Tạp chí tiêu điểm

Tạp chí tiêu điểm

By RFI Tiếng Việt
Download on the App Store

Tạp chí tiêu điểm episodes

  • Dự án chiến đấu cơ SCAF bên bờ tan vỡ: Thách thức khó vượt qua đối với Pháp, Đức

    Ít tháng sau khi đắc cử năm 2017, tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã quyết định cùng Đức thúc đẩy dự án phát triển hệ thống chiến đấu cơ đời mới SCAF, với mục tiêu nâng cao năng lực quốc phòng tự chủ của châu Âu, trong bối cảnh quan hệ với đồng minh truyền thống Hoa Kỳ thời Donald Trump hứa hẹn những sóng gió chưa từng có với châu Âu.

    Tám năm sau, cuối 2025, đầu năm 2026, bất đồng chồng chất giữa hai tập đoàn Dassault và Airbus Defence and Space, hai cơ sở đặc trách thực thi dự án, khiến SCAF nay bên bờ tan vỡ. Theo giới chuyên gia, nếu xảy ra, đây sẽ là một tổn thất vô cùng lớn không chỉ cho hợp tác Pháp – Đức, bởi dự án hệ thống chiến đấu cơ SCAF của Pháp và Đức, với sự tham gia của Tây Ban Nha sau đó, được kỳ vọng sẽ trở thành một trụ cột của nền quốc phòng tự chủ của Liên Âu trong tương lai. Liệu Paris và Berlin có vượt qua được các thách thức đó?

    SCAF: Dự án trọng tâm của nền công nghiệp quốc phòng châu Âu

    Kế hoạch phát triển chiến đấu cơ tối tân thế hệ thứ 6 (NGF), thuộc dự án mang tên Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai (SCAF - Système de combat aérien du futur), được tổng thống Pháp Emmanuel Macron và thủ tướng Đức Angela Merkel khởi xướng vào năm 2017, với vốn đầu tư ước tính 100 tỉ đô la. Tây Ban Nha tham gia dự án hai năm sau. Phi cơ SCAF được kỳ vọng ​​sẽ thay thế các chiến đấu cơ Rafale (Pháp) và Eurofighter (Anh, Ý, Đức và Tây Ban Nha hợp tác chế tạo) từ năm 2040. Theo thỏa thuận, Pháp chủ trì dự án chung, Đức và Tây Ban Nha mỗi bên dự kiến đóng góp một phần ba kinh phí.

    Các căng thẳng ngày càng gia tăng với chính quyền Trump nhiệm kỳ 2, trong bối cảnh lực lượng không quân của châu Âu nhìn chung phụ thuộc nặng nề vào chiến đấu cơ Mỹ, cho thấy về nguyên tắc, kế hoạch độc lập phát triển hệ thống chiến đấu cơ đời mới để châu Âu hướng đến tự chủ về quốc phòng là cần thiết.

    Tuy nhiên, từ nhiều tháng nay, dự án dẫm chân tại chỗ. Ngày 18/02/2026, chính quyền Đức lần đầu chính thức thừa nhận nhiều bất đồng song phương về tiêu chuẩn kỹ thuật không thể vượt qua, đồng thời gợi ý, để có thể duy trì, dự án Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai SCAF cần được điều chỉnh, để mỗi bên hướng đến độc lập chế tạo riêng một chiến đấu cơ, bởi nhu cầu của Pháp khác với Đức. Pháp dự trù phi cơ này được sử dụng với vũ khí hạt nhân, trong lúc với Đức thì đây chỉ thuộc lĩnh vực vũ khí quy ước.

    Dassault muốn giữ bí mật công nghệ, Airbus muốn tham gia sâu rộng

    Tuyên bố của thủ tướng Đức Frederic Merz, trên thực tế, đã phơi bày bất đồng sâu sắc giữa hai tập đoàn Dassault (đại diện cho Pháp) và Airbus (đại diện cho Đức và Tây Ban Nha) tồn đọng từ lâu. Căng thẳng lên đến đỉnh điểm hồi cuối năm ngoái, khi Dassault khẳng định có thể một mình hoàn tất việc chế tạo chiến đấu cơ SCAF, còn Airbus cho biết Dassault, nếu muốn, có thể rời bỏ dự án Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai.

    Trả lời truyền thông Pháp, chủ tịch tập đoàn Dassault, Eric Trappier, nhấn mạnh : « Chúng tôi có đủ năng lực để làm điều đó. Nếu họ muốn tự làm, thì hãy cứ để họ tự làm ! Chúng tôi chỉ yêu cầu có một điều nhỏ thôi ! Hãy cho chúng tôi quyền quản lý chương trình. Nói một cách khác, về mặt quản trị, tôi sẽ không chấp nhận việc đại diện của ba bên ngồi quanh bàn quyết định tất cả các khía cạnh kỹ thuật cần thiết để vận hành một chiếc phi cơ tối tân như vậy ! »

    Ông Xavier Tytelman, cố vấn về hàng không và không gian, coi bí mật công nghệ là bất đồng chủ yếu, không thể vượt qua được giữa hai tập đoàn Pháp và Đức:

    « Vấn đề là ba quốc gia này không có cùng một loại năng lực chuyên môn. Pháp, với máy bay Rafale, là quốc gia châu Âu duy nhất thực sự tự phát triển được một loại máy bay, hoàn toàn từ A đến Z. Trong khi đó, Đức chỉ nắm được khoảng 1/3 công nghệ chế tạo phi cơ Eurofighter, cùng với Anh, Tây Ban Nha và Ý.

    Đức muốn tham gia phát triển 30% máy bay chiến đấu thế hệ thứ 6 SCAF này. Nhưng khi ta nói với họ về 30% công việc, thì không phải chỉ là với lĩnh vực tác chiến điện tử và trí tuệ nhân tạo, mà họ muốn nắm 30% của mọi thứ. Ví dụ như hệ thống điều khiển bay, lĩnh vực mà Dassault đã là nhà sản xuất hàng đầu thế giới, kết quả của hàng chục năm tìm tòi, nghiên cứu.

    Phía Đức muốn tham gia 30%, nhưng điều đó đồng nghĩa với việc họ có quyền truy cập vào toàn bộ mã nguồn và về mặt logic, điều đó sẽ dẫn đến việc bí mật công nghiệp bị tước đoạt, gây thiệt hại cho Pháp và Dassault. Vì vậy, có sự bất đồng giữa Pháp, quốc gia không muốn đánh mất công nghệ, cùng Dassault, công ty đang bảo vệ một cách quyết liệt thành quả công nghiệp nửa thế kỷ của mình, và phía bên kia là Đức, tin rằng bất luận thế nào, Pháp không thể làm được nếu thiếu Đức, vì vậy sẽ buộc phải nhân nhượng các bí mật công nghiệp. »

    Thay đổi lớn mới đây trong « tương quan lực lượng » Pháp – Đức

    Những thách thức trong việc duy trì hợp tác Pháp – Đức trong dự án công nghệ quốc phòng này không chỉ liên quan đến các bất đồng về bí mật công nghệ giữa hai tập đoàn Dassault và Airbus, mà còn liên quan đến bối cảnh chung rộng lớn hơn. Đó là nước Đức đang trên đường nhanh chóng trở thành một cường quốc quân sự, trong lúc cho đến gần đây, Berlin vẫn tự khẳng định chỉ là « một cường quốc tế kinh tế » và Paris mới là « một cường quốc ngoại giao và quân sự ». Bên cạnh đó, lĩnh vực công nghiệp của nước Đức cũng đang trải qua những khó khăn chồng chất gây nhiều căng thẳng trong nước.

    • Đọc thêm : SCAF - “Chiến đấu cơ tương lai” vẫn là tàu bay giấy vì bất đồng Pháp-Đức

    Ông Paul Maurice, chuyên gia về quan hệ Pháp – Đức, thuộc Viện Pháp về quan hệ quốc tế IFRI, trong bài trả lời phỏng vấn báo La Croix, đăng ngày 23/02/2026, nhấn mạnh những thay đổi nói trên đang làm chuyển dịch « tương quan lực lượng » (rapport de force) giữa hai nước. Các bất đồng Pháp – Đức trong dự án SCAF vốn đã không ít, trong bối cảnh này lại càng trở nên các chủ đề nhạy cảm hơn trong quan hệ song phương.

    Nguyên nhân căn bản nhất : Các bất đồng về « nhu cầu chiến lược »

    Tuy nhiên, các bất đồng về « các nhu cầu chiến lược » dường như là lý do căn bản có thể khiến dự án SCAF đổ vỡ hoàn toàn. Chuyên gia Paul Maurice, Viện IFRI, nêu bật vấn đề này : « Đó là một dự án phức tạp ngay từ đầu. Vì nhiều lý do. Các nhu cầu về chiến lược (besoins stratégiques) dường như đã chưa được xác định rõ ràng. Sự tham gia của Tây Ban Nha vào dự án năm 2019 đã không giải quyết được vấn đề phân chia nhiệm vụ. Tập đoàn Dassault rõ ràng không phải là một đối tác dễ chơi, nhưng phía Đức cũng phản ứng quá nặng nề với Dassault.

    Tất cả những điều này đều phức tạp, nhưng không phải là mới. Điều mới hiện nay là dự án hiện đang bị chỉ trích ở cấp độ chính trị. Mà Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai này (SCAF) trước hết và trên hết là một dự án chính trị. Cho đến gần đây, hai bộ trưởng quốc phòng Đức và Pháp, ông Boris Pistorius và ông Sébastien Lecornu, nay là thủ tướng, vẫn ủng hộ và thúc đẩy dự án, bất chấp những khó khăn về hành chính và công nghiệp. Nhưng một khi đồng thuận về chính trị mất đi, mọi việc sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều. »

    Pháp và Đức từng vượt qua những khó khăn tưởng chừng bất khả

    Ông Guillaume Faury, giám đốc điều hành của tập đoàn Airbus, đại diện cho Đức và Tây Ban Nha, trong cuộc trả lời phỏng vấn đài Pháp BFM Business, đăng tải ngày 20/02/2026, ít ngày sau tuyên bố của thủ tướng Đức, đã ghi nhận tình trạng bế tắc khó khai thông hiện nay của dự án SCAF. Nhưng lãnh đạo Airbus cũng bày tỏ hy vọng các trở ngại rút cục sẽ phải được vượt qua, bởi đây là một dự án hết sức quan trọng đối với chiến lược quốc phòng của châu Âu :

    « Chắc chắn là chúng ta đang chật vật trong việc tìm hướng đi phía trước. Nhiều mối quan hệ đã bị phá vỡ. Sự phức tạp về mặt quản trị gia tăng theo thời gian, trong một chương trình rất lớn phục vụ Đức, Pháp và Tây Ban Nha, với những kỳ vọng nhiều khi mang tính cạnh tranh, hoặc liên quan đến mục đích sử dụng khác nhau. Ví dụ như một máy bay chiến đấu sẽ có thể được mỗi bên sửa đổi khi muốn bổ sung các hệ thống hoặc vũ khí cụ thể. Điều này tạo ra một mức độ bó buộc rất lớn.

    Hiện tại chúng ta đang chật vật để chuyển từ giai đoạn 1B (tức giai đoạn tiền khả thi trước khi chuyển sang thiết kế các mô hình / travaux préliminaires sur de futurs démonstrateurs) sang giai đoạn 2 (tức giai đoạn thiết kế mô hình, dự kiến từ 2026 đến 2029), để có thể đáp ứng được kỳ vọng của chính phủ các nước.

    Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhớ rằng ba hoặc bốn năm trước, chúng ta cũng đã gặp khó khăn khi bắt đầu giai đoạn 1B. Một số người nói rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra, nhưng cuối cùng chúng ta cũng đã tìm ra được giải pháp.

    Cá nhân tôi hy vọng cuối cùng chúng ta sẽ tìm ra những giải pháp, có thể không phải là những giải pháp được hình dung một năm trước, nhưng là những giải pháp cho phép có được một chương trình quốc phòng châu Âu với hệ thống rất toàn diện này. Tôi cho rằng hệ thống này vô cùng quan trọng đối với chiến lược quốc phòng của châu Âu. »

    Paris và Berlin có dung hòa được lợi ích quốc gia với quốc phòng châu Âu ?

    Hiện tại dự án SCAF chưa đổ vỡ. Pháp và Tây Ban Nha vẫn tỏ ra tin tưởng. Phía Đức đề xuất làm riêng rẽ hai phi cơ, thay vì một. Để duy trì được dự án, trong trường hợp phương án hai phi cơ được chấp thuận, các bên phải tìm được thỏa hiệp trong hai mảng lớn khác của SCAF là drone và mạng lưới thông tin liên lạc nối kết các phương tiện tham gia (thường gọi là « cloud de combat »). Cho đến nay, Pháp được coi là bên chủ trương xây dựng một hệ thống không chiến của châu Âu độc lập cao, trong lúc Đức muốn hệ thống này có thể liên kết dễ dàng với các phương tiện của các lực lượng thuộc NATO.

    • Đọc thêm : Một nước Đức dân tộc chủ nghĩa hùng mạnh về quân sự là hiểm họa lớn với châu Âu

    Khủng hoảng trong dự án Hệ thống Tác chiến Trên không Tương lai SCAF đặt ra một câu hỏi lớn về việc liệu châu Âu có thể phát triển một ngành công nghiệp quốc phòng thực sự chung của châu lục hay chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng sẽ vẫn là một trở ngại không thể vượt qua ? Theo nhiều chuyên gia, như ông Paul Maurice, Viện IFRI, câu trả lời « phụ thuộc vào khả năng của các quốc gia thành viên dung hòa lợi ích công nghiệp của mình với tầm nhìn chiến lược chung ».

    10 min
  • Vì sao Trump phân chia thế giới thành ba đế chế ?

    Can thiệp quân sự chớp nhoáng vào Venezuela, đe dọa sáp nhập quần đảo Groenland, gây áp lực mạnh đối với Colombia và Cuba, tổng thống Mỹ Donald Trump đã có một cách chào đón năm mới 2026 khiến thế giới sững sờ. Nhưng những gì ông Trump đang làm đều tuân theo một lô-gic kép : Đầu tiên là chủ nghĩa bành trướng của Mỹ và tiếp đến là thiết lập một trật tự địa chính trị mới trên phạm vi toàn cầu.

    Thế giới quan này của Mỹ không phải là điều gì mới mẻ. Sử gia Pierre Singaravélou nói đến « sự trở lại và tiếp tục của chủ nghĩa thực dân, một làn sóng chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ » (France 5 ngày 11/01/2026). Nhà địa chính trị học Florian Louis nhắc lại Hoa Kỳ về cơ bản là « một quốc gia thực dân » (Les Echos ngày 18/01/2026).

    Hoa Kỳ : « Quốc gia thực dân »

    Nhìn lại lịch sử, xuất phát từ 13 thuộc địa cũ ở bờ đông Bắc Mỹ vào thời điểm Anh Quốc công nhận độc lập vào năm 1783, Hoa Kỳ đã dần « mở rộng bờ cõi về phía Tây » bằng mọi cách cần thiết, chủ yếu theo hai phương pháp chính : Bạo lực chống lại các cộng đồng bản địa, các cường quốc thực dân cũ, Pháp cùng Vương quốc Anh và Tiền bạc cho tất cả những điều còn lại.

    Nếu nhìn kỹ trên bản đồ, những cuộc chinh phục lãnh thổ đó chỉ mở rộng sang phía Tây và lên phía Bắc, như mua bang Louisiana năm 1803, Florida năm 1819, các bang Tây Nam nước Mỹ thuộc phía bắc Mêhicô lần lượt trong các năm 1848 và 1853, hay đợt mua lãnh thổ quan trọng sau cùng là bang Alaska năm 1867, mà chưa bao giờ mở rộng xuống hẳn phía nam bán cầu. Do vậy, việc đòi mua Groenland là hoàn toàn phù hợp với đường lối này trong lịch sử Hoa Kỳ. 

    Giảng viên Florian Louis, trường Đại học Sư phạm, biên tập viên trang địa chính trị Le Grand Continent, trong mục Plan Carte của Les Echos, giải thích:  « Hoa Kỳ tỏ ra rất do dự về việc mở rộng bờ cõi xuống phía nam. Họ tìm cách mở rộng ảnh hưởng, thế thống trị hơn là mở rộng lãnh thổ (…) Ở phía nam, không có điều mà Mỹ gọi là những người WASP (viết tắt của White Anglo-Saxon Protestant), tức người da trắng gốc Anh theo đạo Tin Lành. Đây là khu vực của những người Công Giáo gốc La-tinh, người lai. Và điều đó từ lâu khiến người Mỹ sợ hãi và vẫn tiếp tục khiến nhiều người trong số họ lo sợ, đặc biệt là Donald Trump ».

    « Tây bán cầu »: Sân sau của Mỹ !

    Quả thật, tổng thống Mỹ Donald Trump chỉ nói đến sáp nhập hay xâm chiếm Canada, Groenland, nhưng cho xây tường ở biên giới giữa Mỹ và Mêhicô. Rõ ràng là có những nơi để sáp nhập và có những nơi chỉ để thống trị. Và một trong những giải pháp để duy trì uy lực của Mỹ là một hình thức co cụm, không phải khép mình thành một nước biệt lập, mà là vào toàn bộ lục địa châu Mỹ. Thế nên mới có khái niệm khác quan trọng hơn : « Bán cầu » !

    Giáo sư địa lý Vincent Capdepuy, chuyên gia về đồ họa, trả lời Les Echos lưu ý khái niệm « bán cầu » đã có từ xa xưa. Những bản vẽ đồ họa cổ nhất do thầy tu và nhà đồ họa Franciscus Monacus công bố năm 1524 cho thấy hai bản đồ nhỏ được đặt đối diện nhau, hai quả địa cầu, hai bán cầu với hai tiêu đề khác nhau :

    « Bên trái là một quả địa cầu tượng trưng điều mà người ta có thể gọi là lục địa Âu – Á – Phi, tức bao gồm châu Âu, châu Phi và châu Á. Ở trang bên phải, chúng ta có một địa cầu hình bán cầu khác tượng trưng cho châu Mỹ hoặc ít nhất những gì người ta biết về bán cầu này vào đầu thế kỷ XVI. Một bên ghi "Bán cầu này của thế giới phục tùng vua Bồ Đào Nha" và bên kia ghi "Bán cầu này của thế giới phục tùng vua Tây Ban Nha" ».

    Như vậy, ngay từ đầu thế kỷ 16, người ta đã có một thế giới quan địa chính trị phân chia địa cầu thành Đông và Tây. Và đây chính là tầm nhìn của Mỹ, tin rằng thế giới được phân chia thành Đông và Tây, chứ không phải giữa Bắc và Nam. Thuật ngữ « bán cầu » từ đó đã xuất hiện trong học thuyết Monroe nổi tiếng, về cơ bản quy định rằng mỗi lục địa nên ở yên trong vị trí của mình.

    Năm 1904, tổng thống Théodore Roosevelt còn bổ sung một hệ luận cho học thuyết này khi nhiều lần dùng đến thuật ngữ « Tây bán cầu », trở thành một trong những diễn ngôn chiến lược của Mỹ trong suốt nhiều thập niên sau đó, như cho thành lập Văn phòng Phụ trách các Vấn đề Tây bán cầu năm 1999, Cục phụ trách các Vấn đề Tây bán cầu trực thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia năm 2001, và gần đây nhất tái cơ cấu quân đội Mỹ với việc thành lập Bộ Tư lệnh Tây bán cầu tháng 12/2025.

    Theo phân tích Florian Louis, chính trong lô-gic Tây bán cầu mà người ta có thể tìm thấy nguồn gốc của chủ nghĩa biệt lập Mỹ : « Trên thực tế, người ta có thể tìm thấy nguồn gốc của chúng trong phát biểu chia tay nổi tiếng của George Washington vào cuối nhiệm kỳ tổng thống của ông. Trong bài phát biểu này, nói một cách đơn giản, ông nói với người dân Mỹ rằng "những rắc rối của châu Âu là vấn đề của họ, của người dân châu Âu. Tốt nhất là chúng ta chớ nên can thiệp vào đó, chúng ta ở rất xa châu Âu". Đây chính là nguồn gốc của điều mà người ta có thể gọi là chủ nghĩa biệt lập Hoa Kỳ ».

    Xét cho cùng, thế giới là một đại dương bao la với hai hòn đảo, một đảo cực lớn, có thể được gọi là Á-Âu, và một hòn đảo nhỏ hơn tức châu Mỹ. Hai vùng biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương giống như những con hào bảo vệ pháo đài châu Mỹ với một loại thành trì ở trung tâm là Hoa Kỳ khỏi phần còn lại của thế giới, tức là Á-Âu. Trong nhãn quan này, tự cô lập với phần còn lại của thế giới và tập trung vào lục địa châu Mỹ vừa là cách để củng cố thế thống trị của Mỹ, vừa để tự bảo vệ mình.

    Như vậy, trên phương diện địa chính trị toàn cầu, những hành động gần đây của chính quyền Trump là một bước ngoặt thực sự so với những gì Hoa Kỳ đã quen làm đối với châu Âu từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Theo nhà địa chính trị học Florian Louis, đây là « một kiểu thoái lui của sức mạnh Mỹ, không còn tập trung bảo đảm an ninh thế giới như đã từng làm, ít nhất là từ sau Thế Chiến Thứ Hai, mà là tập trung bảo đảm an ninh cho toàn bộ lục địa châu Mỹ ».

    Chủ nghĩa đế quốc tài nguyên

    Nhưng bước thứ hai trong chiến lược gia tăng ảnh hưởng, kiểm soát an ninh tại châu lục mới là điều quan trọng. Hoa Kỳ sẽ phải tăng tốc can thiệp vào toàn bộ châu lục như những gì đã diễn ra vào đầu năm mới 2026 : Từ bắt cóc tổng thống Venezuela Nicolas Maduro, đòi sáp nhập quần đảo Groenland, đến đe dọa Cuba và Colombia… Mục tiêu là nhằm chứng tỏ Hoa Kỳ đang ở trong sân nhà của mình tại châu Mỹ và họ có thể làm bất cứ điều gì mình muốn.

    Điều này cũng chẳng phải là mới. Trong quá khứ, giai đoạn 1898 – 1994, Mỹ đã hơn 40 lần can thiệp cả trực tiếp lẫn gián tiếp vào Nam Mỹ, dẫn đến việc thay đổi các chính phủ. Tuy nhiên, điểm mới nhất hiện nay là Washington không dung thứ cho một sự can thiệp nào từ các cường quốc khác vào lục địa. Khi nói về việc Trung Quốc kiểm soát kênh đào Panama và biện minh cho việc đòi sáp nhập Groenland, nguyên thủ Mỹ còn có một dụng ý : Ngăn chặn Trung Quốc chiếm giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên !

    Nói một cách khác, quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên dường như đang là kim chỉ nam cho xu hướng địa chính trị mới. Hoa Kỳ can thiệp để chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên không phải là điều bí mật, nhưng chưa bao giờ thừa nhận. Trong vụ Venezuela, tổng thống Trump công khai tuyên bố can thiệp để kiểm soát tài nguyên. Hành động này còn nhằm mục đích ngăn chặn các nước khác làm điều tương tự.

    Chiến lược này đã được ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio giải thích rõ vào ngày 05/01/2026 trên kênh truyền hình NBC, khi một lần nữa viện dẫn đến khái niệm về « Tây bán cầu » : « Hoa Kỳ đâu cần đến dầu mỏ của Venezuela. Thứ này có rất nhiều ở Mỹ. Điều mà Hoa Kỳ sẽ không cho phép là ngành công nghiệp dầu khí của Venezuela lại do các đối thủ của Mỹ kiểm soát. Quý vị có hiểu là tại sao Trung Quốc cần đến dầu hỏa Venezuela ? Vì sao Nga cần đến nguồn nhiên liệu này ? Và cả Iran nữa. Tại sao ? Những nước đó thậm chí không nằm trên lục địa này. Đây là Tây Bán Cầu, là nhà của chúng ta ! »

    Donald Trump cùng nhiều nhân vật khác cho rằng chỉ kiểm soát hạ tầng cơ sở, bảo đảm tự do thương mại như trước đây là chưa đủ, mà « phải đi trước một bước, chiếm đoạt lãnh thổ, nắm giữ quyền chủ quyền đối với chúng để bảo đảm nguồn cung cấp », theo như phân tích của nhà nghiên cứu Florian Louis với nhật báo Les Echos, trong mục Plan Carte.

    Nhưng đâu chỉ có ở Tây Bán cầu, Donald Trump không để các đối thủ lớn khác theo đuổi các lợi ích của họ một cách tùy ý. Tại châu Phi, Hoa Kỳ tài trợ các dự án đường sắt tại một số nước để đưa khoáng sản thiết yếu về phía các cảng ở bờ tây của lục địa. Điều này cho thấy Hoa Kỳ thời Donald Trump không hẳn co cụm trong phần lục địa của mình, vì điều đó có tạo cơ hội cho các tác nhân khác, đặc biệt là Nga và Trung Quốc, mở rộng vùng ảnh hưởng của họ.

    Donald Trump và ba đế chế

    Câu hỏi đặt ra ở đây là phải chăng thế giới của Trump được chia thành ba đế chế : Mỹ, Nga và Trung Quốc ? Theo quan điểm của Benahouda Abdelaim, cây bút xã luận địa chính trị của Les Echos, Donald Trump chỉ hình dung ra một đế chế và vài đế chế nhỏ hơn. « Ông ấy chỉ hình dung ra đế chế Mỹ ở Tây bán cầu. Trên thực tế, Trump phản đối bất kỳ đế chế nào xâm phạm lãnh địa của mình, đặc biệt là đế chế Trung Quốc. Trump tin rằng bằng cách củng cố "sân sau" của mình, Hoa Kỳ sẽ ngăn chặn các cường quốc khác thách thức sự thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu ».

    Trong suy nghĩ của Trump, có thể có ba đế chế, nhưng trên hết, có một thứ bậc giữa những đế chế này. Thế giới quan này của ông được trình bày rõ trong bản Chiến lược An ninh Quốc gia công bố hồi tháng 12/2025. Nga và Trung Quốc được đề cập rộng rãi như là những đối thủ cạnh tranh, hoàn toàn trái ngược với bản tóm tắt năm 2017 của chính quyền Trump I, chỉ trích hai nước này muốn định hình một trật tự thế giới khác đi ngược hoàn toàn với các giá trị và lợi ích của Hoa Kỳ.

    Chiến lược An ninh 2025 cho thấy có một sự tương phản rõ rệt. Trong quan hệ với Nga, chính quyền Trump muốn khôi phục ổn định chiến lược khi tập trung vào cách xây dựng lại các liên minh. Cây bút xã luận địa chính trị Benahouda Abdelaim giải thích : « Rõ ràng cả Donald Trump và một số lãnh đạo trong phe "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại" của ông đều tin rằng nên để Nga tự giải quyết mọi việc với Châu Âu và theo một cách nào đó, bên giỏi nhất sẽ thắng, với ý tưởng ngầm rằng điểm yếu cố hữu của mô hình thảo luận, chia sẻ và cùng suy nghĩ của Châu Âu sẽ bị quyết tâm của Nga đè bẹp. »

    Đối phó với Trung Quốc, tóm tắt chiến lược 2025 chỉ đề cập đến vấn đề kinh tế. Mục tiêu là khôi phục cân bằng quan hệ thương mại và ngăn chặn Trung Quốc hoạt động trong vùng Tây Bán cầu. Về điểm này, Benahouda Abdelaim có nhận định như sau : « Trên thực tế, Trump chỉ coi Trung Quốc như là một đối thủ mang tính hệ thống, cần phải ngăn chặn nước này mở rộng thế thống trị tại châu Á. Đó là lý do tại sao, đối với ASEAN, Hàn Quốc, Ấn Độ và Úc, Trump sẽ luôn cố gắng làm sao thách thức sự bành trướng của đế chế Trung Quốc mà không dẫn đến việc Trung Quốc thách thức sự thống trị của Mỹ ngay trên sân nhà mình. »

    Vậy nên, trong suy nghĩ của Trump, có đế chế Mỹ, có đế chế Trung Quốc cần phải đối phó bằng mọi giá, và tiếp đến để Nga tự giải quyết mọi việc với Châu Âu. Chỉ có điều, giữa thế giới quan của ông và thực tế đang diễn ra lại có một khoảng cách khá lớn. Phải chăng thế giới quan đó chỉ tồn tại trong đầu của Trump ? Và nhất là ý tưởng ngăn chặn Trung Quốc bằng mọi giá liệu có khả thi ngay trong chính khu vực Tây Bán cầu, khi mà Trung Quốc đã cắm rễ sâu trong « sân sau » nhà Trump ?

    Một điều chắc chắn, với cách hành xử như thể ông là hoàng đế trong vùng bán cầu của mình cũng như trong sân sau của Mỹ, thế giới dường như đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của các đế chế. Một thế giới  mà ở đó các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ chi phối toàn bộ địa chính trị toàn cầu !

    (Theo Les Echos)

    14 min
  • Hiệp định Mỹ-Nga New Start hết hiệu lực: Nguy cơ bùng phát chạy đua hạt nhân ?

    Ngày 05/02/2026, hiệp định kiểm soát vũ khí hạt nhân chiến lược Mỹ - Nga New Start hết hiệu lực. Washington và Matxcơva không triển hạn hiệp ước được coi là thỏa thuận cuối cùng về vũ khí hạt nhân giữa hai đại cường. Nhiều người lo ngại về nguy cơ chạy đua hạt nhân bùng phát.

    Hiệp định hạt nhân New Start, được ký kết tại Praha năm 2010 dưới thời tổng thống Mỹ Barack Obama và tổng thống Nga Dmitri Medvedev, liên quan đến việc kiểm soát các vũ khí hạt nhân tấn công chiến lược. Cụ thể là giới hạn số đầu đạn hạt nhân của mỗi nước là 1.550, và tổng số phương tiện dàn phóng và oanh tạc cơ, triển khai và chưa triển khai là 800. Hiệp ước New Start không bao gồm các vũ khí hạt nhân chiến thuật, tên lửa hành trình, tên lửa siêu thanh, cùng các vũ khí không gian, các phương tiện tấn công tin học.

    New Start: « Thế cân bằng chiến lược » mong manh thời hậu Chiến tranh Lạnh

    Hiệp định New Start được triển hạn thêm 5 năm kể từ 2021 và hết hạn hôm nay. Bất chấp các áp lực quốc tế, Nga và Mỹ rút cục đã không gia hạn  hiệp ước quan trọng này. Tối hôm qua, 04/02, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, tổng thư ký Antonio Guterres cảnh báo đây là « một thời điểm nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế », khi hai cường quốc sở hữu phần lớn kho vũ khí hạt nhân thế giới chấm dứt thỏa thuận pháp lý duy nhất ràng buộc hai bên, cho phép kiểm soát thế cân bằng về loại vũ khí răn đe mang tính hủy diệt này.

    Tình thế này vô cùng nguy hiểm, trong bối cảnh vũ khí hạt nhân ngày càng có nguy cơ bị sử dụng trong các xung đột. « Từ thời điểm sự cân bằng chiến lược này bị phá vỡ và nếu một cường quốc hạt nhân quyết định leo thang như điều chúng ta lo ngại với Nga trong bối cảnh chiến tranh ở Ukraina, sẽ có nguy cơ các sự kiện vượt khỏi tầm kiểm soát », theo Alain De Neve, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh và Quốc phòng Bỉ (IRSD) (bài « Đê vỡ »: nguy cơ xung đột hạt nhân gia tăng khi hiệp ước New START hết hiệu lực ngày 5/2, RTBF, ngày 02/02/2026). Cuộc chiến bốn ngày Ấn Độ - Pakistan hồi năm 2025 cho thấy vũ khí hạt nhân không hề bảo đảm là quốc gia sở hữu không bị tấn công. 

    Cũng hôm qua, giáo hoàng Lêô XIV đưa ra cùng cảnh báo: « Ngày mai, Hiệp ước New START hết hạn. Hiệp ước, được ký kết năm 2010 bởi hai tổng thống Mỹ, Nga, đại diện cho một bước tiến quan trọng trong việc hạn chế sự phổ biến vũ khí hạt nhân. Tôi khẩn thiết kêu gọi tìm cách đảm bảo một sự tiếp nối cụ thể và hiệu quả. »

    Những hệ quả khi New Start chấm dứt: Lá chắn Golden Dome của Mỹ, Nga phát triển vũ khí tối tân mới…

    Việc Nga và Mỹ không triển hạn Hiệp định New Start có tác động ra sao đối với nguy cơ bùng phát chạy đua vũ trang, ông Daryl Kimball, giám đốc điều hành Hiệp hội Kiểm soát Vũ khí (Arms Control Association - ACA), trụ sở tại Washington D.C, thành lập từ năm 1971, giải thích:

    « Chúng ta đã đến tình trạng là, với việc hiệp ước này hết hạn, cả hai bên có thể, lần đầu tiên sau khoảng 35 năm, gia tăng tăng đáng kể số lượng vũ khí hạt nhân hiện có. Và điều này sẽ mở ra cánh cửa cho một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm và không kiểm soát, không chỉ giữa Hoa Kỳ và Nga, mà còn liên quan đến Trung Quốc, quốc gia cũng đang tăng cường kho vũ khí hạt nhân, ít hơn nhưng vẫn rất nguy hiểm, để đáp trả hệ thống lá chắn tên lửa Golden Dome của Mỹ, bằng cách phát triển vũ khí tấn công đến mức làm bão hòa hệ thống, và tự tin có thể trả đũa bằng vũ khí hạt nhân.

    Điều này sẽ không giúp giảm bớt hoặc làm chậm lại cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Trên thực tế, nó sẽ làm tăng tốc. Đây là điều chúng ta thực sự cần tập trung trong năm nay và những năm tiếp theo. Thời điểm này thực sự đánh dấu một bước ngoặt rất quan trọng, đưa chúng ta vào một thời kỳ cạnh tranh hạt nhân toàn cầu nguy hiểm và khó lường gấp bội, một thời kỳ mà chúng ta hoàn toàn chưa từng chứng kiến. »

    Số lượng vũ khí hạt nhân hiện có, chưa cần tăng thêm, đã đủ hủy hiệt nền văn minh nhân loại, theo nhiều chuyên gia. Với việc Nga, Mỹ không triển hạn New Start, nhân loại gần đại thảm họa hơn bao giờ hết. Không phải ngẫu nhiên mà với Đồng hồ Tận thế do các nhà khoa học nguyên tử (Bulletin of the Atomic Scientists - BAS) Mỹ lập ra, theo sáng kiến của nhà bác học Albert Einstein, để báo động nhân loại trước đe dọa sống còn (như bom nguyên tử, biến đổi khí hậu…), kim đồng hồ chỉ còn cách nửa đêm (tức giờ Tận Thế) có 85 giây, gần hơn 4 giây so với năm ngoái, gần nhất từ trước đến nay, hơn cả khi Mỹ và Liên Xô bên bờ vực chiến tranh hạt nhân.

    Vì sao Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận triển khai tiếp New Start ?

    Vì sao Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận triển khai tiếp New Start ? Về vấn đề này, phía Nga và Mỹ đưa ra những giải thích khác nhau. Phát ngôn viên điện Kremlin, Dmitri Peskov, một mặt thừa nhận mối nguy hiểm của việc không triển hạn Hiệp định New Start, mặt khác đổ lỗi cho phía Washington không đáp ứng sáng kiến của Matxcơva :  

    « Quý vị đều biết rằng sáng kiến ​​của Nga, được tổng thống Putin nêu rõ, vẫn đang được xem xét. Chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía Mỹ về sáng kiến ​​này. Thật vậy, thời gian đang trôi qua nhanh như chớp, và chỉ trong vài ngày nữa, thế giới có thể sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm hơn nhiều so với hiện tại. Trên thực tế, lần đầu tiên, Mỹ và Liên bang Nga, hai quốc gia sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, sẽ không có một văn kiện nền tảng nào để hạn chế và kiểm soát các kho vũ khí này. Chúng tôi hiểu rằng tình hình này là rất tồi tệ, rất tồi tệ đối với an ninh toàn cầu, đối với an ninh chiến lược. »

    Về phía Mỹ, ngoại trưởng Marco Rubio cho rằng nguyên nhân chính của việc New Start không được triển hạn là do Trung Quốc, một cường quốc hạt nhân đang lên, không chấp nhận tham gia đàm phán về một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân mới : « Bạn biết đấy, tổng thống Donald Trump đã từng nói rõ rằng, để có được sự kiểm soát vũ khí thực sự trong thế kỷ 21, không thể làm bất cứ điều gì mà không bao gồm Trung Quốc, bởi vì nước này có một kho vũ khí hạt nhân khổng lồ và đang phát triển nhanh chóng.»

    Đối đầu hạt nhân: Từ lưỡng cực đang chuyển thành thế « tam cực »

    Đòi hỏi Trung Quốc tham gia vào một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân là quan điểm của nhiều đời tổng thống Mỹ. Ông Robert Peters, nghiên cứu viên cao cấp về Răn đe chiến lược tại Trung tâm Allison, thuộc Heritage Foundation, trong một cuộc tọa đàm của Viện tư vấn The International Institute for Strategic Studies IISS, Luân Đôn, giải thích rõ hơn về ý nghĩa của việc Mỹ không muốn gia hạn New Start trong tình trạng hiện nay :

    « Quan điểm của tôi là việc để New START hết hạn có lợi cho Hoa Kỳ. Trong khi việc gia hạn New START chỉ là một thỏa thuận chính trị để tiếp tục các giới hạn hiện tại về đầu đạn hạt nhân chiến lược đã triển khai, mà không có cơ chế thanh tra vũ khí. Việc gia hạn mà không bao gồm các biện pháp thanh tra và xác minh mới, sẽ có lợi cho Nga và Trung Quốc, nhưng gần như chắc chắn không có lợi cho Hoa Kỳ, cũng như các đồng minh của chúng ta ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, hoặc châu Âu.

    Trung Quốc là cường quốc hạt nhân phát triển nhanh nhất trên hành tinh. Họ đang chế tạo 100 đầu đạn mới mỗi năm và hiện có nhiều hầm chứa tên lửa đạn đạo ICBM nhiều hơn số hầm chứa các tên lửa ICBM của Hoa Kỳ. New START không giải quyết được điều này. New START cũng không giải quyết được 2.000 vũ khí hạt nhân phi chiến lược của Nga. Nhưng việc để New START hết hạn sẽ mang lại cho Hoa Kỳ một số lựa chọn.

    Nếu Hoa Kỳ tăng số đầu đạn hạt nhân trên mỗi ICBM từ một lên hai, điều này sẽ cho phép chúng ta đặt cả mục tiêu hạt nhân chiến lược của Trung Quốc và Nga vào tình trạng nguy hiểm mà không cần phải triển khai thêm tên lửa… ».

    1.500 đầu đạn hạt nhân : Ám ảnh Mỹ, Nga về hiểm họa Trung Quốc

    Hiệp định New Start là hệ quả của thế « ổn định chiến lược », đã được hai đại cường hạt nhân Mỹ và Nga (kế thừa Liên Xô) đúc kết trong bối cảnh thế đối đầu lưỡng cực. Tuy nhiên, từ gần hai thập niên trở lại đây, Trung Quốc đang trên đường khẳng định như một cường quốc hạt nhân có tiềm lực lớn, không che giấu ý định sánh vai với Mỹ.

    Bruno Tertrais (Quỹ Nghiên cứu Chiến lược Pháp), chuyên gia hàng đầu về răn đe chiến lược, trong một nhận định hồi 2010, khi Mỹ - Nga đúc kết hiệp định New Start, đã nhấn mạnh « một trong các tiêu chuẩn để hiệp định này chọn con số 1.550 đầu đạn là do nỗi sợ của cả Nga và Mỹ rằng một ngày nào đó Trung Quốc có thể sánh vai với hai đại cường ».

    Theo một số dự đoán của giới chuyên gia, vào khoảng 2035, với tốc độ phát triển hiện nay, Trung Quốc có thể sở hữu đến 1.500 đầu đạn hạt nhân các loại (The Economist, ngày 29/08/2023, trích thông tin bộ Quốc Phòng Mỹ). Nhiều chuyên gia Mỹ nhấn mạnh đến việc thế giới đang chuyển từ thế lưỡng cực sang thế « tam cực ». Theo nhiều nhà quan sát, Washington hiện chưa tìm được cách thức để xác lập một quan hệ nhằm hướng tới một « thế ổn định chiến lược » về hạt nhân với Bắc Kinh.

    Báo cáo của Ủy ban Quốc hội về Tư thế Chiến lược của Hoa Kỳ (tháng 10/2023), báo cáo gần nhất của Quốc hội về chiến lược hạt nhân của Mỹ, khuyến nghị rằng « một chiến lược để giải quyết mối đe dọa từ hai đối thủ hạt nhân ngang tầm (two-nuclear-peer) là điều kiện tiên quyết để xây dựng các giới hạn kiểm soát vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ trong giai đoạn 2027-2035 ». Ủy ban kết luận : « Kể từ năm 2009, môi trường an ninh đã xấu đi đáng kể và các mối đe dọa hiện hữu mới đã xuất hiện », « Hoa Kỳ hiện đang đối mặt với một thách thức có tính rủi ro cao, đòi hỏi hành động khẩn cấp. Tuy nhiên, Ủy ban chưa thấy chính phủ Hoa Kỳ thể hiện sự khẩn cấp và sáng tạo cần thiết để đáp ứng thách thức ».

    Đối thoại khó khăn Mỹ - Nga và cánh cửa để ngỏ của Matxcơva

    Riêng về quan hệ Mỹ - Nga trong lĩnh vực đối thoại về răn đe chiến lược, bất chấp việc New Start hết hiệu lực, một số chuyên gia như tiến sĩ Nikolai Sokolov, nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Giải trừ Quân bị và Phòng chống Phổ biến Vũ khí ở Vienna, không quá lo ngại. Trong cuộc tọa đàm với Viện tư vấn chiến lược International Institute for Strategic Studies IISS, Luân Đôn, ông nhấn mạnh đến vấn đề căn bản là hai bên cần nối lại các đối thoại thiện chí, đã cho phép đạt được các thỏa thuận về vũ khí răn đe chiến lược trước đây :

    « Thực sự, đó không phải là một quyết định lớn lắm. Thế cân bằng chiến lược rất khó bị thay đổi. Tôi thực sự không tin rằng trong một năm quý vị có thể triển khai thêm 400 đầu đạn hạt nhân hoặc thứ gì đó tương tự. Việc New Start hết hiệu lực không ảnh hưởng đến thế cân bằng chiến lược trong ngắn hạn. Tôi nhấn mạnh là trong ngắn hạn thôi.

    Điều quan trọng hơn không phải là gia hạn thêm một năm, mà là cần bắt đầu các cuộc tham vấn và đàm phán nghiêm túc về một hiệp ước mới, trong ba năm tới. Đó phải là các cuộc đàm phán thực sự. Về cơ bản, cần có các nhóm làm việc hàng ngày. Chúng ta đã có hai ví dụ về quy trình đó. Một là vào nửa cuối năm 2020, dưới thời Trump và hai là vào tháng 12/2021 dưới thời Biden, khá tích cực, nhưng quá ngắn để có thể thực sự mang lại kết quả nghiêm túc.

    Tôi cũng muốn lưu ý ở đây rằng vào mùa thu năm 2020, Matxcơva lần đầu tiên trong lịch sử kiểm soát vũ khí đã đồng ý đưa kho vũ khí hạt nhân của mình ra bàn đàm phán. Nhượng bộ đã bị rút lại kể từ năm 2021. Tuy nhiên, tất cả chúng ta thực sự biết rằng sẽ không bao giờ có thể hoàn toàn rút lại bất kỳ nhượng bộ nào đã đưa ra . »

    Tiến sĩ Nikolai Sokolov từng làm việc tại bộ Ngoại giao Liên Xô, và sau đó là Liên bang Nga, và đã tham gia vào các cuộc đàm phán kiểm soát vũ khí giữa Mỹ với Liên Xô trước đây và Nga sau nay (về các hiệp định tên lửa tầm trung INF, START 1, START 2…).

    Cân bằng về « Răn đe hạt nhân » thế giới: Để thoát hỗn loạn cần Trung Quốc tham gia

    Việc Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận gia hạn Hiệp định New Start được đông đảo giới chuyên gia gắn liền với bối cảnh Trung Quốc đang trỗi dậy như một đại cường hạt nhân tương lai, chưa kể đến các căng thẳng địa chính trị toàn cầu đang thúc đẩy nhiều quốc gia tìm kiếm hoặc gia tăng sức mạnh hạt nhân. Trong thế giới « tam cực » mới này, vấn đề không chỉ là Mỹ và Nga phải hướng đến một thỏa thuận mới về cân bằng vũ khí chiến lược, mà một thỏa thuận về vấn đề này chỉ có thể được đúc kết với sự tham gia của các bên khác, đặc biệt là Trung Quốc.

    Để làm được điều này, điều kiện tiên quyết là các bên, trước hết là các đại cường, phải chấp nhận đối thoại, lắng nghe những lo ngại của nhau, điều không hề dễ dàng trong bối cảnh thế đối đầu địa chính trị, hoài nghi ngờ vực đang ngày một gia tăng. Bà Malorie Stewart*, phó chủ tịch điều hành của tổ chức phi chính phủ Hội đồng về Rủi ro về chiến lược răn đe hạt nhân, nhấn mạnh :

    « Các vũ khí tối tân mới mà tổng thống Nga Putin công bố vào năm 2018 xuất hiện từ lâu trước dự án lá chắn tên lửa Golden Dome của Mỹ. Nhưng chúng ta thấy có mối quan hệ giữa lo ngại của Nga, và ở một mức độ nào đó là của Trung Quốc, về hệ thống phòng thủ tên lửa của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ hiểu điều đó. Nga đang nâng cấp các vũ khí tối tân mới của mình để tự cảm thấy mạnh hơn, Hoa Kỳ cần phải phản ứng về lo ngại này của Nga. Nga đang rung chuông cảnh báo khi họ tiếp tục thử nghiệm chúng, ông Putin tuyên bố đây là các siêu vũ khí để ngăn chặn tất cả các cuộc tấn công hoặc duy trì thế « ổn định chiến lược ». Tôi nghĩ thực sự cần bàn về điều này trong bối cảnh Nga và Trung Quốc mong muốn thảo luận về hệ thống lá chắn tên lửa Golden Dome của Mỹ. »

    * Chuyên gia Malorie Stewart từng giữ nhiều chức vụ cấp cao trong chính phủ Mỹ, gần đây nhất là trợ lý cục trưởng Cục Kiểm soát Vũ khí, Răn đe và Ổn định tại bộ Ngoại Giao Mỹ (2022-2025).

    10 min
  • « Chiến lược Quốc phòng 2026 » : Mỹ làm sáng tỏ thứ tự các ưu tiên chiến lược

    Ngày 23/01/2026, bộ Quốc Phòng Mỹ công bố Chiến lược Quốc phòng mới (NDS) cho 5 năm sắp tới, đặt trọng tâm vào việc thống trị Tây Bán Cầu thay vì mục tiêu lâu dài là đối đầu với Trung Quốc, đồng thời kêu gọi các đồng minh của Mỹ nên « tự lo » cho an ninh của mình, tuy vẫn cam kết duy trì hỗ trợ nhưng « có giới hạn ».

    Trước hết, trang CSIS (Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế) có trụ sở ở Mỹ, giải thích, Chiến lược Quốc phòng Quốc gia (NDS) là kết quả cuộc xem xét toàn diện, đáp ứng các yêu cầu của Quốc Hội theo đó, bộ trưởng Quốc Phòng phải công bố một « khuôn khổ chiến lược » để giải quyết các « nhiệm vụ ưu tiên của bộ Quốc Phòng » và « môi trường chiến lược giả định ». Trước năm 2018, quá trình xem xét này được gọi là « Đánh giá Quốc phòng bốn năm một lần » (QDR), thay cho thông lệ công bố các đánh giá chiến lược bốn năm một lần được bắt đầu với « Đánh giá từ Thấp đến Cao » (BUR) thời chính quyền Clinton năm 1993.

    Chiến lược Quốc phòng Quốc gia 2026 (NDS 2026), dài 34 trang, cho thấy có những thay đổi căn bản trong cách đánh giá. Truyền thông Pháp nói đến « một bước rẽ lớn » của chính quyền Trump II so với nhiệm kỳ I. Trọng tâm chiến lược xoay quanh bốn trục chính được đặt theo một thứ tự ưu tiên rất rõ ràng.

    Tây Bán Cầu ưu tiên tuyệt đối

    Thứ nhất, chính quyền Trump II coi việc bảo vệ nghiêm ngặt lãnh thổ quốc gia là một ưu tiên tuyệt đối. Và trên hết, điều này gắn liền với thế thống trị của Mỹ ở Tây Bán Cầu, tức toàn bộ châu lục châu Mỹ, đi từ Goenland (ở Bắc Cực) đến tận Tierra del Fuego, vùng Đất Lửa (ở Nam Cực). Chiến lược này, theo nhận định của nhà nghiên cứu Elie Tenenbaum, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), là một sự « thể hiện trực tiếp khẩu hiệu "Nước Mỹ trên hết" ».

    Ngoài việc khẳng định sử dụng mọi phương tiện quân sự để bảo vệ biên giới và lãnh hải của Mỹ, tài liệu NDS 2026 còn tuyên bố « bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại toàn vùng Tây Bán Cầu », nhất là quyền tiếp cận quân sự và thương mại của Mỹ tại những khu vực trọng yếu. Trả lời RFI Pháp ngữ, giáo sư Isabelle Vagnoux, chuyên gia về chính sách đối ngoại Mỹ, trường đại học Aix-Marseille, giải thích đâu là những nguy cơ hiểm họa từ bên ngoài theo quan điểm của chính quyền Trump :

    « Về mối đe dọa tiềm tàng từ một thế lực bên ngoài, kênh đào Panama là một ví dụ điển hình bởi vì Trung Quốc đầu tư rất nhiều vào đó. Hiện Bắc Kinh đang xem xét lại một số cam kết nhưng Trung Quốc đã đầu tư đáng kể vào các cảng biển, những cơ sở vô cùng quan trọng cho vận chuyển hàng hóa. Vì vậy, điều đó được xem như là một mối đe dọa cho an ninh Hoa Kỳ. Vịnh Mêhicô và vùng biển Caribê cũng là một mối lo ngại bởi vì hai khu vực này bao gồm cả Florida và miền nam nước Mỹ. Thế nên, việc nhiều thế lực nước ngoài không hẳn là thân thiện, đầu tư hoặc can thiệp vào những khu vực này đã từng được coi là mối đe dọa cho an ninh nước Mỹ, và đó chính xác là những gì chúng ta đang chứng kiến. »

    Trung Quốc là cường quốc kinh tế - quân sự « cần phải ngăn chặn »

    Thứ hai, chính quyền Trump II thừa nhận Trung Quốc là một cường quốc kinh tế và quân sự, một thế lực ổn định ở vùng châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, sự lớn mạnh nhanh chóng về quy mô cũng như là chất lượng quân sự của Trung Quốc bao gồm cả các lực lượng được thiết kế cho các hoạt động ở Tây Thái Bình Dương (nhìn từ phía Mỹ) cùng với khả năng vươn tới các mục tiêu xa khiến Mỹ lo lắng cho các lợi ích của mình do việc vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương trong tương lai sẽ chiếm đến hơn một nửa nền kinh tế toàn cầu.

    NDS 2026 của Mỹ cho rằng « an ninh, tự do và thịnh vượng của Mỹ » phụ thuộc nhiều vào khả năng « giao thương và tham gia trong thế mạnh » của Mỹ trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Việc Trung Quốc – hay một quốc gia nào khác – thống trị khu vực có thể ngăn chặn hiệu quả « khả năng tiếp cận của Mỹ với trung tâm kinh tế toàn cầu, gây ra những hậu quả lâu dài đối với triển vọng kinh tế quốc gia, bao gồm cả khả năng tái công nghiệp hóa của Mỹ ».

    Trong tầm nhìn này, tuy không một lời nhắc đến Đài Loan – một điểm gây ngạc nhiên cho giới quan sát – nhưng NDS 2026 cho biết Hoa Kỳ sẽ thiết lập một « hệ thống phòng thủ vững chắc dọc theo chuỗi đảo thứ nhất », khuyến khích và hỗ trợ các đồng minh, đối tác chính yếu trong khu vực can dự nhiều hơn vào việc phòng thủ chung. Nhưng NDS cũng khẳng định rằng mục tiêu đề ra là « không nhằm thống trị Trung Quốc, không bóp nghẹt cũng không làm nhục Trung Quốc » mà để « duy trì thế cân bằng lực lượng quân sự trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương », ngăn chặn Trung Quốc hoặc bất kỳ quốc gia nào có thể thống trị Mỹ hay các nước đồng minh của Mỹ.

    Đối với nhà nghiên cứu về chính sách đối ngoại Mỹ, Isabelle Vagnoux, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc vẫn có một sự liên tục. Điểm thay đổi ở đây là giọng điệu của chính quyền Trump có vẻ hòa dịu hơn so với nhiệm kỳ đầu tiên.

    « Donald Trump từng có một bước ngoặt rõ ràng hướng đến vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, xem Trung Quốc là mối đe dọa chính cho an ninh nước Mỹ. Điều này đã có dưới thời Obama nhưng còn khá kín đáo. Chính quyền Trump nhiệm kỳ I là chính quyền đầu tiên thực sự coi Trung Quốc là kẻ thù và đã tăng cường các mối quan hệ đồng minh, bao gồm cả liên minh quân sự tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Hơn nữa, ông Biden đã theo đuổi đường lối tương tự. Nhưng trong chiến lược mới này, Trung Quốc được đối xử khá tốt đó là vì ông Trump từ chối mọi sự đối đầu. Điều ông muốn chứng tỏ ở đây là Mỹ vẫn tiếp tục duy trì vị thế mạnh mẽ tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương nhưng tránh mọi sự đối đầu. »

    Đồng minh nên « tự lo » an ninh của chính mình

    Ưu tiên thứ ba được NDS đề cập đến là « Tăng cường chia sẻ trách nhiệm với các đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ ». Giống như NSS đã dự kiến, đây là chiến lược tham gia có mục tiêu ở nước ngoài, tập trung rõ ràng vào việc thúc đẩy các lợi ích cụ thể và thiết thực của Mỹ. Trong cách tiếp cận « Nước Mỹ trên hết » và dựa theo lẽ thường, các mối liên minh và đối tác với Mỹ đóng vai trò quan trọng.

    Ngoài hai ưu tiên trên, NDS 2026 nhìn nhận sự tồn tại dai dẳng của nhiều mối đe dọa khác, nhưng cho rằng các nước đồng minh từ Á đến Âu nên gánh vác phần lớn trọng trách và trên tuyến đầu vì đó là lợi ích của chính các nước đó, để ngăn chặn và làm đối trọng với Trung Quốc ở Ấn Độ - Thái Bình Dương hay đối phó với mối họa hạt nhân Bắc Triều Tiên ở Đông Bắc Á hay nguy cơ chiến tranh với Nga tại châu Âu, vốn dĩ được đánh giá là « ít nghiêm trọng hơn » cho Mỹ và không đe dọa đến Mỹ.

    Do vậy, NDS hối thúc các nước đồng minh nên nhanh chóng đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu mới do tổng thống Trump thiết lập tại thượng đỉnh NATO ở La Haye năm 2025, theo đó, các nước đồng minh nên dành chi tiêu cho quốc phòng là 5% và Hoa Kỳ chỉ sẽ cung cấp các hỗ trợ quân sự cần thiết một khi các nước thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trên.

    Nhìn từ góc độ này, nhà nghiên cứu Elie Tenenbaum, trả lời báo Pháp Le Figaro đánh giá, « Hoa Kỳ dự định sẽ tiếp tục tham gia, nhưng ở mức độ hạn chế hơn. Trách nhiệm chính hiện nay thuộc về các đồng minh, với trọng tâm là tăng chi tiêu quốc phòng. Đặc biệt, Israel đang được coi là một “đồng minh kiểu mẫu”, có khả năng đảm bảo quốc phòng cho chính mình. Thông điệp đưa ra, theo một nghĩa nào đó, là “Quý vị hãy tự lo cho mình, rồi Mỹ sẽ giúp quý vị”. »

    Phục hồi nền công nghiệp Mỹ

    Cuối cùng, NDS 2026 đặt ưu tiên cho việc « tăng cường sức sống cho nền tảng công nghiệp quốc phòng Mỹ ». Chính quyền Trump II kỳ vọng phục hồi nền công nghiệp Mỹ bằng cách đưa các ngành công nghiệp chiến lược trở về Mỹ và hồi sinh những ngành công nghiệp mà các thế hệ trước đã cho di dời ra nước ngoài. Tài liệu khẳng định tham vọng biến Mỹ trở lại thành « kho vũ khí hàng đầu thế giới », có khả năng sản xuất không chỉ cho chính mình mà cả cho các đồng minh và đối tác.

    Và để đạt được mục tiêu này, NDS 2026 cam kết có những khoảng đầu tư lớn cho nền quốc phòng Mỹ, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư có tư tưởng đổi mới, tiếp nhận công nghệ mới và giảm nhẹ các quy định, chính sách lỗi thời cũng như các rào cản, cũng như mở rộng hợp tác sản xuất với các đồng minh, đối tác… Bằng cách này, Hoa Kỳ có thể bảo đảm các lợi thế công nghiệp quốc phòng của chính mình, củng cố các liên minh để họ có thể đóng góp vào việc duy trì hòa bình thông qua sức mạnh, trên cơ sở vững chắc, công bằng và bền vững.

    Nhìn chung, chiến lược quốc phòng mới của Mỹ đã khiến các nước đồng minh châu Âu và châu Á lo lắng về nguy cơ Hoa Kỳ rút quân tại hai khu vực này. Trang mạng hãng tin Yonhap nhận xét, việc Hoa Kỳ hối thúc các đồng minh tăng chi tiêu quốc phòng có nguy cơ dẫn đến việc những nước này phải mua nhiều vũ khí và công nghệ do Mỹ sản xuất, để giảm gánh nặng an ninh cho Washington vào thời điểm Mỹ muốn tập trung vào đối thủ địa chính trị lớn là Trung Quốc.

    Tuy nhiên, cựu lãnh đạo tình báo quân sự Pháp, ông Christophe Gomart trên mạng xã hội Instagram, ngay sau khi tổng thống Trump công bố Chiến lược An ninh Quốc gia cuối tháng 12/2025, từng kêu gọi một sự cẩn trọng :

    « Điều này diễn ra trong khuôn khổ NATO, nơi việc phân chia vai trò một lần nữa sẽ do Washington quyết định. Và đó không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Các tài liệu này liên tục nhắc đến Đức và không một quốc gia nào khác thuộc Liên Hiệp Châu Âu, nhấn mạnh rất nhiều vào những điểm yếu của Đức. Tại sao ? Bởi vì, trong mắt Hoa Kỳ, Berlin là con rối ngoan ngoãn phục vụ chiến lược của họ ở châu Âu.

    Bằng cách nêu bật những điểm yếu của Berlin, Mỹ đang gây sức ép vào điểm yếu của Đức và củng cố quyền kiểm soát của mình. Cần nhớ rằng trong số 52 tỷ euro đơn đặt hàng gần đây của Berlin, một phần lớn sẽ trực tiếp mang lại lợi ích cho các ngành công nghiệp Mỹ. Về cơ bản, Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) đang nói rằng: "Lợi ích của Hoa Kỳ nằm ở việc giữ châu Âu trong tầm kiểm soát chặt chẽ và chia rẽ để cai trị tốt hơn". »

    Dù vậy, trong khối NATO, tổng thư ký Liên minh quân sự Mark Rutte cảnh báo : « Châu Âu khó thể tự phòng thủ nếu không có Mỹ ». Tóm lại, như hàng tựa bài phỏng vấn của Le Figaro, chiến lược « Hãy tự lo cho mình trước, rồi Mỹ sẽ đến giúp » đã chính thức hóa bước ngoặt « Make America Great Again ! » Một tầm nhìn cũng làm hài lòng Nga và Trung Quốc !

    12 min
  • Dựa Mỹ để bảo vệ Ukraina hay bảo vệ Groenland chống Mỹ: Châu Âu bị đẩy vào thế đường cùng

    Đầu năm 2026, phe cầm quyền của tổng thống Mỹ Donald Trump một lần nữa khiến nhiều đồng minh châu Âu « choáng váng », khi đơn phương tuyên bố Washington sẽ kiểm soát đảo Groenland thuộc chủ quyền của Đan Mạch, thành viên khối NATO, trong ít tuần lễ tới. Hành xử của Nhà Trắng đẩy châu Âu vào thế đường cùng.

    Châu Âu phản ứng ra sao ? Vụ Groenland nói gì về quan hệ Hoa Kỳ - Châu Âu đang bước vào giai đoạn ngày càng bất định ?

    Hãy bỏ rơi Groenland để đổi lấy « an ninh cho Ukraina »: Trump ngửa bài

    Tối 04/01/2026, hơn một ngày sau chiến dịch tấn công chớp nhoáng Venezuela, bắt sống tổng thống quốc gia Nam Mỹ đưa về Hoa Kỳ, Donald Trump tuyên bố nước Mỹ cần đảo Groenland « vì lý do an ninh quốc gia ». Để bảo vệ vùng Bắc Cực ở Bắc Đại Tây Dương khỏi các tham vọng của Nga và Trung Quốc, như ông Trump liên tục nhấn mạnh lâu nay. Tổng thống Mỹ khẳng định như đinh đóng cột : « chúng tôi sẽ kiểm soát Groenland trong khoảng hai tháng nữa… chúng tôi sẽ trở lại bàn về Groenland trong 20 ngày nữa ».

    Một ngày trước đó, bà Katie Miller, vợ của phó văn phòng Nhà Trắng Stephen Miller ( được coi là người có nhiều ảnh hưởng với chính sách quốc tế của tổng thống Mỹ), trên mạng X, đăng tải hình lá cờ Mỹ trên đảo Groenland với một chữ hoa duy nhất « SOON » (tạm dịch là : SẮP RỒI).

    Nửa tháng sau, lá bài lật ngửa. Trước thềm Diễn đàn Kinh tế thường niên Davos (Thụy Sĩ), quy tụ giới lãnh đạo toàn cầu, tổng thống Donald Trump đưa ra một tuyên bố trịch thượng : « Châu Âu nên quên chuyện Groenland đi để tập trung vào hồ sơ Ukraina ». Trả lời đài NBC News, ngày 18/01, bộ trưởng Tài Chính Mỹ Scott Bessent giải thích rõ về lời cảnh báo của tổng thống : « Các nhà lãnh đạo châu Âu sẽ phải hiểu rằng họ cần nằm dưới cái ô bảo đảm an ninh của Mỹ. Điều gì sẽ xảy ra ở Ukraina, nếu Mỹ rút đi các hỗ trợ? Toàn bộ mọi thứ sẽ sụp đổ. »

    Nhà báo Pierre Haski chuyên về địa chính trị quốc tế ghi nhận « một tình huống chưa từng có đối với Liên Hiệp Châu Âu », phải cùng lúc đối mặt với các đe dọa từ Nga và Mỹ, trên hai mặt trận « Ukraina và Groenland ». Châu Âu phải đối mặt với cuộc xâm lăng của một đối thủ, « đã từng là đồng minh chính của mình » (« De l’Ukraine au Groenland, l’Europe sous un double feu », Le Nouvel Obs).

    Sự lúng túng, bị động của châu Âu…

    Chuyên gia Federico Santopinto, giám đốc nghiên cứu Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), phụ trách Chương trình Châu Âu, Liên Âu, NATO, đưa ra một ghi nhận chung về phản ứng của châu Âu : « Các nước châu Âu hoàn toàn bị choáng váng. Họ không còn biết phải làm gì. Ngay cả người Đức cũng tỏ ra lúng túng. Họ có thể hiểu rõ vấn đề, nhưng thể hiện thái độ gần như thúc thủ bị động. Họ quyết định rút một số binh sĩ đã triển khai trước đó tại Groenland. Tâm trạng choáng váng thông thường kéo dài không lâu. Nhưng lần này là một tình trạng choáng váng kéo dài. Các nước châu Âu chưa thực sự đoàn kết lại để có được một lập trường chung về những thay đổi lớn lao đang diễn ra trên thế giới, và đặc biệt là tại Mỹ. »

    Đan Mạch chắc chắn là một trong những nước châu Âu bị tác động nặng nề nhất bởi chính sách độc đoán và thô bạo của nước Mỹ, quốc gia thường được coi là đồng minh trụ cột, bời Đan Mạch cũng là một trong các thành viên NATO gắn chặt nhất số phận của mình với nước Mỹ.

    • Đọc thêm - Thủ tướng Đan Mạch: Nếu Mỹ chiếm đảo Groenland, liên minh Âu - Mỹ sẽ tan vỡ

    Trả lời Radio France, chuyên gia Kristian Soby Kristensen, giám đốc Viện Chiến lược và nghiên cứu về Chiến tranh Học Viện Quốc phòng Hoàng gia Đan Mạch, nhận xét : « Ít nhất trong 30 năm qua đã có sự đồng thuận rộng rãi ở Đan Mạch rằng mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương là nền tảng của chính sách quốc phòng và an ninh của Đan Mạch. Các chính trị gia Đan Mạch đã làm mọi thứ có thể để xích lại gần Mỹ nhiều nhất có thể. Một trong những đồng nghiệp của tôi thường mô tả lập trường của Đan Mạch là phụ thuộc nặng nề vào Mỹ ».

    … và tâm thế « sung sướng là chư hầu » 

    Tuy nhiên, không chỉ Đan Mạch mà toàn bộ châu lục phụ thuộc nặng nề vào Mỹ về an ninh. Nhà địa chính trị học Gilles Gressani lưu ý: « Thách thức lớn là các nước châu Âu chúng ta hoàn toàn nằm trong vùng ảnh hưởng của Mỹ. Chúng ta đã bị đặt vào vị thế là chư hầu của Mỹ từ lâu. Về cơ bản, tổng thống Mỹ Donald Trump, khi tìm cách buộc chúng ta phải tuân theo cách nhìn của ông ta, buộc chúng ta phải tuân theo các lợi ích của ông ta, đã thách thức : Các vị có thể làm được gì để có thể chống lại những gì mà tôi áp đặt với các vị ?  Nếu trở ngược lại với lịch sử, có thể thấy châu Âu về mặt nào đó chấp nhận đã là chư hầu của Mỹ ». (« Quel est le plan de Donald Trump pour briser l'UE et l'ordre mondial ? / Đâu là kế hoạch của Donald Trump nhằm phá vỡ Liên Âu và trật tự thế giới ? » - C Ce Soir, ngày 20/01/2026).

    Nhà địa chính trị học Gilles Gressani, đứng đầu tạp chí chuyên về chính trị quốc tế Le Grand Continent, là tác giả của khái niệm « vassalisation heureuse » (tạm dịch là « sung sướng là chư hầu »), được nhiều người sử dụng sau đó để nhấn mạnh đến hiểm họa, mà ông coi là lớn nhất với các nước châu Âu hiện nay, đó là hoàn toàn bị gạt sang bên lề cuộc chơi toàn cầu, nếu tiếp tục phó thác các vấn đề chiến lược an ninh của châu lục cho nước Mỹ thời Donald Trump, với các tham vọng đế quốc ngày càng thể hiện rõ. 

    Để Trump lấn tới ở Groenland, Châu Âu sẽ lụi tàn

    Tâm thế « sung sướng làm chư hầu » của Mỹ ở đa số các nước châu Âu và chính sách quyết đoán, hung hãn của nước Mỹ thời Donald Trump đang đẩy châu Âu vào thế đường cùng. Thái độ bị động của châu Âu trong việc bảo vệ Groenland đặt Liên Âu trước nguy cơ tồn vong. Học giả Jacques Attali, nguyên cố vấn đặc biệt của tổng thống François Mitterand, cảnh báo :

    « Để đảm bảo sự ủng hộ của Trump cho một thỏa thuận lâu dài nhằm cứu Ukraina, châu Âu đang kiềm chế, không thực hiện bất kỳ biện pháp trả đũa thương mại nào, bất kỳ lệnh trừng phạt kỹ thuật số nào và bất kỳ sự bảo vệ đáng tin cậy nào đối với toàn vẹn lãnh thổ của Groenland. Tính toán này là dễ hiểu, bởi nếu Ukraina sụp đổ, toàn bộ châu Âu - không có sự hỗ trợ của Mỹ - có nguy cơ bị Nga xâm lược. Tuy nhiên, hành động như vậy, châu Âu sẽ không cứu được Ukraina, và họ cũng sẽ mất Groenland. Khi đó, họ sẽ đánh mất chính mình. » (Les Echos, ngày 09/01/2026). 

    Ba kịch bản với Groenland: Châu Âu đối xử thế nào với « đồng minh kẻ cướp » ?

    Châu Âu bị đẩy vào thế đường cùng buộc phải tìm lối thoái. Ít ngày sau đe dọa của tổng thống Mỹ sẽ kiểm soát Groenland trong hai tháng tới, Viện Jacques Delors đưa ra ba kịch bản với Groenland (« Groenland : Trois scénarios pour l’Europe face à un allié prédateur /  Groenland: Ba kịch bản cho châu Âu đối mặt với đồng minh kẻ cướp »). Ngoài kịch bản bất lực hay đầu hàng (Viện Jacques Delors gọi là « Kịch bản Munich vùng Bắc Cực »), hai kịch bản còn lại là « Đối đầu » và « Phòng thủ ngăn ngừa, tránh đụng độ » (còn gọi là « Kịch bản răn đe »).

    • Đọc thêm : Tại Mỹ, hai dự luật được trình lên Quốc Hội ngăn chặn chính quyền Trump sáp nhập một đồng minh NATO

    Theo kịch bản « Phòng thủ theo hướng ngăn ngừa, tránh đụng độ », các quốc gia châu Âu, gồm trước hết Pháp, Anh, Đức và các nước Bắc Âu, triển khai lực lượng một cách kín đáo (tàu chiến, phương tiện trên không, đơn vị bộ binh nhẹ…) tại Groenland theo yêu cầu của Đan Mạch, với danh nghĩa chống Nga và Trung Quốc. Mục tiêu không phải là đối đầu với Mỹ, mà là làm cho việc sáp nhập trở nên « phải trả giá cao về mặt chính trị » đối với phe Trump. Trump sẽ phải ra lệnh tấn công đồng minh và sẽ gặp sự phản đối từ phía Quốc Hội Mỹ. Theo Viện Jacques Delors, trong hoàn cảnh hiện nay kịch bản này là « lựa chọn hợp lý nhất để ngăn chặn việc sáp nhập mà không cần xung đột ». 

    Nếu Nhà Trắng không dừng bước, châu Âu buộc phải chuyển sang kịch bản « đối đầu ». Quân Mỹ lấn tới ở Groenland tất nhiên sẽ buộc các nước châu Âu phải rút quân. Trong trường hợp này, châu Âu sẽ hứng chịu « thất bại về mặt quân sự » trước phe cánh của tổng thống Mỹ, nhưng Nhà Trắng phải trả giá rất đắt về mặt chính trị: Khủng hoảng nội bộ, phản ứng dữ dội từ Quốc Hội, uy tín khối NATO sụp đổ. Tuy nhiên, kịch bản cực đoan này cũng có mặt tích cực với châu Âu : Đẩy nhanh tiến trình « tự chủ chiến lược » của châu lục, tách châu Âu hoàn toàn khỏi Mỹ.

    « Sự cáo chung của phương Tây » và cơ hội khẳng định độc lập với Mỹ

    Tham vọng đế quốc của nước Mỹ thời Donald Trump đẩy châu Âu vào chân tường. Tâm thế « chư hầu sung sướng », ủy thác vấn đề an ninh chiến lược cho Mỹ, đang ngày càng trở nên khó duy trì. Nhà địa chính trị học Pascal Boniface, giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (IRIS), nhận định: « Khái niệm về thế giới phương Tây như chúng ta từng biết không còn tồn tại, không còn phù hợp nữa, và vì vậy đã đến lúc phải phản ứng, vì Trump đang cho chúng ta cơ hội để làm điều đó. Nếu chúng ta bỏ lỡ cơ hội này, nếu chúng ta không làm gì cả, chúng ta sẽ mất hết uy tín trong mắt thế giới, và đặc biệt là trong mắt chính người dân của chúng ta. » (UE - Trump : La soumission n'est plus possible / EU - Trump : Không thể tiếp tục tuân phục, 19/01/2026). 

    Diễn biến những ngày qua cho thấy, trong hồ sơ Groenland, các nước châu Âu dường như đang nghiêng về kịch bản thứ hai « Phòng thủ ngăn ngừa, tránh đụng độ ». Sau các đe dọa của Trump, 8 nước châu Âu đã điều binh sĩ đến Groenland, tham gia cuộc thao dượt do Đan Mạch và các nước đồng minh đồng tổ chức. Chỉ huy bộ Tư lệnh Bắc Cực của Đan Mạch cho biết, Hoa Kỳ đã được mời tham gia.

    • Đọc thêm : NATO và Groenland tuyên bố ý định hợp tác tăng cường phòng thủ cho lãnh thổ tự trị của Đan Mạch

    Báo chí Bỉ ghi nhận bộ trưởng Quốc Phòng Bỉ Theo Francken, một chính trị gia có lập trường phụ thuộc nặng nề vào Mỹ, mới đây cho biết đang chuẩn bị « phương án B », phối hợp chặt chẽ với các nước châu Âu về mặt chính trị và hậu cần, nếu toàn vẹn lãnh thổ của Đan Mạch bị xâm phạm. 

    Nỗ lực đoàn kết với Groenland và những bài học Ukraina

    Nước Pháp chủ trương kích hoạt « công cụ chống cưỡng ép kinh tế » của Liên Hiệp Châu Âu trong trường hợp tổng thống Mỹ Donald Trump tăng thuế quan với 8 nước châu Âu phản đối Washington thâu tóm Groenland. Nghị Viện Châu Âu bỏ phiếu hoãn thực thi thỏa thuận thuế quan với Mỹ, sơ bộ đúc kết mùa hè vừa qua. Hôm nay, 22/01/2026, các lãnh đạo châu Âu họp thượng đỉnh bất thường để phối hợp phản ứng chung trước những đe dọa của Trump về Groenland.

    • Đọc thêm : Trump từ bỏ sử dụng vũ lực thâu tóm Groenland, dừng đánh thuế các nước châu Âu bảo vệ Groenland (ngày 21/01/2026)

    Con đường đi đến độc lập với Mỹ về an ninh mới chỉ bắt đầu và vô cùng gian truân. Tuy nhiên, theo nhiều nhà quan sát, việc hình thành một nhóm nước châu Âu trụ cột, đi đầu trong lĩnh vực này, với « Liên minh tình nguyện vì Ukraina » từ gần một năm nay, đã mang lại những nền tảng và bài học quý giá, giúp cho châu Âu đối phó tốt hơn trong hồ sơ Groenland vào thời điểm sinh tử hiện nay.

    9 min
  • Dầu lửa, hạt nhân : Hoa Kỳ trong tình trạng « khẩn cấp năng lượng » ?

    Một năm sau khi tuyên bố « tình trạng khẩn cấp năng lượng » tại Mỹ, Donald Trump đã chiếm được quyền kiểm soát dầu hỏa Venezuela. Nhưng trong cuộc cạnh tranh giành thế thống trị năng lượng thế giới với Trung Quốc, Hoa Kỳ không dừng ở nguồn nhiên liệu hóa thạch mà nắm luôn cả năng lượng hạt nhân.

    Ngày 20/01/2025, trong ngày nhậm chức, nhà tỷ phú Mỹ Donald Trump đã tuyên bố : « Cuộc khủng hoảng lạm phát là do chi tiêu quá mức và giá năng lượng leo thang. Đó là lý do vì sao hôm nay, tôi cũng sẽ tuyên bố tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia. Chúng ta sẽ khoan dầu, khoan dầu, khoan dầu nữa ! »

    "Khẩn cấp năng lượng" : Nước Mỹ lâm nguy ?

    Hơn ba tuần sau, ngày 14/02/2025, nguyên thủ Mỹ ký sắc lệnh thành lập « Hội đồng Quốc gia về Thống trị Năng lượng ». Theo Nhà Trắng, hội đồng này sẽ điều phối chính sách năng lượng và đơn giản hóa thủ tục cấp phép, sản xuất và phân phối các nguồn năng lượng khác nhau. Trên đài France Culture ngày 12/01/2026, nhà nghiên cứu Thibault Michel, Trung tâm Năng lượng và Khí hậu thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), trước hết, giải thích quan điểm của chính quyền Trump về « tình trạng khẩn cấp năng lượng ».

    « Theo tôi, điều cần hiểu trước tiên là chính quyền Trump, ngay từ nhiệm kỳ I, thực sự đã có một cách tiếp cận, đó là sự thống trị năng lượng. Thế thống trị này vượt lên trên cả vấn đề an ninh năng lượng đơn thuần. Rõ ràng đây không chỉ là vấn đề nắm chủ quyền đối với nguồn cung năng lượng của chính mình, mà còn sử dụng năng lượng như một công cụ cả trong thương mại và địa chính trị, một công cụ để gây ảnh hưởng trên toàn thế giới. Và điều này có thể được thực hiện thông qua việc cung cấp dầu mỏ, khí đốt, năng lượng cho toàn cầu. »

    Và việc ban hành tình trạng khẩn cấp đã cho phép chính quyền Trump có thể hành động thường xuyên bằng sắc lệnh mà không cần thông qua Quốc Hội, đó là những gì ông Trump đã làm khi ký đến sáu hay bảy sắc lệnh ngay sau khi nhậm chức. Nhà nghiên cứu tại viện IFRI giải thích tiếp : « Sau đó còn có những sắc lệnh khác liên quan đến năng lượng hạt nhân. Rõ ràng là có lý do biện minh ở đây như ông Trump đã từng nói trong bài phát biểu hồi tháng 12/2025, xin trích, "tôi thừa hưởng một thảm họa". Vì vậy, đây là tình trạng khẩn cấp, chúng ta phải hành động. Nhưng bên cạnh đó, người ta thực sự đang thấy rõ tham vọng thống trị và tiềm năng mà cách tiếp cận khẩn cấp này mang lại. »

    Cũng trong ngày nhậm chức, nguyên thủ Mỹ còn nói thêm « điều chúng ta muốn làm là giữ AI, tức trí tuệ nhân tạo, ở trong nước ». Ông thông báo những khoản đầu tư trị giá 500 tỷ đô la của khu vực tư nhân để xây dựng các trung tâm dữ liệu. Đối với bộ trưởng An ninh Nội địa Doug Burgum, « Hoa Kỳ đang lao vào một cuộc đua về vũ khí trên phương diện AI với Trung Quốc. Cách thức duy nhất để giành thắng lợi là có nhiều điện năng hơn nữa ».

    Trung tâm dữ liệu : Những cỗ máy « háu » năng lượng

    Theo Le Monde Diplomatique, số ra tháng 01/2026, tại Mỹ trong giai đoạn 2022-2024, đầu tư vào các trung tâm dữ liệu ở chiếm 84% tổng vốn cam kết ở Virginia, bang tập trung nhiều trung tâm nhất. Trên toàn quốc, chi tiêu cho các trung tâm dữ liệu và các hoạt động công nghệ dường như đã giúp tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hoa Kỳ thêm 0,5 điểm trong quý 2 năm 2025.

    Việc đầu tư vào trung tâm dữ liệu không chỉ mang tính kinh tế, mà còn là một thách thức chiến lược. Trả lời nhà báo độc lập Eva Thiébaud, tác giả bài viết « Vì sao Hoa Kỳ tái khởi động hạt nhân dân sự ? », đăng trên báo Le Monde Diplomatique, chuyên gia về kinh tế - chính trị các giao diện kỹ thuật số Vili Lehdonvirta, đại học Aalto ở Phần Lan, phân tích :

    « Nhìn từ góc độ quân sự, các tập đoàn công nghệ khổng lồ và các trung tâm dữ liệu của họ hỗ trợ chính phủ bằng cách lưu trữ và xử lý, thông qua trí tuệ nhân tạo, khối lượng thông tin khổng lồ được thu thập từ camera hoặc bộ cảm biến trong vùng chiến sự, như những gì đã xảy ra với Israel và cuộc tấn công của họ ở Palestine. Và ngoài lĩnh vực quân sự, Edward Snowden đã cho chúng ta thấy các công ty công nghệ có thể đồng ý cung cấp quyền truy cập dữ liệu của họ cho chính phủ Mỹ, do đó chúng có một tầm quan trọng đối với tình báo. »

    Tuy nhiên, việc đầu tư vào trung tâm dữ liệu và AI tại Mỹ, ngoài những rủi ro địa chính trị như gián đoạn nguồn cung đất hiếm, đang vấp phải một trở ngại lớn ở trong nước : Tình trạng thiếu điện do thiếu mạng lưới truyền tải và đòi hỏi nhiều thời gian để cải thiện. Le Monde Diplomatique nêu ví dụ Dominion, nhà sản xuất, điều hành và phân phối điện lớn nhất tại bang Virginia, hồi tháng 07/2024, đã gởi thư thông báo với khách hàng rằng việc kết nối với các đường dây công suất lớn sẽ phải kéo dài thêm từ 12 đến 36 tháng so với trước đây, tức là phải mất từ 4 đến 7 năm.

    Hạt nhân : Nguồn năng lượng dồi dào

    Ngày 23/05/2025, tổng thống Mỹ ký sắc lệnh nhắm mở ra « một kỷ nguyên hạt nhân mới ». Ông kêu gọi triển khai 300GW điện hạt nhân bổ sung từ đây đến năm 2050. Nhà Trắng đầu tư vào 10 lò phản ứng hạt nhân đang được xây dựng từ đây đến năm 2030. Ngày 28/10/2025, Washington thông báo một đối tác chiến lược trị giá 80 tỷ đô la với tập đoàn năng lượng hạt nhân Westinghouse Electric Company, nhằm tái triển khai ngành công nghiệp hạt nhân quốc gia, có khả năng cung cấp năng lượng trước sự bùng nổ nhu cầu từ các trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.

    Trên đài France Culture, nhà báo Eva Thiébaud, giải thích, « Ai cũng nhận thấy hiện nay chúng ta đang trải qua thời kỳ bùng nổ trí tuệ nhân tạo, với rất nhiều trung tâm dữ liệu đang được xây dựng ở Hoa Kỳ, vốn tiêu thụ và sẽ tiếp tục tiêu thụ ngày càng nhiều năng lượng, mặc dù các dự báo hiện tại đầy rẫy sự bất định. Vì vậy, các trung tâm dữ liệu này cần được cung cấp năng lượng, và để làm được điều đó, có một số giải pháp năng lượng khả dụng. Tất nhiên, có các nhà máy điện chạy bằng khí đốt và, tại sao không phải là năng lượng hạt nhân trong tương lai ? Chính vì lẽ đó mà thông báo này đã được đưa ra gần đây. »

    Ngoài ra, chính quyền Trump còn có thể trông cậy vào các đại tập đoàn công nghệ. Các hãng lớn như Google AI và Google DeepMind, Meta AI, Nvidia, Amazon Web Services (AWS) hay như Microsoft, vốn xem hạt nhân như là một nguồn năng lượng ổn định nhất cho các trung tâm dữ liệu, để phát triển các công nghệ hạt nhân mới như mô hình « lò phản ứng mô-đun nhỏ », một công nghệ được cho là có nhiều lợi thế, có thể cung cấp năng lượng trực tiếp cho các trung tâm dữ liệu, hạn chế phát thải khí nhà kính và tự giải phóng khỏi lưới điện. Hay như việc Trump Media, công ty mẹ của mạng xã hội Truth Social ưa thích của tổng thống Trump, thông báo liên kết với hãng Mỹ TAE chuyên về phát triển công nghệ phản ứng tổng hợp hạt nhân, mà Trung Quốc hiện đang dẫn đầu.

    Nhưng việc xây dựng các nhà máy hạt nhân dân sự mới không phải là điều dễ dàng, bởi vì, « các nhà máy điện hạt nhân là những dự án cực kỳ phức tạp, cần rất nhiều thời gian để triển khai, và hiện nay năng lượng hạt nhân tiêu tốn của Hoa Kỳ nhiều hơn so với việc xây dựng các nhà máy điện khí đốt », theo như nhận xét của nhà báo Eva Thiébaud.

    Theo nhà báo độc lập này, « đây là lý do vì sao hiện nay, bên hưởng lợi chính từ sự bùng nổ trí tuệ nhân tạo, vốn tiêu thụ nhiều năng lượng là khí đốt, và có lẽ bước tiếp theo là năng lượng hạt nhân. Nhưng quả thật, năng lượng nguyên tử rất đắt đỏ và rất khó để triển khai. Người ta phải chờ xem chính quyền Trump thực sự có đủ nguồn lực để đáp ứng tham vọng đó hay không. Điều chắc chắn là hiện nay có nhiều thông báo về các lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) nhưng chúng ta cần xem liệu việc sản xuất điện bằng các lò phản ứng nhỏ với giá cạnh tranh có khả thi hay không. Hiện tại, các nhà sản xuất lớn trong ngành công nghiệp hạt nhân đang chuyển sang sử dụng các nhà máy điện hạt nhân cũ hơn chính vì chúng giúp giảm cả thời gian và chi phí sản xuất điện. »

    … Và cuộc đua giành ảnh hưởng về năng lượng nguyên tử

    Trong khi chờ đợi tìm ra công thức thần kỳ, các công ty kỹ thuật số đang dựa vào cơ sở hạ tầng hiện có để giảm chi phí và thời gian. Năm 2024, Amazon đã ký kết thỏa thuận mua bán trực tiếp với nhà điều hành nhà máy điện hạt nhân Susquehanna ở Pennsylvania. Một giải pháp khả thi khác là khởi động lại các nhà máy đã ngừng hoạt động.

    Bất chấp thảm họa năm 1979, khi một trong hai lò phản ứng bị tan chảy, nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island, bang Pennsylvania, thông báo khởi động trở lại sau một thời gian dài ngừng hoạt động. Tập đoàn này đã ký kết một thỏa thuận với Microsoft để đảm bảo nguồn cung điện năng cho hãng công nghệ kể từ năm 2027 trong vòng 20 năm.

    Dù vậy, theo giới chuyên gia, bên cạnh việc tìm cách bù đắp cho nhu cầu năng lượng ngày càng lớn trong nước, chủ trương phát triển năng lượng hạt nhân, trong dài hạn, còn nhằm mục tiêu đưa Hoa Kỳ trở lại cuộc đua bán năng lượng nguyên tử trên thế giới. Trên đài France Culture, nhà báo Eva Thiebaud giải thích :

    « Có sự cạnh tranh quốc tế trong việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, trong đó Hoa Kỳ đang cạnh tranh với Trung Quốc và Nga, cùng nhiều nước khác. Do đó, việc khởi động lại hay xây dựng các nhà máy điện hạt nhân có thể giúp Mỹ giành lại vị thế trong cuộc đua về buôn bán nhà máy điện hạt nhân quốc tế.

    Quả thật, trong những năm gần đây, WestingHouse và Hoa Kỳ không xây dựng nhiều nhà máy điện trên lãnh thổ của mình. Kể từ thảm họa Three Mile Island năm 1979, việc phát triển năng lượng hạt nhân đã bị đình trệ, bất chấp nỗ lực hồi sinh vào những năm 2010. Vì vậy, ở đây còn có mong muốn khởi động lại ngành công nghiệp hạt nhân trên lãnh thổ của mình để định lại vị thế quốc tế của đất nước. »

    Một năm sau những phát biểu trên và sau cuộc tấn công bất ngờ vào Caracas bắt giữ vợ chồng tổng thống Venezuela Nicolas Maduro đưa về Mỹ, tổng thống Donald Trump hôm 07/01/2026, tuyên bố : « Đất nước chúng ta phải được bao quanh bởi các quốc gia an toàn và ổn định. Và chúng ta cũng phải có năng lượng. Điều này là quan trọng ». Sự kiện này, phù hợp với việc ban hành « tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia » một năm trước và chính sách « khoan dầu, khoan dầu nữa đi », nhằm mở đường cho các hoạt động khai thác của các hãng dầu khí Mỹ ở Venezuela, trong khi chờ đợi điện hạt nhân khởi sắc !

    11 min
  • Can thiệp quân sự chống Venezuela giúp Trump áp đặt quan điểm « Nước Mỹ trên hết »

    Cuộc can thiệp quân sự chớp nhoáng trong vài tiếng đồng hồ của các lực lượng Mỹ tại Venezuela để bắt tổng thống Nicolas Maduro đưa sang Hoa Kỳ ngày 03/01/2026 là một diễn biến bất ngờ với đông đảo công chúng. Hành động không thông qua Quốc Hội Mỹ, đứng ngoài mọi khuôn khổ luật pháp quốc tế của chính quyền Trump được nhiều nhà quan sát xem như là một cuộc tấn công vào nền móng của kiến trúc an ninh quốc tế, do chính Hoa Kỳ chủ trương.

    Với những ai tin tưởng tổng thống Mỹ Donald Trump là người theo chủ nghĩa biệt lập, xa lánh mọi can thiệp quân sự bên ngoài, và chỉ hành động trong trường hợp bất đắc dĩ, sẽ ngạc nhiên về chiến dịch quân sự quy mô lớn, bắt giữ tổng thống một quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên, giới quan sát ghi nhận chiến lược của phe cầm quyền tại Mỹ đối với Venezuela thể hiện rõ quốc gia Nam Mỹ này đã được sử dụng như một phương tiện thực thi chủ trương « Nước Mỹ trên hết » của Donald Trump, và chủ trương « Nước Mỹ trên hết » chỉ có thể thành công nếu Washington áp đặt trở lại quyền kiểm soát với khu vực Tây Bán Cầu.

    Chống « khủng bố ma túy » chỉ là bình phong

    Vì sao Donald Trump chọn Venezuela làm mục tiêu của cuộc can thiệp quân sự chưa từng có này ? Nhà báo Gille Paris của Le Monde, trong bài « Đối với Donald Trump, chủ trương ‘‘Nước Mỹ trên hết’’ được thực thi trước hết qua trường hợp Venezuela », nêu bật việc tổng thống Mỹ ngay từ khi trở lại cầm quyền đầu năm 2025, đã chuẩn bị các điều kiện cho mục tiêu kiểm soát Venezuela : từ việc ban hành sắc lệnh tổng thống về việc xác định các tổ chức tội phạm và các băng đảng buôn lậu ma túy là « tổ chức khủng bố nước ngoài », một công cụ tư pháp chống lại chế độ Caracas, cho đến việc triển khai lực lượng quân sự quy mô lớn áp sát Venezuela nhân danh lá bài chống « khủng bố ma túy ».

    Các hoạt động này diễn ra song hành với nỗ lực của chính quyền Trump khẳng định quyền lực của một siêu cường có thể hành xử tùy ý, bất chấp mọi khuôn khổ, đặc biệt tại khu vực châu Mỹ Latinh, vốn được coi là « sân sau » của nước Mỹ trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh cũng như nhiều thập niên trước đó.

    Kẻ mạnh có thể chà đạp mọi khuôn khổ: « Sự thật vĩnh cửu trong quan hệ quốc tế »

    Cuộc chiến chống « khủng bố ma túy » của chính quyền Trump được nhiều chuyên gia xem như là một bình phong để che đậy các tham vọng khác. Tháng 6/2025, trả lời phỏng vấn tạp chí The Atlantic, tổng thống Mỹ khẳng định có toàn quyền quyết định điều gì có thể đưa vào hay không đưa vào định nghĩa « Nước Mỹ trên hết ». Chiến lược an ninh quốc gia điều chỉnh, được công bố vào tháng 12/2025, ít tuần lễ trước cuộc can thiệp quân sự tại Venezuela, cho thấy rõ chủ trương của tổng thống Mỹ sẵn sàng hành động bất chấp mọi khuôn khổ pháp lý hay đạo lý: « Ảnh hưởng của các quốc gia lớn nhất, giàu nhất và mạnh nhất luôn vượt ra mọi khuôn khổ là một sự thật vĩnh cửu trong quan hệ quốc tế ».

    Liên quan đến khu vực Mỹ Latinh, chiến lược này nêu rõ là Mỹ phải tìm cách tiếp cận các nguồn tài nguyên và vị trí chiến lược, đồng thời đảm bảo rằng các chính phủ trong khu vực « đủ ổn định và được quản lý tốt để ngăn chặn và hạn chế tình trạng di cư ồ ạt đến Hoa Kỳ ». Theo tài liệu này, Hoa Kỳ « sẽ ngăn chặn các đối thủ ngoài khu vực có cơ hội triển khai lực lượng hoặc các khả năng đe dọa khác, hoặc sở hữu hoặc kiểm soát các tài sản chiến lược » trong khu vực, ám chỉ đến Trung Quốc, quốc gia mua dầu mỏ chính của Venezuela.

    Châu Mỹ Latinh nói riêng và Tây Bán Cầu nói chung đã được tái xác định là khu vực gắn liền với lợi ích sống còn của nước Mỹ dưới thời Trump. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, tổng thống Mỹ đã nhiều lần tuyên bố về chủ trương sáp nhập Canada, Groenland và kênh đào Panama. Tuy nhiên, Venezuela đã được chọn làm điểm tấn công đầu tiên.

    Dầu mỏ Venezuela: Duyên nợ trăm năm và tham vọng thống trị của Mỹ

    Nếu như chế độ độc tài của tổng thống Nicolas Maduro thường xuyên bị chính quyền Trump lên án, dầu mỏ được coi là lý do chủ yếu khiến Nhà Trắng can thiệp quân sự tại Venezuela. Ông Trump liên tục khẳng định nước Mỹ phải giành lại quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên đã bị chế độ Chavez tước đoạt. Việc lãnh đạo cánh tả Hugo Chavez lên nắm quyền vào năm 1999 đã chấm dứt giai đoạn quan hệ được coi là ổn định, kéo dài gần thế kỉ giữa chính quyền Venezuela trong các thời kỳ khác nhau và Washington. Chính quyền của tổng thống Bush con từng ủng hộ cuộc đảo chính hụt chống chế độ Chavez hồi năm 2002.

    Quan hệ « dầu mỏ » Mỹ - Venezuela bắt đầu từ năm 1908, sau khi tư lệnh quân đội, phó tổng thống Juan Vicente Gómez lật đổ tổng thống Cipriano Castro, với sự hỗ trợ của hải quân Mỹ, Venezuela bước vào một thời kỳ liên minh thực dụng với Washington. Gómez mở cửa hoàn toàn ngành dầu mỏ cho các tập đoàn dầu khí Mỹ, đặt nền móng cho mối « quan hệ dầu mỏ » kéo dài hàng thập kỷ.

    Tuần báo Le Point, trong bài phân tích mang tựa đề « De Monroe à Trump : Le Venezuela éternel laboratoire de l’empire américain » (Từ Monroe đến Trump : Venezuela luôn là địa bàn thử nghiệm cho chính sách đế quốc của nước Mỹ), ghi nhận : bất chấp quan hệ song phương căng thẳng, Venezuela vẫn tiếp tục là nhà cung cấp dầu mỏ chính của Mỹ, cho dù chính quyền Chavez mở rộng quan hệ với Cuba, Iran, Nga và Trung Quốc. Dưới thời Chavez, trao đổi thương mại Mỹ - Venezuela, với hàng hóa chính là dầu mỏ, lên tới 50 tỉ đô la vào năm 2007.

    Sự phụ thuộc lẫn nhau về năng lượng khiến Washington hạn chế các trừng phạt đối với chế độ Caracas. Việc chính quyền Venezuela quốc hữu hóa ngành dầu mỏ từ năm 1976 đã không phá vỡ thế cân bằng này : Venezuela tiếp tục được coi là nhà cung cấp đáng tin cậy cho Mỹ, nên Washington chấp nhận sự độc lập tương đối của Caracas trong Tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (OPEC).

    Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ nhất đã thi hành chiến lược « gây áp lực tối đa » với Venezuela, nhằm buộc tổng thống Maduro, cầm quyền từ năm 2013, phải có nhiều nhân nhượng. Tập đoàn Mỹ Chevron, đối tác liên doanh chính của tập đoàn dầu mỏ quốc gia Venezuela (PDVSA), là công ty duy nhất được phép vận chuyển dầu thô từ Venezuela sang Mỹ với khoảng 100.000 đến 150.000 thùng dầu mỗi ngày, ngay trong thời gian Washington phong tỏa các tuyến đường hàng hải, và ra lệnh cấm Venezuela xuất khẩu dầu.

    Hơn 40 lần Mỹ thay đổi chính quyền tại châu Mỹ Latinh, nhưng Venezuela là trường hợp đặc biệt

    Theo thống kê của nhà sử học John Coatsworth, được trang mạng Le Grand Continent dẫn lại, từ năm 1898 đến năm 1994, nước Mỹ đã can thiệp 41 lần vào khu vực châu Mỹ Latinh để thay đổi chính quyền. Tuy nhiên, cuộc can thiệp vừa qua chống tổng thống Nicolas Maduro được xem như một trường hợp đặc biệt. Việc Mỹ đưa binh sĩ can thiệp trực tiếp vào lãnh thổ một quốc gia Mỹ Latinh để bắt giữ hoặc loại bỏ người đứng đầu nhà nước đương nhiệm chỉ xảy ra hai lần. Một lần tại Grenada năm 1983, và một lần vào năm 1989 tại Panama.

    Hai chiến dịch này đều nhắm vào lãnh đạo các quốc gia nhỏ với ít ảnh hưởng quốc tế. Với việc bắt giữ nhà lãnh đạo Venezuela, mặc dù Washington không công nhận ông là tổng thống hợp pháp, Hoa Kỳ đã tấn công một quốc gia có tầm vóc hoàn toàn khác, cả về quy mô và tầm ảnh hưởng khu vực và quốc tế.

    Thách thức Nga, Trung, hạ nhục cánh tả

    Về các lý do Mỹ can thiệp vào Venezuela, chuyên gia về châu Mỹ Latinh Clément Thibaud, giám đốc nghiên cứu trường Cao học Khoa học Xã hội (EHESS), đưa ra một nhận định tổng quan trong cuộc trả lời phỏng vấn đài Pháp France Culture (La Doctrine Monroe expliquée):  

    « Châu Mỹ Latinh phần nào giống như một phòng thí nghiệm cho những gì có thể xảy ra tiếp theo phần còn lại của thế giới, bởi vì Hoa Kỳ khá quen thuộc với khu vực này, họ ít gặp rủi ro hơn khi hành động. Thực tế, tôi cho rằng chúng ta không thể tìm ra một lời giải thích duy nhất cho quyết định của Trump vừa qua.

    Có nhiều nguyên nhân. Điều đầu tiên là tổng thống Mỹ muốn cho Nga thấy rằng ông ấy có thể làm được trong ba giờ những gì người đã không thể làm được trong ba năm ở Ukraina. Trump cũng đang cho Trung Quốc thấy rằng họ không phải là một cường quốc toàn cầu thực thụ. Trung Quốc có sự hiện diện đáng kể ở châu Mỹ Latinh, đã trở thành đối tác thương mại chính của nhiều quốc gia, nhưng họ không có sự hiện diện quân sự như Mỹ. Vì vậy, rõ ràng đây là một thông điệp rất mạnh gửi đến Trung Quốc.

    Sau đó, tôi cho rằng còn một yếu tố quan trọng khác, khi hiểu rõ khu vực Mỹ Latinh, đó là trong mối quan hệ phức tạp giữa Cuba và Venezuela, hai nước vốn cực kỳ gắn bó, có các thế lực cánh tả chống đế quốc, chống Mỹ.  Các chế độ này từ lâu đã mất đi hào quang trong con mắt cánh tả Mỹ Latinh, nhưng vẫn là những biểu tượng rất quan trọng. Và giờ đây các biểu tượng ấy đã bị hạ nhục, bởi vụ bắt giữ này và bởi việc đối xử với ông Maduro như một tên tội phạm thông thường, một kẻ buôn ma túy ».

    ***

    Lịch sử dường như đang lặp lại. Từ cuộc xung đột lãnh thổ Essequibo với Anh Quốc năm 1895 đẩy Venezuela vào vòng tay Mỹ (xem phần đóng khung trong bài) đến chiến dịch can thiệp bắt Nicolas Maduro, Venezuela luôn là chiến trường thử nghiệm chính cho bá quyền của Mỹ ở châu Mỹ Latinh. Điều khác biệt hiện nay là hành động tàn bạo công khai chưa từng thấy, không cần che đậy. Đối với tất cả các quốc gia châu Mỹ, cảnh báo của chính quyền Trump là rất rõ: Hoặc sẵn sàng đối mặt với cơn thịnh nộ Mỹ, hoặc phải nhường bước trước học thuyết« Nước Mỹ trên hết ».

    9 min
  • 2025: Ukraina, eo biển Đài Loan, vịnh Caribê và Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ

    Năm 2025 sắp khép lại nhưng nước Nga tuyên bố sẽ chẳng có « hưu chiến » tại Ukraina vào mùa lễ Noel. Tại châu Á, xung đột Thái Lan và Cam Bốt tái bùng phát, gần một triệu người phải sơ tán, trong khi quan hệ Trung Quốc và Nhật Bản căng thẳng do vấn đề Đài Loan. Ở châu Mỹ Latinh, chính quyền Trump tiếp tục gia tăng áp lực với Venezuela. Còn ở Gaza, người dân Palestine chẳng biết ngày nào sẽ được bình an trở lại.

    Tuy nhiên, việc tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 05/12/2025 công bố Chiến lược An ninh Quốc gia mới (NSS 2025) đã làm dấy lên nhiều tranh luận tại châu Âu vào lúc các cuộc đàm phán cho hòa bình cho Ukraina đang diễn ra căng thẳng. Tài liệu đánh dấu một bước ngoặt quan trọng cho chính sách đối ngoại của Mỹ khẳng định Tây bán cầu (châu Mỹ) trở thành ưu tiên hàng đầu.

    Donald Trump, « cướp biển vùng Caribê »

    Theo Kevin Parthenay, giáo sư đại học Tours, thành viên Viện Đại học Pháp, việc công bố tài liệu này « không gây ngạc nhiên ». Văn bản chính thức hóa và tạo « sự mạch lạc » cho các hành động mà Hoa Kỳ đã và đang thực hiện tại lục địa, từ việc can thiệp vào bầu cử, gây sức ép để tái triển khai quân đội, hay đe dọa dùng vũ lực, tùy theo đặc thù của mỗi nước mà chính quyền Trump có những cách thức hành động khác nhau.

    Đây được coi là một « sự mở rộng » hay một dạng « cập nhật của học thuyết Monroe », được thiết lập vào thế kỷ XIX, nhằm mục đích thiết lập thế bá quyền của Mỹ trong khu vực và ngăn cản các cường quốc khác ngoài Hoa Kỳ can thiệp vào « bán cầu châu Mỹ ». Điều này cho thấy học thuyết này vẫn đứng vững với thời gian và để lại hai hệ luận. Trên đài RFI (1/12/2025), Kevin Parthenay, nhà nghiên cứu về Khoa học Chính trị, giải thích tiếp :

    « Hệ quả Roosevelt, được thực hiện vào đầu thế kỷ 20, đã đưa Học thuyết Monroe lên một tầm cao hơn. Học thuyết đó tuyên bố rằng các cường quốc ngoài khu vực không chỉ không được quyền can thiệp vào không gian ảnh hưởng của Mỹ, mà những ai cố gắng tiếp cận khu vực này sẽ phải đối mặt với sự trả đũa. Vì vậy, ở đây chúng ta có một hệ luận mới từ Donald Trump, người gửi một thông điệp tương tự, theo đó Hoa Kỳ hiện đang tái khẳng định quyền bá chủ của mình đối với không gian của Mỹ và do vậy, chúng ta sẽ cố gắng ngăn chặn, được sử dụng trong tài liệu, nhằm ngăn chặn bất kỳ cường quốc nước ngoài nào tìm cách can thiệp hoặc mở rộng sự hiện diện của họ trên lục địa ».

    Tài liệu này được cho là đã tạo nên một « sự đột phá » so với chính sách được theo đuổi dưới thời các tổng thống Barack Obama và Joe Biden, vốn chỉ « tập trung vào các khu vực khác » trên thế giới, và châu Mỹ Latinh không được coi là một khu vực chiến lược. Từ khi trở lại Nhà Trắng, Donald Trump tin rằng sự ổn định của đất nước ông phụ thuộc, ít nhất một phần, vào những gì xảy ra ở châu Mỹ Latinh.

    Chỉ có điều, cách thức hành động của chính quyền Trump tỏ ra có phần bạo lực, mang tính cưỡng ép như những gì diễn ra tại vùng vịnh Caribê trong những tháng gần đây, đến mức tờ El Pais Amercica không ngần ngại có bài viết với hàng tựa « Donald Trump, cướp biển vùng Caribê ! »

    Châu Âu – Mỹ : Quan hệ liên kết có điều kiện

    Chiến lược mới này là hiện thân cho học thuyết « Nước Mỹ trên hết » : Hoa Kỳ chủ trương giảm bớt một số nghĩa vụ toàn cầu, ưu tiên bảo vệ lãnh thổ quốc gia, an ninh kinh tế và tái công nghiệp hóa đất nước, cũng như quyền chủ quyền và giảm bớt sự phụ thuộc trong nhiều lĩnh vực chiến lược. Sự hiện diện quân sự của Mỹ sẽ được điều chỉnh, từ bỏ - hay chí ít là giảm bớt – các cam kết quân sự tại những chiến trường « ít thiết yếu » cho an ninh quốc gia Hoa Kỳ.

    Trong tầm nhìn này, NSS 2025 ngầm định nghĩa lại mối quan hệ Hoa Kỳ và châu Âu – không còn là một quan hệ đối tác cân bằng toàn cầu, mà là một sự liên kết có điều kiện, theo hình thức « chia sẻ gánh nặng » và nhất là châu Âu được kêu gọi đảm nhận trách nhiệm nhiều hơn đối với an ninh của chính mình.

    Đây là một cú sốc chính trị cho Liên Hiệp Châu Âu vào lúc các nước trong khu vực xem Nga như là một mối đe dọa an ninh ngày càng lớn trong bối cảnh chiến tranh Ukraina có những diễn tiến bất lợi cho Kiev, đang chịu nhiều sức ép từ phía Washington, hối thúc tổng thống Zelensky nên nhượng lãnh thổ để chấm dứt chiến tranh. Sự hụt hẫng này của châu Âu một phần là do những đánh giá sai lầm của khối, cho rằng Donald Trump là kẻ thù của tư duy dài hạn, được điều khiển bởi bản năng.

    Đối với Olivier Zajec, giảng viên trường đại học Lyon III và là nhà sáng lập Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng (IESD), trái với những nhận định trên, Donald Trump ngay từ đầu nhiệm kỳ một đã có một kế hoạch chiến lược dài hạn, liên quan đến điều mà ông gọi là « vị trí của nước Mỹ trong một hệ thống quốc tế đang được tái định hình tùy theo các phạm vi quyền lực, phạm vi gây ảnh hưởng và phạm vi chia sẻ ảnh hưởng các các cường quốc trong khuôn khổ điều mà người ta có thể gọi là các cực đối lập cấp độ một ».

    Trả lời chuyên mục « Les grands entretiens d'Anne Rosencher », tuần báo L’Express, chuyên gia về Lịch sử Quan hệ Quốc tế Đương đại, phân tích :

    « Có ba điều quan trọng đối với Hoa Kỳ khi nói đến việc bảo vệ lợi ích quốc gia : Sức mạnh quân sự, hay sức mạnh nói chung, sự thịnh vượng kinh tế và tính chính trực về đạo đức. Và trên thực tế, Trump là người đầu tiên không đề cập đến tính chính trực về đạo đức và không đưa nó vào phương trình của mình.

    Kim chỉ nam của ông là kim chỉ nam dài hạn : Đó là sự thịnh vượng kinh tế và sức mạnh quân sự. Và với điều đó, ông tin rằng quyền tự do hành động của mình sẽ được tối đa hóa trong một hệ thống quốc tế mới, nơi Hoa Kỳ phải đóng vai trò lãnh đạo (…)

    Vì vậy, trong tầm nhìn này của ông, chiến lược vĩ đại của ông, ông chèo lái, điều hướng, liên tục đổi hướng, và đôi khi chúng ta phải theo ông ấy (…)  Kế hoạch của ông ấy là bảo vệ lợi ích của Mỹ ở khắp mọi nơi, với bất kỳ ai, kể cả với đồng minh hay chống lại đồng minh, và trong bất kỳ hoàn cảnh nào. »

    Chiến tranh Ukraina : Sẽ không có thỏa thuận hòa bình !

    Thế nên, trong hồ sơ Ukraina, tuy cảm thấy mệt mỏi về cuộc chiến, nguyên thủ Mỹ cũng không muốn nhượng bộ tất cả mọi thứ cho Nga. Theo ông Trump, « phải kềm chế Nga nhưng không được đẩy lùi họ hoặc coi Nga là kẻ thù không thể hòa giải. Trump tin rằng chúng ta có thể đối thoại với tất cả mọi người bất kể sự kinh hoàng và hậu quả của chiến tranh. Và ông ấy vẫn chưa từ bỏ hy vọng biến Nga thành đối tác trong vấn đề này hay vấn đề khác trong khuôn khổ thách thức khác, đó là cuộc đối đầu với Trung Quốc », chuyên gia Olivier Zajec đánh giá.

    Cũng theo nhà nghiên cứu này, Donald Trump là một người ủng hộ tư tưởng tân chủ nghĩa hiện thực mang tính công kích. Mọi thứ có thể chiếm đoạt đều phải chiếm đoạt, để có thể thoát khỏi điều được gọi là « tình thế tiến thoái lưỡng nan của sự bất định ». Đối với Donald Trump, hồ sơ Ukraina còn là vấn đề « cân bằng quyền lực ». Kiev không thể thất thủ và cán cân quyền lực trên lục địa già không được phép bị phá vỡ, bởi vì Mỹ cũng không được lợi gì nếu những điều này diễn ra.

    Đối với Olivier Zajec, « việc để Ukraina bị thôn tính hoàn toàn sẽ làm tổn hại đến uy tín của Hoa Kỳ, bất kể một số người trong vòng thân cận của Trump nghĩ gì - những người sẵn sàng hy sinh Ukraina. Tôi tin rằng ông ấy không cùng quan điểm đó. Ông ta nhận thức được mối quan hệ giữa cán cân quyền lực và cán cân danh tiếng, một mối quan hệ thường bị bỏ qua, và đó là lý do tại sao Kiev không được phép sụp đổ. Vì vậy, mục tiêu là tạo ra thế bế tắc và tê liệt, theo kiểu Triều Tiên. Sẽ không có thỏa thuận hòa bình mà chỉ là một kiểu đình chiến và một khu vực quân sự hóa khác, lần này với chiến tuyến ngay giữa lòng châu Âu, mặc dù chúng ta tưởng rằng tất cả những điều này thực sự đã qua rồi ».

    Xung đột Thái Lan – Cam Bốt : Khả năng Trung Quốc can thiệp hạn chế

    Châu Á năm 2025 phủ một mầu sắc ảm đạm. Biển Đông tiếp tục dậy sóng vào lúc Philippines và Trung Quốc liên tiếp có những sự cố va chạm tại quần đảo Trường Sa, khu vực đang trở thành chiến trường của cuộc đọ sức chiến lược, kinh tế và chính trị, ở đó ngư dân, quân đội và thường dân sống dưới áp lực thường trực của Bắc Kinh.

    Nhưng « cuộc xung đột ngầm giữa Trung Quốc và Philippines » tại Trường Sa, như tựa đề bài phóng sự của Franceinfo, đã bị nhiều cuộc xung đột vũ trang khác trong vùng làm lu mờ. Ấn Độ và Pakistan, từ ngày 07-10/05/2025, có cuộc leo thang đối đầu quân sự nghiêm trọng nhất từ 20 năm qua, sau một vụ tấn công khủng bố ngày 22/04 tại vùng Kashmir Ấn Độ làm 22 người chết.

    Tại Đông Nam Á, nếu như nội chiến ở Miến Điện đang có những diễn tiến có lợi cho chính quyền quân sự, thì đối đầu vũ trang giữa Thái Lan và Cam Bốt, hai nước thành viên của khối ASEAN, bất ngờ bùng phát vào tháng 7/2025. Tháng 10 cùng năm, hai bên ký kết một thỏa thuận hưu chiến qua trung gian hòa giải của Malaysia, nước giữ chức chủ tịch luân phiên của khối ASEAN và tổng thống Mỹ Donald Trump. Tuy nhiên, đến tháng 11/2025 chiến sự bất ngờ bùng phát dữ dội : Thái Lan điều F-16 oanh kích nhiều khu vực bên kia biên giới Cam Bốt !

    Là đồng minh thân thiết và có cả căn cứ hải quân ở Cam Bốt, liệu Bắc Kinh có sẽ đến hỗ trợ quân sự cho chính quyền Phnom Pênh hay không ? Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà nghiên cứu David Camroux, chuyên gia về Đông Nam Á, điều phối viên Đài Quan sát Ấn Độ - Thái Bình Dương nhận định :

    « Trung Quốc đang ở thế khó xử vì nước này cũng có những lợi ích kinh tế quan trọng hơn ở Thái Lan. Ví dụ, nhà sản xuất ô tô BYD gần đây đã mở một nhà máy ở đó. Vì vậy, giống như tất cả các quốc gia Đông Nam Á khác, Trung Quốc cũng muốn có quan hệ tốt với Thái Lan. Trên thực tế, Trung Quốc nhận thấy mình bị hạn chế phần nào khả năng can thiệp ».

    Trung Quốc và chiến lược « con vịt quay » đối với Nhật Bản

    Khu vực Đông Bắc Á cũng dậy sóng do những căng thẳng giữa Nhật Bản và Trung Quốc bỗng bùng phát trong những tháng cuối năm. Viện dẫn những phát biểu được cho là « không phù hợp » của thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi hồi tháng 5/2025 liên quan đến Đài Loan, Trung Quốc đã tiến hành một chiến dịch rộng lớn, từ tung tin giả có phối hợp, phô trương sức mạnh hải quân chưa từng có tại các vùng lãnh hải của Nhật Bản, các hành động ép buộc kinh tế có chủ đích, thách thức công khai về chủ quyền lãnh thổ Nhật Bản tại Okinawa, cho đến việc hủy các sự kiện văn hóa, làm gián đoạn các sự kiện thể thao quốc tế, hay có những lời đe dọa ngầm đối với các nhà báo và lãnh đạo doanh nghiệp….

    Theo nhà nghiên cứu Stephen R. Nagy, giáo sư về chính trị học và quan hệ quốc tế tại đại học Công giáo Quốc tế Tokyo, trên trang Conflit, Nhật Bản đang đối mặt với một trắc nghiệm địa chính trị quan trọng : Bắc Kinh quyết tâm biến Nhật Bản thành « con vịt quay », một chiến lược có ngàn năm lịch sử, cắt thành từng mẫu để dễ bề làm suy yếu chủ quyền Nhật Bản và tái định hình lại trật tự khu vực theo hướng có lợi cho Trung Quốc !

    12 min
  • Mỹ không muốn giữ vai trò trụ cột trong NATO: Kịch bản khó tránh trong những năm tới

    Các nước châu Âu đang đứng trước áp lực ngày càng mạnh từ phía chính quyền Mỹ đòi phải đầu tư mạnh cho quốc phòng. Tổng thống Donald Trump đe dọa Mỹ sẽ không thực thi cam kết hậu thuẫn các thành viên nào không đáp ứng các đòi hỏi của Washington. Nhiều nhà quan sát thậm chí nêu khả năng Washington rút khỏi NATO, liên minh quân sự lâu đời, thường được coi là một trụ cột không thể thiếu của sức mạnh phương Tây. Thực hư ra sao ?

    2027: Áp lực đáng sợ

    Đầu tháng 12/2025, truyền thông phương Tây dẫn lại các nguồn tin nắm rõ các trao đổi đang diễn ra giữa bộ Quốc Phòng Mỹ và các nhà ngoại giao châu Âu, theo đó, Washington muốn châu Âu từ nay đến năm 2027, đảm nhiệm một phần lớn lực lượng vũ trang quy ước của NATO, từ tình báo đến hệ thống phòng thủ tên lửa. Lầu Năm Góc đã tỏ ra không hài lòng về tiến độ tăng cường năng lực phòng thủ của châu Âu kể từ khi Nga tiến hành cuộc xâm lược Ukraina trên quy mô lớn đầu năm 2022.

    Việc chính quyền Trump đòi hỏi các nước châu Âu đảm nhiệm một vai trò lớn hơn gấp bội trong NATO đặt châu Âu trước nhiều thách thức. Tướng François Chauvancy, chuyên gia địa chính trị, trong một cuộc tọa đàm trên đài Pháp LCI đầu tháng 12/2025, giải thích về vai trò chủ đạo của Mỹ với NATO :

    « Khi chúng ta nói về 60.000 người Mỹ, tôi xin nhắc lại, chỉ có 60.000 người trên tổng số 1,4 triệu quân nhân ở châu Âu, thì con số quân nhân Mỹ rõ ràng là không đáng kể. Tuy nhiên, số lượng máy bay lại rất đáng kể, rồi còn có các căn cứ không quân, trong đó có căn cứ không quân lớn Rammstein. Và không thể phủ nhận là tình báo Mỹ đã mang lại cho NATO sức mạnh to lớn. Tôi nghĩ rằng nếu không có tình báo Mỹ, và đây là điểm yếu của chúng ta, chúng ta sẽ rơi vào tình thế khó khăn, nếu không cẩn thận, giống như trường hợp với Ukraina. Nếu như các vị không ngoan ngoãn, chúng tôi sẽ cắt ! Trong hai năm nữa, chúng ta sẽ không có được thông tin tình báo như với người Mỹ hiện nay. »

    Ngoài lực lượng vũ trang quy ước, nước Mỹ với hơn 5.000 đầu đạn hạt nhân là một sức mạnh răn đe chủ chốt của NATO, bảo vệ châu Âu trước các đe dọa của Nga.

    Hoa Kỳ, trụ cột khó thay thế 

    Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (tức khối NATO) là một « liên minh chính trị và quân sự » được thành lập năm 1949, với thành viên sáng lập là 12 quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ, trong thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh, với mục tiêu ban đầu là đảm bảo an ninh tập thể chống lại đe dọa từ Liên Xô. Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, NATO kết nạp thêm nhiều thành viên mới, bao gồm các quốc gia thuộc khối Đông Âu cũ. Hiện tại NATO có 32 thành viên.

    Nguyên tắc được coi là trung tâm của NATO đó là điều 5 của hiệp ước, quy định một cuộc tấn công chống lại một thành viên được coi là một cuộc tấn công chống lại tất cả các thành viên. NATO, với vai trò chủ đạo của Hoa Kỳ, được coi là hậu thuẫn vững chắc đối với an ninh của châu Âu.

    Mỹ muốn rút khỏi vị trí Tổng tư lệnh NATO: Một tín hiệu mạnh

    Chính quyền Trump không chỉ yêu cầu các nước châu Âu gia tăng đầu tư gấp bội cho quốc phòng NATO. Ngay từ đầu năm nay, Washingtin đã phát tín hiệu sẵn sàng chuyển giao vị trí tổng tư lệnh các lực lượng NATO tại châu Âu (SACEUR), chức vụ quân sự cao cấp nhất của liên minh, cho người châu Âu. Chức vụ lãnh đạo quân sự của NATO, theo thông lệ, luôn do một tướng Mỹ nắm giữ suốt 75 năm qua, trong lúc người châu Âu đảm nhiệm chức vụ tổng thư ký. Người đầu tiên nắm giữ chức tư lệnh NATO là tướng Mỹ Eisenhower của Hoa Kỳ, tư lệnh tối cao quân đội châu Âu trong Thế chiến II và tổng thống thứ 34 của nước Mỹ.  

    Hơn nửa năm sau, hồi tháng 11 vừa qua, đại sứ Mỹ tại NATO, Matthew Whitaker, trong một hội nghị về an ninh tại Berlin đã bắn tiếng là Hoa Kỳ muốn Đức đảm nhiệm vai trò lãnh đạo quân sự của NATO trong tương lai (Euronews). Sau khi thông tin này được tung ra hồi tháng 3/2025, đô đốc Mỹ James Stavridis, cựu tổng tư lệnh quân đội NATO tại châu Âu (từ năm 2009 đến 2013), nhận định: quyết định này, nếu được thực thi, sẽ « là một sai lầm chính trị to lớn », « Hoa Kỳ sẽ mất đi ảnh hưởng lớn trong khối NATO, và điều này sẽ được xem là bước đầu tiên hướng tới việc Mỹ rút lui hoàn toàn khỏi Liên minh Đại Tây Dương » (thư trả lời đài Mỹ NBC News).

    Kịch bản Mỹ « chính thức » rút hẳn khỏi NATO rất khó xảy ra

    Khả năng Mỹ rút khỏi NATO ra sao ? Ông Camille Grand, cựu trợ lý tổng thư ký NATO (2016-2022), chuyên gia viện tư vấn chính trị Hội đồng Quan hệ Quốc tế châu Âu, hồi tháng 8/2025, trong bài phân tích về chủ đề « NATO có thể tồn tại mà không có Hoa Kỳ hay không », nhận định :

    « Tôi có thể sẽ ngay lập tức bác bỏ ý tưởng về việc Mỹ rút khỏi NATO một cách chính thức với một tuyên bố, ví dụ như 6 tháng trước khi rút. Đây sẽ là điều gần như bất khả thi. Có nhiều lý do. Trước hết, vì mọi thứ phức tạp hơn thế. Cách làm việc của Donald Trump không phải như vậy. Thứ hai là Quốc hội Mỹ đã thông qua một quy định phức tạp để giải thích khi nào Quốc Hội cần được tham vấn. Dù sao, cũng khó mà tưởng tượng Quốc hội sẽ hoàn toàn tuân theo lệnh của Trump. Quốc hội Mỹ đã yêu cầu là để rút khỏi NATO cần phải có một cuộc bỏ phiếu với điều kiện tương tự như khi phê chuẩn. Quyết định này đã được thông qua với 98 phiếu tại Thượng viện Mỹ. Vì vậy, đi ngược lại quyết định đó, ngay cả với Trump, cũng là một thách thức chính trị lớn. »

    • Đọc thêm : Hạ Viện Mỹ thông qua ngân sách quốc phòng kỷ lục và tiếp tục duy trì quân đội ở châu Âu

    Quốc Hội Mỹ có vai trò đối trọng đáng kể với hành pháp về chủ đề này. Ngày 10/12, Hạ Viện Mỹ, với sự ủng hộ của lưỡng đảng, đã thông qua dự luật về chiến lược quốc phòng 2026, với nhiều điều khoản duy trì sự hiện diện của quân đội Mỹ ở châu Âu, trái ngược với những tín hiệu gần đây từ Nhà Trắng, muốn cắt giảm. Các nhà lập pháp đã bỏ phiếu với tỷ lệ 312-112 ủng hộ dự luật, hạn chế khả năng của chính quyền Trump trong việc giảm số lượng binh sĩ Mỹ tại châu Âu và Hàn Quốc, cung cấp viện trợ cho Ukraina. Cho đến nay, với lưỡng đảng Mỹ, NATO vẫn là trụ cột của sức mạnh toàn cầu của nước Mỹ.

    Kịch bản nhiều khả năng: Chính quyền Trump không thực thi cam kết bảo vệ đồng minh

    Cựu trợ lý tổng thư ký NATO Camille Grand nhấn mạnh kịch bản nhiều khả năng hơn là chính quyền Trump có thể sẽ chọn cách không thực thi các cam kết với NATO, với thẩm quyền của hành pháp:

    « Trên thực tế, giả thuyết mà tôi muốn phát triển là ý tưởng về một sự rút lui trên thực tế hơn là một sự rút lui chính thức. Trump đã muốn làm điều này trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông, nhưng chưa thực hiện được, cụ thể là giảm bớt lực lượng Mỹ ở châu Âu. Ta nhớ rằng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, có khoảng 280.000 lính Mỹ ở châu Âu trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Ukraina. Con số này giảm xuống còn khoảng 65.000 đến 75.000. Mỹ có thể rút các sĩ quan khỏi các vị trí quan trọng trong khối NATO.

    Nhưng đối với tôi, giả thuyết khả thi và đáng lo ngại nhất là một thông điệp liên quan đến Điều 5 của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Cụ thể là Mỹ không còn đứng về phía các đồng minh, vì tổng thống Mỹ đã tuyên bố như vậy. Trump đã nói trong chiến dịch tranh cử rằng sẽ không bảo vệ một quốc gia nào không chi ít nhất 2% GDP cho quốc phòng.

    Điều 5 của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, được xác lập năm 1949, để lại nhiều khoảng trống trong khâu triển khai thực thi nghĩa vụ đoàn kết bảo vệ đồng minh. Nước Mỹ có thể rút lui một cách lặng lẽ hoặc ồn ào thông qua các tuyên bố, nhưng không theo một cách thức có trật tự và chính thức. Mỹ sẽ làm xói mòn cam kết với liên minh NATO, mà không hoàn toàn rời bỏ một cách chính thức. »

    Cơ hội « hiếm có » với châu Âu

    Việc Mỹ thoái lui khỏi NATO có phải là điều tồi tệ với châu Âu hay không ? Trong lúc nhiều người lên tiếng chỉ trích thái độ của Mỹ, đối với tướng François Chauvancy, việc Mỹ gia tăng áp lực trong lĩnh vực này ngược lại có thể là một cơ hội tốt để châu Âu hướng đến khẳng định sự tự chủ về an ninh :

    « Chúng ta cần biết mình muốn gì khi mà chúng ta đã bàn về chuyện Quốc phòng châu Âu hàng tháng, thậm chí hàng năm trời. Vậy mà chúng ta lại nói rằng : Ồ, không, người Mỹ phải ở lại !  Không nên, chúng ta cần nhất quán. Chúng ta đang có một cơ hội duy nhất : Donald Trump đang bảo chúng ta hãy tự lo liệu đi ! Chúng ta có làm được không lại là chuyện khác. »

    Cựu trợ lý tổng thư ký NATO Camille Grand cho biết, kể từ khi Nga xâm lược Ukraina, Liên Âu đã có những nỗ lực gấp bội cho thấy Liên minh phòng thủ NATO có thể được duy trì, ngay cả khi Mỹ thoái lui:

    « Làm thế nào để bảo vệ châu Âu với ít sự hiện diện của Mỹ hơn, và điều gì có thể thực sự là trở ngại? Tôi đã viết một bài về chủ đề này với một số kết luận như sau. Trước hết, bảo vệ châu Âu với ít sự hiện diện của Mỹ hơn đòi hỏi phải có một Liên Hiệp Châu Âu mạnh mẽ hơn. Những gì đang xảy ra với Liên Hiệp Câu Âu rất đáng quan tâm.

    Cuộc khủng hoảng Ukraina đã đánh thức Liên Hiệp Châu Âu, và nhiều điều đã xảy ra, không thể tưởng tượng được, nếu không có một cuộc khủng hoảng lớn. Ví dụ, ý tưởng Liên Hiệp Châu Âu huấn luyện lính Ukraina để chiến đấu chống Nga, hoặc huy động nguồn lực riêng để mua vũ khí và trang thiết bị cho người Ukraina không hề là những chi tiết nhỏ trong quá trình chuyển đổi của Liên Hiệp Châu Âu.

    Nếu sự việc diễn ra theo hướng này, vai trò của Liên Hiệp Châu Âu trong các cuộc thảo luận chiến lược sẽ tự động tăng lên. Tôi nghĩ điều này sẽ xảy ra, vì dù sao đi nữa sẽ có một cuộc thảo luận sâu sắc hơn giữa Liên Hiệp Châu Âu và NATO trong những tháng tới. Nhưng ở đây, Liên Hiệp Châu Âu đã có vai trò không thể thiếu trong việc huy động các nguồn lực và phương tiện cần thiết để thực thi một số vấn đề ».

    Châu Âu tự chủ an ninh có lợi cho liên minh Âu – Mỹ: Khuyến cáo gần nửa thế kỷ trước

    Chính sách giảm bớt đầu tư để bảo đảm an ninh cho châu Âu của chính quyền Mỹ để dồn lực lượng để sang « các mặt trận » khác, đặc biệt là tại khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương để đối phó với Trung Quốc, đối thủ số một của Mỹ, là chính sách từ nhiều đời tổng thống Mỹ, đặc biệt là với Brack Obama, chứ không phải chỉ từ Donald Trump.

    Khuyến cáo châu Âu cần đứng ra đảm nhiệm một phần lớn lực lượng quốc phòng trong NATO là điều từng được nêu cách đây gần nửa thế kỷ. Báo chí Pháp mới đây dẫn lại một bài viết của cố ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger trên Time Magazine, năm 1984 (A Plan to Reshape NATO, tạm dịch là Một kế hoạch định hình lại NATO), theo đó việc châu Âu đảm nhiệm vai trò lớn hơn trong NATO, thậm chí với chức vụ tư lệnh do người châu Âu phụ trách, với cấp phó là người Mỹ, sẽ cho phép Âu – Mỹ phối hợp tốt hơn trong việc bảo đảm an ninh của châu lục.

    9 min
  • Ukraina : Tin vào lợi thế chiến trường, Putin « không vội vã » ký kết thỏa thuận hòa bình

    Ngày 02/12/2025, tổng thống Nga Vladimir Putin đã tiếp đặc sứ Mỹ Steve Witkoff để thảo luận về bản kế hoạch hòa bình do tổng thống Donald Trump đề xuất, bao gồm 28 điểm được rút xuống còn 19 điểm. Sau năm giờ trao đổi, điện Kremlin cho biết chưa đạt được đồng thuận về những vùng lãnh thổ bị Nga chiếm đóng và sáp nhập. Tuy nhiên, theo đánh giá từ nhiều quan sát, bất chấp các nỗ lực ngoại giao từ nhiều phía, Nga sẽ không vội vã đúc kết thỏa thuận hòa bình vì nhiều lý do.

    Áp lực ngoại giao, chính trị và quân sự

    Trong vòng tám ngày, tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky đã hai lần đến Paris gặp gỡ đồng cấp Pháp Emmanuel Macron kể từ khi bản kế hoạch hòa bình 28 điểm do tổng thống Mỹ Donald Trump đề xuất được tiết lộ. Tổng thống Zelensky có thể kỳ vọng điều gì từ phía Pháp ? Sử gia quân sự Benoist Bihan, trong một chương trình truyền hình của báo Pháp Le Figaro, nhận định nguyên thủ Ukraina đến Pháp trước hết là để tìm kiếm một điểm tựa về ngoại giao vào lúc ông đang gặp khó khăn ít nhất trên ba phương diện :

    « Một mặt, ông ấy chịu áp lực quân sự từ Nga ngày càng mạnh trên chiến tuyến. Mặt khác, còn có sức ép chính trị và ngoại giao từ phía Mỹ buộc ông phải nhanh chóng ký kết một hiệp định hòa bình với những điều khoản mà vì những lý do chính trị nội bộ có lẽ khó thể chấp nhận được đối với người dân Ukraina. Hơn nữa, ông Zelensky, hiện đang bị suy yếu bởi vụ bê bối tham nhũng, dường như đang rơi vào tình huống mà những người theo đường lối cứng rắn, những người mang tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan chắc chắn sẽ từ chối một nền hòa bình được coi theo các điều kiện của Matxcơva ».

    Người ta « thật khó mà không thấy chút lo lắng, thậm chí hoảng loạn từ phía tổng thống Zelensky », theo quan sát của cựu đại sứ Pháp tại Washington, Gérard Araud, trên kênh truyền hình tư nhân Pháp LCI. Vào thời điểm nhiều « pháo đài » của Ukraina như Povrovsk hay Vovchansk, những thành phố chiến lược, được cho là đã thất thủ, những cam kết viện trợ quân sự cho Ukraina từ châu Âu đang bị suy yếu dần.

    Châu Âu : Nguồn hỗ trợ tài chính, quân sự hạn hẹp

    Kho vũ khí đã qua sử dụng được dùng để trang bị cho Ukraina nay đã cạn kiệt, và một phần lớn số thiết bị này đã bị phá hủy trên chiến trường. Giờ đây, điều châu Âu có thể làm cho Ukraina là viện trợ tài chính, mà việc sử dụng khối tài sản Nga bị phong tỏa tại châu Âu, hiện do cơ quan tài chính Euroclear trụ sở tại Bỉ quản lý, đang là vấn đề gây tranh cãi.

    Tuy nhiên, theo đánh giá của nhà sử học quân sự Benoist Bihan, đây còn là điều « vạn bất đắc dĩ », vì việc sử dụng nguồn tài chính này cũng chẳng thể cải thiện được tình hình quân sự của Ukraina: « Đối với quân đội Ukraina, hàng tỷ đô la này sẽ đòi hỏi mất rất nhiều thời gian trước khi có thể được chuyển đổi thành những gì họ còn thiếu, cụ thể là vũ khí và nhất là thành những gì châu Âu không thể giúp đỡ họ, đó là cuộc khủng hoảng nhân sự. Quân đội Ukraina là một đội quân thiếu hụt cơ cấu nhân lực ».

    Những ngày cuối tháng 11 đầu tháng 12/2025, những nỗ lực ngoại giao từ Mỹ, Ukraina và châu Âu chưa cho thấy một tia hy vọng nào về hòa bình cho Ukraina. Sau năm giờ hội đàm giữa tổng thống Nga Vladimir Putin và đặc sứ Mỹ Steve Witkoff, điện Kremlin thông báo đôi bên chưa đạt được một thỏa hiệp nào về các vùng lãnh thổ mà Nga chiếm đóng và đòi sáp nhập.

    Nguy cơ chiến tranh kéo dài có thể là điều khó tránh. Và trong trường hợp này, nhà nghiên cứu về chiến lược quân sự Pháp, Benoist Bihan, trả lời Le Figaro, khẳng định Nga giờ có đủ tiềm lực để tiếp tục thực hiện chiến tranh như năm 2022. Điều này được thể hiện rõ qua khả năng của Nga duy trì liên tục các cuộc tấn công kể từ năm 2023.

    Kiev : Hạn chế về hỏa lực và sai lầm chiến lược

    Theo giải thích của Benoist Bihan, thiệt hại về nhân mạng của Nga trong năm 2025 đã giảm một nửa so với 2024, năm được cho là ác liệt nhất, và nhịp độ thiệt quân của Nga nằm trong khoảng từ 800 – 1200 quân mỗi tuần, mà đỉnh điểm có khi lên đến 1.400 quân. Cùng giai đoạn này, phía Ukraina cũng hứng chịu thiệt hại nhân mạng nặng nề. Benoist Bihan thừa nhận không thể biết được con số chính xác, nhưng đó sẽ là con số thống kê « khiếp hãi », có thể cao hơn rất nhiều so với Nga.

    Một mặt là do Nga đã tăng cường mạnh hỏa lực so với Ukraina khi điều động thêm không quân, các loại đạn pháo, đặc biệt là drone. Bên cạnh đó, với khoảng 140 triệu dân, Nga vẫn dễ dàng huy động thêm quân so với Ukraina chỉ có 28 triệu dân. Nước Nga của ông Putin còn có được một sự hậu thuẫn quân sự hiếm có từ Bắc Triều Tiên về đạn pháo và nhất là nhân lực, điều mà châu Âu đã không thể cung cấp.

    Mặt khác, đó còn là do sai lầm chiến lược của Ukraina. Khi tiến hành cuộc xâm nhập vào Kursk, vùng lãnh thổ của Nga, quân đội Ukraina hy vọng có thể chuyển hướng quân Nga trên mặt trận Donbass và mở ra một mặt trận thứ cấp, một điểm « cầm chân » quân Nga, để rồi có thể ghi điểm chính trị, nhất là đối với phương Tây, nhằm chứng tỏ rằng Kiev vẫn có khả năng tiến hành các chiến dịch tấn công và gây bất ngờ cho đối thủ.

    Chỉ có điều chiến dịch này đã để lại một khoảng trống chiến lược mà Nga đã tận dụng thành lợi thế chiến trường. Chuyên gia Benoist Bihan giải thích tiếp : « Nga đã nhanh chóng điều chỉnh, tái triển khai quân dự bị vì họ có sẵn, và điều đó đã trở thành một vấn đề thực sự lần này là cho phía Ukraina. Nói một cách khác, một khi họ đã xâm nhập vào lãnh thổ Nga, về mặt chính trị, việc từ bỏ những gì họ đã đạt được là rất phức tạp, và Nga đã lợi dụng điều này để sử dụng, trong vài tuần, thậm chí vài tháng, lực lượng dự bị chiến lược của quân đội Ukraina, mà họ đang thiếu để đối phó với các cuộc tấn công của Nga ».

    Chiến lược trì hoãn của tổng thống Nga

    Nhìn từ tổng quan này, nhà sử học về quân sự ghi nhận Ukraina khó thể tìm lại được thế chủ động, sự năng động như năm 2022, vào đầu cuộc chiến. Nhìn vào các chỉ số, tất cả các xu hướng đều trong « báo động đỏ ». Ukraina thiếu nghiêm trọng những người lính có kinh nghiệm để thực hiện các mục tiêu chiến lược, làm tiêu hao nguồn lực Nga, hoặc có thể ngăn chặn quân Nga, để rồi có thể dựa trên cơ sở này tiến hành các cuộc đàm phán.

    Đây cũng có lẽ là lý do vì sao Hoa Kỳ của Donald Trump hối thúc Ukraina ký kết hiệp định hòa bình. Khi nguyên thủ Mỹ nói rằng, « mọi thứ đang diễn ra không tốt đẹp ở Ukraina », đơn giản chỉ vì, « về mặt quân sự, thời gian càng trôi qua, vị thế đàm phán của Ukraina và các đồng minh càng yếu đi ».

    Chuyên gia Benoist Bihan nhận xét « Nga hiểu rất rõ điều đó và đây là lý do vì sao họ cố tình trì hoãn các cuộc đàm phán. Tôi có cảm giác ông Putin không mấy vội vã ký kết thỏa thuận hòa bình bởi vì ông ấy biết hoặc nghĩ rằng càng kéo dài, thì các điều kiện mà ông ấy có thể áp đặt sẽ càng khắt khe hơn ».

    Chiến tranh Ukraina, hay « chiến dịch quân sự đặc biệt » mà Nga khởi xướng, lúc ban đầu được xem là một thất bại quân sự của Nga do việc đánh giá thấp nghiêm trọng tình trạng chuẩn bị và ý chí chiến đấu của quân đội Nga, cũng như là do thái độ tự mãn về năng lực của một đội quân chưa bao giờ tiến hành một cuộc chiến quy mô lớn như thế kể từ khi Liên Xô sụp đổ, thì nay Nga cũng đã cho thấy khả năng thích ứng với thực tế chiến trường.

    Giao chiến với Nga, liệu Châu Âu có đủ sức ?

    Về phía Ukraina, nhà sử học Benoist Bihan cho rằng Kiev cũng đã phạm sai lầm xem thường khả năng hồi phục tiềm lực của Nga sau thành công bất ngờ của cuộc kháng chiến chống Nga năm 2022. Bất chấp nguồn viện trợ quân sự phương Tây, quân đội Ukraina đã phải đối đầu với quân đội Nga, vốn đã có thời gian để phục hồi và lấy lại phần nào sự tự tin. Kể từ năm 2023, Ukraina rơi vào bế tắc chiến lược.

    Hôm 01/12, vài giờ trước khi diễn ra cuộc gặp với phái đoàn Mỹ tại điện Kremlin, tổng thống Putin không ngần ngại dọa rằng « Nga đã sẵn sàng nếu châu Âu muốn chiến tranh và bắt đầu cuộc xung đột trước ». Nếu ngày mai sẽ xảy ra chiến tranh với Nga, liệu châu Âu có đủ lực để đối phó ?

    Về điểm này, chuyên gia quân sự khẳng định là « Không ». Ông giải thích :

    « Quân đội châu Âu không tồn tại; đó là quân đội của từng quốc gia riêng lẻ, của từng quốc gia châu Âu khác nhau. Và đó là nơi bắt đầu của sự bất định, bởi vì chúng ta có những đội quân như quân đội Pháp, tương đối dày dạn kinh nghiệm và được chuẩn bị tốt. Chúng ta có những đội quân như quân đội Đức, vẫn đang trong quá trình tái thiết và do đó sẽ mất vài năm để đạt được hiệu quả chiến đấu.

    Và rồi chúng ta có quân đội của các quốc gia nhỏ hơn, có ít nguồn lực hơn và ít kinh nghiệm chiến đấu hơn. Vì vậy, sẽ có sự chênh lệch về trình độ chuyên môn giữa các đội quân trong liên minh NATO. Họ có các quy trình chung, nhưng hiện nay rõ ràng họ chưa sẵn sàng để tiến hành chiến tranh, và đặc biệt là không sẵn sàng tiến hành chiến tranh trong điều kiện như ở Ukraina ! »

    11 min

About Tạp chí tiêu điểm

From the publisher's feed

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

More shows like Tạp chí tiêu điểm

6 Minute English by BBC Radio

6 Minute English

1,807 Listeners

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ by SBS

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ

29 Listeners

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

222 Listeners

 by RFI Tiếng Việt

15 Listeners

VOV - Tin nhanh 24h by Đài Tiếng nói Việt Nam

VOV - Tin nhanh 24h

3 Listeners

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Tạp chí văn hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí văn hóa

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners