
Sign up to save your podcasts
Or


“Ở Alain Delon có vẻ đẹp có gì đó hoang dại, không nhạt nhòa như kiểu một số người mẫu. Không phải chỉ đẹp trai, mà từng nét đều đẹp. Ánh mắt của ông ấy như có nam châm. Ông ấy đầy quyến rũ” (diễn viên Véronique Jannot). “Điểm đặc biệt của Delon là vẻ đẹp trai của ông ấy quyến rũ người khác, cả đàn ông lẫn phụ nữ. Đó là một người vừa có nét rất nữ tính, kiểu tinh tế, khéo léo, lịch sự và bên cạnh là vẻ hoang dã” (nhà sản xuất Alain Terzian) (1).
Vẻ đẹp trai của tài tử điện ảnh có hơn 90 phim, “Con báo” duy nhất còn lại của thế hệ nổi tiếng thập niên 1960-1980, đến giờ vẫn không lỗi thời. Bên trong “Con báo” (biệt danh được lấy từ tên phim Le Guépard) mạnh mẽ, có phần bất trị đó, lại ẩn chứa nỗi cô độc bắt nguồn từ tuổi thơ thiếu hạnh phúc. “Đứa con của tình yêu” như “bị bỏ rơi”, vì cha mẹ ly hôn năm ông 4 tuổi và lập gia đình mới. Ông được giao cho một bảo mẫu và thường vào tù chơi, vì chồng của bà là quản ngục ở nhà tù Fresnes (ngoại ô Paris) :
“Đúng thế, tôi lớn lên trong sân của nhà tù Fresnes. Lúc đó tôi chỉ là một đứa trẻ và có những kí ức vẫn đọng mãi. Một hôm (ngày 15/10/1945), khi tôi đang chơi với các bạn của mình trong nhà tù, người ta tử hình ông Pierre Laval (chủ tịch Hội đồng dưới thời thống chế Philippe Pétain). Bởi vì khi người lớn nói thì lũ trẻ nghe lỏm. Họ nói “Bọn tôi phải xốc nách ông ấy kéo đi như này, sau đó trói ông ấy lại. Ông ấy đã chết rồi. Sau khi trói xong, bọn tôi bắn ông ấy”. Tôi ở đó. Tôi không chứng kiến, nhưng tôi nghe thấy tràng súng giết chết Laval”.
Trưởng thành nhờ đi lính ở Đông DươngLúc đó Alain Delon mới chỉ 10 tuổi. Ông lang thang giữa nhà mẹ và nhà bố, như “một đứa con thừa”. Ông làm thêm nay đây mai đó. Chán tuổi thơ bất hạnh, năm 17 tuổi, dù chưa đủ tuổi thành niên, ông gia nhập hải quân để thoát khỏi gia đình. Ngày 23/01/1953, ông lên đường đến Đông Dương, được giao nhiệm vụ canh kho vũ khí ở Sài Gòn. Nhiều lúc nhớ nhà, nhưng với Alain Delon, thời gian ở Sài Gòn là quãng đời hạnh phúc. Quân đội biến ông thành con người khác, có kỉ luật, giúp ông biết cách xây dựng mối quan hệ với mọi người, với cấp trên, kể cả với nỗi sợ.
Chưa hết hạn hợp đồng 5 năm, Alain Delon bị “trả về nhà”, một trong những “trường hợp hiếm” trục xuất khỏi quân đội vì làm “chuyện nhảm nhí”, bị giam đúng dịp sinh nhật 20 tuổi. Trở về Pháp năm 1956, chàng thanh niên lãng tử, có phần ngông ngông, sống nhờ nhà bạn ở khu phố bình dân Pigalle, ở Paris. Qua người bạn này, ông quen Zizi, từ đó ông quen những người phụ nữ khác, thường hơn ông 6-7 tuổi, bị mê hoặc trước vẻ đẹp trai hiếm có của Delon. Chính họ đã giúp ông bén duyên với điện ảnh. Nhờ Michèle Cordoue, vợ của đạo diễn Yves Allégret, Alain Delon có được vai diễn chính đầu tiên trong đời trong phim Quand la femme s’en mêle (tạm dịch : Khi phụ nữ dính vào, 1957).
Không đóng vai mà sống cùng vai diễnChàng trai trẻ nhớ như in lời khuyên đầu tiên trong sự nghiệp từ chính Yves Allégret : “Đừng có đóng, tôi muốn anh phải sống với nhân vật. Hãy là chính mình. Hãy nhìn như anh đang nhìn. Di chuyển như anh di chuyển. Nói như anh nói, tôi muốn nhìn thấy chính anh, đừng có nhập vai”. Lời khuyên đó đi theo Alain Delon trong mọi vai diễn, trong suốt sự nghiệp.
Thành công liên tiếp đến với nghệ sĩ trẻ trong những năm sau đó. Nhưng chính phim Plein soleil (tựa tiếng Việt : Mặt trời rực rỡ hoặc Trưa Tím, 1960) và đạo diễn René Clément, người được ông coi là “bậc thầy tuyệt đối”, đã đưa Alain Delon lên hàng siêu sao ở tuổi 24. Cũng nhờ trực giác, Alain Delon từ chối vai thiện được giao ban đầu trong phim và đòi đóng vai kẻ sát nhân. Nghệ sĩ kể lại trong chương trình Qu’avez-vous fait de vos 20 ans (Bạn làm gì lúc 20 tuổi, 1991) :
“Tôi đã rất thành thật, thẳng thắn nên tôi không thấy quá đáng khi nói ra suy nghĩ của mình. Thế là tôi bị phản ứng dữ dội, kiểu “thằng đần, tại sao cậu lại dám ăn nói như vậy, tại sao cậu dám đòi như thế”… René Clément giận dữ, bảo là “cậu nên chấp nhận những gì người ta cho cậu”. Thế là tôi nghĩ : Coi như xong. Bỗng nhiên, ở phía cuối phòng, có một người phụ nữ lắng nghe toàn bộ câu chuyện nhưng không nói gì, bà mới nói vọng ra : “René, anh yêu, thằng bé có lý !”. Đó chính là vợ của đạo diễn René Clément. Thế là mọi chuyện ngã ngũ !”
Chỉ trong 5 năm, Delon đóng 10 phim. Những năm tiếp theo, ông ở trên đỉnh cao sự nghiệp, đóng vai chính trong nhiều kiệt tác với những đạo diễn tên tuổi nhất trong điện ảnh Pháp : Plein soleil (René Clément, 1960), l’Éclipse (Michelangelo Antonioni, 1962), Le Guépard (Luchino Visconti, 1963), Le Samouraï (của Jean-Pierre Melville, 1967), La Piscine (Bể bơi, Jacques Deray, 1968), Monsieur Klein (Joseph Losey, 1976)… Cái tôi, cùng với tính cách đặc biệt của một ngôi sao, khiến Alain Delon chỉ quen làm việc với một số đạo diễn nổi tiếng quen biết. Tính cách này được thể hiện phần nào qua câu trả lời năm 1985 của Alain Delon về tranh cãi với đạo diễn José Pinheiro, phim Parole de Flic :
“Tôi cần được ngưỡng mộ, tôi cần được tôn trọng. Tôi cần được làm việc và cảm thấy thoải mái với những đạo diễn thực thụ. Khi tôi làm việc với một đạo diễn có tay nghề, một đạo diễn lớn, nhưng lại rất hiếm, thì tôi trở thành con người ngoan ngoãn nhất, tử tế nhất, cảm thông nhất thế giới. Nhưng khi người ta làm việc với một kẻ ngốc, buộc người khác coi mình là đạo diễn vì lý do nào đó, hoặc tưởng mình là đạo diễn và khi tôi phản ứng thì mọi chuyện trở nên kinh khủng”.
Thế hệ đạo diễn cùng thời gác máy. Các vai diễn thưa dần kể từ thập niên 1980. Với Alain Delon, sự nghiệp điện ảnh chấm dứt sau phim Astérix aux Jeux Olypiques (Astérix ở Thế Vận Hội) năm 2008 trong vai Cesar. Trong buổi phỏng vấn với nhật báo Le Monde ngày 21/09/2018, có thể cảm nhận được chút cay đắng trong lời nói của ông : “(Đạo diễn) Luc Besson ? Ông ấy biết từ lâu là tôi muốn hợp tác với ông ấy, nhưng tôi được biết là ông ấy có chút e dè gì đó. Ông ấy sợ ư ? Tôi không biết. Polanski ? Ông ấy cũng không liên lạc với tôi (…) Tôi từng muốn trước khi chết, đóng một bộ phim do một phụ nữ làm đạo diễn. Chuyện đó chưa bao giờ đến với tôi” (2).
Vẻ đẹp trai phi thời gianVẻ ngoài điển trai của Delon mê hoặc phụ nữ khắp thế giới. Năm 1965, khi ông đến Achentina, cả sân bay Ezeiza chật cứng fan nữ. Ông đến Bắc Kinh năm 1989, gần 18.000 người chờ được gặp thần tượng. Ông trở thành chuẩn mực vẻ đẹp nam tính ở Sài Gòn trong thập niên 1970-1980 với câu cửa miệng “Đẹp trai như Alain Delon”.
Ông làm bạn với những tên tuổi nổi tiếng, yêu những phụ nữ đẹp nhất, nhưng cũng dễ bỏ họ để đến với những người đẹp khác (Romy Schneider, Nathalie Canovas - người duy nhất ông kết hôn, Mireille Darc, ba người phụ nữ quan trọng nhất đời ông). Thế nhưng, khi xế chiều, ông vẫn đơn thân. Người bạn đời thứ tư của ông, người mẫu Hà Lan Rosalie Van Bremen, bỏ đi với hai người con, sau đó kết hôn với nhà tạo mẫu kính Alain Affelou.
Ông thừa nhận không phải là một người bố tốt, rất hà khắc với hai con trai Anthony và Alain-Fabien, nhưng dành tình yêu vô điều kiện cho con gái Anouchka. Ông không nhận người “con rơi” Ari Boulogne (với ca sĩ Nico), dù được bà nội (mẹ của Alain Delon) nuôi nấng. Tháng 05/2023, nghệ sĩ nhiếp ảnh chết lúc 60 tuổi. Trong Alain Delon đầy mâu thuẫn, cô độc. Ông biết điều đó và không che giấu trong một buổi trả lời phỏng vấn lúc ông khoảng 50 tuổi :
“Một ngôi sao, trước tiên đó là một con người với những lo lắng, những nỗi cô đơn, sợ hãi, thái quá, những trái ngược trong lòng, nhưng đó là một con người. Đó là một con người rất khó sống chung và cũng là người khó sống với chính bản thân mình. Tôi vẫn thường tự nhủ là tôi đã sống với chính bản thân mình được 50 năm rồi. Và phải nói thật là không hề dễ chút nào ! Nếu đôi lúc người khác thấy khó ưa tôi, tôi xin lỗi vì với chính bản thân, tôi cũng không dễ dàng gì”.
Bộ năm tài tử (Jean-Paul Belmondo, Jean-Claude Brialy, Jean-Pierre Cassel, Jean-Louis Trintignant và Alain Delon) “như năm ngón tay trên một bàn tay” lần lượt giã từ cõi đời, bản thân Alain Delon rất yếu sau khi bị đột quỵ năm 2019. Trong chương trình Stupéfiant ! của đài truyền hình France 2 năm 2016, Alain Delon thú nhận là không (dám) xem lại những bộ phim với những bạn diễn đã qua đời, đặc biệt là Romy Schneider : “Để làm gì khi tôi thuộc hết lời thoại, tôi biết cảnh sau là gì ?”
“Alain có mọi tài năng, trừ tài năng đạt hạnh phúc trong cuộc sống gia đình”, theo lời một người bạn rất thân của ông. Ở tuổi gần đất xa trời, tài tử thấy chuyện “nhà Delon” bị đưa lên truyền thông, trong khi ông cố tránh bị giống “clan Hallyday” - chuyện thừa kế bị bàn tán rầm rộ sau khi ca sĩ qua đời. Ba người con Anthony, Alain-Fabien và Anouchka từng thể hiện đoàn kết trong vụ kiện một phụ nữ Nhật tự nhận là bạn đời của nghệ sĩ, giờ cũng bị “chia rẽ và đau đớn” về phân chia khối tài sản 300 triệu euro, về chuyện điều trị cho ông, cũng như nơi ông lưu trú tại Pháp hay Thụy Sĩ (có thể do liên quan đến thuế).
(1) Alain Delon, confidentiel, BFM TV, 27/07/2022.
(2) Alain Delon : « Tout ce que j’ai fait au cinéma, je l’ai vécu » (Những gì tôi đóng trên màn ảnh, tôi đều trải qua), Le Monde, 21/09/2018.
Trong lịch sử 120 năm Giải thưởng văn học Goncourt, Romain Gary là cây bút duy nhất 2 lần được xướng tên trên bảng vàng dưới tên 2 tác giả khác nhau. Đối với tác giả Lời hứa lúc bình minh-La Promesse de l’Aube, đánh lừa được ban giám khảo, qua mặt được những ngòi bút phê bình sắc bén nhất và đặc biệt là trước các cuộc săn lùng của báo giới, giữ được bí mật trong nhiều năm về nhân vật nhà văn Emile Ajar là một trò giải trí thú vị.
« Giải Goncourt năm 1975, sau 8 vòng bỏ phiếu, được trao tặng cho nhà văn Emile Ajar với tác phẩm La Vie Devant Soi -Cuộc đời ở trước mặt ».
Emile Ajar là ai ? Ông đã viết bao nhiêu cuốn tiểu thuyết và tại sao ít thấy hình ảnh của nhà văn này trên các mặt báo ? Emile Ajar không xuất hiện và cũng không mấy khi phát biểu trước công chúng. Nhân vật bí ẩn này lại càng gây nên cơn sốt khi ông từ chối giải thưởng và lại càng tạo nên sự tò mò trong công luận.
Một giải thưởng « thật » một nhà văn « ảo »Đương nhiên có nhiều tiếng nói bênh vực cho Ajar như một nhà bình luận thời đó, vì quá hào hứng với tác phẩm Cuộc đời ở trước mặt, mà đã không ngần ngại tuyên bố « ngay cả trong trường hợp Emile Ajar không phải là con người bằng xương bằng thịt thì điều đó cũng chẳng hề hấn gì ».
Nhưng hơn 50 năm về trước, khi chưa có thư điện tử và các cuộc trao đổi « ảo » qua trực tuyến truyền hình, nhà xuất bản và tác giả luôn phải trực tiếp là việc với nhau trước khi cho in sách. Vậy không lẽ nhà xuất bản Gallimard không hay biết gì hơn về nhân vật Emile Ajar ? Tài liệu lưu trữ của viện INA cho thấy, bà Simone Gallimard đã rất hào hứng chia sẻ cảm nghĩ khi hay tin một trong những tác giả cộng tác với nhà in nổi tiếng này đoạt giải thưởng Goncourt :
« Đây là một vinh dự lớn. Một trong những ngày đẹp nhất trong đời đối với mỗi nhà xuất bản. Khó diễn tả được tâm trạng của mọi người ».
Chủ nhà xuất bản sách Gallimard, bà Simone Gallimard đã được Emile Ajar tiếp ở nước ngoài. Bà rất hào hứng khi hay tin Emile Ajar đoạt giải văn học Goncourt năm 1975, và đây là tác phẩm thứ nhì của một người cầm bút « vô danh tiểu tốt » trên văn đàn Pháp.
Hơn một năm trước đó, Ajar ra mắt độc giả cuốn tiểu thuyết đầu tay Gros Câlin- xin được tạm dịch là Ôm nhau thật chặt, nhưng một nhà xuất bản lớn thời đó như Gallimard đã từ chối đánh cược vào một nhà văn còn chưa thành danh.
Và những bí mật chung quanh huyền thoại AjarCông luận bằng lòng với một số lời đồn đoán rằng Emile Ajar « được phỏng đoán sống mãi tận châu Mỹ Latinh », ông bận rộn và nhút nhát và « hình như » có chút liên hệ họ hàng với một nhà văn nổi tiếng của Pháp là Romain Gary… Ajar là bút danh của Paul Pavlowitch, một người cháu họ, gọi Romain Gary là cậu.
1001 câu hỏi không có lời giải đáp chung quanh nhân vật Emile Ajar đã đẩy hàng trăm nhà báo và phóng viên ảnh vào một cuộc săn lùng thông tin. Họ túc trực dưới chung cư nơi Romain Gary cư ngụ, hay hỏi thẳng giải Goncourt năm 1956 ông nghĩ gì về trò chơi ú tim của nhà văn Emile Ajar với công chúng.
Với kinh nghiệm của người đi trước, (năm 1956 Romain Gary từng đi vào lịch sử Goncourt với tắc phẩm Les Racines du Ciel -Cội Rễ của Trời) tác giả cuốn Lời hứa lúc bình minh cho biết ông thông cảm với Ajar và hiểu vì sao người cháu của mình muốn ẩn dật trong bóng tối :
« Nổi tiếng đến một mức độ nào đó, người ta bị giam hãm trong hình ảnh của chính mình như một tù nhân ».
Khi đượchỏi ông đánh giá thế nào về cậu cháu đi theo sự nghiệp của mình Romain Gary đã rất bình thản dành cho Emile Ajar những lời lẽ đầy thân ái :
« Cậu ta rất dễ mến, rất nhẹ nhàng và dễ mến hơn chúng ta thường nghĩ. Tất cả những gì tôi cầu mong là anh ấy sẽ tiếp tục sáng tác, viết văn ».
Phải đợi đến ngày Romain Gary qua đời, ông tự sát ngày 02/12/1980 tại Paris, sự thật về Emile Ajar mới được phơi bày ra ánh sáng.
Tháng 7/1981 Gallimard cho ra mắt độc giả cuốn Vie et Mort d’Emile Ajar -Cuộc đời và cái chết của Emile Ajar, từ ban giám khảo Concourt đến các nhà phê bình văn học Pháp và độc giả mới biết là họ đã bị « lừa gạt ».
Tàn cuộc chơiTrong một chương trình truyền hình năm 1981 Paul Pavlowitch tự thú ông đã được người cậu là Romain Gary tuyển để nhập vai Emile Ajar :
« Theo tôi ông ấy muốn phá một kỷ lục, muốn tung một đòn thật mạnh. Tôi không thể biết rằng ý tưởng đã hình thành như thế nào trong đầu của Romain Gary. Ông là người rất thầm kín. Tôi thấy ý tưởng này rất buồn cười và do từng là độc giả của Gary, tôi thú vị vào vai mà ông giao phó » … (TOM)
Ngoài sự nghiệp viết văn, Romain Gary còn một phi công lái máy bay, một vị anh hùng tham gia kháng chiến trong Thế Chiến Thứ Hai, một nhà ngoại giao hàng đầu của Pháp (từng làm việc tại Thụy Sĩ, Bulgari, Los Angeles, New York hay Luân Đôn, La Paz… ).
Vậy Romain Gary đã dựng nên nhân vật Emile Ajar như thế nào ?Tháng 2/2023 Paul Pavlowitch, nay đã ngoài 80 tuổi, tiết lộ thêm nhiều chi tiết về vụ « lừa đảo » lớn nhất trong lịch sử văn học Pháp này trong cuốn Tous Immortels - Tất cả đều bất tử -Nhà xuất bản Buchet-Chastel.
Pavlowitch trở lại với « trò giải trí » hay đúng hơn là cái « bẫy » mà Romain Gary đã giăng ra để « đánh lừa » thiên hạ, để lột mặt nạ những nhà phê bình tự vỗ ngực là « không gì qua nổi những cặp mắt cú vọ và tinh đời của họ ». Paul Pavlowitch hoàn toàn ý thức được ông là công cụ để Romain Gary tạo ra nhân vật Emile Ajar.
Các nhà phê bình văn học không biết đọc, không biết nhận ra văn phong của Gary
Romain Gary mượn bút danh Emile Ajar để chứng minh là các nhà phê bình lỗi lạc nhất Paris thời bấy giờ, « không biết đọc, không biết nhận ra văn phong của Gary ».
Trong trò chơi « đùa với lửa » thiếu chút nữa thì Romain Gary đã bị « lật tẩy » vì một sơ sót rất nhỏ. Trong bản thảo, ông đặt tên cho cuốn tiểu thuyết thứ nhì ký tên Emile Ajar là La tendresse des pierres-Sự dịu dàng của đá. Nhưng khi đưa cho Paul Pavlowitch đọc lại, thì vợ của Paul là Annie đã phát hiện ra rằng, trong một sáng tác trước đây (Adieu Gary Cooper -Vĩnh biệt Gary Cooper) Romain Gary từng nói đến « sự dịu dàng của đá ». Thế là cặp bài trùng Gary-Pavlowitch đã phải đổi tên cuốn sách, thay thế Sự dịu dàng của đá bằng Cuộc đời ở trước mặt.
Một kịch bản và một vai diễn hoàn hảoVề phần Paul, ông được cậu mình giao cho một vai diễn. Thư từ của Paul với nhà xuất bản, mỗi phát biểu của ông với báo chí hay với ban giám khảo giải thưởng văn học Gonccourt đều là những lời thoại đã được Romain Gary biên soạn sẵn. Paul Pavlovitch trong vai nhà văn Emile Ajar trong những lần xuất hiện hiếm hoi và « bất đắc dĩ » được « đạo diễn Romain Gary » hướng dẫn cho từ cách ăn mặc đến lời ăn tiếng nói cho phù hợp với phong cách của một Emile Ajar « như trong óc tưởng tượng của Romain Gary ».
Họ lén lút hẹn nhau vào ban đêm, họ sử dụng giấy tờ giả, và Paul thường phải học « thuộc bài » nhỡ khi ông bị phỏng vấn bất ngờ ….
Giải văn học Goncourt năm 1975 đặt cậu cháu nhà Gary/Pavlowitch trong thế « tiến thoái lưỡng nan ». Emile Ajar « bị đem ra trước ánh sáng đèn màu của sân khấu » còn Romain Gary vẫn nấp sau hậu trường để điều khiển tất cả với một mục đích duy nhất : làm thế nào để giữ kín « bí mật » bởi nếu bị « lật tẩy » thì coi như Romain Gary mất hết chữ « tín » mà ông cả đời đã gầy dựng để xứng đáng với những hy sinh tột cùng của người mẹ quá cố.
Những năm tháng còn lại, Romain Gary sống trong sự hồi hộp và lo sợ như một nhà gián điệp hai mang, sợ bị « lộ ».
Romain Gary tên thật là Roman Kacew một người Do Thái sinh ra tại Vilnius, Litva năm 1914. Bố bỏ nhà đi sớm. Hai mẹ con lưu lạc sang Ba Lan, nhưng với Mina mẹ của Roman thì Pháp mới là miền đất hứa. Bà cam chịu tất cả nuôi con ăn học. 15 tuổi, Roman và mẹ định cư hẳn ở Nice, miền nam nước Pháp.
Năm 1935 ông vào quốc tịch Pháp và gia nhập trường Không Quân ở Salon de Provence, rồi trường đào tạo sĩ quan Không Quân. Là một phi công trong Thế Chiến Thứ Hai, Roman Kacew hoạt động tại Bắc Phi và Trung Đông. Ông sớm tham gia phong trào kháng chiến của tướng de Gaulle giải phóng nước Pháp khỏi ách Đức Quốc Xã và bắt đầu viết văn từ cuối thập niên 1930, lấy bút hiệu là Romain Gary.
Rất ngưỡng mộ tướng de Gaulle và cũng từng được chính lãnh đạo phong trào Nước Pháp Tự Do nâng đỡ, Romain Gary đã soạn tác phẩm Cội Rễ của Trời khi ông được đề cử đại diện cho Pháp tại Liên Hiệp Quốc. Tháng 11/1956 đang công tác tại thủ đô Bolivia, từ La Paz, Romain Gary nhận được tin ông đoạt giải văn học Goncourt năm đó với tác phẩm này.
Trong thập niên 1960 công tác tại Los Angeles, ông có dịp làm quen và chinh phục trái tim của nữ diễn viên người Mỹ Jean Seberg. Cuộc hôn nhân tuy ngắn ngủi nhưng Romain Gary không thể quên đi hình ảnh của cô tiên tóc vàng. Họ chính thức chia tay nhau năm 1963. Dù vẫn ở trên đỉnh cao danh vọng Romain cần lấp chỗ trống mà Jean để lại. Đó có thể là một trong những chìa khóa giải mã vì sao Gary đã sáng tác rất nhiều dưới nhiều bút hiệu khác nhau để đánh lạc hướng công luận … nhưng rồi ông vẫn bị « lộ », ngoại trừ khi cùng với người cháu là Paul Pavlowitch soạn kịch bản quá hoàn hảo cho nhân vật của nhà văn Emile Ajar.
Cần phải có được một nhà đạo diễn giỏi, một nhà viết kịch bản độc đáo và một diễn viên tài hoa để có được một bộ phim, một vở kịch hay. Có thể xem « vụ lừa đảo » mang tên cậu cháu nhà Romain Gary/Paul Pavlowitch là một tác phẩm xuất chúng.
Pháp - Nhật : khi hai « ông khổng lồ có tâm hồn ăn uống » gặp nhau, họ dễ dàng cùng nhau bước lên những đỉnh cao của nghệ thuật ẩm thực. Khó có thể tin rằng trong ba năm liền, ba vua bếp Nhật Bản thay phiên nhau đoạt chức Vô Địch Thế Giới ở môn Pâté-Croûte vốn được xem là một trong những « món tủ » của các đầu bếp Pháp. Cũng khó để đoán được là trà Nhật Matcha lại là dấu ấn của nhà làm bánh ngọt nổi tiếng Paris Laurent Duchêne.
Cuộc tranh tài quốc tế Championnat du monde de Pâté-Croûte 2023 vừa khép lại tại thành phố Lyon. Nhà vô địch năm nay là đầu bếp Frédéric Le Guen-Geoffroy. Ban giảm khảo tuy nhiên đã chú ý đến một ông vua bếp đến từ phương xa : Taiki Mano, 28 tuổi, hiện đang đứng bếp tại một khách sạn rất nổi tiếng tại Tokyo. Thú vị không kém là trong ba mùa tranh tài trước đây, ba nhà vô địch trong món ăn rất đặc thù này của Pháp đều là các ông vua bếp Nhật.
Nhưng trước hết Pâté-Croûte là món gì ? Đó là món khai vị, nhìn giống như một cái bánh cake của Anh, có vỏ bọc màu nâu làm từ bột mì. Ở bên trong lớp vỏ vàng óng đó, nhân bánh là thịt nguội ướp với rượu, với nước cốt xương và tựa như thịt đông của người Việt, những miếng thịt ở bên trong ấy kết dính vào nhau nhờ một chút thạch. Khi dọn lên bàn tiệc, mỗi phần ăn là một khoanh bánh chừng độ từ 1 đến 2 cm, được trang điểm thêm với một chút rau xanh, và thường thì có thêm một vài lát dưa leo non ngâm dấm. Đi kèm với món khai vị này là một ly rượu đỏ.
Nhật sành điệu món Pâté-Croûte hơn Tây ?
Nhưng đây là một món ăn rất cầu kỳ và cần một độ chính xác ở mỗi khâu chuẩn bị. Một người trong ngành đã nói Pâté-Croûte là một món ăn kết hợp « nghệ thuật làm bánh với nghệ thuật đứng bếp, đòi hỏi nghệ nhân phải rất sành về bí quyết làm thịt nguội ». Nhưng không chỉ có thế, « các khâu tẩm ướp hay pha chế nước dùng, nấu thạch đều không dễ ». Taiki Mano, một trong 12 ứng viên của Nhật, đã « tầm sư học đạo » và đã phải thực hiện hơn 200 ổ bánh Pâté-Croûte trước khi đoạt được chiếc vé đến Lyon đại diện cho xứ hoa anh đào tham dự cuộc thi hôm đầu tháng 12/2023.
Đầu bếp Pháp Sébastien Zozaya, người từng đoạt danh hiệu Nghệ nhân xuất sắc nhất của Pháp năm 2019 trong lĩnh vực Charcuterie -chuyên làm thịt nguội thực sự thán phục tài của các đầu bếp Nhật Bản :
« Cái giỏi của các nghệ nhân Nhật là họ hoàn toàn làm chủ được khẩu vị trong những món ăn, trong nghệ thuật ẩm thực của Pháp, đặc biệt là trong thể loại pâté-croûte. Phải thú thật là có khá nhiều kiểu bánh mà tôi biết là mình không thể làm được như vậy ».
Vào lúc tại Pháp món khai vị này suýt nữa thì bị chìm vào quên lãng thì trên xứ hoa anh đào, Pâté-Croûte đang trở thành một món « thời thượng » và gần như là chỉ có ở một số hiệu ăn rất sang trọng tại thủ đô Tokyo hay họa hoằn lắm thì mới tìm thấy được đặc sản này của Pháp ở một cửa hiệu Charcuterie Française tại thủ đô Nhật Bản. Chủ nhân hiệu này là Kohei Fukuda, vô địch thế giới năm 2021 về Pâté-Croûte :
« Khách của chúng tôi đến từ khắp mọi nơi vì họ biết ở đây có Pâté- Croûte ngon nhất thế giới. Thật ra không chỉ có một công thức làm món này, mà mỗi đầu bếp đều có những bí quyết riêng của họ. Bánh Pâté Croûte phải có những ống khói để có chỗ thoát hơi, chính những ống khói đó cũng là chỗ để chúng ta rót chất thạch cho thịt đông lại ở bên trong vỏ bánh ».
Trung bình Kohei Fukuda mất 5 ngày mới làm xong được một ổ bánh Pâté Croûte và mỗi tháng anh bán khoảng 25 ổ như vậy.
Ẩm thực Pháp và Nhật đã bắc những nhịp cầu từ hơn nửa thế kỷ nay. Nhà phê bình ẩm thực khép tiếng Nhật Bản Masuhiro Yamamoto còn nhớ năm 1973 việc đầu tiên phải làm bằng được khi đặt chân đến Pháp là phải vào tận nhà hàng Chez Lipp, đại lộSaint Germain quận 6 Paris để thưởng thức món Sole Meunière - cá bơn tẩm bột chiên bơ.
Sân chơi bất tận cho các ông vua bếp NhậtMasuhiro Yamamoto không là người duy nhất bị « bếp Pháp » chinh phục. Trên hành trình đi tìm « bản sắc » trong thế giới ẩm thực, đầu bếp Atsushi Tanaka chủ nhà hàng AT ở quận 5 Paris khẳng định Paris là « chặng dừng bắt buộc » và là một sân chơi không có giới hạn cho phép ông tiếp tục khai mở những con đường mới :
« Ở Paris thích một điều là mọi người hiểu về ẩm thực và thực sự ai cũng có tâm hồn ăn uống. Du khách đến tham quan Paris cũng vậy (…) Tôi thích kết hợp màu sắc để mỗi món ăn phải như một bức tranh, một tác phẩm nghệ thuật. Tôi thích dùng màu đỏ của của củ cải đỏ, kết hợp với vị chua rất dịu của quả framboise. Màu đỏ ấy tương phản với màu đen của than … tôi rất thích những lớp khoai tây thật mỏng, chiên ròn đen như than cháy, để có mùi thơm của củi, gỗ … »
Một đồng hương của Atsushi Tanaka là Kei Kobayashi chủ nhà hàng hạng sang ở ngay quận 1 Paris, cũng đến Pháp để khám phá và điều ông hài lòng nhất là giữa lòng Paris, Kei luôn kết hợp được hai dòng nghệ thuật ẩm thực mà ông đã thấm nhuần :
« Đối với tôi ẩm thực của Pháp trước hết là những món đặc sản của từng vùng miền, là cái nét rất riêng biệt của từng địa phương. Chẳng hạn như những món ăn của vùng Alsace sát với biên giới Đức thì khác hoàn toàn với những món đặc thù của vùng biển Bretagne. Chính nét phong phú và đa dạng đó, những khác biệt về hương vị đó làm tôi say mê, và chúng thay đổi hẳn cách tôi chế biến cùng một sản phẩm (...) Là người Nhật, cho nên tôi rất cẩn thận trong cách nấu, cẩn thận về độ sống/chín của từng vật liệu. Đương nhiên đối với tôi, cách trình bày một món ăn rất quan trọng. Quan trọng trong từng chi tiết. Tôi rất thích dùng cá, tôm … các loại hải sản kèm theo với rất nhiều rau ».
...và Nhật đã dễ dàng chinh phục thực khách Pháp« Bếp » Pháp du nhập vào Nhật Bản từ thập niên 1960 và đã dễ dàng chinh phục được các thực khách trên xứ hoa anh đào. Giờ đây thì như Kei hay Atsushi, chính những đầu bếp Nhật đã chinh phục trái tim của những thực khách khó tính nhất nơi kinh đô ánh sáng.
Thế còn các đầu bếp Pháp, họ cũng đã bị nghệ thuật ẩm thực của Nhật đánh cắp trái tim lúc nào không hay ! Từ thập niên 1970 những tên tuổi lớn như Paul Bocuse, Pierre Troisgros rồi đến những thế hệ đi sau như là Henri Gault và Christian Millau đã lần lượt « mang bếp Nhật về Pháp » …
Theo lời bà Chihiro Masui một chuyên gia về ẩm thực Nhật Bản, chính vì các món ăn của Nhật luôn được chế biến từ các sản phẩm rất tươi nên không cần ướp thêm nhiều gia vị, họ ít dùng nước sốt hay vị béo của bơ, sữa, ... để giữ nguyên hương vị tự nhiên của rau củ, qua hay thịt cá …Chính vì thế mà ngay cả những món ăn bình dân nhất cũng rất dễ chinh phục lòng người.
Tưởng chừng là đơn sơ ...Một số đầu bếp Pháp đã dễ siêu lòng vì sự đơn sơ và giản dị trong nghệ thuật nấu ăn của Nhật họ cũng rất phục độ chính xác của các đồng nghiệp trên xứ hoa anh đào. Vua bếp người pháp Loic Villemin chủ một nhà hàng tại đảo Hokkaido giải thích : « Chỉ trong cách thổi cơm, người Nhật mất rất nhiều năm để đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. Với người Pháp, thì nấu cơm là gì ? Là vo gạo, đổ nước vào nồi và bắc nồi lên bếp ».
Ở mãi tận vùng Moselle miền đông bắc nước Pháp chủ một nhà hàng tại một ngôi làng nhỏ trong trả lời báo Le Monde thổ lộ ẩm thực của Pháp thì « khỏi chê », nhưng đôi khi « Chúng ta thiếu chính xác, thiếu những cơ bản trong cách trình bày một món ăn và chúng ta không trân trọng thực khách được bằng như người Nhật » …
Trà xanh Matcha, dấu ấn của hiệu bánh Duchêne -Paris
Rất xa thế giới của các nhà hàng cao cấp có tên trong danh sách cuốn Guide Michelin, đối với ông vua bánh ngọt Laurent Duchêne, Meilleur Ouvrier de France, nghệ nhân xuất sắc nhất của Pháp năm 1993 trong làng bánh ngọt và sô cô la, thì với Nhật Bản trước hết là « tình yêu ».
Mùa Giáng Sinh năm nay, sản phẩm mới của hiệu bánh Duchêne là Buche Kotobuki, bánh khúc củi màu xanh. Màu xanh rêu của cây cỏ được tạo ra từ trà Matcha kết hợp với kem vanille nhẹ, quả mâm xôi đỏ nấu chín và kem thơm hương vị trà …
Trả lời RFI tiếng Việt trong một hội chợ Paris, chính ông chủ hiệu bánh Laurent Duchêne say mê nói về những khám phá của ông khi kết hợp những đặc sản của xứ hoa anh đào với nghệ thuật làm bánh ngọt Pâtisserie truyền thống của Pháp :
« Bánh mà chúng tôi đặt tên là Mojito giống như loại rượu cocktail thì có kem thơm mùi húng bạc hà, với một lớp vỏ thơm mùi chanh xanh. Thế rồi chúng ta có nhiều loại bánh khác kết hợp với trái cây tươi rất là nhẹ. Nhà tôi là người Nhật, quê ở Kaghoshima. Đặc sản ở đây là trà xanh cho nên chúng tôi đưa hương vị của trà vào bánh kết hợp với những quả mâm xôi đỏ framboise (...) Như vừa nói, vợ tôi người Nhật nên chúng tôi đưa khá nhiều những sản phẩm mới, những hương vị mới của Nhật vào các loại bánh ngọt truyền thống của Pháp. Đấy là một cách giao lưu. Mỗi lần chúng tôi được làm quen với một nguyên liệu mới. Quan trọng ở đây là phải chọn hàng có chất lượng cao thí dụ như là dùng bột soba của Nhật thay cho bột mì truyền thống của Pháp. Rất là thú vị khi chúng tôi làm bánh với bột kiều mạch sarazin của Nhật ».
Mỗi chiếc bánh mang nhãn hiệu Laurent Duchêne là một hành trình về phương Đông, là một lời mời viễn du ... nơi xứ hoa anh đào.
Mùa đông, những cơn gió lạnh ùa về, nhiệt độ hạ thấp, cầm trên tay một cốc sô cô la nóng pha chế theo kiểu thủ công, truyền thống, hít hà mùi hương thơm ngậy và thưởng thức những ngụm sô cô la đặc sánh, có lẽ là sở thích của không ít người Pháp. Cũng như lễ Phục Sinh, mùa Giáng Sinh tại Pháp cũng không thể thiếu những viên sô cô la ngọt ngào, xinh xắn, điểm nét tinh tế. Đây là hai dịp mà người Pháp ăn nhiều sô cô la nhất.
Theo báo kinh tế Les Echos hồi tháng 04/2023, vào dịp lễ Phục Sinh, Pháp là một trong những nước tiêu thụ nhiều sô cô la nhất thế giới, hơn 300.000 tấn/năm, trung bình 7,3kg/người/năm. Ở châu Âu, Pháp đứng thứ 6, sau Đức, Thụy Sĩ, Estonia, Anh và Phần Lan. Lĩnh vực sô cô la ở Pháp sử dụng 30.000 lao động. Hơn 60% sản lượng sô cô la của Pháp là để xuất khẩu, chủ yếu sang các nước láng giềng châu Âu.
Nhìn lại lịch sử Pháp, suốt một thời kỳ dài, sô cô la (từ hạt ca cao) là sản phẩm bổ dưỡng, cao cấp, quý hiếm, chỉ dành riêng cho triều đình, giới tinh hoa. Được du nhập vào Pháp từ thế kỷ XVI, nhưng phải đến sau Đệ Nhị Thế Chiến, sô cô la mới dần dần trở thành một sản phẩm phổ thông tại Pháp.
Để hiểu thêm về lịch sử phát triển sô cô la tại Pháp, RFI Tiếng Việt ngày 06/10 đã phỏng vấn ông Fabrice Stijnen, giám đốc hệ thống bảo tàng Choco-Story của Pháp, với ba cơ sở tại Paris, Colmar và Lourdes.
RFI : Xin chào Fabrice Stijnen, ông có thể cho biết sô cô la được du nhập vào Pháp như thế nào ? Và từ khi nào ?
Fabrice Stijnen : Sô cô la được đưa đến Tây Ban Nha trước tiên, rồi sau đó mới đến phần còn lại của châu Âu. Những nhà khai thác thuộc địa người Tây Ban Nha đã mang sô cô la về nước hồi năm 1527. Cortes là người mang hạt ca cao về cung đình Tây Ban Nha. Trên thực tế, Christophe Colomb đã từng đi qua « con đường ca cao », nhưng khi đó ông không quan tâm tới sản phẩm này, vì thấy chả có ích lợi gì.
Chính Cortès là người đã mang theo ca cao như mang một báu vật về Tây Ban Nha, vì quả thực ông đã phát hiện rằng đó là một sản phẩm rất có giá trị ở đó (châu Mỹ), mà lại không có nhiều, chứ không phải là có nhiều như ngày nay. Vì không có nhiều nên triều đình Tây Ban Nha đã cất giữ ca cao, để dành và dùng ca cao như một loại gia vị theo cách khá kín đáo, bí mật.
Trên thực tế, phải nhờ vào hôn sự giữa các công chúa Tây Ban Nha và các vị vua Pháp (thì sô cô la mới được đưa đến Pháp). Vua Louis XIII kết hôn với công chúa Anne d’Autriche và khi đến Hoàng gia Pháp, công chúa Anne d’Autriche đã mang theo ca cao. Vua Louis 13 coi ca cao và cách pha chế thức uống từ cacao như một điều lập dị ở người vợ của ông. Con trai họ, sau này là vua Louis XIV, vốn quấn quýt với mẹ, nên cũng quen với việc uống sô cô la.
Vua Louis XIV cũng kết hôn với một công chúa Tây Ban Nha, người đã đến Hoàng gia Pháp và họ cùng nhau chia sẻ thú vui thưởng thức đồ uống pha chế từ ca cao. Và tất nhiên, sau này ca cao đã được phổ biến đến triều đình của các nước lớn khác ở châu Âu.
Vậy đấy, sô cô la lần đầu tiên đến châu Âu qua Tây Ban Nha, được cất giấu gần một thế kỷ ở Tây Ban Nha, rồi mới từ đó lan sang Pháp và phần còn lại của châu Âu.
RFI : Ban đầu, khi mới được đưa vào Pháp, sô cô la được dành cho ai là chính ? Sô cô la được ưa chuộng vì điều gì và được thưởng thức theo cách nào ?
Fabrice Stijnen : Điều thú vị về sô cô la, như tôi đã nói ngay từ đầu, là không có nhiều. Vì thế, ca cao chỉ dành cho giới tinh hoa, thượng lưu, ngay cả các nền văn minh Aztec và Maya cũng đã thế. Chỉ có một số tầng lớp quan trọng trong xã hội mới được tiêu thụ sô cô la.
Ở các nền văn minh Aztec và Maya, ca cao được sử dụng không hẳn vì hương vị, mà là vì sức sống, sự bổ dưỡng mà ca cao có thể mang lại cho người dùng. Ca cao được xem là một sản phẩm cung cấp nhiều năng lượng, có lẽ cũng là nhờ các loại gia vị khác mà người ta pha chế cùng để chống lạnh.
Khi ca cao được đưa đến châu Âu, cũng giống như ở thời của người Aztec và người Maya, sô cô la cũng chỉ được dùng dưới dạng đồ uống. Sô cô la thể rắn mãi về sau này mới xuất hiện, khá gần đây, vào khoảng thế kỷ XIX. Thức uống sô cô la mang lại hương vị đặc biệt. Người Tây Ban và sau này là người Pháp uống sô cô la có pha chế thêm với một số gia vị khác, như quế, một xíu hạt tiêu, hạnh nhân, hồi … Những loại gia vị này mang lại cho thức uống sô cô la một hương vị thực sự khác lạ.
Đồ uống sô cô la còn có một cách pha chế khác, từ dạng lỏng được chế thành bọt mousse. Cả người Aztec, người Maya, sau này là người Pháp, Tây Ban Nha đều pha chế ca cao thành mousse, vì ca cao thực chất khá béo, gần một nửa lượng hạt cacao là chất béo, đó là bơ ca cao. Nhờ lượng chất béo này, khi pha chế đồ uống, người ta dùng các dụng cụ chuyên dụng để tích hợp không khí vào thức uống này, chỉ đơn giản như vậy là tạo ra bọt.
Đúng là phải mãi rất lâu về sau này, nhờ quy trình sản xuất công nghiệp hóa mới có sô cô la ở thể rắn.
RFI : Ban đầu là theo cách thủ công, vậy đến khi nào thì ngành sản xuất sô cô la ở Pháp mới được công nghiệp hóa ?
Fabrice Stijnen : Quả thực là sô cô la cũng theo quá trình công nghiệp hóa từ thế kỷ 19 và các cuộc cách mạng kỹ thuật, chẳng hạn đã cho phép tách bơ ca cao ra khỏi nguyên liệu bột ca cao. Tách chất béo từ ca cao là một cuộc cách mạng khá quan trọng để sô cô la sau này có thể được tiêu thụ ở thể rắn, dưới dạng phong sô cô la. Như tôi đã giải thích ở trên, sô cô la trong suốt nhiều thế kỷ chỉ được dùng dưới dạng đồ uống.
Trên thực tế, một người Hà Lan, tên là Gaspard Van Houten, đã sử dụng một loại máy ép nổi tiếng, được gọi là máy ép Van Houten, để tách bơ ca cao và tạo ra sô cô la. Người ta xay hạt ca cao rồi lại cho thêm bơ ca cao vào. Đây đúng là một ý tưởng tuyệt vời, bởi vì sau khi bổ sung thêm bơ ca cao vào bột xay từ hạt ca cao và tạo hình theo khuôn, hỗn hợp đó nguội đi thì co lại một chút và dễ dàng tách được ra khỏi khuôn, như vậy là người ta có thể tạo hình cho sô cô la, làm ra những thanh sô cô la mỏng và dễ bẻ nhỏ.
RFI : Theo ông, đâu là những mốc thời gian quan trọng, những chặng đường đánh dấu sự phát triển của sô cô la tại Pháp ?
Fabrice Stijnen : Về những mốc thời gian quan trọng, trước tiên là khi sô cô la được đưa đến Pháp nhờ cuộc hôn nhân giữa các vị vua Pháp và các công chúa Tây Ban Nha. Sau đó, sô cô la bắt đầu được sản xuất ở miền tây nam, gần Bayonne, nơi đầu tiên đặt các cơ sở sản xuất sô cô la để phục vụ Hoàng gia Pháp và giới tinh hoa.
Nhưng sản xuất vẫn khá hạn chế và cũng chỉ để phục vụ riêng những người thuộc giới tinh hoa Pháp. Sau đó, sô cô la dần dần được mở rộng, nhưng để đạt được như vậy cũng phải trải qua một thời gian rất dài, và thực ra là cho đến Đệ Nhị Thế Chiến thì sô cô la vẫn là sản phẩm dành riêng cho các tầng lớp xã hội có đủ khả năng tài chính.
Tôi lấy một ví dụ để quý vị thấy sô cô la thời đó đắt thế nào. Vào cuối thế kỷ 19, để mua 1 kg sô cô la, người ta phải bỏ ra số tiền tương đương với 1 tháng lương mức trung bình, tương đương gần 1.700 euro nếu tính theo thời giá hiện nay. Không phải ai cũng có điều kiện mua sô cô la với giá như vậy. Đó là yếu tố quan trọng khiến phải mất một thời gian rất dài cuối cùng sô cô la mới trở nên bớt hiếm và được xã hội tiêu dùng nhiều.
Các cường quốc châu Âu đã lập các đồn điền ca cao ở các nước thuộc địa vào đầu thế kỷ 20. Trước đó, ca cao có xuất xứ từ Nam Mỹ và thực sự ở đó không có đồn điền lớn nào, người ta thường mang về ca cao thu hoạch từ cây mọc tự nhiên. Như vậy là việc trồng cây ca cao hồi đầu thế kỷ 20 cũng là một giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển sô cô la ở Pháp, cho phép chúng ta dần dần thu được lượng lớn ca cao.
Cùng với đó là quá trình công nghiệp hóa và các quy trình cho phép tạo hình sô cô la theo khuôn. Khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, người Mỹ vào lúc thắng trận phân phát các thanh sô cô la cho mọi người. Từ đó, sô cô la trở nên phổ thông hơn, trở thành một sản phẩm bổ dưỡng, hiện diện trong bữa phụ lúc 4 giờ chiều cho trẻ em. Đây là một bước tiến quan trọng, vì cuối cùng mọi người dân cũng dễ dàng mua sô cô la.
Bảy mươi năm qua là khoảng thời gian mang lại chất lượng của sô cô la ở Pháp, nét tinh tế của sô cô la và cảm giác vui thú khi thưởng thức sô cô la, ban đầu là sự biến chuyển và cuối cùng là sự phát triển về mặt nghệ thuật và chế biến sô cô la tại Pháp.
RFI : Pháp được biết đến là một nước sản xuất và tiêu thụ rất nhiều sô cô la. Ông có thể cho biết thêm về sở thích, khẩu vị của người Pháp ?
Fabrice Stijnen : Tôi muốn làm rõ điều này khi nói về sô cô la. Theo định nghĩa, để được gọi là sô cô la thì hàm lượng ca cao phải là từ 20% trở lên, gồm bơ ca cao và bột ca cao, dựa vào thành phần, người ta phân chia sô cô la thành nhiều loại : sô cô la đen, nếu thêm sữa bột thì sẽ thành sô cô la sữa. Sô cô la trắng thì không chứa bột ca cao, nhưng chứa bơ ca cao, khoảng 30%, nên nhìn chung sô cô la trắng vẫn được coi là sô cô la.
Về cách tiêu thụ, trên thực tế, khi nói đến sô cô la ở Pháp thì phải nói đến sô cô la thanh, sô cô la phong. Xu hướng hiện nay là khám phá hương vị, cũng giống như việc chúng ta thưởng thức rượu hoặc các sản phẩm khác. Chúng ta sẽ khám phá terroir, (tập hợp các yếu tố thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán canh tác tại địa phương, vị trí địa lý, sự đa dạng của hệ động thực vật địa phương có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm) trong mỗi phong sô cô la, mỗi loại ca cao đến từ khắp nơi trên thế giới.
Chúng tôi gọi đó là những hương vị nguyên bản thô mộc nhất (grand cru). Hiện nay có rất nhiều nhà sản xuất sô cô la đang tập trung vào các loại sản phẩm như vậy. Điều này rất thú vị. Chúng ta thực sự cần tập luyện cơ quan vị giác của mình để có thể cảm nhận mọi hương vị có thể tìm thấy trong sô cô la. Đó tất nhiên là một cách thưởng thức.
Các nhà chế biến sô cô la cũng làm ra những viên kẹo sô cô la, và thường là với praliné (hỗn hợp bột hạt dẻ hoặc hạnh nhân), hoặc với sốt ganache hoặc với thạch hoa quả (la pâte de fruits), và viên sô cô la thường có nhiều lớp. Làm loại kẹo sô cô la này đòi hỏi phải có kỹ năng chế biến và nghệ thuật, mà nước Pháp vốn rất nổi tiếng. Chúng ta có thể nói rằng Pháp thực sự xuất khẩu các kỹ năng trong lĩnh vực này ra nước ngoài, mặc dù thực tế là khắp nơi trên thế giới có rất nhiều nhà sản xuất sô cô la xuất sắc, chứ không phải chỉ nước Pháp mới có.
Xét về sở thích, khẩu vị hiện nay, tôi có thể nói là người Pháp thích ăn sô cô la đen hơn. Đây là sở thích chung, nhưng ở các bảo tàng sô cô la, chúng tôi vẫn thấy có rất nhiều du khách cũng thích sô cô la sữa, hoặc sô cô la trắng. Dù không thể khẳng định một quy tắc tuyệt đối, chúng tôi có thể nói rằng là để nếm thử hương vị của một loại sô cô la, người Pháp thường hay thưởng thức sô cô la đen, và các nhà chế biến thường kết hợp với các loại nhân để tăng hương vị cho sô cô la đen.
RFI tiếng Việt chân thành cảm ơn ông Fabrice Stijnen, giám đốc Choco-Story của Pháp, đã tham gia chương trình !
Milan Kundera, nhà văn nổi tiếng quốc tế với những tác phẩm văn học bất đồng chính kiến ở Tiệp Khắc thời Cộng Sản. Trong Tập sách cái cười và sự lãng quên - Le Livre du rire et de l’oubli là những cái cười « ra nước mắt », còn « sự lãng quên » là « cuộc đấu tranh của con người chống lại quyền lực, là cuộc đấu tranh của trí nhớ chống lại sự lãng quên ».
Sinh năm 1929 tại Brno ông đã định cư tại Pháp từ năm 1975 do sách của ông bị kiểm duyệt và tác giả đã bị khai trừ khỏi đảng Cộng Sản Tiệp Khắc. Khi chế độ Cộng Sản sụp đổ, Tiệp Khắc trở thành hai quốc gia Cộng Hòa Séc và Slovakia.
Hai trong số rất nhiều tác phẩm của ông đã được dịch giả Trịnh Y Thư dịch sang tiếng Việt, đấy là Tập sách Cái cười và sự lãng quên - Le Livre du rire et de l’oubli (1978) và Đời nhẹ khôn kham -L'insoutenable légèreté de l'être (1984).
Trong bài tưởng niệm nhà văn Kundera vừa qua đời tại Paris hồi tháng 7/2023, dịch giả Trịnh Y Thư đã nhắc lại « Đời nhẹ khôn kham, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Kundera, mở đầu với cảnh xe tăng Liên Xô nghiến nát đường phố Praha, thủ đô của Cộng hòa Séc, là quê hương của tác giả cho đến khi ông sang Pháp chọn cuộc đời lưu vong từ năm 1975. Đan xen các chủ đề về tình yêu và sự lưu vong, chính trị mang tính cá nhân sâu sắc, tiểu thuyết của Kundera đã giành được sự tán thưởng của giới phê bình, giúp ông có được lượng độc giả rộng rãi chẳng những ở phương Tây mà còn khắp nơi trên thế giới, kể cả Việt Nam ».
Cùng với dịch giả Trịnh Y Thư mời quý vị cùng tìm đến với Tập sách cái cười và sự lãng quên, được ông dịch sang tiếng Việt, xuất bản tháng 1/2021.
*****
RFI : Xin kính chào dịch giả Trịnh Y Thư, Le livre du rire et de l'oubli là một cuốn tiểu thuyết với cấu trúc lạ kỳ, với những câu chuyện khác nhau và đôi khi tác giả tưởng chừng là « lười biếng » khi cần đặt tựa cho mỗi truyện ngắn của ông :
Trịnh Y Thư : Kundera viết Tập sách cái cười và sự lãng quên vào quãng giữa thập niên 70. Tác phẩm có bẩy phần. Gọi mỗi phần là một truyện ngắn cũng đúng, nhưng theo chính Kundera, ta nên xem nó là một tổ khúc, như tổ khúc âm nhạc gồm bẩy biến tấu mà mỗi biến tấu là một cuộc truy tìm hiện hữu khác nhau. Khác nhau nhưng vẫn có sự liền lạc chặt chẽ bởi mô-típ thắt buộc toàn tác phẩm : Cái cười và Sự lãng quên. Những phần của sách nối tiếp nhau như những chặng đường chuyến du hành dẫn đến cái nội tại của chủ đề, nội tại một suy tưởng, nội tại một tình huống duy nhất, giản dị, mà cái hiểu cứ dần dà trôi mất về cõi xa, ra khỏi tầm nhìn của chính tác giả.
Nếu bạn đọc cuốn sách này một cách kiên nhẫn và thành tâm, nó có thể thay đổi cuộc đời bạn.
RFI : Nửa thế kỷ từ ngày tác phẩm này được xuất bản, giờ đây điều gì có thể thôi thúc độc giả tìm đến với Tập sách cái cười và sự lãng quên ?
Trịnh Y Thư : Lý do giản dị lắm, thưa chị, vì đó là một tác phẩm cực hay. Tôi xin mượn phát biểu của ba nhà văn, nhà phê bình Mỹ nói về cuốn sách này của Kundera. John Updike từng đánh giá đây là cuốn sách xuất sắc và độc sáng, được viết với sự trong trẻo và minh triết, nó mời mọc chúng ta trực tiếp đi vào. Còn John Leonard thì quan niệm Tập sách cái cười và sự lãng quên tự gọi là một cuốn tiểu thuyết, mặc dù nó là một phần truyện thần tiên, một phần phê bình, một phần chính luận, một phần nhạc học, một phần tự truyện. Nó có thể gọi bất kỳ cái gì nó muốn, bởi tổng thể cuốn sách là một thiên tài. Ted Solotaroff nhận xét, ảo diệu… Nếu bạn đọc cuốn sách này một cách kiên nhẫn và thành tâm, nó có thể thay đổi cuộc đời bạn.
Thiết tưởng, với những lời ca ngợi ấy, cuốn sách rất xứng đáng được nằm trên kệ sách của tất cả những ai quan tâm đến chữ nghĩa.
Milan Kundera : « Con người luôn luôn ấp ủ tham vọng muốn viết lại tiểu sử của chính mình, muốn thay đổi quá khứ, muốn bôi xóa mọi dấu vết của chính hắn và kẻ khác »
RFI : Về « cái cười » và về « sự lãng quên » : chúng ta có dễ tìm đến với « cái cười » của Kundera hay không ? Còn « sự lãng quên », những nguyên nhân nào dẫn tới « cái quên » đó và các nhân vật trong tiểu thuyết của Kundera cần « quên » cái gì ?
Trịnh Y Thư : Đọc Kundera, chúng ta dễ dàng nhận ra tính hài (và ở chừng mực nào đó, châm biếm) thấm đẫm trong văn ông. Kỳ thực, đối với ông, hài là một thuộc tính bất khả tách ly của văn chương. Tập sách cái cười và sự lãng quên không thiếu những mạch đoạn khiến người đọc cười chảy nước mắt, nhưng thật sai lầm nếu chúng ta hiểu chủ ý của ông là chọc cười độc giả. Để hiểu tính hài của Kundera, ta phải tìm hiểu tính hài trong văn Kafka. Vâng, chính Kafka đã cho ông nguồn cảm hứng bất tận đem tính hài vào văn chương. Kafka lấy mặt nạ của cái khả lý đeo lên cái bất khả lý, trong lúc tuyệt đối duy trì tính chính xác tâm lý, nó khiến tiểu thuyết của ông mang vẻ mê hoặc, huyền ảo lạ lùng. Chuyện bông đùa, giai thoại, chuyện hài hước: chúng là những bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy giữa cảm quan nhạy bén của hiện thực và thần trí tưởng tượng, tiểu thuyết liều lĩnh đi vào cái bất khả lý. Kundera bảo như vậy.
Còn « Sự lãng quên », cụm từ này có ý nghĩa gì trong tác phẩm ? Ta hãy nghe chính Kundera định nghĩa như sau về « sự lãng quên » và nó chính là chủ đề tái hiện hoài hoài suốt cuốn sách. Kundera bảo : « Cuộc đấu tranh của con người chống lại quyền lực là cuộc đấu tranh của trí nhớ chống lại sự lãng quên ». Về điểm này, Kundera nói rõ trong tập tiểu luận Nghệ thuật tiểu thuyết : « Con người luôn luôn ấp ủ tham vọng muốn viết lại tiểu sử của chính mình, muốn thay đổi quá khứ, muốn bôi xóa mọi dấu vết của chính hắn và kẻ khác ». Ông cũng nói thêm, nó không phải sự lừa dối, nó tuyệt đối không có công lý trong đó, nhưng cùng lúc nó đem lại nguồn an ủi.
Kundera không bao giờ che giấu thái độ hằn học, gần như thù hận, với nước Nga, bởi quốc gia này đã gây nên không biết bao nhiêu tai họa và thống khổ cho quê hương, dân tộc ông, thậm chí cho chính cá nhân ông, nhưng thật sai lầm nếu chúng ta bới móc giữa những dòng chữ ông viết để tìm kiếm một thông điệp hay luận đề chính trị nào.
RFI : Ngoài « cái cười » và « sự lãng quên » tiểu thuyết này của Milan Kundera đầy thi vị và có thể nói là một Kundera đã viết về tình yêu ? Tuy nhiên bối cảnh chính trị thời kỳ Chiến Tranh lạnh, hình bóng của một chế độ toàn trị luôn ẩn hiện trong các tác phẩm của ông. Đọc Kundera dưới lăng kính đó, không thể phủ nhận là sách của ông rất mang tính thời sự.
Trịnh Y Thư : Đúng vậy, thưa chị, mặc dù tiểu thuyết Kundera không thiếu những mạch đoạn viết về chính trị – đúng hơn lịch sử chính trị – và ông không bao giờ che giấu thái độ hằn học, gần như thù hận, với nước Nga, bởi quốc gia này đã gây nên không biết bao nhiêu tai họa và thống khổ cho quê hương, dân tộc ông, thậm chí cho chính cá nhân ông, nhưng thật sai lầm nếu chúng ta bới móc giữa những dòng chữ ông viết để tìm kiếm một thông điệp hay luận đề chính trị nào. Ông có vẻ dị ứng với tất cả những điều đó.
Với ông, lịch sử chỉ là tấm phông trừu tượng mà ông ví tiểu thuyết gia như nhà thiết kế sân khấu kịch sử dụng một cách dè sẻn để kiến dựng một tiết kịch. Câu nói « Tiểu thuyết gia không phải kẻ hầu của sử gia » thường được ông nhắc đi nhắc lại trong những bài tiểu luận. Cũng như hầu hết các tiểu thuyết gia tầm vóc khác của thế giới, Kundera cương quyết chống lại mọi chủ thuyết luận đề trong văn chương. Tuy vậy, bàng bạc trong những tác phẩm của ông, người ta nhận thấy những chủ đề sau hiển lộ rõ ràng : cuộc sống lưu vong ; căn tính, đời sống vượt qua lằn ranh biên thùy (bên kia tình yêu, bên kia nghệ thuật, bên kia sự nghiêm túc) ; lịch sử như cái gì liên tục trở lại ; và lạc thú của một đời sống ít có những điều « quan trọng ».
Bởi, như phần lớn chúng ta, Kundera chẳng thể nào đứng ngoài những biến động lịch sử khốc liệt của thế hệ ông. Thế kỷ XX, châu Âu của ông chứng kiến sự đổ nát kinh hoàng chưa từng thấy trước đó bao giờ. Hai cuộc Thế chiến, Lò thiêu, Quốc xã, Quân phiệt, Cộng sản, như những bóng ma, cho đến tận bây giờ vẫn ám ảnh tâm tư người dân lục địa đó. Bohemia của ông – miền đất tuy nhỏ bé nép mình giữa hai cường quốc Đức và Nga nhưng lại là giao điểm chính trị và văn hóa quan trọng – luôn luôn là mảnh đất chịu thiệt thòi và bị giẫm nát trong bất kỳ cuộc tương tranh lớn nhỏ nào. Ở châu Âu, ngoài Ireland, Bohemia có lẽ là quốc gia duy nhất mà nền văn học bao giờ cũng trĩu nặng tính thời đại và lịch sử. Dù sao chăng nữa, Kundera khó lòng hoàn toàn đi chệch ra khỏi quy luật đó.
« (...) Bản ngã là gì? Làm cách nào thấu triệt được cái bản ngã đó? Đây là một trong những câu hỏi cơ bản của tiểu thuyết »
RFI : Nhưng nếu lịch sử chính trị chỉ là bối cảnh, chỉ là cái phông của tiết kịch, thì cái gì chiếm cứ phần trọng đại nhất trong tiểu thuyết Kundera ?
Trịnh Y Thư : Câu trả lời giản dị lắm : Đó chính là cuộc truy tìm bản ngã con người để từ đó rất có thể lóe lên luồng sáng mới mẻ cho ta thấy rõ hơn cái ẩn mật của hiện tồn. Đưa ra một định nghĩa cho tiểu thuyết, ông nói : « Ngay khi bạn tạo dựng một hiện hữu tưởng tượng, một nhân vật, tự động bạn đối đầu câu hỏi : Bản ngã là gì? Làm cách nào thấu triệt được cái bản ngã đó? Đây là một trong những câu hỏi cơ bản của tiểu thuyết ». Kundera cả quyết rằng sự nảy sinh của nhân vật tiểu thuyết không giống sự ra đời của con người nơi cuộc sống bên ngoài ; « họ có mặt do một tình huống, một câu văn hay một ẩn dụ bên trong cái vỏ bọc hàm chứa những khả thể cơ bản liên quan đến con người mà tác giả nghĩ rằng chưa ai khám phá hay đề cập điều gì trọng yếu về nó ». Xem thế, tính sáng tạo trong tiểu thuyết Kundera chủ yếu nằm ở điểm này. Và qua tác phẩm chúng ta thấy ông truy xét cái bản ngã đó đến tận cùng. Bản ngã bị ông lật trái lật phải, lật ngang lật dọc đến chóng mặt. Nhưng không phải vì thế ông nắm bắt được điều muốn tìm kiếm; bản ngã vẫn vuột khỏi tầm tay, và ông thú nhận cuộc truy tìm bao giờ cũng chấm dứt trong nghịch lý.
Là một trong những bộ phim được liệt vào hàng “phải xem” trước thềm lễ trao giải Oscar 2022, Nightmare Alley - tạm dịch là “Con hẻm ác mộng” - của đạo diễn đình đám Guillermo del Toro (điện ảnh Hollywood) thật sự đã không khiến cho người ta thất vọng.
Chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn W.Lindsay Greshem được viết vào năm 1946, kịch bản phim được sáng tạo lại từ chính Guillermo và vợ là Kim Morgan, mang đậm dấu ấn phong cách riêng có một không hai của ông. Vượt lên trên bản đầu tiên do Edmund Goulding làm vào năm 1947, “Nightmare Alley” của vợ chồng Guillermo được cho là trung thành với bản gốc hơn nhưng đồng thời cũng khiến cho người xem thấy được những nét riêng trong sự sáng tạo độc đáo về cả cốt truyện, cảnh quay, không gian và những sự ẩn dụ xâm chiếm.
Với những tín đồ của dòng phim tâm lí tội phạm giật gân, “Noir thriller”, thì màn mở đầu theo kiểu kinh điển với một cái xác bị kéo lê, một cảnh đốt nhà và một khung cảnh lễ hội diễn ra ngay sau đó, người ta biết rằng đã ngồi đúng rạp. Việc cần làm tiếp theo chỉ là thưởng thức bữa tiệc Điện Ảnh đúng nghĩa mà thôi.
Truyện phim diễn ra vào khoảng những năm 40 của thế kỉ trước, kể về 2 năm cuộc đời của Stan, một người mà, theo như bác sĩ tâm lí Lilith đã gọi, là một gã nhà quê với hàm răng trắng đều tăm tắp, từ kẻ lang thang, giết cha, tự đốt nhà mình, trở thành một người biểu diễn thuật tâm linh, thậm chí, một thầy Đồng. Biết bao sự kiện đã xảy ra, để rồi sau đó, Stan đã phải trả giá cho những tham vọng ngông cuồng và dối trá ngu dốt của mình một cách cay đắng nhất.
Những mơ hồ mộng tưởngKết cấu của “Nightmare Alley” được chia làm hai phần khá rõ ràng. Phần đầu tiên là lúc Stan bỏ trốn sau khi đã gián tiếp gây ra cái chết của người cha và tự đốt nhà mình. Anh ta lưu lạc tới đoàn xiếc của Clem và từ đây, những mộng tưởng mơ hồ bỗng chốc ngự trị cả bộ phim.
Phần một giống như là sự chuẩn bị cho những tương lai và lựa chọn sau này, đồng thời nó thể hiện một chút gì lấp lánh trong bản chất của Stan. Người ta mơ hồ về quá khứ, mơ hồ cả về con người của anh ta. Người ta thấy đó là một chàng trai nhanh nhẹn, tháo vát, thậm chí có chút lòng trắc ẩn khi tỏ ra cảm thông với “kẻ quái dị” cắn cổ gà sống trong đoàn xiếc. Dường như chỉ một mình Stan là chú ý và để tâm tới kẻ quái dị khốn khổ kia, nói chuyện với anh ta, cho anh ta hút thuốc cùng mình, không nỡ bỏ anh ta dưới màn mưa và đã thốt lên “ôi linh hồn đáng thương” một cách đồng cảm nhất. Cũng chỉ một mình Stan dành thời gian suy nghĩ làm mới màn trình diễn “cô gái điện” của Molly để thu hút khách hơn và cũng mình anh ta để tâm tới việc xin Pete dạy nghề biểu diễn tâm linh cho mình.
Vậy Stan là người tốt hay xấu? Anh ta vốn sinh ra đã là kẻ ngông cuồng hay cái gì xô đẩy anh ta? Hay ma lực của con hẻm ác mộng, ma lực của đồng tiền, của danh vọng đã cuốn anh ta đi, tha hóa cùng cực con người thông minh đầy khao khát này, biến anh ta thành kẻ mà không ai muốn trở thành?
Cái không gian mơ hồ không chỉ ở Stan mà còn hiện diện ở khắp thế giới nhỏ bé mà anh ta vừa lọt vào. Đó là Clem, một ông chủ gánh xiếc chuyên sưu tập những cái quái thai trong những chiếc lọ thủy tinh kì quái và sở hữu thứ rượu gỗ mê hoặc. Là Pete và Zeena, hai vợ chồng người biểu diễn ảo thuật tài hoa nhưng không bao giờ dám tỉnh rượu chỉ vì sợ mình sẽ lao vào cái vòng luẩn quẩn của sự lừa đảo và dối trá. Là Bruno, Mayjor tận tâm nhưng sợ sự thay đổi. Và là một Molly khao khát cuộc sống mới bên ngoài đoàn xiếc.
Tình yêu khởi nguồn của Stan và Molly có vẻ là điều duy nhất “Thật” xuyên suốt bộ phim. Ban đầu là cứu cánh, là lối đi mới với đầy những hi vọng cho Stan nhưng rồi, cuối cùng, vẫn bị những mơ hồ ngông cuồng cuốn trôi trong tích tắc.
Đôi cánh sáp của IcarusCái độc đáo của Guillermo là như vậy. Không cần những cảnh máu me hiểm họa ghê gớm, chính câu chuyện và những chi tiết ông đưa ra khiến cho người ta phải trầm trồ hoảng sợ. Có nhà phê bình phim đã ví Stan như là hình tượng Icarus trong thần thoại Hy Lạp cổ xưa, kẻ quá ngạo mạn và tự tin vào khả năng của mình, giang thẳng đôi cánh vươn tới mặt trời mà không hề nhớ rằng những chiếc lông chim trên đôi cánh ấy chỉ được dính với nhau bằng Sáp. Mặt trời của những khát khao sai lầm đã hạ gục Stan, cái năng lượng của sự tham lam và thù hận vụn vặt đã tước đôi cánh trên lưng anh ta, vứt anh ta từ trên trời xuống vực thẳm cay nghiệt.
Phần hai của phim trở nên gay cấn hấp dẫn hơn, là một cách thể hiện khác với nhịp điệu nhanh và nhiều thắt mở hơn khi Stan bước ra khỏi đoàn xiếc, mang theo Molly và những gì đã học được từ Pete để làm mới cuộc đời họ. Nhưng số phận đã dẫn anh ta tới đối diện với Lilith, nhà tâm lí học lắm mưu nhiều mẹo và… rõ ràng… Stan đã “làm điều xấu với đúng người”, theo như cái cách mà Lilith đã cảnh báo anh ta. “Cô không đủ mạnh mẽ” – câu nói có vẻ chỉ để làm màu cho màn trình diễn bóc mẽ Lilith của Stan lại là khởi nguồn của mọi hận thù trong Lilith, người đàn bà cao ngạo tài trí.
Bắt nguồn từ bước ngoặt khi Stan cứu thua cho đoàn xiếc khỏi sự giải tán của cảnh sát, bằng vào trí thông minh và tài ứng phó nhanh nhạy của mình, Stan tự tin bước vào thế giới với tương lai tươi sáng cùng Molly sát cánh ở bên. Nhưng cái mơ hồ tham lam và tham vọng quá lớn khiến Stan mờ mắt. Anh ta bắt tay với bác sĩ Lilith hòng bước xa hơn. Anh ta rơi vào cái mà ông Pete vốn vẫn hoảng sợ né tránh, đó là mê cung của sự dối trá không có đường ra. Stan thề không uống rượu, không bao giờ, tuy nhiên, anh ta không thể né tránh bản chất của mình, bản chất của một gã lưu manh đã ăn vào máu. Thì ra, cái lòng trắc ẩn mà Stan dành cho gã “quái nhân” trong đoàn xiếc chỉ là một đốm lấp lánh nhỏ mà chỉ một cơn sóng trào của tiền tài danh vọng có thể dập tắt nó nhanh chóng.
Chẳng mấy chốc, Stan bị Lilith dắt mũi từ kế hoạch này sang kế hoạch khác. Anh ta nhắm mắt bước đi vì tin rằng đã có cô ả là Đôi Mắt của mình, không quan tâm tới hậu quả từ những việc mình làm. Và rồi, cái gì đến cũng phải đến. Sự trả thù của đàn bà mới ghê gớm làm sao. Molly đã rời bỏ Stan, tiền tài rời bỏ anh ta, chỉ còn lại lòng hận thù của Lilith bắn anh ta một phát đạn chí mạng, tước đi tất cả và dồn đẩy anh ta đến với một đoàn xiếc khác, kết thúc với nụ cười cay đắng vang vọng và thân phận của một kẻ quái dị sẽ sống trong lồng.
Tuyệt tác của những ẩn dụKhông mấy khó khăn để nhận ra “Nightmare Alley” là một tác phẩm tuyệt vời với những hình ảnh mang tính ẩn dụ sâu sắc. Đây chính là dấu ấn mà Guillermo tạo nên và ấn định mình vào bộ phim. Ấn tượng nhất, có lẽ là hình ảnh Con mắt lặp đi lặp lại trong phim. Người ta có thể thấy hình ảnh con mắt ở khắp mọi nơi, từ đầu tới cuối, lúc Stan bước chân vào Nhà Ma để tìm gã Quái nhân, lúc anh ta dùng cái bịt mắt có hình con mắt để biểu diễn và cái bào thai mang tên Enoch quỷ quyệt của Clem cũng có một con mắt ngay giữa trán. Chưa hết, một số cảnh quay trong phim cũng giống như là có ai đó – một người thứ ba – dõi theo Stan. Con mắt này hẳn là muốn nói tới “cái nhìn khác”, là Nhân quả, là “trời biết, đất biết” những việc mà Stan cho rằng chỉ là bí mật của riêng anh ta, là cái giá mà trước sau gì anh ta cũng phải trả cho những hành động sai lầm của mình.
Để có được tới 4 đề cử Oscar, “Nightmare Alley” không chỉ sở hữu những cảnh quay đẹp, hình ảnh mang tính biểu trưng với ánh sáng tuyệt mỹ mà còn là bữa tiệc diễn xuất tuyệt vời của nam diễn viên chính Bradley Cooper trong vai Stan và những xuất thần của Cate Blanchett trong vai bác sĩ Lilith. Nếu Bradley Cooper hóa thân trọn vẹn theo từng giai đoạn của phim, từ lúc là kẻ tiểu nhân hại chết cha ruột, đốt nhà, cho tới người thanh niên nhanh nhạy ham học hỏi và sáng tạo, cho tới một Stan sang trọng bí ẩn trên sân khấu lớn và kẻ tàn tạ sắp trở thành quái nhân trong rạp xiếc… thì Cate Blanchett lại khiến người ta sởn da gà với gương mặt lạnh lùng đẹp hoàn hảo như một pho tượng sáp nhưng ánh mắt vô cùng biểu cảm long lanh chất chứa những huyền bí khó tả. Đây là nhân vật duy nhất không có quá khứ cũng hầu như không có tương lai. Bao bọc xung quanh cô ả chính là sự mơ hồ không rõ ràng, khi tối khi sáng khó đoán biết. Có lẽ, đây chính là hình ảnh ẩn dụ lớn nhất trong phim, là “con hẻm ác mộng” mà Stan đã lỡ bước chân vào và không thể rút ra. Khi Lilith cầm khẩu súng trong tay và thốt lên rằng “Giờ tôi đã đủ mạnh mẽ với anh chưa” thì người ta hiểu đâu là cái kết dành cho Stan.
“Khi mà người ta tin vào điều dối trá mà họ nói ra thì đó là lúc họ đánh mất mình”. Bài học lớn nhất mà Pete cố dạy Stan thì anh ta đã không thể học được và đôi cánh Sáp cuối cùng vẫn chỉ là một thứ giả tạo đi mượn không hơn.
Không ồn ào với những mâu thuẫn dồn đẩy, gay cấn hay những cao trào mạnh mẽ thúc giục, “Kẻ du mục” lặng lẽ êm ái luồn khẽ vào tâm tưởng người xem bằng khối năng lượng tích cực khổng lồ. Người ta có thể nói đó là một bộ phim buồn, có thể nói nó là sự cô đơn nhưng thật tình, tác phẩm tuyệt vời này chính là câu trả lời cho điều nhiều người còn thắc mắc… “Nhà là Gì?”
Dựa trên cuốn sách của nữ nhà văn Mỹ Jessica Bruder, ra mắt năm 2020, tác phẩm của Hollywood này đã khiến cả thế giới bùng cháy khi nữ đạo diễn, biên kịch đồng thời là dựng phim người Mỹ gốc Hoa – Triệu Đình – đã trở thành người nữ đạo diễn thứ hai và nữ đạo diễn châu Á đầu tiên cùng lúc nhận được 6 đề cử tại Lễ trao giải Oscar lần thứ 93, 4 đề cử tại Lễ trao giải Quả Cầu Vàng lần thứ 78 và rất nhiều giải thưởng danh giá khác. Tác phẩm này không chỉ gặt hái được cơn mưa giải thưởng mà còn nhận được nhiều đánh giá tích cực từ phía khán giả toàn cầu. Đó là một trong những bộ phim hiếm hoi không quá tách biệt và hàn lâm, người ta tự đặt ra câu hỏi và rồi sẽ tự tìm được câu trả lời trong suốt hành trình của nhân vật chính, cũng là chuyến đi của chính mình.
“Kẻ du mục” chậm rãi kể về hành trình của Fern, người phụ nữ trung niên đã lựa chọn cuộc sống du mục trên chiếc xe van sau cái chết của người chồng. Fern chất mọi kỉ vật của chồng, của cha mẹ lên xe, coi đó là Nhà và bắt đầu cuộc sống “đi tới đâu làm việc tới đó”, rong ruổi khắp miền Tây nước Mỹ. Xuyên suốt chặng đường ấy, Fern không chỉ hiểu ra ý nghĩa thật sự của việc cô đang làm mà còn khẳng định một điều tưởng như đơn giản nhưng lại rất quan trọng với mỗi người chúng ta, rằng “Nhà là một Mái Nhà hay là nơi ở trong tim”.
Vô gia cư hay Không có nhà?Điều này dường như là thắc mắc của tất cả khán giả khi từ phút đầu phim đã thấy Fern rong ruổi trên chiếc van, đi vệ sinh ngay bên vệ cỏ và “nhảy việc” từ thị trấn này qua thị trấn khác. Ở vào tuổi của cô, phần lớn mọi người đã bắt đầu nghĩ tới việc nghỉ hưu, dùng số tiền dành dụm được cả đời vất vả để sống ấm êm dưới một Mái nhà, nên hình ảnh đưa ra khiến người ta liên tưởng tới một phụ nữ vô gia cư thiếu nơi nương tựa. Tuy nhiên, câu trả lời được đưa ra ngay sau đó, khi Fern gặp lại người quen cũ. Hai đứa trẻ đã từng được cô nhận dạy kèm hỏi cô có phải là người vô gia cư không. Fern khẽ cười, không, cô không vô gia cư, cô chỉ không có nhà. Rõ ràng, cái định nghĩa này đã thay đổi tất cả. Home – tiếng Anh là Nhà, House – cũng là Nhà. Nhưng Home còn được hiểu là Gia đình, là Mái Ấm, trong khi House chỉ đúng nghĩa đen là cái Nhà mà thôi. Fern đã lên án em rể là kẻ vô lương tâm, người làm nghề bất động sản dụ dỗ mọi người mua một căn nhà mà cả đời họ không thể trả nổi cho nó, phải mang nợ tới khi nhắm mắt xuôi tay.
Thế nào là sự ổn định? Thế nào là một Mái Nhà? Fern có thể là người Không có Nhà, nhưng cô mang theo Mái Ấm của mình ở trong tim, ở những kỉ vật mà cô nâng niu của Cha mẹ, của Bob, người chồng yêu thương của cô.
Cuộc suy thoái kinh tế đã khiến cho công ty nơi hai vợ chồng Fern làm việc phải đóng cửa. Thay vì ngồi yên một chỗ gặm nhấm nỗi buồn mất chồng và mất việc thì Fern chất tất cả lên chiếc van và du ngoạn cái thế giới nhỏ bé mà cô hình dung ra. Fern chọn cuộc sống gần gũi với thiên nhiên, rời xa xã hội với đầy rẫy những tham vọng, ham muốn… để làm quen với hội nhóm những người du mục. Đi tới đâu cô xin việc tới đó, công việc thời vụ không nhiều tiền nhưng bù lại lại được thoải mái về thời gian và thuận tiện cho việc thường xuyên di chuyển của Fern.
Ở nơi đó, Fern nghe được những câu chuyện đầy cảm động, nơi mà ai cũng có mất mát riêng và tìm cách tự chữa lành vết thương của mình. Đó là người con chứng kiến ba mẹ qua đời vì ung thư chỉ cách nhau vài tuần, lúc nhắm mắt vẫn mang trong mình mong ước được đi chu du ngắm nhìn thế giới. Đó là người vợ chỉ mới hôm qua còn nắm tay chồng thì hôm nay đã mất ông mãi mãi và chiếc thuyền nhỏ của ông vẫn buộc trên nóc xe để ở lề đường, chưa bao giờ được dùng tới. Họ vượt qua mọi định kiến xã hội, vượt qua cái nhìn kì thị của những người được cho là bình thường để sống cuộc sống của họ, cuộc sống không quá phụ thuộc vào tiền bạc, sự nghiệp… sống gần gũi với thiên nhiên và vô tư gắn kết với nhau như trẻ nhỏ.
Định kiến xã hội thể hiện rõ nhất ở trường đoạn Fern về thăm gia đình em gái Dolly. Những câu hỏi mang tính mỉa mai, những cái nhìn kì cục mà chồng Dolly cũng như bạn bè của họ ném về phía Fern khiến người ta không khỏi khó chịu và xót xa cho cô. Tuy nhiên, với sự ủng hộ của em gái, Fern vẫn kiên định và ngẩng cao đầu với lựa chọn của mình, bởi, cô là một phần của nước Mỹ, của lối sống Mỹ.
Sẽ gặp lại nhau trên đườngĐây là câu nói thường trực trên môi của những người du mục. Chưa bao giờ có một lời từ biệt cuối cùng, bởi họ sẽ gặp lại nhau trên đường, con đường đưa họ đi từ vùng đất này tới vùng đất khác, thẳng tắp, hay vòng vèo, nhưng rồi họ sẽ gặp lại nhau. Giống như cuộc sống của chúng ta, một lúc nào đó, ta sẽ gặp lại nhau. Người sáng lập Hội người du mục đã nói với Fern như thế, rằng một ngày, cô cũng sẽ gặp lại Bo, tên gọi thân thương của người chồng quá cố của cô, dù họ đã bị chia lìa bằng cái chết. Bởi, cuối cùng, họ sẽ vẫn gặp nhau tại một điểm, là điểm cuối của chặng đường đời.
Trong phim, ta thấy Fern gặp lại khá nhiều người trên hành trình của mình. Là Swankie, một người du mục bước qua tuổi 75, bị ung thư phổi di căn lên não và đã chọn tự lái xe van cho tới giây phút cuối cùng. Để rồi, bà sẽ trở lại Alaska, nơi có những tổ chim núp dưới những vách đá chông chênh, bà mơ sẽ nằm lại đó, tưởng tượng mình chao nghiêng dưới cánh chim đầy tự do và bạn bè trong nhóm du mục trên khắp nước Mỹ sẽ ném những viên đá cuội nhỏ vào ngọn lửa cho linh hồn của bà khi nghe tin bà đã ra đi.
Là Linda May, bạn chu du của Fern, người làm cùng Fern ở nhiều nơi khắp miền Tây, mỗi lúc gặp lại Fern là một lần vui, chia sẻ với nhau từng công việc, từng giây phút thật tự do.
Là chàng thanh niên ngoài 20 tuổi bỏ nhà đi lang thang, được Fern tặng cho cái bật lửa và khi gặp lại, cậu tặng lại Fern một chiếc bật lửa khác, nghe nói là được làm từ xương khủng long.
Cuối cùng, là Dave, người đàn ông du mục có sự quan tâm đặc biệt tới Fern. Người đã làm vỡ chiếc đĩa do Cha cô để lại cho cô và thật chẳng ngờ, sau này, ông đã tạo ấn tượng tốt với cô, thậm chí, có lúc đã khiến cô muốn dừng lại. Người ta thấy có vẻ như câu chuyện sẽ rẽ qua hướng khác, một giây phút mong Fern tìm được bến đỗ và một Mái Nhà thật sự sau chừng ấy chặng đường.
Họ cùng nhau làm việc ở một khu bảo tồn thiên nhiên, Fern và Linda làm công việc dọn vệ sinh trong khi Dave là hướng dẫn viên. Khi mùa vụ qua đi, họ lại di chuyển trên những chiếc van và một ngày, như là định mệnh, lại gặp nhau trên đường. Dave trở thành đầu bếp và giới thiệu cho Fern làm trong bếp cùng mình. Fern vẫn cố giữ vẻ ương ngạnh khác thường khi Dave kể về gia đình con trai của ông và đứa cháu nội sắp chào đời, ngỏ ý mời cô về thăm gia đình ông.
Bước ngoặt lớn hơn vào Lễ Tạ Ơn, Fern bất ngờ xuất hiện ở nhà con trai Dave. Đây dường như là nút thắt đáng kể nhất từ đầu phim, để cho người ta phải chờ đợi và hi vọng. Liệu Fern có dừng lại? Ở nơi mà tất cả thành viên trong gia đình con trai Dave, cả bạn bè của họ đều chào đón cô? Nơi có nhiều phòng ngủ, có trang trại, có biết bao không gian và sự tự do thừa đủ cho hai người? Nơi có một ngôi nhà thật sự? Nơi mà Dave đặt đứa cháu nội vào tay Fern nhờ cô trông giùm phút chốc… khi Fern ôm đứa trẻ trong lòng, bàn tay bé xíu nằm gọn trong bàn tay Fern…
Biết bao chi tiết dược dày công dựng lên. Biết bao dòng thoại cổ xúy cho lối sống du mục. Biết bao khó khăn khi chu du một mình trên chiếc xe van cũ kĩ lúc hỏng săm, lúc rét cóng giữa đồng không mông quạnh… Khán giả có quyền hi vọng lắm chứ, rằng Fern sẽ dừng lại…
Nhưng… có lẽ còn rất nhiều điều, rất nhiều người mà Fern muốn gặp lại trên con đường cô sẽ đi, nên cô lên xe giữa lúc trời còn chưa sáng, để lời từ biệt trở nên dễ dàng hơn.
Fern trở về ngôi nhà xưa cũ, ngắm nhìn tất cả một lần nữa, rồi bước tới bờ biển, nơi những đàn chim làm tổ dưới gờ đá và cùng tung cánh vút lên thật tự do. Lần này thì Fern đem cho tất cả những thứ cô vẫn giữ, những kỉ vật của Cha mẹ và của cả Bo. Fern lái chiếc van đi, tiếp tục hành trình. Nhà không phải là những vật chất ấy mà Nhà là nơi ở trong tim cô.
Hẹn gặp lại trên đường.
Paris có đến hai bảo tàng lớn nhất nước Pháp dành riêng cho nghệ thuật châu Á : bảo tàng quốc gia Guimet và bảo tàng Cernuschi. Nằm ở quận 8, bảo tàng Cernuschi, trực thuộc thành phố, còn là bảo tàng lớn thứ năm dành cho nghệ thuật Trung Quốc tại châu Âu. Quá trình hình thành bảo tàng được tái hiện qua triển lãm Retour d’Asie. Henri Cernuschi, un collectionneur au temps du japonisme (Từ châu Á trở về. Henri Cernuschi, nhà sưu tập thời trào lưu Nhật Bản) từ ngày 06/10/2023 đến 04/02/2024.
Từ khi mở cửa đón công chúng năm 1898, bảo tàng Cernuschi, mang tên nhà sưu tập, vị mạnh thường quân người Pháp gốc Ý, hiện có gần 15.000 đồ vật liên quan đến Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc. Henri Cernuschi (1821-1896) là ai ? Tại sao lại là “giai đoạn trào lưu Nhật Bản” ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giám đốc bảo tàng Eric Lefebvre, tại lễ khai trương triển lãm ngày 05/10/2023.
“Henri Cernuschi là người có cuộc sống muôn mặt, một cuộc đời đầy phiêu lưu và sự kiện. Ông sống ở Milan (Ý) thời trẻ và trải qua một giai đoạn vô cùng quan trọng : Năm 1848, ông tham gia phong trào cách mạng để lập nền Cộng Hòa ở Milan và tham gia nhóm lãnh đạo phong trào phản đối quân đội Áo. Sau đó, Cernuschi cũng rất năng động trong thời kỳ Cộng Hòa ngắn ngủi ở Roma.
Phong trào cách mạng thất bại, ông đến Pháp bắt đầu một cuộc đời mới. Ông là nhà thầu trong rất nhiều lĩnh vực và cuối cùng giầu lên nhờ lĩnh vực tài chính. Dù vậy, ông vẫn luôn đam mê với tư tưởng chính trị, đến mức vào cuối Đế Chế 2 và khi nền Đệ Tam Cộng Hòa ra đời ở Pháp, ông nhập quốc tịch Pháp, dù sau đó, ông bị ám ảnh về những sự kiện bi thương giai đoạn Công Xã Paris. Sau Công Xã, lúc 50 tuổi, Cernuschi bắt đầu hành trình đến châu Á.
Tại sao lại vượt Đại Tây Dương, băng qua Mỹ và Thái Bình Dương để đến châu Á ? Cần sống lại bối cảnh thời đó. Cả một bầu không khí mới mẻ, thịnh hành lúc đó, mà người ta gọi là “trào lưu Nhật Bản”. Ai cũng biết là giới nghệ sĩ, trí thức Pháp trong nửa sau thế kỷ 19 bị ảnh hưởng bởi xu hướng này. Qua đồ gốm sứ, các nghệ sĩ Pháp phát hiện ra tranh vẽ Nhật Bản nổi tiếng. Loại hình nghệ thuật này ảnh hưởng rất lớn đến các nghệ sĩ theo trường phái Ấn Tượng. Ở nửa sau thế kỷ 19, rất nhiều nhà trí thức và nghệ sĩ bắt đầu chu du đến châu Á. Cernuschi cũng vậy. Ông đến Nhật Bản trước tiên, sau đó đến Trung Quốc, Indonesia, Sri Lanka và Ấn Độ”.
Cernuschi : Doanh nhân Pháp mang tâm hồn châu ÁỞ tuổi 50, Henri Cernuschi chu du thế giới với nhà báo Théodore Duret, cũng là một người Cộng Hòa. Chuyến đi kéo dài 16 tháng, từ tháng 07/1871 đến tháng 01/1873, đưa họ đi từ Liverpool (Anh) vượt Đại Tây Dương đến New York, đi xuyên Hoa Kỳ sang bờ Tây để từ San Francisco vượt Thái Bình Dương và đến Yokohama, Nhật Bản vào tháng 10/1871. Sau gần ba tháng ở Nhật Bản (Tokyo, Kobe, Osaka, Kyoto và Nara), họ đến Hoa lục (Bắc Kinh, Nội Mông, Hàng Châu, Thiên Tân, Nam Kinh), Hồng Kông, đảo Java (Jakarta, Bandung và Yogyakarta), Sri Lanka, đến Ấn Độ (Madurai, Calcutta, Agra, Rajastan, Ellora) và từ Mumbay về Liverpool (Anh).
Hành trình của Cernuschi được thể hiện một cách sinh động, kết hợp âm thanh, hình ảnh, đồ vật trưng bày, cùng với lời bình của một hướng dẫn viên trong vòng một tiếng rưỡi để khách tham quan không bị nhàm chán. Giám đốc Eric Lefebvre cho biết tiếp :
“Chúng tôi kỉ niệm một sự kiện quan trọng. Tròn 150 năm Henri Cernuschi kết thúc chuyến chu du châu Á, cho nên đây là dịp để tái hiện lại chuyến đi và để hiểu thêm về bộ sưu tập đặc biệt. Chỉ trong tầm16 tháng, ông sưu tập khoảng 5.000 đồ vật, sau đó chia sẻ với công chúng Pháp trên đại lộ Champs-Elysée vào năm sau và cuối cùng là xây tòa nhà này chỉ để dành trưng bày bộ sưu tập. Đó là điều rất đặc biệt mà chúng tôi kỉ niệm ở bảo tàng”.
Nhật Bản được Henri Cernuschi chọn làm điểm khởi đầu chuyến chu du bởi quần đảo mở cửa giao thương với thế giới ngay từ năm 1854, xã hội chuyển mình mạnh mẽ nhờ những biện pháp cải cách dưới thời Minh Trị (Meiji). Henri Cernuschi còn đi trước thời đại khi ông sưu tập đồ đồng sau khi khám phá ra quy mô và trình độ đúc đồng của các nghệ nhân Nhật Bản trong khi giới nghệ sĩ châu Âu vẫn đang say sưa với sơn mài và gốm sứ.
Trong bộ sưu tập của ông có bức tượng Phật Amida cao lớn, sau này trở thành một trong những vật chủ đạo hình thành bảo tàng và hiện được trưng bày ở tầng hai. Bức tượng phản ánh kĩ năng điêu luyện của các nhà đúc đồng Nhật Bản, cũng như sự quan tâm của Cernuschi đến nghệ thuật Phật giáo. Rất nhiều đồ vật, tranh, sách liên quan đến Phật giáo được ông bổ sung trong bộ sưu tập sau này.
Khi đến Bắc Kinh, tiếp xúc với những người buôn đồ cổ ở phố Lưu Li Xưởng (Liulichang), Cernuschi quan tâm đến quá trình phát triển nghệ thuật đúc đồng của Trung Quốc. Không có đủ hiện vật để bắt đầu từ nguồn cội, dù ông có một đồ vật có từ thế kỷ II-TCN, nhà sưu tập Pháp nhấn mạnh đến cách sưu tập của người Trung Quốc, những ký tự được khắc trên đồ đồng hoặc tài liệu liên quan đến đồ đồng cổ dù ông không hiểu chữ Hoa.
1.800 đồ vật trong Bộ sưu tập Việt NamBốn gian phòng triển lãm mới chỉ trưng bày được một phần rất nhỏ hiện vật được lưu trong kho của bảo tàng. Henri Cernuschi không đến Việt Nam nhưng bộ sưu tập Việt Nam trong bảo tàng có đến 1.800 đồ vật, chiếm 10% số đồ vật của bảo tàng, trải dài 2500 năm, từ thế kỷ V-TCN. Theo giám đốc Eric Lefebvre, bộ sưu tập Việt Nam không ngừng được mở rộng.
“Henri Cernuschi không thăm được hết các nước châu Á. Bộ sưu tập của ông chủ yếu liên quan đến Nhật Bản và Trung Quốc. Sau khi ông qua đời, bảo tàng tiếp tục hoạt động và mở rộng các bộ sưu tập. Đặc biệt là trong những năm 1920-1930, bộ sưu tập Việt Nam được hình thành, chủ yếu liên quan đến Việt Nam cổ đại nhờ những công trình khảo cổ được tiến hành ở Việt Nam trong giai đoạn đó.
Trước hết là những tác phẩm có từ thời văn minh Đông Sơn, cho thấy sự xuất hiện thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam và những tác phẩm giai đoạn này. Tiếp theo chúng tôi cũng có những tác phẩm thời Giao Chỉ. Cuối cùng, công việc trong những năm gần đây của chúng tôi là kết nối giữa cổ đạivới hiện đại. Chúng tôi thắt chặt quan hệ với đồng nghiệp Việt Nam, các bảo tàng ở Việt Nam cũng như các nghệ sĩ Việt”.
Theo trang web của bảo tàng, khoảng 100 đồ vật đầu tiên bằng đá, đồng và gốm liên quan đến Việt Nam được mua ngay năm 1927 từ doanh nhân Victor Demange ở Hà Nội và đam mê khảo cổ. Đến năm 1933, bảo tàng nhận được khoảng 50 đồ vật có niên đại thế kỷ X đến thể kỷ XV từ bộ sưu tập của doanh nhân Bỉ Clément Huet. Đến năm 1955, một chiếc vạc ba chân trong bộ sưu tập của Albert Pouyanne, thanh tra công chính Đông Dương trong thập niên 1920, được đưa vào bảo tàng.
Sau đó, bộ sưu tập Việt Nam của bảo tàng Cernuschi được bổ sung từ ba chương trình khảo cổ trong những năm 1934-1939 của nhà khảo cổ Thụy Điển Olov Janse (1892-1985) kết hợp với Trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO). Hai chương trình đầu tiên (từ tháng 10/1934 - 05/1935 và từ tháng 10/1936 - 01/1938) do Hiệp hội Các Bảo tàng của thành phố Paris, các bảo tàng quốc gia và bộ Giáo Dục Pháp đồng tài trợ. Đồ vật tìm được được chia chủ yếu cho các Bảo tàng Cernuschi và Bảo tàng Guimet ở Pháp, Bảo tàng Louis Finot ở Hà Nội (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam).
Đồ đồng và gốm sứ là hai lĩnh vực chủ đạo trong bộ sưu tập Việt Nam. Tuy nhiên, những năm gần đây, bảo tàng Cernuschi hướng đến nhiều lĩnh vực khác, theo giải thích của giám đốc Eric Lefebvre :
“Hiện giờ chúng tôi quan tâm đến nghệ thuật Việt Nam trong nhiều lĩnh vực. Dĩ nhiên chúng tôi vẫn quan tâm đến nghệ thuật cổ của Việt Nam nhưng tập trung nhiều hơn vào nghệ thuật hiện đại, đặc biệt là đến những nghệ sĩ đã sống giữa Việt Nam và Pháp.
Chúng tôi cũng được trao tặng rất nhiều. Món quà đặc biệt gần đây nhất là từ gia đình họa sĩ Mai Thứ, đã giúp mảng hội họa hiện đại của bảo tàng phong phú hơn. Đó là những tác phẩm được vẽ trên lụa, những bản thảo trên giấy mới được tặng lại cho bảo tàng.
Để giới thiệu những bộ sưu tập này tới công chúng, chúng tôi thường tổ chức các buổi treo tranh bởi vì những tác phẩm này thường rất dễ hỏng nếu liên tục trưng bày. Ví dụ vào tháng 12/2023, chúng tôi sẽ triển lãm về phụ nữ Việt Nam trong nghệ thuật hiện đại. Sẽ có rất nhiều tranh của Nguyễn Phan Chánh, vì nghệ sĩ là gương mặt chính của đợt treo tranh kéo dài từ cuối năm 2023 đến những tuần đầu năm 2024.
Năm 2024, chúng tôi sẽ tổ chức một triển lãm lớn dành riêng cho ba họa sĩ Việt Nam là Lê Phổ, Mai Thứ và Vũ Cao Đàm”.
Sau gần một thế kỷ “lưu lạc” tại Pháp, ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” đã trở về Việt Nam vào tháng 11/2023, sau một năm đấu giá và hoàn tất các thủ tục thông quan. Thành công này khẳng định sự hợp tác giữa Nhà nước và lĩnh vực tư để hồi hương cổ vật Việt lưu lạc khắp thế giới. Quá trình hợp tác được khởi động cách nay gần hai thập niên nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một chiến lược cụ thể.
Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà báo - nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc cho rằng “trong chừng mực nào đó, sự hợp tác giữa Nhà nước với cá nhân đã được mở ra từ Luật Di sản”. Luật được Quốc Hội Việt Nam thông qua ngày 29/06/2001 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2002.
“Trong luật này, lần đầu tiên chúng ta tôn trọng những quyền sở hữu cá nhân đối với cổ vật, tất nhiên sẽ trừ ràng buộc về một số chế tài nhất định, nhưng về căn bản là ủng hộ, kể cả việc xây dựng những bộ sưu tập hoặc là mở bảo tàng đều đã được quy định trong pháp luật. Và xu thế xã hội hóa, tức là dùng nguồn lực trong dân, để thực hiện việc này, cũng đã có. Cho nên tôi cho đó là cơ sơ pháp lý thuận lợi cho việc triển khai. Gần đây chẳng hạn, một số món được xếp vào đẳng cấp cao nhất trong hệ thống bảo vật quốc gia nằm trong bộ sưu tập tư nhân”.
Đến cuối năm 2022, Việt Nam có thêm 27 bảo vật quốc gia, nâng tổng số lên thành 250, theo số liệu được trang Lao Động trích dẫn ngày 10/03/2023, trong đó có nhiều bảo vật quốc gia được giữ trong các bộ sưu tập cá nhân. Điều này khẳng định một lần nữa vai trò của tư nhân trong việc sưu tập cổ vật và hồi hương về Việt Nam như trường hợp ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” được nhà sưu tập Nguyễn Thế Hồng ở Bắc Ninh mua từ nhà đấu giá Pháp Millon, với giá 6,1 triệu euro (hơn 153 tỷ đồng). Nhà báo - nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc nhận định :
“Tôi cho rằng sự kiện vừa rồi đã đánh thức chúng ta một trách nhiệm trong vấn đề thu hồi từng bước, một cách bài bản, một cách hợp pháp, một cách phù hợp với tập quán quốc tế và đặc biệt là khai thác được nguồn lực trong dân và chúng ta có thể thu hồi được những tài sản đó. Việc này không hề xa lạ. Tôi thấy nhiều quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc chẳng hạn, cũng là một quốc gia rất giầu di sản, cũng chịu rất nhiều thất thoát di sản. Họ có những đường đi nước bước rất bài bản. Họ thu hồi một cách rất thành công rất nhiều cổ vật của Trung Quốc ở nước ngoài, trong đó có cả cổ vật ở Việt Nam thông qua việc mua bán đồ cổ”.
Hoạt động sôi nổi của các hội sưu tầm đổ cổ, được thành lập ngay từ những năm 2000 trên khắp cả nước bắt đầu tư Hội Sưu tầm - Nghiên cứu gốm và cổ vật Thăng Long - Hà Nội ra đời năm 1999, trở thành một “cánh tay nối dài” của ngành di sản văn hóa nước nhà, theo nhận định của nguyên giám đốc bảo tàng Lịch sử Việt Nam Phạm Quốc Quân, được trang Pháp Luật trích ngày 10/03/2023. Sự kết hợp Nhà nước và nhân dân, huy động nguồn lực xã hội vào việc sưu tầm, bảo quản cổ vật được nhà sử học Dương Trung Quốc đánh giá “là một yếu tố tích cực”.
“Hiện nay, khi kinh tế trong nước đã khá hơn một chút thì đương nhiên người ta quan tâm đến văn hóa. Không ít “đại gia”, những người có tiền của, cũng tìm cách thu hồi về, hiểu trên cả hai phương diện, đưa cổ vật của người Việt Nam về Việt Nam, nhưng thứ hai, đó cũng là một phần tài sản của họ - một tài sản rất có giá trị bền vững, lâu dài. Cho nên ở đây cần phải hài hòa như thế nào lợi ích của những nhà sưu tập ấy với việc di sản đó làm tăng giá trị của nền văn hóa đất nước, của di sản của đất nước. Đấy là bài toán mà chúng ta cũng phải giải cho minh bạch”.
Sau hơn 20 năm được ban hành và hơn 10 năm được sửa đổi, bổ sung, Luật Di sản Văn hóa vẫn còn có nhiều hạn chế, bất cập do một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Báo Điện tử Chính phủ ngày 11/10/2023 nêu ví dụ “Luật Di sản văn hóa hiện hành chưa quy định nội dung các hoạt động, cơ chế để thu hút các nguồn lực của xã hội, huy động được sự đóng góp, tham gia của tổ chức, cá nhân trong công tác bảo vệ, khai thác, sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hóa…”, “chưa có các quy định về chuyển quyền sở hữu đối với bảo tàng ngoài công lập đưa di vật, cổ vật có nguồn gốc Việt Nam từ nước ngoài về nước… đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản ở trong nước”.
Do đó cần phải sửa đổi Luật Di sản văn hóa. Theo dự kiến, Luật (sửa đổi) sẽ được trình Quốc Hội thông qua năm 2024, tập trung sửa đổi ba nhóm chính sách lớn, trong đó có liên quan đến “hoàn thiện các quy định về huy động nguồn lực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”.
Cần điều tra, thống kê số cổ vật lưu lạc ở nước ngoàiTuy nhiên, theo nhà báo-nhà sử học Dương Trung Quốc, ngoài hoàn thiện Luật, cần có một chiến lược bài bản, lâu dài để tìm hiểu, nghiên cứu, thống kê số cổ vật Việt Nam lưu lạc ở nước ngoài. Hiện làm việc cho Hội đồng Di sản Quốc gia, ông Dương Trung Quốc tiếp xúc với nhiều hội đoàn, cơ quan và cá nhân ở nước ngoài. Ông đã được xem nhiều bộ sưu tập cá nhân. Một số người nung nấu ý định đưa bộ sưu tập về trưng bày trong nước nhưng chưa có kênh nào phù hợp. Cho nên, theo ông, bộ Ngoại Giao và bộ Văn Hóa Việt Nam nên hợp tác để có được một chủ trương nhất quán.
“Số liệu rất nhiều ở bên ngoài nên cần có một cơ chế, có thể thành quỹ hay không thì tôi chưa bàn đến, nhưng ít nhất việc đầu tiên, như cá nhân tôi cũng đã có kiến nghị với cơ quan chuyên nhiệm, là phải tiến hành một cuộc điều tra hết sức khách quan, qua những hồ sơ, những biến cố lịch sử kể cả qua cộng đồng Việt Nam sống ở nước ngoài, để xem tài sản nằm ở đâu.
Nhưng cần có những cuộc điều tra thật bài bản để xem hiện nay có bao nhiêu hiện vật ra nước ngoài, nằm ở đâu, trong hoàn cảnh nào, để sau này có thể vận dụng pháp lý. Chúng ta đã thấy trên thế giới, về mặt pháp lý, nhiều quốc gia phải trả lại những cổ vật của các nước mà do xuất cảnh một cách không hợp pháp hoặc để bày tỏ tình hữu nghị hoặc quan tâm đến hoạt động văn hóa giữa các quốc gia.
Về việc đó, tôi nghĩ là nếu trên cơ sở chúng ta có được những dữ liệu đầy đủ thì việc thu hồi có thể được tiến hành một cách bài bản, phù hợp với pháp luật, phù hợp với tập quán quốc tế, đồng thời cũng tăng cường quan hệ với các nước có những báu vật của Việt Nam. Nhưng đồng thời cũng phải có chương trình đặc biệt về mặt tài chính để bên cạnh trách nhiệm của Nhà nướccòncó sự huy động của người dân, có những chính sách khuyến khích, khích lệ hoặc ưu đãi cho những việc làm này thuận lợi hơn, khích lệ người tham gia vào công việc này”.
Hợp tác với các nước bảo quản nhiều cổ vật ViệtQuá trình hồi hương ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” thời Minh Mạng là một trường hợp cụ thể thể hiện cho sự phối hợp giữa lĩnh vực công và tư ở Việt Nam, giữa Nhà nước Việt Nam và chính phủ Pháp để một báu vật có ý nghĩa lịch sử đối với Việt Nam được trở về cố hương. Nhà báo-nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng cần nhân rộng ví dụ này :
“Hiện nay chúng ta có quan hệ khá tốt với nước Pháp hay những quốc gia có quan hệ lịch sử với chúng ta mà có khả năng là các hiện vật ở trong nước được đưa đến như Nhật Bản, Hoa Kỳ. Gần đây, chúng tôi được tham dự lễ trao trả một số hiện vật của cá nhân người Mỹ. Họ thấy rằng họ không sở hữu và muốn chuyển trả cho Việt Nam. Buổi lễ được tổ chức hết sức trang trọng ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Hoặc sự hợp tác giữa Việt Nam và Pháp trong vấn đề công bố, thông tin, trao đổi lưu trữ về những cuộc trưng bày ở bảo tàng. Tôi cho đó là những biểu tượng ban đầu”.
Pháp là nơi lưu giữ rất nhiều cổ vật Việt Nam trong các bảo tàng công hoặc các bộ sưu tập tư nhân do mối quan hệ lịch sử giữa hai nước. Ví dụ tại Bảo tàng Monnaie de Paris, có bộ sưu tập tiền vàng, bạc nén được đúc từ những năm 1820-1841, gồm 150 thỏi vàng và tiền vàng, cùng với bốn nén bạc. Các Bộ sưu tập Việt Nam của Bảo tàng Cernuschi có đến 1.800 đồ vật, trong đó đại đa số thu được từ các chương trình khảo cổ tại Việt Nam thời Pháp thuộc. Bảo tàng Nghệ thuật châu Á Guimet cũng có rất nhiều cổ vật Việt Nam… Phía Việt Nam có thể hợp tác để khai thác số liệu cụ thể, đầy đủ về cổ vật Việt Nam của những cơ quan này.
“Tất nhiên đối với Nhà nước thì ưu tiên những vấn đề tạm gọi là “vĩ mô” như quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia khác nhau trong bối cảnh này, hành xử như nào cho thuận. Nhưng quan trọng nhất là chúng ta phải dựa trên pháp luật quốc tế, tập quán quốc tế để thực hiện những mục tiêu đó. Muốn thực hiện thì phải có bài bản : Trước hết ta mất cái gì ? Mất trong hoàn cảnh nào ? Liệu chúng ta có được đòi lại hay không ? Hay chúng ta phải tìm cách mua lại, chuộc lại ? Hay có thể qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó có vai trò của những nhà sưu tập, của người dân ? Tôi cho đấy là vấn đề cấp thiết đặt ra trong bối cảnh này.
Tôi rất tin là sau vụ việc này(ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” trở về Việt Nam), nhất là vào thời điểm này, phía Việt Nam nói rất nhiều đến văn hóa, đến di sản. Đây cũng là cơ hội để xây dựng những hệ thống pháp lý, hệ thống chính sách, đồng thời thúc đẩy những động thái liên quan đến quan hệ quốc tế để trước hết là xem có gì ở nước ngoài, sau đó là từng bước thu hồi một cách hợp pháp, hợp lý. Tôi cho đó là tiến trình phải diễn ra. Còn rõ ràng là sau việc này, dư luận xã hội cũng đặt ra vấn đề trách nhiệm của Nhà nước”.
Cộng đồng Pháp ngữ, ngôn ngữ được nói nhiều thứ 5 trên thế giới, ở 88 nước, từ giờ có « một ngôi nhà chung ». Trung tâm tiếng Pháp quốc tế (Cité internationale de la langue française) được khánh thành ngày 30/10/2023 nằm tại lâu đài Villers-Cotterêts, đúng nơi cách đây gần 500 năm, vua François I ký sắc lệnh sử dụng tiếng Pháp làm ngôn ngữ hành chính vào tháng 08/1539.
Tại lễ khai mạc, tổng thống Macron nhấn mạnh đến sự độc đáo của dự án : Chưa một tổng thống Pháp nào lại đặt một công trình có tầm cỡ lớn ở ngoài Paris (tỉnh Aisne, miền bắc Pháp). La Cité internationale de la langue française không phải là một bảo tàng là một trung tâm đa năng vừa bảo tồn bản sắc tiếng Pháp, vừa là nơi giao lưu, khuyến khích sáng tạo và là sân khấu cho tất cả mọi người.
Bà Marie Lavandier, chủ tịch Trung tâm Di tích Quốc gia Pháp (Centre des Monuments nationaux) và ông Paul Rondin, giám đốc Trung tâm tiếng Pháp Quốc tế (Cité internationale de la langue française) dành cho RFI Tiếng Việt buổi phỏng vấn nhân lễ khánh thành Trung tâm tại Villers-Cotterêts ngày 30/10/2023.
RFI : Trung tâm tiếng Pháp quốc tế chính thức được khánh thành tại lâu đài Villers-Cotterêts. Là chủ tịch Trung tâm Di tích Quốc gia Pháp, xin bà giải thích về lựa chọn này !
Bà Marie Lavandier : Tổng thống Emmanuel Macron, trước cả khi ông được bầu làm tổng thống, đã đến lâu đài Villers-Cotterêts năm 2017. Lâu đài là một địa điểm rất quan trọng vì vào năm 1539, vua François I - người đã cho xây dựng lâu đài từ năm 1532 - đã ký chỉ dụ bắt buộc dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ duy nhất trong hành chính và tư pháp trên cả nước.
Địa điểm mang ý nghĩa biểu tượng cao này cũng có quá khứ khá thăng trầm. Vào thế kỷ 16, đây là một lâu đài hoàng gia, xây theo kiến trúc Phục Hưng tuyệt đẹp, rồi được trùng tu, mở rộng vào thế kỷ 17 và 18. Sau đó là thời kỳ đen tối cho lâu đài bởi vì lâu đài trở thành kho từ thiện sau cuộc Cách mạng Pháp, rồi nhà dưỡng lão và bị bỏ hoang hoàn toàn kể từ năm 2014.
Năm 2018, trong bài diễn văn quan trọng về tiếng Pháp tại Viện Pháp, tổng thống Macron đã muốn biến lâu đài đổ nát thành Trung tâm tiếng Pháp Quốc tế - Cité internationale de la langue française. Ông giao dự án khá độc đáo này cho Trung tâm Di tích Quốc gia (Centre des Monuments nationaux). Công trường có quy mô lớn, kéo dài gần 4 năm, đã giúp hồi sinh lâu đài lịch sử, và nhất là thổi hồn cho lâu đài thành Trung tâm tiếng Pháp Quốc tế. Đây là nơi vinh danh một tiếng nói được chia sẻ, chu du rất nhiều, một ngôn ngữ hiện có hơn 320 triệu người sử dụng trên thế giới, vẫn không ngừng sáng tạo, và tôi xin trích một câu của Glissant, một ngôn ngữ « không thể hình thành mà không phối hợp với những ngôn ngữ khác ».
Đây cũng là một ngôi nhà chung, nơi kết nối văn hóa, đa ngành dành cho tất cả những người trên thế giới nghĩ, nói, đọc, viết, sáng tạo, đấu tranh bằng tiếng Pháp, ngôn ngữ chung của chúng ta. Đây cũng là địa điểm quốc tế, mở cửa đón tất cả những người không nói tiếng Pháp muốn đến thăm lâu đài bởi vì những hướng dẫn ở đây được viết bằng 8 ngôn ngữ, trong đó có ngôn ngữ ký hiệu.
RFI : Trong những năm gần đây, Pháp có rất nhiều dự án trùng tu di tích xuống cấp. Dự án hồi sinh lâu đài Villers-Cotterêts và biến thành Trung tâm tiếng Pháp quốc tế liên kết với nhau như thế nào ?
Bà Marie Lavandier : Trung tâm Di sản Quốc gia là một cơ quan công, trực thuộc bộ Văn Hóa, quản lý 110 công trình thuộc sở hữu của Nhà nước. Trung tâm có nhiệm vụ cải tạo, trùng tu, bảo tồn những công trình đó và mở cửa đón công chúng qua việc tạo những chức năng khác nhau, ví dụ đúng với chức năng của công trình đó hoặc liên quan đến văn hóa, di sản. Chúng ta có thể thăm những lâu đài, nhà thờ cổ kính, Khải Hoàn Môn, nhà nguyện Sainte-Chapelle ở Paris hay Mont Saint-Michel… nhưng đôi khi người ta cũng tạo cách sử dụng mới cho những công trình đó, có thể là bảo tàng hoặc địa diểm tiếp các hiệp hội chẳng hạn.
Đây là điều được áp dụng với Trung tâm tiếng Pháp Quốc tế này. Công trình có hai nhiệm vụ : bảo tồn một di sản và chia sẻ rộng rãi nhất có thể di sản đó, theo đúng chủ trương chính sách bảo tồn di sản của Pháp. Bảo tồn ở đây được hiểu theo đúng nghĩa đen và theo luật pháp, kể cả đối với cả di sản đôi khi không được bảo vệ. Những công trình tôn giáo nhỏ ở Pháp đã nhận được rất nhiều thông báo về trùng tu, trong đó có một thông báo gần đây của tổng thống Macron.
Có thể thấy những cố gắng lớn, liên tục tại một nước như Pháp, nơi có rất nhiều di tích lịch sử quan trọng ở hầu hết mỗi góc phố tại nhiều thành phố, hoặc gần như ở mỗi ngôi làng, đặc biệt là những công trình liên quan đến tôn giáo. Đây là công việc lâu dài. Tuy nhiên, việc bảo tồn công trình lịch sử tại Pháp luôn có những nỗ lực thường trực.
RFI : Villers-Cotterêts là một thành phố nhỏ, không có nhiều khách du lịch. Việc lâu đàiVillers-Cotterêts được hồi sinh, Trung tâm tiếng Pháp Quốc tế được thành lập tại đây có thể giúp cải thiện ngành du lịch của địa phương ?
Bà Marie Lavandier : Đặc thù của dự án này là kết hợp những thách thức ở các cấp khác nhau nhưng liên quan đến nhau. Trước tiên là những thách thức ở cấp vùng, ví dụ ở đây là một thành phố nhỏ đã trải qua nhiều thời kỳ khó khăn trong những thập niên qua và đang vực dậy cùng với Trung tâm tiếng Pháp Quốc tế, nếu tôi dám nói như vậy.
Yếu tố lãnh thổ này rất quan trọng và phải nghĩ đến. Không tiến hành đơn phương mà phải theo tinh thần tập thể mà hiện giờ chúng tôi đang trong thời kỳ đầu hợp tác. Các cơ quan, đoàn hội địa phương tham gia rất tích cực vào quá trình này. Một trong những mục tiêu đặt ra là thay đổi dần dần vùng đất này về mặt du lịch. Nơi chúng ta đang đứng không phải là vùng đất vô danh, mà là một lâu đài quan trọng, nằm giữa vùng Valois lịch sử có những cánh rừng tuyệt đẹp và nhiều lâu đài lớn. Vì vậy, Trung tâm tiếng Pháp Quốc tế sẽ góp phần định hình, tăng cường hoạt động du lịch cho vùng.
Tiếp theo là tầm cỡ quốc gia mà chúng ta đã nêu ở trên, rồi tầm cỡ quốc tế của Trung tâm do liên quan đến quy mô của tiếng Pháp, đến tham vọng phát triển nghệ thuật và du lịch ở cấp quốc tế.
RFI : Paul Rondin, ông là giám đốc Trung tâm tiếng Pháp Quốc tế, xin ông cho biết khách tham quan có thể khám phá những gì ở Trung tâm này ?
Ông Paul Rondin : Trung tâm mở cửa cho tất cả những người nói tiếng Pháp trên toàn thế giới và cả những người yêu tiếng Pháp, những người muốn khám phá một ngôn ngữ. Điểm vô cùng thú vị trong dự án này, đó là tiếng nói - một sản phẩm phi vật thể - của các nền văn hóa Pháp ngữ. Người ta có thể tham quan chúng và bước vào hành trình phiêu lưu.
Tôi thích dùng cụm từ « vui chơi giải trí », thậm chí là « một lễ hội » của từ ngữ, của tiếng nói, của các trò chơi. Có nghĩa là vừa học vừa chơi, vừa học vừa giải trí. Một hành trình cố định sẽ đưa chúng ta chu du, kể với chúng ta về những từ tiếng Pháp được du nhập vào ngôn ngữ nước ngoài hoặc những từ vay mượn trong tiếng Pháp để cùng cùng phát triển phong phú hơn.
Ngoài ra còn có sự biểu thị của những ngôn ngữ này. Đó chính là ngôn ngữ kí hiệu mà đôi khi chúng ta vẫn quên, rồi ngôn ngữ cơ thể. Tiếp theo còn có những nghệ sĩ, ca sĩ, ca sĩ nhạc rap, nghệ sĩ sân khấu, diễn giả, nhà văn sẽ đến biểu diễn bởi vì ngôn ngữ rất sống động, cần phải được nhìn, được nghe. Nghe một tiếng nói là điều quan trọng mà chúng ta cần nhấn mạnh, cần phục hồi theo một cách nào đó, có nghĩa là tập trung vào chất lượng nghe một ngôn ngữ.
RFI : Trong suốt thời gian trùng tu lâu đài, Trung tâm đã chuẩn bị các bộ sưu tập và thiết bị như thế nào để giới thiệu tiếng Pháp đến với thế giới ?
Ông Paul Rondin : Cả một cơ sở được thiết kế hoàn toàn mới, chưa hề tồn tại trước đó, mở cửa từ hôm nay (30/10/2023). Thiết kế này được dành riêng cho Trung tâm tiếng Pháp Quốc tế với những thiết bị tương tác, nhập vai. Người xem bước vào không gian-thời gian trong đó họ có thể đắm chìm và chơi với các thiết bị được thiết kế riêng cho Trung tâm, như là thư viện thần kỳ, vòm cầu lớn nơi có thể thấy các từ di chuyển, tách rời rồi hợp lại thành từ xuyên thời gian và xuyên thế giới. Ngoài ra, còn có nhiều đồ vật trưng bày được một số bảo tàng lớn cho mượn như bảo tàng Louvre, Centre Pompidou… để minh họa rõ hơn.
RFI : Trung tâm còn là nơi lưu trú cho các nghệ sĩ, tạo điều kiện cho sáng tác và trình diễn. Việc này được thực hiện như nào ?
Ông Paul Rondin : Nói chính xác đây là một trung tâm chứ không phải là bảo tàng, không phải chỉ là lâu đài hay một thiết bị văn hóa mà còn là nơi lưu trú. Trung tâm luôn có 12 « cơ sở sáng tác » có quy mô lớn nhỏ khác nhau, có thể là một tháp nhỏ để một nhà văn hoặc một tác giả đến sáng tác trong thời gian cần thiết hoặc một sân khấu lớn cho một đoàn kịch, một đoàn múa hoặc một nhóm nhạc rock luôn mở rộng cửa ngay từ bây giờ cho các nghệ sĩ, cũng như các nhà nghiên cứu, sinh viên nếu họ muốn, để thông qua tiếng Pháp, họ có thể sáng tạo, nghiên cứu, tìm kiếm và giới thiệu, trình diễn trước công chúng tác phẩm của họ hoặc những khám phá của họ.
RFI : Ở một số nước, việc giảng dạy tiếng Pháp có xu hướng giảm, ví dụ ở Việt Nam. Liệu Trung tâm sẽ có những dự án hợp tác để khích lệ đam mê với tiếng Pháp ?
Ông Paul Rondin : Cần phải nhấn mạnh đây là một Trung tâm quốc tế, qua đó chúng tôi muốn nói rằng trung tâm là một công cụ, một bến đỗ tiếng Pháp cho tất cả những ai nói, yêu và quan tâm đến tiếng Pháp trên khắp thế giới. Với chức năng đó, Trung tâm không chỉ thu hút, tiếp đón nồng hậu tất cả những người quan tâm đến tiếng Pháp mà còn tiến về phía họ, có nghĩa là thiết kế những chương trình với các nghệ sĩ ở Việt Nam, với những người học tiếng Pháp và cả những người yêu tiếng Pháp.
Chúng ta đừng bao giờ quên một điều quan trọng rằng đây không phải là tính toán chính trị, ngoại giao hay địa-chính trị mà là tài sản văn hóa, theo đúng nghĩa là giúp chúng ta chia sẻ, hiểu nhau. Vì thế không có gì hạn chế quan hệ đối tác của Trung tâm với bất kỳ ai.
RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn bà Marie Lavandier, chủ tịch Trung tâm Di tích Quốc gia (Centre des Monuments nationaux) và ông Paul Rondin, giám đốc Trung tâm tiếng Pháp Quốc tế (Cité internationale de la langue française).
From the publisher's feed
Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners