
Sign up to save your podcasts
Or


Khoảng 92 biệt thự Pháp cổ trên địa bàn Hà Nội sẽ được chỉnh trang, bảo tồn sau khi năm 2022, UBND thành phố ban hành quyết định về danh mục nhà biệt thự cũ được xây từ trước năm 1954. Biệt thự hai mặt tiền 49 Trần Hưng Đạo (46 Hàng Bài), được hoàn thiện đầu năm 2024, là dự án bảo tồn biệt thự mẫu để áp dụng với các biệt thự còn lại.
Đây là một dự án hợp tác giữa Cơ quan Hợp tác Quốc tế vùng Ile-de-France (Pháp) - PRX - tư vấn chuyên môn và thành phố Hà Nội - chịu trách nhiệm về kinh phí.
Dự án 49 Trần Hưng Đạo được nghiên cứu từ năm 2016 trong khuôn khổ hợp tác giữa thành phố Hà Nội và vùng Ile-de-France, quận Hoàn Kiếm và Cơ quan PRX-Việt Nam và do kiến trúc sư kiêm chuyên gia di sản Nicolas Viste phụ trách chính. Nhưng thực ra, chương trình hợp tác bảo tồn di sản đã có từ lâu, theo giải thích với RFI Tiếng Việt của ông Emmanuel Cerise, giám đốc PRX-Việt Nam :
“Chương trình hợp tác của chúng tôi với thành phố Hà Nội đã có từ lâu. Trong những năm 2007-2008, chúng tôi đã làm việc với Sở Kiến trúc và Đô thị của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, trước tiên là để thống kê di sản có từ thời Pháp, tiếp theo là đề xuất về quy hoạch tổng thế đối với toàn bộ lĩnh vực này. Đến những năm 2010 thì đưa ra một đề xuất quy định nhằm đề cao và bảo tồn di sản này. Nhìn chung, đó là cả một quá trình khá dài.
Chỉ từ năm 2015, UBND thành phố Hà Nội sử dụng nghiên cứu của chúng tôi, cũng như những nghiên cứu khác, để ban hành quy chế bảo tồn và phát huy di sản ở “khu đô thị Pháp cũ”, tên được đặt cho khu phố trước năm 1954. Quá trình từ nghiên cứu đến quy chế mất gần 10 năm. Sau khi hoàn thành thống kê ban đầu, thành phố đã xác định được một số địa điểm, có thể là di tích, tòa nhà thí điểm để trùng tu. Ngôi nhà 49 Trần Hưng Đạo đã được UBND thành phố Hà Nội xác định tiềm năng làm dự án thí điểm”.
Kết hợp kinh nghiệm Pháp và tiềm lực địa phươngKhi khai trương vào tháng 01/2024, biệt thự 49 Trần Hưng Đạo khiến khách mời sững sỡ trước sự lột xác từ đống đổ nát trước đó. Công ty PRX-Việt Nam mang kiến thức, nghiên cứu lịch sử để phục dựng công trình theo nguyên mẫu với không ít khó khăn nảy sinh và cần khắc phục trong quá trình thực hiện dự án.
“Đúng là chúng tôi gặp không ít vấn đề. Ở Pháp có nhiều kinh nghiệm về kiểu trùng tu này hơn là ở Việt Nam. Ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung, có rất nhiều nhà chuyên nghiệp, giầu kinh nghiệm, về việc trùng tu những ngôi chùa bằng gỗ hoặc những bức tượng sơn mài trong chùa. Chúng tôi không hướng dẫn được gì cho họ về việc trùng tu kiến trúc truyền thống, tuy nhiên họ lại thiếu kinh nghiệm, thiếu công cụ để tiến hành trùng tu kiểu kiến trúc thời Pháp. Đây là chuyện bình thường bởi vì, dù hiện giờ di sản kiến trúc Pháp được Việt Nam chấp nhận và công nhận hoàn toàn nhưng trong quá khứ, đó vẫn là một nền văn hóa bị áp đặt nên không tiếp nhận được hết kiến thức”.
Phần thi công kỹ thuật, nguyên vật liệu được thành phố Hà Nội huy động nguồn lực địa phương. Công ty tư vấn điều chỉnh một số chi tiết kỹ thuật để thích nghi. Ông Emmanuel Cerise nêu ví dụ về ngói lợp mái, được nhập từ miền nam Pháp vào thời kỳ đầu thuộc địa. Nhưng sau đó, cả một ngành công nghiệp đất nung (gạch, ngói, gạch lát) được phát triển ở Việt Nam. Ngoài ra còn phải kể đến hạn chế về phương pháp thực hiện, chủ yếu liên quan đến chi phí hoặc năng lực.
“Việc phân tích thành phần hóa học của lớp vữa trát tường chẳng hạn, họ không nhập các vật liệu cũ từ Pháp. Có thể coi đây là một hạn chế. Ban đầu, tôi thấy hơi tiếc. Nhưng việc này lại có mặt tốt, đó là những kỹ thuật, kinh nghiệm được thực hiện trong ngôi nhà này có thể được áp dụng trong một ngôi nhà khác, đúng như ý chúng tôi muốn, đó là biến việc trùng tu biệt thự này thành một kiểu dự án thí điểm. Có nghĩa là nếu các đối tác Việt Nam muốn áp dụng kinh nghiệm sang những ngôi nhà khác, chúng tôi biết rằng họ sẽ không cần chúng tôi nữa, hoặc có thể là một chút về mặt tư vấn. Còn việc trùng tu hoàn toàn có thể được tiến hành với chi phí hợp lý, cùng với kỹ thuật và kinh nghiệm của Việt Nam”.
Tái hiện tổng thể kiến trúc Hà Nội trước năm 1954Sự kết hợp hài hòa này tạo tiền đề, cũng như giúp Hà Nội có thể tự chủ trong những dự án tiếp theo. Danh mục chỉnh trang, bảo tồn hiện có 92 biệt thự cũ xây trước năm 1954 tại Hà Nội, gồm 30 biệt thự cũ do thành phố quản lý, 50 biệt thự cũ do Trung ương quản lý và 12 công trình kiến trúc có giá trị. Theo trang Kinh tế Đô thị ngày 07/05/2023, thành phố ưu tiên kiểm định, đánh giá chất lượng chi tiết để có phương án cải tạo, chỉnh trang 24 biệt thự cổ và 8 công trình kiến trúc đặc biệt, gồm Báo Hà Nội mới, Tháp nước Hàng Đậu, Trụ sở Công an Thành phố, Cột cờ Hà Nội, trường PTTH Phan Đình Phùng, trường THPT Chu Văn An, trường THPT Trần Phú, trường THPT Việt - Đức.
Theo ông Emmanuel Cerise, công ty PRX-Việt Nam “không hẳn là bên thúc đẩy thành phố đưa ra quyết định này” nhưng năm 2010, họ đã “trao cho thành phố Hà Nội bản thống kê di sản, một dự thảo quy định để nâng cao giá trị di sản”. Vào thời điểm đó, bản quy hoạch tổng thể “có hơn 1.400 biệt thự trong thành phố (…) nhưng tiếc là từ đó đến nay, một số biệt thự đã bị phá”. Những công trình được xây theo kiến trúc thuộc địa nằm trong quy hoạch tổng thế tái hiện cuộc sống của người Hà Nội trước năm 1954.
“Chúng ta thấy ở số 87 Mã Mây có một ngôi nhà truyền thống của thương nhân Việt Nam được trùng tu và bày hiện vật như một ngôi nhà cổ. Biệt thự nằm ở số 49 Trần Hưng Đạo nằm trong quy hoạch này để cho thấy cùng thời điểm đó, một gia đình Pháp sống như thế nào. Chúng tôi phối hợp với phía Việt Nam để cho thấy văn hóa Pháp đã được hòa quện vào văn hóa Hà Nội trong mọi mặt đời sống ra làm sao.Nhưng vấn đề này hơi phức tạp một chút vì chúng ta biết rằng ảnh hưởng đó diễn ra vào thời điểm hoàn toàn bất cân xứng : Sức mạnh thực dân Pháp thống trị đời sống thường ngày của người dân Việt Nam, thường bị bắt làm nô lệ. Ảnh hưởng đó không diễn ra trong hòa bình mà trong bối cảnh rất đặc biệt.
Phía đối tác Việt Nam của chúng tôi hiểu rất rõ, nhưng đồng thời họ cũng coi giai đoạn đó là chuyện quá khứ, và hiện giờ không nhất thiết phải chỉ trích. Người dân Việt Nam đã đánh bại sự thống trị của Pháp khi giành chiến thắng Điện Biên Phủ, buộc thực dân ra đi. Lần đầu tiên trong lịch sử quá trình thuộc địa châu Âu lại xảy ra sự kiện như vậy. Còn Việt Nam rất tự hào về chiến thắng đó và có cái nhìn không đến mức quá bi quan về thời kỳ thuộc địa bởi vì thời kỳ đó đã giúp họ thành lập một nước Việt Nam độc lập, hùng cường.
Họ cũng hiểu là có một số mặt văn hóa đã ảnh hưởng đến đời sống người Việt. Điểm này được thể hiện qua biệt thự 49 Trần Hưng Đạo về mặt kiến trúc. Có thể thấy rõ là kiến trúc Pháp đã đồng hóa hoàn toàn vào lịch sử của Hà Nội. Người Việt coi đó như một niềm tự hào vì có một nhà hát lớn, một tòa án rất đẹp, rất nhiều ngôi nhà xinh… Chúng tôi cố gắng cho thấy rằng biệt thự 49 Trần Hương Đạo không sao chép y hệt một ngôi nhà ở Pháp. Đó là một ngôi nhà Pháp được xây ở Việt Nam nên mang đặc trưng Hà Nội. Bản thân ngôi nhà đã có sự giao thoa văn hóa”.
Chính sự giao thoa văn hóa này đã góp phần tạo nên những con phố có lối kiến trúc đẹp, rợp hàng cây trên vỉa hè với những biệt thự được kết hợp giữa kiến trúc tân cổ điển Pháp, tân cổ điển châu Âu với kiến trúc của Việt Nam như mái che, mái trạm trổ, hàng hiên rộng. Sự giao thoa này còn được thể hiện trong mọi mặt đời sống, cách ăn mặc, ngôn ngữ, thậm chí là cả lĩnh vực y tế hoặc giao thông với sự xuất hiện của đường bộ, đường sắt, du nhập ô tô...
Mang tính năng mới cho những công trình cổTrùng tu những căn biệt thự cổ là nhằm bảo tồn sự đa dạng văn hóa này. Nhưng có một câu hỏi khiến giám đốc PRX-Việt Nam trăn trở : Trùng tu hàng trăm biệt thự như vậy để làm gì ? Biệt thự ở 49 Trần Hưng Đạo được chuyển thành trung tâm văn hóa nhưng không thể lặp lại cả trăm lần. Ông Emmanuel Cerise cho biết PRX-Việt Nam sẵn sàng làm việc với thành phố Hà Nội để tìm ra tính năng mới cho những ngôi nhà đó.
“Hiện giờ, có rất ít mô hình kinh tế để cải tạo các ngôi nhà. Một số nhà cổ đã được cải tạo để thành nhà hàng. Nhưng tôi thấy tiếc là chưa có một ngôi nhà nào được trùng tu để thành khách sạn chẳng hạn, trong khi Đà Lạt đã làm, hoặc bên cạnh một ngôi nhà được trùng tu xây thêm một ngôi nhà mới để làm khách sạn trong khi hiện giờ Hà Nội chỉ có khách sạn Métropole là khách sạn lịch sử. Còn những ngôi nhà được trùng tu và tiếp tục làm nhà ở, thì đã có nhiều căn như vậy, ví dụ ở phố Ngô Quyền có nhiều tư dinh được bảo quản, thậm chí là trùng tu. Ngoài hỗ trợ tư vấn về kỹ thuật, cũng cần có một chút hỗ trợ về mặt ý tưởng : Tại sao lại trùng tu và trùng tu để làm gì ?”
Đến Hà Nội trong thời gian này, du khách không khỏi bất ngờ, thú vị trước nhiều công trình được tu sửa thể hiện “quyết tâm gìn giữ hồn cốt di sản”, như tháp nước Hàng Đậu, nhà máy xe lửa Gia Lâm hay chiếc cổng tam quan cổ kính phía trước Nhà hát Hồ Gươm, được trùng tu theo đúng nguyên bản 78 năm trước và trên cổng vẫn giữ hàng chữ tiếng Pháp “Garde indigène” của trại lính khố xanh thời Pháp thuộc. Tất cả trở thành những điểm đến mới của du lịch Hà Nội. Những công trình này nằm trong xu hướng “công nghiệp văn hóa” mà Hà Nội đang bắt đầu nhân rộng.
Làm gì với cầu Long Biên bắc qua sông Hồng ? Câu hỏi được đặt ra từ 20 năm nay vẫn chưa có lời giải đáp trong khi cây cầu 120 tuổi ngày càng xuống cấp vẫn gồng mình nối hai bờ sông. Tám tháng kể từ khi Pháp thông báo tài trợ cho nghiên cứu tiền khả thi và hai tháng kể từ khi Luật Thủ đô (sửa đổi) được Quốc Hội thông qua, hy vọng rằng cây cầu lịch sử sẽ sớm được trùng tu.
Trong thông cáo báo chí ngày 25/12/2023, Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam thông báo “khoản tài trợ không hoàn lại 700.000 euro”, được trích từ Quỹ Nghiên cứu và Hỗ trợ lĩnh vực tư - FASEP của Kho bạc Pháp, để góp phần trùng tu “công trình biểu tượng mạnh mẽ của mối liên kết độc đáo gắn kết hai nước”. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 13/06/2024, đại sứ Pháp Olivier Brocher giải thích mục đích của dự án :
“Đến thời điểm này, khoản ngân sách 700.000 euro được tặng cho thành phố Hà Nội là nhằm giúp tiến hành nghiên cứu tiền khả thi để sau đó thực hiện dự án cải tạo cầu Long Biên. Chúng ta biết là cây cầu này rất quan trọng và hữu ích đối với người dân Hà Nội. Cây cầu đó cũng là một phần lịch sử, bản sắc của Hà Nội, người Hà Nội rất gắn bó với cầu Long Biên. Thế nhưng đó cũng là một cây cầu đã phải chịu đựng rất nhiều, rất cũ vì cũng đã 120 tuổi và cần được trùng tu sâu rộng.
Nhưng trước khi tiến hành thi công, cần phải hiểu rõ nhu cầu, phân tích và đó chính là mục đích của nghiên cứu tiền khả thi, được công ty xây dựng Pháp Artelia tiến hành. Đây là một công ty nổi tiếng chuyên nghiệp trong vấn đề này. Hiện giờ, mọi người đã sẵn sàng để thực hiện công việc, chúng tôi đang chờ được thành phố Hà Nội bật đèn xanh để những nghiên cứu này có thể được bắt đầu. Và khoản tiền 700.000 euro đó là nhằm tài trợ cho công việc này.
Đó là phần thứ nhất, sau đó khi có những định hướng về công việc sẽ được thực hiện và lập ra được bản quy định cụ thể thì Pháp sẵn sàng làm việc với thành phố Hà Nội, dù là về khả năng cấp vốn để tài trợ cho công việc trùng tu thông qua Cơ quan Phát triển Pháp - AFD hoặc là tìm và mời các doanh nghiệp chuyên về lĩnh vực này tham gia để có thể mang kiến thức, kinh nghiệm của họ trong việc trùng tu cây cầu Long Biên xinh đẹp này”.
Đọc thêm : Cầu Long Biên qua hồi ký toàn quyền Paul Doumer
Cụ thể, theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Pháp tại Việt Nam - CCIFV ngày 28/12/2023, công ty Artelia chẩn đoán tình trạng của cây cầu thông qua mô hình một cây cầu kỹ thuật số tương ứng ; tiến hành nghiên cứu cấu trúc giúp xác định những công trình cải tạo cần thực hiện ; mô tả những công việc này, lập kế hoạch và thống kê (1). Ba mục đích chính của nghiên cứu được giao cho Artelia gồm : Bảo đảm an toàn cho người sử dụng công trình dù là giao thông đường sắt, người đi bộ hay xe hai bánh ; Nêu bật di sản biểu tượng cảnh quan của thành phố Hà Nội ; Trên cơ sở nghiên cứu về tác động môi trường, đưa những nguyên tắc phát triển bền vững… vào các kịch bản sử dụng cầu trong tương lai… có tính đến các dự án giao thông lớn và các dự án quy hoạch đô thị mà thành phố đang triển khai.
“Nghiên cứu khả thi đề xuất kỹ thuật” dài 32 trang đã được công ty Artelia gửi đến thành phố Hà Nội. Đến tháng 05/2024, sở Giao thông Vận tải Hà Nội đề nghị Hội Kiến trúc sư Hà Nội cho biết ý kiến với đề xuất kỹ thuật cải tạo cầu Long Biên của công ty Pháp Artelia (2). Đến ngày 28/06, theo Luật Thủ đô (sửa đổi) 2024 được Quốc Hội khóa XV thông qua, trong đó có nội dung Quy hoạch Thủ đô và Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội, thì “không có tuyến đường sắt đô thị nào đi qua cầu Long Biên”. Như vậy, theo kiến trúc sư Trần Huy Ánh (3), “cho tới 2030 khả năng vẫn chỉ có cầu Long Biên, Thăng Long có đường sắt”.
Cây cầu vắt qua ba thế kỷVới những tiến triển này, hy vọng việc trung tu cầu Long Biên sẽ sớm được khởi công. Đang tiếc là phải mất đến 20 năm kể từ khi Pháp ngỏ ý tài trợ nhân chuyến thăm Việt Nam năm 2004 của tổng thống Jacques Chirac, cây cầu trăm tuổi mới thực sự được chú ý nhiều hơn. Trong quãng thời gian đó, “Pháp đã tài trợ cho nhiều nghiên cứu và các đoàn công tác của chuyên gia”. Và Pháp lại tiếp tục đáp ứng mong muốn của người dân Hà Nội trong những năm gần đây là “được thấy Pháp tham gia nhiều hơn nữa vào việc cải tạo cây cầu này”. Đại sứ Olivier Brochet cho biết thêm về những phương án tương lai để có thể nâng cao giá trị của cầu :
“Quyết định xem xét công dụng của cầu Long Biên trong tương lai thuộc về thành phố Hà Nội. Nhưng theo tôi biết, cho đến thời điểm này thì quá trình suy tính vẫn chưa hoàn tất để xem liệu tiếp tục duy trì giao thông đường sắt trên cầu hay không, liệu cầu sẽ chỉ dành riêng cho người đi bộ hoặc đi xe máy như hiện nay hay cầu sẽ có một tầm vóc mới, ý tôi muốn nói là thiên về bảo tồn di sản hơn và dành cho người đi bộ. Hiện giờ ở thành phố Hà Nội vẫn có những cuộc trao đổi, thảo luận về vấn đề này.
Điều quan trọng, và cũng chính vì thế mà FASEP giữ vai trò quan trọng, đó là cần cùng lúc tiến hành gia cố và cải tạo cây cầu một cách khẩn trương, có thể là trước cả khi có quyết định chính thức về công dụng của cây cầu trong tương lai bởi vì tình trạng hiện nay của cầu rất đáng quan ngại và ảnh hưởng đến tính ổn định và sự an toàn của người sử dụng. Chính vì thế chúng tôi đã đề xuất và thành phố đã chấp nhận ý tưởng tiến hành nghiên cứu. Nghiên cứu tiền khả thi hiện giờ mang tính kỹ thuật, dù có thể vẫn chưa có ý định chính xác về chức năng sắp tới của cây cầu. Dù sao, cây cầu vẫn có vị trí của mình, vẫn là một phần cảnh quan đô thị và vẫn có ích cho người Hà Nội. Vì thế chúng tôi ở đây, mang đến nguồn tài chính và kỹ năng, sau đó về mặt vay tài chính, ví dụ thông qua Cơ quan Phát triển Pháp - AFD, để trùng tu cây cầu.
Giả sử nếu như việc phát triển về khía cạnh di sản của cây cầu có thể là chủ đề hợp tác giữa Pháp và Việt Nam, bởi vì nhìn chung, đó là một trong những trục hợp tác của hai nước chúng ta, thì việc nâng giá trị di sản của Việt Nam từ mọi thời đại hiện giờ vẫn là một trong những nét phong phú và là một trong những nét hấp dẫn của Việt Nam”.
Cầu Long Biên : Từ ý tưởng tháo dỡ đến bảo tồn di sảnCầu “Paul Doumer” cũ, theo phong cách Eiffel, được xây dựng từ tháng 09/1898 và đến năm 1902. Cầu “đã bị hư hại nặng nề bởi những đợt ném bom của Mỹ năm 1967. Chính quyền Việt Nam sau đó đã phục hồi cây cầu nhằm đảm bảo sự liên tục kết nối giữa Hà Nội và Hải Phòng”. Những năm sau đó, cây cầu chỉ được chắp vá, lấp ổ gà và thiếu đại trùng tu. Rồi lại đến ý tưởng tháo dỡ cây cầu già cỗi, “tang thương do chiến tranh tàn phá, làm cây cầu mới cho hoành tráng”. Quyết định tháo dỡ được đưa ra năm 2006, chỉ hai năm sau chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Jacques Chirac và Hà Nội không hồi âm về đề xuất của Pháp cấp 60 triệu euro để trùng tu cầu Long Biên.
Theo lời kể với tạp chí Nông nghiệp (4) của kiến trúc sư Nguyễn Nga, một Việt kiều sống ở Paris nhưng luôn hướng về Hà Nội và là một trong những người có công để cầu Long Biên không bị tháo thành đống sắt vụn, “sức mạnh truyền thông của báo chí đã giúp tôi rất nhiều”để thay đổi số phận đã được định đoạt của cầu Long Biên. Vào lúc cây cầu lịch sử, gắn với hình ảnh của Hà Nội, bị coi chỉ còn là đống sắt vụn mà một số ý kiến đồng tình với việc phá bỏ, chỉ còn mỗi vai trò văn hóa, lịch sử còn có thể giúp cây cầu trụ lại. Kiến trúc sư Nguyễn Nga hồi tưởng khi trả lời phỏng vấn với RFI Tiếng Việt tháng 03/2016 :
“Năm 2007, tôi nghĩ là phải làm một cái gì đó, làm một sự kiện rất lớn để người Việt Nam ý thức được cây cầu đóng một vai trò hết sức quan trọng, không chỉ trong quá khứ mà nó có thể đóng một vai trò quan trọng cho Việt Nam hội nhập với thế giới trong tương lai. Cho nên tôi đã tổ chức hai kỳ lễ hội Festival trong vòng 48 tiếng trên đúng cây cầu đó, vào năm 2009, 2010 để chào mừng Hà Nội 1000 năm.
Tôi nhớ đến một lễ hội ở Champs-Elysées lúc tôi ở Pháp, trong 24 tiếng, nguyên đại lộ Champs-Elysées biến thành một cánh đồng, nơi người dân đến gặt lúa, ca hát. Tôi cũng biến cây cầu Long Biên trong 48 tiếng với 20 hoạt động khác nhau để kỉ niệm, lần thứ nhất là ký ức của cầu Long Biên hơn 100 tuổi và lần thứ hai là để câu chuyện nghìn năm từ Thăng Long đến Hà Nội. Và hai kỳ festival đó đã làm cho người Việt Nam ý thức được tầm quan trọng phải lưu giữ cây cầu này để kể lại câu chuyên cho các thế hệ Việt Nam, cũng như là để kết nối Việt Nam với thế giới”.
Lẽ ra cây cầu đã có thể được trùng tu cách đây gần 20 năm khi Pháp sẵn sàng sát cánh với Việt Nam khi đề xuất gói hỗ trợ 60 triệu cùng với nghiên cứu tiền khả thi. Đây chính là những gì đang diễn ra hiện nay. Nghiên cứu tiền khả thi đã có, Pháp tha thiết được tiếp tục hợp tác trong công trình mang đầy ý nghĩa biểu tượng lịch sử và trở nên quá đỗi thân thương với người dân thủ đô.
Ngay từ năm 2011, sau khi có dự án biến cầu Long Biên thành nơi triển lãm phủ kính theo đề xuất của kiến trúc sư Nguyễn Nga, nhiều người dân lại mong muốn trùng tu cây cầu “để nguyên bản mới đúng lịch sử” và tiếp tục giữ chức năng lưu thông. Theo Luật Thủ đô được Quốc Hội thông qua tháng 06/2024, chức năng này sẽ được tiếp tục ít nhất đến năm 2030.
Rất nhiều kiến trúc sư Việt Nam đã đề xuất những dự án lòng ghép nhiều mục đích sử dụng nhằm đạt nhiều mục tiêu, mang lại nhiều lợi ích, từ lưu thông đến nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, triển lãm, kinh doanh nhờ giải phóng không gian mặt đất tại các ga, dưới đường tàu… “Cầu Long Biên trăm tuổi nay lại có cơ hội tạo ra nguồn lực mới phát triển Hà Nội hiện đại”, như kỳ vọng được ông Trần Huy Ánh, ủy viên thường vụ Hội KTS Hà Nội, nêu trong một bài viết trên trang Vietnamnet tháng 01/2022.
Vòng lửa không cháy mà chỉ tỏa sáng, ngọn lửa vàng rực không được tạo ra từ chất đốt hóa thạch mà từ nước và điện tái tạo, đó là « đài lửa bay » độc nhất vô nhị trong lịch sử Olympic nhờ khinh khí cầu. Tỏa hơi nước mờ ảo như làn khói, hai tuần qua, từ sau lễ khai mạc Thế Vận Hội, đài lửa Olympic bập bùng bay lơ lửng trên bầu trời đêm Paris, đã trở thành « ngôi sao mới nổi » thu hút mọi ánh nhìn ở Kinh đô Ánh sáng Paris.
Đài lửa Olympic thậm chí được kỳ vọng sẽ trở thành công trình hiện diện lâu dài tại Paris chứ không chỉ trong thời gian ngắn ngủi diễn ra Thế Vận Hội, như tháp Eiffel theo dự kiến ban đầu chỉ được dựng lên tại thủ đô nước Pháp cho Triển lãm Hoàn cầu 1889, nhưng sau hơn 135 năm vẫn sừng sững giữa lòng Paris, là biểu tượng của Paris hoa lệ và là một trong những công trình được thăm quan nhiều nhất thế giới.
Cũng như các tiết mục biểu diễn trong lễ khai mạc Thế Vận Hội, màn rước đuốc và châm vạc lửa Olympic được giữ bí mật đến phút chót. Hình ảnh mãn nhãn về đài lửa lơ lửng trên bầu trời Paris rực rỡ, phía dưới là các công trình biểu tượng đẹp lung linh của Paris đã khép lại chương trình khai mạc Thế Vận Hội. Và ngay sau đó là những ngày thu hút hàng trăm ngàn lượt khách đến chiêm ngưỡng đài lửa - khinh khí cầu tại vườn Thượng Uyển (Tuileries). Cùng với không khí háo hức, sôi nổi mỗi tối ở thủ đô Paris khi hoàng hôn buông xuống, là vô vàn bức ảnh đẹp như trong cổ tích lan truyền trên các kênh truyền thông và mạng xã hội.
Vào ban ngày, đài lửa được đặt tại Vườn Tuileries, mỗi hôm cả chục ngàn người đến tham quan. Chỉ trong 48 giờ đầu tiên phân phát vé miễn phí, đã có 100.000 người đăng ký. Nhiều người nói đến hiệu ứng Vasque Olympique (Chảo lửa Thế Vận Hội). Buổi tối khi mặt trời lặn, khinh khí cầu được đưa lên độ cao 60m, cho đến nửa đêm, đung đưa theo gió, phun hơi nước mờ ảo như làn khói mỏng tỏa ra từ ngọn lửa.
Kỳ tích công nghệ PhápNghe thì đơn giản, nhưng đài lửa Olympic xứng đáng được gọi là một kỳ tích công nghệ mới của Pháp, được lấy cảm hứng từ ngành chế tạo hàng không, bởi phải bảo đảm đồng thời tính thẩm mỹ mà an toàn, nhẹ mà chắc chắn, nhất là khi khinh khí cầu, cao 30m, với bề ngang 22m, được đưa lên độ cao 60m và đung đưa trong gió vài tiếng đồng hồ trong khi hệ thống dẫn điện - nước vẫn phải hoạt động liên tục qua đường dây cáp đặc biệt bằng nhôm nhẹ mà vững chắc, dẫn từ mặt đất lên độ cao 60m.
Riêng về vòng lửa, với đường kính 7m, vòng lửa được tạo thành nhờ 40 máy chiếu công suất cực mạnh với độ sáng 4 triệu lumen và 200 vòi phun sương cao áp, do công ty điện lực Pháp EDF và các đối tác chế tạo. Khi đứng yên một chỗ trên mặt đất, vạc lửa tiêu thụ 2m3 nước/giờ, còn khi lên cao thì 3m3 nước/giờ.
Cũng như đuốc Olympic Paris 2024, đài lửa do Mathieu Lehanneur thiết kế. Nhà thiết kế táo bạo này là người sáng lập xưởng thiết kế Factory tại Ivry-sur-Seine, ngoại ô Paris. Trên đài RFI Pháp ngữ, nhà thiết kế Lehanneur giải thích về ý nghĩa của đài lửa :
« Điều đầu tiên đến (trong suy nghĩ) là chúng tôi sẽ làm được, bất luận thế nào thì chúng tôi cũng phải làm mọi thứ để đạt được điều đó. Như vậy, chúng tôi đã triển khai mọi việc, cả về mặt kỹ thuật, về vật liệu và về không gian, để tìm ra vị trí thích hợp và công nghệ thích hợp. Chúng tôi đã có thể làm cho chiếc đài lửa trở nên sống động nhờ các ê-kíp của Tập đoàn Điện lực Pháp EDF đã tạo ra được một ngọn lửa mà không cần dùng tới chất đốt. Quả thực, ngọn lửa được tạo ra từ ánh sáng và nước đã cho phép chúng tôi biến ý tưởng về đài lửa bay trở thành hiện thực. Chính điều này đã thực sự cho phép chúng tôi biến những giấc mơ điên rồ nhất thành hiện thực.
Ý nghĩa biểu tượng của đài lửa này là ở chỗ càng đông công chúng tiếp cận được thì càng tốt. Vào ban ngày, đài lửa được đặt trên mặt đất tại một nơi công cộng, để tất cả mọi người có thể đến chiêm ngưỡng. Và vào buổi tối, đài lửa sẽ bay lên theo chiều gió, có thể lên đến độ cao 60m để càng nhiều người chiêm ngưỡng thì càng tốt. Như vậy, trên hết đài lửa khiến tâm hồn người xem bay bổng. Đây cũng là cách kể với mọi người về lịch sử các phát minh của Pháp, câu chuyện về anh em nhà Montgolfier (những người đã chế tạo ra khinh khí cầu đầu tiên), các khinh khí cầu, khinh khí cầu vận hành với khí đốt, tức là toàn bộ lộ trình sáng chế của Pháp. Như vậy là đài lửa này cũng được in dấu trong dòng chảy lịch sử này, nhưng theo cách thức mới mẻ ».
Ngọn lửa bừng sáng lúc hoàng hônSuốt gần 2 tuần qua, khu vườn nổi tiếng gần sông Seine, cạnh bảo tàng Louvre, trở thành điểm thu hút biết bao du khách, không chỉ du khách trong nước và quốc tế mà ngay cả nhiều người dân Paris cũng háo hức đến đây để được tận mắt ngắm nhìn một « kỳ quan » mới mùa Thế Vận Hội.
Chị Minh Phương, sống tại vùng Paris, cùng với một nhóm bạn người Việt Nam, hôm đầu tuần này cũng đến Vườn Tuileries để chiêm ngưỡng vạc lửa - khinh khí cầu. Đây là lần thứ hai chị đi xem đài lửa. Hào hứng khi thấy khinh khí cầu bắt đầu bay lên, lung linh trên bầu trời đêm Paris, chị Minh Phương chia sẻ với RFI Tiếng Việt :
Không xa chỗ chị Phương đứng, ở ngay đầu cầu Pont Royal, bà Emilie Bourdenx và con trai là Mathis Mahongo đang say sưa bàn tán rất sôi nổi về đài lửa. Bà Emilie Bourdenx không tiếc lời khen ngợi :
« Đây là lần đầu tiên tôi thấy nó (đài lửa) bay lên vì những lần trước thời tiết xấu. Tôi thấy thật phi thường, rất đẹp. Thật là kỳ diệu ! Đây là một khoảnh khắc kỳ ảo. Quả là tuyệt vời ! Mọi người rất vui khi được đến đây. Bầu không khí ở đây rất thích, mọi người đến từ nhiều quốc gia. Thực sự là rất tuyệt vời ! Công ty điện lực Pháp đã tạo ra ngọn lửa này, nhưng thực ra không hề có lửa cháy, mà ngọn lửa được tạo ra bằng hơi nước và ánh sáng. Nhưng chúng ta có thể nói là nó giống y ngọn lửa thật và tôi nghĩ chính điều đó khiến nó trở nên kỳ ảo ».
Anh Mathis Mahongo hào hứng tiếp lời mẹ :
« Tôi đã từng trông thấy nó, không phải ngoài đời thực mà là trên truyền hình và trông có vẻ tuyệt vời. Nhưng được chiêm ngưỡng tận mắt thế này thì thực sự là rất đẹp. Và cách (ngọn lửa) được tạo ra với hơi nước cũng được thực hiện rất tốt. Nên tôi thích ngọn lửa như vậy, lửa mà lại không phải lửa thật. Điều này chẳng có gì là không hay. Tôi thậm chí còn thấy rằng hiệu ứng mà nước mang lại còn tốt hơn là từ ngọn lửa thật. Tôi nghĩ rằng tôi thích ngọn lửa được tạo ra từ hơi nước thế này hơn ».
Cách đó vài bước chân có hai người phụ nữ trẻ, hiện đang sống tại Paris, đi xem đài lửa cùng nhau. Một người đã từng chiêm ngưỡng, cô vui vẻ chia sẻ cảm xúc ngay trước khi đài lửa bay lên : « Tôi đến đây chiêm ngưỡng đài lửa Olympic cùng với người bạn trọ cùng nhà với tôi. Ngày thứ Bảy, sau hôm xem lễ khai mạc Thế Vận Hội, tôi đã đến đây và tôi thấy (đài lửa) rất đẹp. Mọi người đến xem mà không cần phải mua vé, tôi thấy là rất tuyệt. Có thể nói là khá độc đáo và hầu như đứng chỗ nào ở Paris cũng có thể ngắm được, như trên đồi Montmartre chẳng hạn. Điều này mang lại không khí hào hứng trong suốt mùa Thế Vận Hội ».
Bạn cô thì nói : « Sẽ thật tuyệt nếu đài lửa được duy trì ở đây. Tại sao lại không nhỉ ? Nó thực sự rất đẹp. Hiện tại tôi chưa có cơ hội ngắm. Tôi đang chờ xem đây. Có đông người, trời đang là mùa hè, thời tiết đẹp, đài lửa đưa người mọi người đến đây, tạo ra một bầu không khí hào hứng, sôi nổi. Chúng tôi đánh giá cao điều đó ».
Biểu tượng mới của Paris ?
Truyền thông Pháp thậm chí đặt câu hỏi về khả năng đài lửa bay liệu có trở thành một biểu tượng mới của Paris, thậm chí liệu có thể soán ngôi biểu tượng tháp Eiffel của Paris hay không. Về điều này, có nhiều ý kiến trái chiều. Những chia sẻ của các du khách mà RFI Tiếng Việt phỏng vấn cũng cho thấy điều đó. Chị Minh Phương bày tỏ :
Bà Emilie Bourdenx và con trai là Mathis Mahongo : « Ồ! Tôi không rõ, chúng tôi không phải người Paris nên tôi không biết, nhưng đúng là điều đó có thể sẽ rất thú vị. Nhưng thường thì sau Olympic thì người ta sẽ tắt lửa. Có thể là đây chỉ là khoảnh khắc kỳ diệu ngắn ngủi, trong vài ngày thôi. Nó sẽ không thể soán ngôi tháp Eiffel được. Tháp Eiffel ở ngay kia kìa. Mọi người vẫn thấy tháp Eiffel sáng lấp lánh ngay cả khi đài lửa bay lên. Tháp Eiffel sẽ không thể bị soán ngôi đâu, nó hùng vĩ thế kia cơ mà » ; « Tôi nghĩ rằng biểu tượng của Paris sẽ luôn là tháp Eiffel. Đài lửa thì tôi không chắc là sẽ được như vậy. Tôi nghĩ là nó sẽ chỉ thoáng qua. Đó sẽ là một khoảnh khắc kỳ diệu trong lịch sử Paris, nhưng sẽ chỉ là tức thời, là một hiệu ứng thoáng qua ».
Sự thành công ngoài sức tưởng tượng của đài lửa Olympic ngay từ khi ra mắt tại lễ khai mạc Thế Vận Hội đã khiến đô trưởng Paris, Anne Hidalgo, đã viết thư gửi tổng thống Pháp Emmanuel Macron để đề nghị giữ lại đài lửa ở vườn Tuileries sau khi Olympic kết thúc. Do đây là khu vườn thuộc quản lý của Nhà nước nên chính quyền thành phố không thể tự quyết.
Vườn Tuileries cũng chính là nơi cách nay gần 2 thế kỷ rưỡi khinh khí cầu vận hành bằng nhiên liệu hóa thạch, do anh em nhà Montgolfier chế tạo, trở thành phương tiện « biết bay » đầu tiên của nhân loại. Hơn nữa, đây cũng là một điểm nằm trên trục thẳng nối những điểm biểu tượng của Paris, từ Kim tự tháp kính ở sân bảo tàng Louvre, cột đá Ai Cập obélisque có từ thế kỷ 13 trước công nguyên tại quảng trường Concorde, Khải Hoàn Môn, cho đến La Défense, trung tâm văn phòng, tài chính lớn nhất châu Âu, đặt tại ngoại ô Paris.
Theo Le Figaro ngày 02/08, tổng thống Macron đã đề nghị chính phủ phối hợp với Công ty điện lực Pháp, chính quyền thành phố Paris và các cơ quan có liên quan nghiên cứu về khả năng duy trì lâu dài đài lửa Olympic tại Paris.
Tháng 5/2024 họa sĩ Pháp gốc Việt Marcelino Trương ra mắt độc giả cuốn sách mới Biển xanh sâu thẩm từ Sài Gòn đến Saint-Malo. Biển, nước bể bơi … là hình ảnh của tuổi thơ, là một mái nhà trong thời gian ngắn ngủi phục vụ trong Hải Quân Pháp, là sân chơi bất tận trong sự nghiệp sáng tác của một nghệ sĩ tự học vẽ trở thành một tên tuổi trong làng truyện tranh, là một cây bút trong làng hội họa và một tác giả yêu mến của bạn đọc.
Trong tác phẩm Si loin dans le bleu de Saigon à Saint-Malo, xin được dịch là Biển xanh sâu thẳm từ Sài Gòn đến Saint-Malo, của nhà xuất bản Equateurs thật ra đưa độc giả đi từ Manila, thủ đô Philippines, nơi anh sinh ra, đến Saint Malo vùng Bretagne, tây bắc nước Pháp. Saint-Malo hướng nhìn ra biển là quê « ngoại » của họa sĩ Marcelino Trương.
Thân phụ của Marcelino là một nhà ngoại giao của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, vì thế Marcelino chào đời trong một nhà hộ sinh ở thủ đô Philippines năm 1957. Mẹ của Marcelino Trương yêu nghệ thuật, vẽ giỏi, đàn hay. Bà lớn lên cùng với mùi gió biển Saint-Malo … Những thăng trầm của dòng lịch sử và dòng đời, sau 40 năm sống ở Paris, Marcelino Trương về ở hẳn trong ngôi nhà của ông bà ngoại để sớm chiều được nghe tiếng sóng, để hàng ngày tâm sự cùng gió biển. « Biển nhìn thấu suốt từ sự mệt mỏi đến nỗi chán chường, từ lòng can đảm, sức mạnh đến nỗi sợ hãi » của anh.
Trong cuốn tự truyện với rất nhiều bức tranh minh họa, Marcelino Trương ngược thời gian nhớ về tuổi thơ, về một lần hiếm hoi cả gia đình cùng đi nghỉ mát ở Nha Trang trước khi « loạn lạc ». Marcelino đã nhớ về những buổi chiều tà thả bộ ở bến Nhà Rồng, khám phá những chiếc tàu chiến của Mỹ được điều sang Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh.
Biển xanh sâu thẳm đã có nhiều trang nói về thành phố cổ Hội An, về Vũng Tàu, nơi bên dòng họ Trương Bửu từ Bình Định trôi dạt về đây lập nghiệp… Rồi nói về Saint-Malo khi Marcelino Trương về sống với ông bà ngoại, còn bố mẹ và các anh chị em ở lại Luân Đôn.
Saint-Malo là bệ phóng đưa Marcelino nối gót cha và ông nội vào Trường Khoa Học Chính Trị Sciences Po Paris. Trong thời gian phục vụ Hải Quân Pháp, anh đã đóng ở những thành phố biển như Toulon, Rocherfort .. Chính trong thời gian này, Marcelino đã có dịp bước lên hàng không mẫu hạm Clémenceau và đã mở lại một vài trang sử của Hải Quân Pháp ở Đông Dương …
Khi đã quyết định theo ngành hội họa, Marcelino Trương vẽ truyện tranh phục vụ các nhà in và ngành báo chí. Thế rồi người nghệ sĩ gốc Việt này đi xa hơn nữa trên con nghệ thuật… Những mảnh gỗ, thân cây, …. ở tận những phương trời nào trôi dạt đến bãi biển Saint-Malo, dưới bàn tay của Marcelino Trương cũng trở thành một tác phẩm nghệ thuật, một món đồ trang trí trong nhà … Từ những bộ xương cá bạc màu, cho đến vỏ ốc, vỏ sò …, tất cả đều được Marcelino Trương kết hợp lại để chúng hóa thân thành một bức tượng sống động …
Thẳm sâu trong màu xanh nước biểnTrả lời RFI tiếng Việt nhân dịp sách mới của Marcelino Trương ra mắt độc giả, họa sĩ Pháp gốc Việt này trước hết giải thích về tựa cuốn sách của anh.
Marcelino Trương : « Nhờ Jeanne Phạm Trần, của nhà xuất bản Editions des Equateurs, bản thân cũng là một tác giả, mà tôi đã có cơ hội để soạn ra cuốn sách này. Chính Jeanne đã đề nghị tôi viết sách bởi chị nhận thấy là tôi rất năng động và có nhiều điều để kể trên Facebook. Tôi đăng lên nhiều chủ đề khác nhau trên trang mạng xã hội, và rất thường nhắc đến Việt Nam. Tôi rất hạnh phúc được có cơ hội viết cuốn sách này, bởi cho đến nay tôi chuyên chú phát hành truyện tranh cho thiếu nhi và một vài cuốn tiểu thuyết có tranh minh họa. Tôi tốt nghiệp đại học văn khoa và thấm nhuần truyền thống của gia đình. Tôi đã nhiều lần hoãn lại hoài bão viết sách, để tập trung vào hội họa, vì như chị biết, trong trường vẽ, tôi hoàn toàn tự học. Tựa cuốn sách tôi mới cho phát hành lấy nguồn cảm hứng từ bộ phim Le Grand Bleu (1988) của đạo diễn Luc Besson và câu nói nguyên thủy trong tác phẩm này là Si loin que le bleu (thẳm sâu như màu xanh nước biển) nhưng tôi đã mạn phép sửa một chút thành Si loin dans le bleu (Biển xanh sâu thẳm) ».
Những mẩu chuyện nhỏ trong gia đìnhTrong Biển xanh sâu thẳm, Marcelino Trương chia sẻ với độc giả rất nhiều những kỷ niệm trong gia đình từ hai dòng họ Trương Bửu bên nội và Horel bên ngoại, ví dụ như anh nói về căn bệnh trầm cảm của người mẹ Yvette khi bà hạ sinh đứa con thứ ba, hay cuộc đời ngắn ngủi của nhân vật mà trong sách Marcelino gọi là « hoàng tử Riri », (anh của mẹ, chết khi mới vừa lên 7 tuổi).
Về gốc gác dòng họ bên nội ở Việt Nam, Marcelino tiếc rằng anh không còn nhiều liên hệ, nhưng tình yêu với quê cha vẫn khắc sâu trong tâm khảm người nghệ sĩ này
Marcelino Trương: « Biển cả, bãi biển, bể bơi … là sợi chỉ đỏ mà chị Jeanne Phạm Trần của nhà xuất bản đã đề nghị với tôi. Đấy cũng là những chủ đề trở đi trở lại trong những bức họa của tôi từ 40 năm nay… và tôi quyết định nói về vị trí của biển, của bể bơi… trong cuộc sống của mình. Tuy nhiên, do không là thủy thủ và cũng chưa từng lăn lộn với biển cả, nên tôi gắn kết màu xanh nước biển với những câu chuyện trong gia đình của chúng tôi, với dòng lịch sử và đôi khi là với đời sống chính trị chung quanh. Trong cách phát âm của tiếng Pháp, chữ Biển (Mer) nghe không khác gì với chữ Mẹ (Mère), thành thử Biển là Biển Mẹ, nên tôi đã nhắc lại hình ảnh của Yvette, mẹ tôi. Sinh thời bà bị bệnh trầm cảm, tính tình đổi thay như sóng vỗ đại dương vậy ! ».
Hội An, một dấu ấn đặc biệtVũng Tàu, nơi dòng họ bên nội đến lập nghiệp, Nha Trang, Hội An, Saint Malo… Marcelino Trương thực sự gắn bó với biển cả … Và anh đặc biệt yêu thích Hội An :
Marcelino Trương : « Vâng, tôi rất thích những địa điểm gần bờ biển mà chị nói đến. Tôi đã hoàn toàn bị Hội An mê hoặc trong chuyến đi Việt Nam lần đầu vào năm 2002. Khi đó thành phố biển này chưa được biết đến nhiều như hiện nay. Ở đây chỉ mới có vài khách sạn, đếm được trên đầu ngón tay. Thả bước trên những con đường cổ dọc theo bờ kè, ta hiểu được ngay vì sao nhiều thế hệ du khách đã yêu say đắm Việt Nam. Tôi cũng đã hiểu được vì sao cha mình nói về tuổi thơ của ông với bao nhiêu hoài niệm. Thân phụ tôi là Trương Bửu Khánh (1927-2012), lớn lên ở vùng đồng bằng sông Mêkong (Tân An, Trà Vinh), rồi về sống ở Vũng Tàu, Sài Gòn. Thế rồi ông đi học ở Huế. Năm 1948 cha tôi sang Pháp du học và được nhận vào trường Sorbonne và Khoa Học Chính Trị Paris… Ông luôn kể cho chúng tôi nghe về đất nước Việt Nam như một ‘thiên đường đã mất’. Tôi rất yêu bờ biển và làng mạc chung quanh Hội An, và tôi cũng đã rất chú ý đến người Việt Nam. Tôi rất thích gặp những con người bình thường trong cuộc sống hàng ngày. Đó là những bác phu xích lô, những người chạy xe ôm, những người buôn bán ngoài chợ, hay họ là nhân viên lễ tân khách sạn … Tiếng Việt của tôi quá kém để có thể trao đổi với họ, nhưng tôi thán phục những con người can đảm và hiếu học… Chúng tôi đã cười rất nhiều mỗi lần tôi nói sai hay bỏ dấu sai trong tiếng Việt ».
Lịch sử và dòng đờiMột điều thú vị khác là cuốn Biển xanh sâu thẳm phản ánh thời cuộc, những thăng trầm trong lịch sử Việt Nam trước và sau 1975, phản ánh cuộc sống trên đất Pháp sau Thế Chiến Thứ Hai … Trả lời RFI Việt ngữ, Marcelino Trương rất tiếc là anh không còn giữ được ngôn ngữ của người cha thân yêu, nhưng anh đã muốn kể lại một chút câu chuyện của gia đình bằng tiếng Việt và xin lỗi trước là « nói không rành »
Marcelino Trương : « Tôi có thể chia sẻ với các bạn nghe đài câu chuyện của gia đình, một gia đình nhỏ bé bị cuốn trong dòng lịch sử. Chuyện cũng hơi buồn như đối với nhiều gia đình khác trong chiến tranh Việt Nam. Thế hệ cha và chú tôi muốn được sống trong một đất nước độc lập. Có những người chọn đi theo cách mạng, một số khác đứng về phe chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Bà Nội tôi là Tạ Huỳnh Lan, trong gia đình Tạ Trung quê ở Trà Vinh, có một người cháu tham gia Việt Minh năm 1948. Khi ra đi, ông để lại vợ và bốn người con. Năm 1954, ông tập kết ra bắc, sống ở Hà Nội mười năm trước khi được lệnh trở lại miền Nam, đi theo đường mòn Hồ Chí Minh. Khi đó chiến tranh lên đến cao trào. Năm 1975, người cháu này trong gia đình cùng với quân đội giải phóng trở lại Trà Vinh và chỉ khi đó ông mới gặp lại được vợ con sau gần 30 năm. Thế rồi một vài năm sau ngày Giải Phóng, con gái lớn của ông vượt biên ra nước ngoài, và định cư hẳn ở Montréal, Canada. Gia cảnh này cũng như biết bao nhiêu gia đình khác.
Tại sao tôi lại kể lại chuyện này ? Bởi tôi muốn phương Tây hiểu được rằng, mọi chuyện không đơn giản trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Tất cả không hoàn toàn là « Trắng » hay « Đen ». Đấy không đơn giản là một cuộc xung đột giữa bên thiện và bên ác. Thực tế không đơn giản như vậy. Tôi cũng muốn xin được nói thêm rằng, bất chấp những khác biệt về chính trị đó, các thành viên trong đại gia đình của chúng tôi vẫn cố gắng gắn kết với nhau. Mọi người đã vượt lên trên ranh giới về chính trị, về ý thức hệ đó. Cha tôi thường nói đây trước hết là công lao rất lớn của những người phụ nữ trong gia đình chúng tôi : họ cố gắng rất nhiều để yếu tố chính trị không chia rẽ anh em ruột thị. Đây có thể là điều khiến chúng ta phải suy nghĩ ».
Cuốn sách của Marcelino có thể được đọc như một cuốn truyện tranh, như một cuốn tự truyện với nhiều dấu mốc lịch sử, nhưng có lẽ đây trước hết là một cuốn sách rất đẹp mắt, giới thiệu những thành phố biển mà anh đã đi qua. Chẳng vậy mà trên kệ sách của hệ thống phát hành FNAC tại Pháp, Biển xanh sâu thẳm từ Sài Gòn đến Saint-Malo được xếp ở hạng mục sách du lịch.
Ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ, nhạc phẩm "The Last Waltz" (Điệu valse cuối cùng) tính đến nay đã có khá nhiều phiên bản ghi âm trong 12 thứ tiếng, kể cả ba lời khác nhau trong tiếng Việt. Tuy đã có nhiều bài viết về giai điệu này, nhưng dường như chưa có ngòi bút phê bình nào đề cập đến hoàn cảnh sáng tác bản nhạc "The Last Waltz" (Điệu valse cuối cùng). Đây là dịp để cho Góc vườn âm nhạc RFI trở lại với chủ đề này.
Được phát hành lần đầu tiên vào năm 1967, "The Last Waltz" (Điệu valse cuối cùng) là một trong những bản nhạc ăn khách nhất của ca sĩ người Anh gốc Ấn Engelbert Humperdinck. Riêng trên thị trường Anh quốc, bài hát đã lập kỷ lục với gần một triệu rưỡi đĩa nhựa, được bán chạy trong vòng hai tháng. Tại các vũ trường hay các câu lạc bộ khiêu vũ, "The Last Waltz" (Điệu valse cuối cùng) cũng thường được chọn làm bài hát kết thúc những đêm dạ vũ cuối tuần trong nhiều thập niên liền.
Trong nguyên tác, bản nhạc tiếng Anh do hai nhạc sĩ Les Reed và Barry Mason đồng sáng tác. Cặp bài trùng này là một trong những nhóm tác giả hàng đầu ngự trị vương quốc Anh trong suốt những năm 1960. Trong giai đoạn cực thịnh, hai tác giả chuyên soạn một loạt bài hát ăn khách cho những tên tuổi sáng giá thời bấy giờ như Tom Jones (Delilah), Rod Stewart (The day will come) hay nhóm The Fortunes (Here it comes again) …..
Tựa đề bản nhạc "The Last Waltz" (Điệu valse cuối cùng) gồm cả hai nghĩa : lần đầu tiên khi đôi tình nhân vừa gặp nhau trên điệu nhảy bế mạc đêm dạ vũ. Đến khi phải chia tay nhau, họ lại được dịp dìu nhau một lần nữa cũng trên điệu nhảy này. Nhịp valse cuối cùng cũng là hồi kết của một chuyện tình, khi yêu thương đã nhạt phai, cho con tim một mình ở lại.
Về hoàn cảnh sáng tác, tác giả Les Reed (1939-2019) (tên thật là Leslie Reed) từng kể lại câu chuyện về nhạc phẩm này trong quyển sách ''1000 UK #1 Hits'' (Một ngàn ca khúc Anh số 1) của hai tác giả Jon Kutner và Spencer Leigh. Ông Leslie Reed cho biết : thời Đệ nhị thế chiến, lúc ấy ông còn nhỏ, bố ông đi lính trong nhiều năm, lâu lâu mới có dịp về thăm nhà. Trong gia đình, mẹ ông cùng với các bà dì, thường rủ nhau đi khiêu vũ vào mỗi chiều tối thứ Sáu, tại nhà văn hóa địa phương.
Thời bấy giờ, bài hát luôn kết thúc đêm dạ vũ chính là điệu valse mang tựa đề ''I'm Taking You Home Tonight'' (Đêm nay, anh đưa em về). Thế nhưng, trong đêm dạ vũ, chỉ có phụ nữ cùng nhảy cặp với nhau mà thôi, vì lúc ấy hầu hết các thanh niên trai tráng đều đang thi hành nghĩa vụ quân sự. Và khi Leslie cũng như những đứa bé khác nghe tiếng nhạc trỗi lên, các em đều biết rằng đây là điệu valse cuối cùng, các bà mẹ sắp trở về để lo cho con bữa ăn tối, thường là chỉ khoảng mười phút sau đó.
Khi Leslie Reed kể lại giai thoại này cho bạn của ông là nhạc sĩ Barry Mason (1939-2021), hai người mới tự nhủ tại sao họ lại không viết một bài hát nói về điệu valse cuối cùng. Leslie Reed chịu nhiều ảnh hưởng của Burt Bacharach lúc bấy giờ, trong cách dùng hợp âm tinh tế diệu vợi, giai điệu yêu đời lung linh lấp lánh như pha lê trong ánh nắng sáng ngời.
Thế nhưng thập niên 1960 mà viết về những kỷ niệm thời chiến không phải là chuyện dễ dàng, cho nên Barry Mason khi đặt lời cho bài hát đã kể lại một câu chyện phổ quát hơn. Nhiều năm sau đó, "The Last Waltz" (Điệu valse cuối cùng) thay thế hẳn cho bản nhạc ''I'm Taking You Home Tonight'' (Đêm nay, anh đưa em về), cho tới khi các đêm nhảy tại các vũ trường không còn thịnh hành.
Sau khi đoạt ngôi vị quán quân thị trường Anh, bản nhạc "The Last Waltz" (Điệu valse cuối cùng) đã có nhiều phiên bản phóng tác. Trong tiếng Pháp, tác giả Hubert Ithier chuyển bài này thành nhạc phẩm "La Dernière Valse", từng được nhiều ca sĩ tên tuổi ghi âm, trong đó có Mireille Mathieu (1967), Petula Clark, Tino Rossi, Lucky Blondo hay Ginette Reno (1969). Gần đây hơn có phiên bản hòa âm mộc của Brigitte Marchand và Lisa Ono.
Trong tiếng Việt, giai điệu "The Last Waltz" có ít nhất ba lời khác nhau. Bài thứ nhất do nhạc sĩ Trường Kỳ đặt lời tiếng Việt thành "Bài luân vũ mùa mưa", từng được ca sĩ Tuấn Dũng trình bày lần đầu tiên (trước năm 1975) và sau đó được nhiều ca sĩ hải ngoại như Ngọc Lan, Thanh Lan, Elvis Phương, Tuấn Ngọc, Duy Quang ghi âm lại : Kìa trông trời mang mùa mưa đến bên ta rồi / Từng cơn từng cơn sầu hắt hiu nhẹ rơi / Trời mưa chiều nay buồn rơi buồn rơi khắp nơi xa vời / Giọt mưa tưởng đâu là mắt em lệ rơi …
Phiên bản lời Việt thứ nhì ''Khúc luân vũ cuối cùng'' qua phần ghi âm của Don Hồ có lời khác biệt đôi chút : Bao ngày vui thần tiên đến cho đôi mình / Vui tình xanh mình mơ mãi không rời xa / Ngờ đâu tình phai nhạt mau trách ai bây giờ / Đành xa lìa nhau từ đây tiếng gieo buồn đau …
Lời Việt thứ ba của ''The Last Waltz'' có tựa đề là ''Bài luân vũ cuối cùng'' là của tác giả Nguyễn Hoàng Đô, qua phần trình bày của nhiều ca sĩ khác nhau, giọng nữ có Quỳnh Dao và Hồng Nhiên, giọng nam có Thụy Long : Chiều nay chợt nghe từ xa, tiếng ca êm đềm / Bài luân vũ xưa chìm đắm trong cơn mộng mê / Còn ai dìu nhau nhịp chân lả lơi, mắt trao duyên đầu / Bài luân vũ cuối cùng nhắc ta chuyện xưa …
Những kỷ niệm thời thơ ấu tưởng chừng đã quên nào ngờ con tim lại nhớ mãi. Trong nhạc phẩm "The Last Waltz" (Điệu valse cuối cùng), cái tài của cặp bài trùng Les Reed/Bary Mason là biến một kỷ niệm riêng tư (chỉ có người trong cuộc mới biết) thành một câu chuyện phổ quát (mọi người có thể hiểu). Gọi là cuối cùng nhưng điệu valse lướt mãi không ngừng, trên nhịp thời gian, cho dù sớm đến vội tàn, nào ngờ tình hợp rồi tan.
Lấy những kiến trúc cổ của Paris làm sân khấu, biến hai bờ kè sông Seine và những cây cầu của thành phố tráng lệ bậc nhất thế giới thành sân vận động với hơn 300.000 khán giả: Lần đầu tiên trong lịch sử thể thao Olympic, lễ khai mạc được tổ chức trên sông.
Một số công trình tiêu biểu nhất của Pháp trải dài trên 6km dọc theo sông Seine trong buổi lễ khai mạc Pháp là lời mở đầu chào đón gần 10.000 vận động viên đại diện cho 206 phái đoàn quốc tế và trên một tỷ khán giả toàn cầu qua truyền hình, đến với Thế Vận Hội Paris 2024.
Lời tỏ tình của Paris với các vận động viên toàn cầuĐể vinh danh sự kiện thể thao diễn ra 4 năm một lần, Paris phá lệ, không thu mình trong sân vận động vào giờ khai mạc, mà đưa thế giới thể thao đến tận giữa lòng thành phố. Khác với những lễ khai mạc trước đây, lần đầu tiên chương trình mở ra và khép lại với các vận động viên. Trên lộ trình 6 km, với cây cầu Austerlitz ở phía đông thủ đô là điểm khởi hành, 7.500 vận động viên quốc tế thả bước trên hơn 90 con tàu dọc theo sông Seine … Theo truyền thống, phái đoàn Hy Lạp mở đầu đoàn diễu hành và Pháp, trong cương vị chủ nhà, khép lại cuộc tuần hành.
Với tốc độ trung bình 8 km/giờ, trong vòng 40 phút, tất cả các phái đoàn lần lượt đi qua những công trình nổi tiếng nhất của Kinh Đô Ánh Sáng : từ nhà thờ Notre Dame de Paris, đến bảo tàng Louvre, quảng trường Concorde, điện Grand Palais, điện Invalides … Chuyến du thuyền kết thúc ở cầu Iéna, phía tây thủ đô Paris, ngay dưới chân biểu tượng của nước Pháp là tháp Eiffel.
Trong mắt nữ vận động viên điền kinh Pháp Marie José Pérec, 3 lần đoạt huy chương vàng Olympic và từng được vinh dự dẫn đầu phái đoàn Pháp tại Thế Vận Hội Atlanta năm 1996, chưa một nơi nào, chưa một buổi lễ khai mạc nào dành cho các vận động viên những ưu ái như Paris năm nay. Marie José, được mời quan sát lộ trình buổi lễ hôm nay, chia sẻ cảm nghĩ :
« Thật thú vị không kém gì lúc tôi đoạt huy chương vàng. Tất cả hoàn toàn ngoài sự tưởng tượng của tôi. Tuyệt đẹp và quá hoành tráng … Khi được vinh dự rước cờ ở Thế Vận Hội Atlanta, tôi vui sướng và tràn ngập hạnh phúc… Nhưng giờ phút ấy qua mau. Chúng tôi chỉ được rước cờ 1 vòng quanh sân vận động. Lần này, tại Paris cả thế giới hướng nhìn về các vận động viên khi họ tuần hành trên sông trong vòng 40 phút, từ cầu Austerlitz đến cầu Iéna dưới chân tháp Eiffel … Đây là món quà đẹp nhất, ý nghĩa nhất mà chúng ta có thể tặng cho các nhà thể thao ».
Chủ tịch Ủy Ban Olympic Paris 2024, Tony Estanguet, nguyên là vận động viên và vô địch Thế Vận Hội ở môn chèo thuyền, chia sẻ thêm :
« Là một vận động viên, tôi đã từng dự nhiều kỳ Thế Vận Hội, và tôi biết lễ khai mạc là một thời khắc khó quên, một thời điểm rất đặc biệt. Đây là lần đầu tiên, một con sông thay thế cho sân vận động, lần đầu tiên lễ khai mạc được tổ chức trên sông, mà đấy lại là sông Seine… Chắc hẳn các vận động viên đều muốn thời gian trôi chậm lại để được hưởng thụ lâu hơn một chút toàn cảnh và không khí lễ hội của Paris … »
« Paris est une fête »Một đặc điểm khác của Paris 2024 là lần đầu tiên ban tổ chức cố ý xen kẽ các màn trình diễn nghệ thuật vào giữa cuộc tuần hành của 206 phái đoàn quốc tế. Nước chủ nhà muốn kể lại với thế giới những gì đã đưa Paris đi vào lòng người, để Paris được mệnh danh là Kinh Đô Ánh Sáng, để thủ đô nước Pháp trở thành điểm hẹn và là nguồn sáng tác của biết bao nhiêu thế hệ văn nghệ sĩ từ 5 châu, thậm chí đã có những người vĩnh viễn chọn Paris là nhà …
Giám đốc nghệ thuật Thomas Jolly, người đem những ý tưởng và phối hợp dàn dựng toàn bộ chương trình khai mạc tối nay, khi được mời tham gia đã rất hào hứng :
« Lần đầu tiên lễ khai mạc diễn ra ở bên ngoài sân vận động, với phông nền là toàn cảnh của một thành phố tráng lệ như Paris. Đây là một ý tưởng rất độc đáo của ban tổ chức. Đối với tôi, về phương diện nghệ thuật, thì đây là quang cảnh đẹp nhất thế giới ! Sân khấu của chúng ta là dòng sông Seine trữ tình. Tôi thật là may mắn được sáng tạo trên một phông nền tuyệt vời như vậy. Điều thú vị ở đây là khi mà chúng ta lấy toàn cảnh sông Seine làm nền cho buổi lễ, mỗi công trình kiến trúc của thành phố đều nói lên bề dầy lịch sử của Pháp, của Paris … Bản sắc của Pháp, những gì tiêu biểu của Paris đã có sẵn ngay tại nơi này… Paris là thành phố của sự hòa đồng trong cuộc sống, một thành phố đã lớn mạnh nhờ những gì du nhập từ bên ngoài cũng đã có ảnh hưởng với phần còn lại của thế giới ».
Sông Seine và kiến trúc Paris là sân khấuLà một tên tuổi lớn trong làng kịch nghệ sân khấu, Thomas Jolly đã tận dụng tối đa những không gian của thủ đô Paris - trên sông, trên cạn và trên bầu trời Paris để sáng tác. Cùng với các cộng tác viên trong ban tổ chức, Thomas Jolly huy động 400 vũ công, 3.000 nghệ sĩ sân khấu, cho sự kiện này. Hàng ngàn diễn viên sân khấu sẽ ẩn hiện đâu đó trên thuyền, trên 14 cây cầu nổi tiếng Paris, hay bất ngờ xuất hiện từ nóc nhà hát Opéra … Vẫn Thomas Jolly, trả lời báo chí, nói rõ hơn về ý tưởng anh gửi gắm vào chương trình khai mạc Paris 2024 :
« Chúng ta chờ đợi một chương trình hoành tránh, diễn ra trong khoảng 3 tiếng 45 phút, đan xen những màn các vận động viên diễu hành, với những bức tranh mang tính nghệ thuật, và kèm theo đó là những nghi lễ của một buổi khai mạc Thế Vận Hội. Đây sẽ mà một ngày hội lớn để vinh danh nhân loại, vinh danh chúng ta. Hai chữ chúng ta ở đây phải hiểu theo nghĩa bản chất của mỗi chúng ta ở góc trời Paris này, ở trên đất Pháp và ở khắp mọi nơi trên toàn cầu. Lễ khai mạc Olympic là dịp để vinh danh mối liên hệ giữa Paris, giữa Pháp với thế giới và lúc mà cả thế giới đang đến với Paris và cùng nhìn về Paris ».
Trả lời báo chí quốc tế, giám đốc nghệ thuật chương trình lễ khai mạc Paris 2024 phát biểu bằng ngôn ngữ của Hemingway (nhà văn Mỹ Erneste Hemingway là tác giả cuốn Paris est une fête/A Mouveable Feast/ Hội hè miên man), thực sự nóng lóng giới thiệu với thế giới về « thành phố tình yêu » :
« Chúng tôi đã chuẩn bị trong hơn hai năm cho sự kiện này, và tôi rất nôn nóng được chia sẻ thành quả công việc của mình với thế giới. Tôi không được phép tiết lộ về những người tham dự, nhưng chương trình đêm khai mạc sẽ rất tuyệt vời với rất nhiều nhân vật danh tiếng, gắn bó với Paris, có những gì để kể về thành phố này… Đây là hình ảnh của nước Pháp của một thành phố ngày hôm nay. Đây là nơi tất cả mọi người đều có quyền được sống, được yêu và được là chính mình … »
Dành cho khán giả sự bất ngờ, như vừa nói, ban tổ chức cố gắng giữ kín những thông tin về chương trình đêm nay. Thí dụ như đến giờ phút này, mọi người vẫn mới chỉ phỏng đoán là đài lửa Olympic Paris sẽ ngự trong khu vườn Tuileries nằm giữa quảng trường Concorde và bảo tàng Louvre. Nhưng chưa biết gương mặt nào trong làng thể thao của Pháp sẽ có vinh dự thắp sáng đài lửa Paris 2024… Chỉ biết rằng, trong ngày hôm nay, 30 nhân vật trên thế giới sẽ truyền tay nhau ngọn đuốc Olympic và trong số này sẽ có ba ngôi sao trong làng giải trí Hoa Kỳ : Snoop Dogg, Bradley Cooper và Pharrell Williams.
Một bí mật được giữ kín khác liên quan đến danh sách các nghệ sĩ được mời biểu diễn trên sân khấu Paris đêm nay. Có nhiều khả năng, đó là các diva trong làng nhạc quốc tế như Lady Gaga, Céline Dion hay ca sĩ hai dòng máu Pháp và Mali, Aya Nakamura …
Lịch sử và con ngườiTheo thông lệ, lễ khai mạc luôn là dịp để nước chủ nhà giới thiệu với thế giới về mình qua một « bộ phim không lời ». Sử gia Patrick Boucheron, một trong những chuyên gia được mời cố vấn cho chương trình, ghi nhận Paris 2024 tránh lên giọng dạy đời như ở Bắc Kinh 2008, khi mà ban tổ chức Trung Quốc phô trương với thế giới những trang sử oai hùng, đề cao lòng yêu nước của cả một dân tộc…
Người Pháp vốn đã bị chê là « quá tự tin », « ngạo mạn », nên ban tổ chức thiên về ý tưởng Thế Vận Hội lần này là dịp để nói với bạn bè 5 châu rằng Paris có thể trở « Kinh Đô Ánh Sáng » cũng là nhờ du nhập và học hỏi nhiều ở những nền văn hóa từ các nước bạn chung quanh… Chính tinh thần cởi mở và sự hòa đồng ấy là nhựa sống của Paris. Từ xưa đến nay, trong nhãn quan của không ít người trên thế giới, Pháp nói chung, Paris nói riêng luôn là biểu tượng của những « hứa hẹn tự do », nơi mọi người có thể chung sống hài hòa.
Một sự điên rồViệc tổ chức lễ khai mạc Thế Vận Hội trong thành phố và hoàn toàn ngoài khuôn viên một sân vận động là « một sự điên rồ », một bài toán táo bạo đã đặt ra 1001 thách thức, cả về kỹ thuật và an ninh đối với nước chủ nhà. Một câu hỏi đơn giản là đêm nay trong hơn 3 giờ đồng hồ lễ hội, trời Paris có mưa hay không. Hiện cơ quan khí tượng quốc gia báo trước một đêm mưa. Ban tổ chức sẽ phải thích nghi với tình huống khi biết rằng « lễ hội Paris 2024 » thành công hay không, một phần lớn sẽ tùy thuộc vào sức gió, vào ánh sáng tự nhiên của những buổi hoàng hôn, khi trời chạng vạng ngả màu tím …
Thêm vào đó, khi mượn dòng sông Seine làm nền, làm sân chơi cho các vận động viên quốc tế, thì ban tổ chức phải chấp nhận một điều hiển nhiên : Sông Seine hiền hòa nhưng bướng bỉnh và có những luật chơi riêng.
Sylfried Cartier và Yves Dalboeuf, hai thuyền trưởng giàu kinh nghiệm lái tàu trên sông Seine, lo rằng mưa nhiều, mực nước sông dâng cao, tàu sẽ khó đi qua một số gầm cầu trên lộ trình 6 cây số của sông Seine. Dù đã thuộc nằm lòng từng khúc sông, nhưng cả hai vẫn trong tình trạng đề cao cảnh giác tối đa với con sông nổi tiếng nhất của nước Pháp. Một nỗi băn khoăn khác của cả hai viên thuyền trưởng là không dễ để phối hợp nhịp nhàng cả một độ tầu trên dưới 90 chiếc nối đuôi nhau tuần hành trên sông không. Họ đã tập dợt không biết bao nhiêu lần trước chuyến khởi hành đêm nay. Dù vậy, cả Sylfird và Yves cùng xem trọng trách chở phái đoàn Pháp là vinh hạnh lớn nhất và đáng ghi nhớ nhất trong sự nghiệp :
« Chúng tôi rất hân hạnh được chở đoàn 600 vận động viên Pháp. Tôi đã phục vụ 39 năm và trước khi về hưu được tham dự lễ khai mạc Thế Vận Hội là một vinh hạnh rất lớn, một khoảnh khắc đầy xúc động ».
An ninh, một bài toán đau đầuBảo đảm an ninh cho hơn 90 con thuyền trên sông, cho khán giả dọc theo hai bờ kè cũng là một mối đau đầu rất lớn đối với ban tổ chức. Để chuẩn bị cho sự kiện đêm nay, Pháp phải huy động đến quân đội và đã có một sự chuẩn bị kỹ càng, như giải thích của trung tá Olivier thuộc trung đoàn đóng tại Ivry Charenton :
« Chúng tôi có cách tiếp cận đa chiều các mối đe dọa, có nghĩa là xem xét mọi khả năng mối đe dọa đó có thể xuất hiện từ dưới lòng sông, trên mặt đất và trên không. Do vậy, chúng tôi sử dụng sonar để quan sát lòng sông. Chúng tôi huy động cả các rào cản trên mặt nước và trên bộ nhằm ngăn cản mọi mục tiêu xâm nhập vào các khu vực an ninh. Sau cùng, chúng tôi hợp tác rất chặt chẽ với lực lượng Không quân, chủ yếu để phát hiện drone trong khu vực diễn ra sự kiện ».
Trong thời bình, chưa bao giờ Paris đóng cửa không phận trong 6 giờ đồng hồ liên tiếp như hôm nay để bảo đảm an ninh cho lễ khai mạc Thế Vận Hội.
Sau hơn 7 năm chuẩn bị, Ủy Ban Thế Vận Hội Paris bắt buộc phải thành công trong buổi lễ đêm nay, để « Paris là một ngày lễ hội ». Dù đã phải vượt qua không biết bao nhiêu thử thách, có lẽ một trong những hình ảnh Olympic Paris 2024 muốn nhắn gửi lần này, đó là, với tinh thần đồng đội và tập thể, khó khăn nào cũng có thể vượt qua …
Không thể tách rời ý nghĩa những tác phẩm của Kafka ra khỏi mảnh đất chúng sinh sôi nẩy nở. Cũng không thể « đọc » Kafka mà quên đi chúng ta đang đứng ở đâu, tại những điểm nhìn nào. Vì vậy, phải trở ngược về đầu thế kỷ 20, quãng thời gian đã được nhà sử học Eric J.Hobsbawm mệnh danh là kỷ nguyên của những Đại Họa.
Kafka sinh trưởng trong một gia đình gốc Do Thái, tại Praha, thủ đô Tiệp ngày nay, thuộc đế chế Áo Hung lúc đó. Nhưng ông được đào tạo tại những ngôi trường Đức, ông tiếp thu văn hóa Đức và sáng tác bằng tiếng Đức. Như vậy, Kafka mang trong mình sự cộng hưởng của ba nền văn hóa : Văn hóa Do Thái, văn hóa Tiệp và văn hóa Đức. Sau này, giá trị tinh thần của sự nghiệp Kafka trở thành một di sản được cả ba nền văn hóa này khẳng định sở hữu và tranh giành bản quyền, hay ít nhất là đòi áp đặt một cách diễn giải riêng. Có lẽ, ảnh hưởng của ba nền văn hóa này vừa là chìa khóa của các tác phẩm, vừa là nguyên nhân gây xung đột trong tâm thức nhà văn.
Do đó, trước khi xem xét các cách tiếp cận, cách « đọc » Kafka, thiết tưởng nên tìm hiểu tiểu sử độc đáo của một nhà văn bị giằng co giữa nhiều « bản sắc », mà hơn nữa, vào thời điểm tài năng chín mùi, đứng ở vị trí bản lề lịch sử của châu Âu giữa thế kỷ 19 hòa bình và thế kỷ 20 kinh thiên động địa.
Kafka, đứa trẻ của chính sách đồng hóa người Do Thái
Kafka sinh năm 1883 trong một gia đình gốc Do Thái đã bắt đầu được đồng hóa. Lúc trẻ, Kafka không mấy quan tâm đến gốc rễ Do Thái của mình, cho dù gia đình ông vẫn vào đền tham dự các buổi lễ quan trọng của Do Thái giáo. Nhưng, theo đa số các nhà nghiên cứu Do Thái hiện nay, Kafka càng trưởng thành càng cảm thấy mình lạc loài, như người mất gốc, mất lai lịch.
Phải nói thêm, cho dù người Do Thái đã di dân sang châu Âu từ ngàn năm trưóc, nhưng trong đế chế Áo - Hung, phải đợi đến 1848, tức là 35 năm trước khi Franz Kafka ra đời, cộng đồng người Do Thái mới được công nhận quyền bình đẳng. Trước 1848, người Do Thái bị đàn áp, khống chế rất dã man. Ví dụ điển hình là chẳng những họ bị đẩy ra sống ở ngoài lề xã hội, mà hơn vậy nữa, nhà chức trách giới hạn gắt gao việc tăng trưởng dân số người Do Thái với đạo luật : Chỉ có con trai đầu lòng của gia đình người Do Thái được quyền kết hôn và lập gia đình. Điểm quan trọng ở đây là Kafka đại diện cho thế hệ thứ hai, kể từ khi người Do Thái được đồng hóa, trong khi ông cụ nội của Kafka còn phải bị lưu đầy, suýt không được quyền lập gia đình, nếu sự kiện 1848 không diễn ra. Hoàn cảnh này cũng đáng lưu ý trong sự hình thành của tâm thức Kafka. Gốc gác này còn hiển hiện trong Nhật ký của Kafka. Năm 1911, ông viết : « Tôi tên là Amschel trong tiếng Hebreu (Do Thái) như ông cụ nội của mẹ tôi ».
Praha vào đầu thế kỷ 20 cũng là một thủ đô đa sắc tộc với ba cộng đồng chung sống tại đây. Đông nhất là người Tiệp, cư dân Đức thì giàu có và thiểu số người Do Thái. Nhưng tiếng Đức là ngôn ngữ chính thống của đế chế Áo - Hung. Bởi vậy, người Do Thái Praha thuộc thành phần khá giả, như gia đình Kafka, cho con học tiếng Đức hầu thăng tiến trong xã hội.
Tuy nhiên, sự kỳ thị, bài xích người Do Thái vẫn tiềm ẩn trong các xã hội Âu châu đương thời. Lâu lâu lại nổi lên các tin đồn là dân Do Thái giết người để tế lễ. Vì vậy, tại Praha, năm 1901, diễn ra nhiều cuộc biểu tình ầm ĩ chống Do Thái, hay tại Pháp, nổ ra vụ án Dreyfuss cuối thế kỷ 19. Phải đợi đến đầu thế kỷ 20, năm 1906, sĩ quan này mới được phục hồi tại Pháp.
Một dấu hiệu khác cần quan tâm là Kafka về cuối đời, nảy sinh ý định di tản sang Palestine, nơi người Do Thái xem là quê hương lịch sử của mình. Tất cả những người bạn của Kafka đều mang gốc gác Do Thái, như Max Brod. Sau này, Max Brod đã định cư tạ Palestine và viết lời đề bạt cho những tác phẩm của Kafka. Theo người đã được Kafka ủy thác thực hiện di chúc, đồng thời là người bạn tâm giao, hiểu biết cặn kẽ nhất về Kafka, đã cùng với Kafka chu du Âu châu, thậm chí dẫn dắt nhau vào các nhà thổ hưởng lạc, thì «Vụ Án» và «Lâu Đài» là hai tác phẩm anh em sinh đôi. «Vụ Án» là hành trình đi tìm công lý, trong khi «Lâu Đài» là biểu tượng của «Phúc Phận», biểu tượng của «Ân Huệ», tiếng Pháp : La Grâce). Đó là hai khái niệm thần học của Do Thái giáo mà theo sách thánh Kabbale, cho phép con người cảm nhận được sự hiện diện của Thượng Đế.
Mê cung của lịch sử
Bên cạnh ý nghĩa mang tính tâm linh vừa kể, tiểu thuyết và cả truyện ngắn của Kafka nữa hàm chứa rất nhiều ẩn dụ. Đó là những văn bản đa nghĩa – textes polysémiques – thúc đẩy các thế hệ độc giả bốn phương đi tìm lời giải.
Nhưng quan trọng không kém là khung cảnh lịch sử đầu thế kỷ 20 và đặc biệt là 20 năm đầu tiên, thời gian Kafka cầm bút trước khi qua đời năm 1924. Trong giai đoạn này, điều chưa từng thấy tại châu Âu là đại họa Thế Chiến. Đây là khái niệm chiến tranh toàn diện giữa các cường quốc như Nga, Pháp, Áo – Hung, Phổ, Ý và Anh Quốc. Bởi vậy, theo tất cả những chứng từ còn lưu lại từ ấy cho đến nay, con ngưòi Tây phương vào thời điểm đó có cảm giác lâm vào một mê cung thăm thẳm, trong khi cùng lúc sụp đổ tan tành ba đế chế vĩ đại : Đế chế Nga, đế chế Áo – Hung và đế chế Ottoman, tức Thổ Nhĩ Kỳ. Tại Vienna, thủ đô Áo – Hung, nhà văn Karl Kraus xuất bản quyển sách dài tựa đề : «Những ngày cuối cùng của loài người». Còn ngoại trưởng Anh, ông Edward Grey, vào lúc mà nước ông và Đức tham chiến, đã thốt rằng : «Các ngọn đèn đã chợt tắt trên toàn lục địa châu Âu. Chúng ta sẽ không thấy đèn bật sáng trở lại trước khi chúng ta nhắm mắt». Điều này cần nhấn mạnh. Đặc điểm chung của thế hệ trưởng thành những năm đệ nhất Thế Chiến, đó là họ đều linh cảm ít nhiều thế giới thân quen, gần gũi của họ một sớm mai đã tan vỡ, nhường chỗ cho bạo lực ở một chiều kích chưa từng thấy, báo hiệu những cuộc tàn sát tập thể dã man, phản nhân văn. Phải chăng nên nhắc lại ở đây những người đương thời không thể tin vào những điều họ nhìn thấy trước mắt và họ sẽ chứng kiến trong suốt nửa thế kỷ : 10 triệu người bỏ mạng trong cuộc chiến 1914 – 1919 và ít nhất là 54 triệu người chết trong cuộc chiến 20 năm sau đó. Còn bao nhiêu trăm triệu người lưu lạc trên toàn thế giới ?
Loài người tất nhiên đã sống sót sau Đại Họa. Thế nhưng, từ lúc đó, các nhà trí thức châu Âu phỏng đoán toà kiến trúc kiên cố bảo vệ hòa bình của thế kỷ qua đã bị triệt hạ trong khói lửa. Sự an toàn không còn nữa trên thế giới này. Ở điểm này, Kafka hơn cả Joyce hay Proust, đã ghi chép lại cái không khí lo âu, sợ hãi bao trùm, sự mất mát nhân tính và những nẻo đường vô vọng của con người đi tìm sự cứu chuộc, điều sẽ diễn ra từ đệ nhất đến đệ nhị Thế Chiến, khiến cho sau này, ông được nhiều thế hệ tôn làm bậc thầy, vị tiên tri, cười ra nước mắt, báo hiệu con người sẽ không tài nào giải mã nổi thân phận chính mình.
Nhà văn Milan Kundera đánh giá : «Với Kafka, tiểu thuyết không còn là điều tự bạch của tác giả. Tiểu thuyết là cơ hội thăm dò ý nghĩa cuộc sống, khi thế giới đã trở thành một cái bẫy giam hãm con người».
(Tạp chí đăng lần đầu ngày 19/09/2008)
Với ba tiểu thuyết "Vụ Án", "Lâu Đài", "Hóa Thân", Franz Kafka đã trở thành một nhà văn lớn của thế kỷ 20, bên cạnh James Joyce, Marcel Proust. Ông tin chắc rằng có nhiều thế lực vô hình giấu mình trong tâm thức nhà văn và một khi "biển cả đã đóng băng" bị nứt nẻ ra, các hồn vía không tên, bức bách chiếm lĩnh lại ngòi bút của nhà văn.
Trong một lá thư gửi người bạn vào tháng giêng năm 1904, Kafka viết : «Tác phẩm là nhát búa phá vỡ biển cả đã đóng băng trong chúng ta». Kafka đã lấy cuộc đời đặt cược cho văn học như vậy.
Không lấy vợ, đẻ con, không suy tính đến tương lai, mỗi đêm ngồi viết đến tảng sáng, mắc bệnh lao, thổ huyết đều đều, cũng chẳng màng đến hư danh, khi chết để lại chúc thư uỷ thác cho người bạn Max Brod việc thiêu đốt tất cả những sáng tác mà Kafka chưa hoàn tất, chưa ưng ý.
Nhưng may mắn thay, di chúc của Kafka đã bị phản bội. Max Brod đã không ném vào thần lửa các tiểu thuyết như «Vụ Án» và «Lâu Đài». Cùng với truyện ngắn «Hóa Thân», hai truyện dài vừa kể đã bảo đảm cho Kafka vị trí nhà văn lớn nhất thế kỷ 20, bên cạnh James Joyce và Marcel Proust.
Kafka người dò tìm những mạch ngầmTrong số ba nhà văn lớn được công nhận là người mở đường cho tiểu thuyết hiện đại, Kafka mang nhiều ẩn số nhất, cho dù các tác phẩm của ông dễ đọc hơn nhiều trường thiên tiểu thuyết của Proust hay truyện «Ulysse» của Joyce. Bí ẩn của trường hợp Kafka suốt một thế kỷ vừa qua đã rõ, khi hàng vạn bài viết và tập sách nghiên cứu đề nghị diễn giải ý nghĩa của các tiểu thuyết như «Vụ Án» và «Lâu Đài».
Tuy nhiên, đằng sau các bài phê bình uyên bác, thường phản ảnh dấu ấn những ý thức hệ đương thời, dường như Kafka chỉ nói về mình, về các giấc mộng kinh hoàng của kẻ ngoại cuộc, mãi mãi đi tìm một chỗ đứng trong cuộc đời để viết văn.
Tháng 7 vừa qua, 125 năm sau ngày sinh của Kafka, thế giới kỷ niệm sự kiện này, xem đó là một món nợ phải trả đầy đủ cho một nhà văn đã bắt mạch thời thế, chiêm nghiệm trước những khổ đau của thế kỷ vừa qua, mở đường cho đông đảo các tiểu thuyết gia năm châu. Gabriel Garcia Márquez đã từng tiết lộ, ông đã khám phá được cách viết văn mới khi phát hiện Kafka.
Franz Kafka sinh ngày mồng 3 tháng 7 năm 1883, tại Praha, lúc đó thuộc đế chế Áo Hung, nay là thủ đô cộng hòa Tiệp. Ông mất năm 1924, gần Vienna, thọ 41 tuổi. Cột mốc đánh dấu sự nghiệp của Kafka diễn ra vào buổi tối ngày 22 tháng 9 năm 1912. Lúc ấy, ông dự định viết về một chủ đề khác, nhưng theo lời tường thuật của chính ông, ngòi bút của ông như thần nhập, như lên đồng, ông viết một mạch như ma đuổi truyện ngắn đặt tên là «Bản Án». Chỉ trong một đêm, đến tảng sáng, truyện ngắn này đã hoàn tất.
Phải nói ngay rằng «Bản Án» không phải là bản nháp của «Vụ Án», nhưng ngay từ lúc đó, Kafka như người phá vỡ được ức chế nội tâm, đã kể một câu chuyện về mâu thuẫn giữa cha và con, về sự tàn nhẫn và sự hy sinh, về những bí mật phải che giấu và mặc cảm tội lỗi.
Quan trọng hơn cả, kể từ lúc đó, Kafka đã sáng tạo được cho mình phương pháp chấp bút. Ông đã nắm bắt được một chân lý. Ông tin chắc là có nhiều thế lực vô hình, giấu mình trong tâm thức nhà văn. Chưa biết chừng, đó là vị thần nặc danh hay ác quỷ hay chăng đây chỉ là những bóng ma trong đêm khuya hiện về ? Tầm thường hơn, có lẽ đấy chỉ là thế giới nội tâm, một khi « biển cả đã đóng băng » bị nứt nẻ, các hồn vía không tên, bức bách chiếm lĩnh lại ngòi bút của nhà văn.
Cứ như vậy, Kafka tin chắc vào chính mình để sáng tác và ông đã vắt kiệt sức mình để lại ba tác phẩm được biết đến nhiều nhất là «Hóa Thân», «Vụ Án» và «Lâu Đài».
Trong ba tác phẩm vừa kể, «Hóa Thân», xuất bản năm 1915, đã trở thành kinh điển với nhân vật Grégoire Samsa, một sớm thức giấc, chợt thấy mình hóa thân thành một con bọ cồng kềnh.
«Vụ Án» thì đau xót, dữ dội, với lần đầu tiên trong lịch sử văn học xuất hiện thân phận một con người bị buộc tội oan, mà nạn nhân lại không biết tội danh là gì. Nhưng pháp lệnh không thể nhầm lẫn. Joseph K nhân vật ở đây sẽ bị hai kẻ lạ mặt đến cắt cổ mà anh ta vẫn không ngừng kêu oan. Ngay từ trang đầu, Kafka thu hút độc giả với câu : «Chắc hẳn có người bôi nhọ Joseph K, bởi vì chẳng làm điều gì nên tội, nhưng ông ta đã bị bắt vào một buổi sáng».
«Lâu Đài», truyện dài viết dở dang. Mở đầu ở trang nhất như sau : «Đó là vào một chiều tối, khi K đã đến đây. Ngôi làng phủ đầy tuyết. Không thể nhìn thấy ngọn đồi toà Lâu Đài với sương mù và bóng tối vây quanh. Không có dù chỉ một đốm sáng nào cho biết sự hiện hữu của một tòa lâu đài to lớn. K dừng lại một hồi lâu bên chiếc cầu gỗ trên con đường dẫn đến ngôi làng và ngẩng nhìn về phía có thể tưởng chừng chỉ là một khoảng không».
Câu chuyện «Lâu Đài» của Kafka mở màn như vậy, đơn giản, nhẹ nhàng, khúc chiết. Tất cả đều bình dị, ngoại trừ nhân vật ở đây lại không có tên hay nói đúng hơn, người này chỉ được nêu danh bằng ký hiệu chữ K. Đêm đó, K trú ngụ tại ngôi làng. Hôm sau, K hỏi han, tìm cách tiếp xúc với Lâu Đài. Là người đạc điền, K nói đã nhận được hợp đồng để làm việc tại Lâu Đài. Tuy nhiên, suốt thời gian sau, mặc dù kiên định đến đâu, K vẫn không được phép băng qua cửa tòa Lâu Đài để yết kiến chủ nhân của nó.
Hoàn cảnh của K, cả làng ai cũng biết. Lâu Đài gửi những trợ lý xuống làng, tiếp chuyện với K, thậm chí có cả hai gã thanh niên được phái xuống làng để giúp đỡ K, nhưng thâu nhận K thì điều này chẳng bao giờ Lâu Đài chấp thuận. Ngày tháng qua, K sinh hoạt ở ngôi làng dưới chân đồi, chờ đợi cơ hội, ngóng trông một tín hiệu của Lâu Đài, sẽ không bao giờ đến. Thế giới của Lâu Đài, anh ta chỉ biết qua trung gian hay những phản ảnh gián tiếp. Cửa Lâu Đài vẫn đóng. Kể đến đây, chưa đủ thời gian kết thúc tiểu thuyết, Franz Kafka đã qua đời.
(Tạp chí đăng lần đầu ngày 12/09/2008)
Giữa vua Hàm Nghi và thành phố Vichy là mối nhân duyên kéo dài 45 năm. Từ năm 1893 đến 1938, ông đến Vichy khoảng 25 lần để điều trị gan bằng nước khoáng. Quãng thời gian ở Vichy cũng là lúc vua Hàm Nghi tĩnh dưỡng, thỏa sức với đam mê hội họa ở vùng nông thôn ven đô và có thêm những người bạn mới. Tròn 80 năm qua đời, vị vua bị lưu đày trở thành trung tâm của triển lãm mang tên ông và triển lãm Vichy, thành phố quốc tế (Vichy, l'Internationale).
Bức chân dung tự họa năm 1896 tại Algérie được sử dụng làm áp phích cho triển lãm L’Art en exil - Hàm Nghi, Prince d’Annam (1871-1944) (Nghệ thuật lưu đày - Hàm Nghi, Thái tử An Nam) được tổ chức tại Bảo tàng Nghệ thuật châu Phi và châu Á (Musée AAA) ở Vichy từ ngày 04/05-03/11/2024. Có lẽ Vichy, cũng như quãng thời gian vua Hàm Nghi lưu lại thành phố, ít được biết đến. Nhưng theo tiến sĩ lịch sử Amandine Dabat - hậu duệ đời thứ năm và cũng là người dày công nghiên cứu về vua Hàm Nghi, giữa thành phố Vichy và thái tử An Nam - tước hiệu được giữ lại lúc ông bị đi đày - có một mối liên hệ chặt chẽ.
“Mối liên hệ đó đơn giản xuất phát từ việc vua Hàm Nghi đến điều trị bằng nước khoáng ở Vichy bởi vì trước khi bị đi đày, ông bị mắc bệnh sốt rét lúc ở trên núi chống quân Pháp và gan của ông bị hỏng. Để chăm sóc gan, cứ hai năm một lần từ năm 1893, ông theo một đợt trị liệu ở Vichy. Sau khi kết hôn, ông tới thường xuyên hơn, gần như năm nào cũng tới.
Mục đích ban đầu là đến để trị bệnh nhưng rồi Vichy thực sự trở thành nơi nghỉ dưỡng của ông. Ông tới đây gần như hàng năm để gặp bạn bè trước là những sĩ quan mà hầu hết ông quen trước đó ở Alger. Sau khi kết hôn, ông không đến với vợ con, nên đó là khoảng thời gian ông dành riêng cho mình, cho sức khỏe và cho đam mê hội họa. Ông có các buổi trị liệu vào buổi sáng nên hoàn toàn rảnh rỗi vào buổi chiều và thế là ông vẫn quen ra vùng nông thôn để vẽ. Người ta biết là ông vẽ rất nhiều tranh ở Vichy”.
Biến cuộc sống lưu đày thành cuộc đời nghệ sĩVua Hàm Nghi trở thành nghệ sĩ hiện đại đầu tiên của Việt Nam, ông được nhiều họa sĩ và nhà điêu khắc Pháp hướng dẫn, đào tạo, trong đó có Auguste Rodin. Ông có bạn là những nhật vật tên tuổi ở Vichy, ông cũng nổi tiếng dù luôn cố kín đáo, có lẽ vì tước hiệu thái tử An Nam. Một đoạn video được chiếu trong gian trưng bày thứ hai cho thấy vua Hàm Nghi hòa nhập với xã hội Vichy lúc bấy giờ. Cũng tại gian này có rất nhiều đồ dùng cá nhân của vua Hàm Nghi, hầu hết được giới thiệu đến công chúng lần đầu tiên :
“Trong số những đồ vật được trưng bày ở đây, có ống điếu và hộp đựng thuốc lào của vua Hàm Nghi. Chúng ta cũng thấy có nhiều cuốn sách chữ Hán của vua, thư từ trao đổi và những bức thư mà ông nhận được từ vua Khải Định và Thân Trọng Huề. Bộ đồ vẽ và tạc tượng được trưng bày trong tủ kính đằng kia. Gần đó là bộ mầu vẽ của Thái tử An Nam. Đó là những vật dụng hàng ngày nhưng cũng là công cụ trong cuộc đời nghệ sĩ của ông. Những vật dụng thường nhật của nghệ sĩ được ông dùng để đi vẽ phong cảnh, để tạo hình”.
Ở một tủ kính khác, Amandine Dabat, người phụ trách triển lãm, giải thích tiếp :
“Ở đây còn có vài đồ dùng cá nhân của vua Hàm Nghi, được trưng bày lần đầu tiên, như những cái khuy từ bộ quần áo được ông đặt may ở Paris. Khuy được khắc hai chữ Hán “Tử Xuân”. Đây là nghệ danh được ông ký dưới các tác phẩm. Chiếc hộp nhỏ bằng bạc này cũng được khắc hai chữ Tử Xuân, hoặc trên những chiếc dĩa này cũng có. Điều thú vị ở đây là trong các gia đình quý tộc Pháp, thường thì người ta khắc họ lên trên dĩa, nhưng vua Hàm Nghi chỉ khắc nghệ danh.
Trên nhiều bức tranh, vua Hàm Nghi cũng ký “Tử Xuân” theo chữ quốc ngữ, nhưng ông viết cũng không đúng tiếng Việt, thay vì “Tử Xuân” ông viết thành “Tứ Xuân”. “Lỗi chính tả” này cho thấy vua Hàm Nghi cũng không rành chữ quốc ngữ. Điều này cũng giải thích cho tên của trưởng nữ của ông là Như Mai, nhưng ông viết thành “May” thay vì “Mai”. Đó là vì ông viết theo cách riêng của mình. Chúng ta thấy rõ chữ ký của vua Hàm Nghi trên nhiều bức tranh khác trong triển lãm này hoặc ông cho khắc tên trên nhiều vật dụng cá nhân hàng ngày”.
Đây chính là điểm khác biệt so với triển lãm về vua Hàm Nghi được tổ chức năm 2022 tại Bảo tàng Nghệ thuật châu Á ở thành phố Nice, miền nam Pháp :
“Đối với triển lãm lần này, chúng tôi lấy lại chủ yếu từ triển lãm được tổ chức ở bảo tàng Nghệ thuật châu Á ở Nice vào năm 2022. Nhưng có một điểm khác, bởi vì không gian ở Bảo tàng Nghệ thuật châu Phi và châu Á ở Vichy nhỏ hơn một chút, nên có ít tranh được bày hơn, nhưng lại có nhiều đồ vật khác của vua Hàm Nghi, chưa từng được triển lãm ở Nice, và lần đầu tiên được giới thiệu đến công chúng tại Vichy. Trong triển lãm ở Nice năm 2022, có nhiều tác phẩm được một số bảo tàng cho mượn. Còn ở Vichy lần này, tất cả các tác phẩm đều nằm trong các bộ sưu tập cá nhân, bởi vì lúc sinh thời, vua Hàm Nghi tặng rất nhiều tranh cho con cháu, bạn bè.
Toàn bộ công việc luận án tiến sĩ của tôi là tìm lại con cháu của những người bạn của vua Hàm Nghi để tìm lại những tác phẩm của ông. Do đó những tác phẩm được trưng bày ở đây đến từ những bộ sưu tập cá nhân của con cháu những người bạn đã được vua Hàm Nghi tặng tranh và tượng điêu khắc trước đây”.
Bước vào biệt thự Gia Long của vua Hàm Nghi ở AlgerTrong gian thứ ba, cũng là gian cuối của triển lãm, khách tham quan có thể thấy vua Hàm Nghi trong một đoạn phim đen trắng. Ông sống trong căn biệt thự “Gia Long” ở Alger. Đây là một trong những tài liệu hiếm hoi cho thấy cuộc sống của vua Hàm Nghi.
“Thước phim này được Michel Laloë, cháu của vua Hàm Nghi quay lại khi cùng gia đình đến thăm năm 1941. Đây là một tài liệu rất đặc biệt, bởi vì chúng ta bước vào được bên trong tư dinh của vua Hàm Nghi ở Alger (thủ đô của Algérie). Giống như gia đình trong đoạn phim, chúng ta bước vào lối chính, đi qua cánh cổng khắc chữ Gia Long, tên được vua Hàm Nghi đặt cho tư dinh, sau đó lại bước qua một lối đi khác cho đến cánh cửa chính đồ sộ, cứ như chúng ta bước vào biệt thự vậy. Rồi nhiều thành viên trong gia đình đi dạo phía trước biệt thự. Phía bên phải của hàng cột này là xưởng vẽ của vua Hàm Nghi, chúng ta thấy ông từ đó bước ra và rảo bước. Đây thực sự là một tài liệu vô cùng đặc biệt, vì là tài liệu duy nhất có thể thấy vua Hàm Nghi tiến vào chính giữa sảnh, sau đó là đi dạo trong vườn.
Cuối đoạn phim có một điều buồn cười. Người ta thấy đạo diễn - người cháu quay lại thước phim - đến nói gì đó với vua Hàm Nghi sau đó chạy về phía máy quay nhưng sau đó là một màu đen, camera bị tắt, có lẽ hết pin. Đoạn phim được quay tháng 06/1941, khoảng 2 năm rưỡi trước khi vua Hàm Nghi qua đời, lúc đó ông cũng đã nhiều tuổi”.
Vua Hàm Nghi qua đời năm 1944 do ung thư dạ dày và an nghỉ tại nghĩa trang Thonac, vùng Dordogne. Còn số phận biệt thự ra sao ? Amandine Dabat, hậu duệ 5 đời của vua Hàm Nghi, giải thích :
“Ở Algérie, Hàm Nghi được coi là một địa chủ lớn người Pháp vì thế dinh thự của ông bị cướp và đốt cháy trong chiến tranh Algérie, giống như những địa chủ Pháp khác. Sau đó, Nhà nước Algérie thu hồi dinh thự. Một phần khu đất trở thành đất của đại sứ quán Nga, còn biệt thự trở thành nhà khách nước ngoài El Mithak gì đó, tôi không nhớ rõ tên. Nhưng thực ra, tất cả đều bị đốt, trừ một phần khung bên ngoài, mọi thứ đều được làm lại, gần như không còn gì là nguyên gốc cả, trừ những cây cổ thụ trong công viên vẫn còn đó. Biệt thự được kiến trúc sư Guillochin thiết kế. Ông là kiến trúc sư của toàn bộ thành phố thuộc địa Alger và được vua Hàm Nghi giao phó thiết kế biệt thự theo phong cách tân Hồi Giáo này”.
Thái tử An Nam trở lại VichyCó lẽ Nghệ thuật lưu đày - Hàm Nghi, Thái tử An Nam là triển lãm đầu tiên về Việt Nam được Bảo tàng Nghệ thuật châu Phi và châu Á tổ chức. Hình ảnh các nghệ nhân khảm tranh, các quan chức triều đình Huế và tiến sĩ Nho học Phan Thanh Giản được in thành áp phích lớn trên tường giúp người xem hiểu được phần nào cuộc sống ở Huế vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tuổi thơ của vua Hàm Nghi, tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, cũng như giai đoạn rời đô vào rừng núi Tân Sở chống Pháp, cũng được giới thiệu trong gian phòng đầu tiên này. Bà Marie-Line Therre, giám đốc bảo tàng cho biết :
“Khi chuẩn bị cho triển lãm về vua Hàm Nghi lần này, chúng tôi kiểm tra trong kho, chọn ra những đồ vật thích hợp cho triển lãm này. Triển lãm về Việt Nam, tôi nghĩ đây là lần đầu tiên. Chúng tôi đã đề cập đến Việt Nam trong những cuộc triển lãm liên văn hóa khác, vì đó phần nào là nhiệm vụ của bảo tàng, có nghĩa là đa văn hóa. Nhưng khi tổ chức một triển lãm về một đất nước cụ thể, thường thì chúng tôi sẽ đi mượn, chúng tôi liên lạc với những bảo tàng khác, gọi điện cho các nhà sưu tầm mà chúng tôi biết. Nhờ đó mà triển lãm từng bước được định hình. Thực ra khi tổ chức một cuộc triển lãm, không chỉ có đồ vật được trưng bày, mà thường có cả những tiếp xúc giữa con người với nhau, có rất nhiều người tham gia chuẩn bị cuộc triển lãm”.
Nhiều kỉ vật, tác phẩm hội họa của vua Hàm Nghi còn được trưng bày trong triển lãm Vichy, thành phố quốc tế (Vichy, l’Internationale), được khai mạc cùng ngày 04/05/2024. Và Amandine Dabat là người kết nối ban tổ chức với một số nhà sưu tầm. Cháu gái 5 đời mong muốn công bố một bản thống kê chi tiết những tác phẩm của nhà vua bị lưu đày từ năm 1889.
“Từ khi bắt đầu làm luận án tiến sĩ, tôi lập dần dần một bản thống kê tác phẩm của vua Hàm Nghi. Phần 1 của bản thống kê này nằm trong luận văn tiến sĩ của tôi. Toàn bộ một phần các tác phẩm của ông được đăng trong tập sách được xuất bản sau này từ luận văn đó. Đúng là Hàm Nghi càng nổi tiếng thì càng có nhiều tác phẩm của ông xuất hiện hơn, có nghĩa là nhiều gia đình không biết là đang giữ tác phẩm của vua Hàm Nghi bỗng phát hiện ra, hoặc biết được rằng những tác phẩm mà họ có trong nhà là do Hàm Nghi vẽ hoặc điêu khắc.
Dần dần tôi tập trung những dữ liệu đó để lập bản thống kê này. Dĩ nhiên, một ngày nào đó tôi sẽ xuất bản bộ catalogue thống kê đầy đủ những tác phẩm của ông. Nhưng tôi nghĩ là còn phải chờ thêm vài năm nữa, bởi vì chúng ta thấy đã có 19 tác phẩm được phát hiện năm ngoái (2023) và khoảng 10 tác phẩm trong năm nay. Cho nên tôi nghĩ là chúng ta sẽ còn có nhiều bất ngờ. Vua Hàm Nghi vẽ rất nhiều ở Vichy và rất dễ tặng tranh cho bạn bè như chúng ta thấy trong đợt bán đấu giá gần đây những tác phẩm của ông. Cho nên biết đâu một ngày nào đó, một số gia đình ở Vichy biết được là họ đang giữ tác phẩm của vua Hàm Nghi, có thể là nhờ triển lãm lần này.
Công việc vẫn đang tiếp diễn và sẽ không kết thúc ngay vì tôi nghĩ cần thêm vài năm để có thêm thời gian cho những tác phẩm của vua Hàm Nghi được biết đến”.
Một nữ một nam : cô ca sĩ China Forbes có một chất giọng trầm ấm, còn anh Thomas Lauderdale là một người có tài soạn nhạc và chơi đàn dương cầm. Hai nghệ sĩ gặp nhau thời họ còn là sinh viên trường đại học Harvard, rồi cùng nhau thành lập cách đây ba thập niên ban nhạc jazz La tinh người Mỹ, thành công nhất tại Pháp : nhóm Pink Martini.
Sinh trưởng tại Oakland (California), Thomas Lauderdale đến lập nghiệp đầu những năm 1990 tại thành phố Portland, và nhờ vậy anh có thêm cơ hội chơi piano trong các dàn nhạc giao hưởng lớn ở bang Oregon. Thời sinh viên, Thomas nghiên cứu lịch sử nghệ thuật tại Harvard, trao dồi tài nghệ chơi nhạc cổ điển của Poulenc, Bach hay Beethoven .....
Về phần mình, cô China Forbes theo học khoa văn, giờ nhàn rỗi được dành cho các lớp thanh nhạc và diễn xuất sân khấu. Ngoài âm nhạc, hai nghệ sĩ này còn chia sẻ niềm đam mê với ngôn ngữ và văn hóa Pháp. Khi cùng nhau thành lập Pink Martini vào năm 1994, họ quyết định ghi âm bằng tiếng Pháp và sau đó nữa trong nhiều thứ tiếng khác.
Vào năm 1997, ban nhạc người Mỹ phát hành album đầu tiên của mình mang tựa đề ''Sympathique''. Album này lập kỷ lục số bán, lọt vào danh sách Top Ten trong 6 tháng. Nhờ vậy, nhóm Pink Martini nhận đề cử ''Tài năng đầy triển vọng'' nhân kỳ trao giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp. Gợi hứng từ một bài thơ ngắn của thi hào Guillaume Apollinaire trên tuyển tập "Banalités & Quelconqueries" (Những điều tầm thường vô vị), nhóm này sáng tác nhạc phẩm "Je ne veux pas travailler" ( Tôi không muốn làm việc / Tôi chỉ muốn làm biếng), mở đường cho nhóm này chinh phục thị trường Pháp và đưa họ đi biểu diễn trên các sân khấu lớn vòng quanh thế giới.
Sau thành công của album đầu tay "Sympathique", nhóm Pink Martini không ngừng mở rộng sân chơi, dung hoà nhiều thể loại jazz/pop/folk hay la tinh/bán cổ điển, hợp tác với nhiều nghệ sĩ khác qua việc mời họ cùng ghi âm và đi biểu diễn. Nhóm Pink Martini cũng có thể gọi là một dàn nhạc vì có từ 14 đến 20 nhạc sĩ cùng biểu diễn trên sân khấu với nhau. Họ nổi tiếng nhờ ghi âm lại những bài hát kinh điển, nhạc jazz phổ thông như bài "Dream a little dream", nhạc phim như ''Amado Mio'' (phim Gilda) hay ''Moon River'', nhạc chủ đề của bộ phim Breakfast at Tiffany’s với thần tượng Audrey Hepburn hoặc "Que sera sera" của Doris Day .....
Bí quyết thành công của Pink MartiniTrong vòng ba thập niên, Pink Martini cho ra mắt 11 album, nhiều đĩa hát của họ được xếp hạng cao trên danh sách những đĩa nhạc jazz bán chạy nhất ở châu Âu và Bắc Mỹ. 30 năm sự nghiệp thật đáng để họp mặt ăn mừng ! Có lẽ cũng vì Pink Martini thành công ban đầu trên đất Pháp, cho nên nhóm này muốn ăn mừng sự kiện này với giới hâm mộ tại Pháp. Một đợt biểu diễn nhân các liên hoan mùa hè để rồi kết thúc với một buổi hòa nhạc đặc biệt vào mùa xuân năm 2025 trên sân khấu Accor Arena ở Paris.
Sở dĩ nhóm Pink Martini thành công tại châu Âu, truớc hết là nhờ vào sự kết hợp tài tinh khéo léo giữa nhịp điệu La tinh với lối hoà âm giao hưởng, kết hợp cùng lúc đàn dây, kèn đồng và bộ gõ. Không phải ngẫu nhiên, tên gọi Pink Martini lại giống như một cocktail, qua công thức pha trộn nhịp jazz với một chút nhạc cổ điển, nhịp điệu sôi động của salsa với những bài hát trữ tình của Pháp. Âm nhạc của Pink Martini thoạt nhìn giống như ''world music'', nhưng gọi là âm nhạc không biên giới thi có lẽ đúng hơn, vì nhóm này ghi âm các ca khúc bằng 15 thứ tiếng khác nhau, cho dù tiếng Anh và tiếng Pháp vẫn là hai ngôn ngữ chính.
Một số giai điệu La tinh mà nhóm này từng ghi âm lại như ''Quien Sera'' hay ''Quizás Quizás'' đều từng được chuyển sang lời Việt. Còn bản nhạc ''La Soledad'' (Nỗi cô đơn) kết hợp điệu rumba với khúc dương cầm cổ điển andante spianato (Grande Polonaise brillante, opus 22) với tựa đề tiếng Anh là ''Raindrop'' (Hạt mưa rơi) của nhà soạn nhạc Chopin. Tác giả Thomas Lauderdale của nhóm Pink Martini đã soạn ca khúc ''La Soledad'' như một khúc biến tấu dựa trên khúc dương cầm tuyệt diệu của Chopin, nét đột phá tân kỳ cài vào trong giai điệu cổ điển. Bản nhạc này từng được tác giả Lê Hựu Hà đặt thêm lời Việt thành nhạc phẩm "Ngủ đi em".
Khi thành lập ban nhạc Pink Martini vào năm 1994, có lẽ ngay cả hai thành viên quan trọng của nhóm này là China Forbes và Thomas Lauderdale chưa bao giờ nghĩ rằng họ sẽ vẫn song hành bên nhau, cùng đi biểu diễn trên nhiều sân khấu, ngọn lửa đam mê thuở ban đầu, vẫn nồng cháy 30 năm sau.
From the publisher's feed
Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners