thiết tha với cuộc sống gia đình. Camille Saint-Saëns gần như ly thân với người vợ trẻ -thua ông đến hơn 20 tuổi. Rất thường xuyên qua thư từ, ông liên lạc với mẹ, người đã đưa ông bước vào thế giới âm nhạc. Năm 1888 khi bà mất, không còn gì giữ chân người nghệ sĩ này ở Paris hay ở quê nội là thành phố Dieppe. Tác giả từng tâm sự : những chuyến đi xa là cách duy nhất để Saint-Saëns hy vọng tìm lại được chính mình. Và đúng như thế : ông rong ruổi đi từ Ceylan đến Malta, từ Tunis đến quần đảo Canaries của Tây Ban Nha, sang tận Đông Dương.

    Suite Algérienne, Africa, Giai điệu Ba Tư, Công Chúa Da Vàng, Bình minh trên sông Nil … là một số những tác phẩm mang tên những vùng đất Camille Saint-Saëns đã đi qua.

    Người đi trước thời đại

    Camille Saint-Saëns là một nhạc sĩ dấn thân. Ở vào thời kỳ Anh, Pháp, Hà Lan đua nhau chinh phục những vùng đất mới, nhạc sĩ Saint-Saëns thường xuyên lui tới Algeri, thuộc địa của Pháp hay Ai Cập, vùng lãnh thổ thuộc về vương quốc Anh. Nhưng lập trường của Camille Saint-Saëns rất rõ ràng : « Thành phố Alger đủ thơ mộng để cho những người châu Âu đến đây sống một cuộc đời vương giả nhưng thay vì bảo tồn văn hóa bản địa đẹp đẽ ấy, thì người ta lại phá hủy những đền đài cổ kính và tráng lệ của Algeri để kiến thiết những khu nhà Tây xấu xí ».

    Trong thư gửi đến người bạn tâm giao là Louis Gallet ngày 04/01/1896 nhạc sĩ Saint-Saëns mạnh mẽ lên án châu Âu « biến thế giới muôn màu muôn thể thành một khối thuần nhất đến là nhàm chán ».

    Đối với một người mà « bốn bể là nhà», ông không thể chấp nhận chính sách thực dân.

    Một điểm nổi bật khác trong tư tưởng của Camille Saint-Saëns là ông rất chú trọng vào tinh thần bác ái và bình đẳng xã hội. Trong tác phẩm Danse Macabre - vũ điệu của những bộ xương khô, sáng tác năm 1874 ông phổ nhạc một bài thơ mang tên Bình Đẳng và Bác Ái của thi sĩ Henri Cazalis. Ở cõi vĩnh hằng hai bộ xương của một bà bá tước và một anh thợ hàn tự do và hạnh phúc khiêu vũ bên nhau. Hạnh phúc trong giây phút đó khiến thế gian phải ganh tị.

    Những nhạc sĩ bậc thầy như Rossini của Ý hay Franz Liszt của Hungary đã nhanh chóng nhìn thấy Camille Saint-Saëns là một nghệ sĩ tài hoa. Liszt từng thốt lên rằng Saint-Saëns là nhạc sĩ phong cầm « xuất sắc nhất trên đời ». Nhiều năm sau đó đến lượt nhạc sĩ Claude Debussy quả quyết rằng « Saint-Saëns là người am hiểu âm nhạc của thế giới hơn ai hết ! ».

    Trong lịch sử âm nhạc Pháp, Camille Saint-Saëns là một trong những tác giả có sự nghiệp bền bỉ nhất. Ông đã dễ dàng xuyên qua hai thế kỷ 19 và 20, vượt qua hai cuộc chiến giữa Pháp và Đức. Hai đợt giao tranh với Đức ấy là một vết thương trong lòng Camille Saint-Saëns, bởi Đức là quê hương của những nhạc sĩ như Bach, Mendelson, Wagner mà ông hằng ngưỡng mộ. 

    Camille Saint-Saëns liên tục là người mở đường : với tác phẩm quatuor đầu tiên dành cho kèn saxo, là người tiên phong đưa điệu tango vào dòng nhạc « cổ điển », năm 1908 lại cũng Saint-Saëns là người đầu tiên soạn nhạc phim. Có lẽ chính vì thế mà nhạc phẩm Aquarium trong tập nhạc Le Carnaval des Animaux - Lễ hội hóa trang của các loài thú được chọn là nhạc hiệu mỗi mùa Liên hoan điện ảnh quốc tế Cannes.

    (Tạp chí phát lần đầu ngày 01/01/2022)

    12 min
  • Nghệ thuật tái chế từ bìa carton

    Quầy bán đèn và đồ trang trí làm từ bìa carton và giấy cũ thu hút mọi ánh nhìn trong phiên chợ trên quảng trường Saint-François ở thành phố Lausanne, Thụy Sĩ. Bị thu hút vì những nét tinh xảo, khéo léo như thổi hồn cho tác phẩm, du khách còn ngỡ ngàng hơn khi phát hiện rằng tất cả đều được làm từ đồ phế thải. Đó là những sáng tạo theo nghệ thuật tái chế (Recycle Art).

    Phong trào nghệ thuật này tái sử dụng rác thải để tạo ra các tác phẩm nghệ thuật, trong đó có một số phương pháp nổi tiếng : Nghệ thuật tái chế (recycle art), nâng cấp (upcycling), nghệ thuật bằng bìa cứng (cardboard art), cắt dán (collage)… Trong nghệ thuật bìa cứng, bìa cứng (carton) là vật liệu chính, nhờ có nhiều lớp, dễ sử dụng nên được chế tác, cắt hoặc gấp lại để tạo ra các tác phẩm điêu khắc và đồ nội thất. Bìa carton hiện được sử dụng nhiều trong thiết kế hiện đại và mang lại nét đặc trưng và sự vững chắc cho đồ vật.

    Đồ phế thải thành tác phẩm nghệ thuật

    Béatrice và Christophe Richoz, cặp vợ chồng nghệ nhân, say sưa giới thiệu sáng tạo từ xưởng l’Atelier Enchanté của họ, từ những sản phẩm lớn, như cây đèn, chụp đèn… đến những đôi khuyên tai vừa sang trọng vừa độc đáo.

    “Cây đèn này được làm từ đăng ten carton. Đó là tấm bìa cứng có rãnh, được đặt chồng lên nhau, rất tỉ mỉ, đúng từng ly từng tí. Và thường là do chồng tôi làm. Sau đó, chúng tôi hoàn thiện, tạo cảm giác như là gỗ bào. Chiếc bình lớn này, cũng như những viên đá cuội kia, đều được làm từ ren carton, xếp chồng lên nhau, bên trong được nhồi giấy. Trước tiên, chúng tôi vẽ hình lên bìa cứng, dán các tấm bìa lên nhau, cắt theo hình vẽ và cuối cùng là gọt tỉa và mài theo tạo hình. Chúng tôi để rỗng trong bình hoa để có thể cắm cành khô hoặc hoa khô.

    Những viên đá nằm ở phía dưới cũng thế. Chúng tôi nhặt những viên sỏi ở rìa hồ và muốn làm giống như vậy. Chúng tôi muốn tạo thêm các đường viền tự nhiên như thật, cho nên sau khi làm các bước như dán bìa chồng lên nhau, tạo hình, rồi cắt theo hình vẽ, cuối cùng là thêm những nét uốn lượn để tạo cảm giác hòn đá bị nước mài mòn”.

    Bên cạnh những tác phẩm làm từ bìa carton, còn có rất nhiều đồ vật, những chiếc đĩa hoặc đôi bông tai, được làm bằng giấy bồi. Đây là một kỹ thuật tái chế khác song song với tái chế bìa carton, có nguồn gốc từ thành phố Lecce, vùng Puglia, miền nam Ý. Theo giải thích của bà Béatrice Richoz, “La cartepesta” - kỹ thuật bồi giấy - sử dụng bột mì và nước, dây, rơm và giấy để tạo ra những tác phẩm tinh tế, mềm mại. Những nghệ nhân, những nhà điêu khắc ở Lecce là bậc thầy trong “Nghệ thuật hoành tráng” trong suốt thế kỷ XV đến XVIII ở Ý, mang lại mọi biểu cảm cho những bức tượng nhỏ, thể hiện tinh tế những nét gấp trên trang phục, hoặc vết nhăn trên bàn tay. Rất nhiều tác phẩm theo kỹ thuật này vẫn được bảo tồn trong các Vương cung thánh đường hay nhà thờ.

    “Ban đầu, chúng tôi làm bằng giấy bồi. Sau đó chúng tôi theo học một khóa sáng tạo các bức tượng Chúa giáng sinh ở thành phố Lecce, Ý. Những tác phẩm đó đẹp đến nỗi chúng tôi muốn mang hết về nhà. Và chúng tôi bắt đầu làm, nhưng ở đây (Thụy Sĩ), những nhân vật đó lại không được hiệu quả cho lắm, nên chúng tôi chuyển sang làm những món đồ trang trí nho nhỏ cho lễ Giáng sinh, Phục sinh. Rồi từng bước một, chúng tôi bị cuốn vào công việc này, lúc nào cũng nghĩ : À, mình có thể làm được cái này và thế là chúng tôi chuyển sang làm đèn và chụp đèn.

    Ví dụ như chiếc chụp đèn được làm từ đăng ten bìa hình bông hồng. Chúng tôi cắt các dải bìa cứng, sau đó tạo thành những hình bông hồng, rồi dán lần lượt những bông hồng đó lên khuôn làm chụp đèn. Chúng tôi làm thành hai mảng, gọt dũa bên trong và bên ngoài, sau đó ghép dán hai mảnh đó lại với nhau. Và bên trong có thể treo đèn mang lại ánh sáng dịu nhẹ.

    Trước đây khi chưa quen, chúng tôi mất đến một tuần để làm mỗi chụp đèn như vậy nhưng giờ thì mất ít thời gian hơn. Giai đoạn chuẩn bị và hoàn thiện là mất thời gian nhất. Sau đó, chúng tôi thêm cả bìa cứng đun trong nước để tạo cảm giác thô thô mà rất nhiều người thích”.

    Sử dụng chất liệu và màu thân thiện với môi trường

    Mỗi sản phẩm là một màu sắc riêng vì hoàn toàn làm thủ công. Chất liệu sơn, vẽ cũng được chọn cẩn thận vừa để bảo vệ người sử dụng vừa thân thiện với môi trường. Ví dụ những đôi khuyên tai được phết thêm một lớp vec-ni để hồ dán không dính vào da.

    “Hoặc với chiếc đĩa bằng giấy vò nát kia, tôi muốn tạo cảm giác như được làm bằng da khi nhìn vào. Sau đó, chúng tôi dùng bột màu hoặc màu acrylic, màu nước để vẽ lên trên. Chúng tôi luôn cố sử dụng bột màu hoặc những chất tự nhiên nhiều nhất có thể hoặc màu acrylic, tôi nghĩ nó cũng không quá tệ, hoặc chúng tôi để nguyên.

    Còn mỗi bình hoa lớn như vậy phải mất 8 đến 10 ngày để làm, từ lúc bắt đầu dán các tấm bìa và cắt tỉa theo hình vẽ. Tất cả những tấm bìa carton đó đều được chúng tôi đi nhặt. Chúng tôi biết một cửa hàng bán khung tranh và thường được giao hàng. Các thùng carton của họ thường chắc, sạch và đẹp. Chúng tôi đến lấy và mang về xưởng, trải trên sàn rồi dán chồng lên nhau. Đôi khi chúng tôi cũng thay đổi chiều của các tấm bìa để tạo ra những hình dạng khác. Sau đó, chúng tôi cắt và hoàn thiện. Thường phải mất 8 đến 10 ngày, vì còn phải chờ carton sấy khô, ép chúng để tạo hình. Sau đó, thường thì chúng tôi dán thêm những hình nhỏ khác để tạo dáng cho tác phẩm”.

    Nguồn ý tưởng vô tận

    Nghệ thuật tái chế không phải là phong trào mới nhưng ngày càng thu hút thêm nhiều “tín đồ” -  những người quan tâm bảo vệ môi trường và tìm thấy nguồn cảm hứng sáng tạo trong những vật bị bỏ đi vì tưởng chừng vô dụng. Trong loại hình nghệ thuật này, phương pháp tái chế có lẽ là phổ biến nhất. Chất thải được chuyển đổi để tái sử dụng, hoặc được biến thành thiết kế bối cảnh và triển lãm. Eve de Jong là một trong số những nghệ sĩ nổi tiếng trong loại hình này với dự án Mount Plastic - một loạt tác phẩm điêu khắc làm từ nắp và nắp nhựa.

    Ngoài ra, còn phải kể đến phương pháp nâng cấp nhằm tăng giá trị hoặc mang lại một công dụng mới cho phế thải, ví dụ để ghép thêm vào các tác phẩm, điêu khắc hoặc hội họa. Một phương pháp rất thịnh hành khác trong nghệ thuật tái chế là cắt dán, kết hợp với nghệ thuật trừu tượng, ví dụ dùng các mảnh tạp chí, sách, nhãn hiệu, bao bì, thậm chí hàng dệt may để làm nên những tác phẩm mới, đưa rác thải trở lại cuộc sống. Tất cả đòi hỏi những ý tưởng độc đáo. Bà Béatrice Richoz cười và chỉ vào đầu, giải thích :

    “Tất cả xuất phát từ chiếc hộp này. Thực ra chúng tôi luôn luôn tìm tòi. Khi bắt đầu một việc gì đó, chúng tôi không muốn ngồi yên một chỗ mà luôn tìm kiếm điều mới lạ, những ý tưởng mới và giờ đã trở thành thói quen. Mỗi khi nhìn một điều đơn giản, chúng tôi luôn tự hỏi : Mình có thể là được gì ngoài điều hoặc đồ vật mà mình nhìn thấy. Có nghĩa là hình dung xa hơn những gì mà người ta có thể thấy”.

    Họ biến ý tưởng của những người khác thành hiện thực, theo “đặt hàng”. Họ tham gia thiết kế và làm đạo cụ bằng giấy vụn và carton cho các vở kịch. Họ giúp các cửa hàng thêm hấp dẫn hơn vào các dịp lễ tết. Để những đam mê, sáng tạo của mình được đến với công chúng, ông bà Richoz, cũng như những nghệ nhân khác, tìm mọi cơ hội để giới thiệu sản phẩm. Những phiên chợ định kỳ ở các thành phố trong vùng Grandvillard, Champex, Gryon… hoặc hội chợ dành cho nghệ nhân sáng tạo ở Lausanne là những địa điểm giúp công chúng hiểu thêm về công việc “tái chế” đặc biệt này.

    Ánh đèn ấm áp, phản chiếu qua những kẽ nhỏ trong chiếc chụp đèn bằng carton, còn kỳ diệu hơn trong tiết trời mùa đông với những bông tuyết rơi trắng trong phiên chợ Giáng sinh cuối năm. Nhưng trong lúc chờ đợi, xưởng nghệ thuật của ông bà Richoz ở Cully mở cửa đón những người tò mò muốn xem điều kỳ diệu được hình thành như thế nào.

    10 min
  • Nhạc ngoại lời Việt : Elvis Presley, « Người còn cô đơn tối nay »

    Trong số các bản tình ca của Elvis Presley, nhạc phẩm « Are you lonesome tonight » có lẽ là giai điệu buồn và đẹp nhất. Vào đầu những năm 1960, sau hai năm thi hành nghĩa vụ quân sự, nam danh ca Elvis đã ghi âm lại bài hát này theo gợi ý của nhà quản lý Colonel Parker, đơn giản là vì vợ ông (bà Marie Mott) rất thích nghe bản nhạc này (phiên bản của Al Jolson), từng ăn khách nhiều năm trước đó

     

    Mặc dù đã được hoàn tất vào mùa xuân năm 1960, nhưng bản ghi âm « Are You Lonesome Tonight » của Elvis Presley lại bị hãng đĩa RCA « cầm chân », trì hoãn thời điểm phát hành đến hơn 6 tháng. Chủ yếu cũng vì ban giám đốc điều hành thời bấy giờ nghĩ rằng bản ballad này không phù hợp với hình ảnh và phong cách của Elvis, họ muốn anh hát nhạc rock để thu hút giới trẻ thay vì hát nhạc tình theo kiểu crooner, hợp hơn với lứa tuổi trung niên.

    Bất ngờ thay, khi được phát hành vào tháng 11 năm 1960, bài hát này thành công ngay lập tức trên thị trường Mỹ, đứng đầu bảng xếp hạng nhạc pop của Billboard, về hạng ba trong hạng mục R&B. Một tháng sau khi chinh phục Hoa Kỳ giai điệu này lại giành luôn ngôi vị quán quân tại vương quốc Anh và hạng đầu thị trường châu Âu.

    Có thể nói là « Are You Lonesome Tonight » là một bản nhạc xưa. Được nhóm sáng tác Tin Pan Alley (gồm các nhạc sĩ Roy Turk và Lou Handman) viết vào năm 1926, bản nhạc này đã thành công vang dội lần đầu tiên vào năm 1927 với bản ghi âm của Charles Hart. Hai thập niên sau, bài hát « Are You Lonesome Tonight » ăn khách một lần nữa với Harry Freidman, ca sĩ chính của dàn nhạc Blue Barron và nhất là phiên bản của nam danh ca Al Jolson, với giọng đọc khá truyền cảm thay vì giọng hát ở trong đoạn giữa.

    Khi cover lại bài hát này, Elvis có lẽ đã muốn chiều ý nhà quản lý của anh là Colonel Parker. Lúc đầu, ông chỉ yêu cầu anh hát thử, nếu không thích thì không cần phải thu thanh, nào ngờ lối hát thần sầu của Elvis lại nâng bản nhạc này lên một tầm cao mới, có phần vượt trội so với các phiên bản trước. Đoạn khó nhất đối với Elvis là phần độc thoại khi anh mô tả mối tình như một vở kịch ba màn, yêu nhau trong màn đầu, bẽ bàng khổ đau trong màn hai, để rồi chia tay nhau trong màn cuối. Khi vở kịch buông màn, cũng là lúc tình yêu đã đi vào hồi kết, sân khấu cô đơn trống rỗng để lại trong màn đêm một dấu chấm hết. Tuy không phải là sở trường so với giọng hát, nhưng giọng nói của Elvis trong phần thoại lại đầy sức thuyết phục.

    Ông hoàng Elvis đã ghi âm bản nhạc này tại Studio B ở Nashville vào đầu tháng 04/1960. Tuy nổi tiếng là một ca sĩ nhạc rock, nhưng vào thời bất giờ anh đang chuyển sang ghi âm những bài hát xưa, điển hình là bài hát rất ăn khách của anh trước đó « It's Now Or Never » được phóng tác từ giai điệu « O Sole Mio », và sau đó đến bài « Surender » (Torna a Surriento/Trở về mái nhà xưa trong tiếng Việt) cũng như bài « No more », chuyển thể từ « La Paloma », khúc đàn Tây Ban Nha nổi tiếng trong làng nhạc cổ điển.

    Bản thân danh ca Elvis thích sự chuyển hướng này trong sự nghiệp của mình, xem đó là cơ hội để mở rộng tầm nhìn, thử hát nhiều thể loại âm nhạc khác nhau. Điều mà ban giám đốc điều hành hãng đĩa RCA lo ngại, rốt cuộc đã không xảy ra. Dù bị dời lại hơn nửa năm, nhưng đến khi được phát hành, « Are You Lonesome Tonight » lại giúp cho Elvis chinh phục được thêm nhiều thành phần người hâm mộ mới (thế hệ trên 35 tuổi), mà vẫn giữ lại hầu hết những người yêu mến chất giọng của Elvis (chủ yếu là giới trẻ) luôn trung thành với giọng ca này từ lúc anh mới vào nghề.

    Cũng như bài hát « Will you still love me tomorrow » (Mai có còn yêu em) của Carole King đã cho ra đời nhiều bản nhạc hồi âm như « Tomorrow & Always  » (Yêu đến ngàn sau), phiên bản của Elvis « Are You Lonesome Tonight » sau khi thành công, đã có ít nhất 5 ca khúc đối đáp của những giọng ca nữ khác nhau được tung ra thị trường. Đó là trường hợp của Dodie Stevens, Linda Lee, Ricky Page, Thelma Carpenter và Jeanne Black.

    Các giọng ca nữ này đã hồi âm Elvis khi cho phát hành nhạc phẩm mang tựa đề « Yes, I'm lonesome tonight » (Vâng em cô đơn đêm nay) giữ nguyên giai điệu nhưng thay đổi lời hát. Ngoài ra, cũng có một bài hát thứ nhì với góc nhìn khác mang tên là « Oh, how I miss you tonight » (Đêm nay sao quá nhớ anh).

    Tuy được đề cử đi tranh giải Grammy trong hạng mục bản ghi âm xuất sắc nhất, nhưng bài hát của Elvis rốt cuộc lại nhường hạng đầu cho nhạc phẩm « Georgia On My Mind » của Ray Charles. Dù vậy bài hát này lại rất thành công trên thị trường và sau Elvis, đến phiên nhiều nghệ sĩ quốc tế ghi âm lại bài này như Frank Sinatra, Connie Francis, Doris Day, Bobby Solo …

    Gần một thế kỷ sau ngày ra đời, giai điệu « Are You Lonesome Tonight » tính đến nay đã có gần cả ngàn phiên bản trong 16 thứ tiếng. Trong tiếng Việt, bài này có nhiều lời khác nhau. Lời đầu tiên « Tình bơ vơ » của tác giả Trầm Tử Thiêng do Elvis Phương ghi âm. Lời thứ nhì « Đêm Buồn » của tác giả Nguyễn Hoàng Đô qua phần trình bày của các nghệ sĩ Thanh Duyên hay Quỳnh Dao, lời thứ ba « Em còn cô đơn tối nay » được nhiều nguồn ghi chép là do Trung Hành tự đặt lời và ghi âm.

    « Are You Lonesome Tonight » là một trong những bài hát buồn và đẹp nhất từng được viết. Theo bảng xếp hạng (năm 2008) của tạp chí Billboard, bản nhạc này đứng hạng thứ 81 trên danh sách 100 bài hát hay nhất mọi thời đại. Tưởng chừng nhân vật trong bài hát thầm hỏi người yêu, nhưng thực ra lại tự hỏi lòng : có ai nào ngờ đâu, tấn trò đời sân khấu. Yêu ngay từ lúc đầu, trao ánh mắt cho nhau. Nhưng không hiểu vì sao, tình lạc lối đêm thâu. Cho cô đơn buông màn, tim ngập tràn nỗi đau.

    10 min
  • Monsieur Aznavour, bộ phim tiểu sử nhân 100 năm ngày sinh

    Trong những năm gần đây, sự quan tâm của công chúng đối với dòng phim tiểu sử (biopic) vẫn chưa suy giảm. Phía nghệ sĩ quốc tế có Freddie Mercury, Bob Marley hay Amy Winehouse, còn trong làng nhạc Pháp, sau hai thần tượng Édith Piaf và Dalida, nay đến phiên « Monsieur Aznavour » ra mắt khán giả cuối tháng 10 năm 2024. Bộ phim kể lại hành trình của ông Aznavour trong những năm tháng đầu đời, đồng thời cũng đánh dấu 100 năm ngày sinh của danh ca người Pháp gốc Armenia.

    Bộ phim « Monsieur Aznavour » trước hết là câu chuyện của một kẻ gan lì bướng bĩnh, không chịu nghe lời ai. Mọi người đều nói rằng, trước sau gì ông cũng gặp thất bại, vì vào thời bấy giờ để hát nhạc tình, ca sĩ phải có ngoại hình, khuôn mặt phải điển trai. Người duy nhất thấy được tài năng của Aznavour, có lẽ vẫn là Édith Piaf, bởi vì cả hai nghệ sĩ này đều có ý chí vươn lên, thoát khỏi cảnh cơ cực nghèo đói, từ cái thuở đi hát rong ở ngoài đường phố. Ngay từ lúc mới vào nghề, nghệ sĩ Aznavour đã bị giới phê bình chỉ trích nặng nề, họ chê ông xấu ở ngoại hình cũng như ở chất giọng, khuyên ông nên làm nghề kế toán hơn là ca sĩ. Thậm tệ hơn nữa, nhiều nhà phê bình đã tỏ ra kỳ thị, khi coi thường nguồn gốc của gia đình ông.

    Tại Pháp, anh Fabien Marsaud nổi tiếng là một nghệ sĩ slam với nghệ danh ''Grand Corps Malade''. Lần này, anh cùng thực hiện với Medhi Idir bộ phim kể lại cuộc đời và sự nghiệp của nam danh ca Aznavour, một dự án có từ gần một thập niên qua, ngay từ thời ông còn sống. Nghệ sĩ Grand Corps Malade cho biết quá trình hình thành bộ phim « Monsieur Aznavour » :

    « Aznavour trước hết là một huyền thoại nhạc Pháp và xa hơn nữa ông là một biểu tượng của văn hóa Pháp ở nước ngoài. Về mặt quan hệ đời tư, tôi càng cảm thấy gần gũi gắn bó với ông. Sở dĩ tôi dành cho ông nhiều tình cảm quý mến là vì tôi có may mắn quen ông ở ngoài đời và quan trọng hơn nữa là tôi đã có dịp làm việc với ông, được ông chỉ bảo dìu dắt, nhờ vậy mà tôi hiểu ông Aznavour hơn, cả nghệ sĩ lẫn con người.

    Sinh thời, nam danh ca Aznavour đã từng có ý định cho quay một bộ phim kể lại cuộc đời và sự nghiệp của mình. Lúc đầu, ông đã giao dự án này cho con rể của ông (chồng của Katia Aznavour), là nhà sản xuất Jean Rachid. Thế nhưng, dự án này lại bị gián đoạn vào năm 2018 khi ông Aznavour đột ngột qua đời. Một thời gian sau đó, nhà sản xuất mới khởi động lại quá trình làm phim tiểu sử và giao cho chúng tôi phần soạn kịch bản cũng như việc thực hiện dự án này ». 

    Thay vì phản ánh giai đoạn huy hoàng nhất trong sự nghiệp của Aznavour, ông có lẽ là nghệ sĩ Pháp đã thực hiện trong đời 5 vòng lưu diễn thế giới, bộ phim lại chủ yếu tập trung vào giai đoạn đầu đời, khi Aznavour còn đang chờ thời, người nghệ sĩ muốn phát huy tài năng, nhưng vì chưa có cơ hội, nên phải chịu khó làm đủ mọi nghề để kiếm sống, bữa no bữa đói. Nghệ sĩ Grand Corps Malade giải thích :

    « Ông Aznavour muốn kịch bản phim nhấn mạnh đến thời ông mới vào nghề, chứ ông không quan tâm đến giai đoạn thành công, bước lên tột đỉnh danh vọng (ông thành danh khá muộn vào năm 37 tuổi). Thời thanh niên, ông đã phải trải qua những năm tháng cơ cực, làm cùng lúc nhiều công việc mới hy vọng đủ sống. Xuất thân từ một gia đình nghèo người nhập cư gốc Armenia, ông đi làm rất sớm để phụ giúp cha mẹ. Ông chọn nghề sân khấu cho dù không có nhiều lợi thế : không có quan hệ rộng rãi, quen biết nhiều người có thể giúp ông thăng tiến nhanh.

    Nhiều nhà phê bình chê ông xấu cả về ngoại hình lẫn chất giọng. (Thực ra, giọng của Aznavour khá hay, khàn đục trong những vết gãy, nhưng lại không hợp với thời bấy giờ, đang có trào lưu của những giọng ca quyến rũ mượt mà, âm thanh trau chuốt bóng bẩy). Nhưng có lẽ nhờ có ý chí phấn đấu và sức chịu đựng bền bỉ mà người nghệ sĩ đã vượt qua được những trở ngại cũng như cạm bẫy, để rồi cuối cùng áp đặt tài năng của mình ».  

    Khi mới vào nghề, ông Aznavour từng bị phân biệt đối xử, thậm chí có nhiều lời phê bình mang tính kỳ thị khi nhắm vào nguồn gốc Armenia của ông thay vì đơn thuần bàn về tài năng soạn nhạc hay diễn đạt của Aznavour trên sân khấu. Thế nhưng giờ đây, không ai có thể phủ nhận được tầm ảnh hưởng của nghệ sĩ này, đại diện cho văn hóa Pháp ở nước ngoài và đó là ý nghĩa mà hai đạo diễn Medhi Idir và Grand Corps Malade đã muốn đề cao trong bộ phim :

    « Câu chuyện của Aznavour là một biểu tượng tuyệt vời, và càng có tiếng vang trong thời buổi hiện nay. Vào lúc nhiều quốc gia đang co cụm lại, có tư tưởng sống khép kín và thậm chí muốn đóng cửa biên giới trước nỗi lo ngại của các làn sóng nhập cư. Ông Aznavour là trường hợp khá tiêu biểu của thế hệ sau của các gia đình dân nhập cư, cha mẹ họ không nói thạo tiếng Pháp, nhưng con cháu họ trong mắt người nước ngoài, lại trở thành những gương mặt tiêu biểu của văn hóa Pháp nói riêng, cho nước Pháp nói chung. Quá trình hội nhập thành công mang tính thời sự, và chúng tôi chọn đề tài này làm biểu tượng. 

    Xuất thân từ trường phái slam kết hợp giai điệu với thơ nói, nghệ sĩ Grand Corps Malade hơn ai hết biết rõ di sản mà ông Aznavour đã để lại cho các thế hệ sau, nhưng ngoài tiếng Pháp, tầm ảnh hưởng của nam danh ca Aznavour còn khá lớn đối với nhiều nghệ sĩ quốc tế. Anh cho biết đó là những nghệ sĩ nào và giải thích vì sao :

    « Trong phim, chúng tôi có nhắc đến trường hợp của Dr Dre, nghệ sĩ hip hop rất nổi tiếng người Mỹ đã từng lấy lại một đoạn của bài hát « Parce que tu crois » rồi đưa vào trong giai điệu nhạc rap của mình. Về phần mình nghệ sĩ nhạc rap Benito Martínez Ocasio với nghệ danh Bad Bunny trong album « Nadie sabe lo que va a pasar manana » (Không ai biết ngày mai sẽ ra sao) đã thu hút hàng trăm triệu lượt truy cập trên mạng Spotify nhờ hội tụ thần tượng Al Pacino trong phim video clip với Aznavour qua giai điệu khi mượn lại bài hát « Hier encore » của ông hiểu theo nghĩa Tuổi trẻ cứ nghĩ rằng mình còn thời gian.

    Xuất thân từ một gia đình nhập cư, và nhờ vậy mà có hai nền văn hóa, trải qua nhiều năm tháng cực khổ trước khi thành công, nhưng không phải vì giàu có hôm nay mà quên đi những buổi hàn vi thuở nào. Tất cả những yếu tố đó đều rất là con người, cộng thêm những giai điệu nghe đi nghe lại mà vẫn chưa lỗi thời, khiến cho hình tượng của Aznavour luôn hấp dẫn đối với các nghệ sĩ rap hay slammer mọi thời.

    Bộ phim « Monsieur Aznavour » có sức thuyết phục, trước hết là nhờ vào tài năng diễn xuất của Tahar Rahim. Thành danh vào năm 2009 nhờ bộ phim « Un prophète » của đạo diễn Jacques Audiard, anh là một trong những gương mặt hiếm hoi đoạt cùng lúc hai giải César của Pháp dành cho nam diễn viên xuất sắc nhất và tài năng đầy hứa hẹn. Lần này, để vào vai nam danh ca người Pháp, Tahar Rahim không trông cậy vào các thủ thuật trang điểm để có nét mặt giống như Aznavour, mà lại luyện giọng trong vòng 6 tháng liền trước khi êkíp đạo diễn bấm máy quay phim. Kết quả là từ giọng nói cho tới giọng hát, Tahar giống Aznavour đến 8 phần 10. Ống kính của hai đạo diễn tập trung vào những góc quay tầm trung, cho thấy tướng mạo và điệu bộ nhiều hơn là nét mặt quay cận ảnh của nam diễn viên.

    Cho dù bộ phim có vài khuyết điểm nhỏ trong các đoạn chuyển tiếp quá nhanh, không dành nhiều thời gian cho các vai phụ, dùng nhiều đoạn phim để minh họa thay vì đào sâu thêm khía cạnh tâm lý, giúp cho nhân vật thêm sắc sảo, nhưng nhìn chung Monsieur Aznavour vẫn có một ưu điểm lớn : đó là Tahar Rahim đã thu toàn bộ các bản nhạc phim với chính giọng ca của mình. Và khi nhắm mắt lại, người xem có cảm tưởng danh ca Aznavour đang hát nhạc tình. Đó thực sự là kỳ công của điện ảnh, trong ma lực tái tạo, trong phép lạ « hồi sinh ».

    10 min
  • Việt Nam: Xuất bản sách đầu tiên về Du lịch Đông Dương xưa

    Không chỉ bây giờ, mà ngay từ thời Pháp thuộc, Đông Dương đã thu hút nhiều du khách Pháp và phương Tây nói chung. Chính quyền thuộc địa Pháp ngay từ đầu thế kỷ 20 đã tích cực quảng bá cho du lịch Đông Dương với nhiều cuốn sách được xuất bản vào thời ấy.

    "Du lịch Đông Dương xưa" cũng chính là tựa đề của một cuốn sách vừa ra mắt độc giả Việt Nam đầu tháng 10 vừa qua, do nhà xuất bản Dân Trí phối hợp với Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 phát hành. Biên tập chính của nhóm biên tập cuốn sách này là ông Trần Hữu Phúc Tiến, tác giả của một số quyển sách về Sài Gòn xưa, cũng như về các di sản kiến trúc của Pháp ở Việt Nam. 

    Trả lời RFI Việt ngữ tại Paris ngày 28/09/2024, nhân dịp ông đến thủ đô Pháp để giới thiệu cuốn sách “Du lịch Đông Dương xưa”, tác giả Phúc Tiến cho biết: 

    “Tôi có thể nói là đến bây giờ, chữ Indochine, Indochina, Đông Dương đang trở lại, hay nói cách khác, đang có một hiện tượng là rất nhiều người, cả già lẫn trẻ, muốn tìm hiểu về thời kỳ trước 1945. Trong khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm có đến 9, 10 quyển sách viết về Đông Dương, hoặc dịch, giới thiệu những hoạt động rất phong phú, không chỉ là về cuộc chiến, về kiến trúc, văn hóa, mà còn có những ký sự, những câu chuyện về những nhân vật người Pháp, cũng như người Việt.

    Khi tham gia biên soạn sách để tìm hiểu về lịch sử, tôi thấy mảng du lịch là một mảng rất là hay. Khi viết quyển sách này, tôi có nói là chúng ta cùng “đi phượt” về miền quá khứ. Chúng ta đi thăm những điểm du lịch quen thuộc như Đà Lạt, Sapa, Đồ Sơn hay các thành phố lớn, chúng ta có biết rằng những nơi ấy được hình thành như thế nào không? Qua cuốn sách này, chúng tôi đưa bạn đọc tìm lại cội nguồn của những địa điểm du lịch đó, những nơi đó được hình thành ra sao, và trong đó có cả công sức của người Pháp lẫn người Việt.

    Đây là một công trình tập thể, chúng tôi cộng tác với Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 tại Hà Nội. Tôi là người biên soạn chính, cùng với hai bạn Bùi Hệ và Hoàng Hằng tham gia tìm kiếm tư liệu và dịch thuật. Cũng xin nói rõ là do khuôn khổ đầu tiên nên lần xuất bản này chỉ có tiếng Việt và tiếng Anh. Chúng tôi đã bàn là sẽ có một bản tiếng Pháp để phục vụ bạn đọc Pháp.   

    Theo lời ông Trần Hữu Phúc Tiến, ngay từ đầu người Pháp đã chú ý đến 3 địa điểm du lịch mà họ xem là hàng đầu ở Đông Dương:

    “Tư liệu đầu tiên mà tôi rất vui khi tìm được, đó là một ấn phẩm giới thiệu về du lịch Đông Dương năm 1911, có nghĩa là đầu thế kỷ 20, của Hội Du lịch Pháp Touring Club de France, trong đó họ nêu ngay ba địa điểm mà họ coi là số một để du lịch khi đến Đông Dương:Vịnh Hạ Long, Angkor và Huế. 

    Như vậy là trong ba nước Đông Dương thì đã có hai địa điểm là ở Việt Nam, một là du lịch thiên nhiên. Cuối thế kỷ 20 Vịnh Hạ Long mới được UNESCO công nhận là di sản thế giới, nhưng ngay từ đầu, người Pháp đã quảng bá cho Vịnh Hạ Long tuyệt vời như thế nào.

    Cũng như Angkor, trên thế giới ai cũng biết công sức của những nhà khảo cổ Pháp là những người đầu tiên khám phá ra Angkor. Đó là cung điện trong rừng, đã bị bỏ qua và khi người ta khám phá,  thì người ta đã quảng bá nó, trân trọng nó, giữ gìn nó.

    Thứ ba là Huế. Phải nói chúng ta rất tự hào là có một kinh thành và nhiều điểm du lịch khác.

    Cuốn sách "Du lịch Đông Dương xưa" còn nêu bật công lao của người Pháp khai phá những địa điểm du lịch mà cho tới nay vẫn thu hút nhiều du khách trong vào ngoài nước, theo lời ông Trần Hữu Phúc Tiến:

    "Trước nhất là về những địa điểm du lịch thiên nhiên. Phải nói là người Pháp có công mở đường để làm những địa điểm du lịch ở vùng sâu, vùng xa. Bây giờ chúng ta đi rất là dễ dàng, nhưng ngày xưa thì không có. Ngay cả hai nơi mà chúng ta tưởng đi rất dễ dàng là Đồ Sơn, Hải Phòng và Sầm Sơn, Thanh Hóa là hai bãi biển đẹp, thì cũng không phải là có đường đến dễ dàng như bây giờ. Hoặc là Cam Ranh. Cam Ranh là do một ông quý tộc đến đây, thấy nó hay và phát triển nó lên. 

    Cả Bà Nà cũng vậy, thâm sơn cùng cốc, có thể nói là dưới con mắt của một cường quốc công nghiệp, họ đã khám phá. Đầu tiên, người Pháp sử dụng những nơi này, ví dụ như sanatorium, những khu nghỉ dưỡng trên núi cao, cho người Pháp tại chỗ. Nhưng sau đó, họ thấy rằng người địa phương vẫn có thể tham gia.

    Cuốn sách "Du lịch Đông Dương xưa" cũng cho thấy là sau khi đã khai phá những địa điểm du lịch ở Đông Dương, người Pháp đã tích cực quảng bá du lịch Đông Dương ra khắp thế giới và tổ chức các tour bằng đường hàng không, đường biển. Trong những nỗ lực còn có sự đóng góp của người Việt Nam thời ấy: 

    " Người Pháp đã thành lập Tổng cục Du lịch Đông Dương vào cuối những năm 1920 đầu những năm 1930, trụ sở đầu tiên là đặt ở tòa nhà 213 đường Catina, Sài Gòn. Rất tiếc tòa nhà rất đẹp này đã bị “xóa sổ” rồi. Sau đó có một thời gian trụ sở được đặt ở khách sạn Majestic. Tổng cục đó quảng bá du lịch của toàn Đông Dương ra khắp thế giới. 

    Trên thế giới hồi đó đã có máy bay, nên đã có những tuyến hàng không dừng tại Sài Gòn, Hà Nội để đưa khách đi tham quan những địa điểm du lịch đó. Đặc biệt là đường biển thì Sài Gòn đã nối với Marseille, Le Havre từ năm 1862-63.

    Giữa hai cuộc thế chiến thì Âu-Mỹ có một thời kỳ gọi là “vàng son”. Sau thảm họa chiến tranh thứ nhất, họ thấy cần phải an dưỡng, tránh những suy nghĩ căng thẳng, nên họ đi du lịch, mà lúc đó kinh tế Âu Mỹ đang phát triển và kinh tế Đông Dương cũng phát triển. Họ đã tổ chức các tour, kể cả đường bay. Đường bay Sài Gòn - Paris, nối với Hà Nội, với Batavia của Indonesia, đã có từ thập niên 1930. Trong tour hàng hải đã có một tour gọi là grand tour, đi du thuyền qua các thành phố, các cảng thị châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có dừng chân ở Sài Gòn. 

    Ngay từ năm 1929, người Pháp đã tổ chức một tour thủy phi cơ từ Sài Gòn ngay ở Bến Bạch Đằng, bay sang Angkor, Siem Reap, Cam Bốt, sau đó tham quan Angkor, rồi bay về chỉ trong một ngày.

    Trong cuốn sách này chúng tôi chưa có thời gian, chưa đủ chương, để trình bày về công nghiệp du lịch mà người Pháp đã bắt đầu xây dựng ở Đông Dương trước 1945. Chúng tôi chỉ mới giới thiệu một số địa điểm du lịch thì đã thấy Pháp là một đất nước công nghiệp, là một chính quyền điều hành nền kinh tế thị trường phong phú và đa dạng, cũng như có sự đóng góp của Việt Nam.

    Đặc biệt tôi muốn nhấn mạnh công sức của người Việt Nam rất là cảm động. Tôi tìm thấy những hình ảnh, đọc được những dòng viết về những con đường lên đến những vùng sâu, vùng xa, như Sapa, Sầm Sơn, Đồ Sơn, Bà Nà, lúc đó chưa có đường cho xe chạy; họ phải làm từng bước. Trước khi có những con đường để xe hơi chạy, đã có những porteur là những phụ nữ Việt Nam khiêng kiệu vận chuyển du khách lên đó . 

    Hoặc là Côn Đảo, là một nhà tù, nhưng tuyệt đẹp và cầu tàu, cũng như những con đường ngày nay chúng ta hưởng thụ, đó chính là xương máu của những người tù”.

    Theo lời ông Trần Hữu Phúc Tiến, mong muốn của nhóm biên tập "Du lịch Đông Dương xưa" là khuyến khích các hãng lữ hành khai thác hướng du lịch này: 

    “Chúng tôi đưa ra khái niệm “ Du lịch Đông Dương xưa” và chúng tôi hy vọng là các hãng lữ hành Việt Nam có thể dùng những tư liệu về Đông Dương xưa, để không những quảng bá cho du khách các nước Francophonie ( khối Pháp ngữ ) cũng như cho thế giới nói tiếng Anh, mà cho cả du khách Việt Nam. Chúng ta đến chỉ thấy Đà Lạt, Sapa đẹp, nhưng không biết quá khứ của những địa điểm đó là như thế nào thì thật là uổng. 

    Hồi đó có một ông địa chủ Nam Kỳ gốc Bạc Liêu, sau khi đi xe lửa từ Sài Gòn ra Hà Nội và đi chơi khắp miền bắc, đã viết một quyển hồi ký và tự xuất bản. Ông viết rằng, nhờ có con đường xe lửa Sài Gòn - Hà Nội mà bây giờ chúng ta mới hiểu biết quê hương nhiều hơn.

    Cũng như cụ Phạm Quỳnh, là nhà báo, năm 1918 lần đầu tiên lên Sài Gòn, lúc chỉ mới 26 tuổi, đã thấy kinh ngạc về sự phát triển của Sài Gòn, về những cái mới mẻ so với miền bắc. Ông đã viết một câu cảm động: Chính người Việt Nam phải hiểu biết về quê hương mình hơn.

    Bước qua thế kỷ 21 này, chúng ta có 100 triệu dân, chứ không còn là một nước nhỏ bé chỉ có 20 triệu dân như ngày xưa, nhu cầu tìm hiểu về đất nước, con người, văn hóa là một nhu cầu rất lớn."

    11 min
  • Món cà ri Ấn Độ do ai sáng chế ?

    Nếu bạn có dịp đi du lịch Ấn Độ và ghé qua một quán ăn ở New Delhi, thì bạn đừng bao giờ gọi món cà ri. Chủ yếu cũng vì trên thực đơn các nhà hàng Ấn Độ, không có bán món nào được gọi là ''cà ri''. Trong mắt người nước ngoài, cà ri là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của ẩm thực Ấn Độ. Trên thực tế, món hầm có nước sốt "cà ri" là do người Anh sáng chế, gợi hứng từ các công thức nấu ăn của người Ấn.

    Loại bột cà ri đầu tiên được bày bán ở Luân Đôn vào cuối thế kỷ XVIII, ban đầu chỉ có hạt rau mùi và tiêu đen, sau đó kết hợp thêm với bột nghệ, lá cà ri, hạt thì là. Những người bán bột cà ri thường có những công thức chế biến riêng, thêm bớt những loại gia vị quen thuộc để tạo thêm hương vị khác biệt. Nhìn chung, thành phần bột cà ri chủ yếu bao gồm đại hồi, đinh hương, thảo quả, hạt mùi khô, bột nghệ, quế chi, hoa tiêu và nhiều khi có thêm ớt khô. Một số thành phần thường được rang cho thơm rồi nghiền thành bột mịn, một số khác như hạt mùi chỉ giã nhuyễn chứ không rang nóng, rồi tất cả được trộn chung với nhau.

    Tại châu Âu, sốt cà ri thường được chế biến với bột gia vị làm sẵn, trong khi tại Ấn Độ, các bà nội trợ có thể sử dụng tới 30 loại gia vị khác nhau để làm ra nước sốt, nhưng họ không gọi đó là món cà ri. Tại Pháp, đầu bếp gốc Ấn Beena Paradin là tác giả của hai quyển sách ''Inde Gourmande'' và nhất là ''Spice Up'' nói về các loại gia vị do nhà xuất bản Flammarion phát hành. Trả lời phỏng vấn RFI Pháp ngữ, cô Beena Paradin cho biết công thức bột cà ri (để nấu các món hầm) ban đầu là một sản phẩm ''sáng chế'' để phục vụ người Anh, chứ không được phổ biến rộng rãi ở Ấn Độ :

    Khi nhắc đến cà ri, điều nghịch lý hiển nhiên nhất vẫn là loại gia vị hỗn hợp này đã trở thành biểu tượng của ẩm thực Ấn Độ trên toàn thế giới, thế nhưng cà ri ban đầu lại được sáng chế để đáp ứng nhu cầu của kiều dân Anh. Các gia đình người Anh khi trở về thăm ''mẫu quốc'' đều muốn mang theo một chút quà từ Ấn Độ, vào thời bấy giờ còn là thuộc địa của Anh.

    Dựa vào truyền thống nấu ăn của người Ấn, nhất là cách kết hợp nhiều gia vị để tạo thêm mùi hương tinh tế cho các món ăn, người Anh đã chế biến ra loại bột cà ri. Trên lãnh thổ Ấn Độ, các loại gia vị trộn sẵn với nhau thường được gọi là ''garam masala'', trong khi chữ ''cà ri'' (kari) trong tiếng Tamil chỉ có nghĩa là món hầm với gia vị. Nếu bạn nói rằng hôm nay bạn nấu món ''cà ri'', thì người Ấn không hiểu rõ là bạn sẽ nấu món gì.

    Ngược lại, người Ấn sẽ hiều ngay khi bạn nói rằng hôm nay tôi nấu món cà tím korma, tức là cà tím hầm với sốt cà ri trộn với rau dền, lá mù tạt, hạt điều và bột hạnh nhân. Món vindaloo là sốt cà ri có tỏi và gừng. Món tikka masala hay tandoori, còn được gọi là món ''cà ri khô'', do thịt cá được tẩm gia vị rồi đem nướng lò, chứ không có nhiều nước sốt. Nói tóm lại, người Ấn sẽ phân biệt từng món ăn trong cách gọi, trong khi cà ri là cách đặt tên Âu hóa để gọi chung các món ăn hầm với nhiều gia vị. Nhưng có một điều chắc chắn: bột cà ri là một ''phát minh'' của người Anh.

    Chữ cà ri (kari) lần đầu tiên xuất hiện trong các quan hệ buôn bán giữa Công ty Đông Ấn của Anh với các thương nhân Ấn Độ (gốc Tamil) ở vùng đông nam, đặc biệt là tại thành phố Madras. Họ đã sáng chế ra một loại gia vị hỗn hợp gọi là bột cà ri (kari podi) được sử dụng trong các món hầm. Kể từ đầu thế kỷ XX, các món nấu với bột cà ri, một khi đã du nhập sang nhiều nước khác, đương nhiên trở thành một phần của nền ẩm thực thế giới. Đầu bếp Beena Paradin giải thích :

    Bột cà ri đã được phổ biến từ thế kỷ XIX, và đến đầu thế kỷ XX, loại bột gia vị này đã lan rộng ra châu Âu rồi sang khắp thế giới. Bằng chứng là tại hầu hết các cửa hàng bách hóa ở Anh, người tiêu dùng có thể mua các loại bột cà ri theo kiểu Bombay hay theo kiểu Madras để nấu các món thịt hầm ở nhà. Lối tiếp cận này của người Tây phương khác hẳn với truyền thống nấu ăn của người Ấn. Trong công thức nấu ăn, người Ấn sử dụng gia vị trong nhiều công đoạn khác nhau. Đầu tiên là các thành phần chính được ướp với gia vị, đến khi nấu có thể trộn thêm với gia vị dưới dạng bột hoặc nguyên chất (như quế, gừng, hạt ngò, thảo quả ….) Đến khi món ăn đã chín, đầu bếp có thể nêm thêm hoặc chỉnh lại mùi hương bằng cách cho gia vị vào chảo dầu, đảo qua vài lần khi chảo thật nóng rồi đổ vào nồi cà ri để tăng thêm hương sắc cho món ăn. Nói tóm lại, cách dùng gia vị của người Ấn khá công phu tinh tế, trong khi người Âu chỉ trộn gia vị một lần khi nấu với bột cà ri làm sẵn và như vậy các món ăn bất kể là thịt gà, tôm cá hay là rau đều có một mùi như nhau.

    Cũng như các quán ăn Việt Nam tại Pháp chủ yếu bán những món phổ biến nhất ở nước ngoài như phở bò, bún chả hay chả giò (nem rán), thì các quán ăn Ấn Độ cũng thường bán những món quen thuộc nhất đối với người nước ngoài. Điều đó tạo cảm tưởng ''đồng bộ'' thuần nhất nơi thực khách Tây Âu, trong khi ẩm thực Việt Nam cũng như Ấn Độ lại thiên hình vạn trạng. Đầu bếp người Pháp gốc Ấn Beena Paradin giải thích đôi nét khác biệt trong ẩm thực giữa các vùng miền :

    Chúng ta hay quên rằng Ấn Độ là một đất nước rộng lớn, do vậy có khá nhiều khác biệt giữa phương bắc và phương nam : để cho bạn có thể hình dung dễ hơn thì sự khác biệt này giống như hai nền văn hóa Thụy Điển (Bắc Âu) và Tây Ban Nha (Nam Âu).

    Tùy theo phong quán tập tục, mỗi vùng dĩ nhiên sẽ có những đặc sản khác nhau. Nhìn từ bên ngoài, ẩm thực Ấn Độ thường có nhiều món sốt, nhưng ta lại chóng quên rằng Ấn Độ cùng có nhiều món gọi nôm na là ''cà ri khô''. Cà ri Ấn thường được xem như là món cay, nhưng thực ra cũng có nhiều loại sốt bùi không cay như korma, dopyaza là thịt nấu với sốt hành, tikka là một loại nước sốt chua ngọt với me trộn đường, murgh makhani là gà cay ngọt, trộn cùng với sốt bơ béo ngậy thơm lừng. Các món chay thường có các món cà hấp baingan bharta hay cơm « thập cẩm » biryani. Các món này thường được ăn kèm với cơm basmati, bánh mì chapati hay naan, loại bánh mì nướng cán mỏng.

    Ở đây có thể nói sự khác biệt lớn nhất giữa hai miền vẫn là ăn cơm hay bánh mì. Tại các tỉnh miền nam Ấn Độ, bữa ăn nào cũng phải có cơm. Trong khi ở miền bắc, người Ấn chủ yếu ăn bánh mì chapati (loại bánh không có bột nổi khác với bánh mì naan), trong khi cơm lại được xem là một món ăn khi có tiệc tùng lễ hội, thường được dọn trên mâm cỗ.

    Trường hợp của bột cà ri Ấn Độ làm cho ta liên tưởng đến cách đặt tên « bò bún » cho món Việt tại các quán ăn ở Pháp. Bột cà ri do người Anh sáng chế để tái tạo hương vị của một vài món ăn Ấn tại trời Âu, nhưng rốt cuộc lại trở nên tiêu biểu cho ẩm thực Ấn Độ trong mắt người nước ngoài. Loại bánh mì naan có phô mai ăn kèm với các món hầm là hoàn toàn do một gia đình người Ấn nhập cư sáng chế ở Paris vào năm 1976, chứ không hề được phổ biến tại Ấn Độ.

    Một cách tương tự, thực đơn các quán ăn Việt ở Pháp thường có bán món « bò bún » mà thực ra lại giống như món « bún thịt nướng » hay « bún thịt bò xào » của dân Nam Bộ. Thực khách Tây một khi đã quen ăn quán Việt ở Pháp, đến khi ghé thăm Việt Nam, lại không thể nào hiểu nổi tại sao không hề có món « bò bún » trên thực đơn các nhà hàng, cho dù họ có đi tìm ở khắp nơi, từ 16 quận Sài Gòn cho đến 36 phố phường Hà Nội.

    10 min
  • Lê Phổ - Mai Thứ - Vũ Cao Đàm, những nhà tiên phong về nghệ thuật Việt Nam hiện đại tại Pháp

    Khoảng 150 tác phẩm của ba danh họa Việt : Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm được trưng bày tại một triển lãm của bảo tàng nghệ thuật châu Á Cernuschi tại Paris, từ ngày 11/10/2024-09/03/2025. Đây là dịp để du khách có thể tìm hiểu sự tiến triển trong phong cách nghệ thuật Đông Tây kết hợp của tam kiệt trời Âu.

    Triển lãm với tên gọi “Những nhà tiên phong về nghệ thuật Việt Nam hiện đại tại Pháp”, diễn ra trùng với dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập trường Mỹ Thuật Đông Dương (1925), cái nôi của nhiều nghệ sĩ Việt thành danh.

    Bảo tàng nghệ thuật châu Á Cernuschi giới thiệu các bức hoạ của Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, đến từ 25 bộ sưu tập khác nhau, cùng sự  trợ giúp từ gia đình của các nghệ sĩ. Triển lãm phác họa lại con đường nghệ thuật của ba họa sĩ, yêu quê hương nhưng cũng gắn bó với Pháp, và những thay đổi trong phong cách sáng tác giữa dòng lịch sử nhiều biến động.

    Trước tiên là giai đoạn từ trường Cao đẳng Nghệ thuật Đông Dương đến năm 1930. Vai trò của vị hiệu trưởng đầu tiên Victor Tardieu được nhấn mạnh, đặc biệt là mối quan hệ với các học trò Việt. Tiếp theo là giai đoạn 1931-1937, “Các họa sĩ bị nghệ thuật Paris quyến rũ”, và những xáo động của chiến tranh”. Cuối cùng là “Thời kỳ ở Pháp: Cuộc cách mạng của ba nghệ sĩ” với những sáng tác được lấy cảm hứng từ những vần thơ Kiều, của Nguyễn Du.

     

    Sinh ra trong một gia đình ở miền bắc Việt Nam, có cha là thống đốc vùng, Lê Phổ được tiếp nhận các giáo lý của Khổng Tử từ khi còn nhỏ, thạo chữ Hán Nôm. Lê Phổ học cấp 3 tại trường Bưởi (Trường trung học Bảo hộ thời Pháp thuộc) và cũng chính tại đây ông gặp Mai Thứ. Vào năm 1925, cả hai cùng thi đậu vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, theo học khoá đầu tiên ngay sau khi thành lập, dưới sự dẫn dắt của Victor Tardieu, và cả hai đã kết bạn với Vũ Cao Đàm, gia nhập trường một năm sau đó.

    Đọc thêm : Danh họa Mai Thứ và duyên nợ với Mâcon

    Kể từ sau năm 1937, cả ba đều đến Paris và định cư tại Pháp. Trong thời gian đầu ở Paris, ba danh họa có quan hệ khá mật thiết, không chỉ là hàng xóm, tương trợ nhau những lúc khó khăn, mà còn chia sẻ thị trường. Phong cách nghệ thuật của Lê – Mai – Vũ có những điểm tương đồng. Họ đều có "chiến lược" sáng tác tranh lụa, có tầm nhìn về một Việt Nam "thơ mộng", phi thời gian, tại những không gian mà những cô gái trẻ uống trà, hay đi dạo trong các khu vườn yên bình, bất chấp bối cảnh chính trị nhiều xáo trộn.

    Sự dung hòa giữa nghệ thuật  Đông – Tây trong các họa sĩ tạo ra nét đặc trưng riêng, là những cánh chim đầu đàn của nghệ thuật hiện đại Việt Nam tại Pháp. Các tác phẩm của ba danh họa được nhiều người mến mộ, nhiều lần phá kỷ lục về giá trong thị trường nghệ Đông Dương gần đây.

    RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn giám tuyển Anne Fort, phụ trách về triển lãm để hiểu thêm về ba danh họa Việt, Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm.

    Tại sao lại lựa chọn ba cái tên Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, thông điệp mà triển lãm muốn truyền tải qua các tác phẩm của 3 danh họa là gì ? 

    Anne Fort : Sau cuộc hợp tác thành công với gia đình của Mai Thứ, trong một triển lãm được tổ chức ở thành phố Macon, miền nam nước Pháp vào năm 2022, chúng tôi tiếp tục làm việc cùng họ và gia đình của hai họa sĩ khác, để mở ra cuộc triển lãm về các tác phẩm của ba người bạn, đã có quan hệ mật thiết từ khi theo học tại trường Cao đẳng Nghệ Thuật Đông Dương ở Hà Nội. Còn một điều thú vị nữa là vô tình mà triển lãm cũng diễn ra trùng với thời điểm kỷ niệm 100 năm thành lập trường, với khóa  đầu tiên được mở ra mà Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, có mặt và cùng học cho đến khi tốt nghiệp vào năm 1931.

    Triển lãm có tên là “những người tiên phong về nghệ thuật Việt Nam ở Pháp” không phải là triển lãm về mỹ thuật Hà Nội, cũng không phải là triển lãm về các họa sĩ tiên phong của riêng Việt Nam. Chúng tôi chọn ba họa sĩ này, vì họ có điểm chung là đã chọn phát triển sự nghiệp của mình tại Pháp, và đã trải qua những biến động do quan hệ Pháp-Việt trong suốt thế kỷ 20. Tôi cho rằng rất quan trọng để nêu bật những cột mốc lịch sử khác nhau, không chỉ giai đoạn thuộc địa, mà cả Đệ Nhị Thế Chiến, và sau đó là giai đoạn Việt Nam giành độc lập cũng như các cuộc chiến nối tiếp sau đó (dẫn đến thống nhất hai miền). Bởi vì các sự kiện này tác động đến lựa chọn nghệ thuật, và đôi khi các họa sĩ không có lựa chọn, nhưng có thể thấy là họ đã biết cách thích ứng ra sao với những hoàn cảnh lịch sử.

    Trong triển lãm, người xem có thể thấy rằng bảo tàng giới thiệu những sự kiện lịch sử, những thay đổi trong phong cách nghệ thuật của từng người trong các giai đoạn khác nhau. Ví dụ như hội nghị tại Fontainebleau vào năm 1946 do Hồ Chí Minh chủ trì, với sự hiện diện của Mai Thứ, Lê Phổ và Vũ Cao Đàm. Lập trường chính trị của các nghệ sĩ này như thế nào, có gì thay đổi hay không ?

    Anne Fort : Phải nói rằng rất khó có thể hiểu rõ quan điểm chính trị của các nghệ sĩ này vì đơn giản là họ rất kín đáo. Trong tư liệu về Victor Tardieu, hiệu trường trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cụ thể là trong các bức thư, ông ấy đã nói rõ với các sinh viên của mình rằng “họ là nghệ sĩ trên tất cả, và không phải làm chính trị”. Do đó, ngay từ khi còn trẻ, các họa sĩ đã được cảnh báo.

    Trong triển lãm này, chúng tôi giới thiệu các tác phẩm mà Vũ Cao Đàm. Cụ thể là bức tượng bán thân được điêu khắc bằng đồng của Bảo Đại, được các chính quyền thuộc địa lúc bấy giờ đặt mua và hiện được đặt ở bảo tàng Quai Branly. Vào năm 1946, Vũ Cao Đàm cũng điêu khắc một bức tượng chân dung của Hồ Chí Minh nhân cuộc gặp tại Fontainebleau.

    Mọi người có thể thấy ông có hai lập trường chính trị không thể dung hòa, vì Bảo Đại là vị vua Việt Nam, theo Pháp, nhưng được giáo dục ở Pháp, và được chính quyền thuộc địa đưa lên ngôi vị. Trái lại, Hồ Chí Minh, dù hiểu rõ về văn hóa Pháp, nói tiếng Pháp nhưng lại ở phe khác, giành độc lập cho đất nước của mình. Cũng cần phải hiểu rằng các nghệ sĩ sống nhờ tác phẩm của mình nên họ phải thích ứng theo đơn hàng. Đó là điều rất quan trọng, nếu nhận được đơn thì họ sẽ làm việc, sáng tác một cách chân thật nhất, theo yêu cầu của bên đặt hàng.

    Tại sao lại coi Lê – Mai – Vũ là những người tiên phong về nghệ thuật Việt Nam tại Pháp ?

    Anne Fort : Thứ nhất, họ là những người tốt nghiệp khoá đầu tiên của trường Cao đẳng Nghệ thuật Đông Dương, và tất cả đều nhận được học bổng, đến Pháp làm việc trong vài năm, quay trở lại Việt Nam từ năm 1937 - 1938.

    Nhưng, sau đó, cả ba đều đã có thời gian dài sống ở Pháp, phải nói rằng hơn nửa cuộc đời của họ. Tại sao lại lựa chọn ba họa sĩ này, bởi vì con cái họ vẫn còn sống, và chúng tôi có thể tiếp cận nguồn tư liệu từ gia đình. Họ đã chia sẻ rất hào phóng, giúp chúng tôi làm rõ những trình tự thời gian của cuộc đời, cũng như phong cách của những nghệ sĩ. Tôi cho rằng chưa bao giờ chúng tôi có đầy đủ thông tin về 3 vị họa sĩ Việt như trong triển lãm này. Họ không được biết đến rộng rãi bởi công chúng tại Pháp, nhưng lại rất nổi tiếng trong giới nghệ thuật ở Đông Dương, bởi một cộng đồng nhỏ.

    Là các hoạ sĩ Việt, được Pháp đào tạo, Lê Phổ và Mai Thứ và Vũ Cao Đàm đều đã đến định cư ở Pháp từ năm 1937 cho đến cuối đời. Cả ba đều tạo ra những chiếc cầu nối Đông – Tây. Làm sao các họa sĩ giữ được bản sắc quê hương, kết nối với cội nguồn khi sinh sống ở nước ngoài ?

    Anne Fort : Đó là vấn đề mà cả ba đều muốn giải quyết, làm sao để giữ linh hồn Việt, vẫn là người Việt, khi ở xa cách quê hương cả ngàn cây số. Khi họ đến Paris, cả ba đã phải đối mặt với cuộc cạnh tranh với các nghệ sĩ đã làm việc ở thủ đô Pháp. Trong những năm 1930, Paris là kinh đô nghệ thuật của thế giới, quy tụ các nghệ sĩ đến từ khắp nơi, từ cả châu Âu, và các họa sĩ Việt nam, đã tìm thấy một cách để tạo ra dấu ấn riêng, được mọi người chú ý.

    Khi đến Pháp, họ nhanh chóng từ bỏ tranh sơn dầu, và chuyển sang vẽ tranh trên lụa. Bởi vì lụa là vật liệu mà công chúng phương tây coi là một sản phẩm đậm sắc Á châu, được nhiều người yêu thích. Trong một cuộc phỏng vấn, Mai Thứ đã đặt ra câu hỏi, “làm sao để tôi trở lên nổi bật giữa đám đông, thể hiện điểm riêng biệt. Có thể thấy đó là một chiến lược của danh họa.

    Thế nhưng, Vũ Cao Đàm và Lê Phổ lại quyết định ngừng vẽ tranh lụa vào những năm 1950 và quay lại với tranh sơn dầu, hay tạc tượng. Tôi cho rằng họ muốn giữ những sở thích nho nhỏ, những dấu ấn rất Việt. Trong các tác phẩm của họ trong giai đoạn này, có rất nhiều bức chân dung phụ nữ, đặc trưng châu Á, họ vẫn giữ được phong cách lãng mạn, và thêm điểm nhấn riêng. Các phụ nữ trong tranh của Lê Phổ và Vũ Cao Đàm luôn mặc áo dài Việt. Yếu tố này cho thấy các họa sĩ muốn giữ nét văn hóa quê nhà, ngay cả khi họ sơn bằng dầu, một kỹ thuật thường ít được sử dụng trong các tác phẩm về châu Á.

    10 min
  • Paris: Trồng hoa trong thành phố để chế biến món ăn

    Tại châu Âu, chuyện dùng hoa tươi để chế biến món ăn mặn cũng như ngọt đã trở nên thịnh hành từ hai thập niên nay. Từ các món bình dị, dân dã cho đến các bữa ăn cao sang đắt tiền, chuyện dùng hoa tươi không chỉ tạo điểm nhấn cho món ăn thêm đẹp mắt mà còn kết hợp thêm nhiều hương vị ngon và lạ. Tại Pháp, trào lưu này giúp phát triển các nông trại ở thành thị, trồng hoa tươi để đáp ứng nhu cầu các tiệm bánh và nhà hàng.

    Trong phạm vi thủ đô Paris, đã có khá nhiều ''nông trại'' trồng rau quả hay nuôi gia súc để tạo thêm không gian xanh cho người dân thành thị. Chẳng hạn như trại trồng rau ở trong công viên Suzanne Lenglen ở quận 15 hay trại chăn nuôi ở công viên Kellerman ở quận 13. Còn theo ban tiếng Pháp RFI, có một nông trại vừa được thành lập ở quận 20, nằm cách 400m trạm xe điện ngầm Gambetta, ở phía đông Paris. Do hai ông Gérard Munier và Benoît Liotard đồng sáng lập, nông trại này được đặt tên là « Le Paysan Urbain » (Nông dân thành thị), nằm ở trên một hồ chứa nước. Lượng nước trữ ở trong bể nhân tạo dùng để chữa cháy hay để tưới cây công viên thành phố, chứ không phải là nước sạch dùng trong sinh hoạt thường ngày.

    Xuất thân từ gia đình nhà nông, hai ông Gérard Munier và Benoît Liotard đã từng đoạt giải nhất cuộc thi của Tòa đô chính Paris, nhờ sáng kiến chuyển đổi một khu đất bỏ hoang ở quận 20 thành một khu vườn trồng rau sạch có ao hồ để nuôi cá, có đồng cỏ để nuôi thỏ và chuồng gỗ nuôi gà. Độc đáo hơn nữa là nông trại này còn gieo trồng khá nhiều loại hoa tươi, chủ yếu để phục vụ cho các tiệm bánh ngọt cũng như các nhà hàng nào có nhu cầu. Hoa tươi là một mặt hàng dễ bị hư mà cũng không dễ vận chuyển, cho nên việc lập nông trại trồng hoa giữa lòng thành phố là một giải pháp cho ngành nhà hàng thời nay, chuyên dùng các đặc sản địa phương hay nông phẩm sản xuất tại chỗ, thay vì phải nhập hàng từ xa.

    Tại khu vườn « Le Paysan Urbain » (Nông dân thành thị), không phải chỉ có loài ong mới thích nhụy hoa, khách tham quan giờ đây cũng được hái hoa rồi nếm thử một số loài hoa tươi, theo lời hướng dẫn của chuyên viên phụ trách việc trồng hoa, anh Loïc Le Noan:

    Nụ hoa này vừa chớm nở nhưng khi cho vào miệng nếm thử ta nhận thấy ngay mùi vị của tỏi chiên giòn. Loài hoa mà tôi vừa ăn là loài hoa tul-ba-gia, có nguồn gốc từ Nam Phi, và nay băt đầu trở nên phổ biến tại Pháp. Hoa có nụ nhỏ với nhiều cánh tím, còn khi ăn thử hương vị lại giống như tỏi, cho nên hoa tulbaghia thường được gọi nôm na là huệ tỏi. Đây là một trong những loài hoa được chúng tôi trồng nhiều nhất ở đây.

    Một loại hoa khác cũng có mùi vị tương tự chính là « l'ail des ours » có nghĩa là tỏi gấu hay còn được gọi là tỏi rừng. Tại châu Âu, loài gấu sống trên núi vào mùa xuân thường hay ăn loại rau này có nhiều nụ hoa màu trắng, để dễ tiêu hóa. Ban đầu là một loài hoa dại có thể hái ở trong rừng, tỏi gấu giờ đây được trồng trong vườn hay ở những nơi có nhiều bóng râm, trước nhu cầu chế biến nhiều món ăn : đặc biệt là loại tỏi gấu ngâm dầu ô liu dùng để làm sốt trộn mì sợi, chẳng những thơm ngon mà còn bổ dưỡng.

    Nhưng không phải chỉ có hoa tỏi, mà còn có nhiều loài hoa khác cũng được trồng luân phiên trên mảnh vườn rộng hơn 6.500 mét vuông, rồi được giao đến các nhà hàng ở thủ đô Pháp. Trên các luống hoa, có rất nhiều loại hoa bướm păng xê hai màu (pensée), các chùm hoa lưu ly (bourrache) trông như những ngôi sao năm cánh màu chàm, hoa capucine màu vàng cam đôi khi còn được gọi là ''sen cạn'' có một chút vị cay nồng, càng giữ lâu càng có thêm vị đắng như cải diếp xoăn (endive), hoa agastache màu tim tím, cùng một giống như rau húng, nhưng lại có vị thơm của cam thảo. Tuy nhiên, theo lưu ý của anh Loïc Le Noan, không phải loài hoa nào mọc tự nhiên ở trong vườn cũng có thể ăn được:

    Đây là hoa anh thảo (primevère /primula) còn có tên gọi thông dụng là hoa báo xuân hoa anh thảo. Một số loại hoa anh thảo có thể ăn được (như loại màu vàng primula veris hay primula acaulis), một số khác lại rất độc hại như loài anh thảo primula obconica. Vì vậy các bạn phải hết sức cẩn thận, không nên phạm sai lầm, nếu không chắc thì đừng nên ăn. Riêng trong họ hoa tán, có rất nhiều loài ăn được như cây thì là (aneth), cần tây (celeri), diệp cần (cerfeuil), hồi xanh (anis vert), nhưngbên cạnh đó còn có loại cigue còn được gọi là độc cần, có thể gây tử vong dù chỉ ăn có một chút.

    Chuyến tham quan theo hướng dẫn của Loic Le Noan tiêp tục với mãnh vườn trồng các giống hoa viola và păng xê. Theo anh, ngoài việc trồng hoa tùy theo mùa, một số giống hoa còn được chọn tùy theo nhu cầu của ngành nhà hàng cũng như các tiệm bánh:

    Vào mùa thu, chúng tôi chủ yếu trồng các loại hoa viola, hoặc những nụ hoa cỡ nhỏ có nhiều cánh, càng nhiều màu càng tốt. Điều đó phần lớn cũng vì cho đến nay các nhà đầu bếp, các chủ nhà hàng vẫn luôn quan tâm đến những loại hoa nhỏ, vì theo họ, hoa nhỏ dễ sử dụng hơn để chế biến hay trang trí các món ăn. Đó là trào lưu hiện thời và về sau này biết đâu chừng sẽ thay đổi …. Hoa viola hay păng xê không phải là những loài hoa có nhiều hương vị đậm đà nhưng lại mềm mại mượt mà, tạo ra cảm giác dễ chịu cho thực khách. Chẳng những thế hoa păng xê rất đẹp nhờ có đầy đủ màu sắc : vàng, xanh, tím, đỏ, hồng tựa như một bức tranh nằm ở trên bàn ăn.

    Còn theo ông Gérard Munier, nhà đồng sáng lập trại « Nông dân thành thị » (Le Paysan Urbain), ngay từ đầu,  việc chọn lựa trồng hoa tươi và một số rau quả là một quyết định sáng suốt. Ông Gérard Munier giải thích:

    Nếu bạn nghĩ rằng các nông trại vườn rau ở chốn đô thị có thể thay thế cho các đồng ruộng và ngành nông nghiệp thực thụ, thì đó là một điều sai lầm lớn. Dù có làm gì đi nữa, các nông trại ở thành phố vẫn không thể nào trồng khoai tây hay cà rốt để có đủ thức ăn và trở nên tự chủ về mặt lương thực. Theo tôi, các nông trại đô thị phù hợp với các kiểu trồng trọt không đòi hỏi quá nhiều đất canh tác : trồng hoa hay trồng rau là thích hợp hơn cả.

    Các nông nghiệp thành thị trước hết là tạo thêm không gian xanh thoáng mát tự nhiên cho người dân Paris. Bạn có thể đến đây để giúp làm vườn, gieo trồng hay tự tay làm những bó hoa vừa hái. Nông trại thành thị cũng có mục đích giáo dục, tổ chức các lớp làm vườn ngoài trời cho giới học sinh và các em nhỏ. Về mặt cơ cấu, nông trại giống như một doanh nghiệp cỡ nhỏ, tuyển dụng một số nhân viên đang gặp khó khăn để tạo cơ hội cho họ hòa nhập xã hội dễ dàng hơn. Trong số 35 nhân viên làm việc tại « Le Paysan Urbain », có 23 người ở trong diện này.

    Cũng nhằm mục đích phát triển và đa dạng hóa các hoạt động, bên cạnh việc trồng hoa, trại « Nông dân thành thị » giờ đây còn khai thác thêm việc trồng nấm, sản xuất chồi cây và hạt nẩy mầm, vốn là một trong những nhu cầu thịnh hành tròng ngành nhà hàng hiện nay. Công việc này do chuyên viên Michel Bruneau điều hành, trong một nhà kính rộng khoảng 600 mét vuông. Công việc sản xuất chồi no đồi khi còn phức tạp hơn cả việc trồng hoa. Theo ông, ngay cả việc tưới nước cho các chồi cây xanh cũng cần phải làm một cách nhẹ nhàng để tránh làm hỏng các nhánh lá non.

    Chồi cây còn được gọi là « lá mầm » là hai nhánh lá non đầu tiên mọc từ hạt giống. Chúng tôi gieo hạt và khi hai chiếc lá non đầu tiên trỗ ran thì nên hái ngay. Công việc thu hoạch lá non được thực hiện với một chiếc tông đơ nho nhỏ, giống như loại dùng để cắt tóc …. Chồi non thường được trồng trên một lớp đất dày không quá 10 cm và có thể thu hoạch được ngay sau 8 ngày gieo hạt. Sàn đất của nhà kính thường có màu trắng để phản chiếu ánh nắng, trong khi các hạt giống được đặt bân cạnh những viên gạch có gắn ống dẫn nước nóng, làm như vậy để giữ nhiệt độ sưởi ấm những thứ cần thiết trong mùa đông, và tránh thất thoát hay phung phí năng lượng.

    Củ cải tím đỏ (radis pourpre), rau dền non (amarante), rau me chua (oxalis), sen cạn (capucines), hiện giờ nông trại trồng nhiều loại chồi non và hạt nẩy mầm để bổ sung cho các loại hoa ăn được, kể cả hoa mù tạt (mourtarde). Nông trại này đã nhận được sự bảo trợ ''đỡ đầu'' của đầu bếp hai sao Michelin Thierry Marx, người đang điều hành nhà hàng Madale Brasserie trên tầng một Tháp Eiffel. Các chồi non có rất nhiều chất dinh dưỡng, cao từ gấp 4 đến 20 lần so với giống cây trưởng thành. Vì vậy cho nên các đầu bếp trứ danh thường hay đưa màu sắc của hoa và hàm lượng sinh tố của lá non vào trong thực đơn. Nói cách khác, lá non và hoa tươi không những bổ dưỡng mà còn có nhiều mùi thơm ngon.

    Nếu chuyện dùng hoa trong ẩm thực đã trở nên thịnh hành từ những năm 2000 thì thực ra truyền thống chế biến món ăn với các loại hoa tươi đã có từ thời xa xưa. Trong quyển sách « De Re Coquinaria » biên soạn vào thế kỷ IV của tác giả Apicius, ghi chép bằng tiếng La Tinhcác công thức nấu ăn thời cổ đại, người La Mã đã có thói quen chế biến món ăn với hoa hồng, cẩm quỳ hay nhụy hoa nghệ tây ….. Trào lưu ở trời Tây tưởng chừng là mới, nào ngờ đã có từ rất lâu : ướp mùi hương ngát hoa ngâu, dịu thơm nồng thắm sắc màu.

    10 min

About Tạp chí văn hóa

From the publisher's feed

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

More shows like Tạp chí văn hóa

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí tiêu điểm by RFI Tiếng Việt

Tạp chí tiêu điểm

0 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners