
Sign up to save your podcasts
Or


Với hơn một triệu người nghiệp dư, câu cá là một hoạt động giải trí thể thao phổ biến ở Pháp. Trên khúc sông Seine ở thủ đô Paris, những người đi câu, được ví như “những người lính gác của dòng sông”, đã trở nên quen thuộc với dòng nước và các loại cá, cũng như tình trạng ô nhiễm của con sông lãng mạn nhất thế giới.
Tại Pháp, câu cá không được coi là một hoạt động giải trí mãi cho đến thế giữa thế kỷ 19. Trước đó, vào những năm 1740 – 1820, câu cá là hoạt động chỉ để phục vụ mục đích đa dạng hóa nguồn thức ăn, và quyền đánh bắt cá trên các sông ngòi thuộc về hoàng gia hay lãnh chúa ở các địa phương. Luận án tiến sĩ của giáo viên lịch sử địa lý Jean François Malange về lịch sử đánh bắt cá ở Pháp chỉ ra rằng, lúc đó, những nông dân, vì muốn cải thiện bữa ăn, tự ý đánh bắt cá trên sông mà không được cho phép đã bị xử phạt.
Đến những năm 1890, các cảnh báo về nguồn cá nước ngọt ngày càng cạn kiệt được đưa ra, dẫn đến sự ra đời của nhiều hiệp hội đánh bắt cá. Mục đích của các hiệp hội này chủ yếu là để bảo vệ dòng sông, ngăn nạn đánh bắt cá trộm và ngăn tình trạng nguồn cá sông suy giảm. Họ đánh bắt, tiêu diệt những loài có hại. Để làm được điều này, những người đi câu, đánh bắt cá trong các hiệp hội đó hầu hết đều được phổ biến kiến thức về các loài cá, môi trường thuỷ sinh, nước…
Những bản đồ thống kê cá theo khu vực đầu tiên là do chính những người đi câu lập ra thông qua quan sát thực địa. Năm 1904, ước tính trên toàn nước Pháp có đến hơn 50 000 người là thành viên của các hiệp hội đánh bắt cá, cùng nhau bảo vệ dòng sông. Nhiều cuộc thi câu cá cũng đã được tổ chức. Vào những năm 1960, những người câu cá nghiệp dư ngày càng gia tăng thậm chí, số lượng còn nhiều hơn những người đánh cá chuyên nghiệp.
"Những lính gác" của dòng sôngNhững con sông trở thành không gian giải trí và cần được bảo vệ, những người đi “câu cá trở thành lính gác của các con sông”. Họ báo cáo trình trạng ô nhiễm, gửi đơn khiếu nại lên chính quyền để tố cáo các hành vi vi phạm. Những người câu cá thậm chí còn trở thành nhóm gây áp lực đối với Nhà nước và các nhà công nghiệp vào nửa đầu thế kỉ 20, trong các vụ tràn dầu. Từ những năm 1980, có thể nói rằng câu cá mang tính nghệ thuật và đạo đức hơn, khi xu hướng đi câu “no kill” – không tiêu thụ, không giết cá, được ưa chuộng. Họ thả lại cá đánh bắt được xuống nước một cách có hệ thống. Các thiết bị câu cá cũng được đầu tư, cải tiến hơn. Đi câu trở thành một cách để trải nghiệm, gần với thiên nhiên, ngắm hoàng hôn buổi chiều tà, hay quan sát các loài động vật quý hiếm.
Ngày nay, câu cá là một hoạt động giải trí phố biến trên toàn nước Pháp, với hơn 1,5 triệu người được cấp phép đi câu tại các vùng nước ngọt (số liệu từ 2022). Tại những thành phố lớn có sông chảy qua, như ở sông Seine của thủ đô Paris, không khó để bắt gặp những người đi câu cá mỗi buổi chiều xuống. Daniel đã có kinh nghiệm từ 15 năm đi câu, thông thường, mỗi lần mang cần câu ra ngoài, ông đều chọn một địa điểm câu mới : “Tôi đang đợi, đợi xem có con cá nào quan tâm đến mồi mà tôi làm ra, rồi cắn nó. Cần câu rất nhạy cảm, khi dây câu được kéo căng như vậy, lưỡi câu chạm đáy sông, tôi có cảm tưởng như là có thể nhìn được đáy sông. Ví dụ như chỗ này, đáy sông hơi cứng, chỗ này thì mềm, có thể là bùn. Điều thú vị ở sông Seine đó là không ai biết có thể bắt được loại cá nào. Tôi biết hết các loài cá, nhưng không biết hôm nay có thể bắt được cá pecca (perche, cá vược hay cá chó (brochet), giống như là đánh xổ số vậy.
Không chỉ có sở thích câu cá, ông Daniel cũng tự mình làm ra những mồi câu giả, bằng gỗ và bằng nhựa, dưới hình dáng những con cá nhỏ. “Những con cá giả này khiến cá bị thu hút, nghĩ là cá thật và săn lùng chúng, rồi mắc bẫy. Cách mà tôi câu có thể gọi là “săn cá”, tức là lúc nào cũng di chuyển, ném lưỡi câu ra xa, rồi đi dụ cá, nếu không có con cá nào hứng thú với mồi câu, thì di chuyển đi chỗ khác, thay đổi vị trí, dưới chân cầu chẳng hạn. Tôi biết rằng khi trời mưa thì ở đây có nhiều cá đến”.
Câu cá là một đam mê, một sở thích mỗi khi có thời gian rảnh. Theo ông Daniel, cách đi săn cá, đứng trước sông phẳng lặng như tấm gương, đôi khi một vài gợn sóng khi tàu thuyền đi qua, là một khoảnh khắc để giải tỏa tất cả những áp lực sau một ngày dài. Ông nói :“Tôi không thấy điều gì có thể khiến đầu óc thư thả hơn. Khi đang câu cá, tôi có thể xả bỏ hết những áp lực, như một cách thanh lọc đầu óc, ngủ tốt hơn,…, ngay cả khi không bắt được con cá nào. Đi săn cá và tập trung vào việc đó, đúng là không có gì tốt hơn. Đối với tôi, đó là một niềm vui, ngay cả khi tôi biết là con cá đó chỉ chạm vào mồi, cắn vào đuôi cá. Con cá đó đề phòng, nhưng tôi biết là nó ở đó, nên phải hành động từ từ, thay mồi khác, thử cách khác, để cá có thời gian quyết định xem có định cắn vào mồi câu hay không. Hôm nay tôi đi thử một loại mồi câu mới mà tôi làm ra, tôi bắt được một con pecca và tôi rất hài lòng. Năm nay thời tiết khá thất thường, nên thường chỉ bắt được cá nhỏ”.
"Phần lớn người dân Paris không biết có cá ở sông Seine"Pháp hiện có khoảng 3600 Hiệp đội đánh cá tại các vùng nước ngọt. Nếu muốn đi câu, đánh bắt cá thì phải sở hữu giấy phép câu (thẻ đi câu), thuộc một hiệp hội câu cá nào đó, phải trả phí bảo vệ môi trường nước và phải được sự cho phép của chính quyền địa phương.
Tại Paris, hầu hết các khu vực ven sông Seine đều được phép câu cá, trừ port d’Arsenal. Có những loài cá không được phép đánh bắt tùy theo mùa, hoặc những loài cá hiếm. Cách đánh bắt cá bằng tay, sử dụng trứng cá, hay lươn thuỷ tinh, hay sử dụng lưới bị cấm vào mọi thời điểm và quanh năm.
Ông Bill François, thành viên của Hiệp hội đánh cá tại Paris và sông Seine, trả lời kênh truyền hình BFM, nhận định rằng “những người đi câu cá, thông qua thẻ đi câu, đóng góp tài chính cũng như niềm đam mê, lòng tình nguyện vào việc bảo vệ môi trường nước. Chúng tôi là những người duy nhất quan tâm đến điều này, phần lớn người dân Paris không biết rằng ở sông Seine có cá. Còn chúng tôi, ngày nào cũng có mặt bên bờ sông. Chúng tôi biết rằng có khoảng 30 loài cá.”
Đối với anh Fred, sống trong vùng Paris và cũng đam mê câu cá từ nhỏ, tham gia một số cuộc thi câu, nhưng đối với anh, câu cá trên hết là sự kích thích, bởi anh thường đi “săn” loại cá nheo châu Âu (Silurus). Trang bị ba cần câu khác nhau, ở bờ sông Seine, phía ngoại ô thành phố, chỉ chờ cá cắn câu, anh cho biết “những âm thanh mà mình nghe được ở điều kiện thường thì những tiếng động đó lớn gấp 10 lần đối với cá nheo, chúng rất nhạy cảm. Kích thước của cá nheo đôi khi có thể to hơn cả tôi”. Loại cá này thường ẩn trong bùn ở đáy sông hồ, dài trung bình khoảng 1,5 mét và nặng từ 50 đến 150 kg. Có những con cá khổng lồ, có kích thước lên đến 2,77 mét.
Xu hướng câu cá "no-kill" : bắt được rồi thả lại xuống nướcCũng giống như nhiều người đi câu nghiệp dư khác theo xu hướng – no kill, bắt nguồn từ Anh Quốc, cả anh Fred và ông Daniel, đều thích câu cá, nhưng bắt được, rồi lại thả xuống nước. Ông giải thích : “ Tôi không ăn cá ở sông Seine khi mà tôi biết được lịch sử của dòng sông ra sao. Nước bị ô nhiễm. Tận mắt tôi đã nhìn thấy những ống cống xả nước thải trực tiếp ra sông, rác, phân, túi nhựa,…vv... Chưa kể đến ô nhiễm từ thuốc kháng sinh, hay ô nhiễm do PCB. Tôi cũng tận mắt nhìn thấy những con tàu xả rác thẳng xuống sông khi đang di chuyển. Thật là kinh khủng ! Có những chỗ nước chuyển sang màu tím. Chất lượng nước sông, theo tôi, không hề cải thiện chút nào dù họ có nói trên truyền hình. Tôi vẫn nhìn thấy các ống xả nước thải trực tiếp ra sông. Có lần tôi đã đến tòa thị chính để báo cáo về tình trạng này, nhưng họ nói rằng các ống nước thải đó là do lắp đặt sai, và họ cũng không có giải pháp.”
Vào dịp Thế vận hội 2024, một số cuộc thi bơi sẽ được tổ chức trên sông Seine. Việc cải thiện chất lượng nước đang được cấp tốc thực hiện. Hồi tháng 8 vừa qua, một cuộc thi bơi thử trên sông Seine (gần cầu Alexandre III) đã bị hủy vì chất lượng nước không bảo đảm. Ông Daniel nói “tôi không biết vận động viên nào dám bơi ở sông Seine, nhưng nếu là tôi thì chắc chắn là không”.
Ven bờ sông Seine, đôi khi người ta bắt gặp những chiếc khăn ướt bẩn ở một góc nào đó. Ông Daniel cho biết đó là loại rác phổ biến nhất đối với người đi câu. Một số người “bắt” được loại rác này nhưng không vứt bỏ vào thùng rác.
Ngoài ra còn vô số các loại rác khác vẫn nằm ở đáy sông, thậm chí có những người đi câu rác thay vì câu cá. Hồi đầu năm nay, 02/2023, báo Le Parisien đưa tin một thanh niên ở vùng Hauts-de-Seine đã “câu” được một vỏ đạn có từ thời Đệ Nhất Thế Chiến, rồi mang về căn hộ, khiến cảnh sát phải sơ tán cả tòa nhà.
Xe bus Marcel, chiếc xe lội nước có nguồn gốc từ thời Đệ Nhị Thế Chiến, đã được tu sửa nâng cấp thành phương tiện vận chuyển du lịch mới lạ ở Paris. Được lắp thêm cánh quạt, vỏ thuyền, xe bus Marcel, do công ty Les Canards de Paris khai thác, đưa du khách khách đi dạo phố phường thủ đô Pháp, đồng thời, có thể lội nước, khám phá một khúc sông Seine.
Khoảng hơn chục người đứng xếp hàng dưới chân tháp Eiffel, chuẩn bị lên chiếc xe bus màu xanh lam, trang trí hình con vịt như ở Disneyland. Một số người tò mò đổ lại hỏi và muốn cùng lên xe nhưng chuyến này đã hết chỗ, phải chờ đến chuyến sau. Vào những ngày hè nóng nực, tất cả các cửa kính được mở ra, các áo phao cứu sinh màu đỏ chất trên nóc xe, điều này khiến hành khách có cảm giác đang ngồi trên một chiếc thuyền hơn là một chiếc xe buýt. Bà Marie-Claire, sống tại Paris và đã nhiều lần thấy chiếc xe bus đi qua, bà cho rằng ý tưởng “ngồi xe đi trên đường rồi sau đó lội xuống nước khá là ấn tượng”, nên đã đặt vé đi thử chiếc xe bus duy nhất của công ty du lịch Les Canards de Paris.
Khi hơn 20 chục khách đã ổn định chỗ ngồi, xe bắt đầu khởi hành. Hướng dẫn viên giới thiệu bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, chia sẻ những câu chuyện, lịch sử địa điểm mà xe đi qua : Trocadéro, cầu Alexandre III hay Khải Hoàn Môn, và nhất là không bỏ qua phần giới thiệu về chiếc xe bus đặc biệt này : “Quý vị có biết là chiếc xe bus này có một siêu năng lực và mọi người sẽ khám phá trong 40 phút nữa”, trước khi “lội xuống sông Seine” ở Boulogne Billancours, ngoại ô Paris.
“Marcel đi không nhanh lắm mẹ nhỉ”, một hành khách nhí trên xe nói. Được đặt tên là Marcel, chiếc xe bus lội nước phục vụ khách du lịch đầu tiên ở Paris dài 11 mét, rộng 2,5 mét vào cao 3,92 mét. Mũi xe tròn cho phép di chuyển với tốc độ 10km/h trên đường nhựa. Khi di chuyển xuống nước, bánh xe trở thành bánh lái, vỏ của xe bus được làm bằng nguyên liệu tượng tự như vỏ thuyền, chống thấm nước. Đồng sáng lập của Les Canards de Paris, ông Paul Michel giải thích : “Bánh lái của xe cho phép điều hướng khi di chuyển dưới nước, còn cánh quạt này cho phép xe di chuyển về phía trước. Điều thú vị với chiếc xe lội nước đó là bánh lái không quá to, nhưng ở phía đầu xe, chúng tôi cũng có hai bánh xe – bánh lái cùng kích thước, khi chúng tôi quay vô lăng, thì bánh xe cũng sẽ điều hướng, dễ điều khiển (manœuvrabilité). Marcel là chiếc xe mà bánh xe vừa cho phép di chuyển trên đường vừa giúp xe điều hướng như những chiếc thuyền dưới nước, đây là điều mà những phương tiện thông thường không thể làm được.”
Ý tưởng một chiếc xe lội nước ở Paris thực ra là đến từ Hoa Kỳ. Trong một chuyến du lịch đến Mỹ, nhà sáng lập Paul Michel đã có dịp đi thử và nhen nhóm ý định “tại sao một chiếc xe như vậy lại không có ở Pháp”. Cùng với người bạn Philippe Maillet, ông Paul đã thành lập Les Canards de Paris, chính thức đi vào hoạt động từ năm 2021. Thời điểm này là một thách thức lớn đối với một công ty du lịch, bởi lúc đó lượng du khách không nhiều và hai nhà sáng lập phải tự làm mọi thứ : học lái tàu, lau dọn, bảo trì xe, hướng dẫn viên, làm quảng cáo, xin giấy phép… Trên thực tế, điều khó khăn nhất, theo ông Paul, chính là chặng đường 6 năm chật vật xin giấy phép lưu hành cho chiếc xe du lịch lội nước đầu tiên ở Paris này. Cả hai đã nghiên cứu mở công ty vào năm 2013, tìm hiểu, chuẩn bị các thủ tục trong vòng 1 năm, nhưng để được thông qua, thì cần phải đợi thêm 6 năm.
6 năm để xin giấy phép hoạt độngĐồng sáng lập Les Canards de Paris bộc bạch “Pháp có lẽ là nước mất nhiều thời gian để xin giấy phép nhất thế giới, có những nước chỉ mất vài tháng”, có những lúc “có người hỏi chúng tôi đang làm gì, họ không tin và cười vào ý tưởng xe lội nước vì mấy năm trời phải lo thủ tục xin giấy phép”. Ông Paul Michel giải thích : “Ở Pháp, xe của chúng tôi phải tuân theo hai quy định, dành cho xe ô tô và cho thuyền du lịch. Dù kích thước không quá lớn nhưng xe bus bị coi như là thuyền-bateaux-mouche và phải tuân theo quy định của cả hai. Điều này không hề dễ dàng, với khoảng 10 000 trang giấy các quy định cần tuân theo. Xe bus dài 10 mét thì mỗi milimét là một trang quy định, cần phải đọc, hiểu và áp dụng, chứng minh. Đôi khi để chứng minh là có bảo đảm tuân thủ quy định hay không thì chúng tôi phải đi kiểm tra. Ví dụ như lấy mẫu xe bus, mang đi đốt tại các phòng thí nghiệm để kiểm tra. Có những mẫu xe bus chúng tôi phải phá huỷ, dỡ bỏ toàn bộ.”
Để lái một chiếc xe lưỡng năng, di chuyển trên bộ và dưới nước như vậy không hề đơn giản, vì có bằng lái xe là chưa đủ, mà cần phải có cả bằng lái phương tiện đường thuỷ. Do vậy việc tuyển nhân sự cũng không hề dễ, vì cần thời gian để đào tạo, đặc biệt là bằng lái đường thuỷ, lên đến hàng trăm giờ. Do vậy, đôi khi, trong một chuyến đi kéo dài khoảng một tiếng rưỡi, sẽ phải đổi người lái xe, nếu tài xế chưa có bằng để trở thành “thuyền trưởng”.
Les Canards de Paris, tạm dịch là Những con vịt của Paris. Khi di chuyển trên sông Seine, ông Paul Michel thuật lại “chúng tôi thường không bắt gặp vịt ở trên sông, nhưng chúng tôi giống như những con vịt của sông Seine.” Theo nhà đồng sáng lập, có nhiều lý do để giải thích cái tên này. Ông nói “đầu tiên là chúng tôi muốn có hình ảnh một con vật lội nước và sau đó có thể đi trên đường bộ. Lý do thứ hai là vì khi những đoàn phụ trách vận chuyển binh lính trong Đệ Nhị Thế Chiến được gọi là DUKW, với biệt danh DUCK, tức con vịt. Thêm vào đó, tôi đến từ miền nam nước Pháp, ở đó có rất nhiều vịt, thậm chí rất nhiều món ăn làm từ vịt. Do vậy cái tên này có chút gì đó gợi nhớ đến quê hương của tôi. Còn tại sao xe bus lại tên là Marcel ? Tất cả đều có lý do. Chúng tôi là một công ty nhỏ muốn dẫn khách du lịch tại Paris, và chúng tôi muốn một cái tên tiếng Pháp, hơi cổ một chút, gợi lại nguồn gốc xa xưa của người Pháp, một cái tên nói về một Paris thời mộng mơ đối với một số người. Hơn nữa, cộng sự của tôi là Philippe Maillot, ông ấy đam mê đấm bốc và Marcel Cerdan là một võ sĩ đấm bốc nổi tiếng người Pháp trước Đệ Nhị Thế Chiến. Để tạo ra chiếc xe bus Marcel cũng cần phải có tinh thần chiến đấu. Cái tên Marcel vừa để tri ân đến võ sĩ này, vừa thể hiện tính hiếu chiến của chiếc xe”.
Xe quân sự có nguồn gốc từ Đệ Nhị Thế ChiếnVề nguồn gốc của xe lội nước, GMC DUKW 353, theo Hiệp hội các nhà sưu tầm phương tiện quân sự (AFCVM), D : có nghĩa là 1942 – năm sản xuất; U : xe lội nước; K : tất cả các bánh xe đều dẫn động (motrice); W: hai hệ thống dẫn động ở phía sau. Xe lần đầu được thử nghiệm vào ngày 03/06/1942 ở Michigan Hoa Kỳ.
Sau khi sản xuất 2000 chiếc đầu tiên, nhà sản xuất đã bổ sung thêm một hệ thống cho phép điều chỉnh áp suất của lốp xe, do vậy xe DUKW có thể thích ứng với mọi loại địa hình, cát, đầm lầy, đá. Phương tiện này được thiết kế để vận chuyển thiết bị thực phẩm hoặc binh lính từ những tàu lớn không thể cập bờ gần bãi biển. Một số xe còn được trang bị cần cẩu để bốc hàng. Xe lội nước Duck đã được sử dụng trong cuộc tấn công vào Pointe du Hoc, ngày 0/6/1944 để đổ bộ vào vùng Normandy ở Pháp.
Ông Paul Michel cho biết, khi chiến tranh kết thúc, quân đội đã bán những chiếc xe này cho một số người dân, và họ đã biến đổi thành xe chở khách. Ở một số nước, loại xe có tuổi đời gần 100 năm này vẫn lưu hành, nhưng ở Pháp loại xe này không được thiết kế để chở khách và không đáp ứng các tiêu chuẩn của phương tiện đường bộ. Những loại xe cũ, khi di chuyển trên sông, nếu bị nước tạt vào thì phải dùng bơm để hút nước ra, điều này hoàn toàn bị cấm ở Pháp. Nhưng sau đó, loại xe này đã được cải tiến, như xe bus Marcel, hoàn toàn mới. Hai phần ba xe được sản xuất ở Pháp, động cơ và khung gầm được sản xuất ở Calvados và khu vực Lyon, còn thân của xe được đóng ở nước ngoài.
Trước kỳ Thế Vận Hội 2024, Pháp có thể tiếp đón thêm hàng triệu du khách, Les Canards de Paris muốn trở thành một dịch vụ du lịch cạnh tranh với các dịch vụ khác ở Paris. Nhà sáng lập Paul Michel khẳng định :
“Chúng tôi cho rằng dịch vụ của Les Canards de Paris khá khác lạ vì Paris thường trong tình trạng du lịch đại trà, thường du khách phải sử dụng autoguide - tự hướng dẫn. Cũng có những dịch vụ tư, nhưng khá đắt và không phải ai cũng đủ khả năng chi trả. Dịch vụ của chúng tôi thì nằm ở giữa, tức là không phải du lịch đại chúng, xe cũng chỉ chở được 30 người. Trong khi phần lớn các xe bus du lịch khác thì lớn hơn, còn các tàu du lịch thì có khi lên đến 1000 chỗ. Về giá, dịch vụ của chúng tôi đắt hơn các tàu tham quan, nhưng lại rẻ hơn các tàu tham quan tư nhân. Trên xe, chúng tôi có hướng dẫn viên, và họ thường tự hào về công việc của mình, họ có khiếu hài hước. Chúng tôi muốn gần gũi với du khách để kể cho họ câu chuyện về Paris xinh đẹp và vùng Hauts-de-Seine.”
Công ty cũng đang nghiên cứu thiết kế một chiếc xe lội nước chạy hoàn toàn bằng điện, đáp ứng tiêu chuẩn về sinh thái, để trở thành chiếc xe lội nước sinh thái đầu tiên trên thế giới, với mục tiêu hoàn thành trước kỳ Thế Vận Hội 2024. Tuy nhiên mục tiêu này hiện khó khả thi vì cần phải được Tòa thị chính Paris cho phép sử dụng các trụ sạc điện, cần phải đi sâu vào trung tâm Paris.
Hơn nữa, bình điện cho xe cũng khá nặng cho loại xe lội nước, do vậy cũng cần phải giảm thiểu trọng tải của bình điện, nhưng cũng cần bảo đảm đủ nhiên liệu cần thiết.
Chiếc xe bus Marcel hiện nay cũng đã đáp ứng được một số tiêu chuẩn. Ví dụ như động cơ của xe là loại mới nhất, tuân thủ các tiêu chuẩn ô nhiễm của châu Âu. Vỏ xe được làm hoàn toàn bằng nhôm và có thể tái chế được. Trọng lượng của nhôm thấp hơn thép, nên trọng tải của xe cũng nhẹ hơn và ít tiêu thụ năng lượng hơn. Lượng khí thải CO2 được bù đắp bằng việc trồng cây ở vùng Doubs ở Pháp, thông qua một đối tác của công ty này.
Hiện nay, hình thức du lịch bằng xe bus lội nước cũng có mặt ở nhiều nước châu Âu và trên thế giới, như ở Thụy Điển, Anh, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, hay Malaysia.
Thành danh trong làng nhạc Pháp cách đây hơn một thập niên, ca sĩ Rita Tabbakh sinh trưởng tại (vùng Québec) Canada trong một gia đình nhập cư người gốc Liban. Tại Pháp, gương mặt này khá quen thuộc với công chúng do cô từng thành công vào năm 2009 trong vở nhạc kịch ''Sheherazade: Một nghìn lẻ một đêm''. Trung thành với khán giả, Rita Tabbakh chuẩn bị trở lại trên sân khấu trong một vở nhạc kịch mới vào đầu mùa thu năm 2023.
Được chuyển thể từ bộ phim cùng tên, vở nhạc kịch ''Gia đình Addams'' (La famille Addams / The Addams Family) ra mắt khán giả Montréal, Canada vào ngày 19/10 năm 2023 tại nhà hát Espace Saint Denis. Sau đêm khai mạc, tác phẩm này do đạo diễn René Simard dàn dựng sẽ được diễn cho đến đầu tháng Giêng năm 2024. Lần này, Rita Tabbakh đóng một trong những vai chính (vai Morticia) bên cạnh các giọng ca tài năng khác là Luc Guérin trong vai Gomez Addams và nhất là Alexandra Sicard (vai Mercredi/Wednesday), thành viên ''huyền thoại'' nhất trong một gia đình đầy nhân vật quái kiệt, từng là hiện tượng trên mạng Netflix nhờ loạt phim ''Wednesday'' Addams, phát hành cuối năm 2022, nhân mùa Halloween.
Tuyển tập nhạc Pháp đầu tiên sau một thập niên sự nghiệpSinh trưởng tại thành phố Montréal (Québec), Rita Tabbakh thời còn nhỏ bắt đầu học múa ballet (từ khi cô mới 5 tuổi), trước khi chuyển sang học nhạc. Được đào tạo bài bản qua trường lớp, cô tốt nghiệp khoa thanh nhạc tại trường đại học UQAM (Université du Québec à Montréal). Khi mới vào nghề cô đi hát phụ họa cho Jean Leloup nhân các vòng lưu diễn với một dàn nhạc big band của nghệ sĩ trứ danh này.
Có thể nói nhạc kịch là thể loại sở trường của Rita Tabbakh, sau khi cô gặt hái được nhiều thành công nhờ đi chuyên về bộ môn này, đòi hỏi nơi người nghệ sĩ một chất giọng cũng như tài năng đóng kịch. Kể từ năm 2006, lần đầu tiên cô dấn thân vào sân khấu nhạc kịch cho tới thời gian gần đây, Rita Tabbakh đều biết nắm lấy cơ hội tỏa sáng, thu hút sự chú ý trong một đoàn diễn viên với nhiều tài năng chuyên nghiệp.
Bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp của cô, là khi Rita được chọn làm vai chính trong vở nhạc kịch ''Sheherazade : Một nghìn lẻ một đêm'' của ca sĩ kiêm tác giả người Pháp Félix Gray. Với hơn 150 buổi biểu diễn trên khắp vùng Québec cũng như tại Pháp, vở nhạc kịch đã thành công tại nhà hát Folies Bergères, từng được đề cử ở hạng mục ''show'' biểu diễn thành công nhất năm 2009. Cũng từ đó, Rita được công nhận là một trong những ngôi sao sáng trong lãnh vực nhạc kịch. Vào năm 2014, cô tham gia vòng giấu mặt và đạt đến vòng bán kết nhân cuộc thi hát La Voix (The Voice phiên bản tiếng Pháp).
Làm sống lại trên sân khấu các giọng ca huyền thoạiTuy không đoạt giải nhất, nhưng phong cách diễn đạt biểu cảm duyên dáng và linh hoạt của Rita đã mở đường cho cô hợp tác với nhiều nghệ sĩ khác. Rita được mời tham gia các vở diễn và xuất hiện trong nhiều tác phẩm khác, kể cả Don Juan, Cabaret Burlesque, Jukebox và nhất là ''Les Immortels'' tạm dịch là ''Những giọng ca bất tử'' (phát hành năm 2022 của đạo diễn Joel Legendre). Trong vở kịch này, Rita cùng với 4 nghệ sĩ khác (Julie Massicotte, Philippe Berghella, Martin Giroux, David Thibault) làm sống lại 5 nhân vật huyền thoại của làng nhạc Pháp Édith Piaf, Dalida, Gilbert Bécaud, Joe Dassin và Johnny Hallyday.
Rita Tabbakh hiện đang thực hiện một album gồm các sáng tác mới, dự kiến phát hành vào năm 2024, với sự tham gia của các nghệ sĩ trẻ như Catherine Major, Eli Rose, Fanny Bloom, Jeff Moran hay Alexandre Désilet. Bên cạnh đó, Rita còn mở lớp dạy thanh nhạc cho giới trẻ tại trường Collège Lionel-Groulx, trong một chương trình chuyên về sân khấu nhạc kịch.
Trong giai đoạn chọn lựa các bản nhạc để rồi tái tạo trên sân khấu các giai điệu kinh điển của những giọng ca huyền thoại, Rita Tabbakh đã ghi âm một số bài hát mà cô cho là ưng ý, rồi kết hợp lại thành tuyển tập solo đầu tiên sau hơn 10 năm sự nghiệp. Mang tựa đề ''Dưới bầu trời Paris'', album này chủ yếu được phát hành trên mạng, phản ánh hơn nửa thế kỷ nhạc Pháp qua những giai điệu khó quên nhất trong tiếng Pháp.
Tuy chất giọng có đủ nội lực để ''trị'' những bản nhạc rock dũng mãnh, nhưng Rita vẫn thích chọn lối hát mộc, nhẹ nhàng mà gần gũi. Các bản nhạc của Dalida, Aznavour, Sardou và nhất là bản ghi âm lại ''La Javanaise'' của Gainbourg (vào thời điểm khai mạc Bảo tàng ''Maison Gainsbourg'' tại Paris) nhờ vậy mà có thêm sức sống. Dù tham gia vào nhiều dự án mới, nhưng Rita hơn bao giờ hết vẫn trung thành với sàn diễn, nơi cô gửi gấm niềm đam mê đầu đời, cho dù ánh đèn sân khấu không phải lúc nào cũng được sáng ngời.
From the publisher's feed
Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners