Tạp chí tiêu điểm

Tạp chí tiêu điểm

By RFI Tiếng Việt
Download on the App Store

Tạp chí tiêu điểm episodes

  • Hạt nhân Iran và vai trò « bị lãng quên » của phương Tây

    Ngày 28/08/2025, Anh, Pháp và Đức đã dọa kích hoạt cơ chế tái áp đặt các lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc, còn được gọi là « snapback », vào lúc thỏa thuận về hạt nhân Iran ký kết 2015 sắp hết hiệu lực ngày 18/10/2025. Nhưng ít ai biết rằng, trong quá khứ, một số nước phương Tây, đặc biệt là Pháp, đã từng đóng góp tích cực vào việc khai sinh chương trình hạt nhân Iran. Một mảng tối khác trong mối quan hệ căng thẳng giữa Iran và phương Tây.

    Ngược dòng thời gian, vào năm 1957, vào lúc châu Âu đang vực dậy từ nỗi kinh hoàng của Đệ Nhị Thế Chiến, Iran, dưới sự trị vì của vua Mohammad Reza Pahlavi, đã bắt tay vào việc tìm kiếm năng lượng nguyên tử. Quốc vương Iran lo sợ rằng dầu hỏa mà đất nước phụ thuộc một ngày nào đó sẽ cạn kiệt và do vậy phải tìm kiếm một giải pháp thay thế.

    Atome For Peace : Đổi hạt nhân lấy dầu lửa

    Một dự án điện hạt nhân dân sự được hình thành qua sự trợ giúp của chương trình « Atom for Peace – Nguyên tử vì hòa bình », do tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower khởi xướng từ năm 1953. Cũng như nhiều nước thành viên khác của chương trình, Iran cam kết giới hạn sử dụng hạt nhân cho mục đích hòa bình.

    Đổi lại, Hoa Kỳ đào tạo các nhà khoa học Iran và cung cấp các trang thiết bị cho Teheran, bao gồm lò phản ứng nghiên cứu được thiết kế vào năm 1967 để sản xuất đồng vị phóng xạ dùng trong y tế. Quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa hai nước kéo dài cho đến cuối những năm 1970.

    Trong một cuộc trả lời phỏng vấn dành cho Viện Nghe nhìn Quốc gia Pháp (INA), vào tháng 12/2022, nhà nghiên cứu Heloise Fayet, chuyên gia về phổ biến hạt nhân Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI) giải thích « trong những năm 1950, dưới thời quốc vương Iran, mối quan hệ giữa Mỹ và Iran rất bền chặt. Hoa Kỳ đã đưa Iran vào chương trình Atom For Peace (Nguyên tử vì hòa bình), được sử dụng để phát triển chương trình hạt nhân dân sự cho Iran, để đổi lấy dầu lửa và sự bảo đảm rằng quốc gia này sẽ duy trì một chế độ ổn định gần gũi với Hoa Kỳ ».

    Tuy nhiên, vào lúc diễn ra Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ ngày càng lo lắng khi thấy xuất hiện nhiều cường quốc hạt nhân khác. Chương trình « Nguyên tử vì hòa bình » có nguy cơ phản tác dụng. Năm 1968, Iran gia nhập Hiệp ước Không phổ biến Hạt nhân TNP và đặt các cơ sở hạt nhân của mình dưới sự giám sát của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (AIEA).

    Nhưng quốc vương Iran có tham vọng xây thêm 20 lò phản ứng, đồng thời bày tỏ quan tâm đối với một số công nghệ. Điều này đã khiến Mỹ lo ngại, nhất là đối với kỹ thuật tách rời plutonium hoặc làm giầu uranium. Mặc dù mục tiêu nêu ra vẫn mang tính dân sự, Washington nghi ngờ vua Iran âm thầm thèm khát vũ khí nguyên tử.

    Clément Therme, giáo viên tại Đại học Paul-Valéry tại Montpellier, trong chương trình Giải Mã (19/05/2025) của kênh truyền hình ARTE nhắc lại, « ngay từ tháng 12/1975, Cơ quan Tình báo Mỹ (CIA) đã đánh giá rằng Iran rất có thể sẽ trang bị hệ thống vũ khí hạt nhân vào năm 1985. Vì vậy, ngay từ những năm 1970, đã có những nghi vấn về mục đích dân sự hay quân sự của chương trình Iran ».

    Pháp, Đức thay chân Mỹ

    Trước mối ngờ vực từ Mỹ, quốc vương Iran chuyển hướng tìm kiếm các đối tác châu Âu, được đánh giá là « ít quan tâm » đến những vấn đề được nêu trên, theo như nhận định của François Nicoullaud, cựu đại sứ Pháp ở Téhéran, trong bài viết đề tựa « La France et la négociation avec l’Iran » (Pháp và cuộc đàm phán với Iran).

    Pháp và Tây Đức thời đó đang chạy theo vàng đen của Iran. Cú sốc dầu hỏa năm 1973 biến Teheran thành một đối tác thiết yếu và ưu tiên cho Paris. Trong một bài giải thích, trang RFI tiếng Pháp nhắc lại, ngay từ năm 1974, bộ trưởng Tài Chính lúc bấy giờ là Jean-Pierre Fourcade đã ký kết rất nhiều hợp đồng với Iran để bảo đảm nguồn cung dầu khí cho đất nước. Teheran là nhà cung cấp nhiên liệu thứ hai cho Paris.

    « Chuyến thăm của Quốc vương tới Marcoule có ý nghĩa quan trọng hơn sau thông báo đặt xây năm nhà máy điện hạt nhân được xác nhận hôm qua và các thỏa thuận liên quan đến việc cung cấp uranium làm giàu cho Iran. » (France 2 ngày 25/06/1974)

    Trên đây là lời bình của bản tin lúc 20 giờ kênh truyền hình Pháp France 2 ngày 25/06/1974, nhân chuyến thăm của quốc vương Iran đến Pháp và trung tâm khai thác điện hạt nhân ở Marcoule vùng Gard, đông nam Pháp. Được xây dựng vào năm 1956, cơ sở công nghiệp này từng là mũi nhọn cho ngành năng lượng hạt nhân Pháp, cả về sản xuất điện lẫn sử dụng cho mục đích quân sự.

    Với hợp đồng trị giá gần 5 tỷ đô la – một khoản tiền « khổng lồ » theo như tuyên bố của bộ trưởng Tài Chính Jean-Pierre Fourcade – Pháp thay thế Mỹ trong lĩnh vực hạt nhân bất chấp những ngờ vực của Washington. Paris cam kết đào tạo nhân sự và cung cấp các nhà máy điện hạt nhân cho Teheran như hai lò phản ứng tại Ahvaz miền nam Iran do tập đoàn Framatome của Pháp xây dựng.

    Nước Đức cũng không kém cạnh. KraftWerk Union, một chi nhánh của tập đoàn năng lượng Siemens, trúng thầu xây dựng hai lò phản ứng hạt nhân ở Bushehr, miền nam Iran, trị giá 7,8 tỷ mác Đức. Chính quyền Berlin còn ký kết một thỏa thuận về hợp tác hạt nhân với vua Iran, tương tự như « hợp đồng thế kỷ », được ký một năm trước đó với Brazil.

    Cổ đông Eurodif : Tham vọng hạt nhân của vua Iran ?

    Tuy nhiên, việc các nước đồng minh mới châu Âu có những hứa hẹn tham gia tích cực vào chương trình phát triển hạt nhân Iran càng củng cố hơn nỗi lo lắng từ Mỹ. Không những vua Iran tự cung cấp phương tiện cho các tham vọng của mình và cùng với những thỏa thuận khác nhau, quốc vương Mohammad Reza còn biến nước ông thành một trong những nhà đầu tư chính cho ngành hạt nhân Pháp.

    Trong khuôn khổ thỏa thuận hợp tác đầu tư Eurodif - European Gaseous Diffusion Uranium Enrichissement Consortium - quốc vương Iran cho Pháp vay một tỷ đô la để xây dựng nhà máy làm giầu chất uranium Tricastin và sở hữu 10% vốn của Eurodif. Đổi lại, Iran bảo đảm lấy đi 10% chất uranium làm giầu do Eurodif sản xuất.

    Nhìn lại lịch sử, người ta không khỏi đặt nghi vấn về ý định quân sự của vua Iran. Một công nghệ « lưỡng dụng » uranium làm giàu có thể được sử dụng cả cho các nhà máy điện hạt nhân lẫn các đầu đạn được chế tạo theo mô hình Little Boy, từng được sử dụng để san bằng Hiroshima. Trong cuộc chạy đua vũ trang thời Chiến Tranh Lạnh, liệu quốc vương Iran có muốn trang bị vũ khí hạt nhân cho đất nước mình hay không ?

    Theo báo Pháp Le Monde, ngày 20/07/2025, trong bài viết dài đề tựa « Khi Pháp hứa hẹn uranium làm giầu cho Iran, nguồn cội của một hiệp ước hạt nhân đáng nguyền rủa », Akbar Etemad, chủ tịch Tổ chức Năng lượng Nguyên tử Iran (1974 – 1978) trước ống kính trong một bộ phim tài liệu của France 2 phát sóng ngày 08/10/2017, kể lại ông đã chất vấn Quốc vương như thế nào: « Liệu chúng ta có thể cân nhắc phương án quân sự hay không ? Ông ấy nói với tôi là 'Tại sao không?' Tôi hiểu rằng nhiệm vụ của tôi là phát triển tất cả các công nghệ cần thiết để sẵn sàng triển khai bom hạt nhân ».

    Vào thời điểm đó, Mohammad Reza Pahlavi khẳng định ông không cần đến bom nguyên tử. Dù không thể chắc chắn, châu Âu đã tin lời ông. Ngoại trưởng Pháp Jean-François Poncet (1978 – 1981), trong một chương trình phim tài liệu của kênh ARTE, khẳng định rằng, « tất cả các biện pháp phòng ngừa luôn được đặt ra để đảm bảo những gì chúng tôi thực hiện về phát triển hạt nhân với Iran sẽ không được sử dụng cho mục đích quân sự. »

    Cách mạng Hồi giáo 1979 và các cuộc khủng hoảng Pháp - Iran

    Nhưng cuộc Cách mạng Hồi giáo 1979 bùng nổ, buộc vua Iran phải sống lưu vong, chương trình hạt nhân của ông cũng tan theo. Đại giáo chủ Khomeini lên cầm quyền và chính quyền mới cho ngưng tất cả các hợp đồng xây dựng nhà máy điện hạt nhân, cũng như mua chất uranium. Hai tập đoàn Framatome của Pháp và KWU của Đức chấm dứt công trình và cho hồi hương các nhân viên.

    Ngoài ra, Teheran còn đòi Paris phải hoàn trả tiền vay, một đòi hỏi mà Pháp đã từ chối khi cho rằng chế độ Iran mới không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ được đặt ra với tư cách là một cổ đông của dự án. Nhưng cử chỉ này của Pháp đã bị nước Cộng hòa Hồi giáo xem như là một hành động đối đầu.

    Xung đột Iran – Irak nổ ra còn làm cho căng thẳng giữa Teheran và Paris thêm căng thẳng. Trong nhiều năm sau đó, Iran tiến hành một loạt hoạt động chống Pháp như bắt cóc và giam giữ các nhà báo và nhà ngoại giao Pháp tại Liban trong những điều kiện tệ hại. Iran đòi Pháp phải hoàn trả số nợ vay cũng như ngưng cung cấp vũ khí cho chế độ Saddam Hussein.

    Pháp trở thành mục tiêu tấn công của Iran. Nhiều vụ tấn công khủng bố đã xảy ra tại Pháp trong thập niên 1980 mà Iran bị cáo buộc là chủ mưu. Năm 1988, sau nhiều năm bị giam cầm ở Liban, các con tin Pháp được thả. Phần lớn khoản nợ vay của Eurodif cuối cùng đã được trả cho Iran như là tiền chuộc. Về mặt chính thức,tranh chấp đã được giải quyết xong ba năm sau đó, vào năm 1991, sau khi Pháp đổ thêm một tỷ đô la cho Cộng hòa Hồi giáo Iran.

    Chỉ vừa mới được bình thường hóa, quan hệ giữa Iran và phương Tây một lần nữa trở nên căng thẳng. Vào đầu những năm 2000, qua sự tố giác của một nhóm người Iran phản đối chế độ, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế AIEA phát hiện nhiều cơ sở hạt nhân bí mật của Iran, đặc biệt là các cơ sở ở Natanz và Arak, miền trung đất nước.

    Một chương căng thẳng mới lại bắt đầu và kéo dài đến tận ngày nay. Các cuộc đàm phán rơi vào bế tắc kể từ khi tổng thống Mỹ Donald Trump trong nhiệm kỳ I rút Hoa Kỳ ra khỏi Thỏa thuận hạt nhân Vienna 2015. RFI Tiếng Việt sẽ tiếp tục trình bày chủ đề này trong một dịp khác.

    Tóm lại, như thừa nhận của ông Javad Vaeedi, nhà đàm phán Iran giai đoạn 2005-2009, với kênh truyền hình ARTE, « chương trình hạt nhân Iran đã được hình thành nhờ vào sự hợp tác với Mỹ, rồi Pháp cả trong khuôn khổ trao đổi sinh viên và cả trong việc hình thành các cơ sở hạ tầng có liên quan đến chương trình hạt nhân Iran ».

    (Nguồn INA, ARTE, RFI, Le Monde)

    12 min
  • Chấm dứt xung đột tại Ukraina: Mỹ, Nga đổ dồn trách nhiệm lên châu Âu

    Tám tháng kể từ khi Donald Trump trở lại nắm quyền, cuộc xâm lăng Ukraina của Nga không có dấu hiệu chấm dứt bất chấp các vận động ngoại giao của tổng thống Mỹ, được quảng bá rầm rộ là có thể làm thay đổi lập trường của điện Kremlin. Vào lúc khả năng đạt được ngừng bắn tại Ukraina trở nên xa vời, châu Âu bị Nga lên án làm « thất bại » các nỗ lực hướng đến hòa bình. Phe cầm quyền tại Mỹ đòi hỏi châu Âu đóng góp nhiều hơn nữa trong hồ sơ Ukraina.

    Mỹ và Nga đổ dồn trách nhiệm lên châu Âu trong vấn đề chiến tranh Ukraina như thế nào ? Lối thoát nào với châu Âu trong tình thế nhiều phần bế tắc hiện nay ?

    ***

    Ngày 04/09/2025, hơn 30 quốc gia thuộc « Liên minh tình nguyện » bảo đảm an ninh cho Ukraina họp tại Paris và trực tuyến dưới sự chủ tọa của tổng thống Pháp và thủ tướng Anh. Sau hội nghị này, 26 quốc gia cam kết sẽ triển khai lực lượng tại Ukraina để bảo đảm an ninh một khi xung đột chấm dứt. « Liên minh tình nguyện » đã được gấp rút lập ra theo sáng kiến của Pháp và Anh, trong bối cảnh tân chính quyền Trump đe dọa đàm phán riêng rẽ với Nga về chiến tranh Ukraina, và để ngỏ khả năng không tuân thủ điều 5 của Hiến chương NATO, cam kết bảo vệ các đồng minh.

    « Lực lượng bảo đảm an ninh » cho Ukraina : « Chiếc vé » giúp châu Âu tham gia đàm phán ?

    Châu Âu lên tuyến đầu. Việc thành lập « Liên minh tình nguyện » giúp châu Âu khẳng định vị thế. Trả lời phỏng vấn đài France Info, hồi đầu tháng 5/2025, chuyên gia Jean de Gliniasty, cựu đại sứ Pháp tại Nga, giám đốc nghiên cứu Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), nhận định : Liên minh tình nguyện từng được coi như một « chiếc vé » vào cửa, cho phép Châu Âu có chỗ tại bàn đàm phán về giải pháp chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, đây là một chiếc vé bấp bênh bởi phụ thuộc hoàn toàn vào thái độ của Mỹ:

    « Vậy là ở đây chúng ta từng có một thứ như kiểu vé vào cửa. Ông Trump đã từng nói châu Âu ‘‘bất tài’’ và ‘‘không có vé vào cửa’’, không có chỗ ngồi ở bàn đàm phán. Mà cái vé vào cửa mà chúng ta có thể có, đó chính là mang lại ‘‘các bảo đảm an ninh’’. Bởi vì chính Mỹ cũng đã nói họ sẽ không đưa một binh sĩ nào đến để bảo vệ Ukraina, và việc đảm bảo an ninh phải do chính người châu Âu lo liệu.

    Chính vì thế mà châu Âu đã thực thi một chút nghĩa vụ của mình. Hiện có 30 quốc gia châu Âu sẵn sàng đưa quân đến để đảm bảo an ninh cho Ukraina. Nhưng Nga cho rằng những ‘‘bảo đảm an ninh’’ do Pháp và châu Âu đưa ra thực chất là với tư cách đồng minh của Ukraina, và như vậy là thù địch với Nga. Vì thế, họ không muốn. Thực ra chúng ta đang rơi vào bế tắc, và hiện tại chúng ta đã không còn ‘‘vé vào cửa’’ bàn đàm phán nữa ».

    Bốn tháng sau, vào thời điểm Liên minh tình nguyện được khẳng định mạnh mẽ hơn với cuộc họp tại Paris hôm 4/9, vẫn chuyên gia Jean de Gliniasty ghi nhận : « chiếc vé » vào bàn đàm phán của châu Âu vẫn « tạm thời bị đình chỉ », để chờ đợi các kết quả thương lượng giữa Mỹ và Nga.

    Vị thế « chiếu dưới » của châu Âu và cuộc phản công ngoại giao của Nga « hậu thượng đỉnh Alaska »

    Xin nhắc lại là ít tháng trước khi chiến tranh Ukraina bùng nổ, trong bối cảnh Nga liên tục khẳng định muốn thương thuyết lại với phương Tây về việc khối NATO mở rộng về phía đông, và việc triển khai các hệ thống vũ khí tối tân tại nhiều nước láng giềng với Nga, các nước châu Âu đã gần như không có tiếng nói gì trong hồ sơ này. Chiến tranh bùng nổ, châu Âu bừng tỉnh, nỗ lực ban hành các biện pháp trừng phạt Nga, cùng với Mỹ, hậu thuẫn Ukraina về quân sự và nhiều mặt. Tuy nhiên, về các đàm phán chấm dứt chiến tranh, nhìn chung châu Âu không có tiếng nói.

    Nói một cách khác, châu Âu vốn phụ thuộc nặng nề vào Mỹ về mặt đảm bảo an ninh cho chính châu Âu, nên luôn ở vị thế chiếu dưới, khó có thể nào có được một vị trí đáng kể trong các thương lượng về viễn cảnh chấm dứt chiến tranh Ukraina kể từ khi chiến tranh bùng nổ. Không những thế, sau cuộc thượng đỉnh Trump – Putin tại Alaska, Mỹ, ngày 15/08/2025, chế độ Putin thoát khỏi thế cô lập tương đối về ngoại giao, đã tranh thủ cơ hội để phản công châu Âu.

    Nga đổ lỗi cho châu Âu về bất kỳ thất bại nào trong các đàm phán tương lai, cáo buộc châu Âu trở thành « trở ngại chính » do thúc đẩy đối đầu về ý thức hệ, trong lúc Trump và Putin nỗ lực tìm kiếm một thỏa thuận. Nhật báo thân điện Kremlin Izvestia mỉa mai « Bruxelles và Kiev đang thành trở ngại chính cho hòa bình ».

    Một nguồn tin gần gũi với điện Kremlin tung ra quan điểm « lần đầu tiên, có một cơ hội thực sự để bắt đầu đàm phán với Ukraina và châu Âu về tất cả các vấn đề cần giải quyết để chấm dứt chiến tranh, thế nhưng giờ đây xuất hiện một vấn đề nan giải thực sự đối với châu Âu, đang mắc kẹt trong ngõ cụt về tư tưởng. Đó là họ đang bảo vệ những nguyên tắc trừu tượng trong khi hàng trăm nghìn người đã bỏ mạng trong chiến tranh. Cuộc chiến mà Kiev đã thua trên thực tế cần phải được chấm dứt, chứ không phải cứ tiếp tục cho đến khi Ukraina bị hủy diệt hoàn toàn ».

    Tổng thống Nga « hy vọng châu Âu sẽ không cố gắng phá hoại tiến trình này bằng những hành động khiêu khích hoặc những âm mưu trong hậu trường ». Người phát ngôn của bộ Ngoại Giao Nga Maria Zakharova mỉa mai : « Tinh thần đồng đội của ‘‘liên minh’’ Starmer-Macron-Merz-Rutte-von der Leyen (tức các lãnh đạo Anh, Pháp, Đức, NATO và Ủy Ban Châu Âu), vẫn tỏ ra hung hăng trong cuộc đối đầu với Nga, Ukraina đã bị họ biến thành một con tin đắt giá ».

    Trump mềm mỏng với Nga, điện Kremlin không khoan nhượng: Châu Âu kẹt giữa hai làn đạn

    Chính sách của tổng thống Mỹ thúc đẩy đàm phán ngoại giao với Nga từng được coi là mang lại hy vọng cho việc chấm dứt chiến tranh Ukraina trong thời gian ông Trump mới lên cầm quyền, như ghi nhận của cựu đại sứ Jean de Gliniasty :

    « Chúng ta đang ở thời điểm giữa chừng của một cuộc vận động ngoại giao kiểu truyền thống, tức là ngoại giao “từng bước nhỏ”, giống như những gì chúng ta đã chứng kiến sau cuộc Chiến tranh Kippur tháng 10/1973 (liên quân Ai Cập và Syria tấn công Israel), khi ngoại trưởng Mỹ Kissinger đã phải đi đi lại lại khoảng 15 lần giữa Tel-Aviv, Jerusalem và Cairo, đi qua đi lại giữa các bên, và mỗi lần như vậy đều mang về những tiến bộ rất nhỏ, nhưng cuối cùng thì đã thành công. Và thực ra, người Mỹ cũng rất giỏi trong việc này, đó là một truyền thống ngoại giao của họ. Vì vậy, chúng ta đang trong một tiến trình ngoại giao “tàu con thoi” và “từng bước nhỏ”, và tôi cho rằng chúng ta có thể hy vọng rằng cuối cùng nỗ lực này sẽ đạt được kết quả. » 

    Cựu đại sứ Pháp Pierre Vimont, nguyên tổng thư ký điều hành của cơ quan đối ngoại Liên Âu (2010-2015), tức nhân vật số hai của ngành ngoại giao Liên Âu, đã sớm cảnh báo về nguy cơ các nước châu Âu bị kẹt giữa hai làn đạn của Mỹ và của Nga, trong bối cảnh tổng thống Donald Trump rất có thể  sẽ có nhiều nhân nhượng với Matxcơva :

    « Điều gây phiền toái hơn cho tất cả chúng ta, những người châu Âu, là liệu Trump có nhượng bộ thêm Putin để đạt được một thỏa thuận ngừng bắn quan trọng hơn hay không. Như quý vị biết, hầu hết những yêu cầu mà Putin đưa ra đều rất khó có thể dung hòa với quan điểm và lợi ích của châu Âu. Ví dụ như Ukraina trung lập và phi quân sự hóa, Ukraina không được gia nhập NATO, hay không có sự hiện diện của quân đội châu Âu tại Ukraina, châu Âu không tiếp tục viện trợ quân sự cho Ukraina, v.v.

    Vì vậy, chúng ta đang ở trong một tình thế mà nếu ông Trump nhượng bộ cho tổng thống Nga một hoặc một số yêu cầu nào đó, thì chúng ta — những người châu Âu — sẽ lâm vào thế khó. Chúng ta sẽ phải nói rằng chúng ta không đồng ý và không chấp nhận những đề xuất này, và như vậy, chúng ta sẽ bị coi là bên cản trở tiến trình đạt được thỏa thuận ngừng bắn, mở ra viễn cảnh giải quyết xung đột. »

    Trên đây là trích đoạn bài « L'Europe au défi de la nouvelle administration Trump / Châu Âu trước thách thức của chính quyền Trump », chương trình phỏng vấn chuyên gia của Viện Quan hệ Quốc tế Pháp IFRI, trong mục « Thế giới theo IFRI », tháng 5/2025.

    Ukraina: Tâm điểm cạnh tranh toàn cầu thời « hậu Chiến tranh Lạnh »

    Cuộc chiến Nga xâm lược Ukraina không đơn giản là cuộc chiến tranh của một quốc gia này chống lại một quốc gia khác. Cuộc chiến với những cội nguồn phức tạp này là kết tinh của những tranh chấp mang tính toàn cầu của thế giới thời kỳ hậu chiến tranh Lạnh. Vấn đề Ukraina, đế chế Nga, và lục địa Á – Âu (Eurasie) được nêu bật trong tác phẩm « Bàn Cờ Đại Chiến lược toàn cầu : Quyền lực tối thượng của nước Mỹ và những mệnh lệnh địa chiến lược đi kèm » (The Grand Chessboard: American Primacy and Its Geostrategic Imperatives) (xuất bản năm 1997), của chiến lược gia Mỹ Zbigniew Brzezinski (1928–2017), người gốc Ba Lan, cố vấn an ninh quốc gia thời tổng thống Jimmy Carter.

    Ukraina là một quân cờ căn bản của « Bàn cờ đại chiến lược toàn cầu ». Chiến lược gia người Mỹ được gợi cảm hứng từ nhà địa-chính trị người Anh đầu thế kỉ 20 Halford J. Mackinder, với tư tưởng : Ai kiểm soát được khu vực Đông Âu sẽ thống trị vùng trung tâm (hearthland), ai cai trị vùng trung tâm sẽ thống trị lục địa Á-Âu, ai cai trị lục địa Á-Âu thì sẽ thống trị thế giới. Trong tác phẩm Bàn Cờ Đại Chiến lược toàn cầu, chiến lược gia Mỹ dự đoán : « Việc NATO không thể mở rộng bất chấp những nỗ lực của Mỹ có thể khơi dậy những tham vọng lớn nhất của Nga ».

    Tổng thống Nga và các cộng sự thường xuyên cáo buộc : Mỹ nỗ lực tách Nga khỏi các quốc gia bao quanh Nga từng tạo nên Liên Xô trước đây (bài « Ce livre qui a inspiré Poutine / Cuốn sách mang lại nhiều tưởng cho Putin » Le Point). Trên thực tế, chế độ Putin cũng đã coi Ukraina là một thành tố không thể thiếu của một nước Nga hùng mạnh. Cuộc tấn công Ukraina diễn ra sau khi Matxcơva hoàn tất lý thuyết về một « thế giới Nga », bao gồm Ukraina. « Thế giới Nga » (Rousski Mir), không bị giới hạn trong biên giới quốc gia của nước Nga, được nhiều nhà quan sát xem như là một nỗ lực khôi phục đế chế Nga của chính quyền Putin.

    • Đọc thêm : Chính Thống Giáo Nga và "Thế giới Nga"
    Để thoát cái bóng của Mỹ: Châu Âu cần đối thoại với Nga, xây dựng lập trường chung với Ukraina….

    Đối mặt với các tham vọng địa chính trị nói trên của Nga trong bối cảnh thế đối đầu giữa phương Tây và Nga đang trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết kể từ khi Liên Xô tan rã, các nước châu Âu khó lòng thoát khỏi thế mắc kẹt « giữa hai làn đạn », giữa một bên là Mỹ, bên kia là Nga.

    Về mặt quân sự, để thoát khỏi vị thế chiếu dưới, về lâu dài châu Âu cần tăng cường tự chủ về quốc phòng. Theo giới chuyên gia, việc Pháp và Anh thúc đẩy mở rộng hợp tác « răn đe hạt nhân » có thể mang lại một lá bài quan trọng cho châu Âu trong quan hệ với Nga.

    Tuy nhiên, về mặt ngoại giao, để thoát khỏi cái bóng của Mỹ, châu Âu phải khắc phục được hai « sai lầm về chiến lược », theo giám đốc nghiên cứu Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), cựu đại sứ Jean de Gliniasty. Đó là việc không có các đối thoại với Nga, và không có các hợp tác về chiến lược với Ukraina (trong bài « Guerre en Ukraine : ‘‘Une nouvelle structure de paix et de sécurité est fondamentale’’ - Chiến tranh Ukraina : ‘‘Một kiến trúc hòa bình và an ninh mới là điều căn bản - nhật báo Pháp L’Humanité đăng tải tháng 3/2025).

    • Đọc thêm - Nửa thế kỷ ''Hiệp định Helsinki'': Chiến tranh Ukraina xóa sổ "Kiến trúc an ninh châu Âu"

    Tạp chí Tiêu điểm thời sự xin khép lại với nhận định của nhà ngoại giao Pháp Pierre Vimont : « Làm thế nào để châu Âu có thể trở lại cuộc chơi?... Làm thế nào để tiếp tục tiến tới một giải pháp hòa bình ở Ukraina, một nền hòa bình bền vững, công bằng và toàn diện? Tôi nghĩ rằng đây chính là lúc châu Âu cần đóng vai trò của mình, bởi vì ngày càng rõ ràng là về cơ bản, chính quyền Trump không có nhiều ý tưởng về một chiến lược dài hạn cho một nền hòa bình bền vững ở Ukraina.

    Đây chính là lúc mà châu Âu chắc chắn có những điều để đóng góp, để làm việc cùng nhau. Châu Âu cần cố gắng đưa ra được các tham số riêng của mình về tất cả những vấn đề đã được đề cập trước đây, như Ukraina gia nhập NATO hay Ukraina trung lập, Ukraina ‘‘phi quân sự hóa’’ hay ‘‘không phi quân sự hóa’’, các bảo đảm an ninh cho Ukraina trong tương lai… Tất cả những câu hỏi đó, về cơ bản, châu Âu trước đây đã không muốn tự đặt ra.

    Chúng ta đã từng đẩy trách nhiệm cho người Ukraina, cho rằng đó là quyết định riêng của họ. Đúng, đó là quyết định của Ukraina, nhưng chúng ta cũng có lợi ích trong vấn đề này, và vì vậy chúng ta cần thảo luận với người Ukraina. Chúng ta cần phải phối hợp với họ xác định một đường lối chung. » 

    10 min
  • Đảm bảo an ninh Ukraina và bóng ma « Bị Vong Lục Budapest 1994 »

    Ngày 03/09/2025, tiếp đồng nhiệm Ukraina Volodymyr Zelensky, một ngày trước khi diễn ra hội nghị « Liên minh các nước tình nguyện », tổng thống Pháp Emmanuel Macron tuyên bố, châu Âu « sẵn sàng cung cấp các bảo đảm an ninh cho Ukraina và người dân Ukraina vào ngày mà thỏa thuận hòa bình sẽ được ký kết ». Đây cũng là những gì Kiev muốn đạt được trước khi bước vào một cuộc đàm phán hòa bình (nếu có) với Matxcơva.

    Chưa có lúc nào nỗi ám ảnh về thất bại Bị Vong Lục Budapest 1994 mạnh mẽ như lúc này đối với Kiev và người dân Ukraina. Ngược dòng thời gian, vào ngày 05/12/1994, ba năm sau khi tuyên bố độc lập và dưới áp lực mạnh ngoại giao, Kiev cùng với Liên bang Nga, Hoa Kỳ và Anh Quốc ký kết Bị Vong Lục tại Budapest, Hungary.

    Nỗi lo nguy cơ phổ biến hạt nhân hơn là an ninh Ukraina

    Theo đó, Ukraina chấp nhận chuyển giao toàn bộ kho vũ khí hạt nhân được cất trữ trên lãnh thổ cho Nga, bao gồm khoảng 1.900 đầu đạn chiến lược và 2.500 vũ khí chiến thuật tức chiếm đến gần 10% kho vũ khí Xô Viết. Đổi lại, các bên tham gia cam kết « tôn trọng nền độc lập, quyền chủ quyền và các đường biên giới hiện hữu của Ukraina » và « tránh sử dụng hành động dọa dẫm hay dùng vũ lực xâm hại toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của Ukraina ».

    Ngoài ra, theo các hình ảnh và bài báo tư liệu được Viện Nghe Nhìn Quốc Gia Pháp (INA) trích dẫn ngày 09/03/2025, ngoài việc tăng gấp đôi số tiền viện trợ 155 triệu đô la, Hoa Kỳ còn cam kết cung cấp « hỗ trợ đặc biệt để tăng cường an ninh cho các lò phản ứng hạt nhân dân sự, kiểu Tchernobyl », và nhất là « mở rộng cánh cửa "đối tác vì hòa bình" cho Ukraina, nói một cách khác, cho phép Kiev phát triển hợp tác quân sự với NATO ».

    Nhà nghiên cứu Marie Dumoulin, giám đốc chương trình Wider Europe, thuộc tổ chức tư vấn European Council on Foreign Relations, trong chương trình « Sự ra đời và cái chết của Bị Vong Lục Budapest » do đài phát thanh France Culture thực hiện trong tháng 7/2025, có lưu ý rằng sự kiện diễn ra trong bối cảnh Hoa Kỳ và Anh Quốc lo lắng cho mối họa phổ biến hạt nhân hơn là vấn đề an ninh của Kiev. Bởi vì, ngoài Ukraina, còn có hai nước thành viên Xô Viết khác cất trữ vũ khí hạt nhân là Belarus và Kazakhstan.

    « Có một cơ chế quốc tế quản lý các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân : Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân TNP. Nhưng các quốc gia độc lập mới này sinh ra từ đống đổ nát của Liên Xô lại không tham gia vào hiệp ước này, bởi vì, cho đến lúc đó, những nước này chưa tồn tại. Do vậy, thách thức đầu tiên là phải bảo đảm rằng Ukraina, Belarus và Kazakhstan, ba quốc gia cùng với Nga có triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của mình, tuân thủ Hiệp ước TNP (…) Nhưng điều quan trọng cần hiểu là đối với các nhà đàm phán Mỹ và Anh Quốc, thách thức chính vào thời điểm đó, không hẳn là vấn đề an ninh và chủ quyền lãnh thổ của ba nước này, mà thực sự là vấn đề không phổ biến hạt nhân, đồng thời bảo đảm rằng chỉ có một quốc gia kiểm soát vũ khí hạt nhân được thừa hưởng từ thời kỳ Xô Viết. »

    Hạt nhân và chủ quyền : Ukraina không có chọn lựa nào khác

    Chính vì điều này, vào tháng 12/1991, vào thời điểm Liên Xô tan rã, Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Bill Clinton đã nhìn nhận Nga như là một quốc gia hạt nhân, đồng thời tuyên bố sẵn sàng cung cấp hỗ trợ cho những nước khác xuất thân từ Liên Xô với điều kiện các nước này chấp nhận quy chế quốc gia không hạt nhân, theo như chuyên gia về Nga, bà Anne de Tinguy, giáo sư danh dự, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế CERI trường đại học Khoa học Chính trị Sciences Po từng giải thích với báo Libération (11/03/2022).

    Nhiều nhà quan sát tại Pháp đánh giá rằng với việc ký kết Bị Vong Lục Budapest, chính quyền Ukraina lúc bấy giờ đã chấp nhận từ bỏ vị thế « cường quốc hạt nhân đứng hàng thứ ba » trên thế giới (tính theo số lượng vũ khí hạt nhân). Đối với nhà ngoại giao Pierre Lévy, cựu đại sứ Pháp tại Nga (2020 – 2024), điều này là không hoàn toàn chính xác, do việc hệ thống kiểm soát và chỉ huy đều trú đóng tại Matxcơva. Vũ khí hạt nhân được bố trí tại Ukraina không đồng nghĩa với việc Kiev nắm giữ « nút bấm » hạt nhân. Chuyên gia Marie Dumoulin nhắc lại :

    « Việc từ bỏ kho vũ khí hạt nhân, trên thực tế, đó còn là một trong số các điều kiện cho quyền chủ quyền của Ukraina. Nếu như số vũ khí này vẫn còn được bố trí trên lãnh thổ Ukraina, điều đó cũng có nghĩa là Matxcơva có lẽ vẫn sẽ tiếp tục có một vai trò chủ đạo trong an ninh của Ukraina và do vậy, quyền tự quyết của Ukraina như chúng ta đã biết từ trước đến nay, có lẽ sẽ không thể được thực thi trong cùng những điều kiện.

    Đó chính là những gì đang diễn ra với Belarus, quốc gia đã chấp nhận để Nga bố trí vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của mình. Trên thực tế, ngoài ý nghĩa của động thái này đối với an ninh châu Âu, còn có những hậu quả tức thì cho quyền tự quyết của Belarus, hiển nhiên không còn giống như khi họ đã có thể từ chối quyền xem xét lại các quyết định của Matxcơva liên quan đến chủ quyền và an ninh của chính mình ».

    Bị Vong Lục Budapest : Những cam kết « ảo » ?

    Bất chấp những cam kết, hai mươi năm sau, năm 214, Matxcơva chiếm đoạt và cho sáp nhập bán đảo Crimée vào Nga, và thổi bùng cuộc xung đột ở Donbass. Không một bên ký kết Bị Vong Lục Budapest nào có những phản ứng thực sự. Đến năm 2022, Nga chính thức phát động « chiến dịch quân sự đặc biệt », xâm chiếm Ukraina.

    Ngày 04/03/2022, vào ngày thứ chín của cuộc chiến, tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky cay đắng chỉ trích NATO từ chối lập vùng cấm bay : « Tất cả những gì Liên minh Quân sự làm được đến hiện tại, là vận chuyển khoảng 50 tấn dầu diesel cho Ukraina thông qua hệ thống cung cấp của khối. Có lẽ là để chúng ta có thể đốt bỏ và thiêu rụi Bị Vong Lục Budapest. Nhưng đối với chúng ta, văn bản này đã bị đốt cháy, dưới hỏa lực của quân đội Nga ».

    Về điểm này, nhà nghiên cứu Marie Dumoulin, cũng trong chương trình « Sự ra đời và cái chết của Bị Vong Lục » trên đài France Culture, giải thích thêm như sau :

    « Bị Vong Lục Budapest bao gồm một danh sách các cam kết của các quốc gia bảo lãnh, tức là Nga, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, liên quan đến Ukraina, nhưng đây là những cam kết thụ động, nghĩa là các quốc gia này cam kết không làm một số điều nhất định liên quan đến Ukraina, không gây rắc rối về chủ quyền, độc lập và biên giới của Ukraina, không đe dọa sử dụng vũ lực, không gây áp lực kinh tế lên Ukraina và trong trường hợp Ukraina bị tấn công hạt nhân, họ cũng cam kết sẽ nhờ đến Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc. Không có cam kết chủ động nào, nghĩa là không có cam kết hành động nào khác ngoài cam kết tham vấn Hội đồng Bảo an nếu toàn vẹn lãnh thổ của Ukraina bị đe dọa. »

    Cam kết bị xâm phạm : Lỗi tại ai ?

    Ngày nay, phương Tây và Nga đổ lỗi cho nhau là không tôn trọng các cam kết đưa ra trong văn bản. Hoa Kỳ và Anh Quốc tuyên bố họ không vi phạm các cam kết, rằng họ không đe dọa tính toàn vẹn lãnh thổ Ukraina. Và quốc gia duy nhất đã vi phạm các cam kết đưa ra chính là Nga. Điều thú vị, theo nhà cựu đại sứ Pháp Pierre Levy khi giải thích với France Culture là những lập luận từ phía Nga.

    « Câu trả lời mà Vladimir Putin dành cho Reuters vào tháng 3/2024 mà ít ai nói đến, và theo tôi là rất thú vị, trong đó, ông ấy nói rằng "Nhìn xem, quý vị đã vi phạm các cam kết của mình đưa ra trong Bị Vong Lục Budapest. Ông ấy nói rõ là ông ấy không bị ràng buộc bằng những thỏa thuận quốc tế với một quốc gia vừa có một cuộc cách mạng bên trong.

    Thế nên, trong cách tiếp cận của Nga, đối diện với họ là một quốc gia mới. Tiếp theo, chúng ta thấy rõ sự nhất quán trong lập trường, bởi vì, đối với Nga, có một chính quyền quân sự cầm quyền ở Kiev đã thành công lập một chế độ mới với sự trợ giúp của phương Tây sau một cuộc đảo chính. Do vậy tất cả những điều này đều nằm trong lô-gic của Nga ».

    Năm 2014, quyết định sáp nhập bán đảo Crimée và cuộc chiến tại Donbass đã làm lộ rõ những điểm yếu của Bị Vong Lục, vốn chỉ là một bản ghi nhớ không phải là một hiệp ước và không mang tính chất ràng buộc. Các thỏa thuận Minks được ký kết, nhằm chấm dứt các cuộc giao tranh nhưng không bao hàm một bảo đảm an ninh nào cho Ukraina, cũng không cho phép giải quyết được vấn đề.

    Đảm bảo an ninh Ukraina : « Trò chơi chính trị » của phương Tây

    Ba mươi mốt năm sau ngày ký Bị Vong Lục, và với hai cuộc chiến xâm lược của Nga sau đó, chính quyền Kiev giờ đây muốn tránh bằng mọi giá rằng các cuộc đàm phán về bảo đảm hòa bình một lần nữa sẽ không là những « tờ giấy lộn ». Trước khi ký kết bất kỳ một thỏa thuận nào với Matxcơva, tổng thống Volodymyr Zelensky mong muốn có được những bảo đảm quân sự vững chắc từ phía các đối tác nhằm ngăn ngừa một cuộc chiến xâm lược mới.

    Tuy nhiên, bà Tatiana Stanovaya, chuyên gia về chính trị Nga và là nhà sáng lập nhóm nghiên cứu R. Politik, trả lời báo Pháp Le Figaro, nhắc lại lập trường của Nga đối với hòa bình cho Ukraina là rất rõ ràng, điện Kremlin, « không chấp nhận rằng các bảo đảm an ninh tập thể cho Ukraina để giải quyết khủng hoảng Ukraina được thông qua mà không có sự tham dự của Nga ». Nói một cách cụ thể : « Ukraina chỉ có thể được hưởng các bảo đảm về tôn trọng đường biên giới với điều kiện thực hiện một danh sách các cam kết do Nga đề ra ».

    Cũng theo nhà nghiên cứu về Nga, phương Tây khó thể bảo đảm an ninh cho Ukraina do phải đối mặt với hai thực tế :

    « Nga là một cường quốc hạt nhân và nước này đang chiến thắng trên chiến trường. Từ góc độ này, không nước nào, hoàn toàn không một nước nào, có thể đưa ra bất kỳ đảm bảo nào cho Ukraina. Điều gì sẽ thay đổi nếu cuộc xung đột đang bị đóng băng này lại bị Nga vi phạm trong tương lai ? Phương Tây có thể làm gì hơn hoặc khác đi ? Nga là một cường quốc hạt nhân, chỉ riêng câu trả lời này đã khép lại mọi cuộc tranh luận. Khi Emmanuel Macron nói về một "lực lượng tái bảo đảm" sẽ được triển khai tại Ukraina trong trường hợp hòa bình, thì vài nghìn quân có thể làm được gì để bảo vệ nước này khỏi sức mạnh quân sự của Nga ? Ý tưởng này là không nghiêm túc. »

    Trong bối cảnh này, các cuộc thảo luận xoay quanh những bảo đảm được nêu ra trong các cuộc đàm phán ngoại giao, đối với nhà khoa học chính trị Tatiana Stanovaya, điều đó chẳng khác gì một « trò chơi chính trị » !

    12 min
  • Điểm lại lịch sử tranh đấu vì độc lập: Từ "20 năm bị xóa sổ" đến Nhà nước Palestine

    Cuộc chiến tranh tại dải Gaza giữa quân đội Israel và lực lượng Hamas, bùng lên sau vụ tấn công khủng bố của Hamas trên đất Israel khiến hơn một nghìn người chết, và hơn 250 người bị bắt làm con tin, đã kéo dài gần hai năm. Vùng lãnh thổ rộng hơn 40 km² của người Palestine bị tàn phá tan hoang, khiến hàng chục nghìn người chết, hàng trăm nghìn người bị thương, đa số dân cư phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất.

    Tuy nhiên, việc công nhận Nhà nước Palestine một lần nữa trở thành một vấn đề nóng bỏng của thời sự quốc tế. Nhiều nước châu Âu, tuyên bố công nhận Nhà nước Palestine. Nước Pháp dự kiến sẽ chính thức công nhận Palestine trong dịp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào tháng 9/2025. Nhà nước Palestine là một trong những vấn đề chính trị quốc tế đương đại phức tạp bậc nhất. Tạp chí Tiêu điểm thời sự điểm lại một số diễn biến chính trong tiến trình tranh đấu vì một Nhà nước độc lập của người Palestine.

    Nghị quyết LHQ năm 1947 về hai Nhà nước, thế giới Ả Rập không công nhận

    Về vấn đề Nhà nước độc lập của người Palestine, ngày 29/11/1947 mà một cái mốc lịch sử. « Nghị quyết của ủy ban lâm thời của Liên Hiệp Quốc về vấn đề Palestine đã được thông qua với 33 phiếu thuận, 13 phiếu chống và 10 phiếu trắng. » Theo Nghị quyết 181 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, vùng lãnh thổ gọi là xứ Palestine, nằm dọc bờ biển đông Địa Trung Hải, phía bắc là Liban và phía nam là Ai Cập hiện nay, sẽ được chia thành hai Nhà nước, một Nhà nước của người Ả Rập và một của người Do Thái, và một khu vực do quốc tế kiểm soát, bao gồm các thánh địa như Jerusalem và thành Bethleem.

    Theo nghị quyết 181 của Liên Hiệp Quốc, nước Anh, quốc gia được Hội Quốc Liên – tiền thân của Liên Hiệp Quốc - giao trách nhiệm bảo trợ cho vùng đất này từ năm 1922, sau khi đế chế Ottoman giải thể, sẽ phải rút khỏi Palestine vào cuối năm 1948. Nghị quyết về hai Nhà nước liên quan đến vùng đất lịch sử Palestine được coi là một nguyên tắc pháp lý căn bản của Liên Hiệp Quốc về « vấn đề Palestine ». Năm 2000, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã thông qua nghị quyết 1397 tái khẳng định « giải pháp hai Nhà nước ».

    Tuy nhiên, nghị quyết 181 của Liên Hiệp Quốc đã không được thực thi đầy đủ. Ngày 14/05/1948, Nhà nước Israel của người Do Thái chính thức ra đời. Nhưng đã không có một Nhà nước của người Ả Rập. Các đụng độ bùng phát dữ dội giữa các cộng đồng người Ả Rập cư trú lâu đời tại xứ Palestine, với người Do Thái, trong đó có rất nhiều người đến từ châu Âu, đặc biệt sau các cuộc diệt chủng người Do Thái của chế độ Đức Quốc xã. Ước tính từ khoảng 800.000 người đến hơn 1 triệu người Ả Rập tại Palestine đã phải rời bỏ quê hương trong biến cố được gọi là « Nakba », tiếng Ả Rập có nghĩa là đại thảm họa. Năm 2023, lần đầu tiên Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chính thức tổ chức kỷ niệm thường niên biến cố « Nakba ». Cho đến nay, theo Liên Hiệp Quốc, có hơn 4 triệu người là người Palestine tị nạn sau biến cố Nakba, hoặc hậu duệ của họ.

    Thế giới Ả Rập không công nhận nhà nước Do Thái. Cuộc chiến tranh Ả Rập – Do Thái đầu tiên bùng nổ vào năm 1949. Sau cuộc chiến tranh này Jordanie kiểm soát vùng Cisjordanie và Đông Jerusalem, dải Gaza thuộc quyền kiểm soát của Ai Cập. Cũng năm này, Liên Hiệp Quốc công nhận Nhà nước Israel.

    Hai mươi năm « bị xóa sổ khỏi lịch sử »

    Nếu như trước khi Nhà nước Do Thái ra đời, các cộng đồng người Ả Rập Palestine từng có một vị thế nhất định, thì sau thời điểm này, người Palestine hoàn toàn « bị xóa sổ khỏi lịch sử », như ghi nhận của chuyên gia Jean-Paul Chagnollaud, giáo sư danh dự các trường Đại học, chủ tịch Viện nghiên cứu về vùng Trung Đông Địa Trung Hải (IREMMO) với đài France Culture :

    « Trong suốt 20 năm đó – từ 1949 đến cuộc chiến 1967 - có thể nói rằng người Palestine đã bị đẩy ra khỏi ‘‘lịch sử’’ hoặc bị xóa sổ khỏi lịch sử như người ta thường nói, và chủ nghĩa dân tộc Palestine – vốn đang hình thành - đã bị suy yếu nghiêm trọng. Những người mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa Palestine vào thời điểm đó chính là những người Palestine đã rời khỏi vùng đất nơi Nhà nước Israel được thành lập. Đó là những người tị nạn, những người sẽ đến Liban, đến Jordanie. Có rất nhiều người tị nạn ở Jordanie. Họ cũng đến dải Gaza, nơi đang nằm dưới sự quản lý của Ai Cập của thời điểm đó. Điều này khiến dân số dải Gaza vào những năm 1949 - 1950 gồm đến 90% là người tị nạn, tức là những người có quê hương tại các vùng đất ở Palestine, cách đó chỉ 10, 30, 50, 100 km, tức rất gần, vì Gaza là một vùng lãnh thổ rất nhỏ, chỉ bằng hai, ba tỉnh của nước Pháp.

    Như vậy là người Palestine biến mất và trên bình diện quốc tế, người ta chỉ còn nói đến ‘‘vấn đề người tị nạn’’. Người ta thậm chí không còn dùng đến từ “Palestine” nữa. Để lấy một ví dụ cụ thể, có thể dễ dàng kiểm chứng về mặt pháp lý : Đó là nghị quyết đầu tiên sau cuộc chiến tranh năm 1967, nghị quyết 242 tháng 11/1967. Đây là một nghị quyết quan trọng, nghị quyết đầu tiên sau cuộc chiến năm 1967. Nghị quyết này nói rằng các lãnh thổ đã chiếm đoạt phải được trả lại cho các quốc gia, và khi nói về người tị nạn, thì chỉ có một dòng về họ. Người ta thậm chí không dùng từ “Palestine”, mà chỉ yêu cầu có ‘‘một giải pháp công bằng’’, chỉ một dòng đó mà thôi (un juste règlement du problème des réfugiés). Nói cách khác, người Palestine đã biến mất. »

    Tổ chức Giải phóng Palestine ra đời dưới quyền kiểm soát của Ai Cập

    Tổ chức Giải phóng Palestine PLO được thành lập chính thức vào năm 1964. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, tổ chức mang tôn chỉ giải phóng Palestine phục vụ trước hết cho quyền lợi của một số thế lực Ả Rập trong khu vực, đặc biệt là nước Ai Cập của Nasser (một cường quốc trong khu vực, đặc biệt sau cuộc chiến thắng lợi trước liên minh Anh, Pháp và Israel nhằm kiểm soát kênh đào Suez năm 1956), và vương quốc Jordanie, kiểm soát vùng Cisjordanie của người Palestine. Chuyên gia Jean-Paul Chagnollaud nhận định :

    « Lãnh đạo Palestine Arafat, với việc thành lập tổ chức Fatah (phong trào giải phóng dân tộc Palestine) năm 1959, đã xuất hiện trong bối cảnh đó, một bối cảnh bị chi phối bởi lãnh đạo Ai Cập Nasser. Còn người dân vùng Cisjordanie bị chi phối bởi quan điểm chính thống về dân tộc Jordan, với những gia tộc lớn gần gũi với hoàng gia Jordanie, các thế lực kiểm soát các thành phố Cisjordanie. Trong toàn bộ giai đoạn này, việc khẳng định tinh thần dân tộc Palestine là điều gần như bất khả thi. Làm sao có thể làm cho người Palestine cảm thấy mình là một dân tộc đang hình thành sau tất cả những sự kiện đã làm cho họ bị phân mảnh, tan tác, bị đập nát theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

    Tổ chức Giải phóng Palestine PLO được thành lập năm 1964. PLO được thành lập bởi ai ? Trong tổ chức này có người Palestine, nhưng PLO là do lãnh đạo Ai Cập Nasser lập ra, với sự ủng hộ của vua Jordanie Hussein. Tại sao họ lại thành lập PLO vào thời điểm đó ? Bởi vì họ biết rằng thực sự có một phong trào dân tộc đang manh nha, đang được xây dựng, đang định hình, đó là phong trào dân tộc chủ nghĩa Fatah, do Arafat lãnh đạo, từ đầu những năm 1960.

    Nasser không thể để mình bị vượt mặt. Và vì vậy, cần phải kiểm soát. Vậy làm sao để kiểm soát ? Bằng cách thành lập một tổ chức, Tổ chức Giải phóng Palestine, với sứ mệnh lúc đó là xác lập sự thống nhất của các nước Ả Rập, trước khi lo chuyện Palestine. Khối Ả Rập thống nhất sẽ cho phép giải phóng Palestine, đó là cách người ta nói vào thời điểm đó. Trong kịch bản đó, PLO không phải là của người Palestine, mặc dù người đứng đầu PLO là Ahmad Shukeiri. Ông ấy là một người Palestine, nhưng là một người Palestine làm bình phong cho Nasser. Nhân vật này từng làm việc tại Liên đoàn Ả Rập với Nasser. Lập ra PLO thực sự là một việc chủ yếu do Ai Cập chủ trương để cố gắng kiểm soát tình hình, và họ đã thành công. »

    Cuộc chiến « Sáu ngày » 1967 : Thất bại của khối Ả Rập và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Palestine

    Năm 1967, cuộc chiến tranh thứ ba giữa các nước Ả Rập và Israel bùng nổ. Cuộc chiến chỉ kéo dài 6 ngày nhưng để lại các hệ quả lớn. Israel giành lại dải Gaza và vùng Cisjordanie, nhưng thất bại của khối Ả Rập, cũng để ngỏ cơ hội cho sự trỗi dậy của phong trào dân tộc Palestine với vai trò hàng đầu của nhà lãnh đạo Arafat. Giáo sư Jean-Paul Chagnollaud nhận định :

    « Đối với chủ nghĩa dân tộc Palestine, vốn bị kìm hãm bởi chủ nghĩa dân tộc Ả Rập, điều này đã mở ra những triển vọng mới. Chủ nghĩa dân tộc Palestine có thể nói đã nhanh chóng lấp đầy khoảng trống, đột ngột mở ra do thất bại hoàn toàn của các nước Ả Rập, do thảm họa năm 1967. Việc thay đổi lãnh thổ như vậy đã mang lại thay đổi địa-chính trị to lớn, và tiếp đó là sự suy yếu của chủ nghĩa dân tộc Ả Rập, đã mở rộng đường cho chủ nghĩa dân tộc Palestine và cho Arafat. Tôi có thể nói thêm một điều này : Nếu như năm 1964 PLO đã bị Ai Cập, Nasser và Ahmad Shukeiri thao túng, thì ngay sau cuộc chiến, tức là vào những năm 1968-1969, người Palestine đã giành quyền kiểm soát PLO. Kể từ tháng 2/1969, PLO đã thực sự trở thành tổ chức của người Palestine kể từ năm 1968. »

    Phong trào Intifada đầu tiên, PLO tuyên bố thành lập Nhà nước Palestine

    Phong trào PLO dưới sự lãnh đạo của Arafat, để hướng tới khẳng định quyền tự quyết dân tộc, quyền của một Nhà nước độc lập của người Palestine, đã tiến hành cùng lúc hai cuộc chiến, cuộc tranh đấu vũ trang và cuộc tranh đấu về chính trị và ngoại giao. Năm 1974, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chính thức công nhận « quyền tự quyết » và « nền độc lập » của người Palestine, và công nhận vai trò quan sát viên của PLO tại Liên Hiệp Quốc.  

    Trong tiến trình tranh đấu của người Palestine, phong trào tranh đấu ôn hòa Intifada lần thứ nhất, bùng lên từ cuối năm 1987 trước hết tại Gaza, rồi lan rộng sang vùng Cisjordanie, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhà nghiên cứu François Ceccaldi, đảm nhiệm môn lịch sử thế giới Ả Rập đương đại của Collège de France nhận định :

    « Phong trào Intifada là một giai đoạn lịch sử trong đó đã có rất nhiều biến chuyển, ít nhất là đã cho phép Arafat thay đổi phần nào chính sách của mình, thúc đẩy bởi những thành quả của phong trào Intifada và uy tín ngày càng tăng của tổ chức PLO. Ông đã quyết định thực hiện một chiến lược có thể gọi là tìm kiếm đồng thuận. Và ông đã đưa ra quyết định như vậy trong một cuộc họp của Hội đồng Quốc gia vào tháng 11/1988, tuyên bố Nhà nước Palestine độc lập với Jerusalem làm thủ đô.

    Arafat công nhận Nghị quyết 181 năm 1947 của Liên Hiệp Quốc, tức là kế hoạch phân chia đất đai xứ Palestine. Ông lên án việc sử dụng vũ lực. Đặc biệt là trong giai đoạn này, ông đã có hai bài phát biểu khá nổi tiếng tại Alger và Geneva năm 1988, và đặc biệt là bài phát biểu tại Geneva, có lẽ bị thúc đẩy bởi Mỹ. Đi xa hơn, trong một phiên họp của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tổ chức bất thường tại Genève năm 1988, Arafat công nhận hai nghị quyết 242 và 338 của Liên Hiệp Quốc và lên án hành động khủng bố.

    Điều quan trọng ở đây không phải là nội dung của các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, mà Arafat, cùng với ông phong trào dân tộc Paletine, cam kết hoặc chấp nhận tuân thủ pháp lý quốc tế và ngầm công nhận pháp lý này, do đó cũng ngầm công nhận Nhà nước Israel. Đương nhiên, điều này có những hệ quả khá quan trọng. Hai bài phát biểu tại Alger và Geneva cùng phong trào Intifada đã buộc Israel và Mỹ phải tái suy nghĩ về mối quan hệ với PLO, và mở đường cho các đàm phán Madrid rồi Oslo. »

    Các thỏa ước Oslo 1993 – 1995 với Israel : Nỗ lực dang dở

    Việc Tổ chức PLO của Arafat chuyển hẳn sang con đường tranh đấu khẳng định nền độc lập bằng biện pháp hòa bình đã dọn đường cho việc đúc kết với Israel hai thỏa ước Oslo, với sự bảo trợ của Mỹ. Thỏa ước Oslo I vào năm 1993 lập ra Cơ quan Quyền lực Palestine, dự kiến tồn tại cho đến năm 1999, sau khi một Nhà nước Palestine độc lập chính thức ra đời. Năm 1994, lãnh tụ Arafat lần đầu tiên trở về Palestine sau 27 năm sống lưu vong. Năm 1995, Israel và Arafat ra được thỏa ước Oslo II, chia vùng Cisjordanie làm ba phần, trong đó tiểu vùng A do người Palestine tự điều hành, tiểu vùng B, hai bên phối hợp quản lý, và vùng C dự kiến sẽ chuyển giao dần quyền quản lý do Palestine, nhưng Israel vẫn duy trì quân đội.

    • Đọc thêm - Palestine – Israel: Hòa ước Oslo chết lâm sàng

    Các thỏa ước Oslo rút cục đã không dẫn đến việc thành lập một Nhà nước Palestine độc lập. Vì sao các thỏa ước Oslo thất bại, trả lời France Culture, nhà nghiên cứu François Ceccaldi, trường Collège de France, nêu bật một số lý do :

    « Thực ra có nhiều lý do, có lẽ đơn giản trước hết vì đây chỉ là một tuyên bố nguyên tắc như tên gọi của nó. Sau giai đoạn chuyển tiếp này, các vấn đề về ‘‘tình trạng thường trực’’, là những vấn đề nhạy cảm nhất, sẽ phải được đàm phán. Tại sao đàm phán thất bại ? Tôi cảm thấy rằng có lẽ trong các hiệp định Oslo, có một số yếu tố có thể dự báo trước thất bại ngay từ đầu. Đương nhiên lúc ấy đa số đã ghi nhận hoặc ít nhất hy vọng rằng một nền hòa bình là có thể đạt được. Vào thời điểm đó, đã có một số ít người phản đối, tôi đặc biệt nghĩ đến nhà nghiên cứu Edward Said, là những người đã nhanh chóng nhìn thấy những khiếm khuyết của hiệp định này.

    Có lẽ cũng vì trong các hiệp định này, chẳng hạn về vấn đề nhà nước Palestine, người Palestine đã có một số cách hiểu khá mơ hồ. Tuyên bố nguyên tắc dự kiến thành lập ‘‘tình trạng thường trực’’ sau giai đoạn chuyển tiếp 5 năm, dựa trên các nghị quyết 242 và 338. Trong diễn đạt mơ hồ về ‘‘tình trạng thường trực’’ dựa trên nghị quyết 242 rõ ràng người Palestine đã thấy đó là việc thành lập một nhà nước trong các đường biên giới như trước cuộc chiến tranh năm 1967. Trên thực tế, vấn đề nhà nước Palestine đã không bao giờ được đề cập trực tiếp trong các hiệp định. Có rất nhiều sự mơ hồ mà tôi nghĩ là đặc trưng của tuyên bố mang tính nguyên tắc, cộng với tất cả những gì xảy ra từ năm 1993 đến 1999, 2000, cho thấy thực sự có một sự phá vỡ lòng tin dần dần giữa các bên. 

    Mối quan hệ tin cậy được cho là sẽ phải được xây dựng trong giai đoạn chuyển tiếp đã không xảy ra vì nhiều lý do, có lẽ vì cuối cùng là do việc xây dựng các khu định cư của người Do Thái không bao giờ ngừng, vì thủ tướng Israel Rabin - người cổ vũ cho các hiệp định – bị ám sát. Tổng thống Mỹ Clinton vào cuối nhiệm kỳ của mình đã cố gắng tổ chức một cuộc đàm phán cuối cùng giữa thủ tướng Israel Ehud Barak và lãnh đạo PLO Arafat, nhưng đã thất bại. »

    Nội bộ phương Tây ngày càng nghiêng về công nhận Palestine

    Đầu những năm 2000, tiến trình hướng đến một xứ sở Palestine độc lập có một số bước tiến, với việc quân đội Israel lần đầu tiên rút khỏi dải Gaza kể từ năm 1967. Tuy nhiên, tình hình thay đổi sau khi tổ chức Hồi giáo Hamas, không thừa nhận Israel và chủ trương dùng vũ lực, lên nắm quyền tại Gaza năm 2007 : Nội bộ Palestine chia rẽ sâu sắc. Việc Hamas kiểm soát Gaza đẩy người Palestine dấn sâu vào thế đối đầu một mất một còn với Israel. Con đường hướng đến hai nhà nước Palestine - Israel cùng tồn tại hòa bình, đã bắt đầu hé mở thời Arafat, ngày càng trở nên xa vời.

    Tuy nhiên, về mặt ngoại giao, nỗ lực của Cơ quan Quyền lực Palestine gặt hái một số thành công. Năm 2012, Liên Hiệp Quốc công nhận Palestine là « nhà nước quan sát viên không phải thành viên » Liên Hiệp Quốc. Năm 2024, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ra một nghị quyết mang tính biểu tượng, yêu cầu kết nạp Palestine làm thành viên chính thức. Điều không được chấp nhận do lá phiếu phủ quyết của Mỹ. 

    Kể từ tháng 5/2024, Palestine được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tiếp nhận gần như một thành viên chính thức của Liên Hiệp Quốc với vị trí được xếp theo thứ tự ABC, và được phép đề xuất các dự thảo nghị quyết, đồng chủ trì dự thảo nghị quyết (với 143 phiếu thuận, 9 phiếu chống và 25 vắng mặt). Theo chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc « những sự kiện kinh hoàng trong bảy tháng qua chỉ làm tăng thêm tính cấp bách của việc đạt được một giải pháp hòa bình công bằng, toàn diện và lâu dài cho tình hình ở Trung Đông » và con đường khả thi duy nhất dẫn đến hòa bình ở Trung Đông là thông qua giải pháp hai nhà nước.

    Cho đến nay, Palestine đã được hơn 140 quốc gia công nhận, vượt 2/3 số thành viên Liên Hiệp Quốc. Trong nội bộ các nước phương Tây, ngày càng nhiều nước coi việc công nhận Palestine là biện pháp cần thiết để thực thi « giải pháp hai nhà nước », đã được Liên Hiệp Quốc đề ra hồi 1947. Công nhận nhà nước Palestine là « điều kiện để bảo đảm an ninh cho Israel », như một tuyên bố của Hội đồng Châu Âu năm 1999. 

    10 min
  • Từ Nixon đến Trump: Hai thời đại, cùng chiến lược

    Ngày 27/07/2025, Mỹ và Liên Hiệp Châu Âu đã ký kết một thỏa thuận thương mại, dự trù áp thuế 15% với hàng nhập khẩu của Liên Âu vào Mỹ . Chính sách kinh tế quyết liệt này của chính quyền Trump gợi nhắc đến chính sách của Richard Nixon, tổng thống Mỹ từ năm 1969 đến năm 1974. Giống như người tiền nhiệm, Donald Trump sử dụng kinh tế như một công cụ đàm phán để áp đặt các lựa chọn ngoại giao và thương mại.

    Sự việc bắt đầu vào một ngày Chủ Nhật 15/08/1971, vào lúc các sàn chứng khoán đóng cửa, tổng thống Richard Nixon bất ngờ thông báo « tạm thời » chấm dứt thỏa thuận Bretton Woods ký kết năm 1944, và tuyên bố áp thuế 10% đối với tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ, chủ yếu nhắm vào Đức và Nhật Bản, đang trên đà trỗi dậy. Quyết định này đã gây ra điều mà người ta gọi là « cú sốc Nixon ».

    1944 : Thỏa thuận Bretton Woods

    Để hiểu được hành động của Richard Nixon, cần phải xem xét lại bối cảnh tiền tệ vào thời điểm trước và trong những năm 1940. Tháng 7/1944, Hoa Kỳ cùng với 44 nước đồng minh kinh tế họp tại khách sạn Mount Washington, thành phố Bretton Woods, bang New Hampshire, để chuẩn bị những nền tảng cơ bản cho hệ thống kinh tế toàn cầu.

    Theo như giải thích của giáo sư kinh tế Sébastien Jean, trường Conservatoire National des Arts et Metiers, trong một chương trình của tuần báo Pháp L’Express, « Tại hội nghị này, những nền tảng sắp xếp, tổ chức các mối quan hệ kinh tế quốc tế thời hậu chiến đã được đặt ra với ba trụ cột : thứ nhất là tài chính – hệ thống tiền tệ, thứ hai là viện trợ cho phát triển với việc thành lập Ngân hàng Thế giới và thứ ba là thương mại, phức tạp hơn một chút, nhưng sau đó, vào năm 1947, được thể hiện qua GATT (General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch), một hiệp định sau này cho ra đời WTO – Tổ chức Thương mại Thế giới. »

    Cũng theo giáo sư Sebastien Jean, trong thỏa thuận này, điều đáng chú ý nhất là các nước tham gia hội nghị quyết định áp dụng một chế độ tỷ giá hối đoái cố định mới dựa vào đồng đô la thay cho cơ chế bản vị vàng, vốn dĩ xác định giá trị các loại tiền tệ dựa theo vàng.

    « Đồng đô la vẫn sẽ giữ được khả năng chuyển đổi tự do sang vàng. Điều này là khả thi bởi vì trong thời kỳ chiến tranh, do Hoa Kỳ cung ứng cho các nước và bắt họ thanh toán bằng vàng, vì vậy vào thời điểm đó, Mỹ nắm giữ hơn hai phần ba dự trữ vàng của thế giới. Do đó, họ có rất nhiều vàng và có đủ sức thuyết phục để tuyên bố "Chúng tôi muốn đồng tiền của chúng tôi và giá trị của chúng được xác định bằng vàng", bởi vì vào thời điểm đó, vàng được coi là sự đảm bảo tối thượng. Nhưng đô la là đồng tiền duy nhất trong tình huống này. »

    Bretton Woods và những hạn chế

    Nhưng hệ thống tiền tệ mới này bắt đầu cho thấy có những hạn chế. Mỹ và đồng đô la phải đối mặt với những « mệnh lệnh đầy mâu thuẫn ». Thứ nhất, khi biến đô la thành đồng tiền dự trữ và được neo theo vàng, Hoa Kỳ trở thành nguồn cung cấp đô la chính cho toàn thế giới : Đô la vừa là tài sản dự trữ quốc tế, vừa là tài sản giao dịch. Hệ quả, theo giáo sư Sebastien Jean, là Mỹ « phải cho lưu hành rất nhiều đô la bởi vì phải có thanh khoản trong hệ thống tiền tệ quốc tế. Và để có thanh khoản, Mỹ phải đi vay : Một đô la lưu hành tương đương với một chứng khoán nợ do Ngân hàng Trung ương Mỹ phát hành, giống như bất kỳ loại tiền tệ nào. »

    Cùng lúc, Hoa Kỳ phải đối mặt với mệnh lệnh mâu thuẫn thứ hai : Cơ chế neo đồng đô la với vàng. « Để việc neo giá này trở nên đáng tin cậy, để cho giá trị đồng đô la có uy tín trên thế giới, Mỹ không được vay nợ quá mức. Bởi vì mỗi khi mắc nợ, Hoa Kỳ lại phát hành đồng đô la mà họ cho là có một giá trị cố định bằng vàng. Nhưng càng phát hành nhiều, độ tin cậy của đô la càng giảm. »

    Chỉ có điều, vào cuối những năm 1960, những khoản chi cho cuộc chiến ở Việt Nam khiến tình trạng thâm hụt ngân sách Mỹ ngày càng nặng. Điều này làm dấy lên mối ngờ vực từ nhiều nước về độ tin cậy của khả năng tự do quy đổi đô la thành vàng, trong khi Hoa Kỳ cảm thấy bị bó buộc, bởi vì họ muốn vay nợ nhiều hơn để tài trợ cho cuộc chiến, nhưng lại không thể thực hiện mà không gây nguy hiểm cho sự ổn định của hệ thống tiền tệ, theo như nhận định của giáo sư Sebastien Jean.

    Trả lời tuần báo Pháp L’Express, ông giải thích : « Như thông lệ trên thị trường tài chính, có thể có những dự báo được thực hiện (tự chứng dự báo), nghĩa là nếu một số tác nhân bắt đầu nghi ngờ giá trị đồng đô la, về khả năng chuyển đổi tự do thành vàng, thì vào lúc đó, tất cả những ai giữ đô la đều sẽ muốn đổi đô la ra vàng và như vậy, họ phá hủy độ tín nhiệm của đồng đô la và điều đó có nguy cơ dẫn đến phản ứng dây chuyền, kết thúc nhanh chóng một cách thảm khốc ». Đây chính là điều Pháp đã thực hiện. Tháng 8/1971, Paris đã cho quy đổi một lượng lớn đô la dự trữ thành vàng, đưa lượng lớn vàng dự trữ từ Mỹ về nước.

    Hệ quả là lượng vàng dự trữ của Hoa Kỳ sụt giảm mạnh : từ mức 2/3 dự trữ thế giới vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến, đến năm 1970 rớt xuống còn 1/6. Mỹ không còn vị thế như xưa để có thể tác động đến cơ cấu hệ thống tiền tệ thế giới. Chính trong bối cảnh bất định này, Hoa Kỳ còn phải đối mặt với một sự cạnh tranh kinh tế khốc liệt với châu Á và châu Âu, những điều kiện tạo nên chiến thắng lợi của ông Richard Nixon, ứng viên đảng Cộng Hòa, trong bầu cử năm 1969.

    Giáo sư kinh tế Sebastien Jean cho biết : « Vào thời kỳ đó, Hoa Kỳ đương nhiên vẫn là một đại cường về kinh tế, đi đầu về công nghệ. Nhưng đó cũng là thời điểm các nước châu Âu cũng như Nhật Bản, không những đã kết thúc giai đoạn tái thiết đất nước mà còn bắt kịp về cơ bản sự chậm trễ về công nghệ đối với Mỹ. Những nước này có sức tăng trưởng rất nhanh, được giữ vững từ năm 1945. Họ chưa bắt kịp nhưng đã lấp được phần lớn cách biệt với Mỹ đến mức trở thành những cường quốc kinh tế, thương mại, công nghệ, những đối thủ cạnh tranh với Mỹ, điều chưa từng có trong quá khứ ».

    Cùng một phương pháp

    Chủ Nhật, ngày 15/08/1971, tổng thống Mỹ Nixon thông báo tạm dừng khả năng quy đổi tự do đô la thành vàng với hiệu lực tức thì. Như vậy, Hoa Kỳ đã có thể in tiền và bơm chúng vào nền kinh tế mà không cần tăng lượng vàng dự trữ. Thông báo này gây chấn động thị trường thế giới. Ngày hôm sau, 16/08/1971, ngay khi thị trường mở cửa, cam kết chuyển đổi đô la sang vàng ở mức 32 đô la/ounce đã bị Hoa Kỳ đình chỉ « tạm thời ». Nhưng trên thực tế, cam kết này sẽ không bao giờ được khôi phục.

    Richard Nixon : « Tôi chỉ thị cho bộ trưởng Tài Chính tạm dừng cơ chế chuyển đổi đô la sang vàng hay bất kỳ tài sản dự trữ nào khác, ngoại trừ các điều kiện được ấn định vì lợi ích của việc ổn định tiền tệ và vì lợi ích tốt nhất cho nước Mỹ. »

    Cùng một lúc, tổng thống Nixon tuyên bố áp thuế 10% đối với tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ. Đây là một cách để ông hạ giá đồng đô la một cách giả tạo và tạo ra ngoại hối, cho phép « vực dậy nền kinh tế Mỹ và đồng đô la, để trả lại cho Mỹ vị thế nền kinh tế hàng đầu thế giới ». Quyết định đơn phương này của chính quyền Nixon, đương nhiên đã bị nhiều nước phản đối và đưa ra các biện pháp trả đũa, nhưng lại khá rời rạc và có phần hạn chế.

    Sự việc cũng đã mở ra một thời kỳ bất ổn kinh tế và những căng thẳng cho các mối quan hệ quốc tế. Giới truyền thông lúc bấy giờ gọi chính sách này của Mỹ là « Nixon Round ». Các hình ảnh tư liệu của Viện Nghe nhìn Quốc gia Pháp (INA) cho thấy rõ lập trường và ý định của Mỹ muốn buộc các cường quốc kinh tế mới nổi (Nhật Bản, Cộng Hòa Liên Bang Đức và Cộng đồng Kinh tế Châu Âu), phải trả giá. Đó là những nước, khu vực đã tự vực dậy nhờ vào viện trợ tài chính của Mỹ và giờ đây đang đe dọa cạnh tranh kinh tế với Mỹ.

    Hai bối cảnh

    Hơn nửa thế kỷ sau, Donald Trump, tổng thống thứ 47, cũng thực hiện một cách thức tương tự như người tiền nhiệm áp dụng chính sách bảo hộ khi đơn phương đưa ra các mức thuế quan « chóng mặt » nhắm vào các đối tác, bất kể là đồng minh. Tuy nhiên, trang mạng INA lưu ý thêm rằng, nếu như các phương pháp thực hiện có vẻ giống nhau, thì bối cảnh và các mục tiêu là hoàn toàn khác biệt.

    Đối với Richard Nixon, tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ, biện pháp này trước hết là nhằm thống trị thị trường thế giới bằng cách tái cân bằng dòng chảy thương mại và buộc các đối tác hung hăng nhất của Mỹ phải tái điều chỉnh giá trị đồng nội tệ của họ so với đô la qua đó, hạn chế lợi thế cạnh tranh của những nước đó.

    Vào năm 2025, với khẩu hiệu « America First », mục tiêu của tổng thống Donald Trump mang tính ý thức hệ nhiều hơn. Như đã nêu rõ vào ngày 02/04/2025, Donald Trump hy vọng đưa nhà xưởng trở lại Mỹ để tạo ra việc làm, giảm lạm phát và giảm thâm hụt thương mại. Một chính sách mang hơi hướng chủ nghĩa biệt lập. Các quyết định kinh tế của Donald Trump, không hẳn nhằm khôi phục sức mạnh của Mỹ ở bên ngoài, mà là tập trung trở lại vào thị trường nội địa.

    Ngoài ra, Trump hoạt động trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa và các chuỗi cung ứng quốc tế đã được thiết lập vững chắc. Ngược lại, chính quyền Nixon ban hành các biện pháp thuế quan trong tình trạng mất cân bằng thương mại ngày càng lớn, thế ưu việt của Mỹ đang bị suy giảm dần.

    Việc sử dụng thuế quan như là một công cụ đàm phán là một khía cạnh chung khác trong cả hai chính sách, nhưng đối với Donald Trump đó là nhằm đạt được các nhượng bộ về những vấn đề không hoàn toàn mang tính kinh tế như việc giám sát biên giới và chống di dân bất hợp pháp. Vào năm 1971, đối với Nixon, đó là nhằm bảo vệ nền kinh tế Mỹ bằng cách tự giải thoát khỏi sự kìm kẹp tiền tệ mà ông cho là quá cứng nhắc !

    Những hệ quả

    Ngoài mục đích chính trị nội bộ, thu hút lá phiếu cử tri, cả hai chính sách này có những tác động đáng kể trong cơ cấu kinh tế thế giới. Những quyết định của chính quyền Nixon năm xưa đã thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa, củng cố các liên minh đối thủ cạnh tranh kinh tế, chẳng hạn như sự ra đời của Liên Hiệp Châu Âu, hay Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa OPEC…

    Vào năm 2025, hệ quả toàn cầu từ « học thuyết Mar-a-Lago » do Trump đề xướng là sự bùng phát các đòn trả đũa từ nhiều tác nhân kinh tế. Năm 1971, Hoa Kỳ vẫn chiếm thế độc tôn về kinh tế và nhiều lĩnh vực khác. Nhưng trong thế kỷ XXI này, nước Mỹ của Donald Trump phải đối phó với một đối thủ đáng gờm chưa từng có là Trung Quốc đang trên đà qua mặt Mỹ cả về kinh tế, thương mại, quân sự và công nghệ !

    13 min
  • Vì sao Trump hủy hoại WTO, định chế từng giúp Mỹ thịnh vượng ?

    Năm 2025, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO/OMC) kỷ niệm 30 năm ra đời trong bối cảnh tổng thống Mỹ Donald Trump hủy hoại hàng loạt luật chơi của định chế này. Định chế quốc tế, từng do Hoa Kỳ thúc đẩy để đóng vai trò « trọng tài » hay « cảnh sát thương mại quốc tế », giờ đây dường như bất lực đứng nhìn các thiệt hại do cuộc chiến thuế quan mà Trump phát động. Vì sao Trump chống lại định chế vốn tạo điều kiện cho sự thịnh vượng của Mỹ ?

    Trước hết xin trở lại cội nguồn lịch sử của định chế thương mại lớn nhất hành tinh. Ngày 15/04/1994, tại Marrakech, Maroc, đại diện của 128 quốc gia đã nhất trí lập một tổ chức quốc tế về tham vấn và trọng tài nhằm đảm bảo tự do lưu thông hàng hóa trên toàn thế giới, cũng như thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Tổ chức Thương mại Thế giới chính thức được thành lập ngày 01/01/1995 tại Geneva, Thụy Sĩ, tại chính trụ sở của Ban thư ký GATT (tức Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại), một cơ quan không chính thức có sứ mạng cắt giảm thuế hải quan trên toàn thế giới, hoạt động từ năm 1947.

    WTO, định chế quốc tế duy nhất Mỹ chấp nhận thẩm quyền « siêu quốc gia »

    Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại GATT ra đời sau Đệ nhị Thế chiến, theo thỏa thuận giữa các nước đồng minh, nhằm điều hòa chính sách thuế quan giữa các nước, không để thương mại trở thành công cụ thống trị về kinh tế, có thể dẫn đến xung đột. Hiệp định được sửa đổi nhiều lần qua nhiều vòng đàm phán, trước khi có được một cơ quan có tư cách pháp nhân chính thức, với thỏa thuận Marrakesh năm 1994, dẫn đến sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới. Từ chỗ chỉ có hơn 20 thành viên tham gia Hiệp định GATT, cho đến nay WTO đã thu hút hơn 160 thành viên, chiếm 98% tổng trọng lượng thương mại toàn cầu.

    Một thành tích rõ rệt nhất thường được nêu là mức thuế hải quan đối với hàng hóa đã giảm trung bình từ 40%, thời sau Thế chiến Hai, xuống còn 6% hiện nay. Liên Hiệp Châu Âu ra đời năm 1993, và đồng tiền chung châu Âu được xác lập năm 2000, sự phát triển đột biến của kinh tế Trung Quốc, Bắc Kinh gia nhập WTO từ 2000… Giai đoạn tự do mậu dịch chưa từng có đi kèm với thịnh vượng chưa từng có với nhân loại cũng là thời kỳ nước Mỹ là siêu cường duy nhất.

    WTO mang lại nhiều điều cho thế giới, nhưng định chế này đặc biệt có lợi cho Mỹ. Ông Pascal Lamy, cựu tổng giám đốc WTO (2005 - 2013), cựu ủy viên Môi trường Ủy Ban Châu Âu, nhấn mạnh đến vai trò đặc biệt của WTO với Mỹ : « Họ đã xây dựng một hệ thống mà họ nghĩ là tốt cho họ, bởi vì chủ nghĩa tư bản cần đến các quy tắc và sự minh bạch để hoạt động. Đó là lý do tại sao vào năm 1994, với sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), họ đã chấp nhận thành lập một cơ chế phán xử quốc tế có khả năng áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với thành viên nào vi phạm các quy tắc thương mại chung. Đây là tổ chức quốc tế duy nhất mà Hoa Kỳ chấp nhận một liều lượng siêu quốc gia, nghĩa là một hệ thống pháp lý không phải của Mỹ, nhưng có thẩm quyền cưỡng chế với nước Mỹ » (bài « Pascal Lamy : ‘‘Les Etats-Unis tentent de démolir un monde qu’ils ont conçu’’ » [Nước Mỹ đang cố gắng phá hủy một thế giới mà họ đã thiết kế], tuần báo Le Nouvel Obs, ngày 12/05/2025).

    « Đóng góp đặc biệt cho sự ổn định kinh tế toàn cầu »

    Tự do mậu dịch có nghĩa là mở cửa các thị trường, và điều này diễn ra trong bối cảnh kinh tế Mỹ ở thế thượng phong. Trong thập niên 1990, đầu những năm 2000, WTO được coi là một công cụ chiến lược với Mỹ để mở cửa các thị trường nước ngoài ở các lĩnh vực mà nền kinh tế Mỹ thống trị, hay có tính cạnh tranh cao như công nghệ tiên tiến, dịch vụ tài chính, sở hữu trí tuệ… và tiếp tục duy trì các biện pháp bảo hộ đối với một số lĩnh vực nhạy cảm trong nước, như thép, dệt may, nông nghiệp cơ bản (theo báo cáo năm 2007 về Hệ thống Giải quyết Tranh chấp của WTO có lợi cho nước Mỹ [WTO Trade Rules Benefit the United States, Says New Council Report], của giáo sư Robert Z. Lawrence - Đại học Harvard, Viện tư vấn chính sách đối ngoại Mỹ Council on Foreign Relations / CFR đăng tải).

    Báo cáo của nguyên thành viên Hội đồng cố vấn kinh tế của tổng thống Mỹ nhấn mạnh đến một vấn đề đã trở nên nhạy cảm với nước Mỹ ngay từ thời điểm đó, khi nhiều nhà hoạch định chính sách và nhà lập pháp Mỹ bắt đầu chỉ trích mạnh mẽ Cơ chế Giải quyết Tranh chấp (Dispute Settlement Body - DSB) của WTO, thay vì bảo vệ. Cho dù hệ thống này đã và có thể giúp « giảm nhu cầu Mỹ phải sử dụng các biện pháp trả đũa đơn phương, hạn chế một nguồn căng thẳng quan trọng giữa Mỹ và các đối tác ».

    « Giải quyết tranh chấp là nền tảng của hệ thống thương mại đa phương và là đóng góp chưa từng có của WTO vào sự ổn định của nền kinh tế toàn cầu » (theo WTO). Hệ thống Giải quyết Tranh chấp của WTO, từ khi ra đời định chế này đã giải quyết hơn 600 vụ kiện tụng về thương mại, thông qua cơ chế xem xét tranh chấp ở cấp sơ thẩm (tại Ban hội thẩm) và cấp phúc thẩm (tức Appellate Body). Phán quyết của Cơ quan Phúc thẩm, theo phương thức trọng tài, có tính chung thẩm. Cơ quan Phúc thẩm AB gồm bảy thành viên do Cơ quan Giải quyết Tranh chấp DSB, bổ nhiệm với nhiệm kỳ bốn năm và có thể được bầu lại một lần, gồm những chuyên gia có uy tín và chuyên môn cao trong lĩnh vực pháp luật thương mại quốc tế.

    Định chế WTO : Từ nguồn lợi của Mỹ trở thành tội đồ

    Tuy nhiên, hơn 20 năm sau khi WTO ra đời, nước Mỹ thời Donald Trump khẳng định thái độ mất tin tưởng hoàn toàn đối với Tổ chức Thương mại Thế giới. Washington coi WTO hoạt động chậm chạp, can thiệp thô bạo về mặt pháp lý và không đủ năng lực để xử lý các vấn đề địa - chính trị hiện đại, đặc biệt là liên quan đến Trung Quốc, bị Mỹ và nhiều đồng minh cáo buộc là cạnh tranh bất chính trong các lĩnh vực chiến lược, với các trợ cấp ồ ạt cho doanh nghiệp nhà nước, ép buộc doanh nghiệp nước ngoài chuyển giao công nghệ…

    Năm 2018, chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ nhất khởi động cuộc chiến thuế quan, đơn phương đánh thuế hàng trăm tỉ đô hàng nhập từ Trung Quốc. Bắc Kinh khởi kiện. Tháng 9/2020, cơ quan phân xử tranh chấp của WTO ra phán quyết về việc Mỹ áp đặt thuế « mang tính kỳ thị và thái quá », vi phạm các quy định thương mại quốc tế. Đại diện Thương mại Mỹ lúc đó, Robert Lighthizer, đón nhận lạnh nhạt với tuyên bố : « Điều này khẳng định những gì chính quyền Trump đã nói từ bốn năm nay. Đó là WTO hoàn toàn không đủ khả năng ngăn chặn các hoạt động có hại của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ. »

    Rời bỏ các quy tắc quốc tế của WTO để « trở về » với « logic của kẻ mạnh »

    Vào thời điểm cuộc chiến thuế quan chống Trung Quốc lần thứ nhất bùng lên, nhiều chuyên gia như cựu tổng giám đốc WTO Pascal Lamy chưa hiểu rõ phe cầm quyền tại Mỹ muốn gì. Cựu tổng giám đốc WTO băn khoăn : « Hoa Kỳ vẫn chưa nói rõ vấn đề mà họ muốn là gì. Liệu có phải vì các trọng tài viên chưa đưa ra quyết định đúng đắn theo quan điểm của họ, hay vì họ phản đối cơ chế trọng tài siêu quốc gia này ? ». « Liệu việc Washington ngăn chặn bổ nhiệm thẩm phán của cơ quan trọng tài giải quyết tranh chấp của WTO, khiến hệ thống bị tê liệt, có phải là một chiến thuật nhằm thiết lập lại các quy tắc thương mại toàn cầu và buộc Trung Quốc phải nhượng bộ, hay đánh dấu sự kết thúc của chủ nghĩa đa phương (multilateralism), điều mà người Mỹ không còn đồng cảm nữa ? » (trích Le Monde, ngày 10/12/2019).

    • Đọc thêm - Pascal Lamy : ''WTO cần tiếp tục tồn tại, cho dù không có Donald Trump''

    Năm nay, khi Trump trở lại nắm quyền, tình hình đã hoàn toàn rõ. Phe cầm quyền của Donald Trump tại Mỹ không chỉ coi Trung Quốc là đích ngắm, trong ngày 02/04/2025, « Ngày Giải phóng nước Mỹ », Donald Trump tuyên bố đơn phương đánh « thuế đối ứng » đối với tuyệt đại đa số các nước, bất chấp luật pháp thương mại quốc tế hiện hành. Điều đó có nghĩa là phe tổng thống Trump không dừng ở việc tấn công vào một số quy tắc của WTO, mà là vào thẩm quyền « siêu quốc gia », vai trò cầm cân nẩy mực của định chế thương mại lớn nhất hành tinh này. Triết lý hành động của tổng thống Donald Trump được thể hiện công khai: Thế giới là một đấu trường, kẻ mạnh áp đặt luật chơi, luật pháp quốc tế hoàn toàn không còn chỗ đứng.

    Cuộc chiến thuế quan toàn cầu chỉ là phần nổi…

    Hủy hoại các luật chơi của WTO, nước Mỹ của Donald Trump thực sự tìm kiếm gì ? Nguyên tổng giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới Pascal Lamy, trả lời đài Pháp France 24 hồi tháng 5/2025, đã cảnh báo là cuộc chiến thuế quan nghiêm trọng, làm rung chuyển hệ thống thương mại toàn cầu đang diễn ra chỉ là phần nổi. Điều hệ trọng hơn nhiều là tham vọng thâu tóm quyền lực để độc quyền hành xử bất chấp luật lệ của lãnh đạo Mỹ:

    « Chúng ta đã có phần bị đánh lạc hướng bởi phong cách hành xử quá đỗi hiếu động của ông Trump, những màn trình diễn liên tục và hàng ngày của ông Trump về vấn đề thuế quan. Chắc chắn tôi không phải là người coi nhẹ vấn đề thương mại quốc tế. Nhưng tôi nghĩ hệ quả của không khí này là chúng ta sẽ không thấy rõ những gì ông ấy thực sự đang làm trong hậu trường, trên bình diện chính trị tại Mỹ, và đối với hệ thống quốc tế. Và điều này có lẽ nghiêm trọng hơn, sâu sắc hơn, mang tính hệ thống hơn nhiều. Đây là điều mà theo tôi, chúng ta chưa chú ý đủ mức và đó là điều nghiêm trọng nhất. 

    Tôi nghĩ rằng một lần nữa, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của Trump rõ ràng là một vấn đề thực sự, nhưng vấn đề này có thể che khuất điều nghiêm trọng hơn, sâu xa hơn. Đó là việc hành pháp lấn át. Chúng ta không còn nghe tiếng nói của Quốc Hội Mỹ nữa. Tại Mỹ, tòa án không còn là cơ quan kiểm soát các hành động của tổng thống trong các vấn đề thương mại quốc tế. Và ông Trump đang đưa ra những quyết định hoàn toàn vi phạm các thỏa thuận quốc tế mà Hoa Kỳ đã ký kết trong 150 năm qua.

    Điều này rất nghiêm trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực môi trường. Dường như đã có quyết định không phải để cho phép thăm dò mà là khai thác một số đáy biển sâu, trong khi mọi người đều đồng ý là việc này phải tuân theo các thủ tục quốc tế. Như vậy là đã có một nỗ lực phá hủy một cách có hệ thống những cơ chế nào hạn chế việc thực thi quyền lực. Đây là điều mà theo tôi là rất nghiêm trọng. »

    Ngăn cản WTO cải tổ vì khí hậu – môi trường, bảo vệ « năng lượng hóa thạch »

    Các đòn tấn công trực diện của phe cầm quyền tại Mỹ làm rung chuyển nền móng của WTO, trụ cột của thương mại quốc tế, có một đích ngắm mang tính hệ thống, đó là các nỗ lực hướng đến cải cách triệt để định chế WTO, để Tổ chức Thương mại Thế giới có thể cung cấp « các giải pháp mạnh mẽ cho vấn đề biến đổi khí hậu », như ghi nhận của Ralph Ossa, kinh tế gia trưởng của WTO, hồi tháng 12/2024. Trợ lý tổng giám đốc WTO, ông Jean-Marie Paugam, đã nói đến viễn cảnh mở đàm phán về thương mại, khí hậu và phát triển bền vững trong khuôn khổ WTO. Một số chuyên gia nói đến phối hợp mật thiết giữa WTO- UNFCCC (Công ước khung về Biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc), với một ban thư ký thường trực chung (bài « Khí hậu và Thương mại : Vì một chủ nghĩa đa phương của chung » của Sébastian Jean và Denis Tersen, trang của viện tư vấn Terre Nova).

    • Đọc thêm : Chính quyền Trump cố triệt hạ giới khoa học về khí hậu và môi trường

    Rút nước Mỹ ra khỏi Hiệp định Khí hậu Paris ngay từ ngày đầu nhậm chức : Chính sách nhất quán của tổng thống Trump, trong nhiệm kỳ trước cũng như nhiệm kỳ này, là tấn công vào các thỏa thuận quốc tế về khí hậu và môi trường, cũng như các định chế bảo vệ môi trường tại chính nước Mỹ. Việc Tổ chức Thương mại Thế giới có thể tiến hành được các cải tổ để lợi ích kinh tế kết hợp với bảo vệ môi trường sẽ là hồi chuông báo tử đối với mô hình kinh tế dựa trên năng lượng hóa thạch mà phe cầm quyền của tổng thống Trump bám giữ.

    Tuy nhiên, để hiểu vì sao phe cầm quyền tại Mỹ lại bám chặt vào kinh tế năng lượng hóa thạch cũng rất cần đặt việc này trong cuộc ganh đua quyết liệt giữa Mỹ và Trung Quốc, một thời là con gà đẻ trứng vàng của các tập đoàn Mỹ, nay trở thành nền kinh tế thứ hai và là quốc gia phát thải đứng đầu thế giới. Và sự phụ thuộc ngày càng mật thiết về kinh tế Mỹ - Trung trong hàng chục năm toàn cầu hóa thương mại vừa qua đã không dẫn đến quan hệ hòa bình (« l’introuvable interdépendance pacificatrice ») (theo Benjamin Burbaumer trong cuốn « Chine/États-Unis, le capitalisme contre la mondialisation » [Trung Quốc/Mỹ, chủ nghĩa tư bản chống lại toàn cầu hóa], Nxb La Découverte, 2024, tr. 111).

    10 min
  • Iran - Vatican kỷ niệm 70 năm bang giao: Teheran mong muốn được đón giáo hoàng

    Năm nay, 2025, hai nước Vatican và Cộng hòa Hồi giáo Iran kỷ niệm 70 thiết lập quan hệ bang giao. Trong một bài phỏng vấn đăng trên nhật báo Công giáo Ý Avvenire ngày 05/02/2025, đại sứ Iran bên cạnh Toà Thánh, Mohammad Hossein Mokhtari, cho biết « sẽ là vinh dự lớn lao khi được chào đón Đức giáo hoàng đến Teheran. »

    Điều này, cũng được hồng y người Bỉ, Dominique Mathieu, tổng giám mục Téhéran-Ispahan từ 2021, nêu lên trong một bài phỏng vấn đăng trên tuần san Dimanche của Bỉ, 09/02/2025, « Đức thánh cha chắc chắn mong muốn được đến Iran ». Liệu điều này có khả năng diễn ra hay không ? Thực hư mối quan hệ giữa Vatican và Iran là gì ?

    Mối quan hệ bền vững lâu dài

    Nếu điều này xảy ra thì sẽ không bất ngờ do mối quan hệ ngoại giao lâu dài giữa một nước Cộng hòa Hồi giáo và một quốc gia ki-tô giáo toàn tòng.

    Thực sự, Toà Thánh đã có quan hệ ngoại giao đầy đủ với Iran từ năm 1954, mặc dù các mối liên hệ đã có từ thời vua Abbas Đại Đế ở thế kỷ XVI. Mối quan hệ chính thức được thiết lập giữa Đức giáo hoàng Piô XII và Shah (vua) Mohammad Reza Pahlavi, người đã thành lập chế độ quân chủ chuyên chế ở Iran. Chính ông đã lãnh đạo đất nước gọi là Nhà nước Đế Quốc Iran.

    Mối quan hệ ngoại giao này luôn được duy trì mà không hề bị cắt đứt hay ngưng trệ dù Iran có trải qua cuộc cách mạng Hồi giáo thay đổi cả chế độ vào năm 1979. Cuộc cách mạng này đã chuyển đổi thể chế quân chủ của Iran thành một nhà nước Cộng hòa Hồi giáo, mà lãnh tụ tôn giáo mới là người thực sự nắm quyền.

    Sau cuộc Cách mạng Hồi giáo 1979, một số người theo chủ nghĩa chính thống (fondamentalisme) muốn cắt đứt quan hệ với Tòa Thánh vốn đã có từ lâu. Tuy nhiên, lãnh tụ tối cao Khomeini đã phản đối. Theo như đại sứ đầu tiên của Cộng Hòa Hồi giáo tại Vatican, Sayyid Hadi Khosrowshahi, chính giáo chủ Khomeini đã gởi cho ông những thông điệp để chuyển đến Đức Gioan Phaolô II, người vừa được bầu lên vào thời điểm đó. Thông điệp mang nội dung hòa bình và lời mời chung sống với các ki-tô hữu.

    Iran đã luôn đầu tư mạnh mẽ vào mối quan hệ với Toà Thánh. Sự đầu tư này không chỉ mang màu sắc chính trị mà Iran còn tìm thấy nơi Toà Thánh sự tương đồng về chiều kích tâm linh tôn giáo.

    Mới đây, bộ trưởng Văn Hóa Iran đã hiện diện tại lễ an táng của Đức Phanxicô và lễ nhậm chức của Đức Lêô XIV. Ông đã chuyển tới đức tân giáo hoàng thông điệp của tổng thống Iran nhấn mạnh đến niềm tin lâu đời của Iran vào các nguyên tắc thống nhất của các tôn giáo lớn trên thế giới : Các tôn giáo đều bắt nguồn từ một chân lý duy nhất – chân lý kêu gọi nhân loại hướng đến phẩm giá, lòng trắc ẩn và hòa bình.

    Đức Lêô XIV đã ca ngợi chiều sâu lịch sử và văn hóa của người dân Iran, lưu ý rằng khi đức tin được thể hiện thông qua sự tôn trọng và đối thoại, « nó có sức mạnh biến đổi thế giới ».

    Sự chung sống của các tôn giáo

    Người dân Iran đã quen với sự chung sống giữa các tôn giáo. Người ki-tô hữu là một trong ba nhóm thiểu số được Hiến pháp Iran công nhận, cùng với người Do Thái giáo và người theo đạo Zoroaster (Bái hỏa giáo). Những đại diện của ba tôn giáo này tại Quốc hội Iran có quyền tham gia vào các phiên họp và có ý kiến ngay cả với những vấn đề nhạy cảm về an ninh quốc gia.

    Những thánh đường Công giáo cổ là những di sản văn hóa quốc gia. Kinh thánh Ki-tô giáo được dịch sang tiếng Ba Tư và các bản văn ki-tô giáo được giảng dạy và nghiên cứu. Tuy nhiên, việc truyền giáo giữa các tín đồ của các tôn giáo lại là vấn đề khác, hay vấn đề ép buộc cải sang Hồi giáo hay Công giáo cũng là một vấn đề hoàn toàn không liên quan với nhau.

    Người Hồi giáo Iran đa số thuộc hệ phái Shia và một thiểu số Sunni. Thế nên, ngay trong nội bộ, lãnh tụ tối cao đã thành lập các trường đại học để khuyến khích đối thoại. Hiến pháp Iran ghi nhận mọi quyền con người liên quan đến luật Kinh Coran, tức là luật pháp có nguồn gốc tôn giáo. Tuân thủ luật pháp như một hình thức thi hành tôn giáo. Điều này có thể giải thích cho việc :

    - Bài Hồi giáo là kết quả của những quan điểm sai lầm. Hồi giáo bị thu hẹp lại thành những nhóm bạo lực nhỏ. Họ giải thích kinh Coran theo cảm tính. Hồi giáo là một tôn giáo có chiều kích từ bi mạnh mẽ. Chính những nhóm này đang bị những người Hồi giáo chân chính xua đuổi. Và niềm tin đích thực phải được truyền đạt cho thế hệ trẻ.

    - Những người trẻ đang dần xa rời đức tin tôn giáo. Đó là vấn nạn chung, không chỉ nơi Hồi giáo mà cả nơi các tôn giáo khác. Mà vấn nạn này lãnh tụ Hồi giáo Iran mong muốn chia sẻ với người đứng đầu giáo hội Công giáo.

    Đối thoại Iran và Vatican được hình thành từ bao giờ ?

    Việc thiết lập sự đối thoại này đã được thực hiện từ lâu. Năm 1985, trong khi cuộc chiến Iran-Irak tàn khốc đang diễn ra, Iran đã mời nhà thần học phương Tây đầu tiên, linh mục Công giáo người Thụy Sỹ, Hans Küng, đến để trao đổi quan điểm với những người đồng cấp Hồi giáo.

    Küng đã rất ấn tượng khi thấy các giáo sĩ, quan chức Nhà nước và thậm chí cả các thành viên của gia đình giáo chủ tối cao lúc bấy giờ là Ayatolla Ruhollah Khomeini tham dự. Ông đã viết vào thời điểm đó: « Thay vì tranh chấp, hãy đối thoại. Đây là cụm từ đáng kinh ngạc mà tôi nghe thấy ở Teheran. Tôi tin rằng đối thoại chủ yếu có động cơ tôn giáo và sẽ đơm hoa kết trái. »

    Cuộc đối thoại này vẫn tiếp tục. Từ năm 1995, Tổ chức Văn hóa và Quan hệ Hồi giáo của Iran và Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại liên tôn của Vatican vẫn đều đặn gặp gỡ hội thảo mỗi 2 năm.

    Không chỉ với Giáo hội Công giáo, với khoảng 300.000 tín đồ tập trung ở Ispahan, nguyên là thủ đô của Iran, Hồi giáo Iran còn đối thoại với cả thiểu số Chính thống giáo Hy Lạp. Từ 1992, các giáo sĩ dòng Shia đã tổ chức cuộc họp liên tôn đầu tiên tại Athens với Giáo hội Chính thống giáo Hy Lạp. Các nhà tư tưởng Iran ngưỡng mộ giáo hội Chính thống giáo đã duy trì các giá trị và bản sắc truyền thống trước sự toàn cầu hóa của phương Tây.

    Hợp tác tôn giáo này còn được thể hiện qua sự can thiệp vào năm 2011 của giám mục Anh giáo John Bryson Chane và Hồng y Theodore McCarrick trong cuộc đàm phán thả hai người đi bộ đường dài người Mỹ bị Iran bắt giữ từ 2009 với cáo buộc làm gián điệp.

    Trung gian chính trị

    Có 3 lý do cơ bản để mối quan hệ giữa Teheran và Vatican trở nên gần gũi và có thể trở thành cầu nối cho những mối tương quan khác.

    Trước tiên, tầng lớp lãnh đạo của Iran không chỉ được thúc đẩy bởi Realpolitik, tức là thực thi những đường lối chính trị thực dụng trước mắt, như thắng cử mà không có đường lối hay ý thức hệ chính trị của một đảng. Những nhà lãnh đạo Iran hoạt động trong sự pha trộn tâm lý và văn hóa mà trong đó niềm tin tôn giáo đóng vai trò quan trọng. Đó là điều mà các nhà lãnh đạo phương Tây không thể hiểu được vì khái niệm tách biệt giữa Nhà nước và Giáo hội. Tuy nhiên, giáo hoàng và những người cộng tác của ngài có thể gặp gỡ với những nhà lãnh đạo Iran ngay trên chính lãnh địa này, nơi mà họ tìm thấy một vũ trụ chung về các niềm tin thiêng liêng và thần học.

    Thứ hai, đó là sự chia rẽ giữa các phái Hồi giáo, mà lớn nhất là hệ phái Shia và Sunni, có thể được xem tương đương với sự chia sẽ giữa Công giáo và các hệ phái Tin Lành hay Chính thống giáo. Và việc đi tìm sự hợp nhất cho sự chia rẽ của các tin đồ cùng tin thờ một Thượng đế là vấn đề mà những người trong cuộc mới hiểu rõ và chia sẻ với nhau.

    Thứ ba, xét về mặt chính sách, Iran và Vatican dưới thời Đức Phanxicô có nhiều khía cạnh tương đồng. Đó là cả hai đều mong muốn một trật tự thế giới đa phương hơn, không còn bị các cường quốc phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, thống trị. Đức Phanxicô là người ủng hộ chính cho liên minh BRICS, trong đó Iran là một trong sáu thành viên mới thành lập, và giáo hoàng có thể được tin tưởng sẽ tiếp tục khuyến khích BRICS trở thành một đối trọng kinh tế và chiến lược thực sự trong các vấn đề toàn cầu.

    Vấn đề hạt nhân và Syria

    Đối với Vatican, Syria là nơi có cộng đoàn Công giáo lớn nhất ở vùng Cận Đông. Đó là lý do tại sao từ năm 2013, Đức Phanxicô đã can thiệp vào Syria khi tổng thống Assad có thể đã sử dụng vũ khí hóa học chống lại chính người dân của mình. Vào tháng Chín năm đó, Đức Phanxicô đã kêu gọi một ngày cầu nguyện toàn cầu cho Syria khi tình hình nước này ngày càng hỗn loạn.

    Bên cạnh việc cầu nguyện, Vatican đã trình bày tóm tắt lập trường cho khoảng 70 vị đại sứ bên cạnh Tòa Thánh rằng một sự can thiệp sẽ chỉ làm trầm trọng thêm xung đột và cần phải tìm kiếm một giải pháp hòa bình. Đức Phanxicô cũng đã viết thư cho các thành viên của G20, khi đó đang nhóm họp ở Nga, lập luận rằng một sự can thiệp quân sự là vô ích. Khi đó Hoa Kỳ đã chọn không can thiệp và thay vào đó, chuyển kho vũ khí hóa học của Assad cho một tổ chức quốc tế. Hành động này cũng kéo Vladimir Putin vào cuộc nhằm bảo vệ những người ki-tô giáo và trong các nỗ lực cung cấp viện trợ nhân đạo.

    Iran đã bày tỏ sự ngưỡng mộ trước các nỗ lực của Tòa Thánh trong việc ngăn chặn các cuộc không kích vào Syria. Còn đối với Vatican, Iran là một bên không thể thiếu trong việc chấm dứt xung đột ở Syria.

    Vatican là thành viên sáng lập của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và từ lâu cũng đã ủng hộ thỏa thuận hạt nhân của Iran, coi đây là con đường hướng tới việc sử dụng công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình. Khi Hoa Kỳ từ bỏ thỏa thuận dưới thời chính quyền Trump vào năm 2018, nhóm ngoại giao của Tòa Thánh đã thể hiện rõ sự phản đối.

    Những mối quan hệ lịch sử dựa trên tôn giáo và quan điểm chung về Syria đã dẫn đến một liên minh chính trị hoàn toàn về thỏa thuận hạt nhân. Trong quá khứ, vào tháng 4/2014, đã từng có một phái đoàn từ Hội đồng giám mục Hoa Kỳ gặp Hội đồng tối cao của các giáo chủ Chủng viện Qom của Iran. Hai bên đã đạt được lập trường chung chống vũ khí hạt nhân và vũ khí giết người hàng loạt. Trong quá trình gặp gỡ này, các giám mục Hoa Kỳ luôn tham khảo ý kiến từ Vatican.

    Thế nên, trong các vấn đề của vùng Trung Cận Đông, Vatican muốn giúp tạo động lực cho một tiến trình hòa bình tôn trọng vai trò của Iran và họ coi Téhéran là một bên tham gia không thể thiếu, sẵn sàng bảo vệ các nhóm tín ngưỡng mà cho đến nay các chính phủ phương Tây phần lớn không bảo vệ được.

    Tương đồng trước những vấn đề tôn giáo chung

    Trong khi, các lãnh tụ của Iran sẵn sàng nhận điện thoại từ Vatican trong các sự kiện quan trọng, chẳng hạn như tân tổng thống Masoud Pezeshkian đã điện đàm với hồng y Pietro Parolin, quốc vụ khanh Tòa Thánh ngay sau khi thắng cử. Thường các nguyên thủ quốc gia thích tránh né các cuộc gọi chứa đầy nội dung giáo huấn đạo đức từ Vatican.

    Đó không chỉ vì phép lịch sự ngoại giao của hai nước có mối quan hệ lâu dài, mà họ còn có sự tương đồng. Cả hai quốc gia đều được điều hành bởi một hàng giáo sĩ tôn giáo. Và họ đều nhìn thấy mối nguy của sự xuống cấp về mặt đạo đức nơi các thế hệ trẻ. Sự thiếu đi một bệ đỡ về mặt tinh thần trong một thế giới biến chuyển nhanh chóng và cần phải khẩn cấp cần đến những giải pháp cho vấn đề này.

    Còn đối với người Việt nói chung, và người ki-tô giáo nói riêng, ngôi mộ của người sáng lập ra chữ quốc ngữ được tìm thấy ở Ispanhan. Linh mục Alexandre de Rhodes hay cha Đắc Lộ (1591-1660) sau sứ mạng truyền giáo ở Việt Nam, ngài được phái đến Ispahan lúc đó là thủ đô của nước Ba Tư. Và qua đời tại đây.

    12 min
  • Châu Á – Thái Bình Dương có thể « qua mặt » phương Tây

    Khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang âm thầm trỗi dậy trở thành một trung tâm lớn về thương mại, kinh tế và công nghệ. Đi kèm với sự trỗi dậy lặng lẽ này là xu hướng ngày càng phi phương Tây hóa của khu vực, vào lúc mà trong bối cảnh quốc tế nhiều bất ổn, tầm ảnh hưởng của Châu Âu và Mỹ  không có còn như xưa.

    Châu Á – Thái Bình Dương : Đầu tầu kinh tế, thương mại, công nghệ mới

    Với một vùng duyên hải bao la, châu Á – Thái Bình Dương, trải dài từ Đông Á (gồm năm nước Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nhật Bản, Trung Quốc và đảo Đài Loan) đến Đông Nam Á (Brunei, Cam Bốt, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Miến Điện, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam) trong khoảng từ 3-4 thập niên trở lại đây chiếm một vị trí quan trọng trong nền thương mại toàn cầu.

    Theo số liệu do Ngân hàng Thế giới (World Bank) công bố, châu Á – Thái Bình Dương chiếm đến 60% GDP của toàn cầu và 66% tăng trưởng kinh tế thế giới, biến khu vực này thành một trung tâm công nghiệp và chuỗi dây chuyền sản xuất mới của thế giới, theo ghi nhận của tiến sĩ địa lý Emmanuel Véron, chuyên gia về Trung Quốc đương đại, thành viên Viện Nghiên cứu Pháp về Đông Á (IFRAE) trên làn sóng RFI Pháp ngữ (23/07/2025):

    « Trong vòng 3-4 thập niên gần đây, toàn thế giới phần lớn phụ thuộc vào khu vực đi từ Đông Á mở rộng đến Đông Nam Á. Ngược lại, các thị trường lớn thống nhất, hợp nhất, như thị trường châu Âu, thị trường Bắc Mỹ rõ ràng là hoàn toàn bị gắn kết, với vùng duyên hải rộng lớn châu Á – Thái Bình Dương này. Về cơ bản, khu vực này là một trong những trung tâm công nghệ, thương mại và kinh tế lớn nhất thế giới ».

    Châu Á – Thái Bình Dương cũng là khu vực tập trung đến một nửa trong số khoảng từ 30-40 các khu đô thị giầu có nhất của thế giới. Sự hình thành các mạng lưới thương mại và tài chính trong nội khối là những nguồn tăng trưởng thiết yếu cho các nước châu Á. Điều đó dẫn đến một hiện tượng mà chuyên gia địa chính trị Sophie Boisseau du Rocher*, Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp (IFRI), gọi là « tái tập trung và khu vực hóa » châu Á, một trong số các xu hướng địa chính trị quan trọng nhất của vùng.

    Những thước đo thành công

    Cùng chia sẻ « đặc điểm văn hóa chung » - nghĩa là tùy theo mức độ ảnh hưởng cũng như là cách diễn giải theo từng khu vực mà những nước này được kết nối với điều được gọi là « khối văn minh Hán hóa » -, và nhất là có một nền dân số trẻ (800 triệu người được sinh ra tính từ đầu thế kỷ XXI so với 66 triệu tại Mỹ và 60 triệu tại châu Âu), là những điều kiện chính tạo nên sự năng động cho khu vực.

    Cũng theo nhà nghiên cứu Sophie Boisseau du Rocher, trả lời nhật báo Pháp Le Figaro ngày 09/07/2025, thành công của khu vực còn nhờ vào hai yếu tố : Thứ nhất là vai trò « hoạch định » của nhà nước, xác định các mục tiêu ưu tiên và vạch ra phạm vi hoạt động, từ việc nâng cấp chuỗi dây chuyền sản xuất, cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng hay chọn « thành phố thông minh » để thí điểm những chính sách công cụ thể xung quanh các dự án lớn. Tóm lại, Nhà nước chủ động can thiệp để phát huy vai trò của thị trường trong việc phân bổ nguồn lực và thúc đẩy phát triển, đặc biệt là về công nghiệp.

    Yếu tố thứ hai là Giáo dục. Theo bà Du Rocher, mối liên hệ nhân – quả giữa sự phát triển kinh tế và trình độ giáo dục là rất rõ ràng. Đầu tư cho đào tạo (kể cả nguồn lực do nhà nước phân bổ), sức chi cho giáo dục của từng hộ gia đình là cao nhất trong toàn bộ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OCDE). Điều này giải thích vì sao các nước châu Á – Thái Bình Dương luôn đứng đầu trong bảng xếp hạng quốc tế.

    Nhà địa lý học Emmanuel Véron lưu ý thêm rằng một trong động cơ chính cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của châu Á – Thái Bình Dương « hiển nhiên là quyết định của đảng Cộng sản Trung Quốc cách nay bốn mươi năm tiến theo toàn cầu hóa, với các cuộc cải cách lớn về kinh tế và chắc chắn không phải là về chính trị của ông Đặng Tiểu Bình. Ông ấy nói rằng "chúng ta sẽ phải thực tiễn mở cửa dần lãnh thổ Trung Quốc cho toàn cầu hóa".

    Theo xu hướng đó, Trung Quốc đã thay đổi bộ mặt vùng duyên hải đất nước theo mô hình công nghiệp hóa và ven biển hóa lãnh thổ mà các nền công nghiệp tiên tiến châu Á như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore hay Hồng Kông đã từng trải qua. Bước tiến công nghiệp này của Trung Quốc, đà đi lên thành cường quốc thương mại không những đã tạo nên một sức hút cho toàn bộ khu vực châu Á, trong đó Đông Nam Á giữ một vai trò đặc biệt, mà còn hình thành những mối liên kết phụ thuộc lẫn nhau rất mạnh mẽ với phần còn lại của thế giới. »

    Những rủi ro bất ổn tiềm tàng

    Cũng trên làn sóng RFI, chuyên gia Valerie Niquet thuộc Quỹ Nghiên cứu Chiến lược (FRS) nhìn nhận trọng lượng kinh tế của châu Á dẫn đến những hệ quả địa chính trị đáng kể. Một mặt, an ninh của châu Á – Thái Bình Dương « phụ thuộc vào sự ổn định của các nền kinh tế châu Âu ». Mặt khác, châu Á – Thái Bình Dương, tuy cực kỳ năng động, lại là một khu vực ẩn chứa nhiều bất ổn tiềm tàng.

    Các tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông giữa Trung Quốc với Việt Nam, Philippines ; căng thẳng ở Biển Hoa Đông giữa Nhật Bản và Trung Quốc, hay gần đây nhất là giữa Cam Bốt và Thái Lan, hay những căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên, nguy cơ xung đột tại eo biển Đài Loan… vẫn tồn tại.

    Sự trỗi dậy mạnh mẽ về quân sự của Trung Quốc, được cho là để phản đối thái độ hung hăng của phương Tây, còn là cách để Bắc Kinh áp đặt quyền chủ quyền trong các tranh chấp lãnh thổ, khẳng định tầm ảnh hưởng của mình đối với toàn vùng châu Á, khiến các nước trong khu vực lo lắng. Để đối phó, các nước trong vùng chạy đua tái vũ trang từ Nhật Bản, Hàn Quốc cho đến Việt Nam, Philippines…, nhằm phát triển các năng lực quân sự của riêng mình.

    Châu Á có thể thay thế phương Tây ?

    Dù vậy, câu hỏi đặt ra, với một thế mạnh kinh tế, thương mại và công nghệ như hiện nay, liệu rằng châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai có thể đóng một vai trò địa chính trị tương đương như với Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu trong nhiều cuộc đàm phán ngoại giao hay không ?

    Về điểm này, nhà nghiên cứu Valérie Niquet, Quỹ Nghiên cứu Chiến lược, tác giả tập sách về « Ấn Độ - Thái Bình Dương, trung tâm mới của thế giới », trên làn sóng RFI nêu lên những hạn chế của vùng :

    « Trước hết, đây không phải là một khối như khi nói về khối Phương Nam Toàn Cầu hay BRICS. Đây là tổng thể rất phụ thuộc lẫn nhau theo góc độ kinh tế. Ví dụ, Đông Nam Á đã được hưởng lợi rất nhiều từ sự tăng trưởng của Trung Quốc và tiếp tục được hưởng lợi từ điều đó.

    Các nước Châu Á – Thái Bình Dương cũng đang phát triển theo hướng tự chủ hơn, ở những mức độ khác nhau tùy theo từng quốc gia. Nhưng đó không phải là khối châu Á chia sẻ cùng những giá trị, cùng những tham vọng, cùng mong muốn đóng một vai trò trên trường quốc tế.  

    Và trong mọi trường hợp, hiện tại, ngay cả những quốc gia có ảnh hưởng nhất, tôi đang nghĩ đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, mà còn cả Nhật Bản hay thậm chí Hàn Quốc, cũng không đóng một vai trò quan trọng trên trường quốc tế trước những cuộc khủng hoảng lớn mà thế giới đang phải đối mặt ngày nay. »

    Ngoài ra, tuy có mức độ phát triển kinh tế mạnh mẽ, khả năng một ngày nào đó các nước châu Á có thể hợp lực lại với nhau để cạnh tranh với phương Tây, đặc biệt là trong các vấn đề phát triển, hay tại các định chế quốc tế, vẫn là điều bất khả. Chuyên gia về châu Á Valérie Niquet nhận định điều đó không có thể xảy ra, trừ khi có những diễn biến chính trị lớn tại Trung Quốc.

    Bà giải thích : « Ngày nay, chế độ Trung Quốc cần đến những căng thẳng này với các nước láng giềng để cố gắng hợp pháp hóa chính mình, kể cả với chính người dân trong nước. Tất cả những điều này là nhằm ngăn cản bất kỳ sự "hợp nhất" thực sự nào (…) Trong mọi trường hợp, hiện tại, đây là một điểm cản trở và còn quá nhiều bất ổn đè nặng lên tương lai Trung Quốc, và do vậy lên tương lai của toàn vùng châu Á. Thế nên, tôi tin rằng giả thuyết này còn xa mới đạt được ».

    Nhưng châu Á có khả năng « qua mặt » Phương Tây !

    Dù vậy, trong tập sách mới « Châu Á – Thái Bình Dương, trung tâm mới của thế giới », chuyên gia Sophie Boisseau du Rocher viết cùng với cựu đại sứ Pháp tại Miến Điện Christian Lechervy, đưa ra một giả thuyết khá thú vị, theo đó, Châu Á đang trên đà « phi phương Tây hóa ». Trên đài RFI Pháp ngữ ngày 09/02/2025, nữ chuyên gia Pháp giải thích :

     « Điều đó có nghĩa là ngày càng ít cần đến các kênh phương Tây để phát triển. Trên thực tế, chúng tôi bắt đầu từ một sự quan sát. Christian Lechervy và tôi bắt đầu nghiên cứu khu vực này cách đây 35-40 năm.

    Điều thực sự đã thay đổi là các đối tác phương Tây từng là tâm điểm cuộc chơi, là trung tâm của những ảnh hưởng của 35 năm về trước, thì ngày nay họ chỉ còn là bên lề. Châu Á đang ngày càng tự kết nối và ngày càng bị thúc đẩy bởi động lực riêng của mình.

    Và do vậy có một rủi ro thực sự ở đây bởi vì điều này thách thức các lập trường truyền thống của chúng ta, hiển nhiên là các lập trường kinh tế, mà còn cả các quan điểm ngoại giao hoặc chính trị. Ngày nay, Châu Á Thái Bình Dương có tiềm năng trở thành một giải pháp thay thế đáng tin cậy cho mô hình phương Tây. Điều này rõ ràng không hề đúng cách đây ba mươi năm. »

    Những động lực này của châu Á càng được thúc đẩy nhanh hơn kể từ khi Donald Trump trở lại Nhà Trắng. Cuộc chiến thuế quan toàn cầu còn khẳng định hơn nữa sự mất niềm tin của các nước trong vùng đối với Mỹ, bất kể là đồng minh hay đối tác. Sophie Boisseau du Rocher nhận định tiếp :

    « Chúng ta có thể thấy sự chuyển đổi âm thầm này của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang khiến tổng thống Mỹ phải suy nghĩ. Các nước châu Á cũng nghĩ rằng hiện tượng Trump không phải là hiện tượng mới. Về cơ bản, hiện tượng này là hiện thân của Donald Trump và ông thúc đẩy xu hướng đã diễn ra ở Đông Á kể từ Chiến tranh Việt Nam.

    Kể từ cuộc chiến đó, Hoa Kỳ đã hành động đơn phương. Thậm chí khi có những vị tổng thống khá ủng hộ việc hợp tác với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, và tôi đặc biệt nghĩ đến Obama và sự thay đổi chính sách nổi tiếng của ông, thì nói một cách cụ thể, ông không làm gì cho khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Hoa Kỳ đã đưa ra bài phát biểu hoành tráng mà không đảm bảo được sự ổn định trong khu vực.

    Những gì các đồng nghiệp châu Á của tôi nói ngày nay là các phát biểu của Mỹ không còn đủ nữa. Tổng thống Biden đã bốn lần tuyên bố Hoa Kỳ sẽ bảo vệ Đài Loan. Cuối cùng, các nước Đông Á không hoàn toàn chắc chắn về cam kết của Hoa Kỳ đối với Đài Loan và do đó họ cũng phải đưa ra các lựa chọn khác ! »

    12 min
  • Thoả thuận Mỹ - Trung đổi chip lấy đất hiếm: Vì sao chip H20 thành trung tâm cuộc chơi ?

    Giữa tháng 7/2025, xuất hiện một thông tin gây nhiều chú ý về cuộc đối đầu thương mại Mỹ - Trung: chip H20 của tập đoàn Nvidia, chuyên được sử dụng trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, đã được Mỹ cho phép xuất khẩu trở lại sang thị trường Trung Quốc, sau lệnh đình chỉ được ban hành giữa tháng 4/2025. Thông tin được đưa ra khoảng một tháng sau khi Washington và Bắc Kinh thông báo đạt được một thỏa thuận sơ bộ đổi chip bán dẫn tân tiến lấy đất hiếm, nhưng không nêu chi tiết.

    Trong lúc gần như không có thông tin gì về việc xuất khẩu các loại đất hiếm, tức các kim loại chiến lược, mà Trung Quốc nới lỏng trở lại với Mỹ, tin tức về chip H20 được quảng bá rầm rộ trên truyền thông Hoa Kỳ. Vì sao chip H20 trở thành trung tâm của cuộc đọ sức công nghệ, địa - chiến lược Mỹ - Trung ? RFI đặt câu hỏi với nhà báo Lê Ngọc, từ Washington DC.

    Chip H20, tâm điểm truyền thông của thoả thuận sơ bộ Mỹ - Trung

    Về thỏa thuận sơ bộ Mỹ - Trung liên quan đến chip H20, nhà báo Lê Ngọc trước hết cho biết một số nét :

    « Trong một thông báo chí cách đây hơn một tuần, hôm 15/7, Nvidia hãng sản xuất chip cho trí tuệ nhân tạo lớn nhất thế giới thông báo chính quyền Mỹ cấp phép cho họ nối lại việc cung cấp chip H20 cho Trung Quốc và họ hy vọng sẽ sớm giao những lô hàng đầu tiên trở lại. Chip H20 đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo và hiện tại chỉ có Nvdia mới có khả năng sản xuất loại chip tân tiến này.

    Động thái này diễn ra trong lúc Bắc Kinh và Washington đang cạnh tranh quyết liệt để giành ưu thế về trí tuệ nhân tạo. Hồi cuối tháng trước, sau một cái thời gian đàm phán căng thẳng ở Luân Đôn và Geneva, Washington và Bắc Kinh đã đồng ý một khuôn khổ thương mại sơ bộ mà theo đó Trung Quốc sẽ nối lỏng việc hạn chế xuất khẩu đất hiếm sang Mỹ và đổi lại, Mỹ dỡ bỏ hạn chế xuất khẩu các sản phẩm công nghệ sang Trung Quốc.

    Dù đây chỉ là một thỏa thuận sơ bộ, nhưng các nhà quan sát cho rằng đó là dấu hiệu cho thấy hai siêu cường này đang muốn giảm căng thẳng thương mại, hướng tới một đại thỏa thuận để cuối cùng giải quyết rốt ráo những tranh chấp giữa hai nước. Trong đó quan trọng nhất là các lệnh kiểm soát xuất khẩu các mặt hàng nhạy cảm của Mỹ sang Trung Quốc và Trung Quốc cuối cùng sẽ mở rộng quyền tiếp cận thị trường cho hàng hóa Mỹ.

    Theo lời trần tình của ông bộ trưởng Thương Mại Mỹ ông Howard Lutnick với Reuters hôm 15/07, quyết định này đã kích hoạt một làn sóng các công ty Trung Quốc tranh nhau mua chip H20 của Nvdia. »

    Chip H20 là một loại GPU, hay bộ vi xử lý đồ họa, là trụ cột của công nghệ trí tuệ nhân tạo. Tập đoàn Nvidia hiện độc quyền thị trường này : GPU do Nvidia sản xuất chiếm 90% thị phần toàn cầu. Kể từ năm 2022, dưới thời tổng thống Joe Biden, với chính sách « giảm thiểu nguy cơ » (derisking), chính quyền Mỹ đã đưa ra nhiều biện pháp ngăn chặn việc bán các bộ vi xử lý GPU tiên tiến nhất cho Trung Quốc, nhằm làm giảm tốc độ phát triển công nghệ của Trung Quốc.

    Chip H20 vốn là loại GPU được thiết kế riêng để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc từ năm ngoái, với các tính năng được coi là nằm dưới mức nguy hiểm cho an ninh của nước Mỹ, khiến Trung Quốc không thể tiếp cận các công nghệ trọng yếu. Tuy nhiên, chính quyền Donald Trump hồi giữa tháng 4/2025 vừa qua đã áp đặt đòi hỏi cấp phép riêng đối với chip H20, trong bối cảnh cuộc chiến thuế quan vừa mở màn, với đối thủ số một là Trung Quốc.

    Cấp phép cho chip H20 đe dọa an ninh quốc gia của Mỹ

    Việc ngăn chặn xuất khẩu chip H20 sang Trung Quốc khiến Nvidia thiệt hại khoảng 5,5 tỉ đô trong ba tháng vừa qua, theo tập đoàn Mỹ. Việc chính quyền Trump bật đèn xanh cho việc xuất khẩu trở lại chip H20 gây nhiều phản ứng trái ngược tại Mỹ. Nhà báo Lê Ngọc cho biết trước hết về các phản ứng chỉ trích:

    « Hiện tại thì có hai luồng quan điểm đối lập nhau. Chúng ta đã biết hạn chế xuất khẩu để đảm bảo an ninh quốc gia của Mỹ là một vấn đề hết sức quan trọng đối với các nhà lập pháp tại đồi Capitol. Việc cả chính quyền Trump và chính quyền Biden trước đây đều ban hành những lệnh hạn chế xuất khẩu những công nghệ trọng yếu với Trung Quốc được sự ủng hộ của lưỡng đảng trong Quốc hội. Bây giờ thì ông Trump rút lại một phần lệnh cấm đó, đương nhiên sẽ gây ra phản ứng rất mạnh mẽ từ phía cả hai đảng.

    Dân biểu John Moolenaar, chủ tịch ủy ban đặc trách về Trung Quốc tại Hạ Viện, thuộc Đảng Cộng hòa, trong tuyên cáo báo chí, cho rằng chip H20 rất là lợi hại, theo cuộc điều tra lưỡng đảng và có vai trò quan trọng trong sự vươn mình của các công ty AI Trung Quốc, ví dụ như DeepSeek, một tên tuổi rất đình đám hồi đầu năm nay. Ông cũng cho rằng điều quan trọng là Mỹ phải duy trì thế dẫn đầu và không thể để cho Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm được các công nghệ AI tân tiến. Dân biểu này cũng cho biết sẽ yêu cầu bộ Thương Mại giải thích rõ.

    Về phía đối lập, Đảng Dân chủ cũng đã có phản ứng rất mạnh mẽ về quyết định của chính quyền Trump. Dân biểu Raja Krishnamoorthi, thành viên cấp cao của Ủy ban đặc trách về Trung Quốc, mà tôi vừa đề cập, cũng ra tuyên bố nói rằng quyết định này của chính quyền Trump đã đặt vào tay đối thủ các công nghệ tân tiến nhất của chúng ta. Điều này còn nguy hiểm ở chỗ nó bất nhất với lập trường mà chính quyền từng tuyên bố trước đây về việc kiểm soát xuất khẩu đối với Trung Quốc. Nếu các công ty Trung Quốc mua được số lượng lớn chip H20 này, với số lượng 1 triệu, Bắc Kinh có thể sẽ thu hẹp đáng kể ưu thế dẫn đầu của Mỹ trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Đây là nhận định của ông Divyansh Kaushik, một chuyên gia về AI thuộc hãng tư vấn Beacon Global Strategies có trụ sở ở Washington D.C. »

    Cấp phép cho chip H20: « Lá bài đàm phán » của chính quyền Trump ?

    Việc cấp phép cho chip H20 tuy nhiên được nhiều người ủng hộ, coi đây là một « lá bài đàm phán » của chính quyền Trump. Nhà báo Lê Ngọc giải thích :

    « Đương nhiên chính quyền Mỹ sẽ biện hộ về quyết định này. Họ cho rằng điều này là cần thiết để mở cửa cánh cửa đối với đất hiếm của Trung Quốc và là một cái thủ thuật đàm phán mà thôi. Giáo sư Khương Hữu Lộc, giảng dạy về Quản trị Kinh doanh tại trường Cao học Keller về Quản trị thuộc Đại học Devry, cũng đồng ý với nhận định này của chính quyền Trump.

    Theo ông, tổng thống Trump biết đất hiếm là điểm yếu của Mỹ, nên tất nhiên Mỹ phải có cái gì đó để nhượng bộ Trung Quốc, nên việc dùng đến chip của Nvdia chỉ là một lá bài thương lượng. Và ông cho rằng đây là một điều bất khả kháng trong lúc Mỹ phụ thuộc từ 70 đến 75% đất hiếm từ Trung Quốc. Nếu mà không có đất hiếm, Mỹ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc sản xuất chip và Trí tuệ nhân tạo.

    Giáo sư Khương Hữu Lộc cũng cho rằng việc cấm đoán chip này theo yêu cầu của Quốc hội cũng không có tác dụng gì hết, tại vì cuối cùng cũng chỉ làm cho Trung Quốc phải tự lực cánh sinh mà thôi. Việc cấm đoán này chỉ làm cho kỹ nghệ AI của Trung Quốc bị chậm lại chừng 1, 2 năm thôi. Nếu Mỹ tiếp tục giữ lệnh cấm này thì sẽ đem lại lợi thế cho các tập đoàn công nghệ của Trung Quốc, như Huawei, hay tập đoàn Hàn Quốc Samsung.

    Tôi dẫn lời của ông Lộc nói với tôi là chính xác như thế này : Thay vì như thế thì nên để Trung Quốc lệ thuộc vào chip của Nvidia để Nvidia dẫn đầu thế giới về chip trí tuệ nhân tạo. Ông cũng lưu ý rằng : chip H20 chỉ có năng lực bằng khoảng 40% năng lực của một con chip tân tiến hơn của Nvdia là H100, mà chip này không được bán cho Trung Quốc. Và do đó, nếu như Trung Quốc có sử dụng con chip H20 này trong quốc phòng thì cũng không gây nguy hại gì cho lắm đối với an ninh của Mỹ.

    Bộ trưởng Thương Mại Howard Lutnick khi biện hộ cho quyết định này, giải thích Nvdia sẽ có thể áp đặt một cái ưu thế gọi là ‘‘không thể đảo ngược’’, khi mà các hãng Trung Quốc chưa chế tạo được chip mà Nvdia làm ra, họ sẽ buộc ngày càng phải gắn bó, như lời ông nói là ‘‘nghiện công nghệ của Nvdia’’. »

    Chiến thắng của Nvidia

    Sự kiện chip H20 được cấp phép trở lại đi liền với việc chủ nhân tập đoàn Nvidia Jensen Huang (Hoàng Nhân Huân), công dân Mỹ gốc Đài Loan, trở thành nhân vật trung tâm của cuộc chơi. Nhà báo Lê Ngọc giải thích :

    « Trước khi Mỹ đưa ra cái quyết định này, chúng ta thấy vai trò cá nhân của ông Hoàng rất là lớn. Quyết định này được ra chỉ sau có vài ngày sau cuộc gặp của ông Hoàng với tổng thống Trump tại Nhà Trắng. Trong những tháng trước, ông Hoàng cũng tăng cường vận động hành lang rất quyết liệt để chính quyền Mỹ dỡ bỏ hạn chế này. Cho nên sau khi quy định này được tung ra đó thì nhiều nhà quan sát cho rằng đây là một thắng lợi của Nvdia và thắng lợi của cá nhân ông Hoàng.

    Tại vì như chúng ta đã biết, nếu tập đoàn Nvdia mà bị áp lệnh cấm này thì họ sẽ chịu thiệt hại rất, rất là lớn. Thị trường Trung Quốc, theo cái báo cáo tài chính thường niên mới nhất của công ty này, được Reuters dẫn lại, chiếm đến 17 tỷ đô la doanh thu cho Nvdia trong năm tài chính kết thúc vào ngày 26/1/2025, chiếm 13% tổng doanh số.

    Cái lệnh cấm bán chip H20 cho Trung Quốc đã khiến thị phần của Nvdia ở Trung Quốc bị giảm đi một nửa, và quan trọng hơn nó ngăn trở ưu thế dẫn đầu toàn cầu về công nghệ của Nvdia. Đó là lập luận của ông Hoàng Nhân Huân nói với CNBC. Rõ ràng quyết định này của chính quyền Trump mặc dù được xem là cái một công cụ để mà giúp Mỹ kiểm soát lại đất hiếm từ Trung Quốc, nhưng cái người thắng lợi lớn nhất sau hậu trường chính là Nnvida và ông Hoàng Nhân Huân. »

    Trang mạng thân Bắc Kinh Asia Times dẫn lời một chuyên gia ở Quảng Đông, nhận định : « Sức mạnh tính toán FP16 của H20 chỉ bằng 15% so với H100, trong khi băng thông NVLink bị giảm từ 900GB/giây xuống còn 400GB/giây. Bộ chuyển đổi (TE) của chip đã bị loại bỏ hoàn toàn », « thiết kế như vậy đảm bảo giảm khả năng suy luận (inference ability) của AI  và khả năng đào tạo AI giảm, thực hiện hoàn hảo chiến lược của Hoa Kỳ là ngăn chặn các chip cao cấp, nhưng không chặn các chip tầm trung, đối với Trung Quốc » và « bằng cách hạn chế hiệu năng cốt lõi của H20, Mỹ có thể duy trì sức mạnh phong tỏa chip tân tiến khi trao cho các công ty Trung Quốc một ly ‘‘rượu độc’’ ».

    Ngược lại, theo trang mạng Pháp ngữ Le MagIT, của công ty thông tin về công nghệ số Informa TechTarget, có trụ sở tại Massachusetts, Mỹ, tập đoàn Nvidia của ông Hoàng Nhân Huân, khi thiết kế H20, đã để ngỏ nhiều lợi thế cho các doanh nghiệp AI Trung Quốc, ví dụ như « với giá rẻ hơn từ 3 cho đến 4 lần so với H100 », việc phối hợp nhiều GPU H20 cho phép có được một số tính năng tương tự như H100. Với chip H20, doanh nghiệp Trung Quốc cũng có thể dễ dàng có được nguồn cung, hơn hẳn các doanh nghiệp phương Tây thường trong tình trạng thiếu hàng.

    Tập đoàn Nvidia thời đối đầu địa-chính trị Mỹ-Trung: « Cầu nối » hay « người chơi hai mặt » ?

    Nvidia trong thời gian gần đây nổi lên trên thế giới như tập đoàn đứng đầu thế giới về thu hút vốn đầu tư trên thị trường, qua mặt tập đoàn Appel hồi cuối năm ngoái, và trở thành công ty đầu tiên trên thế giới trị giá hơn 4.000 tỉ đô la. Ngay từ đầu năm nay, chủ nhân Nvidia thể hiện rõ quan điểm cực lực chống lại các biện pháp siết chặt xuất khẩu chip sang Trung Quốc của chính quyền tiền nhiệm Mỹ, với quy định « AI diffusion rule », ban hành ngày 13/01/2025, ít ngày trước khi Biden mãn nhiệm (bài « Hoàng Nhân Huân tại Trung Quốc: hoạt động ngoại giao phối hợp của Nvidia giữa Bắc Kinh và Washington », trang mạng Pháp ngữ Le Grand Continent, 17/07/2025), đã bị chính quyền Trump hủy bỏ sau đó.

    Ngay sau khi Washington bật đèn xanh trở lại cho chip H20, ông Hoàng Nhân Huân bay sang tham dự Triển lãm về chuỗi cung ứng quốc tế của Trung Quốc/ China International Supply Chain Expo (CISCE) lần thứ ba, tại Bắc Kinh. Tại đây, lãnh đạo Nvidia, với bộ trang phục truyền thống Trung Hoa, đã được chào đón như một ngôi sao. Tại cuộc triển lãm này, chủ nhân Nvidia đã nồng nhiệt ca ngợi sự phát triển của lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo tại Trung Quốc.  

    Phe cầm quyền của tổng thống Trump có nhiều động thái giảm nhẹ chính sách « derisking » (giảm thiểu rủi ro), ngăn chặn công nghệ bán dẫn tân tiến xuất sang Trung Quốc của chính quyền tiền nhiệm. Nhà báo Lê Ngọc dẫn lại ý kiến của giáo sư Khương Hữu Lộc, đại diện cho luồng quan điểm cho rằng « chính quyền Trump vẫn nên giữ lại những hạn chế xuất khẩu, những công nghệ trọng yếu cho Trung Quốc, nhất là những công nghệ chế tạo chip mà chính quyền Biden trước đây đã siết rất chặt, để bảo đảm Mỹ duy trì ưu thế nhiều nhất có thể trước các đối thủ Trung Quốc ».

    Chúng ta hãy chờ xem trong thỏa thuận tổng thể sắp tới, Trung Quốc sẽ mở cửa thị trường cho Mỹ đến đâu và Mỹ sẽ nới lỏng đến đâu việc xuất khẩu những công nghệ nhạy cảm sang Trung Quốc.

    10 min
  • Pháp Anh ''phối hợp'' răn đe hạt nhân: Thay đổi lớn trong "kiến trúc an ninh" châu Âu?

    Trong lĩnh vực an ninh quốc phòng của châu Âu, ngày 10/07/2025, đã có một diễn biến quan trọng. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, trong chuyến công du Anh, đã cùng thủ tướng Keir Starmer thông qua một thỏa thuận về việc tiến tới thiết lập cơ chế hợp tác về hệ thống vũ khí hạt nhân răn đe, trong bối cảnh đe dọa từ Nga gia tăng.

    Việc phối hợp vũ khí hạt nhân răn đe không chỉ nhằm để hai nước tự vệ trước Nga, mà đặc biệt hướng tới nâng cao năng lực tự vệ của châu Âu trong bối cảnh Mỹ có nguy cơ rút một phần đáng kể các cam kết bảo vệ châu Âu. Tuyên bố của hai lãnh đạo Pháp, Anh có mang lại một thay đổi chiến lược đối với kiến trúc an ninh châu Âu hay không ?

    • Đọc thêm : Đài truyền hình Rossiya 1 - Tên lửa hạt nhân Nga có thể tấn công Berlin, Luân Đôn, Paris trong vòng 200 giây
    Đe dọa Nga và thay đổi lớn trong « học thuyết vũ khí hạt nhân » của Pháp và Anh

    Về phối hợp vũ khí hạt nhân răn đe Pháp – Anh, tổng thống Emmanuel Macron tuyên bố: « Về vũ khí hạt nhân, chúng tôi đã đưa ra ba quyết định quan trọng. Vấn đề trước hết liên quan đến học thuyết của hai nước chúng ta. Chúng tôi thừa nhận hai nước Pháp và Anh chúng ta không thể tưởng tượng ra một tình huống đe dọa cực kỳ nguy hiểm nào đối với châu Âu nào mà không khiến chúng tôi phải phản ứng nhanh chóng, bất kể bản chất của phản ứng đó là gì. Quyết định thứ hai là chúng tôi không loại trừ việc phối hợp các lực lượng răn đe hạt nhân của nhau. Đây là một thông điệp mà các đối tác và đối thủ của chúng ta cần lắng nghe. Thứ ba là tăng cường hơn nữa hợp tác của chúng ta trong lĩnh vực răn đe hạt nhân, về mặt chính sách, về mặt lực lượng hay về mặt hoạt động. »

    • Đọc thêm: Anh - Pháp công bố chiến lược răn đe hạt nhân chung nhằm đối phó với Nga

    Tuyên bố chung của hai lãnh đạo Anh, Pháp nêu rõ « đây là lần đầu tiên các lực lượng răn đe hạt nhân độc lập của hai nước có thể được phối hợp với nhau ». Theo tổng thống Pháp, đây là một quyết định « chưa có tiền lệ ». Đài Pháp France Info dẫn lại đô đốc Jean-Louis Lozier, cố vấn của Trung tâm Nghiên cứu An ninh thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (Ifri), xem đây là « bước tiến lớn » trong học thuyết hạt nhân, « đặc biệt về phía Pháp ».

    Vị cố vấn của Ifri nhấn mạnh « trước tuyên bố này, chúng ta chưa bao giờ cân nhắc đến việc phối hợp lực lượng răn đe hạt nhân với các đồng minh, mặc dù chúng tôi có cùng chung lợi ích ». Paris và Luân Đôn từng ký một tuyên bố chung năm 1995, nêu rõ, « không có tình huống nào mà lợi ích sống còn của một bên bị đe dọa mà lợi ích sống còn của bên kia không bị đe dọa », nhưng văn bản này không đề cập đến khả năng răn đe hạt nhân. Chuyên gia Jean-Louis Lozier tin tưởng chủ trương phối hợp răn đe hạt nhân « có thể cho phép hai cường quốc hạt nhân châu Âu đáp trả trong trường hợp Hoa Kỳ phản ứng hơi chậm » trước một cuộc tấn công nhằm vào các đồng minh châu Âu.

    Chính quyền Trump, một đối tượng chính của thông điệp hợp tác Pháp-Anh

    Trong một cuộc tọa đàm của France Info về chủ đề này, được tổ chức sau tuyên bố của hai lãnh đạo Anh, Pháp, nhà phân tích địa chiến lược Michel Fayard nhận định:

    « Ở đây cũng có một thông điệp được gửi đi, vượt ra ngoài lãnh đạo Nga Vladimir Putin, mà đặc biệt là tới Donald Trump bởi, vì tình thế mà chúng ta đang sống hiện nay thực sự rất giống với thời điểm khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956. Khi Pháp và Anh, những đồng minh của Israel vào thời điểm đó, đã có phần bị người Mỹ phản bội. Hiện nay, nước Mỹ cũng muốn rút lui, ít nhất là một phần, khỏi các cam kết của họ với châu Âu. Họ vẫn còn ở trong NATO, nhưng muốn các đối tác của mình phải trả nhiều tiền hơn. Họ cũng muốn bán vũ khí của mình và không viện trợ vũ khí cho nước này hay nước khác.

    Vì vậy, hiện nay, điều rất quan trọng đối với Pháp và Anh là xác lập một Thỏa thuận Liên kết mới (Entente Cordiale), thực sự củng cố sức mạnh của hai nước, không chỉ của Pháp và Anh, mà còn của toàn bộ châu Âu. Điều rất quan trọng là cả hai đều phải làm như vậy, vì họ là hai quốc gia duy nhất ở châu Âu có vũ khí hạt nhân hiện nay. Ngay cả khi Đức muốn luân chuyển vũ khí hạt nhân ở châu Âu, điều này là không thể chấp nhận được đối với Pháp, cũng như với Anh. »

    Pháp và Anh sẽ phối hợp ra sao trong chiến lược răn đe hạt nhân ? Theo thỏa thuận giữa lãnh đạo hai nước, « một nhóm giám sát hạt nhân » (groupe de supervision nucléaire) sẽ được Paris và Luân Đôn thành lập, và do phủ tổng thống Pháp và văn phòng chính phủ Anh đồng chủ trì, theo nhà nghiên cứu Héloïse Fayet, viện Ifri. Nhóm giám sát hạt nhân này sẽ chịu trách nhiệm « điều phối sự hợp tác ngày càng tăng trong các lĩnh vực chính sách, năng lực và hoạt động ». Theo chuyên gia Héloïse Fayet, việc phối hợp có thể liên quan đến việc tổ chức các cuộc tập trận.

    Về mặt nguyên tắc, việc phối hợp hệ thống hạt nhân sẽ giúp cho  sức mạnh răn đe của Pháp, với 290 đầu đạn và của Anh, với 225 đầu đạn, có trọng lượng hơn trước Nga. Hai kho vũ khí hạt nhân của Pháp và Anh cộng lại nhỏ hơn nhiều so với hệ thống vũ khí của Nga, với hơn 6.000 đầu đạn, nhưng « điều quan trọng là hệ thống răn đe phải đáng tin cậy trong mắt các đồng minh và đối thủ của chúng ta », bà Héloïse Fayet nhấn mạnh.

    Chặng mới trong hợp tác quân sự mật thiết, lâu đời Anh Pháp

    Quyết định có ý nghĩa lịch sử về việc phối hợp lực lượng răn đe hạt nhân Pháp, Anh, được đưa ra ngày 10/07/2025, trên thực tế nằm trong quan hệ hợp tác quân sự lâu đời giữa Paris và Luân Đôn, được xác lập từ đầu thế kỉ 20. Hợp tác về răn đe hạt nhân nói riêng và quốc phòng nói chung giữa Anh và Pháp có thể trở thành một trụ cột của an ninh châu Âu. Ông Emmanuel Dupuy, chủ tịch viện nghiên cứu Chiến lược và An ninh tại châu Âu (Institut Prospective et Sécurité en Europe - IPSE), nhận định :

    « Ý tưởng mở rộng hợp tác này không chỉ liên quan đến Pháp và Anh, hai nước chiếm đến 40% phương tiện và lực lượng có thể triển khai tại châu Âu. Điều này không có nghĩa là các nước khác kém hơn, nhưng rõ ràng có một quyết tâm chính trị đã được tái khẳng định trong hội nghị thượng đỉnh vừa qua tại Northwood, một căn cứ của NATO, ở Anh. Ý tưởng vốn đã được Jacques Chirac đưa ra tại thượng đỉnh năm 1998 tại Saint-Malo, thường được gọi là Thỏa thuận Liên kết Pháp – Anh lần thứ hai kể từ năm 1904, là năm mà Pháp và Anh xác lập « Entente Cordiale ». Vì vậy, chúng ta đang từng bước tiến tới ý tưởng rằng Anh và Pháp, gắn bó mật thiết, tạo ra thành phần cốt lõi của châu Âu về quốc phòng, không chỉ của Liên Hiệp Châu Âu, mà của châu Âu, vì Anh không nằm trong EU. Hiện tại còn rất nhiều điều không rõ ràng về những diễn biến tiếp theo ».

    Phối hợp, nhưng độc lập trong quyết định sử dụng… : Những giới hạn của hợp tác

    Theo giới chuyên gia, tuyên bố ngày 10/07 về phối hợp răn đe hạt nhân Pháp – Anh trước hết mang ý nghĩa chính trị là chủ yếu. Để việc hợp tác thực sự có thể diễn ra cần những điều chỉnh cụ thể về học thuyết hạt nhân của hai nước cũng như các chiến lược, phương tiện, cho phép phối hợp. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn đài Pháp Cnews, tướng Jean-Paul Paloméros, cựu tư lệnh khối NATO, cựu tư lệnh Không quân Pháp, nhấn mạnh đến mối quan hệ phụ thuộc của Anh vào Mỹ về chiến lược hạt nhân, như một trở ngại lớn cho các hợp tác Anh – Pháp :  

    « Ở đây có một vấn đề lớn, đó là sự phụ thuộc của nước Anh vào nước Mỹ. Điều quan trọng cần biết là cho đến nay, Anh chỉ có một lực lượng hạt nhân, đó là bốn tàu ngầm được trang bị tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân, nhưng trong trường hợp này, những tên lửa này là tên lửa Trident, tức của Mỹ. Vì vậy, chúng ta thấy sự phụ thuộc của Vương quốc Anh vào Mỹ bất chấp mọi thứ. Vương quốc Anh, và đây là một yếu tố quan trọng của hồ sơ, cũng vừa quyết định hành động như một nước châu Âu, nghĩa là nhận lấy một trách nhiệm liên quan đến khả năng răn đe hạt nhân của NATO. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng những máy bay F-35, mà Anh mua từ Hoa Kỳ, sẽ mang theo bom hạt nhân, bản thân chúng là của Mỹ, do đó việc sử dụng nằm trong phạm vi cho phép của Donald Trump. Vì vậy, chúng ta cảm thấy cùng lúc có sự tăng cường, có những giới hạn của nó. Đây là điều cần hiểu rõ ! »

    Cảnh giác trước lập trường "bắt cá hai tay" của Anh

    Về nguy cơ Anh phụ thuộc vào Mỹ cản trở các phối hợp với Pháp, thượng nghị sĩ Christian Cambon, đặc phái viên của chủ tịch Thượng Viện Pháp về quan hệ quốc tế, giải thích :  

    « Tôi nghĩ rằng sự phối hợp đang được đề cập ngược lại cũng có thể sẽ cho phép người Mỹ trở lại cuộc chơi, đáng buồn thay, khi Anh Quốc gần đây đã mua máy bay F-35 có thể mang tên lửa của Mỹ. Vì vậy, tôi muốn nhắc nhở các vị rằng có sự khác biệt lớn giữa hai lực lượng của chúng ta, giữa hai thành phần răn đe hạt nhân của Pháp và Anh. Về phía Pháp, chúng ta có toàn quyền quyết định, một quyền quyết định từ trên xuống, từ tổng thống. Ở Anh thì không phải như vậy. Người Mỹ vào một thời điểm nào đó có thể can thiệp. Vậy nên điều này sẽ gây ra vấn đề, vì lần này không phải là một ‘‘cuộc hôn nhân của hai người’ mà là của ba người, đặt ra một vấn đề thực sự. Tướng de Gaulle trước đây đã từng cảm nhận được điều này. Đó là lý do tại sao ông đã rút Pháp khỏi Ủy ban Kế hoạch phòng thủ của khối NATO, ủy ban Kế hoạch hạt nhân của khối NATO. »

    Nước Anh cách đây không lâu đã đứng về phía Mỹ trong vụ tước đoạt hợp đồng tàu ngầm 50 tỉ đô la với Úc. « Chủ nghĩa thực dụng kiểu Anh », và sự phụ thuộc của Anh vào Mỹ cũng là điều mà nhà phân tích địa chiến lược Michel Fayard nhấn mạnh : « Trong mọi trường hợp, thách thức thực sự đối với Vương quốc Anh là thoát khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ về hạt nhân. Có lẽ việc hợp tác với Pháp có thể giúp điều này trở thành hiện thực. Nhưng vấn đề nan giải ở đây là người Anh thường chơi trò hai mặt, nghĩa là cùng lúc chơi cả quân bài châu Âu và quân bài Mỹ. Họ gọi đó là ‘‘chủ nghĩa thực dụng’’. Vâng, có thể nói đó là chủ nghĩa thực dụng kiểu Anh. »

    Hướng đến hệ thống răn đe hạt nhân riêng của châu Âu ?

    Trên thực tế, việc Pháp chính thức thiết lập với Anh chủ trương phối hợp các lực lượng răn đe hạt nhân nằm trong đường hướng chung của tổng thống Pháp Emmanuel Macron, được xác định đặc biệt rõ ràng kể từ khi Nga xâm lược Ukraina : Xây dựng một sự tự trị về quốc phòng của châu Âu trong lòng NATO. Sự phụ thuộc gần như hoàn toàn về mặt an ninh vào Mỹ đang đặt Liên Âu nói riêng và châu lục nói chung trước thử thách sống còn, vì các tham vọng của Nga không chỉ dừng ở Ukraina.

    • Đọc thêm : Pháp sẵn sàng đưa « vũ khí hạt nhân » vào chính sách phòng thủ chung châu Âu

    Tháng 3 vừa qua, tổng thống Macron đã nhấn mạnh đến việc Paris sẵn sàng đặt châu Âu dưới sự bảo vệ của hệ thống răn đe hạt nhân của Pháp. Thủ tướng Đức sau đó cũng phát tín hiệu hưởng ứng. Trong giới chính trị và chuyên gia châu Âu, đã bắt đầu có nhiều thảo luận về ý tưởng xây dựng hệ thống răn đe hạt nhân của riêng châu Âu. Vũ khí hạt nhân châu Âu hay lực lượng quốc phòng chung của châu Âu đang là các vấn đề gây rất nhiều bất đồng sâu sắc trong nội bộ châu Âu.

    Chuyên gia về lịch sử chính trị thế giới đương đại Gilles Richard, giáo sư danh dự các trường đại học, Đại học Rennes 2 (Pháp), trả lời phỏng vấn The Conversation, nhấn mạnh là việc hướng đến xây dựng một nền quốc phòng chung của khối đặt ra khẩn cấp vấn đề xây dựng « một quyền lực chính trị chung », một thể chế kiểu liên bang, mà thiếu định chế này thì sẽ khó lòng mà có được một nền quốc phòng chung. Đe dọa từ Nga, nguy cơ bị Mỹ ngoảnh mặt, đang « đẩy châu Âu vào chân tường », theo sử gia Gilles Richard (bài về nền Quốc phòng châu Âu, hệ thống răn đe hạt nhân Pháp mở rộng : Phải chăng đây là một thời điểm de Gaulle mới / un nouveau moment gaullien, ngụ ý nhắc đến việc tổng thống de Gaulle trong thập niên 60 từng đề xuất đặt nước Đức dưới sự bảo trợ của hạt nhân Pháp).

    Châu Âu tăng cường răn đe hạt nhân và khả năng « đối thoại chiến lược » với Nga ?

    Châu Âu – khu vực lâu nay nằm dưới cái ô hạt nhân của Mỹ, một thời tưởng như được hưởng nền hòa bình vĩnh viễn - đứng trước đe dọa bị tấn công, kể từ chiến tranh Ukraina. Vũ khí hạt nhân, sau nửa thế kỷ bị quên lãng, đang bắt đầu được coi như một phương tiện tự vệ thiết yếu trước đại cường hạt nhân Nga. Nhìn chung, xét về viễn cảnh tăng cường năng lực tự trị quốc phòng của châu Âu, việc nước Pháp đạt được một thỏa thuận phối hợp răn đe hạt nhân với Anh vừa qua chỉ là bước đầu của việc xây dựng một kiến trúc an ninh châu Âu mới, trong đó vai trò của Mỹ có thể sẽ khác trước rất nhiều.

    • Đọc thêm : Nửa thế kỷ ''Hiệp định Helsinki'' - Chiến tranh Ukraina xóa sổ "Kiến trúc an ninh châu Âu"

    Trong giai đoạn trước chiến tranh Ukraina, các nước châu Âu đã gần như không có tiếng nói nào trong các « đối thoại chiến lược » với Nga. Vũ khí hạt nhân răn đe Pháp – Anh có giúp dẫn đến một thế cân bằng chiến lược mới với Nga, giúp duy trì một nền hòa bình dựa trên thỏa hiệp ? Liệu Pháp, Anh cùng các quốc gia trụ cột khác của châu Âu có vượt qua được các thách thức để xác lập được một hệ thống an ninh tập thể mới ?

    10 min

About Tạp chí tiêu điểm

From the publisher's feed

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

More shows like Tạp chí tiêu điểm

6 Minute English by BBC Radio

6 Minute English

1,807 Listeners

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN by NHK WORLD-JAPAN

Vietnamese News - NHK WORLD RADIO JAPAN

42 Listeners

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ by SBS

SBS Vietnamese - SBS Việt ngữ

29 Listeners

Tri Kỷ Cảm Xúc by Tri Kỷ Cảm Xúc

Tri Kỷ Cảm Xúc

222 Listeners

 by RFI Tiếng Việt

15 Listeners

VOV - Tin nhanh 24h by Đài Tiếng nói Việt Nam

VOV - Tin nhanh 24h

3 Listeners

Tạp chí âm nhạc by RFI Tiếng Việt

Tạp chí âm nhạc

3 Listeners

Tạp chí khoa học by RFI Tiếng Việt

Tạp chí khoa học

0 Listeners

Tạp chí văn hóa by RFI Tiếng Việt

Tạp chí văn hóa

0 Listeners

Chương trình 60' by RFI Tiếng Việt

Chương trình 60'

8 Listeners

Tạp chí Việt Nam by RFI Tiếng Việt

Tạp chí Việt Nam

0 Listeners

Tạp chí thể thao by RFI Tiếng Việt

Tạp chí thể thao

0 Listeners

Nghien cuu Quoc te by Lê Hồng Hiệp

Nghien cuu Quoc te

5 Listeners

Tạp chí kinh tế by RFI Tiếng Việt

Tạp chí kinh tế

0 Listeners

Tạp chí xã hội by RFI Tiếng Việt

Tạp chí xã hội

0 Listeners

Tạp chí đặc biệt by RFI Tiếng Việt

Tạp chí đặc biệt

0 Listeners

Inner World Podcast by Lê Na

Inner World Podcast

6 Listeners