
Sign up to save your podcasts
Or


Ngày 12/06/2025, Mỹ thả 14 quả bom GBU phá hầm, mỗi quả nặng hơn 13 tấn, nhắm vào ba cơ sở hạt nhân của Iran. Vụ việc đã được Bắc Triều Tiên, quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử và hiện dưới lệnh trừng phạt quốc tế, theo dõi chặt chẽ. Liệu Washington có sẽ thực hiện điều tương tự với Bình Nhưỡng hay không vào lúc các cuộc đàm phán hạt nhân Mỹ - Triều cũng đang bế tắc ?
Iran – Bắc Triều Tiên : Một liên minh hạt nhân lâu nămKhông giống như Bắc Triều Tiên, chế độ thần quyền Teheran vẫn chưa có vũ khí nguyên tử. Nhưng mối quan hệ hợp tác về hạt nhân giữa Iran và Bắc Triều Tiên đã tồn tại gần ba thập kỷ, kể từ sau chuyến thăm Bình Nhưỡng năm 1989 của đại giáo chủ Ali Khamenei, khi ấy giữ chức tổng thống Iran. Chuyến thăm này đã đặt nền tảng cho một liên minh lâu dài do cả đôi bên cùng phản đối Hoa Kỳ. Chính Bình Nhưỡng đã cung cấp cho Teheran chương trình tin học có khả năng mô phỏng dòng neutron, một công cụ chủ chốt để thiết kế đầu đạn hạt nhân.
Tuy nhiên, Bắc Triều Tiên không chắc có được những thông tin cụ thể chẳng hạn như độ sâu chính xác các cơ sở hạt nhân ngầm của Iran hay vị trí kho dự trữ uranium được làm giầu đến 60%. Do vậy, theo nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, chuyên gia về Đông Nam Á, Đông Bắc Á, giảng viên trường đại học Sư phạm Lyon, với RFI Tiếng Việt, đòn tấn công của Mỹ đã cung cấp cho Bắc Triều Tiên nhiều bài học quý giá.
Laurent Gedeon : « Chúng cung cấp cho Bình Nhưỡng nhiều yếu tố để chuẩn bị trước một hành động tương tự. Điều này càng đúng hơn khi Hoa Kỳ khó có thể quay lưng lại với châu Á trong thời gian dài, vì khu vực này vẫn là trung tâm trong các mối quan ngại về kinh tế và chiến lược của Washington.
Hành động của Mỹ ở Trung Đông dường như khá mang tính chiến thuật để hạn chế tác động của cuộc khủng hoảng ngày càng lớn. Điều đáng chú ý là Donald Trump đã dùng hết sức của mình để đạt được lệnh ngừng bắn mặc dù Israel vẫn chưa hoàn thành các mục tiêu đã tuyên bố là hủy diệt hoàn toàn chương trình hạt nhân của Iran và thay đổi chế độ ở Teheran. Do đó, chúng ta có thể đưa ra giả thuyết là Mỹ coi sự gia tăng căng thẳng trong khu vực này không nằm trong lợi ích của họ và việc giải quyết, dù chỉ là tạm thời, những vấn đề này sẽ cho phép họ tập trung trở lại vào châu Á. »
Iran và Bắc Triều Tiên : Chính sách « bên trọng, bên khinh » của MỹNếu như với Iran, chính quyền Donald Trump có một thái độ cứng rắn và đã đưa ra một quyết định khá triệt để, thậm chí đầy vũ lực, thì ngược lại người ta ghi nhận có một sự thận trọng trong cách thức Nhà Trắng hiện nay xử lý hồ sơ hạt nhân Bắc Triều Tiên. Cho đến nay, Donald Trump chưa có một lời đe dọa chiến tranh nào nhằm vào Bình Nhưỡng. Giới quan sát cũng ghi nhận chế độ Kim Jong Un có một phản ứng « khá thận trọng » sau cuộc không kích của Mỹ tại Iran, so với những lời lẽ gay gắt thường có với Washington.
Chuyên gia địa chính trị Laurent Gédéon cho rằng có bốn lý do để giải thích cho cách hành xử « bên trọng, bên khinh » của Mỹ trong hồ sơ hạt nhân đối với hai nước. Thứ nhất, là thế cô lập của Iran. Chế độ thần quyền đã không thể tìm được một đồng minh nào có khả năng hỗ trợ họ trong cuộc đối đầu với các đối thủ. Ngược lại, Bắc Triều Tiên đã ký một thỏa thuận đối tác chiến lược toàn diện với Nga ngày 18/06/2024 nhân chuyến thăm Bình Nhưỡng của tổng thống Vladimir Putin.
Laurent Gédéon : « Trong số 23 điều khoản cấu thành hiệp định, điều 4 đặc biệt thú vị bởi vì nó quy định rằng nếu một trong hai quốc gia bị xâm lược vũ trang, quốc gia kia sẽ cung cấp hỗ trợ quân sự ngay lập tức bằng mọi phương tiện mà mình có. Thỏa thuận này đã được thực hiện trong bối cảnh cuộc chiến ở Ukraina, khi Bắc Triều Tiên cung cấp hàng triệu quả đạn pháo cho quân đội Nga và đưa binh lính Bắc Triều Tiên ra tiền tuyến. Hoa Kỳ phải tính đến yếu tố này khi lập bất kỳ kế hoạch tấn công trực tiếp vào Bắc Triều Tiên. »
Thứ hai, dù đã rút khỏi Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) năm 2003, Bắc Triều Tiên có một học thuyết hạt nhân rõ ràng chi phối việc sử dụng vũ khí nguyên tử.
Laurent Gédéon : « Đặc trưng của học thuyết này là nguyên tắc “quyền ưu tiên”. Điều này được áp dụng trong điều kiện sắp xảy ra một cuộc tấn công sắp từ một quốc gia thù địch và khi chiến tranh vẫn chưa bắt đầu. Điều này ngụ ý rằng Bình Nhưỡng sẽ bắt đầu cuộc chiến bằng vũ khí hạt nhân ngay từ đầu.
Học thuyết này của Bắc Triều Tiên phải được phân biệt với học thuyết của Nga dựa trên nguyên tắc "giải pháp đầu tiên". Chúng bao gồm việc sử dụng vũ khí hạt nhân trước tiên nhưng trong trường hợp leo thang bạo lực liên tục kể cả bằng các loại vũ khí phi hạt nhân. Học thuyết của Bắc Triều Tiên, ngay lập tức đặt con trỏ ở mức cao nhất, còn ngụ ý rằng sẽ có những rủi ro lớn cho kẻ tấn công tiềm năng và giải thích cho sự thận trọng của Hoa Kỳ. »
Thứ ba là yếu tố gần gũi về địa lý. Khác với Iran vốn cách xa Nga và Trung Quốc, Bắc Triều Tiên có đường biên giới chung với Trung Quốc và trong chừng mực nào đó là cả với Nga. Sự gần gũi về địa lý này khiến bất kỳ hành động nào của Mỹ chống lại Bắc Triều Tiên đều có nguy cơ dẫn đến việc Trung Quốc xem đấy như là một mối đe dọa và sẽ có hành động trả đũa.
Cuối cùng là về năng lực tình báo. Không như tại Iran, tình báo và gián điệp Israel dễ dàng thâm nhập sâu, gây khó khăn cho việc ra quyết định và khả năng phản ứng của Teheran, việc các cơ quan tình báo phương Tây xâm nhập Bắc Triều Tiên có vẻ khó khăn hơn nhiều.
Laurent Gédéon : « Ngay cả khi có thể có những điệp viên nằm vùng, người ta vẫn có thể đặt câu hỏi về khả năng thực hiện một hoạt động trên thực địa tương tự như cuộc tấn công bằng drone do các điệp viên Mossad tổ chức từ lãnh thổ Iran nhằm vào các mục tiêu quân sự.
Nhìn chung, rất khó để có được thông tin quân sự của Bắc Triều Tiên, mà bằng chứng hiển nhiên là chúng ta không thể biết rõ về số lượng ICBM (Tên lửa đạn đạo liên lục địa) hiện được triển khai trên lãnh thổ Bắc Triều Tiên (và do đó đang hoạt động). Con số này thay đổi, tùy theo từng nguồn, từ mười đến ba mươi.
Do đó, chúng ta có thể thấy rằng chi phí tiềm tàng cho một cuộc tấn công của Mỹ nhằm vào Bắc Triều Tiên là khó có thể chịu được, do những rủi ro cao về chiến lược. Điều này có lẽ giải thích chính sách thận trọng của chính quyền Trump trong hồ sơ này. »
Phô trương sức mạnh hạt nhân : Thất bại ngoại giao MỹThời gian gần đây, chế độ Bình Nhưỡng công bố nhiều hình ảnh cho thấy ông Kim Jong Un thị sát các vụ thử tên lửa, hay đến thăm các cơ sở sản xuất thanh nhiên liệu nguyên tử. Mục tiêu là nhằm chứng tỏ với thế giới rằng chương trình phát triển hạt nhân của Bắc Triều Tiên đang tiến triển mỗi ngày.
Nhìn lại chính sách của Mỹ đối với Bắc Triều Tiên trong quãng thời gian 15 năm gần đây, rõ ràng chiến lược « gây sức ép/đàm phán » của Mỹ đã chạm giới hạn : Washington đã cho thấy họ không có khả năng buộc Bình Nhưỡng phải lùi bước. Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà địa chính trị người Pháp đánh giá đây là một thất bại trong chính sách của Mỹ đối với hạt nhân Bắc Triều Tiên.
Laurent Gédéon : « Ngược lại, Bắc Triều Tiên còn gia tăng sức mạnh nếu xét về tầm bắn của tên lửa đạn đạo. Vì vậy, chúng ta có thể nói đến một thất bại tương đối. Do đó, cần phải xem xét lại mô hình chiến lược ngoại giao của Washington.
Để làm được điều này, chúng ta chắc chắn phải đặt câu hỏi : Một mặt là về mối đe dọa thực sự mà Bắc Triều Tiên gây ra cho Hoa Kỳ và mặt khác là đối với lợi ích của Hoa Kỳ trong khu vực, đặc biệt là đối với các đồng minh của Washington. Nhận thức về mối đe dọa này không giống nhau trong hai trường hợp và chính sách của Mỹ đối với Bình Nhưỡng phải xuất phát từ sự cân bằng giữa hai trường hợp. »
Những cuộc tập trận gần đây giữa Mỹ và Hàn Quốc bao gồm cả kịch bản tác động vũ khí hạt nhân. Điều này chứng tỏ là mối đe dọa nguyên tử Bắc Triều Tiên là hiện thực. Trong bối cảnh này, đến một lúc nào, cộng đồng quốc tế có nên công nhận Bắc Triều Tiên như là một cường quốc hạt nhân nhằm tìm kiếm một giải pháp ngoại giao hay không ? Và trong giả định này, đâu là những tác động địa chính trị cho vùng Đông Bắc Á ?
Laurent Gédéon : « Nguyên tắc công nhận chính thức Bắc Triều Tiên là một cường quốc hạt nhân không phải là điều mới mẻ, vì đây cũng là trường hợp của Ấn Độ và Pakistan (…) Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là phản ứng của các nước trong khu vực, đặc biệt là Nhật Bản và Hàn Quốc, vì cả hai đều là những quốc gia có khả năng nhanh chóng sở hữu vũ khí hạt nhân. Khi đó, có lẽ cần phải có áp lực và sự đảm bảo đáng kể từ phía Washington để ngăn cản Tokyo và Seoul tiếp tục trang bị vũ khí cho mình.
Điều quan trọng là phải biết rằng các thành viên của câu lạc bộ rất nhỏ các cường quốc hạt nhân trên thế giới được hưởng một địa vị đặc biệt trong cộng đồng quốc tế (..) Và trong một thời gian dài, sự cân bằng này có lợi cho phương Tây, vì ba trong số năm thành viên thường trực của câu lạc bộ ban đầu này (Hoa Kỳ, Pháp và Anh) là thuộc phe phương Tây.
Tuy nhiên, những diễn biến hiện tại cho thấy sự trỗi dậy của nhiều cường quốc hạt nhân ít gần gũi với phương Tây hơn, ngoại trừ Israel. Trong khi Ấn Độ duy trì thái độ trung lập thì Pakistan và Bắc Triều Tiên lại gần gũi với Matxcơva và Bắc Kinh. Trường hợp này cũng sẽ xảy ra tương tự với Iran, nếu nước này có được vũ khí nguyên tử.
Và nếu điều này xảy ra, sự cân bằng có lợi cho phương Tây sẽ bị phá vỡ và đây là một trong những lý do giải thích cho sự miễn cưỡng mạnh mẽ của Hoa Kỳ và các đồng minh, cũng như những nỗ lực của họ nhằm chống lại hành động trên. »
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, trường đại học Sư phạm Lyon.
Tại thượng đỉnh của khối NATO ngày 25/06/2025, ở La Haye, Hà Lan, các quốc gia thành viên Liên minh phòng thủ Bắc Đại Tây Dương đã quyết định sẽ tăng ngân sách dành cho quốc phòng lên đến 5% GDP/năm trong 10 năm tới. Đe dọa ngày càng lớn từ Nga, nhưng đặc biệt là các áp lực chưa từng có từ chính nước Mỹ « đồng minh » buộc nhiều nước châu Âu phải chấp nhận đưa ra cam kết tài chính đặc biệt nói trên, vốn được coi là vượt xa khả năng thực hiện.
Nếu như cam kết 5% được một số nhà quan sát nhìn nhận như là một chuyển biến chiến lược của NATO nói chung, của châu Âu nói riêng, thì không ít người hoài nghi cao độ, coi đây chỉ như một biện pháp mang tính tình thế để đối phó với « đồng minh » Hoa Kỳ ngày càng trở nên khó chơi.
Theo một số thẩm định, cam kết 5% tương đương với việc các nước châu Âu sẽ phải chi thêm khoảng 500 tỉ đô la/năm cho quốc phòng trong bối cảnh một số nước châu Âu đang trong khó khăn chồng chất về tài chính. Nhiều nước châu Âu không chấp nhận hy sinh mô hình xã hội hiện có để tăng mạnh chi phí cho quân sự. Các nước châu Âu sẽ xoay sở ra sao với cam kết 5% ?
Sườn đông châu Âu sẵn sàng, nhiều nước Tây Âu dè dặtCon đường để đạt được mục tiêu 5% còn rất dài và đầy bất trắc. Trong hiện tại, 32 quốc gia thành viên cam kết chi 2% GDP/năm cho quốc phòng, mục tiêu được đề ra từ năm 2006, và chính thức khẳng định từ năm 2014. Tuy nhiên, theo số liệu của NATO, trong năm 2024, chỉ có 23 trên 32 nước đạt chỉ tiêu 2%. Theo một dữ liệu mới nhất từ Ngân hàng Thế giới năm 2023, chỉ có 10 trên tổng số 32 nước có khả năng thực thi được mục tiêu chung nói trên của NATO đặt ra cho năm 2035.
Khác biệt là rất rõ giữa các nước phía đông châu Âu, giáp với Nga, và nhiều nước ở phía tây. Ba Lan, quốc gia coi Nga như đe dọa nhãn tiền, là nước có khả năng sớm đạt được mục tiêu 5%. Vacxava đã chi 4,1% GDP cho quốc phòng hồi năm ngoái. Các nước Baltic, đơn cử như Estonia với 3,4% GDP, cũng đang nỗ lực hướng đến mục tiêu này. Ngược lại, trong số các nước chi phí dưới 2% cho quốc phòng, có nhiều nước Tây Âu, như Tây Ban Nha, Bỉ, hay Luxembourg. Pháp đứng thứ 19 trong danh sách, với mức cam kết 2% chỉ mới được thực thi vào năm 2025.
« Đỉnh Himalaya » khó vượt : Để đạt 5% phải hy sinh nhiều chi phí căn bản khácMục tiêu 5% cho quốc phòng hiện « chưa gây ra bất kỳ cuộc tranh luận thực sự nào trong giới chính trị Pháp ». Bộ trưởng Quân Lực Pháp, Sébastien Lecornu, trong cuộc trả lời phỏng vấn tờ Le Parisien, Chủ Nhật, 22/06, « hy vọng rằng đây sẽ là trọng tâm của chiến dịch tranh cử tổng thống trong tương lai, bởi vì giai đoạn địa chính trị mà chúng ta đang trải qua sẽ còn kéo dài ». Ưu tiên trước mắt của chính quyền Pháp là thực thi hai đạo luật về ngân sách quốc phòng (LPM - loi de programmation militaire), vốn đã giúp tăng ngân sách của lực lượng vũ trang thêm 56%, từ 2017 đến 2025. Tuy nhiên, việc đạt được mục tiêu 5%, tương đương khoảng 170 tỉ euro, gấp khoảng ba lần so với hiện nay, đòi hỏi phải có một thay đổi lớn hơn nhiều.
Trả lời La Croix, người phụ trách Cơ quan Chiến lược và Kế hoạch của chính phủ Pháp, Clément Beaune cho biết, « để thực thi mục tiêu tăng ngân sách quân sự thêm 3,5% vào năm 2030, sẽ phải tăng thêm 10% thuế TVA ».
Nhật báo Công giáo Pháp La Croix gọi đây là « đỉnh Himalaya » khó vượt. Ông Clément Beaune cũng muốn dùng sắc thuế Zucman 2%, nhắm vào các tài sản của những người giàu nhất, từ 100 triệu euro trở lên, để cho thấy tầm mức hết sức lớn của khoản tiền cần huy động. Việc đánh thuế Zucman, nếu được tiến hành hàng năm, cũng chỉ mang lại từ 15 đến 25 tỉ euro, và như vậy là hoàn toàn không đủ. Nếu chỉ dựa trên chiếc bánh ngân sách, việc gia tăng ngân sách quân sự sẽ không tránh khỏi « ảnh hưởng đến số tiền phân bổ cho phúc lợi xã hội » và « lương của các công chức ». Mà động chạm đến « mô hình xã hội » cho đến nay vẫn là một chủ đề húy kị.
Theo truyền thông Pháp, rất ít lãnh đạo đảng phái sẵn sàng đưa vấn đề này ra thảo luận, do lo ngại tác động đến sự ủng hộ của cử tri. Để huy động được nguồn tài chính khổng lồ nói trên, cần đến các phương thức khác.
Cam kết 5% để đối phó với Mỹ hay vì nhu cầu an ninh thực sự ?Cam kết chi 5% GDP cho quốc phòng có phải là nhu cầu thực sự của châu Âu, hay chủ yếu là một phản ứng mang tính tình thế của các nước châu Âu trước áp lực chưa từng có của Mỹ dưới thời Donald Trump, đe dọa cắt bỏ ô bảo trợ an ninh đối với các nước không gia tăng chi phí cho quân sự. Sau thượng đỉnh NATO, truyền thông Bỉ chú ý đến phát biểu của thủ tướng Bart De Wever về trao đổi giữa ông với tổng thống Mỹ :
« Ông ấy (Trump) nói rằng ''2% là rất tốt, nhưng tôi cho rằng very low’’, tức là rất thấp. Về phần mình, tôi đáp lại ‘‘Đúng, ông cho rằng mức đó là rất thấp, nhưng đó là tiêu chuẩn chi tiêu của khối NATO cho đến nay. Vì vậy, hãy cho phép chúng tôi tăng các chi tiêu theo tốc độ của riêng mình, theo các quyết định độc lập mà mỗi quốc gia thành viên có thể đưa ra’’. Như vậy đấy, ông ấy không nói thêm gì về điều đó nữa, nên tôi hy vọng ông ấy hài lòng. Nhưng tôi không chắc lắm ! »
Tăng ngân sách quân sự lên 5% không đồng nghĩa với việc toàn bộ số tiền này để dành cho quân đội, để mua vũ khí và trang thiết bị quân sự. Theo thỏa thuận của NATO vừa qua, trong số tiền 5% này, 3,5% sẽ được dành cho chi tiêu thuần túy quân sự, và 1,5% còn lại được dành cho các chi phí liên quan đến an ninh quốc phòng, như an ninh mạng, xây dựng các tuyến đường giao thông, có thể được sử dụng cho mục tiêu quân sự. Xác định đầu tư nào thuộc lĩnh vực 1,5% này tùy thuộc khá nhiều vào mỗi quốc gia.
Trang mạng truyền thông Pháp ngữ RTBF, trong bài « 5% du PIB pour l’OTAN, un chiffre, beaucoup d’hypocrisie » (5% GDP của NATO, một con số nhiều phần đạo đức giả), nhận định : « nước Bỉ cũng như nhiều nước khác nói rằng sẽ tôn trọng quy định 5% này, nhưng sẽ không thực hiện. Chắc chắn là sẽ có một thứ đạo đức giả ở đây, nhưng trên thực tế chi phí cho quốc phòng cũng sẽ phải tăng ồ ạt trong những năm tới, như điều Donal Trump muốn ». Báo chí châu Âu, trong đó có nhật báo thiên hữu Le Figaro, nhấn mạnh đến thái độ « quỵ lụy » của « các đồng minh » châu Âu trước « hoàng đế » Donald Trump khi chấp nhận mục tiêu 5% tại thượng đỉnh NATO. Nhiều nhà quan sát dự báo châu Âu sẽ gia tăng mua vũ khí Mỹ.
Cơ hội phát triển nền công nghiệp quốc phòng tự chủ của châu ÂuTrên thực tế, mục tiêu tăng cường chi phí cho an ninh quốc phòng cũng nằm trong chính nhu cầu của châu Âu. Đặc biệt kể từ khi Nga xâm lược Ukraina, việc tăng cường xây dựng năng lực phòng thủ của châu lục, trong bối cảnh vai trò của nước Mỹ ngày càng thu hẹp, và bất trắc gấp bội phần với chính quyền Donald Trump, khối 27 nước đang ngày càng quyết tâm hơn trong việc tăng cường sức mạnh quân sự của châu Âu, bên trong NATO.
Đầu năm nay, Ủy Ban Châu Âu đã xác lập kế hoạch huy động 150 tỉ euro trên thị trường tài chính, để cung cấp đòn bẩy tài chính cho các quốc gia thành viên, tăng đầu tư vào các lĩnh vực quốc phòng quan trọng, chẳng hạn như phòng thủ tên lửa, drone, hay các trang thiết bị chiến lược khác. Kế hoạch được gọi là « ReArm Europe » (Tái vũ trang châu Âu), mới được đổi tên lại là Chuẩn bị cho chân trời 2030.
Việc xây dựng một quân đội chung của châu Âu là chuyện viễn tưởng, nhưng huy động vốn đầu tư mạnh mẽ cho quốc phòng châu Âu, kể cả từ các nguồn đầu tư bên ngoài, là điều nằm trong tầm tay. Trong một cuộc tọa đàm của đài Arte (OTAN : l’UE doit-elle devenir une machine de guerre ? / NATO : Liên Âu phải chăng đang trở thành một cỗ máy chiến tranh ?), nhân dịp thượng đỉnh NATO, nhà kinh tế học Anne-Sophie Alsif, phụ trách văn phòng thẩm định tài chính BDO France, nhận định :
« Tôi không thực sự tin tưởng vào một hệ thống phòng thủ châu Âu thống nhất, phản ứng nhanh chóng này, với một quân đội châu Âu, vì chúng ta có những bất đồng chính trị rất đáng kể, với nguyên tắc đồng thuận 100%. Vì vậy, mọi việc sẽ rất phức tạp. Các quốc gia không phải nước nào cũng có cùng ngân sách, lợi ích, và cùng chung một hệ tư tưởng. Vì vậy, mọi việc sẽ rất phức tạp.
Mặt khác, trên thực tế, theo tôi, cơ chế hợp tác tùy theo lợi ích này sẽ là phù hợp tương tự, như với các lĩnh vực, như trí tuệ nhân tạo, dân số lão hóa : đó sẽ là sự hợp tác dựa trên lợi ích. Nghĩa là, trên thực tế, các quốc gia, ngay cả khi không thuộc Liên Hiệp Châu Âu, vẫn có thể gia nhập, đầu tư tiền, được hưởng nguồn tài chính ưu đãi và ngược lại, sẽ phải mua các sản phẩm của châu Âu. Thực sự đó là kiểu hợp đồng, một dạng deal, như mọi người nói hiện nay. Khi tham gia, bạn phải thực hiện những gì đã cam kết, và bạn sẽ được hưởng lợi từ sự bảo vệ và cơ chế này trong trường hợp bị tấn công.
Để tham gia cần phải có một tầm nhìn chiến lược chung, đúng vậy, nhưng không có nghĩa là tất cả 27 quốc gia đều có nghĩa vụ phải tham gia. Mỗi quốc gia tự quyết định. Chúng ta đã thấy điều đó khi có sự rút lui phần nào của Mỹ, khi Emmanuel Macron bắt đầu tổ chức một cuộc họp và ông nói rằng : ‘‘Quý vị hãy xem, ai yêu quý chúng tôi sẽ đồng hành với chúng tôi’’. Ta thấy rằng, trong bối cảnh này, người Canada có lẽ đã là nước đầu tiên quan tâm, cũng như Vương quốc Anh, cho dù không còn nằm trong Liên Hiệp Châu Âu. Vì vậy, điều này sẽ cho phép chúng ta có được sự hợp tác ở phạm vi rộng hơn, linh hoạt hơn và hiệu quả hơn nhiều. »
Tiền tiết kiệm, nguồn tài chính dồi dàoKinh tế gia Anne-Sophie Alsif cũng nhấn mạnh đến một nguồn tài chính khác :
« Và có một nguồn tài trợ thứ hai, cũng là yếu tố vô cùng cơ bản, chính là tiền tiết kiệm. Tiết kiệm của người Pháp gởi trong ngân hàng rất lớn. Chưa bao giờ số tiền tiết kiệm lại lớn đến như vậy. Trước khi xảy ra Covid, tỷ lệ này vào khoảng 14%, còn hiện tại là đến gần 19%. Cơ quan thống kê quốc gia Pháp INSEE đặt tiêu đề cho một báo cáo về tình hình kinh tế hiện nay là ‘‘Hãy cẩn thận với việc tiết kiệm quá nhiều’’, ‘‘chúng ta đã vượt qua Nhật Bản với 19%’’. Chúng ta có 3.600 tỷ euro tiền tiết kiệm trong lúc nợ là 3.200. Như vậy chúng ta có nhiều tiền tiết kiệm hơn nợ, và vấn đề là những khoản tiết kiệm này được đầu tư rất ít. Chúng chỉ được dùng để đầu tư vào trái phiếu kho bạc và bất động sản, nhưng rất ít đầu tư vào lĩnh vực sản xuất. Vì vậy, nếu chúng ta chỉ dành một vài phần trăm cho quốc phòng, cũng cho các lĩnh vực khác, chúng ta có thể tìm được nguồn tài trợ. Ngân hàng đầu tư BPI đã thành lập quỹ quốc phòng nhà nước để đáp ứng chuyện này. »
Đầu tư cho quốc phòng rất lời nhưng cần một tầm nhìn dài hạnTrả lời báo La Croix, dân biểu đảng Xã Hội Pháp Anna Pic nhấn mạnh đến việc đầu tư cho quốc phòng của từng nước cần đến các công cụ « ở cấp liên chính phủ, cấp độ châu Âu và ở cấp độ NATO ». Trong cuộc tọa đàm với đài Arte về nền quốc phòng của Liên Âu, nhà sử học về quân sự Guillaume Lasconjarias, giám đốc nghiên cứu IHEDN (Viện Nghiên cứu Cấp cao về Quốc phòng) nhấn mạnh đến tầm nhìn dài hạn :
« Chúng ta đang trong bối cảnh phải đứng trước các đòi hỏi mâu thuẫn nhau, tuy nhiên, chúng ta vẫn có những cách thức để tiến về phía trước. Đầu tiên là bạn biết về tính hiệu quả của đầu tư. Có nghĩa là, nếu bạn đầu tư nhiều hơn vào quốc phòng châu Âu, mà ở đó nước Pháp vẫn duy trì được nền tảng công nghiệp công nghệ tân tiến. Như vậy, quý vị sẽ có một dạng đầu tư vào quốc phòng. Ví dụ, người ta ước tính cứ đầu tư 1 euro, bạn có thể thu được lợi nhuận từ 2 đến 3 euro. Như vậy, điều này là tốt. Có điều đáng lo ngại là việc này đòi hỏi thời gian.
Ví dụ như quý vị có một dây chuyền lắp ráp, bạn sẽ có thể tăng tốc độ sản xuất, nhưng trước tiên bạn phải có được các đơn đặt hàng và các nhà sản xuất phương tiện quốc phòng. Vấn đề đặt ra ở đây là khả năng dự báo để lập kế hoạch. Lo lắng của chúng ta là không biết việc này sẽ kéo dài được bao lâu vì khi bạn tăng tốc độ, bạn sẽ phải đối mặt với vấn đề đào tạo, vấn đề tuyển dụng và sau đó là vấn đề bán hàng. Và đó là một cuộc thảo luận thực sự vì chúng ta không chỉ thực hiện việc này ở cấp quốc gia mà còn ở cấp châu Âu hoặc cấp độ quốc tế ».
Cơ hội để Liên Âu có được tiếng nói về « chiến lược » ?Theo nhiều nhà quan sát, việc cam kết đầu tư mạnh hơn hẳn cho an ninh quốc phòng của châu Âu không chỉ để xoa dịu tổng thống Mỹ Donald Trump, mà cũng để phục vụ cho chính lợi ích của châu Âu. Vấn đề là việc đầu tư này liên quan ra sao đến mục tiêu thúc đẩy nền công nghiệp quốc phòng của chính châu Âu, và vấn đề « kiến trúc an ninh tập thể » của châu Âu.
Nguyên lãnh đạo ngoại giao Liên Âu, người Tây Ban Nha, Joseph Borell (2019-2024), cựu chủ tịch Nghị Viện Châu Âu, được coi là người nỗ lực thúc đẩy việc tăng cường tiềm lực quốc phòng của khối khi tại nhiệm, trong một hội nghị về tương lai quốc phòng châu Âu tại Chantilly (Pháp), tổ chức cùng dịp với thượng đỉnh NATO vừa qua (có sự tham gia của bộ trưởng Quân lực Pháp) đã lên án mạnh mẽ thái độ « chư hầu » của khối 27 nước chấp thuận chính sách tăng chi 5% GDP cho quốc phòng, theo đòi hỏi của Trump (Tây Ban Nha là nước duy nhất trong Liên Âu không chấp thuận mục tiêu 5% dưới áp lực của Mỹ). Joseph Borell nhấn mạnh đến quan điểm « đế quốc » của chính quyền Mỹ thời Donald Trump hoàn toàn trùng khớp với chính sách của nước Nga Putin, và « châu Âu trong một thời gian dài đã là một xứ sở nằm dưới sự bảo trợ của Mỹ ».
Gia tăng chi phí cho an ninh tập thể, liệu tiếng nói của các nước châu Âu sẽ có trọng lượng hơn trong tương lai hay không, trong các đàm phán chiến lược với Nga, thực thể địa chính trị được coi là đối thủ hiện nay ?
Liên Hiệp Quốc tổ chức sinh nhật 80 tuổi bên bờ vực thẳm. Mùa hè năm 2025, cuộc chiến xâm lăng của Nga chống Ukraina, chiến tranh tàn phá dải Gaza tiếp diễn, cuộc chiến 4 ngày giữa hai cường quốc hạt nhân Ấn Độ - Pakistan, và gần đây nhất là cuộc can thiệp quân sự Mỹ-Israel chống Iran với mục tiêu ngăn chặn Teheran sở hữu vũ khí hạt nhân, trong lúc châu Âu đang tìm cách đàm phán với Iran… Chiến tranh, xung đột vũ trang khắp nơi trước sự bất lực của Liên Hiệp Quốc.
Cách nay tròn 80 năm, ngày 26/06/1945, bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã được 50 quốc gia thông qua, với một trong các tôn chỉ hàng đầu là duy trì hoà bình trên hành tinh của chúng ta. Định chế quốc tế ra đời từ Đệ nhị Thế chiến giờ đây có còn hữu ích với nhân loại trong mục tiêu bảo vệ nền hoà bình thế giới ?
Định chế quốc tế ra đời ngay trong Đệ nhị Thế chiếnTrong một cuộc toạ đàm với chương trình Địa chính trị của RFI, nhà sử học Chloé Maurel, chuyên gia về LHQ, ghi nhận không khí đầy hy vọng vào thời điểm LHQ ra đời.
“Liên Hiệp Quốc đã được hình dung, được nhen nhóm ngay trong thời gian Thế chiến II, bởi các quốc gia chủ chốt của phe Đồng Minh và chính thức ra mắt tại San Francisco năm 1945 trong không khí phấn chấn, lạc quan cao độ, với niềm khao khát và thậm chí niềm tin vào một thế giới đoạn tuyệt với chiến tranh, bởi Thế chiến Hai là cuộc xung đột khủng khiếp, chưa từng có với nhân loại, khiến tổng cộng 60 triệu người chết… Trong Hiến chương LHQ có những nguyên tắc rất tiến bộ, như bình đẳng nam - nữ, tiến bộ xã hội, quyết tâm giải quyết xung đột bằng thương lượng, cũng như mục tiêu mọi người đều có việc làm, tức liên quan nhiều đến các vấn đề xã hội”.
Trái với quan niệm của không ít người, xem Liên Hiệp Quốc như một định chế ra đời sau Thế chiến II. Trên thực tế, như vị sử gia nói trên nhấn mạnh, dự án xây dựng định chế quốc tế - tập hợp hầu hết các quốc gia trên địa cầu trong tương lai - đã bắt đầu hình thành ngay trong thời gian Thế chiến II. Hiến chương Liên Hiệp Quốc được chuẩn bị từ năm 1941 đến năm 1945. Tuyên bố Saint James, tại Luân Đôn, năm 1941, chuẩn bị cho một nền công lý quốc tế tương lai, trừng phạt các thủ phạm gây tội ác chiến tranh, Tuyên bố Liên Hiệp Quốc (Declaration by United Nations) năm 1942, với 25 quốc gia của Mặt trận chống phát xít (đứng đầu là Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Hoa Dân Quốc), và các hội nghị Matxcơva, Teheran, Yalta, là những cái mốc đặt nền móng cho tổ chức Liên Hiệp Quốc ra đời sau đó, trước khi bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc được công bố.
Trong cuộc toạ đàm của chương trình Địa chính trị của RFI, nhà nghiên cứu Romuald Sciora - Viện Institut de relations internationales et stratégiques (Iris), tác giả cuốn ‘‘Ai muốn LHQ phải chết ?’’ nhận định:
“Khi LHQ được thành lập năm 1945 trên đổ nát hoang tàn của Thế chiến II, định chế này đã lấy cảm hướng từ Hội Quốc Liên. Dĩ nhiên, là có những sai lầm đã bị lắp lại, nhưng tuy nhiên, LHQ với Hội đồng Bảo an (hiện nay đã trở nên thực sự ít ý nghĩa và với nhiều người chúng ta là một cơ chế lệch pha trong việc quản lý các vấn đề quốc tế) vào thời điểm đó đã là một thay đổi cách mạng. Sự hình thành cơ chế này (với sự tham gia của Mỹ, khác hẳn với việc Mỹ đã không tham gia Hội Quốc Liên) có mục tiêu không để tổ chức này bị rơi vào thảm kịch như Hội Quốc Liên…
LHQ đã là một sáng tạo của phương Tây, dựa trên các giá trị triết học phương Tây…, lấy cảm hứng từ các giá trị nhân văn chủ nghĩa lớn, ra đời vào thời Phục hưng tại châu Âu, được xác lập thành các lý thuyết sau đó trong thế kỷ Ánh Sáng ở châu Âu, được cụ thể hoá với sự trỗi dậy của các nền dân chủ phương Tây thế kỷ 19. Sự ra đời của LHQ năm 1945 và sau đó là Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (1948), là sự hoàn tất của hệ thống này với việc hình thành chủ nghĩa đa phương.”
Hành động của LHQ vì hoà bình trong thế giới lưỡng cực Mỹ - Xô: Những đóng góp và hạn chếNói đến Liên Hiệp Quốc và hoà bình, nhiều người thường nghĩ ngay đến các lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên Hiệp Quốc. Các lực lượng gìn giữ hoà bình của LHQ, thường được gọi là lực lượng “mũ nồi xanh” hiện bao gồm khoảng 70.000 binh sĩ, đến từ nhiều quốc gia, với 11 sứ mạng duy trì hòa bình đang được triển khai tại các khu vực tranh chấp, như giữa Ấn Độ - Pakistan, giữa Israel và Liban… theo đề nghị của các nước sở tại. Nhìn chung lực lượng gìn giữ hoà bình của LHQ thường chỉ có hiệu quả trong trường hợp xung đột giữa các lực lượng vũ trang có tổ chức chấp nhận ngừng bắn, thường là giữa hai quốc gia.
Lý tưởng của Liên Hiệp Quốc về một “nền an ninh tập thể” - với việc thành lập một bộ tổng tham mưu, phụ trách trợ giúp Hội đồng Bảo an thực thi các nhiệm vụ quân sự, chiếu theo điều 47 của Liên Hiệp Quốc - rút cục đã không thể trở thành hiện thực, ngay sau khi LHQ ra đời, do thế đối đầu gia tăng giữa Mỹ và Liên Xô vào cuối thập niên 1940.
Thế đối đầu Mỹ - Xô, và lá phiếu phủ quyết, khiến Hội đồng Bảo an không thể đưa ra các quyết định chung ngăn chặn chiến tranh. Trong giai đoạn này, Liên Hiệp Quốc “trở thành sân khấu cho cuộc đấu tranh quyền lực toàn cầu giữa Mỹ và Liên Xô”. Cạnh tranh này đã gây ra những cuộc xung đột thảm khốc mang tính khu vực, với các cuộc chiến tranh uỷ nhiệm (“proxy wars”), như ở Việt Nam và Afghanistan. Cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân giữa Mỹ và Liên Xô từng đặt thế giới mấp mé bờ vực đại chiến, trước khi Liên Xô và Mỹ bắt đầu thương lượng về kiểm soát vũ khí chiến lược.
Tuy nhiên, theo nhiều nhà quan sát, dù không giúp nhân loại tránh được một Thế chiến thứ ba, nhưng LHQ đã có phần đóng góp. Vào thời điểm căng thẳng cao độ của Chiến tranh Lạnh, LHQ là một diễn đàn để các nước nhỏ ngồi chung bàn với các nước lớn, các nước đối địch có thể chỉ trích nhau. Nhà sử học Chloé Maurel nhận xét :
“Có thể nói LHQ là tổ chức dân chủ nhất trong các tổ chức quốc tế. Tổ chức này mang tính phổ quát nhất, nhân loại nhất, bởi vì tại Đại hội đồng, tất cả các nước, dù giàu hay nghèo, đều có một phiếu bầu như nhau. Đặc biệt, từ năm 1960, với việc phi thực dân hoá, nhiều nước mới độc lập gia nhập LHQ. Vào năm đó, có 17 nước châu Phi vừa giành được độc lập đã gia nhập LHQ. Trọng tâm của LHQ giờ đã thay đổi. Kể từ đó, LHQ bao gồm đa số là các nước ngoài phương Tây, ngoài châu Âu. Giờ đây, các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an không còn tính chất đại diện khi đa số các thành viên LHQ giờ đây là ngoài phương Tây, là các nước châu Phi, châu Á, Mỹ Latinh.”
Bức tường Berlin sụp đổ : Cơ hội vàng bị bỏ lỡSự sụp đổ của bức tường Berlin, và sự tan rã của khối Liên Xô được nhiều người ghi nhận như một thời điểm thuận lợi cho việc LHQ trỗi dậy, để đảm đương trách nhiệm thực thi các tôn chỉ của Hiến chương LHQ, gần nửa thế kỷ trước. Nhiều điều kiện đã hội tụ, nhưng bất hạnh thay, LHQ đã không tranh thủ được cơ hội vàng này, theo nhà nghiên cứu Romuald Sciora (Iris) :
“Chúng ta vào thời điểm đó đã có được một tổng thống Mỹ George Bush cha, ngược hẳn với tổng thống Bush con, là một người nhiệt thành cổ vũ cho chủ nghĩa đa phương. Không phải chủ yếu vì người khác, mà bởi ông ấy hiểu rằng nếu nước Mỹ siêu cường muốn tiếp tục đóng vai trò kiến thiết trật tự quốc tế trong những thập niên tiếp theo và trong thế kỷ 21, thì chắc chắn Mỹ phải dẫn dắt được chủ nghĩa đa phương. Tổng thống Bush cha vốn là đại sứ Mỹ tại LHQ.
Vào thời điểm đó, chúng ta đã có một tổng thư ký mới Boutros-Ghali (1992-1996), mà theo tôi là một người thực sự có tầm nhìn xa trông rộng nhất trong số các tổng thư ký LHQ, cùng với tổng thư ký thứ hai Dag Hammarskjold. Ông đã có nhiều kế hoạch hành động vì hoà bình, an ninh và dân chủ, phát triển… Và chúng ta đã có một Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đầu tiên ở cấp nguyên thủ quốc gia. Hiện tại có thể điều này được cho là bình thường, nhưng vào thời điểm đó, một tổng thống Mỹ ngồi chung một bàn bên lãnh đạo Nga thì thực sự là điều mới. Tóm lại, rất nhiều yếu tố thuận lợi đã có mặt vào thời điểm đó. Tuy nhiên, bất hạnh thay với LHQ, và có một chút mỉa mai ở đây, là tổng thống đảng Dân Chủ đắc cử, ông Bill Clinton, là người không hề có viễn kiến này, không hề ủng hộ chủ nghĩa đa phương chút nào.
Chính quyền Clinton hoàn toàn ngoảnh mặt với các vấn đề quốc tế, mặt khác tổng thư ký Boutros-Ghali cũng không được ngoại giao lắm với tổng thống Mỹ. Rút cuộc một xung đột khiến ông Boutros-Ghali phải ra đi vào năm 1996. Vào thời điểm đó, lẽ ra LHQ phải có được một ảnh hưởng chính trị, nhưng rốt cuộc ảnh hưởng chính trị của LHQ lại suy yếu.”
Thế giới “Đơn cực” chuyển sang “Hậu đơn cực”, nguy cơ cáo chung của LHQBa thập niên sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, “Trật tự thế giới mới”, với nước Mỹ là siêu cường duy nhất (tức Thế giới đơn cực), mà nhiều người tin tưởng là sẽ được khẳng định vĩnh viễn, với sự toàn thắng của nền dân chủ tự do phương Tây, được coi là mẫu mực đối với toàn nhân loại, giờ đây đang đứng trên bờ vực tan vỡ.
Cựu thủ tướng Anh Gordon Brown (2007 – 2010), cũng như không ít người khác, nói thẳng là “trật tự thế giới mới” của 35 năm vừa qua “đang sụp đổ trước mắt chúng ta”. Brian Brivati, giáo sư thỉnh giảng về lịch sử đương đại và nhân quyền tại Đại học Kingston, Anh, thì nói đến tình trạng “một trụ cột của trật tự hậu chiến đang tấn công một trụ cột khác”, khi “người sáng lập hàng đầu của Liên Hiệp Quốc (Mỹ) đang làm suy yếu thể chế này từ bên trong, sử dụng quyền phủ quyết của Hội đồng Bảo an để ngăn chặn hành động (phi pháp, như cuộc chiến của Israel tại Gaza, bị Toà án Hình sự quốc tế kết án, và Đại hội đồng Liên Hợp Quốc lên án), trong khi đồng thời làm cạn kiệt nguồn lực của tổ chức này”.
“Sự kết hợp giữa một quốc gia hùng mạnh hành động vô trách nhiệm (Israel) và một siêu cường (Mỹ) vô hiệu hóa các cơ chế giải trình đánh dấu một bước ngoặt toàn cầu… và các cường quốc toàn cầu khác, bao gồm Nga và Trung Quốc, đang tận dụng cơ hội này để vượt ra khỏi hệ thống dựa trên luật lệ của phương Tây” (Xung đột Israel-Iran ‘‘đóng chiếc đinh cuối cùng vào chiếc quan tài của Trật tự thế giới'', France 24, ngày 19/06/2025).
Chuyên gia Ian Bremmer, chủ tịch công ty tư vấn về rủi ro toàn cầu Eurasia Group, trong một bài viết trên trang mạng Carnegie.org, nêu bật tình trạng thể chế chủ chốt của trật tự thế giới như Hội đồng Bảo an “không còn phản ánh được thế cân bằng cơ bản của quyền lực toàn cầu”, và chỉ ra ba nguyên nhân chính của tình trạng trật tự toàn cầu bị đe doạ tan vỡ trong thế giới “hậu đơn cực” hiện nay :
“Vấn đề cốt lõi mà trật tự toàn cầu phải đối mặt là các thể chế quốc tế chủ chốt của trật tự này — Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, v.v. — không còn phản ánh được sự cân bằng cơ bản của quyền lực toàn cầu. Đây là một cuộc suy thoái về địa chính trị, một ‘‘chu kỳ suy thoái’’ trong quan hệ quốc tế có thể bắt nguồn từ ba nguyên nhân cơ bản sau đây, theo thứ tự tăng dần về tầm quan trọng. Nguyên nhân đầu tiên là phương Tây đã không thể đưa Nga vào trật tự toàn cầu do Mỹ lãnh đạo sau khi Liên Xô sụp đổ, gây ra sự phẫn nộ và thù địch sâu sắc. Chúng ta có thể tranh luận về việc ai đáng bị chê trách, nhưng hậu quả là không thể phủ nhận: Giờ đây, một cường quốc trước đây đang suy yếu nghiêm trọng là Nga đã chuyển từ một đối tác tiềm năng thành một quốc gia côn đồ nguy hiểm nhất thế giới, quyết làm mất ổn định trật tự do Mỹ lãnh đạo và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược quân sự với các tác nhân gây hỗn loạn khác như Bắc Triều Tiên và Iran.
Thứ hai là Trung Quốc từng được hội nhập vào trật tự quốc tế — quan trọng là với tư cách là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới — với giả định rằng hội nhập kinh tế toàn cầu sẽ khuyến khích các lãnh đạo của nước này tự do hóa hệ thống chính trị và trở thành các đối tác toàn cầu có trách nhiệm theo định nghĩa của phương Tây. Thay vào đó, Trung Quốc trở nên hùng mạnh hơn nhiều, nhưng không dân chủ hơn hoặc không ủng hộ nhà nước pháp quyền hơn. Căng thẳng gia tăng, thậm chí là đối đầu, giữa Trung Quốc và phương Tây chính là hậu quả của điều đó.
Thứ ba, và có lẽ là hậu quả nghiêm trọng nhất, đó là hàng chục triệu công dân ở chính các nền dân chủ tiên tiến đã kết luận rằng các giá trị toàn cầu mà các nhà lãnh đạo và giới tinh hoa của họ thúc đẩy không còn có lợi cho họ nữa. Bất bình đẳng gia tăng, những thay đổi về nhân khẩu học và sự phát triển đột phá của các công nghệ đã làm xói mòn niềm tin vào các thể chế dân chủ và làm giảm năng lực lãnh đạo toàn cầu của chính các quốc gia này. Không nơi nào điều này có hậu quả nghiêm trọng hơn ở quốc gia vẫn không thể thiếu này, đó là Mỹ, nơi tổng thống Donald Trump vừa nuôi dưỡng vừa lợi dụng làn sóng phản toàn cầu hóa, phản thiết chế này.”
“Chủ nghĩa đa phương”, cội nguồn sức mạnh của Liên Hiệp QuốcTrả lời phỏng vấn chương trình “Decryptage” của RFI (bài Chủ nghĩa đa phương khủng hoảng : Tương lai bất định của LHQ), Guillaume Devin, giáo sư danh dự Trường Sciences Po Paris, chuyên về LHQ và chủ nghĩa đa phương, nhấn mạnh đến tính chất không thể thay thế của LHQ trong việc giải quyết xung đột trên thế giới, đặc biệt nhờ “chủ nghĩa đa phương” và các hoạt động đa dạng và quy mô rộng lớn do LHQ tổ chức hoặc tạo điều kiện, nhằm giải quyết các cội rễ sâu xa của các xung đột :
“Một trong các lợi thế của chủ nghĩa đa phương là mang lại các diễn đàn, mà ở đó mọi thứ đều có thể. Ở đó có các cuộc thảo luận chính thức, nhưng cũng có các cuộc trò chuyện hành lang, có các cuộc họp đa phương, nhưng cũng có các cuộc tiếp xúc song phương. Các diễn đàn này là không thể thay thế. Nếu chúng biến mất vào ngày mai, tôi nghĩ chúng ta sẽ ngay lập tức buộc phải tái tạo chúng. LHQ cung cấp các không gian cực kỳ quan trọng, các câu lạc bộ tương đối mở, khác hẳn so với các nhóm G7, G20, BRICS, v.v., vốn là những câu lạc bộ rất hạn chế thành phần tham gia…
Và tiếp theo đó, Liên Hiệp Quốc không chỉ là những dàn xếp giữa các nước. Quý vị biết, chúng ta thường nói về ba Liên Hiệp Quốc. Đầu tiên là cuộc họp lớn của các quốc gia và các hoạt động liên quốc gia. Thứ hai là tất cả các cơ quan, chương trình và tổ chức chuyên môn của Liên Hiệp Quốc cực kỳ quan trọng, quản lý môi trường, y tế và hành động nhân đạo trên toàn thế giới... Và những điều này liên quan đến giải quyết xung đột. Như phát biểu của tổng thống Brazil, Lula, đòi hỏi phải giảm bất bình đẳng, đòi hỏi phải quản trị tốt hơn, và các cơ quan của Liên Hiệp Quốc đóng góp vào điều đó. Và cuối cùng, Liên Hiệp Quốc thứ ba là Liên Hiệp Quốc của ‘‘các tác nhân phi nhà nước’’. Liên Hiệp Quốc là một nam châm thu hút đáng kể, làm tăng trưởng các tác nhân phi nhà nước, giống như Hội Quốc Liên, với tinh thần Geneva sau Thế chiến thứ nhất, từng huy động các hội cứu trợ và những gì mà vào thời điểm đó không được gọi là các tổ chức phi chính phủ, mà là các hiệp hội quốc tế đầu tiên.”
Tuy nhiên, chủ nghĩa đa phương, vốn làm nên sức mạnh và sự hữu ích của LHQ, cũng là cơ chế đang đứng trước đe dọa bị hủy diệt trong bối cảnh thế giới hậu đơn cực hiện nay. Cứu vãn chủ nghĩa đa phương là một trong các mục tiêu hàng đầu của Thoả ước vì Tương lai, được các thành viên LHQ thông qua hồi cuối năm ngoái. Một nội dung chính của Thỏa ước này là hướng đến cải tổ triệt để Hội đồng Bảo an.
Nghệ thuật kiến tạo hoà bình có thể thay thế cho “nền hoà bình bằng sức mạnh” ?Thế giới “hậu đơn cực” đang bước vào giai đoạn đầy bất định. “Nền hoà bình bằng sức mạnh” đi kèm với chạy đua vũ trang là đang trở thành xu thế từ nhiều năm nay, điều mà nhiều người coi là tất yếu. Trong xu thế này, chủ nghĩa dân tộc, với quan điểm “lợi ích dân tộc” là “trên hết”, là “vĩnh viễn”, đang được thổi bùng lên tại nhiều nơi, tại các nước phát triển cũng như các quốc gia đang trỗi dậy, như giải pháp vạn năng để hoá giải các thách thức. Nỗ lực vì các giá trị chung đang ngày càng bị coi nhẹ, thậm chí bị khinh rẻ, đả kích.
Nhưng giá trị không mâu thuẫn với lợi ích. Trở lại với cội nguồn của Liên Hiệp Quốc, định chế quốc tế ra đời ngay trong Thế chiến II, có thể rút ra nhiều bài học thành công và thất bại, về các giá trị nhân bản, chủ nghĩa đa phương trong truyền thống phương Tây đã giúp thúc đẩy sự ra đời của một định chế quốc tế toàn cầu chưa từng có, có sứ mạng bảo vệ hoà bình thế giới như thế nào. Nhiều người đặt hy vọng vào một “chủ nghĩa đa phương mới” (new multilateralism).
Nhà chính trị học Pháp Bertrand Badie vừa cho ra mắt cuốn sách mới “Art de la paix” (tạm dịch là ''Nghệ thuật kiến tạo hoà bình”). Trả lời RFI nhân dịp sách ra mắt, Bertrand Badie nhắc lại câu nói của nhà thần học Bắc Phi Thánh Augustino, “hoà bình trước hết đến từ việc thỏa mãn những nhu cầu căn bản của con người, ăn và có nước sạch”. Môi trường, khí hậu là tài sản chung. Khi môi trường, khí hậu bị xâm hại vì các lợi ích cục bộ và ích kỷ, khó có thể nói đến một nền hoà bình bền vững. Bertrand Badie khuyến cáo việc hướng đến xây dựng “những mẫu số chung” của nhân loại, một trật tự toàn cầu mới, nơi tất cả được tôn trọng.
Liên Hiệp Quốc có còn hữu ích cho nhân loại hay không trong mục tiêu bảo vệ hoà bình phụ thuộc vào việc nhân loại góp sức ra sao cho nghệ thuật kiến tạo hoà bình, cho chủ nghĩa đa phương, mà Liên Hiệp Quốc đã và đang cung cấp một sân chơi chưa từng có trong lịch sử.
Mục tiêu thực sự của chiến dịch « Rising Lion » do Israel tiến hành từ ngày 13/06/2025 không chỉ nhằm mục đích vô hiệu hóa các cơ sở hạt nhân của Iran. Nhà nước Do Thái chủ yếu muốn đẩy nhanh sự sụp đổ của chế độ Teheran. Tuy nhiên, giới chuyên gia cảnh báo một sự thay đổi chế độ chỉ có thể dẫn đến việc trao quyền lực cho lực lượng Vệ binh Cách mạng.
Cho đến hiện tại, các điểm tấn công của Israel tại Iran cho thấy, trong ngắn hạn, mục tiêu của thủ tướng Benjamin Netanyahu là bắn phá các cơ sở hạt nhân Iran nhằm giảm đáng kể chương trình vũ khí của nước này. Nhưng thủ tướng Israel đã nói rõ là cuộc chiến với Iran « chắc chắn » có thể dẫn đến một sự thay đổi chế độ tại nước Cộng hòa Hồi giáo.
Đây chẳng phải là điều bí mật. Từ lâu chính phủ Israel cũng như nhiều quan chức các đời tổng thống Mỹ đều mong muốn sự sụp đổ của chính phủ Iran hiện nay. Tình hình tại Iran sẽ biến đổi ra sao trong trường hợp chính quyền Teheran hiện nay sụp đổ ?
Cơ cấu quyền lực ở Iran
Nước Cộng hòa Hồi giáo được giáo chủ Ruhollah Khomeini thành lập năm 1979 và có một cơ cấu chính phủ mang các yếu tố dân chủ, thần quyền và độc tài. Nhà nước được điều hành bởi các giáo sĩ và các nhà lập pháp Hồi giáo nhằm bảo đảm rằng mọi chính sách đều tuân thủ luật Hồi giáo.
Vì Iran từng là quốc gia quân chủ lập hiến trước cách mạng, nên các yếu tố thần quyền đã được ghép vào các yếu tố cộng hòa hiện có chẳng hạn như Nghị Viện, Hành pháp và Tư pháp. Tuy nhiên, hệ thống lập pháp của Iran là đơn viện (nghĩa là một viện Quốc hội duy nhất), còn được gọi là Majles và nước này cũng có tổng thống (hiện nay là ông Masoud Pezeshkian). Hai định chế này được bầu chọn qua các cuộc bầu cử thường kỳ.
Dù vậy, theo giải thích trên trang The Conversation từ nhà nghiên cứu Andrew Thomas, chuyên gia về Trung Đông, đại học Deakin, tuy được bao phủ các yếu tố dân chủ, trên thực tế đây là một « mạch khép kín », giúp giới giáo sĩ duy trì quyền lực và ngăn chặn mọi thách thức đối với lãnh đạo tinh thần tối cao, vị trí cao nhất trong một hệ thống quyền lực được phân cấp rất rõ ràng, mà người đứng đầu hiện nay là giáo chủ Ali Khamenei.
Năm nay 86 tuổi, và từng là cựu tổng thống, Ali Khamenei đã được Hội đồng chuyên gia (gần giống với Thượng Viện) – một cơ quan bao gồm 88 nhà luật học Hồi giáo – chọn trở thành lãnh đạo tối cao vào năm 1989 sau khi giáo chủ Khomeini qua đời.
Nếu như các thành viên của Quốc Hội, Hội đồng chuyên gia cũng như tổng thống được bầu chọn qua lá phiếu phổ thông trực tiếp, thì tư cách các ứng viên tranh cử thành viên Quốc Hội, Hội đồng, cũng như tổng thống trước hết phải được Hội đồng Giám hộ (Hội đồng Bảo hiến) quyền lực thông qua. Định chế này có 12 thành viên, nhưng một nửa trong số này là do lãnh đạo tối cao bổ nhiệm, một nửa còn lại là do Quốc Hội chỉ định.
Cuối cùng, đích thân giáo chủ, lãnh đạo tinh thần tối cao là người bổ nhiệm người đứng đầu các cơ quan quan trọng của chính phủ, như cơ quan tư pháp, lực lượng vũ trang và lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC).
IRGC đầy quyền lựcNhìn vào cơ cấu này, đối với các nhà quan sát phương Tây, Iran còn xa mới là một nền dân chủ. Nhưng họ cũng nhìn nhận rằng một sự thay đổi chế độ có thể dẫn đến một nền dân chủ hoàn toàn đi theo Mỹ và Israel cũng là điều không thể, do nền chính trị Iran cực kỳ chia rẽ phe phái.
Các phe phái tư tưởng như phe cải cách, phe ôn hòa và phe bảo thủ, luôn có những bất đồng sâu sắc về những chính sách quan trọng. Họ tranh giành ảnh hưởng với lãnh đạo tối cao, cũng như trong giới tinh hoa giáo sĩ. Nhưng không một phe phái nào trong số này đặc biệt ủng hộ Mỹ, càng không ủng hộ Israel.
Rồi còn có các phe phái trong các định chế. Trong số này, quyền lực nhất nước là hàng giáo sĩ do lãnh đạo tối cao điều hành. Tiếp đến là Vệ binh Cách mạng. Ban đầu được lập ra như một lực lượng cảnh vệ riêng cho giáo chủ, IRGC ngày nay có một sức mạnh quân sự sánh ngang với cả quân đội chính quy. Mang tư tưởng chính trị cực đoan, IRGC có tầm ảnh hưởng ở cấp quốc gia đôi khi vượt xa tổng thống, gây áp lực đáng kể lên các chính sách của tổng thống, và chỉ công khai ủng hộ những tổng thống nào theo đuổi học thuyết cách mạng Hồi giáo nghiêm ngặt.
Không chỉ kiểm soát thiết bị quân sự và ảnh hưởng chính trị, IRGC còn có mối liên hệ chặt chẽ với nền kinh tế Iran. Bị đánh giá như là một « tổ chức tham nhũng », quả thực, giới chức lực lượng Vệ binh Cách mạng đã làm giầu đáng kể nhờ vào các hợp đồng được chính phủ trao, cũng như là việc tham gia điều hành « nền kinh tế ngầm » nhằm lách lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây.
Nguy cơ đi từ chế độ « thần quyền – quân sự » sang « quân sự »Nhìn từ những góc độ này, và trong bối cảnh cuộc không chiến giữa Israel và Iran diễn ra dữ dội từ hôm 13/06, nhà nghiên cứu người Úc Andrew Thomas đánh giá khả năng IRGC sẽ là tổ chức chính trị nắm quyền kiểm soát Iran là rất cao nếu hàng giáo sĩ bị gạt khỏi quyền lực.
Đây cũng là quan điểm và nỗi lo của một bộ phận giới nghiên cứu tại Pháp gốc Trung Đông khi e rằng cái chết của ông Ali Khamenei « có lẽ sẽ không giúp thay đổi chế độ » hay cho phép « chấm dứt xung đột ». Trên đài RFI Pháp ngữ, nhà xã hội Azadeh Kian, giáo sư tại đại học Paris Cité giải thích :
« Một mặt, người ta không biết lãnh đạo tối cao đang ở đâu và liệu rằng Israel có thực hiện kế hoạch ám sát ông ấy hay không. Mặt khác, tôi nghĩ rằng quyền lực có lẽ đã nằm trong tay Vệ binh Cách mạng, thậm chí cả trước khi diễn ra các cuộc không kích của Israel. Vì vậy, ông ấy không còn ở đó nữa và người cũng sẽ không thể lật đổ chế độ nhưng quyền lực đã được trao không phải cho hàng giáo sĩ mà là hoàn toàn cho Vệ binh Cách mạng.
Hơn nữa tôi cũng được nghe nhiều thông tin mà hiện tôi chưa thể thẩm định theo đó lãnh tụ tối cao dường như đã chấp thuận trao cho Vệ binh Cách mạng quyền quyết định. Nếu như vậy, thì chúng ta đang chuyển từ chế độ "thần quyền – quân sự" sang chế độ "quân sự". »
Vẫn theo nhà xã hội người Pháp gốc Iran này, trong thời chiến, Vệ binh Cách mạng sẽ thâu tóm nhiều quyền lực hơn. Đây là lực lượng nắm quyền kiểm soát tên lửa đạn đạo và các hoạt động đáp trả. Nếu như các cuộc không kích của Israel đã giết chết một số tướng lĩnh Vệ binh, khiến nhiều người hả dạ và làm suy yếu phần nào chế độ, thì tất cả những điều này chưa đủ để cho chế độ Iran hiện hành có thể bị lật đổ.
Trên làn sóng France Culture, nhà xã hội Azadeh Kian giải thích tiếp :
« Ngay cả khi chế độ bị suy yếu, hay bị sụp đổ vì các cuộc oanh kích của Israel, liệu chúng ta đã có một giải pháp chính trị, dân chủ nào để có thể thay thế chế độ hiện nay hay là toàn khu vực Trung Đông có nguy cơ sẽ phải đối mặt với sự tan rã của đất nước, sự hỗn loạn … ? Đây thực sự là những câu hỏi quan trọng cần đặt ra và chúng cũng được nêu ra cho các nước trong vùng.
Đương nhiên, việc các lãnh đạo, chỉ huy Vệ binh bị giết chết khiến người dân Iran hài lòng bởi đó là những người có trách nhiệm trong việc trấn áp phe đối lập. Nhưng điều đó không có nghĩa là chế độ sụp đổ bởi vì những người đó đã được thay thế nhanh chóng. Iran đã phóng hàng loạt tên lửa nhắm vào Israel. Điều này có nghĩa là lực lượng Vệ Binh vẫn chưa bị tan rã. »
Lật đổ chế độ : Bài học IrakĐây cũng chính là quan điểm của nhà chính trị học Myriam Benraad, chuyên gia về Trung Đông, giảng viên trường đại học Khoa học Chính trị Sciences Po, khi trả lời phỏng vấn trang The Conversation. Việc Israel và Mỹ tìm cách tiêu diệt lãnh tụ tối cao Ali Khamenei gợi nhắc lại chính sách sai lầm của Mỹ tại Irak sau khi lật đổ chế độ Saddam Hussein năm 2003, vốn đã không mang lại một nền dân chủ,, mà đúng hơn là một sự hỗn loạn, và sự xuất hiện chế độ tài phiệt độc tài.
« Chúng ta đang quay trở lại với giới hạn của học thuyết nổi tiếng về dân chủ hóa Trung Đông mà Mỹ mong muốn vào đầu những năm 2000, sau sự kiện ngày 11 tháng 9. Chính ngày 11 tháng 9 này mà vụ giết người hôm 07/10/2023 thường được đem ra so sánh. Khi đề cập đến việc thay đổi chế độ ở Iran, Netanyahu có ý định sao chép cách tiếp cận rất mang tính kiểu Bush về một cuộc chuyển đổi dân chủ và tự do lớn trong khu vực, một chuỗi sự kiện bắt đầu vào ngày 11 tháng 9. Nhưng có lẽ ông đang tự lừa dối mình nếu nghĩ rằng mọi việc sẽ diễn ra đơn giản như vậy. »
Trong bối cảnh này, ngày 17/06/2025, vào lúc đối đầu quân sự giữa Israel và Iran bước vào ngày thứ năm, tổng thống Pháp Emmanuel Macron, bên lề thượng đỉnh G7 tại Canada, cảnh báo một sự thay đổi chế độ tại Iran sẽ đồng nghĩa với sự « hỗn loạn ».
(Nguồn The Conversation, France Culture và RFI)
Lần thứ ba Liên Hiệp Quốc tổ chức Hội nghị Đại dương. Tại hội nghị diễn ra giữa tháng 06/2025 ở Nice, Pháp, vấn đề dữ liệu về biển đang nổi lên như một chủ đề trọng tâm. Vì sao dữ liệu về biển lại trở thành đấu trường địa-chính trị mới ? Vai trò của Pháp, của Liên Hiệp Châu Âu ra sao trong lĩnh vực then chốt này ?
Trong lúc con người hiểu ngày càng rõ hơn về các hành tinh cách xa Trái đất hàng triệu cây số, đại dương vẫn là nơi nhiều phần bí hiểm. Thông tin về phần đại dương dưới mặt nước biển là một lĩnh vực mà hiểu biết con người còn rất hạn chế, do độ sâu, áp suất, môi trường mờ đục…, khiến việc khám phá phức tạp hơn nhiều so với bề mặt các thiên thể không có khí quyển. Tuy nhiên, tình hình đang thay đổi rất nhanh chóng với cuộc cách mạng kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo diễn ra. Dữ liệu được thu thập ngày càng nhanh chóng, phong phú và chính xác hơn.
Việc lập bản đồ đáy biển, giám sát các luồng nước, mô hình hóa các hệ sinh thái, truy vết các nguồn ô nhiễm, dự báo thảm họa… là các hoạt động ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Đằng sau việc thu thập, xử lý và khai thác dữ liệu về biển, là một cuộc chơi về quyền lực dưới hình thức mới. Trong vấn đề thu thập dữ liệu biển do vệ tinh hay với các cảm biến trong lòng biển, từ « bản sao số » về đại dương (digital twin of the ocean/jumeaux numériques), hay việc « số hóa đại dương ») đến các nền tảng dữ liệu chia sẻ, nhiều câu hỏi được đặt ra : Ai là người kiểm soát các công cụ đó ? Với mục đích gì ? Hợp tác hay thống trị ? Khám phá hay khai thác ? Bảo vệ hay theo dõi ?...
Dữ liệu về biển đang trở thành một đấu trường mới, cả về mặt công nghệ lẫn chính trị. Trong bối cảnh các xung đột mang tính hỗn hợp, nghĩa là pha lẫn mặt quân sự với mặt dân sự, ngày càng gia tăng, vấn đề chủ quyền trên biển không thể tách rời khỏi chủ quyền về kỹ thuật số.
Đầu tháng 6/2025, chương trình « Địa-chính trị » của RFI tổ chức một cuộc tọa đàm với một số chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này trong bối cảnh, Liên Hiệp Quốc tổ chức hội nghị về đại dương tại Pháp, với mục tiêu hàng đầu là xây dựng các nền tảng cho một mô hình quản trị biển mới.
Biển cả : Cuộc chạy đua tìm kiếm, kiểm soát và tranh đoạt dữ liệuTrả lời câu hỏi vì sao các dữ liệu về biển lại là vấn đề địa-chính trị, bà Julia Tassie, tác giả cuốn « Géopolitique de la mer » (Địa-chính trị về biển), phụ trách chương trình về Đại dương của IRIS, Viện nghiên cứu quốc tế và chiến lược Pháp, và điều phối viên số tạp chí đặc biệt về dữ liệu biển, nhận định :
« Vấn đề dữ liệu có ý nghĩa chiến lược là vì : Hiểu về biển và biết ai đang hoạt động trên biển sẽ cho phép chúng ta hành động một cách hiệu quả. Đại dương đúng là mênh mông, chúng ta không thể hiện diện và hoạt động trên toàn bộ bề mặt đại dương. Vì vậy, cần phải tối ưu hóa nguồn lực. Ta cần biết chính xác phải cử tàu đến đâu, phải triển khai các thiết bị drone đến đâu và điều đó chỉ có thể thực hiện được nếu ta biết nơi cần phải đến.
Khi Hải quân quốc gia Pháp nói đến ‘‘ưu thế thông tin’’. Đây là một khái niệm mà tôi thấy rất rõ ràng : cụ thể là càng có nhiều thông tin, chúng ta càng có nhiều khả năng hành động.
Việc chúng ta bước vào một kỷ nguyên mới, khi mà khối lượng dữ liệu thu thập được lớn hơn bao giờ hết, đã tạo nên một cuộc chạy đua về công nghệ, một cuộc chạy đua đổi mới sáng tạo, một cuộc chạy đua về trang thiết bị. Bởi vì ta cần có kiến thức tốt hơn các đối thủ chiến lược của mình và cũng cần chứng tỏ rằng ta biết họ đang ở đó. Và không chỉ là biết, mà còn phải cho đối phương biết rằng ta phát hiện ra họ, biết họ đang ở đâu, và có thể biết được cả ý định của họ. Tất cả điều này giống như một ván cờ lớn trên biển. »
Trả lời RFI, ông Charles Guenois, sĩ quan Hải quân Pháp, chuyên gia về tàu chiến và kỹ thuật số, nhấn mạnh đến mối liên hệ mật thiết giữa đại dương và kỷ nguyên kỹ thuật số, khi tuyệt đại đa số cáp ngầm thông tin được đặt dưới biển :
« Có một thực tế liên quan đến biển. Đó là toàn bộ không gian kỹ thuật số của chúng ta thực chất phụ thuộc vào đại dương. ‘‘Không gian số’’ dựa vào các trung tâm dữ liệu đặt trên đất liền, đúng, nhưng chúng cũng dựa vào các cáp ngầm dưới biển. Đây là những mắt xích của mạng lưới này. Chưa kể đến các vấn đề về năng lượng cũng liên quan chặt chẽ đến biển. Không gian kỹ thuật số và không gian vật lý trên biển gắn kết với nhau mật thiết. Điều này đặt ra một thách thức chiến lược trong việc kiểm soát các cơ sở hạ tầng đó, đặc biệt là qua không gian biển ».
Tuy nhiên, biển cả không chỉ là nơi đối đầu và cạnh tranh chiến lược. Việc hợp tác trong lĩnh vực dữ liệu về đại dương là một mảng có ý nghĩa sống còn với nhân loại, và là chủ đề trọng tâm của Hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về Đại dương, được tổ chức tại thành phố biển Nice, miền Nam nước Pháp.
Dữ liệu môi trường, dữ liệu địa-chính trị ngày càng đan bệnTrong bối cảnh « các xung đột mang tính hỗn hợp », nghĩa là pha lẫn mặt quân sự với mặt dân sự ngày càng gia tăng, vấn đề an ninh môi trường liên hệ mật thiết với vấn đề cạnh tranh địa-chính trị. Trả lời RFI, nhà báo độc lập Guillaume Delacroix, chuyên về đại dương và biến đổi khí hậu, nhận định :
« Tôi xin nhắc lại là hai vấn đề lớn của hội nghị tại Nice là : thứ nhất, bình diện an ninh, bình diện địa-chính trị, tức vấn đề Ai kiểm soát cái gì, Ai là bên đầu tiên giành quyền được kiểm soát cái gì. Và vấn đề lớn thứ hai là bảo vệ đại dương nói chung, trước đe dọa của biến đổi khí hậu, làm thế nào để có thể tránh được tình trạng rác thải nhựa tràn ngập, làm thế nào để hạn chế được mức nước biển dâng cao, v.v. Có nhiều chuyện về môi trường. Và tất cả những vấn đề liên hệ mật thiết với nhau. Trên thực tế, chúng ta sẽ thấy là sẽ ngày càng có vô vàn dữ liệu đan bện với nhau. Thách thức chủ yếu hiện nay chính là làm sao để có thể liên kết, phối hợp được các dữ liệu ấy với nhau. »
Hướng đến một « bản sao số của đại dương »Những bước tiến khổng lồ về công nghệ, kỹ thuật thu thập và xử lý dữ liệu là cơ may hay hiểm họa với nhân loại ? Chia sẻ - minh bạch dữ liệu hay đối đầu một mất một còn ? Trong lúc một số cường quốc về biển, đặc biệt là nước Mỹ dưới thời Donald Trump, không mặn mà, thậm chí từ chối các hợp tác quốc tế, thì Liên Hiệp Châu Âu và các đối tác thúc đẩy một tiếp cận khác, nhấn mạnh đến các hợp tác sâu sắc và toàn diện trong lĩnh vực này. Nhà báo Guillaume Delacroix nhận định :
« Đây là một chủ đề cơ bản khác của hội nghị Nice, bởi vì hội nghị này dự kiến sẽ hướng đến việc thành lập một tổ chức liên chính phủ. Tổ chức kiểu này hiện đã tồn tại về mặt chính thức, nhưng dưới một hình thức khác. Cơ chế liên chính phủ này sẽ chịu trách nhiệm cho việc phát triển cái gọi là “bản sao số của đại dương” (digital twin of the ocean).
Thực ra, bản sao số là một khái niệm đã được áp dụng từ nhiều năm qua trong ngành công nghiệp. Ví dụ, một hãng chế tạo máy bay muốn thiết kế một chiếc máy bay tương lai, họ sẽ thiết kế nó trên máy tính, thay vì chế tạo một nguyên mẫu. Trước đây, người ta làm nguyên mẫu rồi thử nghiệm, đôi khi thành công, đôi khi thất bại. Ngày nay, mọi thứ đều được thực hiện ảo. Chẳng hạn, Renault sử dụng các bản sao số để tạo ra những chiếc xe ô tô ảo, dùng để thử nghiệm xem chúng có đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường mới hay không, v.v.
Đây là một sáng kiến đã có từ khá lâu của Liên Hiệp Châu Âu. Mục tiêu là tạo ra một bản sao số của đại dương, nghĩa là một công cụ tin học khổng lồ trên internet, cho phép mô phỏng đại dương về mọi chức năng và hoạt động. Ta có thể hình dung tầm quan trọng của điều này là rất lớn. Và đó là lý do vì sao dữ liệu lại có vai trò chiến lược và địa-chính trị vô cùng quan trọng: càng có nhiều dữ liệu, chúng ta càng có thể đối chiếu, xác minh, và dự đoán tốt hơn những gì sẽ xảy ra trong đại dương.
Ví dụ như để biết cách xử lý tảo xanh ở vịnh Douarnenez, hoặc loại bỏ rác thải nhựa trên một bãi biển ở Sumatra bằng cách truy tìm nguồn gốc của những rác thải đó, v.v.
Vì vậy, có rất nhiều ứng dụng thực tiễn và ý tưởng của bản sao số này đang được phát triển, với mục tiêu là cung cấp miễn phí và sẵn sàng cho sử dụng với tất cả mọi người: công dân, chính trị gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, v.v...
Tất cả những tri thức hiện nay còn rải rác có thể được gom lại và làm cho trở nên có ý nghĩa trong việc bảo vệ đại dương của chúng ta. Đó cũng chính là mục tiêu của hội nghị Nice, bảo vệ đại dương và toàn bộ sự phong phú của nó, bằng cách cố gắng đi trước một bước những biến đổi lớn mà đại dương đang phải trải qua do tác động của con người và biến đổi khí hậu. »
Dự án lập bản đồ đáy biển bằng vệ tinh Surface Water and Ocean Topography (SWOT), cơ quan không gian Mỹ NASA hợp tác với Trung tâm vũ trụ quốc gia Pháp (CNES), được ghi nhận đã mang lại một thay đổi « cách mạng », với sản phẩm được chính thức công bố từ tháng 6/2024.
Minh bạch - chia sẻ dữ liệu về biển thúc đẩy việc bảo vệ đại dươngTrong lĩnh vực hợp tác bảo vệ đại dương, với mặt trận dữ liệu là trung tâm, khi Mỹ thoái lui, Châu Âu phải lên tuyến đầu. Theo chuyên gia Julia Tassia, Pháp và châu Âu « thực sự có rất nhiều lợi thế, về mặt kỹ thuật, cũng lợi thế về khoa học với những tổ chức khoa học lớn có tầm vóc quốc tế, như IFREMER (Viện nghiên cứu Biển Pháp) hoặc cục Thủy văn và Hải dương học Hải quân Pháp. Nhưng cũng còn có sự đa dạng của các tác nhân ở cấp độ Liên Hiệp Châu Âu nữa. Chúng ta có những tác nhân kinh tế, một nền kinh tế biển rất năng động, và rất phát triển. Chúng ta có các công ty tàu biển, và thậm chí là những tập đoàn hàng hải lớn. » Thách thức lớn của châu Âu là làm thế nào đưa ra các quyết sách mang tầm vóc của khối.
Nhiều người trông đợi hội nghị Đại dương tại Nice sẽ đưa ra được các quyết sách quan trọng, đặc biệt liên quan đến việc xây dựng khuôn khổ pháp lý để bảo vệ đại dương, tài sản chung của nhân loại đang lâm nguy, đặc biệt với việc thúc đẩy thực hiện Hiệp định bảo vệ đại dương và xác lập rõ các quy định bảo vệ môi trường biển. Thúc đẩy mạnh việc chia sẻ và minh bạch các dữ liệu về biển có ý nghĩa then chốt đối với mục tiêu này.
Ngày 8/6 vừa qua, ít ngày trước Hội nghị Đại dương của Liên Hiệp Quốc, tổ chức bảo vệ đại dương quốc tế Mercator Ocean International, có trụ sở tại Pháp, công bố baromètre Starfish, tức các chỉ báo toàn diện về « sức khỏe đại dương ». Đây là lần đầu tiên các chỉ số như vậy được công bố. Chỉ số mang tên « Starfish », trong tiếng Anh có nghĩa là « sao biển », cho thấy đại dương đang lâm nguy, nhân loại cần hành động khẩn cấp. Việc thúc đẩy dữ liệu về biển cho thấy « sức khỏe » của đại dương đang ngày càng trở thành một vấn đề địa-chính trị hàng đầu của nhân loại.
Nguyên thủ Mỹ những ngày cuối tháng 5/2025 đã có những tuyên bố gay gắt đối với tổng thống Nga Vladimir Putin, rằng ông « hoàn toàn điên rồ », « đang đùa với lửa »…Những lời chỉ trích này phải chăng đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách của ông Trump về Nga? Phải chăng Donald Trump đang thoát khỏi sự kìm kẹp ảnh hưởng từ đồng nhiệm Nga ?
Trên đây là những thắc mắc từ nhiều nhà quan sát. Tổng thống Mỹ Donald Trump có những phát biểu như trên sau những đợt oanh kích quy mô lớn chưa từng có tính từ đầu cuộc xung đột Nga – Ukraina, phối hợp tên lửa và drone nhắm vào nhiều vùng trên lãnh thổ Ukraina.
Thiếu kiên nhẫn chiến thuậtPhải chăng tổng thống Nga đã đánh mất sự hậu thuẫn của Donald Trump ? Cựu đại sứ Pháp tại Nga giai đoạn 2020-2024, Pierre Lévy, trên làn sóng RFI Pháp ngữ ngày 27/05/2025, tỏ ra cẩn trọng khi cho rằng đối với Donald Trump, « cần phải chờ xem » những tuyên bố sắp tới.
Nhưng theo ông, điều này thể hiện rõ một phương pháp tồi từ phía Washington, « không phải là cách để đối phó với Nga », với một dân tộc mà trong tâm trí luôn quan niệm rằng « nhà lãnh đạo thống trị và tự ngự trị mình. Do vậy, vị lãnh đạo đó không có tâm trạng và ông ta không nên thể hiện cảm xúc quá mức. Đó là dấu hiệu của sự yếu đuối ».
Cũng theo cựu đại sứ Pháp Pierre Lévy, cách tiếp cận này của Nga là rất rõ ràng, được thể hiện rõ qua lời đáp trả của phát ngôn viên điện Kremlin Dmitri Peskov khi đánh giá những phát biểu của Donald Trump là « trả lời theo cảm xúc trước các sự kiện ».
Nhà ngoại giao Pháp giải thích tiếp : « Vì vậy, tôi thấy rằng về cơ bản đây là một cách tiếp cận khá khinh thường. Vụ việc thể hiện sự tương phản giữa một bên là sự thiếu kiên nhẫn về chiến thuật của Donald Trump và bên kia là sự kiên nhẫn chiến lược của Nga với một quyết tâm lạnh lùng. Và do vậy, không chút tâm trạng. »
Vladimir Putin : Ukraina chỉ là « Tiểu Nga »Sự thiếu kiên nhẫn đó có lẽ phần nào phản ảnh tâm trạng hụt hẫng của Donald Trump khi nhận ra rằng ông không dễ chấm dứt chiến tranh « trong vòng 24 giờ » như tuyên bố khi vận động tranh cử. Ngày 04/06/2025, sau cuộc điện đàm với đồng nhiệm Nga Vladimir Putin, tổng thống Trump thừa nhận sẽ không có « hòa bình tức thì » giữa Kiev và Matxcơva.
Một sự thật hiển nhiên và chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Ông Brian Whitmore, nhà nghiên cứu, giáo sư trường đại học Texas – Arlington, trên trang Atlantic Council ngày 29/05/2025, từng viết là sẽ « không có một thỏa thuận nào với Nga về Ukraina. Điều đó chưa bao giờ có và sẽ chẳng bao giờ có ».
Đơn giản là vì, theo ông, không có một công thức kỳ diệu nào, không một nhượng bộ hay một sự mặc cả lớn nào có thể thỏa mãn những mục tiêu tối đa và mang tính tiêu diệt của điện Kremlin : Chấm dứt chủ quyền, quốc gia và nhà nước Ukraina. Trong khi Ukraina muốn tiếp tục tồn tại như một quốc gia có chủ quyền độc lập. Do vậy, không có một sự thỏa hiệp nào là khả thi.
Trong một cuộc trao đổi với đồng nhiệm Mỹ, tổng thống Putin đã tuyên bố mọi giải pháp cho cuộc xung đột phải xử lý điều mà ông gọi là « nguồn cội sâu xa của xung đột ». Nói một cách cụ thể, đó là sự tồn tại của Ukraina như là một quốc gia có chủ quyền, điều mà từ lâu ông Putin coi là đáng nguyền rủa.
Tại thượng đỉnh NATO ở Bucarest, Bulgari năm 2008, trước sự hiện diện của đồng nhiệm Mỹ lúc bấy giờ là George W. Bush, tổng thống Nga đã nói rằng « Ukraina thậm chí không phải là một quốc gia », mà chỉ là một « Tiểu Nga » như nhiều lần ông nói đến. Đây là một thuật ngữ được sử dụng dưới thời Sa hoàng để mô tả vùng lãnh thổ Ukraina. Vẫn theo ông Whitemore, « đối với ông Putin và giới tinh hoa điện Kremlin, sự thống trị thuộc địa Nga đối với Ukraina là một vấn đề tư tưởng không thể đàm phán ».
Quyết tâm chinh phục Ukraina của Nga đã được một trong những nhà tư tưởng Nga thân cận với Putin, Vladimir Medinsky, thể hiện rõ qua tuyên bố « Nga sẵn sàng chiến đấu mãi mãi » và không quên nhắc lại cuộc chiến tranh phương Bắc 1700 – 1721 chống Thụy Điển trong vòng 21 năm. Trong cuộc đàm phán tại Istanbul gần đây, ông thách thức phái đoàn Ukraina : « Các người có thể sẵn sàng chiến đấu trong bao lâu ? ».
Kinh tế : Mắc xích yếu của Nga, mồi nhử Donald TrumpTuy nhiên, Nga cũng ý thức được rằng chiến tranh kéo dài, họ cũng trả giá đắt. Theo ước tính của Viện Nghiên cứu Chiến tranh Mỹ, trong vòng bốn tháng đầu năm 2025, cứ mỗi một cây số vuông đất Ukraina chiếm được, Nga mất gần như 100 quân.
Với nhịp độ này, Nga sẽ phải mất đến gần 4 năm để chiếm hết phần còn lại của bốn vùng Donetsk, Luhansk, Zaporijia và Kherson mà Matxcơva đòi sáp nhập vào Nga, và có lẽ phải mất gần một thế kỷ để chiếm toàn bộ Ukraina, ngoại trừ các khu vực biên giới phía Tây nước này, với cái giá phải trả là 50 triệu thương vong, tương đương với khoảng 1/3 dân số Nga hiện nay.
Nền kinh tế Nga hiện tại gặp khó khăn nhưng vẫn chống chọi được với các biện pháp trừng phạt của phương Tây. Nhưng nếu kéo dài cuộc chiến, kinh tế của Nga chịu được sức ép trong bao lâu nếu phương Tây bền bỉ duy trì áp lực với Matxcơva ?
Trong điều kiện này, mục tiêu của điện Kremlin đối với Hoa Kỳ là tìm cách tách rời cuộc chiến với mối quan hệ Nga – Mỹ, bình thường hóa quan hệ song phương Matxcơva – Washington, và được nới lỏng trừng phạt. Tổng thống Nga Putin đưa « củ cà rốt », mời mọc Mỹ hợp tác khai thác đất hiếm. Ông tuyên bố mối quan hệ hợp tác kinh tế mới giữa Mỹ và Nga sẽ có lợi hơn cho đôi bên, nhất là trong lĩnh vực năng lượng nếu như « lệnh trừng phạt được dỡ bỏ »…
Những ý tưởng mà ông Trump có vẻ như không muốn bỏ lỡ. Nguyên thủ Mỹ bày tỏ ý muốn thiết lập quan hệ kinh tế bình thường với Matxcơva. Đây có lẽ sẽ là một sai lầm, bởi vì điều đó sẽ giúp mang lại cho ông Putin chút dưỡng khí để tiếp tục cuộc chiến tại Ukraina. Thực tế trên chiến trường cũng đã cho thấy rõ : Bất chấp các cuộc đàm phán, Nga gia tăng oanh kích bắn phá các thành phố của Ukraina.
Theo phân tích từ cựu đại sứ Pháp Pierre Lévy, trên đài RFI, « tổng thống Nga vẫn chưa đi chệch mục tiêu ban đầu của mình, đó là phá vỡ chủ quyền của Ukraina và đi đến cùng các mục tiêu của mình. Nói một cách đơn giản, trong phương trình này, ông phải cẩn trọng để cho ông Trump không hoàn toàn phải xa lánh. Ông ấy có thể điều khiển ông Trump, sao cho người đồng cấp vẫn hiện diện ở đó. Và đến một lúc nào đó thì ông Putin sẽ chuyển qua bước tiếp theo … »
Ukraina : Chống trả hay đầu hàng, chọn lựa sinh tửĐây cũng là điều khiến nhà sử học, giáo sư Laurence Saint-Gilles, trường đại học Sorbonne, Pháp lo lắng. Trái với Ronald Reagan, vị tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ giai đoạn 1981 – 1989, chỉ bắt đầu đàm phán với Matxcơva sau khi đã tái lập đươc thế ưu việt chiến lược của Mỹ, tổng thống Trump đã vội vàng đồng ý ngay lập tức hầu hết các yêu cầu của đồng nhiệm Nga trước khi bắt đầu đàm phán, biến câu nói « hòa bình thông qua sức mạnh » thành « hòa bình thông qua đầu hàng ».
Về phía Ukraina, bất chấp màn hạ nhục trước ống kính quốc tế tại Phòng Bầu Dục và những dọa dẫm cắt viện trợ quân sự, tổng thống Trump không nhận được sự nhượng bộ nào từ Kiev để có thể nhanh chóng đi đến một lệnh ngừng bắn, mở đường cho đàm phán hòa bình.
Nhà nghiên cứu Brian Whitemore dẫn nhận định từ nhà chính trị học Ukraina Anton Shekhovtsov đưa ra hồi trung tuần tháng 5/2025, nêu lên một thực tế cay đắng : « Ukraina phải chọn giữa chống trả và nguy cơ bị giết, hay đầu hàng và bị giết. Bằng cách chống trả, Ukraina có một cơ hội, nhưng nếu đầu hàng, họ sẽ không có cơ hội nào và do vậy, việc đầu hàng không phải là một giải pháp khả thi. »
Trong hoàn cảnh này, các nước Pháp, Anh, Đức và khối Liên Hiệp Châu Âu nỗ lực gia tăng viện trợ cho Ukraina và ban hành một loạt trừng phạt mới nhắm vào Nga. Thủ tướng Đức Friedrich Merz gần đây dỡ bỏ giới hạn tầm bắn đối với vũ khí Đức cung cấp cho Ukraina, buộc Matx cơva phải lên tiếng cảnh báo đó là « một quyết định nguy hiểm ».
Dù vậy, ông Brian Whitemore cảnh báo một trong những thách thức lớn nhất trong tương lai là châu Âu có sẽ vượt qua được những chia rẽ trong nội bộ, nhất là từ các nước Hungary và Slovakia, và có thể cung cấp được vũ khí cho Ukraina hay không.
Donald Trump có thoát được bóng Putin ?Về phía Washington, các nước đồng minh châu Âu của Ukraina và giới quan sát đều có một câu hỏi : Liệu Donald Trump có thoát được chiếc bẫy Nga để ban hành loạt trừng phạt mới hay không, với hy vọng có thể chặn đứng được tham vọng bành trướng của Matxcơva và đi đến đàm phán hòa bình ?
Nhà sử học Laurence Saint-Gilles trên La Croix lưu ý thêm rằng, nếu như những quyết định của Nhà Trắng cho đến lúc này làm hài lòng một bộ phận cử tri thân Nga, chống viện trợ cho Ukraina, thì Donald Trump khó thể phớt lờ một bộ phận lớn người dân Mỹ ủng hộ Ukraina và xem Nga như là một kẻ thù.
Đây không phải lần đầu tiên Donald Trump bày tỏ bất bình công khai với đồng cấp Nga Vladimir Putin, nhưng không ai có thể đoán đâu là phạm vi hành động của ông. Theo quan điểm Laurence Saint-Gilles, tổng thống Trump rất có thể « núp bóng » sau một cuộc bỏ phiếu tại Thượng viện, vốn dĩ đã báo hiệu ý định áp đặt các lệnh trừng phạt mới đối với Nga và áp đặt mức thuế quan nặng đối với các quốc gia mua dầu, khí đốt và uranium của Nga.
Kết quả của cuộc bỏ phiếu này sẽ cho thấy những phản ứng gay gắt gần đây của Donald Trump chỉ là phản ứng cảm xúc, hay là khởi đầu của một cuộc giải thoát khỏi sự quyến rũ mà tổng thống Nga đang tác động lên ông!
Từ ngày 23-28/05/2025, tổng thống Pháp Emmanuel Macron công du ba nước Đông Nam Việt Nam, Indonesia, và Singapore. Giới quan sát cho rằng, bên cạnh các mục tiêu kinh tế, thương mại và đầu tư, chuyến công du này của nguyên thủ Pháp còn nhằm củng cố chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương mà Pháp vạch ra từ năm 2018.
Đông Nam Á có vai trò như thế nào trong chiến lược này của Paris ? Và Pháp có thể đem đến điều gì cho ASEAN ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên trường đại học Sư phạm Lyon.
----- ***** -----
RFI Tiếng Việt : Vì sao tổng thống Macron chọn đến thăm ba nước Việt Nam, Indonesia và Singapore ?
GV. Laurent Gédéon : Có lẽ chuyến thăm của tổng thống Emmanuel Macron nên được phân tích theo hai hướng : Thứ nhất là mối quan hệ gắn kết Pháp với mỗi nước trong ba quốc gia này với những đặc điểm riêng của từng nước, và thứ hai là cách thức mà các nước này hòa nhập vào tầm nhìn chung của Pháp về Ấn Độ - Thái Bình Dương.
Về quan hệ song phương với Việt Nam, trước hết cần lưu ý đây là chuyến thăm thứ năm của một tổng thống Pháp đến Việt Nam kể từ năm 1993 và sự kiện thể hiện sự gần gũi giữa hai nước. Pháp đã ký quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam năm 2013, mối quan hệ này đã trở thành Đối tác Chiến lược Toàn diện vào năm 2024 và điều đó minh chứng cho sự hội tụ giữa hai nước.
Trong bối cảnh tích cực này, có nhiều khả năng là Emmanuel Macron sẽ nỗ lực củng cố mối quan hệ song phương, nhất là trong các lĩnh vực không gian, hợp tác năng lượng và đường sắt.
Hợp tác trong các lĩnh vực quốc phòng và an ninh chắc chắn cũng sẽ được thảo luận. Tôi xin lưu ý là sự hợp tác này hiện tại dựa trên hai khía cạnh : Về mặt quân sự, chúng được thể hiện qua các chương trình đào tạo (chủ yếu là về quân y ) và các chuyến viếng thăm thường xuyên của các quan chức cao cấp quốc phòng của hai nước.
Về mặt chiến lược, mối quan hệ này được đặc trưng bởi cuộc đối thoại song phương, tập trung vào các vấn đề an ninh khu vực, nhất là ở Biển Đông, khu vực Pháp ủng hộ tự do hàng hải và luật pháp quốc tế.
Về quan hệ song phương Pháp và Singapore, hai nước đã tăng cường quan hệ trong những năm gần đây, qua các cuộc trao đổi cấp cao, bao gồm cả chuyến thăm Pháp của thủ tướng Singapore vào năm 2024. Trên bình diện quân sự, Pháp cũng có mặt, bởi vì nước này là nhà cung cấp vũ khí lớn thứ hai cho Singapore và cả hai nước hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực công nghệ và quốc phòng. Nhìn chung, điều không thể phủ nhận là Singapore, với tư cách là trung tâm tài chính và công nghệ lớn ở châu Á, được coi là một đối tác chiến lược quan trọng đối với Pháp.
Cuối cùng, liên quan đến Indonesia, chúng ta nên nhớ rằng đây còn là quốc gia Đông Nam Á lớn nhất, một thành viên có ảnh hưởng của ASEAN và là quốc gia nắm giữ vai trò trung tâm trong chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương. Hẳn quý vị còn nhớ là gần đây, vào ngày 226/03/2025, Jean-Noël Barrot ngoại trưởng Pháp đã đến thăm Jakarta trong khuôn khổ vòng công du châu Á bốn ngày đưa ông đến cả Trung Quốc và Singapore.
Nhân dịp này, hai nước đã ký một thỏa thuận nhằm cải thiện an ninh hàng hải trong khu vực có tên là « Dự án An ninh Cảng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương » (Indo-Pacifc Port Security Project), tập trung vào việc bảo đảm an ninh cho các cảng Jakarta và Surabaya.
Rồi còn có mối hợp tác quân sự giữa Pháp và Indonesia đã được tăng cường trong những năm gần đây, chúng ta có thể nghĩ ngay đến việc Indonesia đặt mua 42 chiến đấu cơ Rafale vào năm 2024 cũng như mua hai tầu ngầm Scorpène Evolved của Pháp.
Nếu nhìn một cách tổng quát, cả ba nước này đều giáp Biển Đông và thêm vào đó, Singapore và Indonesia còn giáp với eo biển Malacca, do vậy ở đây còn có giá trị chiến lược của eo biển Malacca. Trong cả ba trường hợp, chúng ta thấy rằng Pháp đang phát triển mối quan hệ kinh tế và quân sự với các đối tác của mình và điều này chắc chắn sẽ củng cố năng lực gây ảnh hưởng gián tiếp của Paris trong khu vực.
Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh là Biển Đông không phải là trung tâm không gian Ấn Độ - Thái Bình Dương của Pháp, mà là nằm rìa « chân trời địa chiến lược » của Pháp. Bởi vì lợi ích của Pháp tập trung xa hơn về phía tây nam, xung quanh các vùng lãnh thổ thuộc chính quốc Pháp như Nouvelle Calédonie, Polynesie thuộc Pháp, đảo Réunion…).
Do vậy, tôi nghĩ rằng trong hợp tác quân sự giữa Pháp và ba nước này, rất khó phân biệt điều gì mang tính đơn thuần kinh tế, như bán vũ khí và điều gì là một phần trong tầm nhìn địa chính trị của Paris. Đây là một vấn đề cần theo dõi, nhất là khi xét đến sự biến đổi vị thế trong mối liên hệ với Bắc Kinh và cuộc cạnh tranh Mỹ - Trung.
Dù vậy, Pháp cũng nhìn nhận vai trò chủ chốt của ASEAN trong chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương của mình. Paris trông đợi điều gì từ Đông Nam Á ?
GV. Laurent Gédéon : Như chúng ta đã thấy, Pháp tự coi mình là một cường quốc ở Ấn Độ - Thái Bình Dương với những vùng lãnh thổ nằm rải rác trên một phần khu vực này. Trong mọi trường hợp, Paris tìm cách khẳng định sự hiện diện ở đó theo hướng cân bằng và mang tính xây dựng theo các nguyên tắc của chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương mà Pháp công bố năm 2018.
Trong bối cảnh này, Đông Nam Á mặc dù không phải là trung tâm đối với Paris nhưng vẫn được xem là một khu vực quan trọng cho vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, bởi vì nơi đây đang là đối tượng cạnh tranh gay gắt giữa một số cường quốc trong và ngoài khu vực, tất nhiên là giữa Mỹ và Trung Quốc, nhưng còn có cả Ấn Độ, Nhật Bản, Úc và thậm chí cả Nga.
Pháp chăm chút duy trì các mối quan hệ tốt đẹp với ASEAN và đã trở thành đối tác phát triển chính thức từ năm 2020. Một quy chế hữu ích cho phép đối thoại thường xuyên về mọi chủ đề. Paris xem ASEAN như là một đối tác thiết yếu trong việc thúc đẩy cách tiếp cận đa phương và toàn diện trong bối cảnh khu vực có nhiều căng thẳng gay gắt, đặc biệt là ở Biển Đông.
Đối với Paris, tầm nhìn chung với ASEAN được thể hiện qua sự tôn trọng luật pháp quốc tế, mong muốn thúc đẩy đối thoại đa phương và từ chối tham gia vào lô-gic đối đầu giữa các khối. Rõ ràng sự hội tụ quan điểm này đang tạo thuận lợi cho hợp tác giữa hai bên và mang đến cho Pháp cơ hội phát triển ảnh hưởng của mình trong khu vực một cách kín đáo, tránh đưa ra một lập trường có thể bị coi là quá đột ngột trong cuộc cạnh tranh đang diễn ra. Chính trong lô-gic này mà Paris thúc đẩy tự do hàng hải và ủng hộ vai trò trung gian của ASEAN trong xung đột ở Biển Đông.
Cuối cùng, ngoài khía cạnh an ninh và địa chiến lược, cần lưu ý rằng ASEAN còn là một thị trường tiềm năng quan trọng đối với Paris do tính năng động về kinh tế và tổng GDP vượt quá 3.500 tỷ đô la. Để phát triển quan hệ kinh tế, Pháp có thể dựa vào các Hiệp định Tự do Mậu dịch được ký giữa Liên Hiệp Châu Âu với một số nước trong vùng, chẳng hạn như giữa EU với Việt Nam hồi năm 2020.
Tại một khu vực đang bị giằng xé giữa hai cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc, một cường quốc bậc trung như Pháp sẽ khẳng định vị thế của mình bằng cách nào ? Pháp có thể mang lại điều gì cho Đông Nam Á trong bối cảnh căng thẳng Mỹ - Trung ?
GV. Laurent Gédéon : Theo tôi, Pháp có nhiều điểm mạnh có thể giúp củng cố uy tín và tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực.
Trước hết, trên bình diện ngoại giao, Pháp thể hiện như là một cường quốc độc lập, cả với Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ, ngay cả khi có sự hội tụ địa chính trị thực sự giữa Paris và Washington. Đó còn là một cường quốc thúc đẩy đối thoại và cân bằng, đồng thời muốn tỏ ra thực tiễn và không áp đảo. Việc Paris từ chối lô-gic khối liên minh giúp Pháp thúc đẩy một trật tự quốc tế đa phương, dựa trên sự tôn trọng các quy tắc của luật quốc tế thay vì là một trật tự dựa trên thế tương quan lực lượng.
Tiếp đến, về mặt an ninh, Pháp muốn chứng tỏ là một cường quốc đáng tin cậy mà các nước trong khu vực có thể dựa vào để củng cố quyền chủ quyền mà không lo lắng bị thao túng theo cách này hay cách khác. Để đạt được điều dó, Paris phát triển chương trình hợp tác quân sự như đề cập ở trên với các nước thành viên của ASEAN, như thao dợt quân sự chung, chống khủng bố và cướp biển, an ninh mạng v.v…. Pháp còn thường xuyên nhấn mạnh đến sự tối thượng của luật quốc tế, nhất là về hàng hải, như được quy định bởi Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.
Trong bối cảnh này, ASEAN là một tác nhân chủ chốt cho Paris, vốn dĩ cũng đang làm nổi bật tầm quan trọng của minh trong kiến trúc khu vực. Về mặt lô-gic, Pháp ủng hộ tất cả các cơ chế khu vực theo sáng kiến của tổ chức, như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum – ARF) hay Thượng đỉnh Đông Á (East Asia Summit – EAS). Nhìn chung, lập trường của Pháp có vẻ quan trọng cho Đông Nam Á, bởi vì điều đó góp phần củng cố vị thế của ASEAN như là một tác nhân ngoại giao khu vực đáng tin cậy và thiết yếu trước những tham vọng của các đại cường.
Tuy nhiên, ở đây có một điểm đáng chú ý : Lập trường của Paris, kiên quyết theo quan điểm của Mỹ ngay từ đầu cuộc xung đột Ukraina trong bối cảnh vẫn còn nhiều cơ hội ngoại giao và địa chính trị song hành, có thể đã làm dấy lên nhiều nghi vấn ở Đông Nam Á và hạn chế các nỗ lực của Pháp để khẳng định mình là một cường quốc cân bằng trong khu vực. Rủi ro có khả năng sẽ xuất hiện, đặc biệt trong trường hợp căng thẳng Mỹ - Trung trở nên nghiêm trọng, khi mà đối với một số nước, Pháp cuối cùng rồi cũng sẽ ngả theo Mỹ.
Bất chấp các nỗ lực ngoại giao được triển khai, mức trao đổi thương mại giữa Pháp và các nước Đông Nam Á vẫn khá khiêm tốn. Nhiều nguyên nhân được nêu ra, chẳng hạn như Pháp thiếu hoặc có nguồn lực hạn chế để hỗ trợ tài chính cho cơ sở hạ tầng quy mô lớn hay cung cấp thiết bị quân sự. Ông có đồng tình với nhận định này ? Liệu chuyến đi Đông Nam Á của tổng thống Macron có thể bù đắp sự chậm trễ này, bất chấp những khó khăn nội tại về kinh tế và chính trị ?
GV. Laurent Gédéon : Tôi cho rằng chúng ta có lẽ nên tìm hiểu nguyên nhân khiến sự hiện diện của Pháp ở khu vực này còn khá khiêm tốn, đúng là có thực và khá tương đối trong việc thiếu ý chí chính trị mạnh mẽ và theo cách tương ứng, là thiếu tầm nhìn toàn diện rõ ràng, cũng như một chiến lược dài hạn của Paris tại Đông Nam Á.
Tuy nhiên, quan sát này cần phải được xem xét kỹ bởi lẽ sự hiện diện và ảnh hưởng của Pháp thay đổi tùy theo quốc gia và lĩnh vực, nhưng có một cảm giác chung là Pháp không có tầm nhìn địa chiến lược tập trung vào vùng Đông Nam Á và có thể hội nhập vào tầm nhìn rộng lớn hơn.
Chuyến thăm của tổng thống Macron quả thực có thể là cơ hội để tái thúc đẩy động lực ngoại giao và kinh tế của Pháp trong vùng, bởi vì Paris có nhiều lợi thế để quảng bá bên cạnh các đối tác châu Á.
Ví dụ, các doanh nghiệp Pháp chuyên về cơ sở hạ tầng, không gian, vận tải, nông nghiệp bền vững, môi trường, y tế và sức khỏe, chuyển đổi năng lượng … nhìn chung tất cả những tác nhân có liên quan đến công nghệ cao và đổi mới sáng tạo đều hiện có những cơ hội thực sự.
Đây chính là những gì tổng thống Pháp có thể nỗ lực đưa ra để làm nổi bật các lợi ích của mối hợp tác song phương dài hạn theo lô-gic đôi bên cùng có lợi, chứ không nhằm mục đích thuần túy khai thác tài nguyên.
Chúng ta cũng có thể nhắc đến lĩnh vực giáo dục mà Pháp có một thế mạnh thực sự và sở hữu nhiều lá chủ bài đáng kể, qua việc quảng bá văn hóa Pháp thông qua Cộng đồng Pháp ngữ, tiếp nhận sinh viên Đông Nam Á và hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Từ vài năm gần đây, Pháp tìm cách xích lại gần các cơ chế quân sự của ASEAN, nhất là ADMM+. Hiện tại, Pháp tham dự với tư cách là quan sát viên. Pháp được lợi gì khi tham gia vào cơ chế quân sự này ? Và điều gì còn cản trở Paris trở thành thành viên chính thức của nhóm ? Liệu chuyến công du này của ông Macron có thể mở ra một cơ hội cho Pháp gia nhập ADMM+ ?
GV. Laurent Gédéon : Pháp thực sự đang tìm cách tăng cường tham gia vào các diễn đàn an ninh khu vực ở châu Á, nhưng nước này vẫn chưa là thành viên chính thức của ADMM+, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng (ASEAN Defence Ministers’ Meeting Plus). ADMM+ tập hợp 10 nước thành viên ASEAN cùng với 8 đối tác đối thoại toàn diện bao gồm các nước Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc, New Zealand, Nga và Hoa Kỳ.
Lý do vì sao Pháp chưa phải là thành viên của ADMM+ có liên quan đến thực tế là cơ chế này ngay từ đầu đã giới hạn ở 18 thành viên. Trên thực tế, ADMM+ được thiết kế ngay từ lúc đầu chỉ bao gồm 10 nước thành viên ASEAN và 8 « đối tác đối thoại chiến lược toàn diện » với mục tiêu duy trì sự cân bằng địa chính trị mong manh, nhất là giữa các đại cường Mỹ, Trung Quốc, Nga… Những quy chế hiện nay không dự trù một sự mở rộng nào trừ khi có sự đồng thuận rõ ràng của tất cả các thành viên ASEAN. Nói cách khác, việc mở rộng như vậy đòi hỏi sự nhất trí của 10 thành viên ASEAN.
Hiện tại, trong bối cảnh căng thẳng khu vực, một số quốc gia thành viên, đặc biệt là những nước thân cận với Bắc Kinh, không ủng hộ việc đưa thêm một cường quốc mới vào diễn đàn này, nhất là một thế lực châu Âu, gần gũi với khối phương Tây, vì họ cho rằng động thái này sẽ làm thay đổi thế cân bằng cần thiết cho cuộc đối thoại đang diễn ra.
Thêm vào đó, Pháp không phải là đối tác đối thoại chính thức của ASEAN, mà là Đối tác Phát triển Bền vững kể từ năm 2020, một vị thế quan trọng nhưng khác với « Đối tác đối thoại toàn diện ». Điều cần lưu ý là tất cả các thành viên hiện tại của ADMM+ đều là « Đối tác đối thoại toàn diện ».
Nhưng nhờ vào các hoạt động quân sự và ngoại giao trong khu vực, Pháp không hoàn toàn vắng bóng trong định chế này, ngay cả khi không có ghế chính thức ở đó. Ví dụ, Pháp tham gia vào nhiều nhóm làm việc chuyên gia phụ thuộc vào ADMM+ với tư cách là quan sát viên hay khách mời tùy từng trường hợp. Pháp cũng tiến hành các cuộc tập trận chung với nhiều nước thành viên ASEAN và phát triển nhiều thỏa thuận quốc phòng song phương với một số nước trong vùng như Indonesia, Singapore hay Việt Nam.
Để tiến xa hơn, Paris chắc chắn sẽ phải tăng cường và mở rộng hợp tác quân sự với các nước thành viên ASEAN để tạo hiệu ứng lan tỏa trong khi vẫn nhấn mạnh đến lập trường hợp tác và không xâm phạm của Paris. Chiến lược này có thể sẽ dẫn đến việc, trong dài hạn, ASEAN xem xét lại lập trường của họ hiện nay và trao cho Pháp quy chế đối tác đối thoại đầy đủ của ASEAN, cho phép nước này có thể nộp đơn xin gia nhập ADMM+.
Singapore sẽ là điểm nhấn của vòng công du Đông Nam Á của tổng thống Macron. Tại đây, ông được mời tham dự và có bài phát biểu khai mạc Diễn đàn An ninh Shangri-La. Tổng thống Pháp sẽ đưa ra thông điệp gì cho các nước Đông Nam Á ?
GV. Laurent Gédéon : Theo tôi, Emmanuel Macron có thể nhấn mạnh một số điểm trong bài phát biểu này. Ông sẽ có thể trình bày quan điểm của Pháp về các cuộc xung đột toàn cầu và nhấn mạnh cam kết của Pháp đối với hợp tác quốc tế và một nền thương mại quốc tế dựa trên các quy tắc chứ không phải dựa trên sự cân bằng quyền lực.
Ông ấy cũng có thể làm nổi bật độ độ tin cậy và sự ôn hòa của Pháp và Liên minh châu Âu, trái ngược với những quốc gia sử dụng ngôn từ đe dọa hoặc tấn công nhiều hơn, chẳng hạn như Hoa Kỳ trong cuộc chiến thuế quan, hoặc Trung Quốc với những phát biểu có liên quan đến Biển Đông. Do đó, việc Pháp gắn bó với một hệ thống quan hệ quốc tế dựa trên chủ nghĩa đa phương, hợp tác và tuân thủ các quy tắc có thể được coi là một mô hình đối trọng hấp dẫn và là giải pháp thay thế cho logic của những người thúc đẩy chính sách ngoại giao mang tính cưỡng chế và trừng phạt hơn.
RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên trường Sư phạm Lyon.
Xung đột vũ trang bùng lên đầu tháng 5/2025 giữa Ấn Độ và Pakistan, sau vụ tấn công khủng bố khiến hơn 20 du khách Ấn Độ thiệt mạng tại vùng lãnh thổ tranh chấp ở Kashmir. Ấn Độ tiến hành chiến dịch Sindoor để trả đũa, với cáo buộc Islamabad đồng lõa. Trong đụng độ Ấn Độ - Pakistan vừa qua, có một quốc gia khác được nhắc đến nhiều: Trung Quốc. Câu hỏi mà nhiều người đặt ra là : Có phải Trung Quốc là bên hưởng lợi chính từ xung đột Ấn Độ - Pakistan ?
Lần đầu tiên vũ khí tân tiến do Trung Quốc sản xuất đọ sức trên quy mô lớn với vũ khí hiện đại phương Tây. Nhưng các lợi ích mà Bắc Kinh thu được không chỉ là vũ khí.
***
Trong cuộc xung đột diễn ra từ đêm ngày 06 qua ngày 07/05/2025, theo truyền thông quốc tế, hai bên đã sử dụng tổng cộng 125 phi cơ chiến đấu tham chiến trong vòng hơn một giờ đồng hồ. Đây được coi là một trong những cuộc không chiến lớn nhất trong lịch sử quân sự thế giới từ nhiều thập niên nay, theo đài Mỹ CNN. Không quân Ấn Độ chủ yếu sử dụng các loại máy bay chiến đấu do Pháp sản xuất như Rafale và Mirage và của Nga, như Su-30MKI và Mig-29. Phía Pakistan là các tiêm kích F-16 của Mỹ và các chiến đấu cơ JF-17 và J-10C của Trung Quốc.
Chống vũ khí tân tiến phương Tây : Lần đầu tiên vũ khí Trung Quốc thực chiến trên quy mô lớnTrả lời AFP, nhà nghiên cứu Siemon Wezeman, Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (Sipri), nhận định đây là « lần đầu tiên kể từ thập niên 1980, một nước sử dụng một số lượng lớn vũ khí Trung Quốc với nhiều chủng loại khác nhau giao chiến với một nước khác ». Theo Islamabad, quân đội Pakistan trong cuộc đọ sức này đã bắn hạ 5 phi cơ đối thủ, trong đó có « ba chiến đấu cơ Rafale » Pháp sản xuất. Phía Ấn Độ xác nhận có tổn thất, nhưng không cho biết cụ thể.
Các phương tiện truyền thông thân Bắc Kinh quảng bá rầm rộ cho chiến thắng này. Trang Asia Times có bài « Trung Quốc là bên giành thắng lợi lớn nhất trong trận không chiến Ấn Độ -Pakistan » (ngày 21/05/2025), thuật lại một cách hào hứng không khí chiến thắng với đoạn mở đầu như sau « những tiếng reo hò hân hoan nhất » là dành để « chào mừng các phi công Pakistan, lái máy bay phản lực do Trung Quốc chế tạo, bắn tên lửa PL-15 đầy uy lực, được cho là giúp bắn hạ 6 phi cơ chiến đấu của Ấn Độ, do Pháp và Nga chế tạo. Trung Quốc ăn mừng chiến tích của Pakistan. »
Thực đơn Không quân Pakistan : « bánh mỳ nướng Pháp » và « sa lát Nga »Asia Times cho biết, để nhạo báng Ấn Độ và tuyên truyền cho chiến thắng, Không Quân Pakistan (PAF) đưa lên mạng bức ảnh chụp thực đơn « Bữa sáng của sĩ quan phòng không », với hai món « bánh mỳ nướng kiểu Pháp » và « sa lát Nga », ngụ ý các phi cơ của Ấn Độ bị bắn hạ rạng sáng ngày mùng 7 tháng 5.
Đài Pháp France 24 có bài mô tả không khí phấn khích trên các mạng xã hội Trung Quốc như Weibo, sau khi Islamabad loan tin. Nhà sản xuất phi cơ Rafale, tập đoàn Dassault Aviation, không trả lời đề nghị bình luận của France 24. Việc các cơ sở liên quan của Pháp im lặng dường như xác nhận độ tin cậy của các tin tức loan tải. Theo một phân tích của Washington Post, do ba chuyên gia về đạn dược thực hiện, những hình ảnh được kiểm chứng tại địa điểm rơi máy bay cho thấy các mảnh vỡ « tương thích với ít nhất hai máy bay chiến đấu do Pháp sản xuất mà Không quân Ấn Độ sử dụng, bao gồm một chiếc Rafale và một chiếc Mirage 2000 ».
Trung Quốc : Ít nhất là chiến thắng về hình ảnh trên truyền thôngKhông quân Pakistan chế giễu Ấn Độ đã lãng phí tiền bạc cho « giấc mơ 9 tỉ đô la » mua vũ khí phương Tây mới đây. Pakistan, quốc gia đồng minh của Mỹ, nhưng sử dụng nhiều vũ khí của Trung Quốc trong thời gian gần đây (với hơn 80% lượng nhập khẩu từ 2020 đến 2024, theo Sipri), hoan hỉ với chất lượng vũ khí Trung Quốc. Theo Asia Times, vũ khí Trung Quốc sẽ không những được Pakistan mua nhiều hơn, mà còn thu hút cả Ai Cập, Iran hay Ả Rập Xê Út, sau trận thực chiến vừa qua.
Mặc dù vẫn còn quá sớm để « rút ra kết luận », chuyên gia về Trung Quốc Carlotta Rinaudo, thuộc Nhóm nghiên cứu an ninh quốc tế (ITSS) Verona, được France 24 dẫn lại, tin rằng đây quả là « một chiến thắng lớn cho Trung Quốc về mặt hình ảnh, đặc biệt là đối với một quốc gia mà về mặt lý thuyết, chưa từng tiến hành chiến tranh kể từ cuộc chiến tranh với Việt Nam năm 1979 và vũ khí của họ không có danh tiếng như vũ khí của Pháp hay của Mỹ ».
Mắt xích chính của « Con đường tơ lụa mới » ở Nam Á: Quân đội Pakistan được lên dây cót tinh thần…Một lợi thế khác với Trung Quốc qua xung đột này là uy tín của Quân đội Pakistan bất ngờ được phục hồi. Pakistan là đối tác số một của Trung Quốc tại khu vực, và là mắt xích chính của Con đường Tơ lụa mới của Trung Quốc tại Nam Á, nơi Bắc Kinh đã bỏ ra hàng chục tỉ đô la đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Uy tín của Quân đội Pakistan khởi sắc, Bắc Kinh ắt hẳn hoan hỉ. Ngày 10/05, ngày chấm dứt chiến sự với Ấn Độ kể từ giờ trở thành một ngày lễ tại Pakistan. Chính quyền Pakistan muốn tranh thủ cơ hội này cổ vũ cho Quân đội, mà uy tín vốn bị sụt giảm mạnh từ nhiều năm nay.
Phóng sự của đặc phái viên Sonia Ghezali gửi về từ Islamabad :
« Pakistan muôn năm ! Bọn trẻ hét vang khi gặp nhau trên đường phố. Chúng được người lớn xung quanh cổ vũ. Đây là một cảnh tượng thường thấy trong những ngày qua ở đất nước này. Những biểu ngữ mang màu xanh lá cây, màu cờ của Pakistan đã trở thành hình nền của một số ứng dụng trên điện thoại di động, một số chương trình truyền hình và một số tài khoản trên mạng xã hội.
Pakistan tự coi mình là bên chiến thắng trong cuộc xung đột vừa qua với Ấn Độ. Quân đội Pakistan - vốn mất đi hào quang trong những năm gần đây, bị chỉ trích và bị cáo buộc liên quan đến những mờ ám về chính trị - nay lại được tôn vinh.
Ali, một người đàn ông đứng tuổi, sống ở Islamabad, lưu ý rằng cách nhìn đã thay đổi đối với Quân đội. Ông nói : ‘‘Đã có thời điểm, Quân đội mất đi một số lợi thế trong việc giành được sự ủng hộ từ người dân Pakistan. Nhưng giờ đây, Quân đội được ủng hộ mạnh mẽ. Quân đội đã giành lại được trái tim của người dân Pakistan. Tôi đã bảo các con tôi phải tôn trọng quân đội, tôn trọng những người đang trong quân ngũ, để bảo vệ chúng ta và bảo vệ đất nước’’.
Lòng yêu nước đang mạnh mẽ hơn bao giờ hết ở Pakistan, nơi mà cho đến gần đây người dân vẫn tỏ ra ngờ vực chính quyền. »
… nhưng tình hình có thể sớm đảo chiềuTrong một bài trả lời báo Ấn Độ The New Indian Express, bà Christine Fair, giáo sư Đại học Georgetown (Mỹ), một chuyên gia về chính trị Nam Á, xác nhận việc trước vụ tấn công khủng bố ở Kashmir và chiến dịch trả đũa « Sindoor », tổng tham mưu trưởng Lục quân Asim Munir và Quân đội Pakistan mất uy tín nặng nề đặc biệt do việc đàn áp cựu thủ tướng Imran Khan. Tuy nhiên, chuyên gia Nam Á Christine Fair cũng nhấn mạnh là cho dù xung đột vừa qua có thể lấy lại một phần thiện cảm của dân chúng và lên dây cót tinh thần cho quân đội Pakistan, nhưng tình hình có thể xoay chuyển theo chiều hướng ngược lại trong những tháng tới.
Đó là chưa kể xét về tương quan lực lượng, quân đội Ấn Độ vẫn mạnh hơn nhiều, và trong cuộc đụng độ vừa qua, New Delhi đã nâng ngưỡng tấn công trả đũa khủng bố, với việc oanh kích thẳng vào một số cơ quan quân sự đầu não của Pakistan. Theo báo chí Ấn Độ, trong cuộc chiến chớp nhoáng 4 ngày này, quân đội Ấn Độ đã dùng tên lửa Brahmos tấn công 8 căn cứ không quân chính của Pakistan, trong đó có sân bay Nur Khan, cách thủ đô Islamabad chỉ 10 cây số, và dùng drone tấn công Bộ tư lệnh Quân đội Pakistan, Sở Kế hoạch Chiến lược (SPD), phụ trách bảo vệ các cơ sở vũ khí hạt nhân, một căn cứ của cơ quan Tình báo phụ trách Kashmir (trang Hindustan Times, ngày 16/05/2025).
Chiến tranh Ấn – Pakistan có thể khiến nhiều « nước dao động » Nam Á ngả về Trung QuốcVề vị thế của Trung Quốc sau cuộc chiến 4 ngày Ấn Độ và Pakistan, một số chuyên gia chú ý đến việc hàng loạt quốc gia « dao động » (swing states) tại khu vực Nam Á, như Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Bhutan và Maldives, có thể điều chỉnh chiến lược, và ngả hơn về phía Trung Quốc. Bài « How South Asia’s ‘swing states’ navigate India-Pakistan tensions » (Các quốc gia ‘dao động’ vùng Nam Á lèo lái ra sao trong bối cảnh căng thẳng Ấn Độ - Pakistan), của hai nhà nghiên cứu Rudabeh Shahid và Nazmus Sakib, đăng tải trên Atlantic Council (15/05/2025), nêu một số nhận định tổng quan đáng chú ý về 5 quốc gia nói trên.
Bangladesh, đa số dân cư theo đạo Hồi, đang trong quá trình chuyển tiếp chính trị gian nan, sau khi nhà lãnh đạo độc tài thân Ấn Độ Sheikh Hasina bị lật đổ. Lập trường chống Ấn Độ trong dân chúng có nguy cơ gia tăng, khiến chính quyền Dhaka có thể phải khẳng định lập trường độc lập nhiều hơn, và thậm chí đối lập với Ấn Độ. Bangladesh có thể sẽ phải chấp nhận để Trung Quốc đầu tư nhiều hơn vào các cơ sở hạ tầng của nước này.
Đảo quốc Sri Lanka cũng đang tiến trình phục hồi sau khủng hoảng kinh tế. Việc chính quyền Ấn Độ của thủ tướng Narendra Modi cổ vũ mạnh cho chủ nghĩa dân tộc Hindu, có thể thổi bùng lên chủ nghĩa dân tộc Phật giáo ở Sri Lanka. Liên minh giữa các lực lượng dân tộc chủ nghĩa Ấn giáo và dân tộc chủ nghĩa Phật giáo Sri Lanka có thể làm gia tăng thế đối đầu chống đạo Hồi tại Sri Lanka, làm tình hình nội bộ đảo quốc này thêm căng thẳng, khiến nỗ lực duy trì thế cân bằng chiến lược giữa Ấn Độ và Trung Quốc của Sri Lanka thêm khó khăn.
Bên cạnh các quan hệ quân sự mật thiết với Islamabad, Bắc Kinh cũng có chính sách về đập nước, khẳng định như là sức mạnh chính nghĩa, mang lại đảm bảo về nước cho Pakistan, hành động theo luật pháp quốc tế, chống lại chủ trương của Ấn Độ, dùng nước như một vũ khí trừng phạt đối thủ (theo chuyên gia về chính sách đối ngoại của Trung Quốc với khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, Sana Hashmi).
Tạo bất ổn, khiến Ấn Độ kém thu hút hơn với giới đầu tư nước ngoài ?Nhưng liệu Trung Quốc có thể kích động xung đột Ấn Độ -Pakistan để tiếp tục hưởng lợi ? Trả lời RFI, chuyên gia về Ấn Độ Olivier Da Lage nhấn mạnh, xung đột bùng phát dữ dội cũng gây tổn thất lớn cho Bắc Kinh :
« Về mặt địa chính trị, Trung Quốc hậu thuẫn Pakistan và không thể để Pakistan suy yếu quá một mức độ nhất định. Nhưng mặt khác, Trung Quốc cũng có lợi ích ở Ấn Độ, có lợi ích kinh tế rất lớn ở đây. Và cuối cùng, tại vùng biên giới bất ổn giữa Trung Quốc và Ấn Độ, đã có nhiều cuộc đụng độ trong những năm gần đây. Nhưng trong khoảng một năm trở lại đây, đã có một quá trình xích lại gần nhau rất đáng kể mà Trung Quốc không thể bỏ qua vào thời điểm mà một cuộc đối đầu lớn đang được chuẩn bị, có thể là với Mỹ. Trung Quốc sẽ thiệt hại rất nhiều nếu xung đột bùng nổ tại một khu vực sát sườn. »
Về vấn đề này, tại Ấn Độ cũng có quan điểm lo ngại là Bắc Kinh có thể hưởng lợi, khi không khí căng thẳng giữa Ấn Độ và Pakistan có thể làm nản lòng giới đầu tư nước ngoài trong bối cảnh dòng đầu tư đang có xu hướng chuyển một phần từ Trung Quốc sang Ấn Độ.
***
Tranh chấp về lãnh thổ giữa Ấn Độ và Pakistan bắt nguồn từ thời hai nước lập quốc, sau khi Anh Quốc chấm dứt chế độ thuộc địa. Các đối kháng, hận thù giữa người theo Hindu giáo và người Hồi giáo có xu hướng trỗi dậy mạnh mẽ trong bối cảnh đối đầu Mỹ - Trung ngày càng trở nên quyết liệt. Ấn Độ ngả nhiều hơn về phía Mỹ trong lúc Pakistan ngày càng gắn bó với Trung Quốc.
Xung đột chưa từng có Ấn Độ - Pakistan từ hơn hai thập niên, đặc biệt với cuộc không chiến lần đầu tiên vũ khí tối tân Trung Quốc đọ sức với vũ khí phương Tây, có thể mang lại một số lợi thế nhất định cho Trung Quốc, nhưng nhìn toàn cục, một xung đột bùng phát dữ dội tại đây sẽ phá vỡ thế cân bằng vốn đã mong manh của khu vực, ắt hẳn cũng không phải là điều có lợi cho Trung Quốc, theo nhiều nhà quan sát.
Trong vòng chưa đầy hai tuần đầu của tháng 5 năm nay, Liên Hiệp Châu Âu chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng. Tân thủ tướng Đức Friedrich Merz một ngày sau khi nhậm chức (06/05/2025), đã sang thăm Pháp và Ba Lan, để phục hồi quan hệ ba bên trong khuôn khổ Tam giác Weimar. Hai ngày sau (09/05), Pháp cùng Ba Lan ký Hiệp ước Nancy về an ninh- quốc phòng, và ngày 10/05, các lãnh đạo Đức, Pháp, Ba Lan, Anh đã tới Kiev ủng hộ tổng thống Volodymyr Zelensky yêu cầu Nga chấp nhận ngưng bắn.
Trong cục diện địa chính trị mới này, Ba Lan đóng vai trò như thế nào ?
---------- ***** ----------
Sự ra đời của Tam Giác WeimarTam giác Weimar, mà báo chí còn gọi là « Ủy ban Thúc đẩy Hợp tác Ba Lan với Pháp và Đức », được thành lập ở cấp ngoại trưởng ba nước vào tháng 8/1991 ở thành phố Weimar của Đức, nhằm tạo diễn đàn trao đổi, tư vấn cho Ba Lan khi đó vừa mới chọn cải tổ dân chủ đại nghị, kinh tế thị trường sau hơn 40 năm thuộc phe XHCN do Liên Xô lãnh đạo.
Đó là một giai đoạn có một không hai của lịch sử châu Âu hiện đại. Tam giác Weimar là sáng kiến ngoại giao nằm trong khuôn khổ một hội nghị lớn hơn : Hội nghị 2+4 vào tháng 3/1990, quyết định việc thống nhất nước Đức. Hai + bốn tức là bốn đại cường Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh và Pháp và hai nước Tây Đức và Đông Đức.
Đến tháng 7/1990, Ba Lan được mời tham gia, vì thiếu Ba Lan thì vấn đề biên giới mới của nước Đức thống nhất với Ba Lan khó có thể ổn định được châu Âu. Rồi còn có các cuộc đàm phán để đưa các sư đoàn quân đội Liên Xô đóng ở Ba Lan về nước, thực ra là về nước Nga thời tổng thống Boris Yeltsin và cuộc rút quân này phải đến năm 1992 mới hoàn tất.
Nhưng nói riêng về quan hệ Đức-Pháp-Ba Lan thì các cuộc họp trong khuôn khổ Tam giác Weimar có mục tiêu dùng mô hình hòa giải Pháp và Đức sau Thế Chiến II để giúp cho Ba Lan hòa giải với Đức, vì di sản của Thế Chiến II ở Ba Lan, quốc gia bị phát-xít Đức giết hàng triệu công dân, là rất nặng nề. Trong lĩnh vực này, Tam giác Weimar đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Sau đó, Tam giác Weimar giúp Ba Lan chuẩn bị hành lang pháp lý (hoạt động liên nghị viện từ 1992) và quân đội (từ 1997) để có thể gia nhập khối NATO (1999). Tức là các cuộc họp của Tam giác Weimar mở rộng từ ngoại giao sang cấp bộ trưởng quốc phòng, và sau đó thì giúp về tham vấn cải cách kinh tế cho tới khi Ba Lan gia nhập Liên Hiệp Châu Âu năm 2004.
Tam giác Weimar có nhiều hoạt động chung giữa ba nước với giải thưởng mang tên thi hào Ba Lan Adam Mickiewicz tặng cho các cá nhân, chính trị gia có công xây đắp quan hệ ba bên, giúp Ba Lan trở thành một quốc gia dân chủ, thành viên NATO và EU.
Tam Giác Weimar : Nỗi lo « hòa nhập mạnh là hòa tan »Sau giai đoạn 1 khi Ba Lan đã gia nhập NATO và EU, phe dân tộc chủ nghĩa ở Ba Lan không hài lòng và họ cho rằng “hòa nhập mạnh là hòa tan”. Năm 2006, tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski thuộc phe thiên hữu dân tộc chủ nghĩa Công giáo (nông thôn) đã từ chối dự họp với lãnh đạo Pháp và Đức. Tam giác Weimar coi như bị ngưng hoạt động. Phải đến năm 2011, khi ông Boleslaw Komorowski – thuộc phái ôn hòa, từng đến thăm Việt Nam – trở thành tổng thống, Tam giác Weimar mới được phục hồi hoạt động ở cấp cao nhất.
Tuy nhiên, càng về sau này thì Tam giác Weimar càng giảm đi ý nghĩa. Ví dụ sau khi vào EU, người dân Ba Lan được tự do đi lại, du học và đến làm việc ở Pháp, Đức, Hà Lan, Anh (trước Brexit)..., thì việc trao đổi sinh viên như trước đây không còn cần thiết nữa. Ngoài ra, Ba Lan đã ở trong bộ máy NATO do Hoa Kỳ lãnh đạo nên vai trò của Đức và Pháp cũng giảm đi.
Chiến tranh Ukraina: Sự hồi sinh Tam giác WeimarTừ sau khi Nga xâm lược Ukraina vào năm 2022, vai trò của Tam giác Weimar được phục hồi, vì các chuyển biến địa chính trị khiến Pháp và Đức phải tìm lại một “platform” hợp tác chặt chẽ, mang tính nòng cốt với Ba Lan, nước đóng vai trò căn cứ hậu cần cho phe NATO cung cấp vũ khí sang Ukraina chống Nga.
Người ta nay nói đến Tam giác Weimar +, với ý tưởng là mời Anh, và Ý tham gia, tức là, như có người nói đùa, sẽ không còn là Tam giác mà là Tứ giác, Ngũ giác. Câu hỏi ở Ba Lan là “trong hình khối đó thì cạnh nào dài nhất, quan trọng nhất”.
Thắc mắc này hiện chưa có lời giải vì còn đang định hình. Nhưng sau cuộc hội đàm ở Kiev hôm 10/05 của Emmanuel Macron, Friedrich Merz, Donald Tusk và Kier Starmer cùng Volodymyr Zelensky rồi có thêm lãnh đạo Ý, Hy Lạp, rồi cả tổng thống Donald Trump điện đàm nữa, có vẻ như là vai trò hạt nhân của Pháp – Đức – Ba Lan đang được đề cao.
Hiệp ước Nancy và ô nguyên tử PhápKhông chỉ hợp tác chặt với Mỹ và để Hoa Kỳ đóng căn cứ tại nước họ, Ba Lan vừa ký với Pháp Hiệp ước Nancy ngày 09/05 về an ninh quốc phòng. Pháp cho biết sẵn sàng thảo luận về việc chia sẻ ô bảo vệ bằng vũ khí nguyên tử với Ba Lan.
Về điểm này, người dân Ba Lan phản ứng dè dặt, ủng hộ nhưng không mấy tin tưởng vào khả năng Pháp chia sẻ cái ô hạt nhân bảo vệ Ba Lan, dù Hiệp ước Nancy không nói thẳng ra như thế.
Ví dụ nhiều giới ở Ba Lan (như Joana Jaroch-Pszeniczna, đại diện cho doanh nghiệp làm ăn với Pháp), thì ủng hộ và nhấn mạnh rằng quan hệ lịch sử, văn hóa và sự gắn bó chính trị Pháp-Ba Lan từ thời Napoleon cứu Ba Lan chống lại Nga (1807), qua các quan hệ đồng minh ở hai Thế Chiến, tới thời sau này, là nền tảng tốt cho Hiệp ước Nancy phát huy tác dụng.
Nhà bình luận chuyên về nước Pháp, ông Kacper Kita thì cho rằng “từ 100 năm qua, nay là lúc hai nước gần nhau nhất”. Nhưng theo ông, còn phải chờ xem Mỹ có rút khỏi Ba Lan hay không thì Pháp mới có chỗ chen chân vào, ví dụ như thị trường vũ khí vì Ba Lan đang đặt mua vũ khí (F-35) của Mỹ, của Hàn Quốc (trọng pháo). Còn cựu Tổng tham mưu trưởng, tướng Mieczyslaw Cieniuch, phát biểu trước giới báo chí, tỏ ra ngờ vực khả năng tổng thống Macron hay người kế nhiệm ông ở Pháp sẵn sàng dùng vũ khí nguyên tử bảo vệ Ba Lan.
Tuy nhiên, tướng Stanislaw Koziej, cựu Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia Ba Lan, cho rằng cần phân biệt hai loại vũ khí nguyên tử : Vũ khí của Pháp là của châu Âu, như Pháp nói, và vũ khí của Mỹ là của NATO. Vì thế, theo ông, Ba Lan cần thận trọng, vẫn phải làm sao giữ cam kết của Mỹ bảo vệ các nước NATO châu Âu bằng ô nguyên tử. Theo ông, vì Hoa Kỳ ở xa châu Âu, khả năng bị tấn công bằng vũ khí hạt nhân chiến thuật thấp hơn các nước châu Âu gồm Anh và Pháp nên Mỹ có ưu thế hơn. Tuy thế, nếu Pháp bán lò phản ứng nguyên tử cho Ba Lan thì Ba Lan sẽ rất hoan nghênh.
Ba Lan : Sườn đông của NATO « vẫn chưa sẵn sàng »Tại Ba Lan, khá nhiều khẩu hiệu ái quốc và cả biểu ngữ mời gọi thanh niên nhập cũ đăng trên đường phố. Lý do là vì Ba Lan không còn chế độ quân dịch (nghĩa vụ quân sự), mà chỉ có quân đội chuyên nghiệp, lính tình nguyện. Anh và Pháp là hai nước châu Âu duy nhất thuộc NATO có vũ khí nguyên tử. Còn Ba Lan tuy không có tên lửa hạt nhân nhưng đã tăng chi tiêu quốc phòng rất nhanh, mua hàng nghìn cỗ trọng pháo, hàng trăm xe tăng và phi đội F-35 để phòng thủ, sau khi Nga đánh Ukraina vào tháng 2/2022.
Tuy thế, báo chí Ba Lan vẫn xem sự chuẩn bị của chính phủ là chưa đủ nhanh, chưa đủ mạnh. Tính theo các kế hoạch của chính quyền, phải đến năm 2030, Ba Lan, với dân số 37,5 triệu, mới có đủ 6 sư đoàn bộ binh trang bị hiện đại. Có thể lúc đó đã muộn chăng ?
Theo đánh giá từ chuyên gia Marek Budzisz, nếu bị tấn công từ phía Đông vào lúc này, Ba Lan chỉ cầm cự được chưa tới 2 tuần và có thể mất toàn bộ vùng bờ Đông sông Vistula, tức là một nửa lãnh thổ. Do vậy, nhiều tờ báo cho rằng Ba Lan cần đưa toàn dân vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu, theo mô hình Phần Lan, để có hàng triệu quân dự bị chờ chống trả Nga.
Hiện nay ở Ba Lan ai muốn đi tập quân sự 3 tháng thì công ty, công sở phải cho nghỉ làm ăn lương và quân đội sẽ bố trí các khóa huấn luyện quân sự cho họ. Những ai trong độ tuổi bị điều động muốn vào lính một năm thì nhà nước sẵn sàng tuyển.
Từ cuối năm 2024, Ba Lan đưa tập quân sự trở lại trường phổ thông, để học sinh 14 tuổi trở lên học về kỹ năng ứng phó khi có tình trạng khẩn cấp, làm quen với các loại vũ khí mô phỏng, ví dụ súng bắn laser trên máy tính, trò chơi điện tử... Chỉ có sinh viên 21 tuổi trở lên, nếu muốn, mới được học bắn súng thật.
Chiến tranh Ukraina : Ba Lan không tin vào « thiện chí » của NgaĐa số người dân Ba Lan không tin cuộc chiến ở Ukraina sẽ chấm dứt trong 2-3 tháng tới, khác hẳn những gì chính quyền Trump tự khen tiến triển đàm phán với Nga về Ukraina. Một điều tra của United Surveys (cho trang Wirtualna Polska) được báo Ba Lan đăng hôm 05/04/2025 cho thấy 65,1% người được hỏi không tin là cuộc chiến ở Ukraina sẽ sớm chấm dứt, và 14,2% cho rằng “không biết, khó trả lời”.
Điều đáng chú ý là điều tra dư luận của CBOS cho thấy chỉ có người lao động, công nhân, kỹ thuật viên tỏ ra sẵn sàng tham gia bảo vệ tổ quốc, trong khi tầng lớp có học, có tiền thì không, thậm chí cho rằng, nếu “có biến”, họ lái xe chạy ra nước ngoài. Điều này trái với luật Tổng động viên của Cộng hòa Ba Lan (bản mới tháng 19/2024), quy định người đã có thẻ dự bị quân sự phải có mặt ở đơn vị quân sự gần nhất trong vòng 6 tiếng đồng hồ sau khi tổng thống Ba Lan tuyên bố tổng động viên. Số người được điều động sẽ gồm khá nhiều phụ nữ, chứ không chỉ có đàn ông, ví dụ sinh viên y khoa là nữ, y tá, hộ lý, kỹ sư hóa học...
Đối với những người song tịch, luật Ba Lan quy định những ai có cả quốc tịch một nước thuộc khối NATO thì không cần phải trình diện với lãnh sự quán Ba Lan tại nước đó, bởi đằng nào thì thanh niên nam ở những nước thành viên NATO cũng thuộc sự quản lý của nước sở tại và Ba Lan sẽ không đi truy tìm công dân song tịch ở các nước đồng minh.
Một điều tra dư luận khác của CBOS mới được công bố hôm 15/04/2025 cho thấy một bức tranh khá bi quan về tình hình an ninh khu vực Đông Âu và Baltic, theo đa số người dân Ba Lan. Họ nghĩ rằng nước Nga không phải là một quốc gia bình thường, và còn thiếu vắng kiểm soát quyền lực hay cơ chế giám sát chéo hơn cả thời Liên Xô, khi tổng bí thư Đảng Cộng sản ít nhiều còn phải chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị.
Nước Nga ngày nay, theo đa số người dân Ba Lan, là do tổng thống Vladimir Putin và một nhóm rất nhỏ quanh ông ta điều khiển, và đã bước vào con đường chiến tranh, đã quân sự hóa nền kinh tế để phục hồi đế chế Nga, nên mối đe dọa trực tiếp từ Nga với Ba Lan là thường trực và lâu dài, chừng nào còn ông Putin.
Đối với Ba Lan, an ninh khu vực là vấn đề lâu dài và mang tính sinh tử. Một mặt họ vẫn phải chờ xem Mỹ và NATO làm gì và đang tăng cường liên kết với Pháp, Anh và Đức, mặt khác họ không tin tưởng gì vào “thiện chí” từ nước Nga hiện nay và không tin là cuộc chiến ở Ukraina chấm dứt nhanh chóng.
Trong cuộc bỏ phiếu vòng một ngày 04/05/2025, ứng viên tổng thống George Simion, lãnh đạo đảng cực hữu Liên minh Đoàn kết Rumani (AUR), theo xu hướng chủ nghĩa dân tộc, đã về đầu với 41% số phiếu. Ông sẽ đối đầu với ứng viên cánh trung, ủng hộ châu Âu, Nicusor Dan, thị trưởng Bucarest, vào ngày 18/5. Một cuộc đọ sức sẽ được Washington và Bruxelles, thậm chí cả Matxcơva theo dõi chặt chẽ.
Những đòn sét đánhChiến thắng áp đảo này của ông George Simion được cho như là một đòn sét đánh vào cánh trung tại Rumani nói riêng và trong Liên Hiệp Châu Âu nói chung. Việc Tòa Bảo Hiến Rumani hồi cuối tháng 12/2024 hủy kết quả cuộc bầu cử vòng một diễn ra một tháng trước đó đã không ngăn cản được đà tiến của phe cực hữu chủ trương bài châu Âu, chống viện trợ quân sự Ukraina, mang nặng chủ nghĩa dân tộc, chủ quyền quốc gia.
Nhưng có lẽ, cú sốc chính trị đầu tiên là vào ngày 24/11/2024. Ứng viên đảng cực hữu Calin Georgescu, một nhân vật ít có tiếng tăm, chủ trương thân Nga, bài Do Thái, chống tiêm ngừa Covid, đã gây bất ngờ khi về đầu vòng một bầu cử tổng thống với gần 23% lá phiếu ủng hộ. Một cú sốc lớn cho các đảng truyền thống, thay phiên nhau cầm quyền tại Rumani kể từ khi chế độ cộng sản sụp đổ vào cuối những năm 1980.
Đòn sét đánh thứ hai là vào tháng 12/2024, hai ngày trước khi diễn ra vòng hai cuộc bỏ phiếu, đối đầu giữa Georgescu và một ứng viên ủng hộ châu Âu, tòa Bảo Hiến Rumani ra phán quyết rằng quy trình bầu cử đã bị vi phạm và do vậy phải hủy bỏ.
Và đến ngày 11/03/2025, hai tháng trước khi tổ chức lại vòng một bầu cử, Ủy ban Bầu cử thông báo loại ông Calin Georgescu khỏi cuộc tranh cử tổng thống. Ông bị chỉ trích là đã có những phát biểu phê phán việc Rumani gia nhập châu Âu và NATO, được hưởng lợi từ những can thiệp bất hợp pháp từ Nga, bao gồm cả các chiến dịch gây ảnh hưởng trên Tik Tok. Cuối tháng 2/2025, Georgescu đã bị cảnh sát bắt giữ và bị buộc 6 tội danh, bao gồm cáo buộc âm mưu chống lại an ninh Nhà nước.
Lạm phát, nạn tham nhũng : Sự bất tài của các đảng truyền thốngCuộc bầu cử tổng thống 2025 diễn ra vào lúc Rumani, với hơn 19 triệu dân, quốc gia đông dân nhất tại Đông Âu, đang phải đối mặt với tình hình kinh tế khó khăn. Thoát khỏi chế độ cộng sản vào cuối những năm 1980, gia nhập NATO vào năm 2004 và Liên Hiệp Châu Âu năm 2007, Rumani vẫn nằm trong số các nước thành viên Liên Âu nghèo nhất.
Lạm phát tăng cao, nạn tham nhũng trầm kha là những yếu tố khiến người dân mất niềm tin vào giới chính trị gia, đồng thời lên án sự thụ động của họ. Trong chương trình Địa Chính Trị, nhà báo Florentin Cassonnet, làm việc cho tờ Courrier des Balkans, ghi nhận :
« Có một cảm giác bất an lớn sau 20 năm gia nhập Liên Âu. Ngày nay người dân Rumani bắt đầu nhìn sự việc với một góc nhìn lo lắng nhiều hơn so với năm 2007, thời điểm họ gia nhập Liên Âu. Vào lúc đó, việc gia nhập Liên Hiệp Châu Âu được xem như là một liều thuốc chữa bách bệnh. Giờ đây, đối với một bộ phận người dân, khi xem xét lại sự việc, họ nhận thấy rằng Liên Hiệp Châu Âu không đồng nghĩa với sự giầu có. Bởi vì có việc mở cửa thị trường, bãi bỏ các quy định về kinh tế, và nhiều người cảm thấy dễ bị tổn thương. Rồi còn có sự cạnh tranh giữa người này với người khác làm mất đi sự đoàn kết giữa họ với nhau. »
Nếu như việc Tòa Bảo Hiến hủy bỏ kết quả vòng một bầu cử tổng thống tháng 11/2024 và cấm ông Calin Georgescu ra tranh cử đã khiến những người ủng hộ ông bất bình, ồ ạt xuống đường phản đối, cuộc khủng hoảng bầu cử tại Rumani còn làm nổi rõ sự cạnh tranh giữa « liên minh Trump và Putin để chống lại phe theo chủ nghĩa trung dung ở châu Âu » theo như ghi nhận của trang Politico ngày 10/03/2025.
Vai trò của Tik TokRumani có một vị trí địa chiến lược quan trọng đối với Liên Hiệp Châu Âu, nhất là từ khi chiến tranh Ukraina bùng nổ. Quốc gia Đông Âu này có 600 km đường biên giới chung với Ukraina, và hiện là điểm trung chuyển quan trọng cho các thiết bị quân sự phương Tây gởi đến Kiev. Rumani sắp tiếp nhận căn cứ hải quân lớn nhất của NATO tại châu Âu, hiện đang trong quá trình xây dựng.
Trong tầm nhìn này, Rumani đang trở thành một địa bàn cho cuộc chiến hỗn hợp do Nga tiến hành. Cuộc bầu cử tổng thống Rumani cũng nằm trong chiến lược gây bất ổn của Nga. Chiến dịch này đều được thực hiện qua Tik Tok, ứng dụng được sử dụng rộng rãi nhất tại Rumani.
Theo trang Le Devoir ngày 03/05/2025, trên Tik Tok, những người gây ảnh hưởng dường như đã giúp thao túng cử tri bằng cách chia sẻ rộng rãi các nội dung ủng hộ Nga do các bot đăng tải và có lợi cho ứng cử viên Calin Georgescu. Bà Silvia Marton, giảng viên trường đại học Khoa học Chính trị tại Bucarest, xác nhận kết luận của một số nhà quan sát hiểu rõ vấn đề này, cho biết các tuyên truyền chống hệ thống dường như có sự hỗ trợ gián tiếp của các cựu quân nhân, các lãnh đạo doanh nghiệp có lợi ích ở Nga, cũng như các thành viên của Giáo hội Chính thống giáo.
Putin : Mẫu người của truyền thống, biểu tượng cho nam tínhVì sao đông đảo cử tri tại Rumani, một nước thành viên NATO, lại tỏ ra thân Nga, ủng hộ Putin ? Chiến tranh Ukraina là yếu tố quan trọng trong cảm nhận của người dân Rumani. Tại những vùng giáp biên với Ukraina, việc thường xuyên được nhận báo động nhiều lần trong tuần, nguy cơ các mảnh vỡ tên lửa hay drone rớt xuống từ trên không khiến cảm giác bất an, lo lắng và mong mỏi một nền hòa bình bền vững ngày càng lớn.
Georgescu khi vận động tranh cử từng tuyên bố rằng thắng lợi bầu cử của ông là một thắng lợi hòa bình. Thế nên, theo quan điểm của giáo sư danh dự Catherine Durandin, trong chương trình Địa Chính Trị trên đài RFI Pháp ngữ, « ông Putin đại diện cho mẫu người đàn ông của chiến thắng, có các giá trị gia đình truyền thống, chính thống (..) Vì vậy, có một sự thu hút đối với một người của hòa bình, vì ông Putin được coi là người của hòa bình, Macron là người của chiến tranh, và Liên Hiệp Châu Âu thì đang tranh luận về chiến tranh. Theo tôi, điều này rất quan trọng như một sự thao túng hình ảnh, một kiểu làm tỏa sáng quyền lực bên ngoài hệ thống nghị viện. »
Trump – Putin bắt tay để chống Bruxelles ?Nhưng không chỉ có Nga ra sức tác động lên bầu cử Rumani. Sau khi có thông báo hủy kết quả vòng một và tổ chức lại cuộc bỏ phiếu, nhà tỷ phú Mỹ Elon Musk đã đăng hàng chục tweet lên án nhà nước Rumani là chuyên chế và bày tỏ ủng hộ Georgescu. Phó tổng thống Mỹ J. D. Vance dạy cho các nước đồng minh một « bài học » dân chủ tại Hội nghị An ninh Munich khi lấy Rumani làm ví dụ điển hình:
« Nếu nền dân chủ của quý vị có thể bị phá hủy chỉ vì vài trăm ngàn đô la tiền quảng cáo kỹ thuật số do một quốc gia nước ngoài chi trả, thì nền dân chủ đó ngay từ đầu đã không vững mạnh rồi. Sẽ không có sự an toàn nếu một người sợ ý kiến của chính người dân nước mình. »
Theo giới quan sát, Rumani đang đối đầu với một trục Trump – Putin liên quan đến việc thúc đẩy tư tưởng sức mạnh nam giới. Một hệ tư tưởng mà ngày càng nhiều người Rumani tuân theo và cũng khiến họ nhìn Vladimir Putin dưới một góc độ khác, như bà Catherine Durandin giải thích ở trên.
Nhưng có lẽ trên hết, đối với Matxcơva cũng như đối với Washington thời Trump 2.0, Rumani dường như là một quân cờ trong cuộc chơi quyền lực chống Bruxelles. Sự co cụm theo chủ nghĩa dân tộc được Trump và Putin kích động không có gì là mới, nhưng với việc Rumani có một nhà lãnh đạo có cùng quan điểm với họ, châu Âu khó mà nói cùng một tiếng nói, nhất là về hồ sơ Ukraina,.
Trên đài ARTE, Aurélien Duchene, cố vấn địa chính trị, nhận xét :
« Nỗ lực can thiệp lớn này của Nga chính là ý tưởng cho rằng sau Hungary và Slovakia, Rumani có thể là một quân cờ domino dễ đổ. Mục tiêu tiếp theo là Hy Lạp chẳng hạn. Chính quyền Trump cũng có cách nhìn tương tự về Rumani, nghĩa là xem nước này như một quân cờ tiềm tàng để chia rẽ sự đoàn kết của châu Âu, ví dụ như để ngăn chặn những nỗ lực nhằm giải phóng quốc phòng châu Âu khỏi sự giám hộ của Mỹ. »
Dù vậy, các nhà quan sát đều có chung nhận xét : « Mê » Nga không có nghĩa là Rumani sẽ rời bỏ NATO, ngả hẳn theo Matxcơva. « Thân thiện với Putin, Hòa bình với Nga nhưng Bảo đảm an ninh vẫn là Mỹ », đây có lẽ cũng là mong mỏi của khoảng 41% cử tri ủng hộ ứng viên cực hữu Georges Simion, người ủng hộ tư tưởng của Trump, đã về đầu cuộc bỏ phiếu ngày 04/05/2025.
From the publisher's feed
Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

1,807 Listeners

42 Listeners

29 Listeners

222 Listeners

15 Listeners

3 Listeners

3 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

8 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

5 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

0 Listeners

6 Listeners